 |
17 tháng 7, 2009
|
1
2 3
4
C- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG HOA, PHÁP TRANH CHẤP CHỦ
QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TỪ THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN THÁNG
4 NĂM 1956, KHI PHÁP XÂM CHIẾM TRỞ LẠI
Ngày 19-8-1945 Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2-9-1945 nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn
độc lập ở Quảng trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.
Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại đô hộ Việt Nam, quân Tưởng Giới Thạch
tiếp quản những nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16. Cả hai
nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa của
Việt Nam.
Việt Nam bận lo kháng chiến chống Pháp trong khi quân Pháp làm chủ Biển
Đông.
Quân Nhật rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946,
Pháp trở lại Việt Nam và làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ
binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ
tháng 5/1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ
20 đến 27/5/1946, đô đốc D’Argenlieu, Cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm
L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng
Sa.
Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí
Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra,
thì ngày 26-10-1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa dân
quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59
binh sĩ thuộc Trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân
thủy đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9-10-1946. Ngày 29-11-1946,
các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái
Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa (mà lúc này Trung Quốc còn gọi là Đoàn
Sa, chưa phải mang tên Nam Sa – tác giả nhấn mạnh).
Trong phiên họp ngày 11-10-1946, Ủy ban liên bộ về Đông Dương thuộc Chính
phủ lâm thời Pháp quyết định cần khẳng định quyền của Pháp đối với quần đảo
Hoàng Sa và thể hiện việc tái chiếm bằng việc xây dựng một đài khí tượng.
Đại tướng Juin cho rằng “lợi ích cao nhất” của nước Pháp là phòng ngừa mọi ý
đồ của một cường quốc nào muốn chiếm lại các đảo có khả năng kiểm soát việc
ra vào căn cứ tương lai Cam Ranh, con đường hàng hải Cam Ranh – Quảng Châu –
Thượng Hải [Thư số 199/DN/S. col ngày 7-10-1946 của Đại tướng Juin, Tổng
Tham mưu trưởng quân đội Pháp tại Paris].
Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp trên của
Trung Hoa dân quốc và ngày 17-10-1947 Thông báo hạm Tonkinois của Pháp được
phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ
không rút. Pháp gửi một Phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia
Việt Nam” đến đóng một đồn ở đảo Pattle (Hoàng Sa). Chính phủ Trung Hoa dân
quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25-2 đến
ngày 4-7-1947 tại Paris. Tại đây, Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã từ chối
không chấp nhận đề xuất của Pháp nhờ trọng tài quốc tế giải quyết. Ngày
1-12-1947, Bộ Nội vụ Chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho
hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.
Vào cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đã giành được độc lập, không còn
ràng buộc vào Hiệp định Patenôtre 1884 với Pháp. Song Pháp vẫn cho rằng
theo Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, VNDCCH vẫn còn nằm trong khối Liên hiệp
Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện
Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Pháp bổ sung quân sự bằng cách đóng quân
và thực hiện quản lý trên hai quần đảo. Điều này chứng tỏ chủ quyền của Việt
Nam đối với hai quần đảo đã được củng cố vững chắc từ thời Pháp thuộc.
Do Chính phủ VNDCCH kháng chiến chống Pháp và hải quân Pháp làm chủ
Biển Đông, nên với Hiệp định ngày 8-3-1949, Pháp gây dựng được chính quyền
thân Pháp còn gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu, đối
đầu với chính quyền Cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Trên thực
tế, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quân Pháp đang làm chủ Biển Đông
trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay mặt nhà nước Việt Nam.
Tháng 4 năm 1949, Đổng lý văn phòng của Quốc trưởng Bảo Đại là Hoàng thân
Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài gòn đã công khai khẳng định lại chủ
quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.
Vào ngày 1-10-1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa
Trung Quốc, Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu rút ra Đài Loan.
Tháng 4/1950, đồn lính Trung Hoa dân quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú
Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng
ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức
trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Việt Nam.
Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo
Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn
Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.
Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5-9 đến ngày
8-9-1951 ký kết hòa ước với Nhật. Ngày 5-9-1951, họp khoáng đại, Ngoại
trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc
Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng
Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam. Khoản tu chính này đã bị Hội nghị
bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa
chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng
đồng quốc tế bác bỏ trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.
Ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo
Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ
của Việt Nam: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions
pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles
Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam”.
Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
Kết thúc hội nghị là ký kết hòa ước với Nhật ngày 8-9-1951. Trong hòa ước
này có điều 2, đoạn 7 ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và
tham vọng đối với các quần đảo Paracels và Spratly“.
Song đến đây, tình hình chính trị thế giới đã bắt đầu biến chuyển,
chiến tranh lạnh giữa hai khối Tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu và khối Xã hội
chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu đã bắt đầu tác động đến Việt Nam. Do đó chủ
quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng bị tranh chấp, sự bảo
vệ chủ quyền trở nên hết sức khó khăn do có nhiều thế lực quốc tế can thiệp.
Ngày 24-8-1951, lần đầu tiên Tân Hoa xã lên tiếng tranh cãi về quyền của
Pháp và những tham vọng của Philippines, và kiên quyết khẳng định quyền của
Trung Quốc.
Khi ra thông báo về bản dự thảo Hiệp ước với Nhật ở San Francisco, ngày
15-8-1951, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai
ra bản tuyên bố công khai khẳng định cái gọi là «tính lâu đời» của các quyền
của Trung Quốc đối với quần đảo, trong khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và
Trung Hoa dân quốc không hề tham dự hội nghị này.
Cũng lợi dụng cục diện chiến tranh lạnh đang xảy ra, để giành giật thế
lực ở Biển Đông, phái đoàn Liên Xô đề xuất giao cho Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đề nghị này đã không được
Hội nghị chuẩn nhận, song vẫn là cái cớ để Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lên
tiếng. Dù sao, sau năm 1950, ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không còn
quân nước ngoài nào chiếm đóng, mà chỉ có lực lượng trú phòng Việt Nam của
chính quyền Bảo Đại.
Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương,
công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt
Nam. Điều 1 qui định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông
Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài ra bằng
một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng
theo điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử đưa lại
sự thống nhất cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thỏa hiệp tập kết ở
khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chánh trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa ở Biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành
chánh của phía chính quyền quản lý miền Nam vĩ tuyến 17.
Như thế, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được đặt dưới sự quản lý hành
chánh của chính quyền ở phía Nam vĩ tuyến 17, lúc ấy hai quần đảo này chưa
có sự chiếm đóng của bất cứ quân đội nước nào ngoài quân đội Pháp. Chính
quyền ở Phía Nam vĩ tuyến 17 phải chịu trách nhiệm quản lý hai quần đảo trên
ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam dưới vĩ tuyến 17.
Tháng 4/1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Miền Nam Việt Nam,
Philippines nêu vấn đề chủ quyền.
D – HOÀN CẢNH LỊCH SỬ DẪN ĐẾN VIỆC TRUNG QUỐC, PHÁP, VIỆT NAM
CỘNG HÒA VÀ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM
TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TỪ NĂM 1956 ĐẾN 1975
Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20-7-1954, khiến
tháng 4/1956 quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam, để lại khoảng trống bố
phòng ở Biển Đông. Các nước trong khu vực trong đó có Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, Trung Hoa dân quốc (Đài Loan) và Philippines cho đây là cơ hội
tốt để chiếm đóng trái phép Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Khi ấy, quân đội Quốc gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam cộng hòa (VNCH)
đã chiếm đóng các đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa bao gồm đảo Hoàng Sa
(Pattle). Ngày 1-6-1956, Ngoại trưởng chính quyền VNCH Vũ Văn Mẫu ra tuyên
bố tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa. Vài hôm sau, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết những quyền
hạn mà Pháp đã có đối với hai quần đảo trên từ năm 1933.
