Chiêu Trò Thuật Ngữ của Vatican Và “Lằn Ranh Quốc Cộng”

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ50.php

13-Nov-2014

LTS: Để phục vụ cho mục đích bá quyền, các cường quốc cố gắng sở hữu các nhà khoa học phát minh ra nhiều loại vũ khí giết người để chiếm đoạt. Cũng có một loại thế lực không cần vũ khí, hay sức mạnh quân đội, nhưng đã có thể điều khiển những thế lực có các sức mạnh vũ khí và quân đội. Đó là loại thế lực mềm, nhưng nguy hiểm hơn cả, là thế lực đen. Họ tạo ra những động lực, những khái niệm trừu tượng làm chiêu bài để vận động số đông hành động cho họ: từ những cụm từ "dị giáo, tà giáo, phù thủy,..." của ngày xưa cho đến những cụm từ "cộng sản, vô thần,..." liên tiếp nhau để làm điêu đứng những ai không tòng phục họ. Nhiều người bị tác động bởi các động lực này, lâu ngày không còn ý thức, và làm theo thói quen đến mức máy móc, nhiều khi lại hăng say và ngạo nghễ, khí thế, trong những hành động vô nghĩa như thế. Nếu có ai thử đặt vài câu hỏi căn bản với những người này, họ sẽ chỉ có thể trả lời bằng "cảm tính" chứ không đưa ra được giải đáp có tính cách lịch sử hay khoa học. Vì thế, chúng tôi có câu hỏi ngắn cho Giáo Sư Nguyễn Mạnh Quang:

Xin GS cho biết nguồn gốc cụm từ "Lằn Ranh Quốc Cộng" Ở Việt Nam ?


Thưa BBT SH và quý độc giả,

Các thế lực chính trị đều dùng các khẩu hiệu hay thuật ngữ đặc biệt thích hợp để có thể lôi kéo  được nhiều người hay cũng cố thế lực hoặc là ít ra cũng làm giảm bớt số người chống đối. Có những khẩu hiệu dùng để cho mọi người nhìn thấy rõ những việc làm chính đáng, cao cả, mà người chủ trương theo đuổi và tranh đấu, có những khẩu hiệu để đáp ứng cho khát vọng của đại khối nhân dân vào thời khắc đó. Chúng ta hãy lướt qua vài thí dụ điển hình về phương cách sử dụng thuật ngữ làm chiêu bài tranh đấu như thế.

- Khi tiến quân ra tấn chiếm Bắc Hà dưới quyền thống trị của Chúa Trịnh vào những năm gần cuối thập niên 1780, Nguyễn Huệ cũng đã dùng khẩu hiệu “Phù Lê Diệt Trịnh”.

- Mặt Trận Việt Minh khi khởi lập vào năm 1941 cũng đã dùng những khẩu hiệu ”Đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc”, “Đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân”, “San bằng bất công trong xã hội”, v.v…

-  Khi muốn tách rời đại khối nhân dân Pháp ra khỏi nhóm thiểu số hoạt đầu chính trị nặng đầu óc phản động chủ trương liên kết với “cái tôn giáo ác ôn” tức Giáo hội La Mã đem quân sang tái chiếm Việt Nam, cụ Hồ Chí Minh bắt buộc phải dùng thuật ngữ “Liên Hiệp với nhân dân Pháp đánh đuổi bọn thực dân xâm lược Pháp” để cô lập cái chính quyền đế quốc phản động Pháp lúc bấy giờ.

Nhưng cũng có những khẩu hiệu không có mục đích cao cả nào hết, mà chỉ là sản phẩm của các thế lực thống trị tham lam, làm khí giới cho những thuộc hạ, hoặc dân chúng thiếu ý thức dùng để tấn công đối phương để tăng thêm thế lực, hay bảo vệ tổ chức của họ. Trong mục đích như thế, Giáo Hội La Mã có nhiều kinh nghiệm lâu dài và tài ba nhất. Trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã sáng chế ra hàng rừng thuật ngữ nặng tính cách phỉnh gạt hoặc là để tôn vinh giáo hội, dụ khị người vào đạo, miệt thị các tôn giáo hay nền văn hóa phi Ki-tô, hoặc là để chia rẽ các dân tộc tại các quốc gia mà giáo hôi đang tiến hành mưu đồ cướp chính quyền. Những thủ đoạn của Giáo Hội La Mã  sử dụng các thuật ngữ để phỉnh gạt và lừa bịp người đời quả thật là thần sầu quỷ khốc. Sự kiện này được chính một học giả Ki-tô Phan Đình Diệm, Hội Trưởng Học Hội Đức Giêsu Núi Korazim nói rõ như sau:

Hàng ngàn năm, để bưng bít và che giấu bảy chương tội đối ngoại và một chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Rôma phải đạt đến chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa… Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngoài nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây “vạn lý trường thành đức tin” và buông bức “màn sắt thần học” lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật biến “núi tội thành con chuột”, “kẻ cướp mặc áo thày tu”, và “quỷ Satan có diện mạo ông thánh.” [1]

Để cho độc giả dễ dàng nắm bắt được những điều tôi trình bày thiết tưởng cần phải lùi thời gian lại vào lịch sử xa xưa của cái tổ chức gây ra không biết bao nhiêu vấn đề trên thế giới. Do đó xin chia bài viết này ra hai phần như sau:

- Thủ đoạn dùng thuật ngữ trong đạo Ki-tô để phỉnh gạt và lừa bịp người đời, và
- Thủ đoạn dùng thuật ngữ để  chia rẽ người Việt Nam trong các thời kỳ: từ 1553-1820, 1820-1945, 1945-1954, 1954-1975, và từ 1975 cho đến nay.

