TỘI TỔ TÔNG ĐÍCH THỰC

CỦA NGƯỜI KI TÔ GIÁO VIỆT NAM

Mục Đồng

Gửi bài này cho bạn bè 19 tháng 2, 2008

 

Sáng tạo Adam & Eva

MỞ ĐẦU :

 

Tác giả ghi chú: Đây là bài viết nghiêm túc về Tội Tổ Tông của người Ki Tô giáo Việt Nam. Các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn ghi lại ở cuối bài để cho độc giả tiện trong việc đối chiếu.

Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp cho độc giả chưa biết gì về Ki tô giáo (chủ yếu là Công giáo La mã mà người Việt ta thường gọi la Thiên chúa giáo, và Tin lành) một cái nhìn toàn triệt về Tội tổ tông của người Ki tô giáo Việt Nam. Nó cũng là tài liệu nhằm giúp cho đồng bào Ki tô giáo Việt Nam, đặc biệt là những người trí thức Ki tô giáo Việt Nam nhận đâu là Tội tô tông giả hiệu và đâu là Tội tổ tông đích thức của mình.

Có biết đúng mới có thể hành xử đúng với truyền thống dựng nước và giữ nước Việt Nam của cha ông từ hơn 4000 năm tới nay.

Kính mong nhà sách SÁCH HIẾM phổ biến rộng rãi đến bạn đọc.

Tuy nhiên bài viết tương đối dài vì tính hoàn chỉnh, cho nên Muc Đông tôi nhờ nhà SACH HIẾM sắp xếp lại đường dẫn để cho độc giả muốn đọc phần mục La mã hay A, B, C…nào thì click vào là đọc đươc ngay.

Xin cảm ơn.


 

Bài này gồm các phần sau đây:

I. VƯỜN ĐỊA ĐÀNG (GARDEN OF EDEN)

II. TỘI TỔ TÔNG THEO GIÁO ĐIỀU CỦA KI TÔ GIÁO LÀ GÌ ?

III. LÝ DO GIÁNG SINH CỦA CHÚA JESUS.

IV. AI LÀ CHA ĐẺ CỦA THUYẾT "TỘI TỔ TÔNG" TRONG KI- TÔ GIÁO ? VÀ VÌ SAO ?

A. HÀNH TRẠNG CỦA ÔNG THÁNH PAUL

B. HÀNH TRẠNG CỦA ÔNG THÁNH AUGUSTINE

V. NHỮNG NGƯỜI CÓ LÝ TRÍ CÙNG THỜI VỚI AUGUSTINE ĐÁNH GIÁ "TỘI TỔ TÔNG" NHƯ THẾ NÀO ?

VI. BÀ MARY VÀ ÔNG JESUS CÓ BỊ TỘI TỔ TÔNG KHÔNG ?

VII. HIỆN NAY NHỮNG NGƯỜI CÓ LÝ TRÍ ĐÁNH GIÁ TỘI TỔ TÔNG THẾ NÀO ?

A. ĐÁNH GIÁ CỦA CHÍNH NHỮNG NGƯỜI KI TÔ GIÁO

B. ĐÁNH GÍA CỦA NHỮNG NGƯỜI PHI KI TÔ GIÁO

VIII. TỘI TỔ TÔNG ĐÍCH THỰC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM THEO KI-TÔ GIÁO LÀ GÌ ?

A. TỘI ĐỐI VỚI VĂN MINH NHÂN LOẠI.

B. SỰ TÀN BẠO CỦA THỰC DÂN ÂU CHÂU VÀ VĂN HÓA KINH THÁNH ĐỐI VỚI THỔ DÂN MỸ CHÂU.

1. CHUYỆN VỀ CORTES

2. CHUYỆN VỀ FRANCISCO PIZARRO

3. THỔ DÂN CHÂU MỸ BỊ ÁP ĐẶT VĂN MINH KINH THÁNH

C. DÂN DA ĐEN CHÂU PHI BỊ BẮT LÀM NÔ LỆ TẠI CHÂU MỸ

D. TỘI RIÊNG ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM.

1. ĐỐI VỚI TỔ TIÊN DÒNG HỌ

2. ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

3. VỤ ĐÒI TÒA KHÂM SỨ CŨ TẠI HÀ NỘI : NGƯỜI KI TÔ GIÁO VIỆT NAM ĐANG TÍCH LŨY TỘI TỔ TÔNG.

IX. NHẬN XÉT KẾT THÚC

 

-- ۝ --

 

 

I. VƯỜN ĐỊA ĐÀNG (GARDEN OF EDEN)

 

Để hiểu về Tôi Tổ Tông theo giao điều của Ki tô giáo thì cần phải biết qua về Vườn Địa Đàng (Garden of Eden). Theo giáo điều (dogma) của Ki-Tô giáo gồm Công Giáo La Mã, Tin Lành, Anh giáo và Chính Thống giáo, ghi lại trong Sáng Thế Ký 1, thì Thiên chúa Jehovah tức là Chúa cha đã tạo ra vũ trụ này cách đây khoảng 6000 năm trong 7 ngày như sau :

Ngày thứ nhất : tạo ra Trời, Đất và phân biệt ngày với đêm.

Ngày thứ hai : tạo ra Vòm trời rất chắc chắn bằng đồng thau, có nhiều cột chống đở

Ngày thứ ba : phân đất ra khỏi nước và tao ra cây cối. Đất cũng được chống đở bởi các trụ cột rất vững chác và quả đất đứng yên.

Ngày thứ tư : tạo ra hai ngọn đèn lớn là Mặt trời và Mặt trăng và các ngọn đèn nhỏ là các vì sao được treo móc vào Vòm trời đã tạo ra trong ngày thứ hai.

Ngày thứ năm : tạo ra các loài dưới nước và trên không.

Ngày thứ sáu : tạo ra các loài trên cạn; lấy bụi đất tạo ông Adam rồi hà hơi vào lỗ mũi để ông Adam thành người sống. Rồi tạo ra một cái vườn có cây cối cho ông Adam ở. Để ông có bạn cho đở buồn, Chúa tạo ra các loài vật, chim trời đem tới cho ông đặt tên. Nhưng ông chê là các bạn ấy "không đạt yêu cầu", cho nên Chúa làm phép cho ông ngủ mê, rồi lấy một cái xương sườn của ông mà tạo ra bà Eva.

Ngày thứ bảy : nghỉ và chúa tuyên bố là không tạo ra gì nữa.(1).

Cái vườn chúa tạo ra cho ông Adam và bà Eva ở gọi là Vườn Địa Đàng (Garden of Eden) vì ở đó ômg Adam và bà Eva được sống một cuộc đời vô cùng sung sướng do Chúa đã tặng cho hai người này những món quà siêu phàm là sống vĩnh viễn không chết, không đau khổ, có hiểu biết cao siêu, và hòa hợp tâm linh với chúa. Chúa nói với hai người :Các ngươi sẽ tìm thấy vui thích trong Chúa; Các người khỏi phải làm bất cứ chuyện gì ; Các ngươi sẽ không phải nhóm lửa"; " Các ngươi có thể tư do ăn bất kỳ trái cây nào trong vườn; chỉ trừ trái cây biết phân biệt cái gì tốt và cái gì xấu thì các ngươi không được ăn, bởi vì vào cái ngày các ngươi ăn trái cây ấy, các ngươi sẽ chết".(2)

 

II. TỘI TỔ TÔNG THEO GIÁO ĐIỀU CỦA KI TÔ GIÁO LÀ GÌ ?.

 

Ông Adam và bà Eva đã sống theo lời Chúa dạy trong vườn Địa Đàng ấy nhiều ngày. Nhưng một hôm, một con rắn ( về sau sẽ gọi là hiện thân của quỷ Satan) đã xúi dục bà Eva không vâng lời Chúa bằng cách nói rằng:”Bà sẽ không chết đâu. Vì chúa biết rằng khi bà ăn trái ấy thì mắt bà sẽ được mở ra, và bà sẽ giống như Chúa là biết cái gì là tốt cái gì là xấu ". Bà Eva đã nghe theo lời xúi dục của con rắn mà ăn trái cấm ấy, và xúi ông Adam ăn nữa. Sau khi ăn trái cấm, ông Adam và bà Eva cảm thấy thân hình trần truồng của mình là đáng hổ thẹn nên đã lấy lá che bộ phận sinh dục.

Vì ăn trái cấm cho nên hai người này đã phạm cái tội không vâng lời Chúa, ngạo mạn không xem Chúa là người chăn dắt và tìm cách xác định được như chúa là biết cái gì là tốt, cái gì là xấu. Tội này là cái tội đầu tiên mà ông Adam và bà Eva phạm với Chúa, nên được gọi là tội ban đầu hay nguyên tội (original sin).

Vì vậy, Chúa đã phạt Adam và bà Eva bằng cách lấy lại các món quà siêu phàm mà Chúa đã ban cho hai người. Hai người bị Chúa đuổi ra khòi vườn Địa Đàng, từ nay ông Adam phải làm lụng vất vả mới có ăn, bà Eva phải chịu mang nặng đẻ đau mới sinh được con, hai người sẽ phải chết, và sẽ phải có bản chất thấp kém : trí tuệ bị đen tối, ý muốn xấu xa, và thiếu khả năng hòa hợp tâm linh với chúa.

Giáo điều của Ki tô giáo nói rằng vì ông Adam va bà Eva phạm nguyên tội, mà hai người là thủy tổ của loài người nên tất cả mọi người trên thế gian này vì là con cháu của ông Adam và ba Eva thì phải chịu mang di truyền cái tội ấy. Vì vậy cái tôi ban đầu của ông Adam và bà Eva được gọi là “tội tổ tông” (3).

 

III. LÝ DO GIÁNG TRẦN CỦA CHÚA JESUS THEO KI TÔ GIÁO

 

Theo giáo điều Ki tô giáo thì vì nhân loại trên thế gian này mắc Tội tổ tông mà đau khổ và chết, mà Thiên Chúa, tức Chúa cha Jehovah “ngự” trên cái Vòm trời mô tả ở phần I thì thương xót nhân loại, cho nên mới hiện thân xuống trần gian làm con bà Mary và ông Joseph, có tên là Jesus Christ, tức là Chúa con, để hy sinh chịu chết trên cây thánh giá, mà chịu tội thay cho nhân loại! Cứu rỗi khỏi “tội tổ tong” tất cả những người nào tin Chúa qua phép rửa tội (baptism). Đó là lý do Giáng trần của Chúa Jesus cách đây 2008 năm.

Như thế quả là Chúa nhân từ, thương yêu loài người hết mực ! Và Ki tô giáo là một tôn giáo đầy bác ái !

Và cũng như thế, nếu người ta chứng minh được việc Chúa tạo ra vũ trụ trong 7ngày cách đây khoảng 6000 năm là không đúng, chỉ là chuyện hoang đường, hoặc ông Adam và bà Eva không phải là thủy tổ của loài người, hoăc tôi tổ tông là không có thực, thì lý do giáng trần của Chúa Jesus để cứu rỗi nhân loại là vô nghĩa, là chuyện hoang đường và do đó mọi giáo điều của Ki tô giáo đều không có cơ sở! Và đây chính là lý do đã khiến cho rất nhiều người trí thức phương Tây từ bỏ Ki tô giáo và chính là nguy cơ tan rã của Ki tô giáo trong xã hội mà sự ngu dốt không thể che mờ sự thức tỉnh, sự suy nghĩ độc lập của con người có trình độ cở từ trung học trở lên. Đó là mối lo của của các “bề trên” ở Vatican và ở những Hội thánh, Giáo phái trong thế kỷ 21 này!

Điều phản bác này đả xảy ra trong quá khứ và nhất là hiện tại với những bằng chứng hiển nhiên của khoa hoc. Nhưng chúng ta sẽ bàn đến sự tình hấp dẫn này ở phần sau. Bây giờ chúng ta hãy xem thử nguồn gốc của tội tổ tông ở đâu. Ai đã “đẻ” ra tội tổ tông và với mục đích gì?

Nếu sự Giáng sinh” của chúa Jesus đã là “tào lao” và dù ngài Jesus là con người có thật trong lịch sử, thì cái ngày 25 tháng 12 là ngày Giáng sinh của ngài cũng là chuyện “tào lao” luôn, vì cho tới nay không có sử liệu nào chứng minh được rằng ngài Jesus sinh ra trong đêm 24 tháng 12 vì không ai biết Jesus sinh ra ở đâu, vào ngày giờ nào. Cái ngày 25 tháng 12 là cái ngày do Giáo hoàng Julius 1 đã chọn làm ngày sinh của Jesus vào năm 350, chứ không phải là sinh đích thực của Jesus (4). Vì vậy, chúng ta cứ vui chơi, nghỉ xả hơi dịp 25 tháng 12 , và nên cảm ơn Giáo hoàng đã Julius 1 đã ban cho chúng ta món quà của Chúa này dù biết rằng ngày 25 tháng 12 là ngày sinh “dõm” chứ không phải ngày sinh thật của ngài Jesus.

 

IV. AI LÀ CHA ĐẺ RA THUYẾT TỘI TỔ TÔNG TRONG KI - TÔ GIÁO ? VÀ VÌ SAO ?

 

Đó là hai người mà về sau được Giáo hội La Mã phong Thánh là Paul và Augustine. Để biết rõ vì sao, chúng ta cần biết qua hành trạng của hai ông này.

 

A. HÀNH TRẠNG CỦA ÔNG THÁNH PAUL.

Theo các nhà nghiên cứu về Kinh thánh và giáo điều của Ki Tô giáo, thì trong Cựu Ước (Old Testament) không thấy nói đến tội tổ tông, mà chính ông Thánh Paul viết về tội tổ tông trong Tân Ước (New Testament) như sau :

“ Vì sự không vâng lời của một người mà tất cả mọi người đều bị trở thành người cói tội : Tội đã vào thế giới qua một người và sự chết vì tội, và do đó sự chết lan truyền tới tất cả mọi người vì tất cả mọi người đều có tội “ (5).

Trong Cựu Ước không có nói về tội tổ tông, chỉ có đoạn sau đây là có liên quan đến cái tôi ban đầu của ông Adam và bà Eva và bị Chúa la mắng và giáng tội:

Chúa đã nói với con rắn rằng vì ngươi đã làm điều đó nên ngươi bị nguyền rủa giữa tất cả mọi con vật và giữa tất cả mọi sinh vật hoang dã; ngươi phải chịu đi bằng bụng, và ngươi phải ăn di hài của người chết suốt đời. Ta sẽ tạo niềm thù hận giữa ngươi và đàn bà (bà Eva, MĐ) và giữa con cháu ngươi với con cháu của người ấy; người đàn ông ấy (ông Adam, MĐ) sẽ đập đầu ngươi, và ngươi sẽ tấn công gót chân ông ta”. Với người đàn bà, Chúa đã nói, Ta sẽ làm cho các cơn đau trong việc mang thai của ngươi và trong việc sinh con của ngươi tăng lên rất nhiều, và mặc dù ước vọng của người sẽ dành cho chồng ngươi, hắn sẽ thống trị ngươi”. Và với người đàn ông, Chúa nói, vì ngươi đã nghe lời vợ ngươi, và đã ăn trái cây mà ta đã ra lệnh ngươi không được ăn, do đó ngươi bị nguyền rủa, ngươi phải làm lụng vất vả suốt đời; chông gai sẽ đến với ngươi; và ngươi sẽ phải ăn cây cỏ ngoài đồng. Phải vất vả mồ hôi ướt mặt ngươi mới có bánh mì để ăn cho đến khi ngươi trở về với đất vì ngươi được tạo ra từ đất; ngươi là cát bụi, và ngươi sẽ phải về với cát bụi” (6).

Tại sao căn cứ vào đó mà ông Thanh Paul đã viết ra tội tổ tông trong Tân Ước như đã trích ra ở trên?

Để có thể biết rõ điều này, chúng ta cần nên biết qua về hành trạng của ông Thánh Paul này.

Paul sinh ra tại Tarsus, Cilicia trong vùng Asia Minor (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) với tên là Saul trong một gia đình theo đạo Do thái, nhưng cha của ông là một người khá nổi tiếng để được là một công dân La mã. Ông được gởi tới Jerusalem để học, và thường tự hào là một người Do thái thuộc bộ tộc Benjamin (an Israelite of the tribe of Benjamin).

Với sự cuồng tín của một tín đồ Do thái giáo nhiệt thành, Saul đã là một người chống Ki tô hung bạo nhất, đã từng chứng kiến sự tử đạo của Stephen, môn đồ đầu tiền của Jesus bị ném đá cho đến chết vì tội báng bổ (đạo Do thái, MĐ), và đã tổ chức việc truy lùng những kẻ bị cáo buộc là tán thành Ki tô giáo (7). Nhưng về sau, Saul bỏ Do thái giáo mà theo Ki tô . Việc đổi đạo này chính bản thân Saul ít muốn nói tới, nhưng trong Acts có kể lại ba câu chuyện liên quan tới việc đổi đạo của Saul. Câu chuyện thứ nhất có vẻ rất hoang đường. Đó là trên đường Saul đi từ Jerusalem đến Damascus với mục đích truy lùng những người tán thành Ki tô giáo thì bị một tia chớp trên bầu trời làm Saul ngã từ trên lưng ngưa xuống đất và nghe hình ảnh sống dậy của Jesus quát rằng : “ Saul, Saul, tại sao ngươi ngược đãi ta vậy ?” (Saul, Saul, why are you persecuting me ? ) (8). Chuyện hoang đường này có thể được giải thích như sau : Trên đường đi, gặp lúc bầu trời có mưa giông, có sấm sét, con ngựa mà Saul cởi và cả Saul đều hoảng sợ, con ngựa lồng lộn làm cho Saul té xuống đất, bị choáng váng và bị thương. Trong thờ gian nằm tĩnh dưỡng trị vết thương, Saul đã bị một ai đó và có thể do sự cố ý dàn dựng của người Ki tô giáo đến mớm cho Saul biết là do cái ác tâm tiêu diệt Ki tô giáo của Saul, nên bị Chúa Jesus Christ hiện thân lên phạt! và họ thêu dệt rồi đồn đại ra câu chuyện Saul nghe thấy Chúa kêu la mắng như thế. Đây là một xảo thuật mà những người cầm đầu Ki tô giáo đã dùng để giữ niềm tin của giáo dân như nhiều màn dàn dựng về sau chúng ta sẽ thấy. Sau khi tới Damascus thì Saul từ bỏ Do thái giáo của gia đình để đổi qua đạo Ki tô từ đó đổi tên thành Paul. Với tính chất cực đoan, tất cả năng lực mà trước đây Paul đã dùng hết mình để khủng bố Ki tô giáo bao nhiêu thì nay Paul lại dùng năng lực đó hết mình để lo phát triển Ki tô giáo bấy nhiêu. Cho nên Paul cùng với ông Tháng Peter, và James The Just đã trở thành những người truyền đạo Ki tô nổi tiếng nhất trong nửa đầu thế kỷ thứ nhất . Trong Tân Ước có ghi lại 14 thư truyền đạo (epistles) mà được cho là của Paul, và nhờ đó mà ảnh hưởng của Paul trên tư duy phát triển của Ki tô giáo đã vượt hơn các tác giả khác của Tân Ước. Lúc mới từ bỏ đạo Do thái để theo đạo Ki tô thì Paul không thể có uy tín trong giới nhà thờ như 12 Tông đồ của Jesus, vì bản thân Paul chưa hề được gặp Jesus trươc khi Jesus chết vì bị đóng đinh. Nhưng Paul tự nhận rằng mình tiếp thu Kinh thánh không phải từ một con người trần mà từ sự mặc khải của Jesus Christ. Vì vậy Paul đã tin rằng mình đang làm công việc của Chúa và Chúa đang hướng dẫn ý nghĩ và hành động của mình. Chính vì thế mà Paul cảm thấy tự do đưa ra các ý tưởng riêng của mình về nhà thờ Ki tô giáo, về đức tin, ngay cả khi những ý tưởng này không phải được suy trực tiếp ra từ lời dạy của Jesus Christ (9). Đó là lý do tại sao Paul đã “chế” ra nhiều vấn đề cho đức tin Ki tô giáo mà không có trong Cựu Ước, trong đó có việc “chế ra tội tổ tông”.Paul muốn phát triển Ki tô giáo theo một định chế nhà thờ duy nhất với một học thuyết phổ quát. Thời bấy giờ có nhiều cộng đồng Ki tô giáo khác nhau, thực hiện các nghi thức tôn giáo của họ theo cách riêng, nhưng Paul quyết định rằng điều đó không nên xảy ra. Paul cho rằng Nhà thờ là cơ thể huyền bí của Jesus Christ, đã được ban cho quyền năng thần thánh, và vì vậy phải tồn tại như một thể thống nhất. Paul chủ trương rằng niềm tin chứ không phải năng lực hay địa vị hay hành động, mới là cơ sở của cứu rỗi, và chính nhờ niềm tin mà một người Ki tô giáo có thể nhận được ân sủng của Chúa và trở thành một trong những người chọn lựa của Chúa. Paul cũng chủ trương rằng việc tin vào sự sống dậy của Jesus Christ và sự sống dậy của tất cả nhân loại vào Ngày Phán Xét là một đòi hỏi tuyệt đối của niềm tin. Paul cũng chủ trương khinh thường đàn bà, xem họ là kẻ cám dỗ đàn ông với bà Eva là điển hình đầu tiên, nhưng đồng thời lại cổ xúy cho tình trạng vô nhiểm (Immaculate Conception) trinh bạch của bà Mary (10).

Vậy chính cái chủ trương niềm tin tuyệt đối vào sư cứu rỗi, sự sống dậy , sự phán xét của Chúa vào Ngày Phán Xét, và muốn buộc mọi người phải theo Ki tô giáo mà Paul đã “chế ra tội tổ tông” để tăng cường nỗi lo sơ của con người đối với Chúa, đồng thời biết ơn sự cứu rỗi của Chúa mà theo Ki tô giáo.

Vì sự tích cực trong việc truyền đạo Ki tô mà Paul bi lính La mã bắt vào năm 58 sau Công nguyên, bi giam, bi ra tòa án ở Ma mã. Năm 64, Hoang đế La mã Nero buộc tội những người Ki tô giáo đã đốt lữa thiêu hủy phần lớn thành La mã, cho nên cả Paul và Peter, là những người kiến trúc sư vĩ đại của nhà thờ Ki tô giáo phải bị giết (11).

Paul đã trở thành người kiến trúc sư vĩ đại của nhà thờ Ki tô giáo, nhờ tư tưởng của Paul mà nhà thờ được phát triển tốt trong mấy trăm năm sau khi Paul chết. Nhưng thời bấy giờ, các Hoang đế La mã vẫn còn ngược đãi Ki tô giáo. Hoàng đế Diocletian, năm 302, nhận thấy Ki tô giáo đã là một cấu trúc có thế lực nguy hiểm được xây dựng chặt chẻ bên trong đế quốc của mình, nên quyết định thủ tiêu Ki tô giáo, khiến cho Giáo hoàng, Giám mục, cả những giới chức của chính quyền theo Ki tôc giáo phải chịu khốn đốn, kể cả cái chết. Nhưng từ năm 305, khi Docletian thoái vị thì các biện pháp đàn áp lặng lẽ mất dần.