Ngày 22-8-1956, lục hải quân VNCH đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo
Trường Sa và dựng bia, kéo cờ. Sau khi trấn giữ ở các đảo phía Tây quần đảo
Hoàng Sa, ngày 22-8-1956, lực lượng hải quân của Chính phủ VNCH đã đổ bộ lên
các hòn đảo chính của nhóm Trường Sa, dựng một cột đá và trương quốc kỳ.
Tháng 10/1956, hải quân Đài Loan đến chiếm đảo Ba Bình (Itu – Aba). Ngày
22-10-1956, sắc lệnh số 143–N của Tổng Thống VNCH thay đổi địa giới các tỉnh
và tỉnh lỵ tại “Nam Việt” (Nam Bộ). Trong danh sách các đơn vị hành chánh
“Nam Việt” đính kèm theo sắc lệnh có những thay đổi tên mới, trong đó có
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu được gọi là tỉnh Phước Tuy và đảo Spratly thuộc tỉnh
Phước Tuy được gọi là Hoàng Sa cùng tên với quần đảo phía Bắc là Paracels.
Trong khi ấy, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng đã nhanh chóng chiếm giữ
đảo Phú Lâm (Ile Boisée), đảo lớn nhất của quần đảo Hoàng Sa, song hành với
việc Đài Loan chiếm giữ đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Một tình hình
hết sức phức tạp, đen tối cho chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường
Sa.
Song từ sau Hiệp định Genève mà Trung Quốc cũng đã ký, chính quyền phía
Nam mới là chính quyền có trách nhiệm quản lý chủ quyền Ḥoàng Sa và Trường
Sa, vì hai quần đảo này nằm phía dưới vĩ tuyến 17.
Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ ủng hộ Tuyên bố 12 hải
lý về lãnh hải của Trung Quốc, và những biểu hiện khác của Chính phủ VNDCCH
vào thời gian này không có giá trị pháp lý quốc tế về sự từ bỏ chủ quyền ở
Hoàng Sa.
Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174–N của Tổng thống VNCH đặt quần đảo Hoàng
Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã
Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang.
Trong sắc lệnh trên, ghi rằng: Quần đảo Hoàng Sa trước kia thuộc tỉnh
Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam (Điều 1). Đặt đơn vị hành chính xã
bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải,
trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định Hải dưới quyền một phái viên hành chính
(Điều 2). Tháng 2/1959, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng trên phần
phía Tây quần đảo Hoàng Sa, nhưng không thành công, bị hải quân VNCH bắt và
trả lại phía Trung Quốc.
Ngày 13-7-1971, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH, ông Trần Văn Lắm có mặt ở
Manila đã lên tiếng nhắc lời yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ
sở cho những yêu sách đó trên quần đảo Trường Sa.
Ngày 6-9-1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền VNCH đã sửa đổi việc
quản lý hành chính của Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước
Tuy mà trước đây vào năm 1956, thời chính quyền Ngô Đình Diệm đã có sắc lệnh
gọi quần đảo Spratly là quần đảo Hoàng Sa.
Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo sự nứt rạn
không thể hàn gắn giữa Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong khi đó
cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ở giai đoạn gần kết thúc. Cục diện chính
trị thế giới biến đổi đã ảnh hưởng đến Việt Nam, đến cả sự bảo vệ chủ quyền
của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 11-1-1974, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố việc sáp nhập các
đảo của quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy của Việt Nam cộng hòa là sự
lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 12-1-1974, chính phủ VNCH tuyên bố bác bỏ yêu sách của Trung Quốc.
Ngày 15-1-1974, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bắt đầu triển khai một lực
lượng hải quân mạnh mẽ trong đó có nhiều tàu được ngụy trang thành tàu đánh
cá và có phi cơ yểm trợ.
Bộ Tư lệnh hải quân VNCH đã điều động tuần dương hạm Lý Thường Kiệt đến
Hoàng Sa để tuần phòng và canh chừng.