▪ I - Các Thuật Ngữ Dùng Trong Đạo Ki Tô Để Phỉnh Gạt Và Lừa Bịp Người Đời

Phần trình bày dưới đây sẽ là một vài bằng chứng về những thủ đoạn trong các thuật ngữ mà giáo hội đã sử dụng trong gần hai ngàn năm qua.

▪ A.- Tước Hiệu hay Chức Vị Trong Giáo Hội La Mã

1.- Người Âu Mỹ chỉ nói hay viết suông các tước hiệu hay chức vị trong hàng giáo phẩm Ca-tô rồi kèm theo tên người mang tước hiệu hay chức vụ đó, chứ không thêm một từ nào khác đứng trước hay đứng sau các từ này. Họ gọi hay viết Pope John Paul II, Pope Benedict XVI, Cardinal Spellman, Archbishop Nguyễn Văn Bình, Bishop Bùi Tuần, v.v...Trong khi đó, tín đồ Ca-tô người Việt lại thêm chữ Đức (viết hoa) đi kèm theo ở trước các từ này. Hành động này có tác dụng (1) tạo thêm lòng kính trọng tuyệt đối với những tước hiệu trong Giáo Hội,  (2) tạo thêm sự khiếp sợ của dân chúng đối với giới chức sắc trong giáo hội, và (3) vô hình chung, gây ra đặc tính nịnh bợ hết sức hèn hạ của con chiên đối với những người có quyền thế.  Con chiên  Nguyễn Mậu nguyên Đại Tá và đã từng nắm giứ một chức cao cấp trong ngành an ninh và tình báo trong chính quyền Miền Nam ở miền Trung trong những năm 1954-1975,  đã từng tác oai tác quái, gieo rắc không biết bao nhiêu đau thương khốn khổ  cho người dân dưới quyền và không biết nhiêu nạn nhân đã bị ông ta sơi tái. Cũng vì thế mà con số nạn nhân bị chính quyền đạo phiệt Ca-tô sát hại lên tới hơn 300 ngàn người! Ấy thế mà khi viết thư trình bày một ý kiến gì đó  gửi cho một tu sĩ áo đen người Việt ở California, hung thần này lại có những lời lẽ khiếp nhược như sau:

Vấn đề được nêu lên ở đây với tất cả mạo muội và run sợ vì có thể bị xem như là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào sự độ lượng của hàng giáo phẩm cũng như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lý tưởng Ki tô hữu.” [2]

Nhờ vậy, nhà Thờ Vatican mới có thể dễ dàng xúi giục giáo dân bản địa nổi loạn chống lại chính quyền địa phương nếu chính quyền này không chịu thần phục hay khuất phục Giáo Hội La Mã.

Giáo Hoàng Pius XII là Giáo Hoàng cấu kết với Hitler trong Đệ Nhị Thế Chiến. Dưới thời ông này, TGM Antony Drapier đại diện tòa thánh Vatican đề nghị với Pháp đưa Bảo Đại trở lại chính quyền năm 1948

Nhân nói về cách gọi các phẩm trật trong Giáo Hội La Mã, chức vụ giáo hoàng là chức vụ lớn nhất cũng chỉ ngang hàng với chức vụ quốc trưởng hay tổng thống của bất kỳ quốc gia nào ở trên thế giới mà thôi. Vậy, chúng ta chỉ nên gọi là Giáo Hòang John Paul II, Giáo Hoàng Benedict XVI, Hồng Y Pham Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình thì mới hợp lý. Giáo Hội muốn tự tôn nên đã có những lời tự phong trịch thượng như "Vua của các Vua". Người Việt Nam nếu ngu ngơ, cứ theo đó mà tôn phong họ "Đức Thanh Cha, Đức Giáo Hoàng" bất cần hạnh kiểm của họ, tức là theo ý họ muốn thì đáng tủi nhục biết bao. Xin mời xem thêm bài viết "Đời Sống Dâm Loàn Của Giáo Hoàng Và Giai Cấp Giáo Sĩ".

▪ B.- Việc Phiên Âm, Chuyển Dịch Các Từ Và Danh Xưng Trong Đạo Ca-Tô Sang Tiếng Việt.

Con chiên Ca-tô người Việt vừa mang chứng bệnh “trưởng giả học làm sang”, vừa mang chứng bệnh lấn lướt và vơ vào, vừa mang chứng bệnh sợ hãi và nịnh bợ Tòa Thánh Vatican đến tận tâm, tận trí và tận khôn. Cả 3 chứng bệnh này đều hết sức trầm kha. Vì thế mà khi phiên âm hay chuyển dịch những từ trong đạo Ca-tô sang tiếng Việt, họ dồn hết nỗ lực nặn óc tìm ra những từ tiếng Việt sao cho có thể để đáp ứng được cả ba căn bệnh ghê tởm của họ.