Tuy nhiên giới lãnh đạo nhà thờ đã hiểu ra rằng khi không có quyền lực chính trị thì họ sẽ dễ bị nguy hiểm trước lòng ham muốn thất thường của các Hoàng đế, cho nên họ nghĩ đến việc cấu kết với chính quyền để có thế lực chính trị. Cơ may đã đến với họ. Nguyên Diocletian đã chia đế quốc La mã làm hai phần : miền đông và miền tây, mỗi phần ông bổ nhiệm một người đứng đầu để cai trị, trong đó Ki tô giáo đã củng cố được thế lực và niềm tin ở miền đông. Năm 312, Constantine đánh thắng Maxentius tại Milvian Bridge trên sông Tiber, và trở thành người kế vị Diocletian, làm Hoàng đế miền tây. Mẹ của Constantine đã là người theo Ki tô giáo, nên Constantine không sợ những cái lạ lùng của Ki tô giáo như Diocletian. Constantine hiểu rằng nhà thờ Ki tôc giáo, với mạng lưới các Giám mục, và các con chiên tận tụy có thể là một đồng minh hùng mạnh cho cương vị Hoàng đế của mình, trong khi đó thì giới nhà thờ cũng đang tìm cơ hội liên minh với vị Hoàng đế nào ủng hộ nhà thờ. Cho nên sau khi chính thức kế vị Diocletian thì Constantine theo Ki tô giáo. Nhưng Eusebius, một người bạn của Constantine, và là người viết tiểu sử của Constantine có lẽ đã giúp Constantine và nhà thờ để che đậy âm mưu cấu kết với nhau bằng cách “thánh hóa” việc theo Ki tô giáo của Constantine mà ghi rằng Constantine đã thấy một thánh giá sáng trên bầu trời mang dòng chữ :”NHỜ DẤU HIỆU NÀY, NGƯƠI SẼ CHIẾN THẮNG” ( BY THIS SIGN THOU SHALL CONQUER), và ngay tức khắc, Constantine thề không thờ Chúa nào khác Thiên Chúa của Ki tô giáo (12).

Sự dàn dựng này là âm mưu câu kết giữa phe Nhà tờ Ki tô với ngoại bang là nhà độc tài Constantine để hai bên cùng có lợi. Sau đó Constantine đã dùng nhà thờ Ki tô giáo giúp ông ta để thu tóm và sử dụng quyền lực chính trị. Nhà thờ đã giúp Constantine trong việc chống lại đối thủ của ông là Licinius đang làm Hoàng đế miền đông của đế quốc La mã, và ông ta đã dùng các Giám mục và các cộng đồng giáo dân như là một mạng lưới tình báo, báo cáo cho ông về các biến cố chính trị và các xu hướng ngấm ngầm trong tất cả các thành phố của đế quốc (13). Nhờ đó, năm 324, Constantine, đang là Hoàng đế của miền tây, đã đánh bại Licinius, Hoàng đế của miền đông trong trận đánh tại Chrysopolis để trở thành Hoàng đế duy nhất cai trị toàn thể đế quốc La mã. Đáp lại, Constantine giúp Ki tô giáo bằng cách cố gắng, như Paul đã làm trước đây, là hợp nhất đức tin Ki tô giáo vào một thể chế duy nhất và cho Ki tô giáo dễ dàng phat triển trong toàn đế quốc La mã. Ông đã làm cho những người dân bình thường có cảm tình với Ki tô giáo bắng cách lấy ngày phụng sự Chúa của Ki tô giáo (Christian Sabbath) làm ngày nghỉ của toàn dân (tức ngày Chủ nhật hiện nay) và kết hợp các lễ hội của người ngoại đạo vào trong lịch Ki tô giáo. Tội đóng đinh trên hình chữ thập, các cuộc tranh tài giữa các đấu sĩ và các và sự cúng thần linh bằng sinh vật đều bị cấm trên toàn đế quốc (14). Như thế dựa trên nền thần học của Paul, nhà thờ Ki tô giáo cấu kết với Hoàng đế Constantine vì quyền lợi của hai bên, mà Ki tô giáo được phát triển ra khắp Ai cập, xa về phía nam tới cả Ethiopia, tới bờ đông Biển đen, khắp vùng Asia Minor, Syria, Phoenici. Palestine vá vào Arabia; về miền tây thì có các cộng đòng Ki tô giáo ở trong mỗi tỉnh của đế quốc La mã, bao gồm các xứ Gaul, Ibertia va Britannia xa xôi. trong thế kỷ thứ tư sau Công nguyên. Hoàng đế La mã Constantine đã cố gắng dùng quyền lực thống nhất các hệ phái, khai sinh ra cái tên Roman Catholic năm 325, và giúp cho Giáo hội phát triển đổi lại việc Giáo hội giúp Constantine củng cố quyền thống trị trên toàn đế quốc La mã.

Nhưng sau khi Constantine chết vào năm 337 thì sự bất đồng phát triển chung quanh vấn đề bản chất của ông Jesus và bà Mary. Phải chăng Jesus là hoàn toàn thánh thiện, hay một phần thánh, một phấn phàm, trong trường hợp nào hai phần riêng biệt này hòa hợp với nhau trong con người của Jesus, hay chúng đã luôn luôn cùng tồn tại trong người ông? Có thể nào bà Mary, một người phàm, lại sinh ra một vị thánh, và nếu như vậy, thì phải chăng bà Mary có nhiều phần thánh hơn phàm ? Những điểm tranh cải này đã liên kết chặt chẽ một cách chết người với quan điểm chính trị của nhà thờ, vì mỗi nhóm đã tìm cách để được cho là có tính chính thống duy nhất đuôc chấp nhận. Sau cùng thì các Giám mục và đám con chiên của họ trong nhiều nhà thờ thuộc miền đông, nơi mà Ki tô giáo vẫn tập trung, thì thích tách rời ra hơn là từ bỏ tầm nhìn riêng của họ về đức tin (15). Vì vậy các Cộng đồng Ephesus năm 412 và Chalcedon năm 451 được xem như các cơ hội cho các Giám mục xác lập luật lệ riêng cho mình hơn là tìm cơ sở chung (16).

Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Augustine đã cứu vãn được sự phát triển của nhà thờ La mã (Latin church ) và khiến cho Ki tô giáo trở thành một thế lưc hoành hành khắp Âu châu trên một nghìn năm, gây nên nhiều tội lỗi cho các dân tộc các vùng Trung đông, Phi châu, Mỹ châu và Á châu, di lụy cho tới hiện nay, mà ngày 12 tháng 3 năm 2000, tại thánh đường Phê rô ở Vatican, Giáo hoàng John Paul II cùng với 5 Hồng y và 2 Tổng giám mục đã phải công khai thú tội với thế giới loài người.

 

B. HÀNH TRẠNG CỦA ÔNG THÁNH AUGUSTINE.

Augustine sinh ra năm 354 trong một gia đình Ki tô giáo (Christian family) tại thành phố Tagaste (bây giờ là Souk Ahras) ở phía bắc châu Phi. Ông đến Carthage để học về Văn học La tinh. Augustine đã sống một cuộc đời phóng đãng tại Carthage. Ông đã sống với một tì thiếp (concubine) trong khoảng mười lăm năm, có một con trai với người này.Vào năm 30 tuổi ông đồng ý cho mẹ ông, bà Monica, một người Ki tô giáo tân tụy, thu xếp để cưới cho ông một cô gái trẻ để ông bỏ người tì thiếp kia đi; nhưng trong khi chờ cho người con gái ấy đến tuổi được làm đám cưới sau hai năm nữa, thì ông lại vội vàng dan díu với người đàn bà khác (17). Nhưng rồi cũng không cưới cô gái ấy và cuối cùng lấy một người tớ gái làm tình nhân lâu dài !18).

Ban đầu Augustine có ý định học để làm một luật sư phục vụ cho đế quốc La Mã, nhưng sau bỏ ý định nghề nghiệp và bỏ cả đức tin của gia đình vì tình cờ gặp được các nhóm người Ki tô giáo có ý chống lại phe chính thống. Trong khi phe nhà thờ La Mã chính quy thì chủ trương rằng Kinh thánh là nguồn trí tuệ đúng đắn và niềm tin vào lời của Kinh thánh là một luật không lay chuyển được thì các học giả La Mã trẻ lại cho điều đó là vô lý. Với họ thì Cựu Ước chứa đầy những câu chuyện kỳ quặc và những chuyên dân gian cổ tầm thường mà lại được dịch ra thành một lối văn xuôi La tinh tồi tệ. Họ được giáo dục trên các tác phẩm tuyệt vời của Cicero và Virgil, cho nên dù họ có yêu thích Ki tô giáo, họ vẫn cảm thấy hoang mang, thậm chí chống đối lại bởi cả hình thức văn phong lẫn nội dung của Cựu Ước. Cho nên Augustine và một số những người La Mã có học khác đã bị lôi cuốn theo hệ phái Manicheism, một hệ phái cố gắng thống nhất mọi tôn giáo của thế giớ bấy giờ. Hệ phái này tin rằng chúa Jesus là một vị thầy vĩ đại, không cần sự trợ giúp nào từ những nhà tiên tri Hebrew nào cả. Niềm tin chính yếu của họ là thế giới được tạo ra bởi hai phần riêng biệt, một phần tốt và một xấu và cả hai phần này hòa lẫn vào nhau trong mọi sự vật, kể cả con người. Nhưng con người có thể sống với phần tốt cả trong tâm hồn lẫn trí óc và để cho phần xấu gồm ý nghĩ xấu, hành động xấu và các ham muốn nhục dục nằm yên. Lý lẽ này hấp dẫn mãnh liệt đối với Augustine, người mặc dầu đã phạm tội lõi (do cuộc sống phóng đãng) , nhưng vẫn muốn giữ lại phần tốt trong người khỏi phải bị lu mờ.

Sau một thời gian dạy Triết học tai Carthage, Augustine tới Rome và sau tới Milan, tại đây ông được bổ nhiệm là Giáo sư về Tu từ học (professor of rhetoric) năm 384. Chính tại Milan, Augustine đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quan điểm về Ki tô giáo của Giám mục Công giáo La mã Ambrose vừa là nhà chính trị hàng đầu các nhà thờ miền tây. Vì ảnh hưởng này mà Augustine từ bỏ quan điểm mà ông đã có từ trước đến nay là “Chúa phải là một con người hiện diện thật sự bằng thân xác” (19), để chấp nhận quan điểm “ Chúa hoàn toàn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của nhân loại” (20) và ông đã viết “ Con đã ý thức rằng con đã ở quá xa Ngài” (21). Do đó Augustine lại từ bỏ phái Manicheism để theo Công giáo Ma mã vào năm 386 ( như thế Augustine đã hai lần đổi đạo : từ Christianity của gia đình qua Manicheism, rồi qua Roman Catholic). Sau 5 năm đổi đạo này, Augustine được bổ nhệm làm Giám mục tại hải cảng Hippo (nay là Annaba, ở Algeria) trên bờ biển bắc Phi châu, và chết tại đó năm 430.

Như ở đoạn cuối về hành trạng của ông Thánh Paul nói trên cho biết, sau thời huy hoàng của nhà thờ La mã do sự giúp sức bằng quyền lực của Hoàng đế Constantine theo chủ trương thần học của Thánh Paul, nay Ki tô giáo đang suy thoái, phân hóa giữa các Giám mục khi Augustine chịu phép rửa tội bởi Giám mục Ambrose năm 387.

Trong bối cảnh đó, với vai trò Giám mục tại Hippo, Augustine đã thấy quyền lực của nhà thờ La mã đang bị phân tán, không có quyền lực trung ương thì hướng phát triển cho Ki tô giáo phương Tây cả ở bên trong lẫn bên ngoài nhà thờ đều không chắc chắn và không thể thực hiện được. Vì vậy Augustine thấy cần phải viết, và ông xem các tác phẩm của mình không phải như một loại vận dụng lý thuyết, mà là một sự chiến đấu tuyệt vọng cho linh hồn của Ki tô giáo trong một thế giới đang phân tán. Ông thấy rằng nhiệm vụ trung tâm của một học giả Ki tô giáo là đương đầu với câu hỏi : “Cái ác đến từ đâu ? Nếu Chúa đã vừa là thiện vừa có tất cả quyền năng thì cái ác đã đến thế giới như thế nào? (22). Augustine tin rằng có một thực thể trừu tượng gọi là “cái ác”, đối lập với cái thực thể trừu tượng gọi là “cái thiện” trong thế giới này, và Augustine cần phải giải quyết vấn đề nguồn gốc của “cái ác” ấy.

Trước đây, khi còn theo phái Manicheism, thì Augustine đã thấy được từ phái này một câu trả lời, đó là Chúa ác cùng tồn tại với Chúa thiện. Nhưng Augustne cảm thấy bị khó chịu bởi cái thuyết định mệnh được soi sáng (enlightened fatalism) của họ, bởi vì ông ta tin rằng cái ác cần phải bị chống lại, chứ không chỉ né tránh (23). Nhưng nay từ bỏ phái Manicheism, Augustine lại bị đối mặt với cái kỳ quái của Cựu Ước. Cho nên Augustine phải tìm cách trả lời câu hỏi :”Lam thế nào mà lịch sử dân gian của dân Do thái, với ông chúa Hebrew đầy hận thù của họ, lại có thể được hấp thụ vào trong phẩm chất thánh thiện lý tưởng thuần tinh thần theo Platon, và vào trong chúa Jesus Christ đầy khoan dung được? (24). Để trả lời câu hỏi này, Augustine chủ trương một sự áp đặt hung bạo của các luật lệ khắc nghiệt là cần thiết để buộc dân Do thái đi theo con đường đúng như ông nghĩ, vì ông cho rằng con người vốn là ác và bướng bỉnh; nếu bỏ đi mọi rào cản tạo ra bởi luật lệ thì khả năng thô lỗ, làm hại của con người, sự thôi thúc thỏa mãn dục vọng của họ sẽ hoành hành hết cỡ (25). Đó là biện pháp đối phó với cái ác, nhưng cái ác bẩm sinh nơi con người thì do đâu mà có ? Augustine lại tìm thấy câu trả lời trong “Tội Tổ Tông” cái thuyết mà ông Thánh Paul đã “chế ra” từ hơn ba trăm năm trước mà đã được phổ biến chung giữa những người Ki tô giáo với những niềm tin khác nhau vào thời kỳ cuối của đế quốc La mã (26).

Vẫn còn một khó khăn thách thức Augustine phải tìm câu trả lời : Đó là, nếu thế giới này đầy tội lỗi, và mỗi con người đã bị nhiểm vết nhơ bởi tội ác thì một người theo Ki tô giáo phải sống như thế nào ? Đề tìm câu trả lời, Augustine đã dựa vào niềm tin của những người theo trường phái Plato, đó là tin vào một Chúa ở xa mà nhân loại là một phần hầu như không thích hợp của sự sáng tạo của Chúa. Do đó câu trả lời của Augustine khiến người ta sợ hải đến rùng mình trong chủ nghĩa bi quan của nó : vai trò của một người Ki tô giáo chân chính là sợ Chúa, Chịu khổ và chờ đợi sự phán xét của Chúa (27).

Như thế ba vấn đề : cần áp đặt hung bạo kỷ luật nghiêm khắc đối với dân Do thái; Tội tổ tông do Paul chế ra; và người Ki tô giáo phải sống trong nỗi sơ Chúa, chịu khổ, và chờ đợi sự phán xét của Chúa là chất liệu, là nỗi ám ảnh đã thôi thúc Augustine miệt mài viết và giảng đạo với tất cả khả năng về triết học, tu từ học, nghệ thuật thuyết phục và nói trước công chúng mà Augustine đã học theo dư định nghề nghiệp thời trẻ, cốt sao cho nhà thờ La mã được phát triển rộng khắp, bền vững, lâu dài.

Để đạt được mục đích này, ngoài việc giới chức nhà thờ tạo ra quyền lực, Augustine đã nâng Tôi tổ tông do Paul “chế ra” lên thành một học thuyết, đem phổ biến rộng khắp cho người Ki tô giáo để họ thấy mình đã có tội với Chúa, phải sợ Chúa, và xin Chúa cứu rỗi, nghĩa là phải theo Ki tô giáo . Augustine trở thành nhà thần học đầu tiên giảng dạy rằng con người được sinh ra trên thế giới trong một trạng thái tội lỗi (28). Ông dạy rằng vết nhơ của tội ban đầu của Adam đã được thừa kế bởi tất cả mọi người vào lúc sinh ra, và không có cách gì con người làm trong cuộc đời để có thể gọt rửa được vết nhơ này (29) ; tình trạng tội lỗi này có trong tất cả mọi người từ lúc thụ thai. Theo học thuyết này, tất cả mọi người đều là người có tôi khi sinh ra và đều là người có tội khi chết đi; tất cả mọi người “bị mất đạo đức” vĩnh viễn, và cần phải có sự cứu rỗi linh hồn của Chúa. Cách duy nhất mà con người có thể được xem là chính đáng trong con mắt của Chúa và được hòa giải với Chúa là bằng cách khiêm nhường cầu xin sư tha thứ, tin rằng con trai Jesus Christ của Chúa, qua cái chết và tội bị đóng đinh trên thánh giá, đã nhận về phần mình cái sự trừng phạt phải có cho tội lỗi và sự xâm phạm của chúng ta, và phụ thuộc vào ân sủng của Chúa để hoàn thiện đức tin nơi Chúa bằng cách gia tăng tình yêu đối với Chúa để làm tròn sự phục tùng Chúa. Hình phạt tối hậu cho tội tổ tông đã là sự trục xuất ra khỏi sự có mặt của Chúa và chịu chết cả thể xác lẫn linh hồn; mục đích và ân huệ tối hậu của sự hòa giải là khôi phục lại mối quan hệ ban đầu mà con người đã có với Chúa; điều đó bao gồm đời sống vĩnh cữu.(30).

Với học thuyết Tội tổ tông này, Augustine đã xây dựng nên một nền thần học mà theo đó thì mọi chuyện xảy ra trên cõi đời này đều là do Chúa muốn như thế ! (31). Chúa đã ra lệnh cho mọi tư tưởng và hành động của con người (32); mọi hành động của con người đều được Chúa xác định trước, ý muốn tự do của con người là ảo tưởng (33). Đã chủ trương mọi hành động của con người đều do Chúa chỉ định trước như thế, nhưng Augustine lại tự mâu thuẩn bằng cách khuyên người Ki tô giáo nên chọn hành động để sống cuôc đời tốt đẹp vì lý do cho riêng họ (chứ không phải vì tha nhân, MĐ), bởi vì nhờ tự giải phóng mình khỏi sự nô lệ của các dục vọng ác độc, thì họ có thể hiểu và hưởng thụ được cái tầm nhìn rộng lớn và tình yêu của Chúa (34). Nhưng để tránh cái mâu thuẩn với chủ thuyết của mình, Agustine, lai nhấn manh với họ rằng dù họ có sống tốt mấy đi nữa thì việc đó cũng không có ảnh hưởng gì đến sự phán xét cuối cùng của Chúa, bởi vì số phận của họ đã được quyết định sẵn rồi! (35).

Như thế, thật ra Augustine vẫn luôn trung thành với hoc thuyết là Chúa từ chối khả năng cải thiện của con người hay là từ chối sự cứu rỗi linh hồn nhờ những hành động tốt (36), cho nên Augustine khuyên người Ki tô sống tốt đẹp vì không phải đó là đạo lý sống làm người như truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam ta, cũng không phải vì lợi ích riêng gì cho bản thân người đó, mà vì để thấy Chúa là tốt, có lòng yêu thương và góp thêm vào sự vinh quang của Chúa mà thôi! (37).

Chính cái tư tưởng thần học này đã dạy cho ngườu Ki giáo rằng họ đi làm từ thiện như các bà soeur đi chăm sóc bệnh nhân trong các bệnh viện, đi ứu trợ thiên tai bão lụt, đi cấp phát lương thực cho những người nghèo đói, v.v… thì không phải vì sự đau khổ của người bệnh, người bị tai nạn, người nghèo đói,…, nghĩa là không phải những người ấy cần sự giúp đở mà vì để thấy Chúa là tốt và để vinh danh Chúa mà thôi! Và để khuyến dụ người ta theo Ki tô giáo, để mở rộng nước Chúa. Như thế cũng có nghĩa là nếu không có lợi trong việc truyền đạo, trong việc mở rộng ảnh hưởng của Ki tô giáo thì người cần nhận sự giúp đở sẽ không được nhận. Điều này hẵn là những người Việt một thời ở trong các tại tị nạn, chờ đợi được đi định cư tại các nước đã thấy rõ. Cũng chính vì vậy mà trong hành động từ thiện của những người được khoa trương trên khắp thế giới như là những vĩ nhân như Mẹ Teresa đã làm ở Ấn độ mà người Ki tô giáo lấy làm hãnh diện thì người ta đã tìm thấy những động cơ đen tối, tội lỗi, và những biện pháp gây đau khổ cho những người được giúp đở, và chính Mẹ Teresa bị cáo buộc là đã làm hại hơn là làm tốt cho người nghèo và người bệnh tại Calcutta (38).

Tóm lại với sự “khuếch đại” khái niệm tội tổ tông của Paul trong Tân Ước lên thành một hoc thuyết mà những ai có chút lý trí đều dễ dàng bác bỏ (như sẽ được tóm lược trong phần tiếp theo ngay sau đây). Nhưng học thuyết này chứa những cái như : con người sinh ra là đã mang tôi từ lúc thụ thai, cho nên Chúa mới sai con trai là Jesus Christ giáng trần chịu chết trên cây thánh giá để chuộc tôi cho những ai tin Chúa, mọi tư tưởng, hành vi của con người đều do Chúa xác định trước, con người chỉ phải sợ Chúa, chịu khổ, phải phục tùng Chúa để làm rạng danh Chúa, và chờ đợi sự phán xét của Chúa,…, lại là những công cụ hữu hiệu để nô lệ hóa con người nhẹ dạ, thiếu tỉnh thức, khiến ho trở thành những con chiên ngoan ngoãn sẵn sàng làm mọi mệnh lệnh của các cha bề trên, là công cụ hữu hiệu để các Giáo hoàng trở thành những con người có uy quyền ghê gớm trên cả vua chúa một thời. Cho nên giới nhà thờ Ki tô giáo đã lợi dụng nền thần học của Augustine để phát triển Ki tô giáo, gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi với nhân loại trong thời gian trên một nghìn năm sau khi Augustine qua đời ( những tội này mới đích thực là “Tội tổ tông” của những người theo Chúa!, MĐ).

