●   Bản rời    

Cải Đạo … Theo Phật, Sao Lại Không?

Cải Đạo … Theo Phật, Sao Lại Không?

Thiên Lôi

http://sachhiem.net/THLOI/TG/ThienLoi009.php

25-Jan-2012

LTS: Nêu ra việc "cải đạo ngược lại" lúc này đã là quá trễ, nhưng thà trễ còn hơn không. Đành rằng các Phật tử tin vào chữ Duyên, nhưng một con nai đứng giữa đoàn sói, thì không thể chờ "duyên lành" đến cho đoàn sói tự động rút lui dành đường an toàn cho nai đi. Quí vị nên hiểu cho rằng, việc truyền giáo của những người theo đạo Chúa nói chung, Tin lành, nói riêng, là sứ mạng chính yếu, là điều kiện phát triển trong giáo hội của họ. Bất cứ nơi nào có nhà thờ, là ở đó thành lập ngay đội binh truyền giáo, gửi sinh viên học sinh và những người tình nguyện đi khắp thế giới nếu có thể, để "rao giảng tin mừng" (!) kèm theo những món dụ khị như cứu trợ, xây cầu, đắp đường, nhà trẻ,... kể cả tài chánh, chức vị, hứa hẹn được này được nọ,... Những "nhà truyền giáo này đều được tài trợ, phụ cấp, giúp đỡ từ các nhà thờ gốc. Do đó, "duyên lành" cho các tôn giáo truyền thống được phát triển thật vô vọng, như chờ sao xuất hiện giữa ban ngày.

Nhưng chúng ta có thể tự tạo ra "Duyên lành". Sau đây là một ý kiến nhỏ của chúng tôi. Thật ra, không cần chúng ta phải nỗ lực như họ, vì ta không có hệ thống tổ chức giàu có như họ, nhưng nếu biết lợi dụng những gì họ có sẵn, chúng ta có thể làm được việc của chúng ta. Ngay từ bây giờ, chúng ta nên đọc thật nhiều những bài viết nào mang lại kiến thức về triết lý Đông phương, đọc thật nhiều các bài về tôn giáo của tác giả Trần Chung Ngọc để biết rõ những lập luận cần thiết. Sau đó, sẽ "xông trận" như sau:

Khi gặp bất cứ những người truyền giáo đạo Chúa, chúng ta cứ ân cần mời vào nhà, và đặt điều kiện trước khi cho họ phát thanh: Xin anh/chị, hay ông /bà cho chúng tôi đối thoại công bằng, nghĩa là ông nói 5 phút, thì phải ngưng, và cho tôi nói phần của tôi, hoặc phản biện lại. Ngày nay không xong thì hẹn ngày khác. Chúng tôi chắc chắn những người con Chúa này sẽ ngộ được "Duyên lành" từ chúng ta. Mong các bạn đọc thí nghiệm thử xem, và chúc thành công. (SH)


 

I. Bối Cảnh:

Gần đây trên các trang mạng, nhất là các trang Phật giáo luôn xôn xao về những tin cải đạo, thường là cảnh cáo về những hoạt động gia tăng truyền giáo Ki-tô vào Việt Nam gần đây đầy bất chính xảo quyệt của những nhóm truyền đạo Ca-tô Rô-ma và Tin Lành có tổ chức chỉ đạo từ bên ngoài dựa vào chính sách mới cỡi mở tự do tôn giáo của Nhà Nước.

Ngôn từ Việt đã biến chuyển theo thời gian và lịch sử nên từ “Cải Đạo” thường làm cho người đọc hiểu như là sự thay đổi tôn giáo một chiều từ tín ngưỡng truyền thống sang đạo Ki-tô, chứ không ngược lại để gọi một tín đồ Ki-tô quay lại đạo Phật. Vì sao? Có lẽ kể từ ngày mấy cố đạo tây phương dựa dẫm vào súng đạn của các thế lực thực dân o ép dân bản địa “cải đạo” … để có gạo mà ăn.

Khi chiếm đóng được nước ta thì cả một hệ thống cai trị liền cưỡng bức người dân Cải đạo theo bài bản đã vạch từ Vatican từ lâu với hiệu lệnh “thập giá và lưỡi gươm”. Dần dà họ đã thiết lập được một tổ chức giáo hội địa phương làm tay sai cho Vatican, xác thì ở đất Việt mà linh hồn thì đã bán cho bạch quỉ ở phương tây, nhằm khuynh loát lãnh đạo để bành trướng quyền lực của mình.