Sau khi phát hiện sự có mặt của quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại
vùng Hoàng Sa với cờ dựng trên các đảo Quang Anh (Money), Hữu Nhật (Robert),
lực lượng quân đội VNCH được tăng cường với khu trục hạm Trần Khánh Dư, tuần
dương hạm Trần Bình Trọng, hộ tống hạm Nhật Tảo. Lực lượng tăng cường của
Việt Nam cộng hòa có các toán biệt hải được lệnh đổ bộ đến các đảo hạ cờ của
quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Vài vụ xô xát đã xảy ra, súng đã nổ
trên đảo Quang Hòa (Duncan) và một đảo khác.
Ngày 16-1-1974, chính phủ VNCH đã ra tuyên cáo bác bỏ luận cứ của Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa và đưa ra những bằng chứng rõ ràng về pháp lý, địa
lý, lịch sử để xác nhận chủ quyền của VNCH trên hai quần đảo này.
Hai bên bắt đầu bố trí toàn bộ lực lượng, các chiến hạm hai bên cách nhau
chừng 200 m. Sau đó hai bên bỗng tách rời nhau và cuộc hải chiến bắt đầu
diễn ra vào lúc 10 giờ 25 phút ngày 19-1-1974. Một chiến hạm Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa bị bốc cháy. Các chiến hạm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mang số
281, 182 dồn sức đánh trả khiến chiến hạm Nhật Tảo bị trúng đạn trên đài chỉ
huy và hầm máy chính, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh. Sau hơn một giờ giao
tranh, hai chiến hạm Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chìm, hai chiếc khác bị bắn
cháy. Bên lực lượng VNCH ngoài hộ tống hạm Nhật Tảo bị chìm, còn có một số
chiến hạm bị thương tổn, trong đó có một số binh sĩ bị bắt và mất tích. Một
người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên dân sự thuộc văn phòng Tùy viên quốc
phòng Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài gòn, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh Bộ chỉ
huy hải quân Quân Khu I Việt Nam cộng hòa cũng bị bắt [Nhật báo Chính
Luận, số 2982, ngày 31-1-1974]. Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày
31-1-1974. Ngày 17-2-1974, chính quyền Bắc Kinh trả tự do cho 43 quân nhân
và nhân viên của VNCH tại Tân Giới (Hồng Kông).
Lầu Năm Góc được chính quyền Sài gòn yêu cầu can thiệp, quyết định đứng
ngoài cuộc xung đột. Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Arthur Hummel cho chính
quyền Sài gòn biết Mỹ không quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.
Qua thông điệp ngoại giao được gởi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris
(1973), chính quyền VNCH nhắc lại sự đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,
yêu cầu Hội đồng Bảo an họp một phiên họp đặc biệt.
Ngày 1-2-1974, chính quyền Sài gòn quyết định tăng cường phòng thủ các
đảo ở quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Qua
Đại sứ ở Manila, chính quyền Sài gòn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Ngày 1-2-1974, đoàn đại biểu của VNCH ra tuyên bố tại hội nghị của Liên
hợp quốc về Luật Biển Caracas khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các
quần đảo, tố cáo Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa. Ngày 30-3-1974, đại biểu
chính quyền VNCH khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa tại Hội đồng Kinh tài Viễn Đông họp tại Colombia. Ngày
14-2-1975, Bộ Ngoại giao chính quyền VNCH công bố Sách trắng về Hoàng Sa và
Trường Sa.