Vì vậy, chúng ta không lấy gì làm lạ về việc Augustine được phong Thánh và được Giáo hoàng Boniface VIII thừa nhận như là một Tổ Sư Của Nhà Thờ (Doctor of the Church ) năm 1298, cùng một lượt với Ambrose, Jerome, Giáo hoàng Gregory I, là 4 người đầu tiên trong số 33 người được chức danh này trong lịch sử phát triễn của Ki tô giáo.(39). Riêng những người Công giáo La mã còn xem Augustine như là thần hộ mang của những người làm bia rượu, làm in ấn, những nhà thần học, của con mắt bệnh hoạn, và của một số thành phố và khu giáo dân (40)

 

V. NHỮNG NGƯỜI CÓ LÝ TRÍ CÙNG THỜI VỚI AUGUSTINE ĐÁNH GIÁ TỘI TỔ TÔNG NHƯ THẾ NAO ?.

 

Không phải đợi tới ngày nay, với những bằng chứng hiển nhiên của khoa học, một học sinh Trung học cũng dễ dàng bác bỏ được Tội tổ tông theo giáo điều Ki tô giáo, mà ngay thời Augustine đã có những nhà thần học bác bỏ thuyết Tội tổ tông. Trong số đó, có thể kể đến Pelagius, một nhà thần học từ British Isles đến sống tại Rome vào đầu thế kỷ thứ 5. Quan điểm của ông là bản chất của con người là có khả năng cải thiện và thậm chí được hoàn hảo thông qua việc gắn bó với đức tin Ki tô giáo, và phấn đấu cho được hoàn hảo là bắt buộc đối với người Ki tô giáo chân chính….Khi các tập sách Confessions của Augustine được lưu hành sau năm 412, thì Pelagius tuyên bố chống lại ý tưởng Tội tổ tông. Ông không thể chấp nhận rằng việc cải thiện của con người lai bị vô hiệu hóa bởi một cái gì từ quá khứ xa xưa và rằng bởi cái hành động phạm tội đầu tiên của Adam mà nhân loại đều bị lên án là những kẻ có tội mãi mãi (41). Ông Julian, một người theo Pelagius, đã viết cho Augustine rằng :” Ông hỏi tôi tại sao tôi đã không đồng tình với ý tưởng rằng có một cái tội mà là một phần của bản chất con người ? Tôi trả lời : đó là điều không chắc có thật, đó là điều không đúng; đó là điều bất công và không ngoan đạo; điều đó khiến cho dường như Quỷ ác tối thượng là kẻ tạo ra con người. Điều đó vi phạm và hủy hoại sự tự do của ý chí… bằng cách nói rằng con người là rất kém khả năng có đạo đức, rằng ở ngay trong tử cung của người mẹ, con người đã nhiễm đầy những tội lỗi xa xưa (42). Đối với những người Ki tô giáo có lý trí cùng thời với Augustine như Pelagius và Julian, thì cái ý tưởng rằng cái tội của Adam và Eva đã làm nhơ nhuốc không thể tẩy xóa được tất cả nhân loại là vừa vô nghĩa vừa nguy hiểm (43).

Không những Tội tổ tông mà nhiều quan điểm thần học của Augustine cũng đã bị nhiều người cùng thời với Augustine không đồng tình. Một thí dụ điển hình là khi Augustine cho ra đời tác phẩm được cho là nổi tiếng nhất của ông, quyển City of God (Thành phố của Chúa), trong đó Augustine mô tả làm thế nào nhân loại bị chia làm hai: những người phải ở tại Babylon, là Thành phố của Ác quỷ (City of Evil) và những người được ở tại Jerusalem, là Thành phố của Chúa (City of God). Babylon sẽ bị hủy diệt vào Ngày Phán Xét (Day of Judgement) và Jerusalem sẽ được bảo toàn. Vấn đề là những ai là người được Chúa chọn (the Elect) cho vào Jerudsalem để được cứu rỗi ? Thế là có một hệ phái của Ki tô giáo gồm những người được gọi là Donatists tự cho là chính họ là những người được Chúa chon! vì họ là thuần đạo đức và tuân thủ nghiêm túc những điều luật của đức tin Ki tô giáo. Tuyên bố của họ khiến cho Augustine nổi giận. Augustine tin rằng chỉ một mình Chúa có thể quyết định ai sẽ được cứu và chính Chúa, vị Chúa ở rất xa, có quyền năng vô hạn, sẽ không bị ảnh hưởng bởi cái đạo đức tự đánh giá của bất kỳ một nhóm hay một cá nhân đặc biệt nào. Ai đưa ra giả thuyết khác chính là dị giáo.(44). Và như để bác bỏ hẵn ý kiến của những người Donatists, Augustine cho ra tác phẩm On the Predestination of the Saints (Về Thuyết Tiền Định của các Thánh), trong đó ông giải thích rằng Chúa đã gởi những người nào đó vào thế giới để làm công việc vĩ đại. Chính những ông thánh này mới được vào ở trong Thành phố của Chúa (City of God) vào Ngày Phán xét, trong khi tất cả những người khác sẽ phải bị hủy diệt trong Thành phố của Ác quỷ (City of Evil).

 

VI. BÀ MARY VÀ ÔNG JESUS CÓ BỊ TỘI TÔNG KHÔNG ?

 

Thuyết Tội tổ tông của Augustine cũng liên quan trực tiếp đến các tranh cải về sau giữa nhưng người theo Ki tô giáo , đó là Chúa Jesus và bà Mary có chịu Tội tổ tông không ? Trong Tân Ước có 4 câu chưyện về cuộc đời của Jesus (gọi là Gospel) do 4 tác giả khác nhau viết, trong đó Gospel của Mark và Gospel của John thì bắt đầu từ khi Jesus chịu phép thánh (baptism) do John the Baptist thực hiện, chỉ trong hai Gospel của Matthew và của Luke thì bắt đầu từ sư sinh ra của Jesus, và nói rõ là Jesus được thụ thai mà không có người cha là con người (45). Gospels của Matthew và Luke đã nói rằng bà Mary, mẹ của Jesus là một trinh nữ, và Jesus được thụ thai theo cách thánh….Các gospels ấy, truyền thống về sau và học thuyết hiện nay trình bày sự ra đời của Jesus là một phép lạ, không liên quan tới người cha tự nhiên, không có sự giao hợp, không có tinh trùng đàn ông, mà do Chúa thánh thần tạo ra (46). Căn cứ vào đó, Ki tô giáo nói Jesus không có tôi tổ tông vì không có người cha sinh học, mà cha là Chúa, hiện thân qua Chúa thánh thần (the Holy Spirit). Trong khi đó thì Chính thống giáo (Catholic Orthodox) lại nói bà Mary được thụ thai bình thường với cha là Joachim và mẹ là Anna/Anne là những con người bình thường cho nên bà cũng chịu Tội tổ tông. Cho nên dù không có cha sinh học thì Jesus cũng phải chịu ít ra là một nửa Tội tổ tông do bà Mary truyền cho. Nhưng để biện giải Jesus không có Tôi tổ tông, các nhà thần học Ki tô giáo mới “chế ra” rằng Tội tổ tông do người cha tuyền cho con khi giao hợp, mà Jesus được thụ thai không do sư giao hợp của người cha sinh học nên Jesus không có tội Tô tông!. Để tăng cường tính thuyết phục, phái nhà thờ Công giáo La mã (Roman CatholicChurch) lại chủ trương bà Mary cũng không có tội tổ tông vì Chúa đã để riêng bà khỏi cái tội ấy ngay khi bà được thụ thai trong lòng mẹ (47). Nhưng không phải hệ phái nào trong Ki tô giáo cũng đồng quan điểm này. Cho nên mặc dầu Giáo hoàng Sixtus IV công bố rằng ngày 8 tháng 12 là ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (The Immaculate Conception), nhưug ông không xác định đó là một giáo đều, để cho giới nhà thờ La mã tự do tin hay không tin mà không kết tội di giáo (48). Nhưng nhiều giáo phái trong Cơ đốc giáo vẫn chống lại thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm, quyết liệt nhất là hệ phái Tin Lành, cho nên để dứt khoát lập trường củng cố niềm tin của giáo dân theo nhà thờ La mã, Giáo hoàng Pius IX đã xác định Đức Mẹ Vô Nhiễm là một giáo điều vào ngày 8 tháng 12 năm 1854 . Ông nhấn mạnh rằng sự không nhiễm tội của bà Mary không phải do công hạnh của chính bà mà đúng ra là do công hạnh con trai Jesus của bà , trong định nghĩa sau đây :

“Chúng ta công bố, phát biểu và xác định rằng học thuyết cho rằng Đức Mẹ Đồng Trinh Mary (Blessed Virgin Mary), tại lúc đầu tiên được thụ thai, do một quyền ưu tiên và ân sủng đặc biệt của Chúa Toàn Năng (Omnipotent God), do công hạnh của Jesus Christ, vị Cứu thế của nhân loại , đã được giữ tinh khiết khỏi tất cả mọi vết nhơ của Tội tổ tông, đã được mặc khải bởi Chúa, và vì vậy nên được tin tưởng vững chắc và không thay đổi bởi tất cả mọi người ngoan đạo” (49).

Ngay từ buổi ban đầu của Nhà Thờ, nền thần học Ki tô giáo đã chủ trương rằng Jesus Christ là người Trung gian duy nhất giữa Chúa và Con người theo thuyết Ba ngôi: Chúa Cha (God), Chúa Con (Jesus Christ), và Chúa thánh thần (Holy Spirit). Nhưng về sau, nhà thần học Ludwig Ott lại cho rằng không có gì cản trở những người khác theo một cách nào đó được gọi là làm trung gian giữa Chúa và con người, trong chừng mực mà họ nhờ dọn mình hay phục vụ, đóng góp vào công việc kết nối con ngưới với Chúa (50). Do đó bà Mary, mẹ của Jesus Christ, đã được Nhà Thờ cho là Vô Nhiễm, được cho trở thành Trung gian giữa Con người và Jesus. Và như thế từ ba ngôi thành bốn ngôi , và cũng từ đó mà trong nhiều nhà thờ Công giáo La mã có thêm chỗ thờ dành riêng cho bà Mary, và giáo dân cần cầu xin gì thì không câu xin trực tiếp lên Jesus hay Chúa mà câu xin lên bà Mary để bà tâu xin lại với Chúa.

Tuy nhiên vẫn chưa cho là đủ buộc tín đồ tin hoc thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm, và để củng cố niềm tin cho họ, bằng cách cho họ thấy sự linh thiêng của Đức Mẹ Vô Nhiễm, Tòa thánh Vatican đã nhiều lần loan tin Đức Mẹ hiện ra ở nơi này, nơi kia. Chẳng hạn năm 1858, nhà thờ La mã đã loan tin rộng rãi là Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện ra ở Lourdes tại nước Pháp bằng cách cho chỉ cho cô gái 14 tuổi tên là Bernadette Soubrious thấy mà thôi!(51). Họ cũng đã từng loan tin Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện ra La Vang, Quảng Trị nước ta,v.v…Tất nhiên phái Tin Lành bác bỏ sự đồng trinh của bà Mary, và họ không tin có sự xuất hiện của Đức Mẹ Vô Nhiễm. Dù vậy, trong thời hiện đại, Tòa thánh Vatican cũng vẫn tìm mọi cách để buộc tín đồ Thiên chúa giáo La mã tin vào sư linh thiêng của Đức Mẹ Đồng Trinh, bằng cách phong danh hiệu Mẹ Của Nhà Thờ cho bà Mary trong Cộng Đồng Vatican năm 1964 bởi Giáo hoàng Paul VI ,và lại được xác nhận lại năm 1977 bởi Giáo hoàng John Paul II (52).

Tòa thánh Vatican muốn cho giáo dân biết rằng cái tên Đức Mẹ Đồng Trinh không những chỉ cốt là niềm tin sự trinh bạch của bà Mary mà còn là niềm tin vào sự tiếp tục vai trò của bà trong nhà thờ và trong đời sống của tất cả những người Ki tô giáo, cho nên trong Hiến Chương Giáo Điều của Nhà Thờ được Cộng Đồng Vatican Hai thông qua ngày 21 thang11 năm 1964, thì bà Mary cũng đã được phong các danh hiệu Advocate, Auxiliatrix, Adjustrix, và Mediatrix. Bà Mary thường được gọi là Đức Bà của Chúng Ta (Our Lady) (53)

Tuy nhiên các nhà nghiên cứu gần đây, trong nhiều tư liệu đã chứng minh rằng các bằng chứng về sự hiện ra của Đức Mẹ Đồng Trinh ở các nơi trên thế giới chẳng hạn như ở Lourdes tại nước Pháp năm 1854 chỉ là màn lừa bịp được dàn dựng trong âm mưu cấu kết giữa Tòa thánh Vatican với chính quyền nước Pháp thời đó mà đại diện là Hoang đế Napoleon đệ tam để hai bên cùng có lợi (54). Ki tô giáo, đặc biệt là Công giáo La mã hiện nay dưới quyền điều khiển của Tòa thánh Vatican đã tích lũy kinh nghiệm cả gần hai nghìn năm trong việc cấu kết với chính quyền để củng cố thế lực cho cả hai bên, mà việc họ ngụy tạo ra các hiện tượng rồi gán cho là do Chúa làm để lừa bịp con chiên và các kẻ u mê, gây tác động tâm lý là một trong những thủ thuật vẫn được các “bề trên” cho thực hiện. Trong lịch sử, có lẽ hai vụ lừa bịp được cho là thành công nhất là vụ ông Saul trên đường từ Jerusalem tới Madacus để truy lùng những kẻ hổ trợ Ki tô giáo bị Chúa phạt khiến ngã ngựa và thấy trên bầu trời cây thánh giá mang dòng chữ “ Why are you persecuting me?” để cho Saul bỏ đao Do thái mà theo đạo Ki tô. Vụ thứ hai là các Giám muc ở miền đông đế quốc La mã đã âm mưu cấu kết với Hoàng đế Constantine ở miền Tây đế quốc La mã phao tin rằng vào năm 312 sau khi Constantine đánh bại được Maxentius để làm Hoàng đế miền tây, thì chính Constantine thấy một cây Thánh giá sáng lên trên bâu trời có ghi hang chữ NHỜ DẤU HIỆU NÀY, NGƯƠI CHIẾN THẮNG (BY THIS SIGN, THOU CONQUER) . Đây là đòn chiến tranh tâm lý trong âm mưu cấu kết giữa các Gám mục miền đông với Hoàng đế Constantine ở miền tây, để tạo ra tinh thần lạc quan hăng hái cho quân của Constantine và tinh thần bi quan chủ bại của quân và dân dưới quyền của Hoàng đế Licinius ở miền đông với sự nội ứng phản quốc của các Giám mục và giáo dân miền đông. Nhờ đó mà Constantine theo Ki tô giáo, và được các Giám mục ở miền đông giúp sức, để đến năm 324 thì đánh bại được Licinius đang làm Hoàng đế miền đông, để Constantine trở thành Hoàng đế duy nhất trên toàn đế quốc La mã, và Constantine đã giúp cho Ki tô giáo phát triển mạnh trong cả đế quốc La mã. Nếu quả Chúa đã quyền năng tạo dấu hiệu giúp phe theo Chúa chiến thắng như thế, thì tại sao trong 7 trận Thánh chiến mà Giáo hoàng huy động cả quân các nước Tây âu tay cầm Thánh giá tay câm gươm đi đánh quân Hồi giáo để dành Thánh địa cho Chúa trong 200 năm thời Trung cổ mà rốt cuộc các đoàn quân của Chúa đã bị quân Hồi giáo đánh bại hoàn toàn ?

Cho nên các sự việc trên có thể nói là những kinh nghiệm của Ki tô giáo trong việc ngụy tạo các sự kiện rồi phao lên là do Chúa làm, và sự cấu kết với ngoại bang để bán nước cho ngoại bang cốt để có lợi cho Ki tô giáo. Vì vậy, các vụ Đức Mẹ Đồng Trinh hiện ra ở Lourdes tại Pháp, rồi ở La Vang tại Quảng Trị nước ta, và gần đây nhất là các vụ tượng Đức Mẹ chảy máu, khóc tai Viêt Nam, tại cộng đồng người Việt ở Úc ,…, chính là các “bề trên” đã theo truyền thống của Ki tô giáo mà ngụy tạo ra! Thiên hạ ở phương Tây ngày nay không mấy ai tin, chỉ tội nghiệp cho giáo dân Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài cả tin một cách…”u mê” để bị mấy “bề trên” lợi dụng làm theo ý đồ riêng của họ như việc chống đối nhà nước Việt Nam. Trong khi các “bề trên” không tin gì cả, vì chính họ bày ra các trò bịp này!. Ngay cái việc xưng tội hàng tuần của con chiên với các cha cố để được cha thay mặt Chúa mà tha tội thì ngày nay người phương Tây cũng không mấy ai tin, đặc biệt là mấy cha cố lợi dụng các cơ hội ấy để lạm dụng tình dục con chiên như đã bị kiện ra tòa từ những năm đầu của thế kỷ 21 này tại Mỹ. Trong cuộc điều tra của The Center for Applied Reseach on the Apostolate at Georgetown Unicersity mà kết quả được Tim Padgett viết thành bài báo The Unrepentant (Cảm Thấy Không Có Tội) trên tờ tuần báo Times số ra ngày 8 tháng 10 năm 2007 trang 67-68 cho biết trong số những người Công giáo Mỹ hiện chỉ còn 2% (hai phần trăm) đi xưng tội bình thường, 14% chỉ đi mỗi năm một lần, và 42% chưa bao giờ đi xưng tội. Vì sao họ không tin ? Bài báo cho biết lý do sụt giảm là từ các sự nghi ngờ về những lời giảng dạy của nhà thờ tới sự không tán đồng việc xử lý của nhà thờ về vụ bê bối lạm dụng tình dục của nhà thờ (Reasons for the decline in those observing the sacrament range from doubts about church teachings to disapproval of the handling of the church’s sexual abuse scandal) và người giáo dân nhận thấy rằng các Giám mục- nhiều trong số họ bị buộc phạm tội tình dục với nhiều tu sĩ- đã trốn khỏi một cách ngạo mạn cùng cái việc xưng tội mà họ đòi hỏi đám con chiên của họ phải làm (Catholics felt that the bishops-many of them accused of enabling pedophile priests- were arrogantly evading the same kind of penance they demand from their flocks). Ai cũng biết rằng một kẻ gây tội mà ra đầu thú với chính quyền thì chính quyền đở mất công sức và tiền bạc điều tra bắt kẻ phạm tôi và hạn chế tối đa việc tiếp tục phạm tôi của đồng bọn, và bản thân người đầu thú biết phục thiện, cho nên tòa án sẽ giảm một phần tội cho kẻ đầu thú, nhưng kẻ ấy vẫn là người có tôi, không một ai, một ông Chúa nào có quyền tha tội, huống hồ một ông Linh mục, nhiều khi tội lỗi đầy mình, mà lại thay Chúa tha tội cho người ấy, quả là một chuyện tào lao!

Nhưng riêng con chiên Việt Nam thi hầu như răm rắp đi xưng tội thường xuyên. Cũng như vậy, việc kết hôn thì con chiên Việt Nam buộc người hôn phối phải theo đạo Ki tô của mình , và gia đình cũng như bản thân người ấy rất hãnh diện với cha cố, với giao hữu của họ là đã mở rộng được nước Chúa đến một kẻ ngoại đạo! bất chấp sự đau khổ có thể có đối với bản thân của kẻ “phải theo đạo vợ hay đạo chồng” ấy. Còn việc bà Mary là trinh nữ và là Đức Mẹ Vô Nhiễm thì con chiên Thiên chúa giáo Việt Nam từ người ít học đến có học đều tin ráo trọi với cái bàn thờ Đức Mẹ bên trong mọi nhà thờ của giáo dân Việt Nam, trong khi ở Âu Mỹ thì không mấy ai tin!

 

VII. NGÀY NAY THUYẾT TỔ TÔNG CỦA KI TÔ GIÁO BỊ PHÊ PHÁN NHƯ THẾ NÀO ?

 

A.  ĐÁNH GIÁ CỦA CHÍNH NHỮNG NGƯỜI KI TÔ GIÁO

Do các tiến bộ của khoa học và người trí thức phương tây ngay này không dễ bị buộc phải tin theo những điều trái với kiến thức phổ thông cho nên chính những người theo Ki tô giáo tiến bộ đã nhận thấy Tội tổ tông theo giáo điều bấy lâu nay là không ổn. Từ đó tập thể những người trí thức Ki tô giáo phân ra thành mấy loại : lọai bác bỏ Tội tô tông nhưng vẫn còn tin Chúa, loại vẫn tin Tôi tổ tông một cách mù quáng, loại không tin Tội tổ tông nhưng vẫn giảng cho tín đồ tin về Tội tổ tông, loại bác bỏ Tôi tổ tông và nhiều giáo điều khác của Cơ đốc giáo hay bỏ luôn Ki tô giáo.

Nhóm bác bỏ Tôi Tổ Tông nhưng vẫn còn tin Chúa.

Có thể nói đại diện cho nhóm này là A.T. Overstreet đã viết sách The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? Năm 1995 (55) (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm). Trong phần mở đầu với nhan đề : Sư Ngu Dốt Bảo Vệ và Kéo Dài Mãi Học Thuyết Tội Tổ Tông (Ignorance Protects And Perpetuates The Doctrine Of Original Sin). A. T. Overstreet đã thú nhận rằng đã một thời chính ông đã giảng ở mọi nơi rằng con người sinh ra đã là kẻ có tội và bị chết bởi vì họ đã được thụ thai và sinh ra trong tội lỗi. Vì sao tôi giảng như thế? Tại vì đó chính là những gì những tôi đã nghe những người giảng trước đã giảng như thế. Thời đó tôi đã ngu dốt về chính cái học thuyết mà tôi đang giảng và tôi ít biết về lời của Chúa (56)

Trong chương 6 với tiêu đề : Tại Sao Hoc Thuyết Sai Lầm Ấy Lai Kéo Dài Lâu Đến Thế (How A False Doctrine Could Persist So Long), A.T. Overstreet đã nêu ra 10 điều mà người Ki Tô giáo do ngu ngốc mà không biết từ cái lúc mà Augustine hoán chỉnh thuyết Tôi Tổ Tông trong thế kỷ thứ 5 cho đến nay.

Mười điều ngu đó là (57).

1. Không biết rằng thuyết Tội tổ tông là một học thuyết liên quan tới tiến trình lịch sử. Nó đã trở thành một học thuyết của NhàThờ Công Giáo vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch.

2. Không biết rằng nó đã biến hóa thành một học thuyết và nó đã có nguồn gốc từ một triết thuyết tà đạo.

3. Không biết rằng nó thật sự chỉ là một lý thuyết, và hơn nữa, không phải có một mà có nhiều lý thuyết mâu thuẩn với Tội tổ tông.