Đất nước bị thực dân Pháp đô hộ gần 100 năm nhờ công lao không nhỏ của đám bản địa làm tay sai này và thêm 20 năm dưới các chế độ Ca-tô do Mỹ bảo hộ ở miền Nam đã chứng minh điều đó. Bây giờ người ta đã vội quên những nổi thống khổ cùng cực của người dân nô lệ dưới gót giày thực dân và đạo phiệt Vatican trong các giai đoạn đó do những bộ máy tuyên truyền đồ sộ của ngoại bang cố xóa nhòa và đám tay sai tìm cách chạy tội ho chúng, lại còn đòi vinh danh các tên phản quốc.

Đã không biết hối lỗi, Vatican còn bồi thêm một sự lăng nhục quốc sử ta là đã phong thánh tử đạo cho 118 kẻ tội đồ dân tộc bị triều đình xử tử, hòng khích lệ cho đám tay sai tiếp tục đi vào con đường phản quốc. Cũng vậy, trong lúc nhân dân Việt vui mừng khôn xiết khi chế độ Ca-tô độc tài gia đình trị họ Ngô bị lật đổ trong Nam thì trong một góc âm u nào của các Nhà thờ trong và ngoài nước, giáo dân lại thương khóc tưởng niệm hằng năm; trong lúc Đất nước đã hoàn toàn thống nhất và được giải phóng khỏi những kềm kẹp của ngoại bang thì con chiên ở trong nước dưới sự dẫn dắt của các chủ chăn tụ tập gây rối đòi đất ăn cướp lại cho Vatican. Ở hải ngoại cũng thế, dưới ảnh hưởng của các thế lực đen các xóm đạo lưu vong tha phương cầu thực vẫn tiếp tục vọng ngoại để không ngừng chống phá tổ quốc.  

Tại sao trên đời lại tồn tại một loại đạo lý như vậy? Ngẫm đáng tiếc cho vua Lê Chiêu Thống chỉ vì cầu viện ở một nơi không đúng chỗ nên mang nổi nhục đời đời trong lịch sử, chứ nếu được bọn cố đạo xúi giục ôm chân Vatican thì có thể nay đã thành bậc đại thánh để bọn tay sai bản địa tôn thờ trong thánh đường rồi. Hoặc nếu Vatican thành công trong việc cải đạo toàn cõi Việt Nam thì ngày nay chắc chẳng còn ai biết đến quốc tổ Hùng Vương, ngoài đường sẽ đầy các tượng thánh phản quốc, nhà thờ sẽ mọc lên như nấm và quạ đen sẽ bay đầy trời Nam …

Rõ ràng là tâm tình và quyền lợi của đám tay sai này luôn hoàn toàn đối nghịch với lợi ích quốc gia và không thể hòa đồng vào với văn hóa dân tộc được kể từ ngày cái đạo ngoại lai này nẩy mầm trên đất nước Việt cách đây khoảng 4, 5 trăm năm. Vậy mà luôn có những kẻ chăn chiên than khóc rằng bầy cừu An-nam bị lạc loài ngay trên chính quê hương mình. Thật là một câu nói ngây ngô buồn cười. Bọn họ không hề tự hỏi một khi mắc phải sinh tử phù do Vatican cấy vào thì đám con chiên đã trở thành phi dân tộc, rồi chỉ một bước ngắn là biến thành phản dân tộc suốt đời.

II. Bọn Cố Đạo Gian Manh:

Với những tên cố đạo gian manh vô đạo đức chuyên làm nghề mật thám ngay từ các thế kỷ 16, 17, đơn cử như Alexandre de Rhodes hoặc Vicário Apôstólico và Vicário Provinciale đã không đem đến cho nhân dân ta “tin mừng” mà toàn là “tin buồn hay thảm họa” giống như Chúa cha Chúa con của họ đã từng dạy trong Thánh Kinh.

Ta cứ thử đọc lại vài trích đoạn trong dấu [ ] dưới đây trong cuốn ‘Phép giảng tám ngày’ của Alexandre de Rhodes để thấy sự vô lễ xấc xược của y đối với nền văn hóa tín ngưỡng tam giáo của nước ta mà còn thấy rõ sự dốt nát của tên cố đạo lếu láo này, ấy vậy mà cũng đã có khối tên tay sai Vatican xì xụp ca tụng đòi nâng họ lên hàng thánh, đòi đặt tên đường tri ân:

[Bởi tam giáo này, như bởi nguồn dục, có ra nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thể có chém cây nào đúc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.] (1)

Hoặc trong ‘Những thư chọn trong các thư chung’ của hai tên cố đạo khác kể trên chủ yếu bắt con chiên tân tòng không được làm ma chay cho cha mẹ quá vãng, không được thờ cúng tổ tiên, phải sống cách ly trong những làng đạo, xóm đạo và không được chung chạ với dân tộc (An-nam) trong các dịp hội hè đình đám giổ chạp. (2)

Với tâm cảnh kỳ thị chủng tộc đầy nham hiễm và các lời dạy bệnh hoạn như thế thì không trách gì bọn cải đạo tay sai Vatican đã không khỏi vong thân theo quỉ, trở mặt tiếp tay với giặc để giày xéo quê cha đất tổ, chế nhạo tiền nhân, phĩ báng phong tục tập quán nhiều đời, và đày đọa dân tộc trong một thời gian khá dài cho đến năm 1975.