1.- Về phiên âm: Trong cụm từ “Pope Benedict XVI”,  chữ “Benedict” là danh tự riêng và khi dùng làm phẩm tự thì viết là Benedictine, thí dụ như Benedictine monk. Trong bài Viết Linh Mục Là Ai? Do ông nhuquy54@gamail.com phổ biến ngày 10 tháng nặm 2010, chúng tôi thấy chữ “Benedictine monk” được dịch và phiên âm sang tiếng Việt là “một tu sĩ dòng Bê-nê-đít” và cụm từ “the International Benedictine Confederation” được chuyển dịch và phiên âm là “Công đoàn Bê-nê-đít Quốc tế”. Ấy thế mà các ông tu sĩ áo đen và con chiên người Việt lại chuyển dịch và phiên âm cụm từ “Pope Benedict XVI” thành “Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16”. Họ cố tình thêm vào từ “Đức” để tỏ lòng nịnh bợ, tâng bốc trên mức tôn kính của họ đối với người mang chức vụ này.

2.- Việc chuyển dịch từ Catholic sang tiếng Việt: Từ Catholic hay Catholica cũng vậy. Họ không để nguyên chữ Catholic như người Anh, người Pháp hay để nguyên Catholica như người Hy Lạp, và cũng không dịch ra là đạo rộng rãi, đạo phổ quát, đạo chung hay đạo của toàn cầu đúng nghĩa của chữ Catholic hay Catholica, nhưng họ lại cố tình dịch là “công giáo” với ý đồ là “mập mờ đánh lận con đen” làm cho thiên hạ lầm tưởng rằng “cái tôn giáo ác ôn” quái đản của họ là một tôn giáo công chính, công đạo hay đạo chính của cả nước.

▪ C.- Những Thuật Ngữ Trong Đạo Ki-Tô

Thiết tưởng cũng nên biết rõ về dã tâm của Giáo Hội La Mã sử dụng những thuật ngữ (a) hoặc là để  tâng bốc tất cả những gì của hay thuộc về giáo hội lên đến tận mây xanh, (b) hoặc là miệt thị những gì không thuộc về giáo hội, (c) hoặc là gièm pha và triệt hạ uy tín những tác giả có tác phẩm nói về những sự thật lịch sử có liên hệ đến những rặng núi tội ác của giáo hội. Ngòai ra, giáo hội còn chơi trò ma bùn sử dụng những thuật ngữ “nói lưỡng” có tính cách lươn lẹo để có thể nói ngược cũng được và nói xuôi cũng được. Vấn đề “nói lưỡng” của Giáo Hội La Mã đã được Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ đã nói rõ nơi trang 49- 50, sách Công Giáo Nhận Định Mới Về Tín Lý &  Giáo Lý (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2007). 

a).- Những thuật ngữ để gạt gẫm niềm tin dân chúng, hay tự tâng bốc giáo hội và tín đồ của giáo hội :

Trong phạm vi này, chúng ta thấy giáo hội  sáng chế ra khá nhiều thuật ngữ dành cho Chúa, có nghĩa là Giáo Hội, vì Giáo Hội tự xưng là thay mặt Chúa ở trần gian.

1.- Khẩu hiệu “Đấng Toàn Năng” gán cho Chúa Bố Jehovah của giáo hội. Nhưng trong thực tế, “Đấng Toàn Năng” này của giáo hội lại bất lực trước “quỷ Satan”. Hóa ra Đấng Toàn Năng chỉ ra mặt lãnh công đối với những gì đẹp đẽ trên trái đất mà thôi. Ngoài ra, ông bất lực tất cả việc khác. Những gì "bất thiện" cho nhân loại như chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, đói nghèo,... tập đoàn tu sĩ của giáo hội  biến thành những thằng “dâm tặc áo đen”,... thì lại đổ thừa cho "hành động của Ma Quỷ".

2.-  Khẩu hiệu “Đấng Toàn Thiện” gán cho Chúa Bố Jehovah của Giáo Hội La Mã. Nhưng sự thực thì sao?  Ngay từ phút đầu, ông Chúa đã ban bản án “tội tổ tông” để cho loài người mãi mãi mang tội chỉ vì cục đất sét Adam và Eva đã ăn trái táo của ông. Ngoài ra, có hàng ngàn bằng chứng hành động cực kỳ tàn ngược, tham tàn, dâm đãng, dã man của ông Chúa còn ghi lại trong các sách trong Cựu Ước, chẳng hạn như: Deuteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5,31:1-54), Leviticus 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14, 7:1, 2 và 16, 12: 2-3, 13:6-9. 18: 4 và 20, 20:14-16, 22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12, 20 11, 22: 20).

3.- Thuật ngữ “Đấng hằng hữu có mặt ở khắp mọi nơi” để diễn tả phép thuật của Chúa. Nhưng thực tế, Giáo Hội lại khuyên "Khi chúng ta cầu nguyện cùng chung với các tín hữu khác, hiệu quả hơn" Phải chăng có như vậy  thì nhà thờ mới có người đến, và do đó mới có tiền bạc?.  