4. Không biết rằng có một sự bất đồng trầm trọng giữa những nhà thần học ủng hộ những lý thuyết khác nhau về Tội tổ tông, và rằng tất cả họ đều có thể chứng minh được lý thuyết của người khác là sai.

5. Không biết rằng mặc dầu học thuyết Tôi tổ tông đã bị áp đặt lên nhà thờ bời Augustine, phần nhiều lòng tin để chấp nhận (Tôi tổ tông, MĐ) phải trãi qua những chiều hướng thay đổi theo quan điểm chính trị và quyền lực của nhà thờ. Không phải chỉ có học thuyết Tôi tổ tông, mà nhiều học thuyết khác của nhà thờ đã dao động tới lui trong việc chấp nhận hay bác bỏ tùy theo những thay đổi đột ngột của quan điểm chính trị, quyền lực, và ảnh hưởng của nhà nước và nhà thờ.

6. Hầu hết những người Ki tô giáo không biết rằng Pelagius và Celestus đã tình cờ trở thành nguồn hổ trợ lớn lao cho Augustine trong việc áp đặt học thuyết Tội tổ tông của ông ta lên nhà thờ. Thật vậy, không có vai trò của họ, thì có lẽ tôi tổ tông không bao giờ có chỗ đứng trong nhà thờ. Pelagius và Celestus đã chống lại quan điểm của Augustine về tội tổ tông, về sự không có khả năng tự nhiên,và về một ý chí bắt buộc phải có. Nhưng trong việc phủ nhận tội tổ tông, họ đã dạy rằng trẻ con là vô tội, điều này có nghĩa là không cần thiết phải có lễ rữa tội cho trẻ con. Lúc bấy giờ, giới nhà thờ có định kiến mạnh mẽ trong việc rửa tội cho trẻ con, cho nên cái hàm ý sinh ra trong việc phủ nhận tội tổ tông (rằng không cần việc rửa tội cho trẻ con) đã làm cho họ căm phẩn, dấy lên ra sự chống đối những lời giảng dạy của Pelagius và Celestus và khiến cho học thuyết của Augustine về tội tổ tông, sự không có khả năng tự nhiên, một ý chí cần phải có, và ân sủng (của Chúa) không cưỡng lại được trở nên dễ chấp nhận hơn nhiều .Mặc dầu quan điểm của Celestus về việc không cần sự rửa tội cho trẻ con đã dựa trên kinh thánh, tuy nhiên, cái định kiến mạnh mẽ của giới nhà thờ về sự rửa tội cho trẻ con đã khiến cho cuộc tranh luận bùng phát dữ dội. Và cái điểm này, trong đó Celestus và Pelagius đều đúng, đã thu hút sự chú ý trong cuộc tranh luận hơn nhiều so với nhiều điểm khác trong đó Celestus và Pelagius đã dùng các quan điểm trái kinh thánh một cách dứt khoát. Vì vậy, thuyết Tôi tổ tông của Augustine đã trở thành một giáo điều của Nhà Thờ Công Giáo không phải vì sự đúng đắn hay những xứng đáng của nó, mà bởi vì chủ thuyết của Pelagius đã từ chối việc rửa tội cho trẻ con và đã sai lầm nghiêm trọng trong việc phủ nhận sự cần thiết của một ân sủng đặc biệt cả Chúa nếu con người phải được cứu và vớt khỏi tội lỗi. Pelagius và Celestus chủ trương những quan điểm về tội lỗi và khả năng của con người để vâng phục Chúa mà không cần ân sủng gì cả trái với thánh kinh một cách lố bịch đến nỗi khiến cho Augustine thật sự dễ dàng chỉ ra rằng những quan điểm của họ là sai. Như thế, sự chống đối việc rửa tội cho trẻ con của Celestus và Pelagius và sự phủ nhận của họ về việc cần phải có một ân sủng đặc biệt của Chúa nếu con người phải được cứu và vớt khỏi tội lỗi, đã thu hút trọn tất cả sự chú ý của tâm trí giới nhà thờ và đã tách sự chú ý của họ khỏi những cái vô lý của thuyết tội tổ tông như Augudtine đã dạy.

7. Hầu hết những người Ki tô giáo không biết chính xác những điều mà Augustine đã dạy như là thuyết tội tổ tông, cũng như những gì mà Cocceius, Placeus, và Arminius đã dạy như là thuyết tội tổ tông của họ . Nếu họ được nói cho biết một cách chính xác những gì Augustine đã dạy, họ ắt đã hoảng sợ và từ chối không tin tội tổ tong.

8. Hầu hết những người Ki tô giáo không biết rằng thuyết tội tổ tông là một học thuyết trái thánh kinh một cách hiển nhiên. Học thuyết này trực tiếp chống lại rất nhiều văn bản của Thánh kinh và cả về tinh thần lẫn ngôn từ của tất cả những học thuyết cơ bản của Thánh kinh.

9. Hầu hết người Ki tô giáo không biết rằng không thể nào một người sinh ra đã là một người có tội về cả thể xác lẫn đaọ đức.

10. Và cuối cùng, hầu hết những người Ki tô giáo đã thừa nhận rằng họ không biết về những lời dạy gây hoảng sợ và những hệ lụy phát sinh từ thuyết tội tổ tông. Chẳng hạn, những lời dạy rằng Chúa tạo ra những kẻ có tội, rằng trẻ con mà chết thì sẽ xuống địa ngục, và cái hàm ý logic là nếu tất cả mọi người sinh ra đều là kẻ có tội, thì chính bản thân Jesus đã sinh ra là một kẻ có tội.

Nhưng tại sao những người Ki tô giáo lại ngu dốt như vậy ? A. T. Overstreet cho biết là có nhiều nguyên nhân và ông đã liệt kê ra 5 (năm) nguyên nhân sau đây : (58)

1. Thứ nhất : Tinh thần của người mới theo Ki tô giáo là dễ tiếp thu.Người ấy không có tinh thần tranh luận về những vấn đề mà họ có thể không hiểu. Những người mới theo Ki tô giáo tự nhiên khuynh hướng chấp nhận mọi điều được giảng dạy như sự thật của sách Phúc âm bởi vì họ có một tinh thần dễ bị ảnh hưởng và dễ dạy bảo. Họ có thể không hiểu cái học thuyết mới này, và họ có thể thắc mắc về tính đúng đán của nó; tuy nhiên, cái tinh thần dễ dạy bảo và dễ tiếp thu của họ đã ngăn cản không cho họ phản đối và biên luận về nó Họ không có khả năng thắc mắc hay phủ nhận quyền lực. Cái tinh thần dễ uốn nắn và dễ dạy bảo của họ làm cho họ chấp nhận cả đến một học thuyết mâu thuẩn với những niềm tin vững chắc của họ về tính đúng đắn.

2. Thứ hai : Học thuyết tội tổ tông được làm cho người mới theo Ki tô giáo tin bởi vì các văn từ dẫn chứng được lấy từ Thánh kinh. Người ấy không biết rằng những văn từ dẫn chứng này được lấy ra khỏi ngữ cảnh hay đã bị giải thích sai lầm. Thêm vào đó là tình yêu Chúa và lòng tin cậy vào lời Chúa của người ấy, cho nên khi các văn từ dẫn chứng lấy từ Kinh thánh được đưa ra để củng cố thuyết tội tổ tông, thì đối với người ấy mọi thắc mắc đều được giải quyết bởi nếu Thánh kinh dạy điều cái gì thì nó phải là như thế.

3. Thứ ba : Một khi người ta đã khẳng định vào một niềm tin thì hầu như không thể thay đổi niềm tin ấy. Ai lại đã không kinh nghiệm hay nhận thấy những người Ki tô giáo, một khi đã được dạy để tin một đường lối nào đó, thì thấy họ bị định kiến manh mẽ như thế nào đối với quan điểm mà họ đã được dạy lần đầu.? Một minh chứng cho điều này là lòng sốt sắng mù quáng theo đó những người Ki tô giáo theo các giáo phái khác nhau sẽ tranh luận về các sự khác nhau của một học thuyết. Một người Baptist thì hầu như không để tai nghe vô tư về học thuyết Pentecostal. Một người Pentecostal thì hầu như cũng không để tai nghe vô tư về học thuyết của người Baptist. Thay đổi những niềm tin của một người mà trước đó đã bị nhồi sọ về học thuyết thì hầu như là không thể được. Người ấy có thể bị sai lầm, nhưng người ấy bị thành kiến chống lại mọi ly lẽ mà họ nghe. Cái thành kiện này chống lại bất kỳ lời dạy nào mà mâu thuẩn với những gì chúng ta đã được dạy, bảo vệ và duy trì mãi mọi sai lầm mà chúng ta mắc phải.

4. Thứ tư : Chính cái việc thuyết tội tổ tông được người Ki tô giáo tin hầu như ở khắp nơi và nó đã được tin trong thời gian khá lâu, có ảnh hưởng mạnh mẽ duy trì mãi nó. Sự gắn bó khắp mọi nơi với sai lầm đã dựng lên một rào cản hầu như không thể xuyên qua được để chống lại ánh sáng và chân lý khi hai thứ này được hiến tặng. Hơn nữa, sự gắn bó khắp mọi nơi với sai lầm đưa ra một sự kiềm chế hầu như không thể cưỡng lại được cho người đáng phải đào ngũ và phải đứng đơn độc một mình chống lại đám đông để nói vì chân lý. Có một cảm giác an toàn và bảo đảm khi ở trong đám đông. Không một ai thích đứng đơn độc một mình. Chính vì điều đó mà, ngay cả trong nhà thờ, sự gắn bó khắp mọi nơi với sai lầm đã có cái khuynh hướng không cưỡng lại được để duy trì mãi chính bản thân sự gắn kết khắp mọi nơi với sai lầm. Thêm vào đó là sự ngu dốt kiên cố và sự mê tín dị đoan mà chân lý phải phơi bày ra trước khi chúng có thể được tiếp thu và chấp nhận như là chân lý.

5. Thứ năm : Một nhà truyền giáo tồi tệ giúp duy trì lâu dài sự ngu dốt và sai lầm trong những người Ki tô giáo. Những nhà truyền giáo thì chắc chắn đáng bị khiển trách hơn là những người bình thường vì ngu dốt, mê tín dị đoan, và những niềm tin đầy thành kiến, bởi vì nghề nghiệp của họ là giảng đạo va giảng dạy chân lý cho kẻ khác. Nhưng thường có một sự tự cao tự đại trong những người truyền đạo mà không có trong những người bình thường. Bởi vì, họ là những người truyền đạo, họ cảm thấy họ không cần phải được giảng dạy, và họ chống lại mạnh mẽ hơn người bình thường bất ký một ý tưởng nào cho rằng họ có lẽ là sai lầm. Một tinh thần Ki tô giáo chân chính, và một tinh thần mà ắt là phù hợp với trách nhiệm của họ để giảng đạo về chân lý dường như sẽ khiến cho họ lắng nghe những lý lẽ và tìm ra sư thật của vấn đề cho đến khi họ có thể biết chắc hoặc là chân lý hoặc là sai lầm của giáo điều về tội tổ tông. Nhưng, đáng buồn thay, thường thường lại có ý tưởng thành kiến và lòng tự mãn đến nỗi những người truyền giáo không chịu tìm ra sư thật, và họ tiếp tục duy trì mãi cái học tuyết sai lầm trong nhà thờ của Jesus Christ.

Trong phần bình luận này, A.T. Overstreet cũng cho biết là lấy làm tiếc cho các ông Martin Luther và Calvin….những ông tổ đã lập ra đạo Tin Lành, sau Augustine cả ngàn năm, đã chỉ ra nhiều cái sai lầm nhảm nhí của nhà thờ Ki tô theo Vatican, nhưng cả hai vẫn tin vào học thuyết nhảm nhí Tôi Tổ Tông, cũng như tin vào kinh thánh nói mặt trời quay quanh quả đất trong 24 giờ, và cả hai lên án gắt gao Coperncus bởi vì bản thân họ cũng là những kẻ ngu dốt ! Martin Luther thì gọi nhà bác học Copernicus là “một nhà chiêm tinh ngạo mạn” và là “một kẻ điên rồ muốn làm đảo ngược toàn bộ nền khia học thiên văn”. Còn Calvin chửi mắng đe dọa :” Ai dám cả gan đặt thẩm quyền của Copernicus lên trên quyền lưc của Thánh Linh (Holy Spirit) ?”. Không phải Kinh thánh nói rằng Joshua đã ra lệnh cho mặt trời chứ không ra lệnh cho quả đất đứng yên sao ? Rằng mặt trời chạy từ đầu này tới đầu kia của bầu trời sao? (59)

Như thế, chính những người Ki Tô giáo ngày nay chứ không riêng những người phi Ki tô giáo đã chỉ ra rằng những ông tổ của thần học Ki tô giáo như Augustine, Martine Luther, Calvin, …, những vị thánh của Ki tô giáo đều là những kẻ ngu ngốc! bày đặt ra những tín điều phản khoa học mê tín dị đoan và buộc giáo dân tin là chân lý của Chúa!

Nhưng những người Ki tô giáo Việt Nam ngày nay thì sao ? Tất nhiên, những đồng bào Ki tô giáo Việt Nam mà không có điều kiện học hành nhiều thì không biết và ngu dốt như ông A. T. Overstreet đã chỉ ra là lẽ đương nhiên, và không đáng trách, nhưng còn các giám mục, linh muc, mục sư Việt Nam hay gốc Việt Nam, và nhất là những người Ki tô giáo Việt Nam hay gốc Việt Nam tự xem mình là trí thức, đã và đang dùng lời nói hay bài viết trên các nhà giảng hay các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài phát thanh, truyền hình trong và ngoài nước, nhất là tại các cộng đồng người Việt tại hải ngoại thì sao ? Bộ tất cả họ đều ngu dốt hết như nhà trí thức Ki tô giáo A.T. Overstreet đã chỉ ra sao? Điều này thì phải để cho các vị ấy trả lời!

Riêng Mục Đông tôi thì nghĩ như thế này : trong họ quả có một số ngu ngốc thật vì họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ như ông A.T. Overstreet đã chỉ ra. Nhưng chắc chắn có rất nhiều vị không “ngu ngốc” chút nào, vì dù sao họ cũng đã ngồi ngâm cứu sách vở nhiều năm trong những nơi tôn nghiêm như các tại Trung tâm thần học hay Đại học Ki tô giáo, họ biết hết cả những ngụy tạo, các điều vô lý do các bề trên “chế ra” trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của Ki tô giáo, chính bản thân họ cũng dưới hình thức này hay hình thức khác góp phần vào việc ngụy tạo và chế ra ấy, cho nên họ không tin có Chúa, có phép mầu gì cả ! Nhưng chính họ lại dùng hết mọi khả năng và phương tiện truyền thông để khiến cho đám đông ngu dốt tin theo Chúa, tin theo đủ thứ phép mầu…để làm theo lệnh của bề trên của họ hoặc từ Vatican hoặc từ các Hội thánh nào đó, bất chấp sự thật, bất chấp quyền lợi của tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Với những vị này, không thể dùng từ ngu dốt như ông A. T. Overstreet được! Vậy các vị này hãy tự chọn cho chính mình một số từ nào đó mà các vị thấy là thích hợp, chứ không thì “cái đám có chút hiểu biết, dám nói lên sự thật “ mà các vị hay xỉ vã từ thái độ tương đối nhu mì là “ trí thức không biết ngượng”, cho đến thô lỗ như “bồi bút, gia nô cho Cọng sản, Cộng nô” thậm chí “các tên trâu ngựa Công sản” v.v., “có ác tâm phá đạo Ki tô”, v.v…, sẽ “phun ra” một số từ rất khó nghe mà Mục Đồng tôi không cách gì bụm miệng họ kịp, chẳng hạn như “ lưu manh”, “ không biết nhục”, “đánh đĩ lương tâm”, “Việt gian tay sai, bán nước cho ngoại bang” v.v… thì hóa ra Mục Đồng tôi thất thố với các vị !

Sau khi chỉ ra 5 nguyên nhân đưa đến 10 cái ngu dốt của tín đô Ki tô giáo, ông A.T. trong chương 7 của quyển sách, đã chỉ ra 13 lý do tại sao Thuyết tội tổ tông là sai lâm ( Thirteen Reasons Why The Doctrine Of Original Sin Is False) được chính A. T. Overstreet tóm tắt như sau (60).

1. Nó làm cho tội lỗi trở thàmh một nỗi bất hạnh và là một đại họa hơn là tội ác.

2. Nó làm cho kẻ có tội trở thành đáng thương hại và đáng hưởng lòng từ bi hơn là bị lên án vì tội lỗi.

3. Nó miễn tội cho kẻ phạm tội.

4. Nó làm cho Chúa phải chịu trách nhiệm về tội lỗi.

5. Nó làm mất danh dự Chúa. Nó làm cho Chúa trở thành bất nhất, hung ác, và bất công.

6. Nó khiến cho những người truyền đạo giả bộ làm ngơ và bào chữa cho tội lỗi.

7. Nó gây ra tính tự mãn và một chuẩn mực thấp về tôn giáo cho những người Ki tô giáo.

8. Nó là một chướng ngại vật cho những người không được cứu rỗi.

9. Nó làm cho Jesus trở thành một người tội lỗi hay nó phải phủ nhận tính chất con người của Jesus.

10. Nó chống lại Thánh kinh

11. Nó “thêm vào” và “bớt đi khỏi” Thánh kinh. Chúa cảnh cáo chống lại điều này trong Deut. 4:2 và Rev. 22:18,19.

12. Nó là khôi hài, vô lý, và trái với lý lẽ. Nó trái với các khẳng định cần thiết và không thể chống lại được của ý thức và lập luận của mọi người, mà đó là cái mà không một học thuyêt đúng đắn nào của Lời Của Chúa có thể làm được.

Trong phần 4 của quyển sách, từ chương đến chương 12, A.T. Overstreet đã nêu ra 5 vấn đề không thể giái quyết được từ cái học thuyết sai lầm Tôi Tổ Tông này (Insurmountable Problems of a False Doctrine) (61).

A.T.Overstreet bác bỏ học thuyết Tôi Tổ Tông, nhưng vẫn con tin Chúa, và ông cho rằng thánh kinh không hề nói tới Tôi Tổ Tông bằng cách lập luận rằng các ông thánh như Paul, Augustine, Mrartin Luther, Calvin,…đã hiểu sai thánh kinh vì họ đã hiểu theo nghĩa đen của văn tự. A.T. Overstreet cho rằng cân phải hiểu thánh kinh theo nghĩa bóng của câu văn, nhưng ông không đưa ra nghĩa bóng như thế nào .

Nhóm thứ hai : Vẫn ngoan cố cho Tội Tổ Tông là có thực theo đúng thánh kinh. Có thể nói đại dện cho nhóm này là nhóm các người của phái Công giáo La mã (Catholic Church) đã lập ra website http://www.bringyou.to/apologetics/. Họ là những người Thiên chúa giáo La mã rất cuồng tín, chống đối kịch liệt phe Tin Lành và tất cả các Tôn giáo khác vì với họ thì Công giáo La mã là Tôn giáo duy nhất đúng.

Để chống lại sự phủ nhận của Tôi tổ tông do nhóm thứ nhất chủ trương, nhóm này đã viết bài Tội Tổ Tông Được Giải Thích và Bao Vệ ( Original Sin Explained and Defended : A reply to an Assemblies og God pastor) (62) (http://www.bringyou.to/apologetics/num54.htm). Mở đầu bài viết, tác giả cho biết bài viết là để chống lại sự phủ nhận Tội Tổ Tông của một nhóm các Mục sư qua các thảo luận trên diễn đàn FidoNet từ thang11 năm 1996 tới tháng giêng năm 1997)

Phải chăng các cha cố của Thiên chúa giáo Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài từ trước tới nay đều thuộc nhóm mú quáng này?

Nhóm thứ ba : gồm những người Ki tô giáo thức tỉnh, đã một thời họ ngây thơ tin lời dạy của các cha, nhưng ngày nay họ đã tỉnh ngộ, không những nhận ra rằng Tội Tổ Tông mà hầu hết các tín điều của Ki tô giáo là sai lầm, buộc họ trong nô lệ theo ý đồ của các bề trên, khiến Ki tô giáo đã gây ra biết bao tội ác đối với nhân loại trong suốt quá trình lịch sử từ khi có Ki tô giáo cho đến ngày nay. Có thể kể ra một vài điển hình như nữ Giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann tác giả sách Putting Away Childish Things, Harper-Collins, San Francisco,1995; Linh muc Joseph McCabe tác giả 20 tập trong bộ sách The Black International; John Cornwell viết sách Beaking Faith: The Pope, The People, and the Fate of Catholism (2001); Linh muc David Rice viết sách Shattered Vows : Priests Who Leave (1990). Riêng người Việt Nam thì điển hình là Charlie Nguyễn, tên thật là Bùi Văn Chấn, một trí thức vốn xuất thân trong gia đình theo Thiên chúa giáo từ thế kỷ 16, và đã từng là Chủng sinh của trường đào tạo Linh Mục Thánh gia tại xứ đạo Bùi Chu, tác giả của các sách Công Giao: Huyền Thoại và Tội Ác, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, Công Giáo: Thực Chất và Các Đạo Chúa, Tuyển Tập Độc Thần Giáo (http://sachhiem.net); Nguyễn Văn Thọ, bác sĩ, đã từng theo Thiên chúa giáo mấy chục năm thời nhỏ, tác giả sách Suy Nghĩ Về Thiên Chúa Giáo (http://sachhiem.net).

Người Việt Nam ngây thơ chưa biết gì về đạo Thiên Chúa, Tin Lành, và đặc biệt những người ngoan đạo, tín đồ trung thành của đạo Chúa, nên đọc kỹ hai tác giả này, và các tác giả khác trong sachhiem.net như Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, Bùi Kha,v.v…để bồi dưỡng kiến thức, mở mang trí tuệ, giúp có tư duy độc lập, mà hữu ích cho đất nước và dân tộc Việt Nam ta.