Sử Việt vẫn còn ghi đậm nét những việc làm phản quốc nhiều đời của bọn tay sai bản đia này. Họ đã từng tiếp tay cho giặc để từng bước xâm lược toàn bộ đất nước; như năm 1858 Nguyễn Trường Tộ theo hầu cố đạo Pellerin xúi tây đánh chiếm Đà Nẵng, năm 1859 Petrus Ký dẫn đường cho  quân Pháp chiếm thành Gia Định, năm 1867 giặc chiếm toàn bộ nam kỳ lục tỉnh. Năm 1861 có tên giáo dân Tạ văn Phụng mà sử gọi là Giặc tên Phụng cùng đồ đảng theo tướng Charner đánh phá Quảng Nam và về sau được bọn cố đạo xúi giục làm loạn ở Bắc kỳ mạo xưng là Lê duy Minh dòng dõi nhà Lê để phục hung, nhưng bọn này đều bị quan quân triều đình dưới quyền thống lĩnh của quân-vụ đại-thần Nguyễn tri Phương tiêu diệt vào năm 1865.

Chúng vẫn tiếp tục tiếp tay với giặc nên năm 1873 quân xâm lược Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, dẫn đến hòa ước Giáp tuất 1874. Nguyễn Trường Tộ báy giờ đã theo hầu cố đạo Gauthier hô hào các làng đạo tổ chức các đội thân binh võ trang với vũ khí của Pháp tiếp viện, rồi kéo quân đi tiêu diệt các làng bên lương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Vì chuyện này nên năm 1874 ở đất Nghệ An có hai người tú tài là Trần Tấn và Đặng Như Mai tụ hội tất cả văn thân, sĩ phu trong vùng viết lên bài hịch “Bình Tây Sát Tả” tạo nên Phong trào Văn Thân. Hịch viết dù triều đình hòa với tây nhưng sĩ phu nước Nam không phục, nên trước hết phải giết bọn giáo dân Việt gian, sau mới đánh đuổi được quân xâm lược Pháp. Tiếc thay Phong trào Văn Thân chỉ keo dài được 4 tháng thì bị quân Pháp và bọn tay sai triệt hạ tàn bạo; và năm 1881 thì chúng chiếm toàn bộ đất bắc, và việc cải đạo đã tiến hành ồ ạt nên đã nâng con số giáo dân gia tăng nhanh chóng.

Sau khi vua Tự Đức băng hà vào năm 1883 thì liền năm sau 1884, Pháp đặt nền bảo hộ lên đất nước ta với hòa ước Patenotre và chia cắt làm 3 kỳ khởi đầu cho thời kỳ gọi là “vong quốc sử” và từ đấy bọn phản quốc được cơ hội nối nhau nhiều thế hệ làm tay sai cho ngoại bang tung hoành ngang dọc giày xéo quê hương, làm nhục tổ quốc và đày đọa dân tộc cho đến năm 1975. [Đọc thêm: “Vì sao đám dân Chúa …” ở http://sachhiem.net/THLOI/CT/ThienLoi1.php]

Vào giai đoạn mất nước ấy, nhất là sau khi phong trào Văn Thân và Cần Vương bị thất bại thì ngoài số dân chúng nghèo đói thất học bị cải đạo hay theo đạo để sống còn, lại có những bọn hoạt đầu tuy thiểu số nhưng hăng say nhất trong việc làm tay sai cho Vatican mong được vinh thân phì gia; còn phải kể đến nhiều nhà cách mạng hay các bậc trí thức khác trong nỗi tuyệt vọng có thể đã hoang tưởng rằng cải đạo theo tây phương tức là chạy theo nền văn minh kỷ thuật để hy vọng giành lại được nền độc lập của đất nước từ bọn thực dân.

Vì hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, sự hiểu biết về thế giới còn quá hạn hẹp nên cha ông ta đã ngây thơ rơi vào những cạm bẩy do bọn tây phương giăng ra mà mắc phải quá nhiều lổi lầm để di họa cho con cháu về sau kể từ thời Trịnh Nguyễn, đến Nguyễn Ánh và mãi vế sau với Bảo Đại, Cường Để vv...