4.- Tạo ra khái niệm “Chúa Ba Ngôi”, “Chúa Cứu  Thể” để thánh hóa ông Jesus, thay vì là “một đứa con hoang” (Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 253),  khùng khùng điên điên, phát ngôn bừa bãi, thốt ra những lời “đại nghịch bất đạo” (Matthew: 10: 34-36),

5.- Chưa kể những thủ thuật mê tín để ngu dân như “Đức Mẹ hiện ra”, “Đức Mẹ Đồng Trinh”, “Đực Mẹ Hằng Cứu Giúp”, “Đức Mẹ Vô Nhiễm”, Đức Mẹ Đồng Công” bất kể bà ta chỉ là một người đàn bà đã từng lăn lóc với ít nhất là hai người đàn ông và đã có một đàn con  ít nhất là 6 hay 7 đứa.

6.- Chưa đủ, [3] Giáo Hội còn dám xưng “Giáo hoàng không lầm lẫn”. Trong thực tế họ đã dùng từ “ngụy giáo hoàng” (anti-popes) gán cho nhau. Trong số 267 giáo hoàng có rất nhiều ông thực sự nếu không là những tên bạo  chúa ác độc đại gian đại ác những thắng dâm tặc ác ôn làm cho  nội bộ  thanh toán và tàn sát lẫn nhau, điển hình là Giáo Hoàng Pius XI (1939-1958) (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ46_Pius12.php. Sách The Pope Encyclopedia (New York: Crown Paperbacks, 1995) của sử gia Matthew Bunson có nêu đích danh 39 tên khốn nạn bị gán cho là “ngụy giáo hoàng” ở trong trang 21, và 15 tên giáo hoàng dâm tặc  bị nội bộ  và dân chúng sát hại ở nơi trang 29. Thực ra, còn nhiều hơn nữa  vì rằng có nhiều giáo hoàng vừa là bạo chúa ác độc hết sức ghê tởm vừa dâm tặc hết sức khủng khiếp như Alexander VI (1492-1503), Leo X (1513-1521), mất dạy như Pius IX (1846-1878), phi nhân và dã man như Pius XII (1939-1958), v.v… đều không thấy có tên ở trong hai trang sách này. 

7.- Phát minh ra đạo cụ “Lò Luyện Ngục” (Purgatory) để móc túi bọn con chiên ngu dốt. Xin đọc các trang 256-258, sách Công Giáo  Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001) của học giả Charlie Nguyễn để biết rõ những khối lượng khổng lồ tiền vàng, tiền bạc và châu báu  mà giáo hội đã thu vơ được nhờ ở chuyện bịa đạt ra thuật ngữ “lò luyên ngục” thần sầu quỷ khốc này.

8.- Chưa hài lòng với bao nhiêu mánh khóe, Giáo Hội mạnh bạo tặng chức “Chúa thứ hai” cho giới tu sĩ của họ. Trong số gần 500 ngàn “Chúa  Thứ Hai” của giáo hội,  có tới cả trăm ngàn Chúa thực  sự là những thằng ác quỷ dâm tặc. Trường hợp Linh-mục Giuse Nguyễn Ngọc Dũng hãm hiếp nạn nhân nữ tín đỗ Lữ Thị Thu Nga (http://sachhiem.net/TONGIAO/tgB/Bacaytruc00.ph) chỉ là một giọt nước vãi ra trong muôn vàn trường hợp khác, không ai có thể kể cho xiết (http://sachhiem.net/SACHNGOAI/snL/LeQuocTuan/LQT05.php, http://sachhiem.net/TONGIAO/tgS/SH07.php,... ). Oái oăm thay, chính các con chiên lại tìm cách bao che cho họ suốt đời này sang đời khác!

9.- Con chiên không bảo vệ họ sao được, vì con chiên cũng được Giáo Hội nịnh hót, tặng cho danh hiệu “dân Chúa” hoặc là “dân được Chúa chọn”. Điều này làm cho các con chiên của giáo hội trở nên ngạo mạn, hợm hĩnh và ngược ngạo.

10.- Những cụm từ “Hội Thánh duy nhất thánh thiện và tông truyền” "Hiền Thê Của Thiên Chúa Làm Người" lại càng chứng minh thêm bản chất thích tiếm danh, và tự xưng. Ngày nay quá nhiều người đã biết “Hội Thánh duy nhất thánh thiện….” đã gây nên hàng rừng tội ác trong gần hai ngàn năm qua, khiến cho mối ác cảm của nhân dân thế giới đối với đạo Ki-tô càng ngày càng trở nên mãnh liệt. Xem (http://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/NMQ_00.php).

b).- Những thuật ngữ để miệt thị các niềm tin khác kể cả các tuyên bố khoa học trái với thánh kinh hay niềm tin của Giáo Hội.:

Lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mã có chủ tâm sử dụng những thuật ngữ như là tà giáo, tà đạo, man di, mọi rợ, dã man, vô thần, và dạy dỗ đám con chiên ngu dốt của giáo hội rằng những người bị gán cho những thuật ngữ “tà giáo, tà đạo, man di, mọi rợ, dã man, vô thần” đều là những hạng người  vô cùng độc ác, hết sức xấu xa và cực kỳ ghê tởm. Sự kiện này cho chúng ta thấy các đặc tính “mục hạ vô nhân”, bất nhân và man rợ của Vatican và tập thể con chiên Ca-tô quả thật hết sức trầm kha và vô phương chữa trị. Xin đọc "Những Vụ Án Lừng Danh Trong Tòa Án Vatican"

▪ II.- Về cụm từ "Lằn Ranh Quốc Cộng" ở Việt Nam

Đây là thuật ngữ của Giáo Hội La Mã dùng để chia rẽ dân tộc Việt Nam vì không thể cải đạo được tất cả.

Theo tài liệu mà chúng tôi đã tìm hiểu trong nhiều năm qua, thì, từ “Quốc – Cộng” là  một thuật ngữ do Giáo Hội La Mã sáng  chế ra để sử dụng trong chính sách chia rẽ người Việt Nam và dùng người Việt con chiên cai trị người Việt khởi đầu từ năm 1948 trở về sau, tức là từ khi đã thành công đưa cựu Hoàng Bảo Đại đã thoái vị nổi tiếng là “playboy” lên thành lập chính quyền làm tay sai trong mưu đồ tái chiếm Việt Nam (Xem Vatican Cấu Kết Với Pháp Thi Hành Chính Sách Chia Để Trị, Và Đưa Tín Đồ Da Tô Lên Nắm Chính Quyền).

Thierry d’Argenlieu

Thierry d’Argenlieu, cựu linh mục, Cao Ủy Đông Dương (17 Aug 1945 - 15 Mar 1947) - người tiếp nhận đề nghị của TGM Anthony Drapier đưa Bảo Đại trở lại lập chính phủ. Người kế nhiệm của D'Argenlieu là Emile Bollaert (15/3/1947 - 10/1948), ảnh bên phải, thi hành việc này năm 1948

Thực ra, chính sách chia rẽ người Việt của Giáo Hội La Mã đã đươc tiến hành ngày  từ khi nhà truyền giáo Ca-tô đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1533 để rao truyền “cái tôn giáo ác ôn” mà thuật ngữ của họ là ”tin lành” (good news) đến cho người Việt Nam.  Mức độ lưu manh và xảo tra trong việc sử dụng thuật ngữ của Giáo Hội La Mã lại được  bổ sung bằng những thuật ngữ siêu lưu manh, siêu lươn lẹo của Dòng Tên:

“Mọi tự điển trên thế giới đều có chung một định nghĩa về danh từ Jesuit (tu sĩ dòng Tên) là: người ngụy biện, giả nhân giả nghĩa, kẻ xảo trá phản phúc. Ngoài ra, trong tác phẩm "German Thesaurus" xuất bản năm 1954, tác giả Đức Dornseif đã viết: "Jesuit contains a long list of synonyms, including: two faced, false, insidious, dissembling perfidious, mendacious, sanctimonious, dishonarable, incincere, dishonest, untruthful..." (Danh từ Jesuit - tu sĩ dòng Tên - bao gồm một danh sách dài của những tiếng đồng nghĩa: hai mặt phản trắc, gian trá, gieo rắc độc hại, gây chia rẽ, lừa lọc, nói dối, thương xót giả tạo, không biết trọng danh dự, thiếu thành thật, bất lương, chẳng bao giờ nói thật...) Người Pháp có câu cách ngôn rất hay: "Khi nào có hai tu sĩ dòng Tên đi với nhau, luôn luôn tạo thành ba thằng quỉ sứ" (Where two Jesuits come together, the devil always makes three).” [9]

Chính sách truyên đạo Ca-tô ở Việt Nam gian trá như thế  đó . Chính sách này được tiến hành ở Việt Nam uyển chuyển theo hoàn cảnh chính trị của từng giai đoạn hay thời kỳ và phải sử dụng thuật ngữ nào thích hợp với chương trình hành động của  từng thời kỳ dưới đây:

A.- Thời kỳ từ 1553-1820
B.- Thời kỳ 1820-1945
C.- Thời kỳ 1945-1954
D.- Thời kỳ 1954-1975
E.- Thời kỳ từ 1975 cho đến ngày ngay.

Trước hết, cũng xin  nói rõ là  bất kỳ dân tộc nào bị Giáo Hội La Mã chiếu cố đều bị giáo hội triệt để thi hành chính sách chia để tri. Riêng tại Việt Nam, chính sách thâm độc này được triệt để thi hành một cách vô cùng tinh vi và hết sức siêu việt. Sách  “Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi?” viết:

“Trọng tội của Giáo Hội không phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.” [10]

Cũng nên biết, từ khi được Hoàng Đế Constantine (280-337) cho ra đời vào giữa thập niên 310,  Giáo Hội La Mã luôn luôn theo đuổi chủ nghĩa bá quyền bằng tất cả những thủ đoạn vô cũng qủy quyệt với những kinh nghiêm vật lộn với các thế lực chính trị đối thủ ở Âu Châu trong nhiều thế kỷ và tiếp thu được từ Dòng Tên như đã nói ở trên.