 

B. VỚI NGƯỜI KHÔNG THEO KI TÔ GIÁO :

Với những người không theo Ki tô giáo thì dĩ nhiên họ không tin có cái Tội gọi là Tội Tổ Tông, chẳng hề sợ mắc phải cái tội “tào lao” ấy, và chẳng hề cầu xin Chúa tha tội! Với họ, quá dễ dàng để bác bỏ tội Tổ Tổ Tông theo giáo điều của Ki tô giáo, và như thế bác bỏ sự giáng trần để cứu rỗi nhân loại của Chúa Jesus. Một số lý do để bác bỏ cả hoc thuyết Tội tổ tông, cũng như nhiêu giáo điều của Ki tô giáo mà một học sinh Trung học cũng dễ dàng nêu ra. Chẳng hạn như:

Việc Chúa tạo dựng ra vũ trụ trong 6 ngày được ghi theo Sáng Thế Ký 1 nói đến ở phần Vườn Địa Đàng là hoàn toàn phản khoa học : Quả đất là trung tâm của vũ trụ, quả đất đứng yên, mặt trời quay quanh quả đất, cái vòm trời được làm bằng đồng thau, được chống đở bởi những cây trụ, mặt trời, các vì sao được treo trên vòm trời ấy, cây cối được Chúa tạo ra trước khi Chúa tạo mặt trời, nghĩa là cây cối sống phát triển khi chưa có ánh mặt trời ,…, vũ trụ ấy được Chúa tạo ra cách đây chỉ khoảng sáu nghìn năm,…, nghĩa là loài người chỉ mới có cách đây khoảng sáu nghìn năm với hai người đầu tiên là ông Adam và bà Eva,…,

Thật ra trong quá khứ đã có nhiều bắng chứng rất thuyết phục thừa sức bác bỏ thuyết sáng tạo trên đây của Chúa, chẳng hạn sự khám phá ra quả đất quay quanh mặt trời của nhà bác học Copernicus vào năm 1514,…hay việc hoàn thành chuyến đi vòng quanh quả địa cầu bằng tàu biển của nhà hang hải Ferdinand Magellan vào năm 1522, … chứ không cần phải có quá nhiều bằng chứng hiển nhiên như ngày nay do sự tiến bộ của khoa học đem lại. Theo ước tính của các nhà khoa học thì con người bắt đâu đứng thẳng trên đôi chân (homo-erectus) tách khỏi loài vượn thì cách đây khoảng 2 triệu năm, rồi homo-erectus tiến hóa ra con người khôn ngoan đầu tiên (homo-sapiens) cách đây ít nhất là 150.000 năm. Năm 1987, các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại Herto nước Ethiopia ở Phi châu một cái sọ người hóa thạch và sau đó các chuyên gia với tất cả công cụ nghiên cứu hiện đại, dưới sự chủ trì của Giáo sư Tim White tại Đại học Berkely, đã công bố kết quả nghiên cứu mà tờ Tuần báo Newsweek số ra ngày 23 tháng 6 năm 2003 đăng nơi trang 14 cho thấy đó là cái đầu người đàn bà đã bị chôn vùi dưới đất cách đây ít nhất 160.000 năm. Vậy cái chuyện ông Adam và bà Eva là thủy tổ của loài người cách đây mới khoảng 6000 năm là hoàn toàn sai lầm….Do đó cái Vườn Địa Đàng, lẫn cái chuyện ăn trái cấm do bị con rắn dụ , để mắc tội phản Chúa và trở thành Tôi tổ tông của loài người là hoàn toàn sai lâm, bịa đặt. Và như thế cái lý do mà Ki tô giáo nói Chúa Jesus giáng trần, chịu chết trên cây thánh giá, để chịu tội thay cho loài người là hoàn toàn không đúng. Có thể nói thuyết tiến hóa (Evolution) của Darwin là một đòn chí tử cho thuyết Sáng thế (Creation) của Ki tô giáo, khiến cho lý lẽ thần học cốt lõi của Ki tô giáo bị sụp đổ. Cho nên chúng ta không lấy gì làm lạ là tại sao Ki tô giáo chống lại thuyết tiến hóa một cách điên cuồng cho tới tận ngày nay. Trong tờ American Atheist số tháng 9 năm 1979, trang 30, với tựa đề Ý Nghĩa của Thuyết Tiến Hóa (The Meaning of Evolution), Richard Bozarth đã viết :” Ki tô giáo phải hoàn toàn tin cậy vào sự sáng tạo đặc biệc như mô tả trong sách Sáng Thế Ký, và Ki tô giáo phải chiến đấu với tất cả sức mạnh của mình để chống lại thuyết tiến hóa. Và đây là lý do tại sao.

Trong Romans 5:12, chúng ta đọc rằng “ tôi lỗi đã đi vào thế giới qua một người, và vì tội lỗi thì phải chết, và do đó sự chết đã truyền qua toàn thể nhân loại bởi vì mọi người đều đã phạm tội”.

Toàn bộ sự biện minh cho cụộc sống và cái chết của Jesus là dựa trên sự có mặt của Adam và trái cấm mà ông và bà Eva đã ăn. Không có Tội tổ tông thì ai cần được cứu rỗi ? Không có sự sa ngã của Adam vào một đời sống có tội triền miên bị chấm dứt bởi cái chết, thì với Ki tô giáo, có mục đích gì ? Không có gì cả.

Ngay cả một học sinh trung học cũng biết đủ về thuyết tiến hóa để biết rằng không có chỗ nào trong thuyết tiến hóa mà sự mô tả nguồn gốc của chúng ta lại có xuất hiện một Adam hay một Eva hay một Vườn Địa Đàng hay một trái cấm. Tiến hóa có nghĩa là một sự phát triển từ một dạng nay đến một dạng kế tiếp để đáp ứng những thách thức luôn đang thay đổi từ một bản chất luôn đang thay đổi. Không có sự suy đồi từ một tình trạng hoàn thiện siêu phàm có trước ( như ông Adam có trí tuệ cao siêu, tâm linh hòa nhập với Chúa trước khi ăn trái cấm, rồi sau khi ăn trái cấm mà bị suy đồi, mất hết các tính siêu phàm ấy, Mục Đồng).

Không có ông Adam, không có Tội tổ tông , thì ông Jesus Christ hóa ra chỉ là một người với một sứ mạng đến nhầm hành tinh!” (63)

Như thế đấy, Tội tổ tông theo giáo điều Ki tô giáo mà một hoc sinh trung học, một người có đầu óc bình thường ngày nay đều nhận biết là một sự bịa đặt nhảm nhí, một sư mê tín dị đoan dành cho những kẻ ngu muội. Nhưng trong sách Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng (CrossingThe Threshold of Hope, Alfred A. Knopf, New York, 1994), Giáo hoàng John Paul II, lại tán tụng Tội tổ tông như sau :” Ôi! Cái tội hồng phúc đã có công đem lại chúng ta đấng cứu thế cao cả biết bao” (Bản Việt dịch : Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, Thăng Tiến, 1995, tr, 21) . Tại sao vậy ? Có phải chăng, Giáo hoàng John Paul II, cùng tất cả Hồng y, Tổng giám mục, Giám muc, Linh muc, các Soeur,…, trong đó đặc biệt là hàng giáo phẩm người Việt Nam đều là u mê ? Không, tôi không tin như thế. Tôi nghĩ rằng tất cả họ đều biết rõ Tội tổ tông, cũng như nhiều giáo điều khác của Ki tô giáo là không phải chân lý vì chính họ đã góp phần bịa đặt ra, thậm chí họ cũng không tin có Chúa thưởng phạt gì cả vì chính họ đã làm biết bao nhiêu điều tội lỗi , chẳng hạn việc lợi dụng việc xưng tội của con chiên để xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em mà tòa án Mỹ đã kết tội họ và họ đã phải bồi thường hàng tỉ đô la từ những năm 2001 trở đi.Thật ra những chuyện xâm phạm tình dục của các cha cố đã xảy ra từ lâu và ở khắp mọi nơi, nhưng người phụ nữ Mỹ mới có can đảm tố cáo vào đâu thiên niên kỷ mới này.

Ở Việt Nam ta thì những chuyện xâm phạm này được che đậy khéo léo. Nếu một số cha nào đó “xơi” mấy bà có chồng mà có con thì con đẻ ra đã có người cha pháp lý rồi và đứa bé lại giống được cha thì càng tốt vì gia đình của nữ tín đồ đó đã tận tụy với cha và với Chúa nên được ân sủng của Chúa mà sinh con được giống như cha! Nếu nữ tín đồ đó là một cô bé chưa chồng mà “ân sủng của cha” lại bị nhiều người biết thì cả giáo dân của xứ đạo ấy sẽ xúm vào lên án , hành hung người con gái đáng thương này vì cái tội đã “quyến rủ cha, làm nhục cha, làm ô danh xứ đạo,…”, như cái cách mà nhà văn Thiên chúa giáo Nguyễn Ngọc Ngạn đã mô tả trong Xóm Đạo. Còn nếu chỉ một vài người biết chuyện “ân sủng của bề trên” thì “bề trên” và các người biết này sẽ gọi một con chiên ngoan đạo nào đó tới “lãnh trách nhiệm làm chồng người con gái và làm cha đứa bé”. Vì danh dự của “bề trên”, vì “bề trên”nói thì phải nghe, và tất nhiên đi kèm với một ít quyền lợi nào đó mà “bề trên” ban cho, thế là mọi chuyện đều êm re!

Chính bề trên đã dàn dựng mọi chuyện từ các vụ như sự ngã ngựa của ông Saul và ông thấy Chúa Jesus hiện ra và nói với ông là :”Tại sao ngươi cứ ngược đãi ta?”, cho đến vụ Constantine thấy cây thánh giá hiện ra trên bầu trời với hàng chữ “ Nhờ cái này ngươi sẽ chiến thắng”, cho đến Đức Mẹ Đồng Trinh hiện ra ở Lourdes năm 1858, hiện ra tại La Vang, Quảng Trị ở Việt Nam, rồi mới gần đây là các tương Đưc Mẹ khóc ở Việt Nam, chảy máu trong cộng đồng người Việt ở Úc,…. Như thế bê trên đâu có tin Chúa vì đâu có sợ Chúa phạt khi mạo danh Chúa để ngụy tạo các câu chuyện cốt để lừa phỉnh đám con chiên vô tội, ngu ngơ và những trí thức Ki tô đốc giáo dùng các phương tiện truyền thông như các báo, đài phát thanh truyên hình tư nhân để thổi phồng, kích động đám tín đồ ngây thơ , cốt để họ tin theo mà làm theo ý đồ đen tối theo chiến lược và chiến thuật của bề trên. Như thế họ nói về Tội Tổ Tông và các giáo điều mà chính bản thân họ không tin là cốt để lừa bịp con chiên, giữ con chiên trong ngu dốt, sợ hải, để mà vâng phục họ, cho họ có địa vị, có quyền, có tiền mà thôi! Chính cái đó là cái đáng thương cho đám con chiên ngoan đạo, bị chính bề trên lừa bịp, lợi dụng mà không biết! Tội nhất là đồng bào giáo dân Việt Nam bị các cha cố lừa bịp từ cái thuở các cố đạo Âu châu tới nước ta vào thế kỷ thứ 16 cho tới nay, khiến đồng bào giáo dân Việt Nam đã phạm nhiều tội lỗi với chính tổ tiên dòng họ của mình, với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, và đó mới chính là Tội Tổ Tông đích thực của người Ki tô giáo Việt Nam mà phần sau đây sẽ nói rõ!

Cũng nên biết rằng nước Mỹ là nơi tự do tư tưởng, tự do phát biểu ý kiến cho nên có thể có những tư tưởng tiến bộ nhất và những tư tưởng lạc hậu nhất đồng thời xuất hiện tại Mỹ. Có điều những cái lạc ấy có thể phát xuất từ niềm tin mù quáng về tôn giáo hay cố ý để phát triển tôn giáo. Điển hình là trường hợp nữ diển viện điện ảnh, kịch nghệ của Hollywood, Aimee Semple McPherson từ thập niên 20 tới đầu thập niên 50 của thế kỷ 20 đã dùng khả năng diễn xuất của mình để tổ chức những buổi truyền đạo Tin Lành tại nhiều nhà thờ, triệt để cổ xúy chống Vô thần, chống Công sản, và chống cả thuyết Đức Mẹ Đống Trinh của Công giáo La mã, đã phát động phong trào Thánh chiến quốc gia (National Crusade) để chống việc dạy thuyết Tiến hóa của Darwin trong nhà trường và kêu gọi những đồng nghiệp truyền đạo của bà hãy Ki tô hóa toàn bộ nước Mỹ. Bà là người phụ nữ có công rất lớn với đạo Tin Lành phái chính thống (Fundamentalism), đã huy động tạo lập các nhà thờ vĩ đại (mega- church) có đủ chỗ cho rất nhiều người dự lễ. Nhưng trong khi mọi thính giả đang ngồi trong nhà thờ để chờ nghe bài giảng “Câu Chuyện Của Đời Tôi” (Story of My Life) của bà và vì lâu quá chưa thấy diễn giả tới thì con trai Rolf McPherson của bà đi tìm mẹ, mới phát hiện thấy mẹ mình bị hôn mê tại khách sạn và chết lúc 11giờ 15 sáng ngày 27 tháng 9 năm 1944 vì uống quá nhiều viên thuốc gây nghiện. Đã hơn nữa thế kỷ trôi qua, người ta vẫn chưa biết lý do tại sao Mc Pherson chết, có nguồn tin bà bị phe Công giáo La mã ám hại. Trong khi bà rất được những người Tin Lành ngưỡng mộ, thì công trình nghiên cứu gần đây nhất là quyển sách Jim Morrison’s Adventures in the Afterlife (1999) lại cho bà là hình ảnh của đạo đức giả và tình dục, một người đàn bà phức tạp, bị kích thích tình dục đến điên dại (64). Cái truyền thống chống thuyết Tiến hóa ở Mỹ từ những người không hiểu khoa học như nữ diễn viên Mc Pherson, cho đến những người biết khoa học nhưng giả ngơ và chống thuyết Tiến hóa cũng như đòi dạy Thuyết Sáng tạo của Chúa và cả Thánh kinh trong hoc đường để mở mang nước Chúa thì tới nay vẫn còn. Chẳng hạn Đại học Ki tô Patrick Henry College ở Virginia đã bị The American Academy for Liberal Education (AALE) bác đơn xin Công Nhận Giá Trị (Accreditation) vì trường này buộc thầy dạy phải chấp nhận thế giới quan theo Kinh thánh (to affirm a Statement of Biblical Worldview) tức là không thỏa điều kiện tư do tư tưởng, tự do ngôn luận và còn buộc các giáo sư sinh học phải dạy rằng Chúa đã tạo ra thế giới trong 6 ngày với 24 giờ mỗi ngày, không cho dạy Thuyết tiến hóa tức là hạn chế nội dung giảng dạy và việc giảng dạy tới mức cấm tiếp thu các kiến thức cơ bản (65) . Vì vậy đại học này phải viết lại phạm vi giảng dạy mới được AALE cho phép ở mức tiền công nhận giá trị trong vòng 5 năm vào thang 11 năm 2003. Nhà thờ biết rằng các Cơ quan quyền lực của Giáo dục Mỹ từ lâu nay vẫn không cho dạy Kinh thánh trong học đường, cho nên nay họ đang tìm cách xoay với lý do là nếu không cho dạy Kinh thánh để truyền đạo thì xin dạy như một tác phâm văn minh của phương Tây! với sự ăn theo béo bở các xuất bản như David Van Biema viết trong tờ Times số ngày 2 tháng 4 nsăm 2007 trang 40.

 

VIII. TỘI TỔ TÔNG ĐÍCH THỰC CỦA NGƯỜI KI TÔ GIÁO VIỆT NAM

 

Như phân tích ở trên, Tội Tổ Tông theo giáo điều của Ki tô giáo chỉ là cái bịa đặt nhảm nhí, không có thật, nghĩa là người Ki tô giáo cũng như mọi người trên thế gian này không có cái Tội Tổ Tông như giáo điều Ki gtô giáo chỉ dạy. Như vậy phải chăng người Cơ đốc giáo Việt Nam không có Tội Tổ Tông ? Xin thưa rằng có đấy, họ có tội với nhân loại, với dân tộc Viêt Nam mà đoạn sau đây bàn đến và ta có thể nói đó mới chính là Tội Tổ Tông đích thực của người Ki tô giáo Việt Nam.

 

A. TỘI ĐỐI VỚI VĂN MINH NHÂN LOẠI.

Giáo điều Ki tô giáo dạy con chiên rằng Ki tô giáo là tôn gáo duy nhất đúng, theo Ki tô giáo là văn minh, ai không theo Ki tô giáo đều là dân dã man. Thời đế quốc La mã cường thịnh thì họ tự nhận là văn minh và dân bên ngoài địa phân của đế quốc là dã man (barbarian). Đến khi đế quốc La mã suy tàn thì người Ki tô giáo tự cho là văn minh và tất cả các dân không thuộc văn hóa kinh thánh của họ đều là dân dã man. Tư tưởng kiêu căn lố bịch này đã được các cố đạo truyền cho giáo dân Việt Nam. Cho nên Kinh cầu ông Thánh Phan xi cô Xavie, Nhựt khóa, trang 782, viết rằng dân các nước Phương đông là “dân mọi rợ”; Toàn Niên Kinh Nguyện Bùi Chu, trang 325 viết :”Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo”; ngạo mạn nhất là Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Saigòn, trang 130 viết về Phật giáo là “ đang ở nơi tối tăm thờ bụt thần ma quỉ ”(66). Và chính Giáo hoàng đương nhiệm Bernadict XVI đã phán ra một câu xanh dờn rằng :” Phật giáo là con đường tâm linh thự thòa dâm “ (Budhism is a sort of auto-erotic spirituality). Những người Phật giáo đã dùng trí tuệ để chứng minh cho ngài thấy rằng ngài đã sai lầm với mong mõi là ngài bớt ngu dốt đi . Nhưng ngài vẫn không tỉnh ngộ, chắc ngài tự cho rằng mình thay mặt Chúa mà phán thì không sai lầm cho nên vào gần giữa năm 2007, ngài lại phán ra một câu làm xúc phạm Giáo chủ Muhammad của Hồi giáo. Thế giới Hồi giáo bắt đầu giận dữ, gầm lên đe dọa “nắn gân “ ngài. Tưởng lần này ngài và những người Ki tô bênh vực ngài đâu có ngán vì ngài là người duy nhất thay mặt Chúa quyền năng vô song mà ngán ai. Té ra ngài cũng phải cảm thấy rét nơi gáy, mà đích thân xin lỗi ! Tư cách của ngài là như thế mà con chiên Ki tô giáo Việt Nam tin chăm bẳm rằng ngài Giáo hoàng là người duy nhất thay măt Chúa nên không bao giờ sai lầm!

Với cái tinh thần ngạo mạn sai lầm đó, Ki tô giáo chủ trương cần đem ánh sáng văn minh kinh thánh đến khai phá cho mọi người ngoại đạo mà họ cho là dã man, để hoặc họ trở thành văn minh (theo đạo Chúa) hoặc họ sẽ bị tiêu diệt để đạo Chúa được là đạo duy nhất được mọi người tôn thờ, như học thuyết của ông thánh Augustine chủ trương (67).

Rồi với chiêu bài Chiến Tranh Chính Đáng (Just War) cũng do ông Augustine đẻ ra, Ki tô giáo đã cấu kết với các thế lực quân sự của vua chúa, thưc dân phương Tây, đã gây ra cho nhân loại biết bao nhiêu tội ác.

Có thể liệt kê một số tội chính :

a. Các cuộc Thập tự chinh (thánh chiến: Holy war): Ki tô giáo cấu kết với các thế lực quân sự của các vua chúa Âu châu đưa các đoàn quân thánh chiến (Crusades) đến đánh phá giết hại một cách rất dã man hơn 3 triệu dân Hồi giáo và tiêu hủy các cơ sở văn hóa ở vùng Trung đông trong 7 trận chiến từ năm 1095 đến năm 1291

b. Tòa án dị giáo do Giáo hội La mã mở ra để xử tử bằng cách treo cổ hay thiêu sống những người có tư tưởng hay hành động mà Giáo hội cho là không tốt cho sự bành trướng của Ki tô giáo, kéo dài trong 6 thế kỷ, và bị chấm dứt sau cuộc cách mạng 1789 tại Pháp , đã giết hại khảng 10 triệu người trong Ki tô giáo và 14 triệu người ngoài Ki tô giáo.

c. Các cuộc tranh giành quyền lợi của các Giáo hoàng với các vua chúa Ki tô giáo hay giữa các vua chúa ây với nhau đã giết hại hơn 30 triệu người.

d. Các nhà truyền Ki tô giáo đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đở về thông tin, sức người, sức của cho các thế lực thực dân Âu châu đi xâm chiếm các nước ở các châu Á, Phi, và Mỹ làm thuộc địa , trong đó nước Việt Nam chúng ta đã biến thành thuộc địa cho sự bóc lột của thực dân Pháp gần một trăm năm, mà liên lụy chiến tranh mãi đến năm 1975 mới chấm dứt, khiến cho dân tộc ta phải chịu biết bao điêu linh thống khổ.

e. Ki tô giáo đã tạo điều kiện tinh thần cho thực dân da trắng Âu châu bắt dân da đen Phi châu và thổ dân da đỏ Mỹ châu làm nô nệ, và tiêu diệt nhiều dân tộc và nền văn minh của thổ dân Mỹ châu.

Bạn đọc Việt Nam ta đã ít nhiều biết các thông tin về các phần a,b,c, và d trên đây, nhưng có lẽ ít có tư liệu về sự tàn bạo của thực dân da trắng tại Mỹ châu với sự hổ trợ của văn minh kinh thánh. Vì vậy, ở đây tôi xin viết ra vài sự kiện tiêu biểu ở Mỹ châu để bạn đọc tham khảo.

 

B. SỰ TÀN BẠO CỦA THỰC DÂN ÂU CHÂU và VĂN HÓA KINH THÁNH ĐỐI VỚI CÁC THỔ DÂN CHÂU MỸ

Sự khám phá ra châu Mỹ năm 1492 của Columbus đã tạo ra một cú sốc rất mạnh cho dân châu Âu, đặc biệt cho giới giáo sĩ Ki tô giáo, bởi vì đối với họ, cả cái trí tuệ siêu việt của Chúa đã gói gọn trong kinh thánh, mà than ôi trong kinh thánh không hề chứa một chút hiểu biết gì về Tân thế giới, đất rộng mênh mông và rất nhiều cư dân đang sinh sống mà chưa hề và không màn gì đến lời dạy của Chúa Jesus cả!

Trong khi giới lãnh đạo Ki tô giáo cũng như các triết gia Âu châu đang nhức đầu trong việc tìm chưa ra đối sách với dân ngoại đạo mà ho cho là dã man ở châu Mỹ bởi vì Chúa của họ không hề hay biết gì về vùng đất xa lạ này, thì các nhà thám hiểm Tây ban nha và Bồ đào nha đã dùng đường biển đến được Cuba, bờ biển của Brazil, Florida và các đảo vùng Caribbe vào khoảng năm 1525. Ở các vùng đất xa lạ này, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, với thổ dân chất phác và thuần thiện, một số tay lưu manh da trắng nhờ tàn ác dã đã mau chóng trở thành giàu có với cuộc sống còn hơn các ông hoang bà chúa ở Âu châu. Điển hình là Hernan Cortes và Francisco Pizarro.