Họ đã làm sao biết được những nước nhược tiểu như Phi-Luật-Tân, và các nước Nam Mỹ, châu Phi một khi rơi vào vòng kim cô của Ca-tô Rô-ma giáo là không thể nào thoát ra khỏi tình trạng nghèo khổ lạc hậu triền miên; thân phận dân tộc họ bị lăng nhục xuống hàng súc vật biến thành một bầy chiên mất cả trí tuệ, không còn khả năng tự lực tự cường.

Trong lúc ấy những nhà lãnh đạo của Nhật và Trung Quốc sáng suốt và dứt khoác nên tránh cho dân tộc họ hiễm họa chia rẽ nội trùng này. May mắn thay cho 2 nước này là nhờ không có “con ma thánh Chúa nằm phủ lên” mà ngày nay càng phú cường hùng mạnh. Còn Việt Nam thì dù đã giành được độc lập nhưng Nhà Nước vẫn còn lúng túng chưa có một chính sách dứt khoác nào nhằm giải quyết mối chia rẻ dân tộc bắt nguồn từ cái đạo ngoại lai này.

Ngày nay việc cải đạo vẫn được các thế lực tây phương tiến hành liên tục với nhiều mặt như chính trị, kinh tế, kỷ thuật, truyền thông vv... với những đám tay sai mới mang chiêu bài mới “toàn cầu hóa dân chủ, nhân quyền” mà vẫn không che giấu được tham vọng nham hiểm là khống chế cả nhân loại dưới văn hóa tín ngưỡng và sức mạnh quân sự của mình.

III. Hồn Nước:

Nay lắng lòng suy xét lại lịch sử thì phải thừa nhận công lao to lớn của Đảng Cộng Sản dưới sự chỉ đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quần chúng đánh đuổi được quân thù Pháp Mỹ ra khỏi đất nước để giành lại được độc lập cho dân tộc. Đảng CSVN đã biết vận dụng thời cơ để tranh thủ được sức mạnh của phong trào Cộng sản thế giới đang lớn mạnh mà tiến hành thành công các cuộc kháng chiến chống lại quân cướp nước hùng mạnh gấp vạn lần; trong khi các đảng phái khác cứ mãi loanh quanh thất bại với nhiếu sách lược từ hòa hoãn đến hợp tác với địch.

Thành quả vĩ đại này dĩ nhiên sẽ được sử sách ghi những nét son vàng sánh cùng Trưng Vương, Lý Nam Đế, Lê Lợi, Nguyễn Huệ vv…

Người dân cũng sẽ tự hỏi cái gì đã tạo nên sức mạnh vô song của dân tộc để một khi được vận động đúng cách thì sẽ trở thành trận cuồng phong phi thường quét sạch bọn cướp nước? Xin thưa đó là hồn nước lưu truyền qua nhiều thế hệ dân Việt hơn bốn ngàn năm văn hiến. Chính nhờ nó mà tổ tiên ta đã đánh đuổi được biết bao mưu toan cướp nước của mọi loại quân thù. 

Hồn nước là gì? là một thứ tình cảm thiêng liêng khó định hình đã quyện lẫn trong xác thịt của con dân, trong tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào, trong non song cẫm tú của quê hương đất nước.

Nếu bất chợt bị hỏi định nghĩa một cách cụ thể về “hồn nước” thì khó có ai có thể nói cho rành rọt dù vẫn cảm nhận được nó vấn vương lãng đảng trong đời sống hàng ngày ở quê hương, và lộ rõ hơn vào những ngày tết, dịp lễ hội lớn của dân gian.

Nó có thể là tình cảm ghi nhớ công ơn tiền nhân, thờ cúng bụt thần tổ tiên, tinh thần bảo bọc “đồng bào”, là đụn rơm, mái rạ, là những con cò trắng bay trên cánh đồng lúa thơm biên biếc, là mái chùa đền miếu với hương khói tản mác trong không gian bàng bạc, là tiếng hồng chung thu không vang vọng ngân nga, là lũy tre xanh ôm ấp cây đa với những giòng sông uốn khúc thanh bình, là những đứa bé chăn trâu nghêu ngao trên bờ đê, là mùi khói đốt đồng, là những chiếc cầu tre khấp khỉu, là màu khói lam chiều trên buôn bản lưng chừng dãy núi, là  những thành quách cũ đượm màu rêu phong quá khứ, là mùi cốm thơm, là hương sen trên đầm, là những nét nhăn trên mặt mẹ già tần tảo, những giọt mồ hôi trên trán của cha ngoài đồng áng, là món ăn thức uống đặc thù đã nuôi lớn bao nhiêu thế hệ, là những vần thơ Kiều lục bát, là những câu ca dao ý nhị, là những giọng hò trên sông vắng, là lời ru ầu ơ của mẹ đưa con vào những giấc ngủ êm đềm, là chén nước chè hay miếng cau trầu ở quán cốc đầu làng, là những câu hỏi han nồng ấm của bà con lối xóm …

Làm sao mà nắm bắt được những điều mà ngưới ta chỉ cảm nhận khi được thực sống trong nó để rồi còn lưu luyến mãi trong nổi nhớ khi rời xa. Những vật thể văn hóa ấy có thể theo thời gian mà biến đổi nhưng không mất hẳn trong tâm thức dân tộc. Đó là điều bất khả thuyết diệu vợi mà chỉ có người cùng giòng giống, gọi là đồng bào mới san xẻ được.