Vì giáo hội đã sử dụng những thủ đoạn quỷ quyệt như trên, sử gia Loraine Boettner mới nói rằng:

 “Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).
Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).
Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp.)” [11]

Chi tiết của việc Giáo Hội Ca-tô xâm nhập Việt Nam từng thời kỳ đã được chúng tôi trình bày nhiều hình thức khác nhau trong nhiều tác phẩm, tiêu biểu như :

- Những Nhận Xét Sai Lầm Của Tác Giả (Nguyễn Ngọc Ngạn) Trong Cuốn Xóm Đạo (Nguyễn Mạnh Quang)

- Bài viết cho Hoàng Ngọc Thành: Một Số Điều - Một Số Biến Cố Lịch Sử (Nguyễn Mạnh Quang)

- Chương 17 - Tâm Thư Gửi Nhà Nước VN - Dùng Tín Đồ Vào Các Cuộc Bạo Lọan Chống Lại Tổ Quốc Và Dân Tộc Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang)

- Người Việt Nam & “Đạo Giê-Su”: Bốn Lần Vatican Vận Động Ngoại Cường Can Thiệp Thô Bạo Vào Việt Nam (Trần Chung Ngọc & Nguyễn Mạnh Quang)

▪ A.- Các khẩu hiệu đấu tranh cho các con chiên đòi kẻ khác làm những gì mà chính Giáo Hội La Mã không làm.

Có một điều cực kỳ phi lý và hết sức khôi hài là trong khi Vatican cũng như các ông tu sĩ áo đen và tập đoàn con chiên Ca-tô người Việt cao rao rằng họ tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam trong mấy chục năm nay, thì bản thân của Giáo Hội La Mã hay quốc gia Vatican vẫn theo chế độ tăng lữ quân chủ chuyên chế toàn trị cực kỳ phong kiến (Monarchical-sacerdotal regime) và cực kỳ phản động, siêu lạc hậu, siêu phản dân chủ.

Trong khi Giáo Hội Vatican và tất cả con chiên lớn tiếng cao rao "công lý, hòa bình, thánh thiện, lương tâm công giáo," v.v.., thì chính họ lại

- Chà đạp lên công lý một cách  vô cùng trắng trợn: Tìm đủ mọi mưu kế để cưỡng bách những người  thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo, kể cả phát động hoặc ủng hộ các cuộc chiến chống lại những người khác tôn giáo, gây nên hàng chục rặng núi tội ác chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua.

- Phản tự do: Biến bọn con chiên của giáo hội thành những người mất hết nhân tính, mất hết lương tâm, chỉ còn biết cúi đầu nhắm mắt tuân thủ và tuần hành những lời phán dạy và những lệnh truyền cực kỳ lưu manh và lừa bịp của giáo hội.

- Bao che tội ác: Khích lệ, dung dưỡng, bao che cho giới tu  của giáo hội lộng hành hãm hiếp các trẻ em nam nữ vị thành niên và nữ con chiên.

Trong khi Vatican và bọn con chiên Ca-tô người Việt cao giọng đòi tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo cho Việt Nam, thì chính họ lại chà đạp lên nhân quyền và quyền tự do tôn giáo của những người dân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác.

Bằng chứng vô nhân của Giáo Hội: Tháng 8 năm 2001, Giáo Hoàng John Paul II đã ra lệnh cho Emmanuel Milingo 71 tuổi (người inước Zambia,Châu Phi) phải bỏ rơi người vợ thân thương mới cưới trước đó vào ngày 27/5/2001 là bà Maria Sung 43 tuổi (một y sĩ người Nam Hàn). Nếu ông giám mục này không tuân lệnh thì sẽ bị rút phép thông công.

Giáo Hội chà đạp tự do tôn giáo hơn ai hết: cho đến ngày hôm nay, nếu có một người nào thuộc một tôn giáo khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội, thì người của Giáo hội bất kể là con chiên hay giáo sĩ, bằng mọi cách dụ dỗ hay mưu trí để người đó phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, hoặc ít nhất là bắt con cái phải theo đạo Chúa.

Các dân tộc có văn hiến đều hiểu rằng “quốc có quốc pháp, gia có gia quy” và quốc gia nào cũng có luật pháp quy định về tự do tôn giáo. Từ thời Cách Mạng Pháp 1789, tất cả các nước như Hoa Kỳ, Anh, Nga, Pháp Đức, Nhật Trung Hoa, v.v…, đều có những điều khoản ghi trong hiến pháp xác định  rằng quyền tự do tôn giáo là quyền được hành xử tôn giáo trong khuôn viên nơi thờ tự và là hiến quyền. Tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào muốn làm gì ở ngoài những nơi thờ tự và những nơi đã được luật pháp quy định đều phải có giấy phép của nhà nước. Ấy thế mà những người dân của các nước bị áp đặt theo chế độ đạo phiệt Ca-tô như các nước Âu Châu trong thời Trung Cổ, Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân trong thời Liên Minh Tây Ban Nha – Vatican, Croatia trong những năm 1941-1945, Việt Nam trong thời 1885-1945, và miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, lại bị chính quyền đạo phiệt Ca-tô tay sai của giáo hội cưỡng bách phải theo các “tôn giáo ác ôn” này.