1. CHUYỆN VỀ CORTES :

Cortes sinh năm 1484, trở thành một người lính nhà nghề Tây ban nha với mục đích ban đầu là làm lính đánh thuê tại nước Ý. Năm 22 tuổi, Cortes theo đường biển tới được Cuba.Tại đây, Cortes may mắn tìm được nhiều vàng, rồi chiếm đất lập ra một nông trại rất lớn và bắt nhiều thổ dân da đỏ (Indian) gồm cả đàn ông lẫn đàn bà làm nô lệ. Thời bấy giờ, bọn thực dân da trắng dùng sức mạnh của sự vượt trội về khí giới và sự gian manh, chúng tự cho chúng có quyền không hạn chế trong việc dùng thổ dân da đỏ làm nô lệ lao động, nô lệ tình dục, lao động cưỡng bức, hành hạ trong các trò thể thao giải trí hoặc giết chóc hay để cho chết đói. Nhà văn las Casas đã viết rằng trong 4 tháng ở Cuba, ông đã chứng kiến bọn gian ác Âu châu đã làm cho chết đói 7.000 thổ dân (68).

Vào thời điểm đó thì thổ dân Aztec đã tạo dựng nên một vương quốc với nền văn hóa rất nhân bản tại Mexico. Họ đã xây dựng một thành phố mà phần giữa hồ Lake Texcoco gồm những dinh thự, đền đài, đường sá, vườn tược, chơ búa cho 70.000 dân cư, còn xung quanh bờ hồ là các dãy phố được nối với các cơ sở trong hồ bởi một hệ thống các cầu treo và quay đựoc. Cư dân toàn thành phố vào khoảng 250.000 trong khi dân số vùng Mesoamerica khoảng 25 triệu vào năm 1520. Trong các năm 1519-1521, Cortes đã lập một đoàn quân gồm 400 các tên lính Tây ban nha và các thổ dân Tlaxcalan vốn không ưa dân Aztec để đi đến thành phố hồ Lake Texcoco này. Tới nơi, Cortes thấy thành phố đẹp như mơ. Cortes được Montezuma, nhà vua của dân Aztecs đón tiếp rất niềm nở với đầy đủ thực phẩm và chỗ ở bở vì dân tộc Aztecs vốn hiếu khách, có nền văn hóa rất nhân bản, khác hẵn tính chất chinh phục, đàn áp, độc đoán theo văn hóa thánh kinh của Cortes. Nhưng với bản chất lưu manh của một tên lính đánh thuê, quen đi tìm của cải bằng cách cướp bóc, chiếm đoạt của thổ dân, trong khi được đón tiếp trọng thể thì thình lình Cortes đã bắt vua Montezuma làm con tin và một trung úy trong đoàn quân của Cortes chỉ huy một cuộc tàn sát những người Aztecs đang cử hành lễ hội mùa xuân của dân Aztec trong sân một đền thờ. Các giáo sĩ và nhạc công đang hành lễ đều bị các lưỡi gươm Tây ban nha cắt đứt thành từng mảnh. Quả là một sự kiện không thể nào tin nỗi đối với người Aztecs với văn hóa mà qui luật về chiến tranh và những điều cấm về vi phạm thân thể con người phải luôn luôn được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Với họ, cũng như với nhiều nền văn hóa khác, cuộc xung đột phải được cử hành nghi thức nghiêm chỉnh và ngay cả sư hy sinh con người trong tế lễ cũng phải được thực hiện với với sự chính xác và kính trong lớn lao đối với thân thể con người. Bị cú bất ngờ này, người Aztecs bèn không cung cấp thức ăn cho đoàn quân của Cortes và họ quay các cầu treo không để con đường thoát khỏi thành phố trên mặt hồ và đánh lại bọn Cortes. Cortes tháo chạy được ra khỏi hồ vào ngày 1 tháng 7 năm 1520, nhưng trước đó hắn đã dã man treo cổ vua Montezuma và các nhà lãnh đao khác của dân Aztec mà hắn đã bắt làm con tin. Tuy vậy, khoảng ba phần tư lính Tây ban nha đã bị gết trong trận này, nhiều tên trong chúng bị chết đuối trong hồ do mang theo nhiều vàng chúng đã cướp được trước đó.

Sáu tháng sau, Cortes quay trở lại với sự liên minh của 10.000 quân thổ dân Tlaxcalan. Trong thời gian đó, bệnh đậu mùa theo người Tây ban nha từ Âu châu qua đã lan ra khắp nhiều thành phố, giết chết rất nhiều người Aztec (trong thế kỷ 16, nhiều chục triệu người thổ dân ở châu Mỹ đã bị chết do các mầm bệnh từ châu Âu lan qua ). Với sự vượt trội về vũ khí, Cortes cho quân bao vây thành phố, triệt đường tiếp tế lương thực và bắn phá suốt 80 ngày, thành phố bị hủy diệt gần hết, buộc lòng nhà vua trẻ tuổi Cuauhtemoc của Aztec phải điều đình xin hàng. Thế là lính Tây ban nha và Tlaxcatan tràn vào cướp bóc, đôt phá và tàn sát bừa bãi dân chúng trong việc săn lùng vàng, chính nhà vua trẻ Cuauhtemoc cũng bị giết chết sau khi bị tra khảo để tróc nã vàng của triều đình. Thành phố bi tiêu hủy, hơn 100.000 người Aztec đã bị giết, số còn lại đã phải lặng lẽ rút đi.

Như thế với cái lưu manh của tên lính đánh thuê, với tính dã man của nền văn hóa kinh thánh mà người Ki tô giáo tự cho là văn minh nhất, Cortes đã tiêu diệt kinh đô, triều đình của dân tộc Aztec, mở đâu cho việc tiêu diệt một vương quốc, phong tục, tâp quán, một nền văn hóa của một dân tộc ở vùng Trung Mỹ, nhân bản hơn, thiện lành hơn văn hóa thánh kinh của những tên lính đánh thuê Tây ban nha như Cortes thời bấy giờ. Nhưng mĩa mai thay, Cortes đã được xem như một anh hùng Âu châu trong nhiều thế kỷ (69).

2. CHUYỆN VỀ FRANCISCO PIZARRO:

Mười năm sau việc Cortes tiêu diệt vương quốc của người Aztec, một người Tây ban nha khác là Francisco Pizarro, sau khi đã tìm được khá nhiều vàng từ vùng Panama trên bờ Thái bình dương, đã bắt chước Cortes đi tìm riêng cho mình một vương quốc. Năm 1528, Pizarro đi tàu biển đến cảng Tumbes của vương quốc Inca rộng lớn ở Nam châu Mỹ, chạy dài từ Seville tới Moscow. Hắn được vua và dân Inca đón tiếp rất thân thiện, và hắn nhận thấy vương quốc này rất giàu có, rất văn minh và được điều hành rất hợp lý, hữu hiệu. Pizarro trở về Panama, rồi Âu châu lo kêu gọi đóng góp tiền bạc và sức người để xâm chiếm vương quốc Inca. Hắn đã trưng ra cho vua Charles của Tây ban nha một loạt các đồ kim hoàn và thủ công mỹ nghệ của Inca, và được nhà vua đống ý cho Pizarro chinh phục và cai trị Peru dưới danh nghĩa vương trièu Tây ban nha.

Thời may đến với Pizarro là vào thời gian đó, mầm bệnh đậu mùa từ Âu châu theo người Tây ban nha lan qua châu Mỹ, đã làm chết rất nhiều người thổ dân châu Mỹ, và cái chết của Wayna Capac, Hoàng đế của Inca vào tháng 5 năm 1528, khiến cho nội chiến xảy ra giữa các con trai của Wayna Capac, đã tạo cho Pizarro cơ hội chia rẻ rồi xâm chiếm vương quốc này. Năm 1530, Pizarro quay trở lại Peru đem theo 180 quân tùy tùng. Trước đó Pizarro đã gặp Cortes để học tập kinh nghiệm và theo lời khuyên của Cortes, Pizarro đã bắt ngay vua Atahuallpa của Inca và dùng súng, ngựa, gươm tàn sát cả đoàn tùy tùng cua nhà vua một cách dã man khi họ theo nhà vua tiếp đón bọn Pizarro. Bị một đòn bất ngờ quá khủng khiếp, vua Atahuallpa phải nhượng bộ cho bọn Tây ban nha toàn quyền đi tới bất cứ nơi nào trong vương quốc, nhưng chúng không thỏa mãn. Những cơ sở thiêng liêng của dân Inca đầy những đồ trang hoàng bằng vàng, bạc được khắc chạm một cách phi thường đều bị tháo dở, lấy được bảy tấn vàng và mười ba tấn bạc, được chở tới căn cứ của Pizarro như là của chuộc tội chết cho vua Atahuallpa, tại đó các đồ trang hoàng này được nấu chảy để đổ thành thỏi.

Như thế đó, những sáng tạo nghệ thuật và cốt lõi tinh thần của dân tộc Inca đã bị phá hủy cùng với quyền lực của họ bởi sự lưu manh và tàn bạo của thực dân da trắng trong thời gian rất ngắn. Sau đó vua Atahuallpa cũng bị giết khi mà ông không còn hữu ích cho tham vọng của Pizarro nữa, đồng thời tất cả những người quý tộc và phụ nữ của họ thì thường xuyên bị làm nhục, bị hảm hiếp, bị hành hạ và bị giết bởi người Tây ban nha. Dân Inca cũng như dân Aztec đã ngoan cường nổi dậy chống lại người Tây ban nha năm 1537, nhưng cũng như Cortes, Pizarro đã có thời giờ kêu gọi thế lực từ Panama, với ưu thế về vũ khí, và với âm mưu liên kết với các nhóm thổ dân chống lai dân Inca, nên cuối cùng Peru phải chịu thua và vương triều Inca bị tiêu diệt vĩnh viễn cùng với nền văn minh của họ.

Năm 1569 vua Tây ban nha Philip II bổ nhiệm Francisco de Toledo lam toàn quyền Peru. Năm 1572, Toledo đã bắt và hành quyết Tupac Imaru, vị Hoàng đế cuối cùng của Inca. Như thế, chỉ đúng 41 năm sau lần đầu tiên Pizarro đến Peru thì vua cuối cùng của Inca là Tupac Imaru bị giết, tức là trong thời gian ngắn hơn một đời người, thì cả một thế giới gồm những thổ dân đã bị quét sạch khỏi trái đất do sự tham tàn, cướp bóc, giết hại của những tên thực dân Tây ban nha với cái văn minh kinh thánh tự cho là duy nhất đúng của họ (70).

3. THỔ DÂN CHÂU MỸ BỊ ÁP ĐẶT VĂN MINH KINH THÁNH

Trong thế kỷ 16, người Tây ban nha đã chiếm làm thuộc địa Mexico, Panama, Peru,Argentina, các đảo West Indes, Florida,…Rồi người Tây ban nha ào ạt di cư sang vùng thuộc địa cho nên ngày nay hầu hêt các nươc vùng Trung và Nam châu Mỹ nói tiếng Tây ban nha, riêng Brasil thuộc địa của Bô đào nha nên nói tiếng Bồ. Nhưng qua thế kỷ 17, các nước khác ở Âu châu như Anh, Pháp, Hà lan,… ,qua châu Mỹ tranh danh thuộc địa và dần dần dần các nước ở châu Mỹ được định hình như ngày nay.

Điều đáng lưu ý ở đây, là không những chiếm đất, bắt thổ dân làm lao dich như nô lệ mà các nước đế quốc châu Âu còn áp đặt lên thổ dân nền văn minh kinh thánh. Toàn quyền người Tây ban nha của Peru đã cấm tất cả mọi nghi thức tôn giáo của thổ dân, và năm 1570 một văn phòng của Tòa án dị giáo đã được thiết lập tại Lima, và sau đó trên tất cả mọi thuộc địa của Tây ban nha tại châu Mỹ. Người thổ dân châu Mỹ bị buộc phải tuân theo văn hóa thánh kinh của thực dân châu Âu khiến cho nền văn hóa của họ đã bị tiêu diệt. (71)

Biện minh cho sự dã man này, Juan Gines de Sepulveda, một nhà thần học Tây ban nha, năm 1547 đã viết :” với cái quyền hoàn toàn chính đáng, người Tây ban nha cai trị đám dân dã man này của Tân thế giới và các đảo kế cận, những kẻ mà trí khôn, sự thông minh, đức hạnh và những phẩm chất của văn minh đều thua người Tây ban nha như con nít thua người lớn, và như đàn bà thua đàn ông. Có sự khác biệt lớn lao giữa hai dân tộc như giữa những người hung ác, hoang dã và những người có lòng nhân từ nhất, giữa những người vô độ ghê tởm nhất và những người ôn hòa và điều độ trong hoan lạc, nghĩa là có thể nói, giữa vượn và người” (72).

 

C. DÂN DA ĐEN PHI CHÂU BỊ BẮT LÀM NÔ LỆ Ở MỸ CHÂU

Bên cạnh sự tàn bạo của dân châu Âu đối với thổ dân châu Mỹ, người da trắng còn món nợ tinh thần đối nhân loại trong việc biến da đen châu Phi thành nô lệ tại châu Mỹ. Việc bắt đầu từ sự trồng mía của người di cư Bồ đào nha và Tây ban nha tại các đảo Canary, vùng Azores, Medeira, Cape Verde, Sao Tome và Principe ở phía tây châu Phi. Họ đã mua các nô lệ tại các chợ ở bờ biển Phi châu và chở tới làm việc tại các đồn điền trồng mía này từ đầu thế kỷ 16. Lúc bấy giờ trong các điều kiện lao động nặng nhọc, một người nô lệ thường chỉ sử dụng được trong vòng 7 năm, cho nên nhu câu về số nô lệ càng tăng lên với sự mở mang các đồn điền, đăc biệt là bắt đầu vào thập niên 1530 khi mà phần đông bắc của Brasil trở thành nơi trồng mía chính của thực dân Bồ đào nha, và việc mua bán nô lệ từ Phi châu qua châu Mỹ trở thành một nguồn lợi béo bở cho các thương nhân châu Âu. Vào giữa thế kỷ 17, các con buôn Bồ đào nha dùng thuyền chở nô lệ từ Gulf of Guinea ở bờ biển phía Tây Phi châu tới vùng Caribbe, bán nô lệ, dùng thuyền chở sản phẩm về châu Âu theo dòng Gulf Sream, rồi từ Âu châu cho thuyền qua bờ biển phía Tây châu Phi theo dòng Canaries. Lộ trình này được gọi là tam giác buôn bán nô lệ ô nhục (infamous slave trade triangle) đã đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các con buôn Bồ đào nha. Nhưng ít lâu sau thì người Hà lan, người Đức , người Anh đã dùng thế mạnh của các đội thương thuyền của họ vào việc buôn bán nô lệ khi mà nô lệ được dùng trong mọi công việc lao đông nặng nhọc ngoài đồng cũng như các việc tạp dịch trong nhà cho người da trắng ở khăp cả châu Mỹ. Mãi tới năm 1808, việc buôn bán nô lệ xuyên qua Đại tây dương mới bị nước Anh bãi bỏ và Mỹ bắt chước năm 1808. Nhưng điều này lại đưa đến phong trào buôn bán nô lệ lớn lao nhất qua các vùng bên trong châu Mỹ.

Việc đối xử với nô lệ da đen của người da trắng thì vô cùng tàn ác. Khi bị bán đi, họ bị tách khỏi các người thân trong gia đình, cột thành từng xâu, bị nhét đầy trên các phương tiện chuyên chở, bị xem như súc vật và không biết số phận của ngày mai ra sao. Ở các bang miền nam nước Mỹ có chế độ nô lệ khà khắc nhất. Có các luật cấm các chủ nô lệ giải phóng nô lệ hay bảo đảm tự do cho nô lệ. Những hình phạt khủng khiếp và đôi khi rất tàn bạo là sự sự kiện đã xảy ra trong đời sống của hầu hết người nô lệ da đen, mà người chủ nô lệ da trắng không hề bị pháp luật trừng phạt .

Năm 1846, Samuel Grdley Howe, một nhà giáo dục hàng đầu, đã viếng thăm một nhà tù ở New Orleans tại Mỹ, nơi giam giữ những nô lệ bỏ chạy trốn và những nô lệ đang chờ bị bán. Trong cái sân, ông ta đã thấy một cô gái da đen, bị cột vào một tấm ván, đang bị quất bằng roi và ông đã ghi lại : “ mỗi cú quất làm tước đi một mảng da, dính vào phầm mềm của cây roi, hay rơi rung rinh trên nền lát sân trong khi máu túa ra theo…Đó là bên trong một nhà tù công cộng và được tổ chức chính quy; hình phạt được công nhận và cho phép bởi luật pháp. Nhưng bạn nghĩ rằng người bị tổn thương năng nề khốn khổ đó hẵn đã mắc phải một sai phạm ghê gướm nào chăng… ? Không chút nào cả. Cô ấy bị người chủ mang đến để bị quất bằng roi bởi người thi hành án công cộng, mà không cần phiên tòa, quan tòa hay hội thẩm đoàn, chỉ cần sự sẵn sàng đồng ý hay cái gật đầu của người chủ vì một sự vi phạm thật hay giả nào đó, hay để thỏa tính ham muốn thất thường hay hiểm độc riêng của anh ta. Và anh ta có thể mang cô tới ngày này qua ngày khác mà không cần nguyên nhân bị quy kết, và bắt chịu bao nhiêu cái quất tùy ý anh ta thích…chỉ với điều kiện anh ta trả lệ phí”.(73).

Những tội ác trên đây mới đích thực là tội Tổ tông của những người theo văn hóa thánh kinh.

 

D. TỘI RIÊNG ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

1. Đối với tổ tiên giòng họ : Người Ki-tô giáo Việt Nam đã từ bỏ truyền thống nhớ ơn ông bà tổ tiên mà tiền nhân người Việt Nam của chính họ đã hun đúc nên trong dòng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Họ đã khinh thường nền văn hóa tâm linh mà chính cha ông họ đã chắt lọc trong bao đời, họ đã gây nên chia rẻ, gây gỗ với bà con giòng họ trong vấn đề văn hóa tâm linh này.

2. Đối với đất nước và dân tộc Việt Nam : Một khi đã theo đạo Ki tô thì người giáo dân được dạy là làm mọi việc để phụng sự Chúa, để vinh danh Chúa, và sẽ được Chúa cứu rỗi vào ngày Phán xét. Cho nên người Ki tô giáo Việt Nam không còn coi đất nước và dân tộc Việt Nam là Tổ quốc thiêng liêng, là dân tộc có liên hệ thiêng liêng với sự tồn tại của bản thân mình. Trái lại họ xem họ nghĩa vụ hướng về nước Chúa để phục vụ, họ sẵn sàng nghe theo lệnh bề trên để hành đông, dù hành đông đó có thể phản lại truyền thống của giòng họ, của Tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Chính vì thế mà bất cứ một người Việt Nam nào có lý trí đều nhận thấy những điều sau đây :

*. Phần lớn những người Ki tô giáo Việt Nam đã tiếp tay với thục dân Pháp và các cha cố đạo khiến cho nước Việt Nam bị trở thành thuộc địa của thực dân Pháp gần một trăm năm, và dân tộc Việt Nam phải chịu biết bao lầm than cay đắng dưới chế độ thực dân của Pháp. Không có sự giúp sức của giáo dân Việt Nam mà thực chất như là đạo quân nằm vùng thường được gọi là đạo quân thứ 5 dưới sự chỉ huy của các cha cố người Âu hay Việt thì thực dân Pháp không thể nào dễ dàng đánh chiếm được nước ta. Những bằng chứng cụ thể từ Alexandre de Rodes, Puginier, Tortuyaux,…, Trần Lục, Ngô Đình Khả,… thậm chí đến những trí thức mà người Ki tô giáo Việt Nam rất sùng bái như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ đều cho thấy họ có tội với đất nước và dân tộc Việt Nam. Độc giả có thể đọc tội ác của họ trong nhiều tài liệu như sách Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Tại Việt Nam.. của Giáo sư Tiến sĩ Cao Huy Thuần, Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi của Hoàng Linh Đỗ Mậu, một ông tướng dưới chính quyền miền Nam Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, Các sách và bài viết của Charlie Nguyễn, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Manh Quang, Trần Chung Ngọc, Bùi Kha,…, trên website sachhiem.net.

*. Chính sự tiếp tay của giới giáo dân Việt Nam với thực dân Pháp, với đế quốc Vatican và ngoại bang mà dân tộc Việt Nam phải chịu hy sinh biết bao xương máu qua hai cuộc kháng chiến 1945-1954 và 1960-1975.

* . Giáo dân VIệt Nam đã theo lệnh của các bề trên của họ để phá hoại trong âm mưu tiêu diệt văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam để thay thế bằng văn hóa kinh thánh của Ki tô giáo. Cụ thể là các vụ chiếm phá các chùa ở những địa diểm tốt để xây thay vào đó những nhà thờ lớn như Nhà Thờ Lớn tại Hà nội, nhà thờ La Vang tại Quảng Trị, nhà thờ Tây Linh tại Huế, các nhà thờ trong vùng Sài gòn v.v….

*. Tính chất bán nước, hại dân tộc của những người cuồng tín Ki tô giáo Việt Nam đã được chính Vatican xác nhận trong việc phong thánh tử đạo năm 1988 cho 117 tên Ki tô giáo Việt gian có công làm tay sai và bán nước cho thực dân Tây phương và đế quốc La mã mà đã bị nhân dân Việt Nam giết trong quá trình đánh đuổi quân xâm lược Pháp thời nhà Nguyễn. Giáo hoàng Gioan Phao Lồ II đã ca tụng những tên Việt gian này trong lễ phong thánh tử đạo cho chúng như sau:

Các người vinh quang của Jerusalem

Là nỗi vui mừng của Israel

Và là vinh dự của dân tộc Việt Nam (74)

Than ôi! Những tên làm tay sai cho đế quốc Vatican, bán nươc cho ngoại bang, giết hại nhân dân Việt Nam mà là “vinh dự của dân tộc Việt Nam”! Vì sao? Vì họ đã từ chối Tổ quốc Việt Nam, từ chối giòng giống Việt Nam, họ chỉ là những tên tay sai phục vụ cho vinh quang của Jerusalem, cho xứ Israel, nơi đó Chúa của họ đã giáng sinh.

Quả là hết biết, khi chấp nhận những tên làm tay sai và bán nước cho ngoại bang ấy là thánh để tôn thờ thì rõ ràng người Ki tô giáo Vệt Nam đã phỉ nhổ vào các vua Hùng, tất cả những anh hùng liệt sĩ đã có công dựng nước và chống ngoaị xâm giữ nước như Hai Ba Tưng, Ba Triệu, Lý Thường Kiệt, Các vua nhà Lý, nhà Trần, Lê Lợi, Quang Trung các vua nhà Nguyễn chống thực dân Pháp, các anh hùng dân tộc chống thực dân và đế quốc từ thời phong trào Cần vương cho đến ngày nay, nghĩa là họ phỉ nhỗ vào đất nước và dân tộc Việt Nam từ thời lập quóc cho đến ngày nay.