Gần đây, bài hát Quê Hương, do cố nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ thơ của Đỗ Trung Quân đã làm thổn thức bao nhiêu trái tim Việt trong và ngoài nước bởi nếu ai hỏi “quê hương là gì hở mẹ?” thì câu trả lời   chỉ là những điều đơn giản có thể diễn tả bằng những lời thơ mộc mạc nhưng tình cảm, nổi niềm yêu quê hương yêu dân tộc thì nặng sâu và man mác vô ngần….

Quê hương là chùm khế ngọt

Cho con trèo hái mỗi ngày

Quê hương là đường đi học

Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

...

Quê hương là đêm trăng tỏ

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

(Quê hương là vàng hoa bí

Là hồng tím giậu mồng tơi

Là đỏ đôi bờ dâm bụt

Màu hoa sen trắng tinh khôi)

Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nỗi thành người

...

Hinh như dân tộc ta luôn muốn lưu giữ những chân tình gắn bó đơn thuần giản dị ấy dù phải sống trong cảnh thiếu thốn vật chất, nhưng nền độc lập và vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc là điều tối thượng bất khả xâm phạm, chứ không muốn đánh đổi cho những thứ dụ dỗ dư dật mà vô hồn để rơi vào vòng lệ thuộc ngoại bang. Có đồng tiền nào đã có được tất cả?

Dĩ nhiên hồn nước Việt không giống hồn nước Pháp hay Mỹ và lại càng không thể nào đồng hóa với hồn nước Vatican được. 

Có người bảo cứ mỗi độ tết đến ở xứ người thì càng thấm thía nổi buồn ly hương. Cũng áo dài khăn đóng, cũng tụ họp ở một hội trường ăn uống bánh chưng bánh tét ê hề, cũng ca hát, chúc tụng … nhưng sao vẫn thấy nó lai căng xa lạ và thiếu thốn một cái gì khó tả quá không như ở quê nhà. Đến bây giờ dù đã đạt được những thứ mà bấy lâu ở quê nhà thèm khát, nhà cao cửa rộng, xe cộ dập dìu, áo xống xênh xang, thực phẩm thừa mứa nay mới thấy chỉ là phần vật chất phù du, vẫn thiếu cái phần tinh thần, phần hồn thấm đẳm thì cuộc sống chưa hẳn đã hạnh phúc… ở thiên đường. Đó cũng là lý do vì sao càng ngày càng có nhiều người Việt xa xứ luôn tìm dịp để về thăm đất nước quê hương để làm tươi nhuận lại phần hồn kia.

Bọn ngoại lai cướp nước luôn âm mưu chặt đứt những sợi dây vô hình ấy vốn là giềng mối đoàn kết dân tộc bằng bã mồi vật chất hay gây chia rẽ với một tôn giáo xa lạ dưới chiêu bài tự do tôn giáo (chỉ áp dụng cho những nước nhược tiểu mà thôi), để tàn phá nền văn hóa tín ngưỡng lâu đời của cha ông ta.

IV. Mái Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc:

Đạo Phật từ ngày du nhập êm ả vào Việt Nam hơn hai ngàn năm luôn gắn bó cùng dân tộc trong mọi tình huống thăng trầm vinh nhục, và chưa một lần nối giáo cho giặc ngoại xâm. Có những triều đại vinh hiển mà vua quan đều lấy điều nhân nghĩa, từ bi, trí tuệ của đạo Phật để trị nước làm cho quốc thái dân an, binh cường tướng mạnh.

Ở thời hiện đại, một đại lão hòa thượng suốt đời chỉ lo việc giáo dục đạo đời đã không dạy chúng những điều uyên áo thoát trần mà giản dị nghiêm huấn về tứ trọng ân thực dụng trong đời sống hằng ngày: ơn cha mẹ, ơn quốc gia, ơn chúng sinh và ơn tam bảo. Phật giáo không hề dạy tín đồ tri ân một hình tướng thần quyền hảo huyền xa vời nào hay phục vụ cho một giáo quyền ngoại bang nào.

Điều cụ thể nhất Ngài dạy là đạo Phật là đạo làm người, và Phật Giáo Việt Nam là đạo làm người Việt Nam tốt nhất. Như thế tu tập theo đạo Phật là bồi dưỡng tâm đạo làm người, kiện toàn tự thân, sống đời an lạc để rồi giúp người giúp đời. Giáo pháp ấy có gì đâu mà khó hiểu.