Những người bất khuất bất tuân lệnh cưỡng bách của các nhà nước đạo phiệt Ca-tô này đều bị tàn sát một cách vô cùng man rợ. Xin xem bài “Hủy Diệt Nền Văn Minh Nhân Loại Và Những Thành Tích Tàn Sát Lương Dân”, Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã, Chương 8 (http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=211).

Vi quen với nếp sống trịch thượng làm cha thiên hạ giống như trong thời Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến năm 1945 và ở miền Nam trong những năm 1954-1975, các ông tu sĩ áo đen và bọn con chiên Ca-tô người Việt luôn bất chấp cả công lý, bất chấp cả luật pháp quốc gia. Muốn chiếm đọat một nơi nào cho nhà thờ Vatican, thì chúng hò nhau dùng thuật ngữ “hiệp thông” kéo nhau đến tụ tập ở nơi đó, xúm nhau dựng tượng Maria và thập tự giá, dâng hoa, thắp nến và cầu nguyện để biến nơi đó thành tài sản của Vatican. Tự do tôn giáo của đạo Ca-tô La Mã là như vậy đó! Đúng là quân ăn cướp!

Mỗi lần họ kêu gào “cầu nguyện, hiệp thông”, người ta hiểu ngay rằng họ đang xúi giục nhau tiếp tay cho một nhóm người đồng đạo gây bạo lọan chống chính quyền hoặc là đang diễn trò cắm thập tự giá và tượng bà Maria ở nơi mà chúng có ý đồ cướp đoạt cho Nhà Thờ Vatican. Tình trạng này đã liên tục xẩy ra từ ngày 18/12/2007 cho đến nay qua các vụ như:

1.- Vụ "hiệp thông cầu nguyện đòi đất" với búa kìm tại số 142 Phố Nhà Chung và Hà Nội trong những ngày 18/12/2007 đến ngày 30/1/2008,

2.- Vụ "hiệp thông cầu nguyện" và đập phá tường của Công Ty May Chiến Thắng tại số 178 đường Nguyễn Lương Bằng, Đống Đa, Hà Nội trong những ngày từ 18/8/2008 cho đến ngày 22/9/2008.

3.- Vụ "cầu nguyện cắm dùi" bừa bãi bằng tượng Maria ở bãi biển làng An Bằng, Huế, trong năm 2008,

4.- Vụ dựng tượng “Mẹ Sầu Bi” cầu nguyện bất hợp pháp vào ngày 15/8/2008 ở ngoài nhà thờ của xóm đạo Đồng Đinh (Ninh Bình), gây bạo loạn chống lại lệnh chính quyền kéo dài trong nhiều ngày.

5.- Vụ "hiệp thông cầu nguyện" và nổi lọan mưu đồ cướp đoạt tài sản quốc gia và chống chính quyền tại Nhà Thờ Tam Tòa (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) khởi đầu từ ngày 20/7/2009 kéo trong nhiều ngày,

6.- Vụ "hiệp thông bạo loạn" ở xóm đạo Loan Lý (xã Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế) do Linh-mục Ngô Thanh Sơn chỉ huy khởi đầu vào khuya ngày 13/9,/2009 kéo dài trong nhiều ngày.

7.- Vụ "hiệp thông cắm thập tự" ở Núi Chẽ, gần Nhà Thờ Đồng Chiêm (xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội): Họ dựng thập giá bất hợp pháp trong mưu đồ cướp ngọn núi này cho Nhà Thờ Vatican, khinh thường luật pháp, khởi loạn chống chính quyền kể từ ngày 06/01/2010.

8.- Vụ "hiệp thông cầu nguyện nổi loạn" ở  Cồn Dầu, Đà Nẵng được chuẩn bị từ cuối tháng 1/2010 và khởi sự bùng nồ vào ngày 4/5/2010 với ý đồ và tuồng tích y hệt như 7 vụ đã nói ở trên.

9.- Vụ "hiệp thông nổi loạn" ở Mỹ Yên (thuộc xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc, Nghệ An) đã được chuẩn bị từ lâu và bùng nổ vào ngày 22/5/2013 kéo dài trong nhiều ngày. 
Xin xem: [1] ( http://sachhiem.net/TONGIAO/tgN/Nghiphuong.php).[2]Thời sự VTV. Nguồn: http://vtv.vn/Thoi-su-trong-nuoc/Su-that-ve-vu-giao-dan-gay-roi-o-Nghe-An/79919.vtv

10.- Vụ "hiệp thông biểu tình" trương cờ Vatican ngày 18/5/2014  ở  xã Đoài với sự tham dự của rất nhiều con chiên ở các vùng lân cận thuộc tỉnh Nghệ An. Xin xem bài viết “Cờ Bay, Cờ Bay” của tác giả  Nicholas Trần (http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuN/Namgiao.php)

Ôn cố suy tân. Căn cứ vào những hành động bất chính như trên, chúng ta có thể đoán chắc rằng trong tương lại bọn người vong bản, phản dân tộc truyền tử lưu tôn này lại có thể tái diễn mấy cái trò hề vô liêm sỉ này ở một nơi nào khác. Chúng ta hãy chờ xem.