Tôi lấy làm lạ là với những người Ki tô giáo thất học thì không nói làm chi, nhưng những người được cho là trí thức trong cộng đồng Ki tô giáo Việt Nam ở cả trong và ngoài nước mà không thấy nhục về điều này. Nói cho công bình, vẫn có một số người trí thức ki tô thấy Đức Thánh Cha đã làm nhục dân tọc Việt Nam cho nên đã lên tiếng chống việc phong thánh này, trong đó có 4 vị Linh mục Trần Bá Cường, Vương Đình Bích, Phan Khắc Từ và Huỳng Công Minh. Nhưng những người cấp tiến chủ trương dù là Ki tô giáo hay gì đi nữa thì trước hết phải là người Việt Nam, phải phục vụ cho quyền lợi của nước Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, chứ không thể làm tay sai cho ngoại bang và phục vụ cho Vatican.., thì lại bị bọn không biết nhục , đặc biệt bọn đang ở nước ngoài xỉ vả. Chẳng hạn, tình cờ gặp tờ báo có tên Hồn Nước từ Mỹ lưu lạc về Việt Nam, đọc thử thấy tác giả Q Hương, trong bài Giáo Hội Cần Loại Linh Mục Nào, trang 103 số ra ngày 15 tháng 1 năm 2008, viết :” Nhóm bốn người này dùng tờ báo có tên “Công Giáo và Dân Tộc” cổ súy cho chủ trương “ Sống Đạo Giữa Lòng Dân Tộc” qua các bồi bút tay sai, phản đối cuộc phong thánh 117 vị tử đạo ở Việt Nam dưới triều Nguyễn năm 1988, và câm lặng việc việc phong chân phước Hồng Y F. X. Nguyễn Văn Thuận hiện nay”.

Không có gì khôi hài bằng những tên suốt đời làm bồi bút cho ngoại bang, sống vất vưởng nơi xứ người mà buộc tội những người đứng về phía dân tộc là bồi bút, những kẻ đã mê muội nghe theo bề trên để phỉ nhổ vào đất nước Việt Nam, vào tất cả những anh hùng liệt sĩ trong 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước, mà lại viết báo tên là Hồn Nước. Phải chăng đây là nước Chúa với “vinh quang của Jerusalem, nỗi vui mừng của Israel” như lời của Giáo hoàng Phao Lồ II chứ đâu phải nước Việt Nam ?

Không nhữmg không thấy nhục mà họ còn lấy làm vinh dự có được 117 thánh tử đạo thì quả là không còn lời nào để có thể diễn tả hết nỗi nhục của cái gọi là trí thức của họ !. Họ đã và đang ra xúi dục, khích động sự cuồng tín, mê muội của giáo dân trong cũng như ngoài nước, đặc biệt là các cộng đồng giáo dân tại Mỹ, Úc,…với các tờ báo và đài phát thanh, truyền hình địa phương do các thế lực của họ lập ra, để chuyên bóp méo sự thật, gây chia rẻ khối đại dân tộc, để chống phá sự xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam. Họ ngụy tạo ra các hiện tượng rồi rêu rao lên là các tượng Đức Mẹ ở Việt Nam khóc, chảy máu tại Úc v.v…. để đánh lừa sự ngu dốt và ngây thơ của giáo dân để hướng giáo dân tới chỗ chống đối nhà nước Việt Nam.

3. VỤ ĐÒI TÒA KHÂM SỨ TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY: NGƯỜI KI TÔ GIÁO VIỆT NAM ĐANG TÍCH LŨY TỘI TỔ TÔNG

Mới đây nhất là vụ ông Giám muc Ngô Quang Kiệt và nhiều người lãnh đạo giáo dây Việt Nam đã xúi giáo dân đốt nến cầu nguyện đòi nhà nước Việt Nam cho lại cái Tòa khâm sứ mà thực dân Pháp toa rập với Vatican cướp đất của Việt Nam để biến thành tài sản của đế quốc Vatican. Họ đã quên rằng Công bình và bác ái ở đâu mà họ vẫn tự hào là những đức tính của Ki tô giáo khi họ đứng trên mãnh đất mà vào năm 1884 cố đạo Puginier đã toa rập với thực dân Pháp cướp phá chùa Bảo Thiên do các Vua nhà Lý xây các dây gần một nghìn năm để xây Nhà Thờ Lớn Ha nội và Tòa khâm sứ, để cầu nguyện và đòi tòa khâm sứ Hà nội. Họ có quyền chiếm đoạt tài sản của Việt Nam để làm của riêng cho mình sao ? Những người Việt Nam khác không có quyền bảo vệ tài sãn của mình sao ? Tòa khâm sứ cũ ở Ha nội là chứng tích tội ác của sự cấu kết giữa thực dân Pháp và đế quốc Vatican và cũng là chứng tích của tội bán nước của những người Ki tô giao Việt Nam mà chính quyền Việt Nam đã xóa đi hơn nữa thế kỷ nay khi đánh bị được thực dân Pháp. Vây đúng ra, những người Ki tô giao Việt Nam hôm nay phải thấy được cái tội của cha ông họ đối với dân tộc và tổ quốc Việt Nam mà quên đi cái quá khứ nhục nhã đó mới phải chứ, đằng này họ lại tự mang lai vết ô nhục cũ lên đầu thì nghĩa là sao ? Chính họ đang tích lũy tội tổ tông đích thực đó!

Những câu hỏi này dành cho các trí thúc Ki tô giáo Việt Nam trả lời. Họ luôn luôn khích động người Việt chống phá nhà nước Việt Nam vì theo họ thì nhà nước Việt Nam đã làm cho họ mất hết mọi đặc quyền, đặc lợi mà trước đây thực dân, đế quốc cấu kết với đế quốc Vatican, các Hội thánh Tin Lành đã dành riêng cho họ. Họ cho rằng nhà nước Việt Nam đã dùng chánh sách của Cộng sản để tiêu diệt họ. Họ quên một điều cơ bản là chính cái ý thức hệ Ki tô giáo của họ đã cấu kết với thực dân và đế quốc đã biến nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam thành nô lệ, khiến cho người Việt Nam đã phải dùng mọi cách chống quân xâm lược để dành lại độc lập cho tổ quốc từ ngày thực dân Pháp và đế quốc Vatican đặt chân lên Việt Nam cho năm 1975. Và người Việt Nam đã vận dụng sách lược của Cộng sản như là một tất yếu của lịch sử mới tống khứ được thực dân và đế quốc ra khỏi đất nước, khiến cho Đức thánh cha của họ, lúc bấy giờ là Giáo hoàng Pius XII đã cay cú , đề nghị Mỹ thả 6 quả bom nguyên tử xuống Việt Nam mà cứu thực và đế quôc và đặc quyền, đặc lợi của dân Chúa. Nhưng chính quyền Mỹ thời đó đã không làm theo yêu câu dã man, vô luân này của Giáo hoàng.

Những cái đó mới chính là Tội Tổ Tông đích thực của ngườu Ki tô giáo Viêt Nam.

Chúng ta cũng nên nhìn sâu một chút vè vụ đột nến câu nguyện nay. Chúng ta nên biết rằng những đông bào Ki tô giáo đang đốt nến cầu nguyện đó là vô tội, họ không ý thức được việc họ đang làm có hại cho tổ quốc thế nào đâu, chỉ đơn giản là bề trên của họ ra lệnh thì họ nghe thôi. Nhưng có phải bề trên của họ bốc đồng mà ra lệnh không? Không phải đâu. Vậy họ dựa trên cái gì mà làm. Xin thưa rằng đã chuẩn bị từ lâu rồi cho một cuộc chiến tranh mà họ gọi là thánh chiến tiêu diệt nhà cầm Việt Nam, nay họ nghĩ rằng thời cơ đã đến, đó là Việt Nam đã mở cửa để hội nhập vào thế giới, đã vào WTO, đã có chỗ ngồi tương đối cần phải giữ thể diện trong Liên Hiệp Quốc không dám “chơi xã láng” với họ,v.v…và cũng có thể họ phải làm trong thời gian này vì họ nghĩ rằng chẳng bao lâu nữaTổng thống Bush, người Công giáo La mã sẽ rời khỏi nhà trắng, và Đảng Dân Chủ Mỹ lên nắm quyền thì có thể không mặn mà gì với các chiêu bài của họ nữa. Cho nên họ thử nghiệm bằng cái màn “đốt nến cầu nguyên” để xem “gân cốt” của nhà nước Việt Nam, của lực lương vũ trang Việt Nam, và cái dũng khí của dân Việt Nam hiện nay như thế nào!

Kịch bản của họ có thể như sau :

 

Màn một :

Đốt nến cầu nguyên đòi dành Tòa khâm sứ cũ tại Hà Nội với các mục đích sau đây:

a. Thử “nắn gân cốt” của Việt như nói trên để thăm dò cho các màn kế tiếp.

b. Gây tình trạng thiếu ổn định chính trị, phá rối trật tự ngay trong thủ đô Hà Nội mà Việt Nam chuẩn bị tổ chức MỘT NGHÌN NĂM THĂNG LONG. Để làm mất mặt Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

c. Để các nhà đầu tư nước ngoài sợ mà không dám đầu tư vào Việt Nam theo chiến dịch cố ý làm nghèo đất nước, cố ý gây khốn khổ cho dân Việt Nam mà họ đã và đang tuyên tuyền trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại như là KHÔNG GỞI TIỀN VỀ GIÚP BÀ CON THÂN NHÂN Ở VIỆT NAM, KHÔNG ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM, KHÔNG DÙNG SẢN PHẨM DO NHÂN DÂN VIỆT NAM SẢN XUẤT, KHÔNG ĐI VỀ VIÊT NAM ĐÓN TẾT VIỆT NAM, KHÔNG ĐI DU LICH TỚI VIỆT NAM,…. Nhưng riêng họ thì tìm mọi cách về Việt Nam, đem tiền bạc về Việt Nam để thực hiện các ý đồ thánh chiến của họ. Và không biết họ có quả thực “không dùng sản phẩm do nhân dân Việt Nam làm ra hay không!”, tôi không nghĩ như thế, vì họ thật ra không đủ tiền xài những sản phẩm cao cấp sãn xuất tại Mỹ và từ chối các sản phẩm từ Việt Nam, Trung quốc,v.v…

d. Biểu dương lực lượng Ki tô giáo là hùng manh tại ngay thủ đô Việt Nam, cố ý gây rối khiến cho việc Liên Hiệp Quốc tổ chức Lễ Phật Đãn sắp đến tại Hà Nội gặp khó khăn, không được như ý. Đây cũng chính là ý đồ của những nhóm chính trị đội lốt Phạt Giáo Việt Nam ở hải ngoại để vừa phá Việt Nam vừa phá Phật giáo Việt Nam.

Màn hai:

Nếu màn một mà họ thành công, nghĩa là nhà nước Việt Nam nhương bộ họ, cho họ cái Tòa khâm sứ cũ, cái chứng tích ô nhục cả họ đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, thì ho sẽ thừa thắng xông lên :

· Thắp nến cầu nguyện khắp các nơi mà họ muốn chiếm đoạt.

· Các nhóm phản động lợi dụng danh nghĩa các tôn giáo khác sẽ a dua theo biểu tình dành trụ sở của họ.

· Trong tình hình lộn xộn đó thì các nhóm, các đảng phái phản động nằm mai phục ở nươc ngoài sẽ theo về quấy phá, mở các đợt tấn công để mong lật đổ nhà nước Vệt Nam.

Đó là sơ lược về kịch bản mà họ mong muốn, nhưng thực hiện được hay không là chuyện khác, chuyện của nhà nước Việt Nam. Chắc chắc rằng nhà nước Việt Nam biết rất rõ những âm mưu của kịch bản trên ngay từ trong trứng nước. Với một đoàn quân đã chiến thắng trong hai cuộc chiến 1945-1954 chống liên minh thực dân Pháp, đế quôc và đế quốc Vatican, và 1960-1975 chống liên minh đế quốc Mỹ và đế quốc Vatican, mà họ tự hào là “ Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì có lẽ nào nhà nước Việt Nam dễ dàng thua cuộc sao? Không phải đâu, các ngài như Ngô Quang Kiệt, cũng như các nhóm đang ra sức hò la ủng hộ trên các báo , đài, các trang web ở nước ngoài, chớ có tưởng lầm là Việt Nam đã “hết gân” rồi, “đã bị trói rồi” do các ràng buộc quốc tế, các vụ hối lộ,…! Không một người yêu nước nào muốn cho dân chúng khổ cực, muốn cảnh tang thương, người Việt Nam đã mất quá nhiều xương máu rồi, không nên để phí phạm nữa, nhất là của những người dân vô tôi, chỉ bị cái vô minh của bề trên và các tay hoạt đầu đang ngối an toàn ở nước ngoài xúi dại, làm liều. Chắc có lẽ vì vậy cho nên nhà nước Việt Nam, cũng như lực lượng Vũ trang đang nhẫn chịu, để các ngài bề trên này tự thấy cái sai mà tự giải tán cái màn quấy phá này, đông thời nhà nước Việt Nam cũng tỏ cho thế giới biết rằng, chúng tôi để cho họ thái độ cái đã, chúng tôi chưa mắc mưu xử lý vội vàng để các thế lực thù địch với Việt Nam lu loa lên rằng Việt Nam đán áp tự do tín ngưỡng.

Nhưng nếu họ không tỉnh ra, họ tưởng rằng nhà nước Việt Nam và lực lương bảo vệ đất nước đã “yêu ộp” rồi, họ sẽ thắng thế mà làm liều, gây tình trạng lâm nguy cho an ninh quốc gia, làm mất danh dự của tổ quốc, sĩ nhục bao anh hùng dân tộc chông ngoại xâm, bao máu xương của dân tộc đã đổ ra để đánh đuổi thực dân đế quốc từ thời Cần vương cho đến nay, làm mất ý nghĩa những chiến thắng lẫy lừng của trận Điện Biên Phủ, của chiến dịch xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,…; họ bôi nhọ lên danh dự tố quốc Việt Nam bằng cách đem thờ 117 tên Việt gian bán nước là thánh của họ giũa thủ đô Hà Nội, thì không một người yêu nước nào, không một chiến sĩ nào chấp nhận. Khi đó thì các người bề trên xúi giáo dân biẻu tình phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tội đối với Tổ quốc, và không thể oán trách đội quân “Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nếu điều bất đắc dĩ đó mà xảy ra thì các “bề trên” như ngài Ngô Quang Phiệt sẽ biết là tiền đồ do các cố đạo và thực dân xây dựng trên đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu.

Vì vậy các ngài bề trên nên suy nghĩ lại về những tham vong ngông cuồng phản dân hại nước trước khi quá muộn.

 

IX. NHẬN XÉT KẾT THÚC.

 

Xét cho cùng, về phương diện nhân quả trong lịch sử cận và hiện đai Việt Nam thì chính ý thức hệ Ki Tô giáo của họ đã giúp biến Việt Nam thành nô lệ cho ngoại bang và điều đó đã đưa ý thức hệ Công sản vào Việt Nam để dành lại độc lập cho tổ quốc, mà nay họ lại la làng rằng người Việt Nam đã dùng sách lược Cộng sản tiêu diệt họ, và xúi mở Thánh chiến để đánh bại Công sản Việt Nam.

Người Việt Nam đã dùng sách lược của Cộng sản để chiến thắng hai trận chiến tranh 1945-1954 với liên minh Pháp-Ki tô giáo và 1960-1975 với liên minh Mỹ-Ki tô giáo để có được một nước Việt Nam thống nhất như ngày nay. Thì với bản lĩnh ấy, chính họ mới biết cần phải thay đổi họ như thế nào cho phù hợp với sự phát triển trong nền độc lập của nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, chứ những thế lực tay sai của ngoại bang đã bị họ đánh bại chạy ra sống ở nước ngoài chỉ có thể đánh giặc mồm, lừa bịp những kẻ u mê, để kiếm sống qua ngày, chứ đừng hòng mở Thanh chiến đánh tan nhà đương quyền Việt Nam.

Nói tóm lai, người Ki tô giáo Việt Nam không có cái gọi là “Tôi tổ tông” như giáo điều Ki tô giáo đã dạy. Họ có tội tổ tông đích thực như đã phân tích ở trên. Nhưng nếu họ không tỉnh ngộ, mà cứ mù quáng tuân phục răm rắp lệnh của bề trên mà phỉ nhổ vào đất nước Việt Nam, truyền thống và văn hóa trong bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, để phục vụ cho Vatican, cho các Hội thánh và cho thực dân đế quốc, như họ đang biểu diễn thắp nến cầu nguyện những ngày qua thì họ không những họ đã có Tôi tổ tông đích thực như đã nói trên mà chính họ đang tích lũy tội tổ tông đích thực đó.

Vậy hỡi những đồng bào Việt Nam theo Ki tô giáo, hãy sáng suốt nhận ra con đường chân chính để biết “Sống trong Lòng Dân Tộc”.

 

Mục Đồng.

 


Tài liệu tham khảo:

 

1. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, http://sachhiem.net, Suy Nghĩ Về Thiên Chúa

2. http://www.secondexodus.com/html/catholicdefinitions/originalsin.htm.

Original Sin

God had originally given Adam and Eve the preternatural gifts of immortality, freedom from suffering, superior knowledge, and inner harmony with Himself. The sabbath recalls Eden. Is 58:14 “You shall take delight in the Lord.” Ex 20:10 “You shall not do any work.” Ex 35:3 “You shall kindle no fire.” Our first parents in Eden lived that life every day. God had instructed Adam, Gn 2:16 “You may freely eat of every tree of the garden; but of the tree of the knowledge of good and evil you shall not eat, for in the day that you eat of it you shall die.”

But Satan tempted Eve to reject God as her shepherd. Gn 3:5 “You will not die. For God knows that when you eat of it your eyes will be opened, and you will be like God,ou will be like God, knowing good and evil.” Adam and Eve committed the deadly sin of pride by rejecting God as their shepherd and seeking to decide as God does what is good and what is evil. This was the original sin. As a result, God took back the preternatural gifts and left Adam and Eve with a fallen nature: darkened intellect, weakened will, and a lack of inner harmony with Himself.

Since Adam and Eve were the progenitors of all mankind, we their descendants inherit their fallen nature. We became Eph 2:3 “children of wrath.”

3. Xem 2. đã dẫn trên.

4. Trần Chung Ngọc, Tản Mạn Về Ngày 25 Tháng 12, http://sachhiem.net

5. www.bringyou.to/apologetics/num54.htm, Original Sin Explained And Defended

( "By one man's disobedience many [that is, all men] were made sinners":"sin came into the world through one man and death through sin, and so death spread to all men because all men sinned..." [Rom 5:12,19]) .

6. Austine Cline, Original Sin in the Bible,
http://atheism.about.com/od/thebible/a/originalsin.htm

“Despite these clear claims on the part of Paul, where are we to find the basis for them in Genesis? In that text, God pronounces all sorts of condemnations and curses upon Adam, Eve and the nefarious Serpent - working for their food, pain in childbirth, being stepped on, etc. Here is the relevant passage for reference:

The Lord God said to the serpent, Because you have done this, cursed are you among all animals and among all wild creatures; upon your belly you shall go, and dust you shall eat all the days of your life. I will put enmity between you and the woman, and between your offspring and hers; he will strike your head, and you will strike his heel.” To the woman he said, I will greatly increase your pangs in childbearing; in pain you shall bring forth children, yet your desire shall be for your husband, and he shall rule over you.” And to the man he said, Because you have listened to the voice of your wife, and have eaten of the tree about which I commanded you, You shall not eat of it, cursed is the ground because of you; in toil you shall eat of it all the days of your life; thorns and thistles it shall bring forth for you; and you shall eat the plants of the field. By the sweat of your face you shall eat bread until you return to the ground, for out of it you were taken; you are dust, and to dust you shall return.”
(Genesis 3:14-19)

7. Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.115 :” One of the most ardent of the oersecutors was a man named Saul, who witnessed the martyrdom of Stephen, the first disciple to be stoned to death for blasphemy, and organized the investigation of those accused of Christian sympathies”.

8. http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_the.Apostle, Paul the Apostle, ….” Paul himself is very disinclined to talk about the precise character of his conversion (Galatians 1:11–24) though he uses it as authority for his independence from the apostles. In Acts there are three accounts of his conversion experience:

* The first is a description of the event itself (Acts 9:1–20) in which he is described as falling to the ground, as a result of a flash of light from the sky, hearing the words "Saul, Saul why are you persecuting me?"

* The second is Paul's witness to the event before the crowd in Jerusalem (Acts 22:1–22).

* The third is his testimony before King Agrippa II (Acts 26:1–24)”.

9. . Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.117 :”Paul,…,never knew Jesus,…But Paul believed, like many who came after him, thsat he was doing God’ s work, and that God was guiding his thoughts and deeds. Because of this he felt free to promote his own ideas about the Christian church and its faith, even when these were not directly dderived from the teachings of Christ.”

10. Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, pp.117-118.

11. . Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,pp.115-116.

12. Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.124 :” His friend and biographer Eusebius described how he saw a vision of across of light in the heaven bearing the inscription, BY THIS THOU SHALL CONQUER, and immediately swore to worship no other God. But Constantine’s was a political as well as a spiritual decision. He understood that the Christian church, with its network of bishops and dedicated adherents, could be a powerful ally to the emperor”

13. . Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.124 :” Constantine used the Christian church to help him gain and use political power-the Church supported him against hus rival Licinius, and he used bishops and the Christuan community as an information network, reporting to him on political events and undercurrents in all the towns of the empire”.

14. . Roger Osborne, Civilization : A New History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.124:” In return Constantine tried,as Paul had done before,tounite the Christian faith in a single institution. He made ordinary people symtatheyic to Christiany by making the Christian Sabbath into holiday and integrasting pagan festivals into a Christian calendar. Crucifixion, gladiatorial contests and animal sacrifices were all banned throughout the empire”.

15. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p. 126 :” Was Christ wholly divine, or part divine and part human, in which case were these separate elements brought together in his person, or did they were these always co-exist? And was it possible for Mary,as a human, to give birth to a divine being, and if it was, then was Mary somehow something more than human? These debating points became fatally tied up with the politics of the Church, as each group sought to be the single permissible orthodoxy. In the end bishops and their flocks in many of the eastern churches, where Christianity was still concentrated, found it preferable to break away rather than give up their own vision of the faith”

16. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p. 126. :”Councils held at Ephesus in 431 and Chalcedon in 451 were taken as opportunities for the bishops to lay down the law to each other, rather than search for common ground “.

17. http://www.theopedia.com/Augustine_of_Hippo : “he developed a relationship with a young woman who would be his concubine for over a decade and produce a son….

…….. Augustine's mother followed him to Milan and he allowed her to arrange a society marriage, for which he abandoned his concubine (however he had to wait two years until his fiance’e came of age; he promptly took up in the meantime with another woman).

18. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p. 127. :” Augustine lived a dissolute life in Carthage, eventually taking a servant girl as his permanent mistress “

19.,20., 21. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, pp. 128-129 :” God must be an actual material presence…..God utterly beyond the comprehension of humanity….I realized I was far away from You “

22.,23.,24. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, pp. 129-130. :” Where does evil come from? If God was both good and all-powerful, then how did evil cone into the world?.... Augustine felt repelled by their ‘enlightened fatalism’. He believed that evil must be confronted, not simply avoided ….. By abanding Manicheism, Augustine was again faced with the peculiarity of the Old Testament. How could the folk history of the Jewish people, with its vengeful Hebrew God, be assimilated with a Platonic disembodied ideal divinity, and a forgiving Christ? “

25., 26. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.130. “Augustine’s answer was that a fierce imposition of strict laws had been necessary in order to keep the Jewish people on the right path; but humans were just as wicked and wayward as they had ever been and still needed strict laws to control them. ‘Take away the barriers created by the laws! Men’s brazen capacity to do harm, their urge to self-indulgence would rage to the full’ …. Augustine‘s answer lay in a doctrine that had become common currency among people of different faiths in the late Roman empire – Original Sin”

27. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p.132. “ For the answer, Augustine turned to the Platonists’ belief in a distant God, for whom humanity was a neat-to-irrelevant part of His creation. The result was shuddering in its pessimism: the role og the true Christian was to fear God, to suffer and to await His judgement “ .

28. 29. 30. Lewis Loflin, Original Sin, an Overview, http://www.sullivan-country.com/z/original_sin2.htm “ Saint Augustine (354-430) was the first theologian to teach that man is born into this world in a state of sin….. he taught that the taint of Adam's original sin was inherited by all people at birth, and that nothing a person does in their life can get rid of this taint….. this state of sin exists in all people from the moment of their conception. According to this doctrine, all people are born sinners and die sinners; all people are 'lost' eternally, and are in need of Divine salvation. The only way people can be justified in God's eyes and reconciled with God is by humbly asking for forgiveness, believing that His son Jesus Christ, through his death and crucifixion, took on himself the due punishment for our sins and trespasses (atonement), and depending upon God's grace to perfect their faith in God by increasing their love for God, which fulfills obedience. The ultimate punishment for the original sin was expulsion from the presence of God and subjection to physical and spiritual death; the ultimate goal and blessing of reconciliation is the restoration of the original relationship man had with God; this includes eternal life”.

31., 32., 33., 34., 35., 36., 37. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Boks, New York, 2006,pp. 132-133. ). :” Everything that happened came about because God willed it….. “it was He who dictated their every thought and action…..their every action predetermined, their free will an illusion…..Christians should live good lives for their own sake, because by freeing themselves from the enslavement of evil desires, they could appreciate the vision and love of God. …. This, though, would have no effect on God’s final judgement because, and here was the most pessimistic message of all, their fate had already been decided….. denying the possibility of human improvement or salvation through good deeds…. While they may be sinners beyond salvation, they could be agents of God whose achievements would add to His glory “

38. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p. 15. :”There are individual stories of goodness and salvation in our past but these are only emphasize the moral bleakness of the world in which they are set. Indeed, every heroic act engenders the suspicion of ulterior drk motives-a suspicion that is then confirmed by ardent reseach………… Even the saint-like Albert Schweitzer ws culpabke for his dismissal od modern medicines, while Mother Teresa is accised of doing more harm than good to the poor and sick of Calcutta “

39. Augustine of Hippo, http://theopedia.com/Augustine_of_Hippo. ) (Latin doctor, teacher, from Latin docere, to teach) is a title given by a variety of Christian churches to individuals whom they recognize as having been of particular importance, particularly regarding their additions to theological or doctrinal matters). Ambrose, Augustine, Jerome, and Pope Gregory I were the original Doctors of the Church and were named in 1298

40. Augustine of Hippo, http://theopedia.com/Augustine_of_Hippo. “...…. Roman Catholics consider him the patron saint of brewers, printers, theologians, sore eyes, and a number of cities and dioceses.”.

41. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p.131. “His view was that human nature was capable of improvement and even perfection through adherence to the Christian faith, and to strive for perfection was obligatory for the true Christion…..When Augustine’s Cofessions was circulated, after 412, Pelagius declared his opposition to the idea of Original Sin. He could not accept that human improvement was nullified by something from the distant past and that humans were condemned by Adam’s first act of sin to be sinners for evermore “

42. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p.131 “ You ask me why I would not consent to the idea that there is a sin that is part of human nature? I answer: it is improbable, it is untrue; it is unjust and impious; it makes it seem as if the Devil were the maker of men. It violates and destroys the freedom of the will…by saying that men are so incapable of virtue, that in the very wombs of their mothers they are filled with bygone sins”

43. Peter Brown, Augustine of Hippo: A Biography, Faber, London, 1967, p. 387 “To rational Christian like Pelagius and Julian the idea that the sin of Adam and Eva had indelibly staimed all humans was both nonsensical and dangerous “

44. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p.131. “Augustine believed that God alone could decide who would be saved and He, the remote, omnipotent God, would not be affected by the self-judging morality of any particular group or individual. It was heresy to suggest otherwise”.

45.,46. http://en.wikipedia.org/wiki/Virgin_Birth_of_Jesus “The other two gospels, which are the only ones to give accounts of the infancy of Jesus (the first two chapters in each) explicitly state that Jesus was conceived without human father.)”……” The Gospels of Matthew and Luke say that Mary, the mother of Jesus, was a virgin and that Jesus was divinely conceived. …… The gospels, later tradition and current doctrine, present Jesus’s birth as a miracle, involving no natural father, no sexual intercourse nor male seed in any form. Rather Matthew and Luke attribute conception to the Holy Spirit “

47. http:/en.wikipedia.org/wiki/Immaculate_Conception. “ Roman Catholic Church stated that she was conceived “without the stain of Original sin” :in her mother’s womb, the dogma thus says that, from the first moment of her existence, she was preserved by God from the lack of sanctifying grace that afflicts mankind, and that she was instead filled with divine grace “

48. http:/en.wikipedia.org/wiki/Immaculate_Conception. “The feast of the Immaculate Conception, celebrated on December 8, was established as a universal feast in 1476 by Pope Sixtus IV. He did not define the doctrine as a dogma, thus leaving Roman Catholics freedom to believe in it or not without being accused of heresy; this freedom was reiterated by the Council of Trent. The existence of the feast was a strong indication of the Church's belief in the Immaculate Conception, even before its 19th century definition as a dogma.”

49. http:/en.wikipedia.org/wiki/Blessed _Virgin_Mary “ The Immaculate Conception was solemnly defined as a dogma by Pope Pius IX in his constitution Ineffabilis Deus, on December 8, 1854………

Pope Pius IX defined ex cathedra the dogma of the Immaculate Conception on 8 December 1854. The Pope stressed that Mary's sinlessness was not due to her own merits, but truly, by the merits of her son, Jesus.

Dogmatic definition: "We declare, pronounce and define that the doctrine which holds that the Blessed Virgin Mary, at the first instant of her conception, by a singular privilege and grace of the Omnipotent God, in virtue of the merits of Jesus Christ, the Saviour of mankind, was preserved immaculate from all stain of original sin, has been revealed by God, and therefore should firmly and constantly be believed by all the faithful."

50. http:/en.wikipedia.org/wiki/Blessed _Virgin_Mary “. From the beginning of the Church, Catholic theology has maintained that Christ is the sole Mediator between God and Man.[1] Yet as theologian Ludwig Ott observes, "there is nothing to prevent others in a certain way (secundum quid) from being called mediators between God and man, insofar as they, by preparing or serving, cooperate in uniting men to God".

. 51. http:/en.wikipedia.org/wiki/Blessed _Virgin_Mary “ In Lourdes a 14-year-old girl, Bernadette Soubrious, claimed a beautiful lady appeared to her. The lady identified herself as “the Immaculate Conception” and the faithful believe her to be the Blessed Virgin Mary”

52. http:/en.wikipedia.org/wiki/Blessed _Virgin_Mary “ The title, Mother of the Church, was proclaimed by Pope Paul VI at the Second Vatican Council in an address ending the third session of the Council on November 21, 1964. The title was further affirmed at a general audience by Pope John Paul II on September 17, 1997”

53. http:/en.wikipedia.org/wiki/Blessed _Virgin_Mary “ The term carries not merely belief in the virginity of Mary but of her continuing role within the church and in the life of all Christians. In the Dogmatic Constitution of the Church (21 November 1964), passed during the Second Vatican Council, Mary was also given the title Advocate, Auxiliatrix, Adjutrix, and Mediatrix. Mary is often referred to colloquially as Our Lady.”

54. Charlie Nguyễn, Màn Kịch Lộ Đức trong Tuyển Tập Độc Thần Giáo, http://sachhiem.net

55. A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm

56. . A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm . Introduction:....” I must confess that at one time I also preached that men are born sinners. At that time I had only been saved a short while and had little knowledge of the Word of God. I testified and preached at street meetings, in jail services, and in missions and taught that men are sinners and lost because they were "conceived and born in sin." Why? Because that is what I had heard other preachers preach. I was ignorant at that time concerning the very doctrine I was preaching”

57. A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm

1. That the doctrine of original sin is a historical doctrine. It became a doctrine of the Catholic Church in the 5th century A.D.

2. That it has evolved as a doctrine and that it had its roots in a heathen philosophy.

3. That it is really only a theory, and further, that there is not one, but several contradicting theories of original sin.

4. That there is grave disagreement among the theologians who support the different theories of original sin, and that they are all able to prove each other's theories to be false.

5. That, although the doctrine of original sin was foisted on the church by Augustine, much of the credit for the acceptance of the doctrine must go to the changing winds of church politics and power. Not only the doctrine of original sin, but several other doctrines of the church see-sawed back and forth in their acceptance or rejection according to the caprices of politics, power, and influence of the state and church.

6. Most Christians are ignorant of the fact that Pelagius and Celestus were inadvertently a great help to Augustine in foisting his doctrine of original sin on the church. In fact, without their role, it may never have taken hold in the church. Pelagius and Celestus withstood Augustine's views on original sin, natural inability, and a necessitated will. But in rejecting original sin, they had to teach that infants are without sin, which meant that there was no need of infant baptism. Churchmen at that time were strongly prejudiced for infant baptism, so the implication involved in a denial of original sin (that there was no need for infant baptism) shocked them, raising opposition to the teachings of Pelagius and Celestus and making Augustine's doctrine of original sin, natural inability, a necessitated will, and irresistible grace much more palatable. Although the position of Celestus on the lack of a need for infant baptism was Scriptural; nevertheless, the churchmen's strong prejudice for infant baptism caused the controversy to erupt. And this point in which Celestus and Pelagius were right drew much more attention in the controversy than several other points in which Celestus and Pelagius decidedly took unscriptural positions. Therefore, the Augustinian doctrine of original sin was not made a dogma of the Catholic Church because of its truth or merits, but because Pelagianism rejected infant baptism and was in gross error in its denial of the need of a special divine grace if men are to be saved and delivered from sin. Pelagius and Celestus held such ridiculously unbiblical views of sin and of man's ability to obey God without grace that it was actually easy for Augustine to show that their views were false. Thus the rejection by Celestus and Pelagius of infant baptism, and their rejection of the need for a special divine grace if men are to be saved and delivered from sin captured all the attention of the churchmen's minds and diverted their attention from the absurdities of the original sin doctrine as taught by Augustine.

7. Most Christians are ignorant of exactly what Augustine taught as the doctrine of original sin, as well as what Cocceius, Placeus, and Arminius taught as their doctrines of original sin. If they were told exactly what Augustine taught, they would be shocked and would refuse to believe it.

8. Most Christians are ignorant of the fact that the doctrine of original sin is a patently unbiblical doctrine. It directly contradicts scores of Biblical texts and both the spirit and the letter of all the fundamental doctrines of the Bible.

9. Most Christians are ignorant of the fact that it is both morally and physically impossible to be born a sinner.

10. And finally, most Christians would have to admit that they are ignorant of the shocking teachings and implications that grow out of the doctrine of original sin. For instance, the teachings that God creates sinners, that infants who die go to hell, and the logical implication that if all men are born sinners, then Jesus himself was born a sinner.

58. A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm

First, the spirit of the new Christian is receptive. He does not have a spirit of debate about things he may not understand. New Christians naturally tend to accept everything they are taught as gospel truth because they have a pliable and teachable spirit. They may not understand this new doctrine, and they may question its justice; nevertheless, their receptive and teachable spirit prevents them from objecting and arguing about it. They are not prone to question or reject authority. Their pliable and teachable spirit makes them receptive even to a doctrine that contradicts their convictions of justice.

Second, the doctrine of original sin is made believable to the new Christian because of proof-texts from the Bible. He does not know that these proof-texts are taken out of context or misinterpreted. He probably has little knowledge of the Bible and deep trust in those who teach him. Add to this his love of God and his trust in God's Word, so that when proof-texts from the Bible are given in support of the doctrine of original sin, the question is settled for him if the Bible teaches it, then it has to be so.

Third, once confirmed in a belief it is almost impossible to change that belief. Who has not experienced or observed how Christians, once taught to believe a certain way, are strongly prejudiced for the view they have first been taught? An illustration of this is the blind zeal with which Christians of different denominations will argue over doctrinal differences. A Baptist is not likely to give a fair hearing to Pentecostal doctrine. Neither is a Pentecostal likely to give a fair hearing to Baptist doctrine. To change the beliefs of one who has once been indoctrinated is almost impossible. He may be in error, but he is prejudiced against every argument that he hears. This prejudice against any teaching that contradicts what we have already been taught protects and perpetuates any error that we may hold.

Fourth, the very fact that the doctrine of original sin is almost universally believed and that it has been believed for so long tends strongly to perpetuate it. Universal adherence to error throws up an almost impenetrable barrier against light and truth when they are offered. Moreover, universal adherence to error presents an almost overwhelming restraint to the person who would defect and stand alone against the masses to speak for truth. There is a feeling of safety and assurance in numbers. No one likes to stand alone. It is because of this that, even in the church, universal adherence to error has had an overwhelming tendency to perpetuate itself. Add to this the entrenched ignorance and superstition that truth must expose before it can be received and embraced as truth.

Fifth, a deficient ministry helps to perpetuate ignorance and error among Christians. Ministers are certainly more blameworthy than laypeople for ignorance, superstition, and prejudicial beliefs, because their very calling is to preach and teach the truth to others. But often there is a conceit among ministers that does not exist among laypeople. Because they are ministers, they feel they do not need to be taught, and they resist more firmly than laypeople any idea that they might be in error. A true Christian spirit, and a spirit that would be in accord with their responsibility to preach the truth would, it seems, cause them to hear the arguments and to investigate the question until they might be sure of either the truth or falseness of the original sin dogma. But, sadly, there is generally such a prejudiced opinion and such self-satisfaction that ministers do not investigate, and they continue to perpetuate a false doctrine in the church of Jesus Christ.

59. A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm :”It is regrettable that Martin Luther did not perceive all the errors that existed in the Catholic Church. For he, along with Calvin, still believed in the dogma of original sin, and he, as well as Calvin, still believed that the earth stood still and that the sun went around the earth every 24 hours.

Martin Luther called Copernicus an 'upstart astrologer' and a 'fool who wishes to reverse the entire science of astronomy.' Calvin thundered: 'Who will venture to place the authority of Copernicus above that of the Holy Spirit?' Do not Scriptures say that Joshua commanded the sun and not the earth to stand still? That the sun runs from one end of the heavens to the other?).

So while Martin Luther and Calvin both rejected many of the errors of the Catholic Church, they also both still clung to some of its errors. Why? Because of their ignorance.”

60. A.T. Overstreet, The Gospel Truth : Are Men Born Sinners? 1995 (http://www.gospeltruth.net/menbornsinniers/mbsindex.htm . The doctrine of original sin is false because:

1. It makes sin a misfortune and a calamity rather than a crime.

2. It makes the sinner deserve pity and compassion rather than blame for his sins.

3. It excuses the sinner.

4. It makes God responsible for sin.

5. It dishonors God. It makes him arbitrary, cruel, and unjust.

6. It causes ministers to wink at and excuse sin.

7. It begets complacency and a low standard of religion among Christians.

8. It is a stumbling-block to the unsaved.

9. It makes Jesus a sinner or it must deny his humanity.

10. It contradicts the Bible.

11. It "adds to" and "takes from" the Bible. God warns against this in Deut. 4:2 and Rev. 22:18, 19.

12. It begets false doctrines and false interpretations of the Scriptures.

13. It is ridiculous, absurd, and unreasonable. It contradicts the necessary and irresistible affirmations of every man's consciousness and reason, which is something that no true doctrine of the Word of God could do.

61. Part Four : Inssurmountable Problems of a False Doctrine

. 8. The Great Problem of Original Sin

. 9. Original Sin Makes God Inconsistent and Imperfect

. 11. Can Christians Live Without Sin?

. 12. God Hates False Doctrine

62. Original Sin Explained and Defended : A reply to an Assemblies of God Pastor, http://www.bringyou.to/apologetics/num54.htm

From a FidoNet discussion (Nov 1996 to Jan 1997), an Assemblies of God pastor (Ron Stringfellow) denied Original Sin in a series of posts. In summary, he stated:

"Needless to say I do not hold to this thinking in spite of the obvious dangers from my denominational brethren. Man, however, did not call me to preach, and it is not man that I shall ultimately answer to for the Gospel I preach. We hold this thinking to be a gnostic idea and a severe error, and will endeavor to prove such both by the Scriptures and by reason....this ghastly doctrine was foisted on a gullible and ignorant church, brought into being through the teaching of Augustine of Hippo....making it church doctrine and thus wedding a heathen concept to Christian doctrine....I for one cannot accuse God of this doctrine and I hold this to be akin to blasphemy."

This is part of a reply I gave to him. I cover the definition of Original Sin, the major biblical texts, the relevant Church Fathers, and a couple of his objections to the doctrine. Below are the sections linked in this article:

Definition of Original Sin

Bible on Original Sin

Fathers on Original Sin

Objections to Original Sin

63 (http://www.allabiutcreation.org/original-sin.htm : “Original Sin” and its relation to evolutionary theory was discussed by an outspoken evolutionist, Richard Bozarth, in the American Atheist magazine. The following excerpts come from “The Meaning of Evolution” (September 1979, p. 30):

"Christianity is - must be! - totally committed to the special creation as described in Genesis, and Christianity must fight with its full might against the theory of evolution. And here is why.

In Romans 5:12, we read that “sin entered the world through one man, and through sin - death, and thus death has spread through the whole human race because everyone has sinned.”

The whole justification of Jesus' life and death is predicated on the existence of Adam and the forbidden fruit he and Eve ate. Without the original sin, who needs to be redeemed? Without Adam's fall into a life of constant sin terminated by death, what purpose is there to Christianity? None.

Even a high school student knows enough about evolution to know that nowhere in the evolutionary description of our origins does there appear an Adam or an Eve or an Eden or a forbidden fruit. Evolution means a development from one form to the next to meet the ever-changing challenges from an ever-changing nature. There is no fall from a previous state of sublime perfection.

Without Adam, without the original sin, Jesus Christ is reduced to a man with a

mission on a wrong planet!"

64. Matthew Avery Sutton, Aimee Semple McPherson and the Resurrection of Christian America,Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts, London, England, 2007, pp. 267-280 :”…The most recent major work to reduce the evangelist to a caricature of hypocrisy and sexuality is Mick Farren ‘s book Jim Morrison’s Adventures in the Afterlife (1999)…….. His work presents McPherson as a complex, sex-crazed woman…….”

65. AAUP»Publications & Research»Academe»2002 Issues»September-October 2002»Nota Bene»Accreditor Rejects Evangelical College

“Patrick Henry College in Virginia was denied preaccreditation (the step preceding full accreditation) in April by the American Academy for Liberal Education (AALE), a national organization approved by the U.S. Department of Education to accredit liberal arts institutions and degree programs. Because the college requires faculty to affirm a Statement of Biblical Worldview, it fails to meet an accreditation standard stipulating that “[l]iberty of thought and freedom of speech are supported and protected,” AALE’s rejection letter said. In addition, Patrick Henry College’s requirement that biology professors teach that God created the world in six twenty-four-hour days “appears to restrict curriculum content and teaching to a degree that inhibits the acquisition of basic knowledge.”

66. Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm : Kinh Sách Công Giáo Và Tác Hại Của Nó, http://sachhiem,net

67. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, p.265-266 ) “ Here St Augustine’s doctrine foud its vindication – uncivilized humans were prey to the worst desires and basest instints; they must be civilized or destroyed “.

68. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.258

69. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006, pp.258-260

70 . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,pp. 260-263

71. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.266

72. Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p.264 :” with perfect right the Spaniards rule over these barbarians of the New World and the adjacent islands, who, in wisdom, intelligence, vortue and thequalities of civilization are as inferior to Spaniards as infants to adults and women to men. There is as much difference between them as there is between cruel, wild peoples and the the most merciful of peoples, between the most monstrously intemperate peoples and those who are temperate and moderate in their pleasures, that is, to say, between apes and men “

73. . Roger Osborne, Civilization : Anew History of The Western World, Pegasus Books, New York, 2006,p. 278 “ Every stroke brought away a strip of skin, which clung to the lash, or fell quivering on the pavement while the blood follwed after it… This was in a public and regularly organised prison; the punishment was one recognized and authorized by the law. But you think the poor wretch had committed a heinous offence….? Not at all. She was brought by her master to be whipped by the common executioner, without trial, judge or jury, just at his beck or nod, for some real or supposed offence, or to gratify his own whim or malice. And he may brng her day after day, without cause assigned, and inflict ay number of lashes he pleases… provided only he pays the fee.”

74. Charlie Nguyễn, Công Giáo Bên Bờ Vực Thẳm : Công Giáo Và Thánh Tử Đạo, http://sachhiem.net


 

Các bài viết của Mục Đồng

Câu chuyện “vô luân” về cái chết “dại” (Mục Đồng)
Không Thể Không Nói về “Không Thể Không Nói” (Mục Đồng)
Nhà Đại Truyền Giáo Ki tô: Pat Robertson “Bị Chúa Trác” (Mục Đồng)
Những Con Ếch Ngồi Đáy Giếng (Mục Đồng)
Những Kẻ Gian (Mục Đồng)
Pat Robertson “Bị Chúa Trác” (Mục Đồng)
Phụ đạo các thầy (Mục Đồng)
Sao Giáng Sinh - Chúa giáng sinh vào ngày 17/6 (Minh Long) -VietNamNet
Tại Sao Cổ Xúy Cho Côn Đồ ? (Mục Đồng)
Tội Tổ Tông Đích Thực của Người Ki Tô Giáo VN (Mục Đồng)
Xin Đừng Ảo Tưởng! (Mục Đồng)

Trang Tôn Giáo