Vì thế trong thế trận toàn cầu hóa ta phải luôn tỉnh táo phân tích những chiêu bài những sách lược của ngoại bang, mới nghe qua thì có vẻ rất êm tai đầy quyến rũ như “tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo”, nhưng hãy quan sát cục diện thế giới xem có đúng như là bọn tây phương thực tâm tin vào những lời hoa mỹ ấy hay chúng chỉ là tấm bình phong che đậy những mưu toan “nô lệ hóa” toàn cầu?

 

Quyền lực tây phương hiện nay nằm trong tay của một nhóm nhỏ tài phiệt có cùng gốc gác tín ngưỡng lâu đởi nên sách lược toàn cầu của họ chỉ thiên vị và bảo vệ quyền lợi của nhóm này mà thôi, và cố tiêu diệt cho kỳ được những nền văn hóa khác giống như thời của những đế quốc tây phương trước đây. Ngay cả ảnh hưởng của Vatican ngày nay còn bị khống chế vì đã bị lật ngược.

 

V. Phải Tiến Hành Cải Đạo Những Người Con Lãng Tử:

Với dân trí Việt ngày nay thì không còn mấy ai tin vào những lời kêu gọi hoa mỹ kia của bọn tây phương xảo tra và các chiêu bài rởm đã mất đi phần hấp dẫn.

Ngày nay dân chúng tây phương đã đang tìm cách tránh xa đạo Ki-tô đầy hoang tưởng. Các thập niên gần đây đã có khá nhiều giáo dân Ki-tô phản tỉnh, gắn bó nhiều hơn với đất nước và góp phần làm cho nước nhà ngày càng thêm thịnh vượng và văn minh.

Con cái của các tín hữu

Tin Lành đi truyền đạo

Đã qua một thời có những đứa con lãng tử khinh chê cha mẹ nghèo hèn để chạy theo bọn xâm lược, đạp đổ bàn thờ tổ tiên mong được ban cho ít cơm thừa canh cặn. Nay đất nước đã được phát triễn phồn thịnh và giàu đẹp đã làm cho những đứa con kia không khỏi hối hận dày vò mong được quay về trong vòng tay cao thượng của mẹ của cha. Dân tộc ta và nhất là Phật tử nên mở rộng vòng tay từ bi cứu độ giúp họ có nơi nương tựa.

Người Phật tử không cớ gì cứ phải âu lo đến việc cải đạo Ki-tô của đám truyền giáo chuyên nghiệp vì đó là công ăn việc làm của họ để kiếm sống qua ngày, mà nên lập thế chủ động trong việc cải đạo họ để trở về với đạo Phật truyền thống. Hàng ngủ tăng ni trẻ đầy năng động nên luôn chấn chỉnh hạnh nguyện làm trang nghiêm giáo hội bằng chính thân giáo chân chính của mình rồi mang ảnh hưởng ấy lan rộng khắp hang cùng ngỏ hẽm để mưa pháp được thấm nhuần mọi nơi.

Thời đại này là thời đại đất nước đã được hoàn toàn thống nhất, độc lập và không ngừng phát triển từng ngày về mọi mặt làm cho mọi người đều hãnh diện là người Việt. Bổn phận của mọi con dân là hãy chung tay vun bồi cho sự đoàn kết dân tộc thêm keo sơn, làm cho đất nước càng giàu đẹp hùng cường hơn. Nếu người Phật tử hay bảo “đạo Phật luôn đồng hành hay gắng bó cùng dân tộc” thì không có thời cơ nào thuận lợi bằng lúc này. Hãy tăng trưởng “đạo làm người” và nhất là “đạo làm người Việt Nam”, đồng thời làm hết sức mình và vận dụng mọi cách mọi phương tiện để kêu gọi những con chiên lạc đàn thức tỉnh mà biết đâu là quê nhà để sớm quay về.

 

Làm như thế không những là lợi mình lợi người mà vun bồi cho sự trường tồn của nền độc lập xứ sở. Nhà Nước tự chủ đã luôn cảnh giác với những âm mưu quay lại của các tập đoàn đạo đời phi dân tộc, thì chúng ta nên tiếp tay trong sự nghiệp chung; bởi nếu không thì một khi số dân cải đạo theo Ki-tô càng cao thì với tiền rừng bạc biển của ngoại bang, trò chơi đầu phiếu chỉ là trò chơi hợp thức hóa sự lệ thuộc ngoại bang của đất nước mà thôi.

Mọi người dân, mọi Phật tử nên nổ lực đóng góp vào việc cải đạo phi dân tộc để những đứa con lạc loài có thể trở về với đạo dân tộc tức là giúp họ đáo bĩ ngạn. Quay đầu lại là bờ!

