F- SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ
GIẢI PHÁP BỀN VỮNG CHO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA, BIỂN ĐÔNG
Như trên đã trình bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm
1909 đã cho rằng Tây Sa là vô chủ. Năm 1898, chính quyền Quảng Châu, Trung
Hoa đã trả lời các khiếu nại của Công sứ Anh ở Bắc Kinh về việc những người
Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá các tàu Bellona của Đức (bị đắm năm 1895) và
tàu Humeji- Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) do Công ty Bảo hiểm người Anh
bảo hiểm, rằng: “quần đảo Tây Sa là những ḥòn đảo bị bỏ rơi, chúng
không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành
chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu
trách nhiệm về cảnh sát của chúng”. [Monique Chemillier - Gendreau,
sđd, p.158].
Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của
Việt Nam, Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói
rằng Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) đã thuộc về Trung Quốc
từ lâu, bất khả tranh nghị, khi thì nói từ đời Minh, khi thì nói từ
đời Tống. Sự thực thế nào?
Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm
của chính quyền Trung Hoa năm 1909: Các tư liệu chứng minh chủ quyền của
Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời, từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức
đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long),
Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn
Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa ngày 18-10-1930, mà đã khẳng
định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.
Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư
liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc
Hà, chủ yếu là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, “Toản tập An Nam lộ” trong
sách “Thiên hạ bản đồ”, trong Hồng Đức bản đồ năm 1686 và
Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn.
Trong “Thiên Nam tứ Chí lộ đồ thư” hay “Toản tập An Nam lộ”, năm 1686 có
bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền
đến khai thác ở bãi Cát Vàng. Còn tư liệu trong Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa,
quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của
Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải.
Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu
chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa:
- “Dư địa chí” trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí
của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt địa dư chí
(1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự
như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối thế
kỷ XVIII.
- Đại Nam thực lục phần Tiền biên, Quyển 10 (soạn năm
1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại
Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.
- Đại Nam thực lục chính biên Đệ nhất kỷ (khắc in năm
1848); Đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); Đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879)
có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung
mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
- Tài liệu rất quí giá, là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang
được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy
những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ
quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt
Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc,
vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn
kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.
- Trong bộ sáchĐại Nam nhất thống chí
(1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc
về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội
Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…
Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ
bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt
Nam.
Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai Suất đội thủy
binh Phạm Hữu Nhật, người gốc đảo Lý Sơn chỉ huy thủy quân đi cắm
cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó
thành lệ hàng năm. Đại Nam thực lục chính biênĐệ
nhị kỷ, Quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng
thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài
việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia.
Châu bản tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836)
với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền
vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5
thước, rộng 5 tấc“.
Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 6
còn ghi rõ : “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai Suất
đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài
gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày
1 tấc, mỗi bài khắc những chữ: “Minh Mạng thập thất niên Bính Thân
thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh
vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.
(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân Chánh đội trưởng
suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến
đây lưu dấu để ghi nhớ).
Vì sự kiện trên đã thành lệ hàng năm, nên Khâm định Đại Nam
hội điển sự lệ (1851), Quyển 207, tờ 25b-26a và Quyển 221 đã
chép lại việc dựng miếu, dựng bia đá, cắm cột mốc năm 1836 và lệ
hàng năm phái biền binh thủy quân đi vãng thám, vẽ bản đồ…
Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:
- Hải ngoại kỷ sựcủa Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm
1696. Trong Quyển 3 của Hải ngoại kỷ sựđã nói đến Vạn Lý Trường
Sa khẳng định Chúa Nguyễn đã sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các
tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
- Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở
về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.
Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người
ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản
đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định
đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.
Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1/1974, nhiều
đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và “phát hiện” nhiều
cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều
không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát
hiện ở mặt Bắc ngôi miếu “Hoàng Sa tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile
Boisée) bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt
Nam.
Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của
Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
- Nhật Ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một
quần đảo thuộc về nước An Nam.
- Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste
Chaigneau (1769 – 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn
tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ
quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
- Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs
religions, moeurs et coutumes của Giám mục Taberd xuất bản năm
1833 cho rằng Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên
quần đảo Hoàng Sa năm 1816.
- An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd xuất
bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh – Annam,
ghi rõ «Paracels seu Cát Vàng» với tọa độ rõ ràng như hiện nay chứ
không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển. («Seu» tiếng la tinh có
nghĩa «hay là», Cát Vàng: chữ nôm, Hoàng Sa: chữ Hán).
- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI
đã đăng bài của Giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức
giữ chủ quyền quần đảo Paracels.
- The Journal of the Geographycal Society of London (năm
1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền
và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels.
Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại
luận điệu ban đầu xem là đất vô chủ (1909) mà cho rằng Tây Sa đã
thuộc Trung Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ
sau năm 1907, và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa, khi chỉ Nam Sa
ở vị trí hiện nay (Spratleys).
Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đã rõ ràng như trên. Khi bị
Trung Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm
chiếm thuộc địa, người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lãnh thổ Việt
Nam nên có lúc đã không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau
đó, chính quyền thực dân Pháp đã có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo
vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự thực là bất cứ chính quyền nào, kể cả chính quyền thuộc
địa chịu trách nhiệm về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao
giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam
tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đã bị Pháp đô hộ và chịu ảnh
hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ
thời chiến tranh lạnh và sau này và tham vọng bành trướng mở rộng lãnh
thổ bằng vũ lực.
Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn
đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam
đã quá rõ ràng, nên giải pháp phải là “cái gì của César phải
trả lại cho César”.
Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào, dù khác chính
kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn
vẹn Trường Sa. Lịch sử đã chứng minh dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi
cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, cuộc đấu tranh sẽ thành công. Đối
với các nước Asean, trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ
tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối, đôi bên
đều có lợi.
Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, đã có những bài học
lịch sử quý giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo
vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh
Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao
giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.
Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ
lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng võ lực năm
1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lý. Có đế quốc nào mạnh
như đế quốc La Mã thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại, hay đế
quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lãnh
thổ chiếm giữ bằng vũ lực.
Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử, nhà
nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hoàng Sa và Trường Sa
từ lúc chưa có ai tranh chấp, và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi
có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên hiệp
quốc sau đó, cùng với Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên!
Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được
biết rằng vụ Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974,
Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến chương và
các nghị quyết của Liên hiệp quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi
vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đã xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh
thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho
Việt Nam.
Việc cần làm ngay là phải quảng bá rộng rãi lịch sử về chủ quyền của nhà
nước Việt Nam đới với Hoàng Sa và Trường Sa, và xây dựng nội lực Việt Nam
vững mạnh, đoàn kết hùng cường.
Cuộc đấu tranh đòi lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo
toàn quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng
nhất định sẽ thành công cũng như Việt Nam đã từng giành được độc
lập tự chủ dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm.
HNNN
* Tiến sĩ Sử học, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.
Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử
dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt
Nam đã quá rõ ràng, nên giải pháp phải là “cái gì của César
phải trả lại cho César”. Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người
Việt Nam nào, dù khác chính kiến, đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về
với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử đã chứng minh dù có
hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất,
cuộc đấu tranh sẽ thành công.
T.S. Nguyễn Nhã
Những bài về Trường Sa & Hoàng Sa đăng trong sachhiem.net