Tóm lại, Pháp xâm chiếm trở lại Việt Nam, dẫn đến cuộc kháng chiến
chống Pháp (1945-1954), Pháp vẫn làm chủ Biển Đông và thực thi chủ quyền của
Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Hiệp định Genève năm 1954 quy định từ vĩ
tuyến 17 trở xuống thuộc Chính quyền phía Nam quản lý. Khi Pháp rút quân
tháng 4/1956, xảy ra chiến tranh lạnh giữa Liên Xô đứng đấu phe Xã hội chủ
nghĩa và Mỹ đứng đầu phe Tư bản chủ nghĩa, Việt Nam bị chia cắt khiến hai
chính quyền bị cuốn hút vào sự đối đầu, không có điều kiện bảo vệ toàn vẹn
được chủ quyền để cho Trung Quốc chiếm từng phần rồi toàn thể Hoàng Sa, VNCH
chỉ trấn giữ quần đảo Trường Sa song lại để cho Đài Loan chiếm đảo Ba Bình
là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa, để cho Philippines chiếm một số đảo,
đá trong đó có Song Tử Đông ở Trường Sa.
Chính vì vậy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các nước trong khu vực tranh
chấp chủ quyền của Việt Nam cũng như Trung Quốc chiếm giữ trái phép hoàn
toàn Hoàng Sa và Trường Sa trong thời kỳ này chính là những biến động chính
trị ở Việt Nam cũng như trên thế giới, do Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, không
còn bảo vệ đồng minh VNCH, để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.
(xem tiếp bài kế)
1
2 3
4
Những bài về Trường Sa & Hoàng Sa đăng trong sachhiem.net
"Cuộc chiến" không cân sức giữa giới học giả VN và TQ (Đoan Trang)Ba "Gọng Kìm" (Nam Quốc)Chiều mưa biên giới anh đi về đâu. (Hoàng Nguyên Nhuận) Cuộc biểu tình của giới trẻ trong nước (CLB Nhà Báo Tự Do)Công lý lịch sử của Hoàng-Trường Sa, ..đến Tòa Khâm Sứ (Ts. Lý Khôi Việt)Hai bản đồ quý khẳng định chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và Hoàng Sa (TS Nguyễn Xuân Diện)Huyết Lệ Tâm Thư (Minh Mẫn)Hãy phản đối hành động xâm lược của TQ (Tin)Học giả quốc tế phê phán đường lưỡi bò của TQ (TuanVN) Hồ sơ Biển Đông: ASEAN-Mỹ tăng cường quan hệ (Trọng Nghĩa/ RFI)Lăng Ba Vi Bộ Với Kissinger(Hùynh Bất Hoặc)Những ngôi chùa trên huyện đảo Trường Sa (Trần Vân Hạc)Những người đòi bỏ danh dự Tổ Quốc (NMQ)Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ (Lê Minh Nghĩa)Phải chăng TQ & HK ... (Càphêtối) Phủ nhận hoàn toàn quan điểm của nhà nước Trung Quốc (Đinh Kim Phúc)Quan Hệ Việt Nam & Trung Quốc Trong 30 Năm Qua-1 (nxb Sự Thật)Sắc chỉ Vua Minh Mạng về Hoàng Sa được tìm thấy (tin BBC)Sức mạnh đồng thuận Việt Nam ...(MinhAnh) Trái Tim Của Biển (Trần Vân Hạc)Trường Sa và Hoàng Sa (Nguyễn Nhã)Trường Sa và Hoàng Sa -Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp -1 (Hàn Nguyên Nguyễn Nhã) Trường Sa và Hoàng Sa -Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp -2 (Hàn Nguyên Nguyễn Nhã) Trường Sa và Hoàng Sa -Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp -3 (Hàn Nguyên Nguyễn Nhã) Trường Sa và Hoàng Sa -Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến tranh chấp -4 (Hàn Nguyên Nguyễn Nhã) Trận Hoàng Sa 34 năm về trước Trống đồng vang vọng giữa Trường Sa (Trần Vân Hạc)Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc (Phạm Hoàng Quân)Việt Nam Cộng Hòa dâng Đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng (Đặng Văn Hoa)Vì Lễ Rước Đuốc Olympic 2008 - Thư gửi Thủ Tướng (Lê Trung Hành) Vấn đề tên gọi và chủ quyền quốc gia trên vùng biển đông (Đinh Kim Phúc)“Sóng” Biển Đông Giữa Lòng Hà Nội (TuanVN)