 

Thiên Lôi

Tết Nhâm Thìn – 2012.

 

Ghi chú:

(1) ‘Phép giảng tám ngày’ của Alexandre de Rhodes đã viết:

[Lộn lạo tiếng nói đoạn, thì mới ra nước Đại Minh, mà Annam thì chịu đạo bởi nước ấy. … Đàng thứ nhất là đàng về kẻ hay chữ, gọi là đạo Nho. Đàng thứ hai là đàng kẻ thờ quỷ, ma làm việc dối, gọi là đạo Đạo. Đàng thứ ba là đàng kẻ thờ bụt, gọi là đạo Bụt.

….

Vì vậy giáo bụt thì có hai đàng: một là gọi giáo ngoài, mà dạy người ta thờ bụt, dối vậy, hay bày đặt những truyện giả kể chẳng xiết, xiêu dối thế gian mà lòng về thờ bụt, cho nên phạm tội vô hồi vô số. Lại có giáo khác, gọi là đạo trong, càng dối nữa rằng chẳng có Chúa nào hóa ra thế giới này, mà làm vậy thì mở đàng cho người ta phạm mọi tội dầu lòng. Cho nên ai phải đạo bụt trong độc ấy, thì quỷ quái hơn kẻ theo đạo ngoài vậy. Vì vậy ông Khổng Tử, là kẻ Đại Minh lấy làm thầy nhất, trong sách thì gọi đạo bụt những đạo rợ mọi vậy.

Cũng có kẻ thờ bụt, mà bày đặt đứa nào dối, tên là Bàn Cổ, khiến đã làm nên trời đất, song le chẳng có thờ Bàn Cổ ấy sốt, cùng chẳng có làm chùa nào cho nó, một làm chùa thờ Thích Ca, là đứa gian vậy.

Giáo thứ hai ở trong nước Ngô bởi Lão Tử nào mà ra. Kẻ theo giáo này, thì lấy Lão Tử làm nên trời đất, dẫu trong sách Đại minh đã tỏ tường rằng mấy nghìn năm trời đất đã trước. Giáo này thì thờ ma quỷ mà làm những phép giả, cùng chẳng có thờ Lão Tử ấy sốt, nhưng ở tối tăm mù mịt vậy. Có một câu lấy bởi Lão Tử mà thôi, rằng: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Ví bằng có ai hỏi đạo ấy, hay là đàng, bởi đâu mà có? Nó thì thưa rằng: hư vô tự nhiên chi đại đạo. Mà mọi sự hóa ra thể nào, thì chẳng biết đí gì nữa. Vậy thì lấy hư vô, là không, mà chẳng có, làm căn nguyên hóa nên mọi sự: lạ đời, không, hay là chẳng có, mà làm nên được đí gì cho có ru? Ấy vậy mà vì chẳng biết thật Chúa cả làm nên mọi sự, mà thờ, thì thờ quỷ, và trở những phép giả đã khê lê, cho nên ma quỷ dối được nó vậy.

Trong Đại Minh còn giáo thứ ba, gọi là đạo Nho, những kẻ hay chữ thì theo đấy, mà thờ ông Khổng, vì ông ấy bày chữ ra mà lại dạy lề luật sửa nước Đại Minh. Nhân vì sự ấy trong Đại Minh thì lấy thờ ông Khổng làm nhất, mà gọi Thánh hiền, là thánh và hiền nhất vậy. Song le nói thể ấy chẳng phải lẽ đâu, vì chưng hay là ông Khổng Tử ấy biết Đức Chúa cả làm nên mọi sự, là cội rễ mọi sự thành, mọi sự lành, hay là chẳng biết.

Bởi tam giáo này, như bởi nguồn dục, có ra nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thể có chém cây nào đúc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cùng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.

Sao người Annam mọi năm mọi có giữ ngày cha mẹ, ông bà, ông vải sinh thì, mà làm giỗ chạp hết sức? Sao tốn của bấy nhiêu mà làm cỗ làm mâm, cùng nhiều sự nữa có dọn cho cha mẹ khi đã sinh thì? Vì chưng nếu linh hồn chết với xác, lo cho kẻ chết chẳng có làm chi.]

 (2) Cuốn "Những thư chọn trong các thư chung các Đấng Vicário Apôstólico và Vicário Provinciale về giòng Thánh Domingo đã làm từ 1859" - Xuất bản tại Kẻ Sặt 1903, đã viết:

"Ta truyền cho bổn đạo phải vâng lời như sau:

1. Đức thánh Pha Pha (có lẽ là Jehovah) phán rằng mọi sự kẻ vô đạo quen làm mà thờ kẻ chết, thì ta phải kể là sự dối trá hay là có lí mạnh mà hồ nghi có phải là sự dối trá chăng, cho nên chẳng có lã nào bổn đạo được giữ lễ phép ấy.

2. Khi đã cất xác kẻ có đạo, thì chẳng nên để kẻ vô đạo đến hợp làm một cùng kẻ có đạo, kẻo kẻ ấy ngờ ta thờ kẻ chết có đạo cũng như nó thờ kẻ chết vô đạo vậy.

3. Chẳng có lẽ gì cho bổn đạo được ở làm cùng với kẻ vô đạo ăn uống của lễ nơi mới tế đoạn, dù mà đang khi tế thì dù kẻ có đạo chẳng có mặt ở đấy, hay là kẻ có đạo ăn của chẳng tế mà thôi, thì cũng chẳng nên ở làm một đấy.

...

6. Cấm lạy xác kẻ chết.

7. Cấm xông hương , đốt nến cho kẻ chết.

...

9. Cấm đọc văn tế, cấm mặc áo tang.

...

27. Đang khi người ta làm việc dối trá như khi làm chay, hát, đánh vật, làm trò, thờ thần, kéo hội, v.v... thì bổn đạo chẳng nên xem.

...

33. Bổn đạo chẳng nên bắt chước kẻ vô đạo rẫy mả tháng Chạp hay là cải táng chỗ nọ đem đi chỗ kia,...thì cũng dối.


Các bài về cải đạo

Yêu Chúa "Hết Trí Khôn" (Một Độc Giả)

"Sư cô trụ trì" chùa Quan Âm cải đạo theo Chúa: Bóc trần sự thật (Thích Thanh Thắng)

43 Phương Pháp Cải Đạo (Minh Kiến)

Cải Đạo (SH)

Cải đạo bắt đầu từ trẻ con (Nguyễn Trí Cảm)

Cải đạo á châu ? Một ảo tưởng ! (Trần Chung Ngọc)

Cải Đạo, Sách Lược Thực Dân Mới Mà Cũ (Thiên Lôi)

Cầu Cứu - Bài Góp Ý (Nguyễn Tiến Đạt)

Cầu Cứu - Nỗi Ray Rứt (Ngọc Hân - SH)

Hôn Nhân và Tôn Giáo (Nguyễn Hữu Ba)

Ki tô giáo: Mánh Khóe Mới Nhất Trong Việc Cải Đạo (J. Goonetilleke/Nguyên Tánh dịch)

Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo (BurningCrossNet/ Minh Kiến dịch)

Lửa "Đốt" Dân Tộc Ta (Hồng Ngọc)

Lửa đã cháy ở Mỹ Đình, bao giờ lan đến Quán Sứ? (Minh Thạnh)

Mắt xích cải đạo tu sĩ trong tiến trình cải đạo tín đồ Phật giáo (Minh Thạnh)

Mối Họa Cải Đạo (Trần Chung Ngọc)

Một Cố Gắng Cải Đạo Ly Kỳ (Đào Viên)

Một Giám Mục Viết Về Vấn Nạn Cải Đạo Của Ki-Tô Giáo (Trần Chung Ngọc)

Ngày Tàn của những kẻ Truyền Đạo Cuồng Tín (Minh Kiến)

Những Câu Chuyện Cải Đạo (Võ Ngọc Diệp)

Phản Hồi "Vấn Đề Hôn Nhân Khác Tôn Giáo" của Minh Ngọc (Ki-Tô Hữu Lưu Tèo)

Quí Hồ Tinh Bất Quí Hồ Đa (Lệ Thọ)

THƯ NGỎ: Vận Động Thành Lập Tủ Sách “Chấn Hưng Phật Giáo”

Thử Tìm Hiểu Người Ki-Tô Giáo Và Vấn Nạn Cải Đạo (Trần Chung Ngọc)

Thử Tìm Hiểu Người Ki-Tô Giáo và Vấn Nạn Cải Đạo (Trần Chung Ngọc)

Thực Chất Tin Lành Nam Hàn (Trần Chung Ngọc)

Tiền và việc cải đạo tín đồ Phật giáo (Minh Thạnh)

Trả Lời Thư Bạn Lưu Tèo (Minh Ngọc)

Vài Câu Hỏi Cho Người Đi Truyền Đạo Chúa (Một Độc Giả)

Vì Chúng Sinh - Chống Cải Đạo (Nguyễn văn Phụng)

Vì Chúng Sinh - Ngăn Ngừa Việc Cải Đạo (Nguyễn Văn Phụng)

Đôi Lời Chia Sẻ Về Vấn Đề Hôn Nhân Khác Tôn Giáo (Minh Ngọc)

“Lập lờ đánh lận”… ông trời! (Minh Thạnh)