Có thể nói là bọn người khốn nạn này có thói quen dùng những thuật ngữ với dã tâm “cưỡng từ đoạt lý” nghe ra rất ngang ngược. Chúng gọi (1) những người đồng đạo của chúng đã từng làm tay sai cho Liên Minh Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican là “các nhà ái quốc”, “những Việt Quốc Gia chân chính”, và (2) những người đã liên tục chiến đấu cho đại cuộc giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và đòi lại miên Nam đem lại thống nhất cho tổ quốc là “Việt gian”.

Theo thiển ý của chúng tôi, điểm quan trọng nhất của công việc viết sử là phải nói lên sự thật của lịch sử và phải dùng ngôn từ chính xác để diễn tả đúng với bản chất và giá trị tốt hay xấu của sự việc và của các tác nhân lịch sử. Cũng vì lẽ này mà các nhà viết sử và nhân dân Pháp đã gọi Thống Chế Pétain và những người làm tay sai đắc lực trong chính quyền bù nhìn cho Đức trong những năm 1940-1944 là "Pháp gian". Tương tự như vậy, Uông Tinh Vệ và những người Trung Quốc làm tay sai đắc lực cho quân xâm lăng Nhật trong thời Đệ Nhị Thế Chiến cũng đều bị gọi là "Hán gian". Ngô Tam Quế cộng tác với người Mãn Châu trong thế kỷ 17 cũng bị người Trung Quốc gọi là "Hán gian". Sách sử Việt Nam đều gọi Lê Chiêu Thống và Gia Long là hạng người “rước voi về giày mả tổ”. Sử gia Nigel Cawthorne đã biên soạn một cuốn sách với tựa đề Tyrants History’s 100 Nost Evil Despots & dictators (London: Arcturus, 2004) trong đó ông nêu đích danh 100 tên bạo chúa và độc tài độc ác nhất trong lịch sử nhân loại, trong đó có tên Ngô Đình Diệm.

Câu nói "gươm lịch sử không tha phường phản quốc" thiết tưởng là một bài học dạy cho chúng ta tính cách vô tư khi viết sử.

Việc sử dụng những thuật ngữ có dụng ý miệt thị và triệt ha uy tín của những cá nhân hay thế lực bị giáo hội này coi là thù địch, cần được nói thêm một cách chi tiết như sau.

Giáo hội cũng như các tu sĩ  và con chiên của giáo hội đều sử dụng những lời lẽ nặng nề như "tà giáo", "tà đạo", "mọi rợ", "dã man", "man di", vô đạo" để hạ giá và miệt thị các tôn giáo khác cùng các thành phần ở ngoài giáo hội, bất kể là trong số những nhóm nạn nhân này có cả những hệ phái Thiên Chúa giáo phi Ca-tô cũng thờ ông Thượng Đế Jehovah của Giáo Hội (như Do Thái Giáo, Hồi Giáo) hoặc là cũng thở cả Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus s như Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo). Đây là một sự thật được các nhà viết sử ghi nhận:

1.- Kinh sách của giáo hội  thường gọi các tôn giáo khác là "tà giáo". Sách Kinh Nhựt Khoá, trang 707, gọi dân Việt Nam là "chim muông cầm thú."[4]

2.- Sách Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (Phần Nhất) của Linh-mục Bùi Đức Sinh (Saigòn: Chân Lý, 1972), sử dụng không biết bao nhiêu là các từ "man di", "mọi rợ" và "dã man" để nói thẳng hay ám chỉ những người hay nhóm dân thuộc các tôn giáo hay văn hóa khác. Riêng nơi các trang 200-208, ông linh mục tác giả này sử dụng các từ "man di, mọi rợ và dã man" tới 24 lần.

2.- Sách Phép Giảng Tám Ngày (của Giáo-sĩ Alexandre de Rhodes) in trong cuốn Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên (Sàigòn: Tinh Việt Văn Đoàn, 1961), tác giả giáo sĩ này phỉ báng tất cả các tôn giáo cổ truyền của dân tộc ta, trong đó có chỗ ông ta viết:

Bởi tam giáo này, như bởi nguồn đục, có ra nhiều sự dối khác. Song le, bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thể có chem. cây nào đục cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiện cũng ngã với. Vây thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ.” [5]

3.- Trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt (trong phần Phụ Bản:"Các Thánh Lệnh Phân Chía Thế Giới"), sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi lại như sau:

"Các giáo hoàng đầu tiên của thời Phục Hưng [Renaissance] dùng thần quyền để phân chia những vùng đất "mọi rợ" mà Portugal [Bồ Đào Nha] và Espania [Tây Ban Nha] bắt đầu đi xâm chiếm ở duyên hải Tây Phi Châu (1416) hay "lục địa đã mất" và Mỹ Châu (thập niên 1480-1490." [6]

4.- Giám-mục Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Diệm, ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn đều gọi các ông tổng trưởng, bộ trưởng và các tướng lãnh trong chính quyền của chế độ bằng"thằng".

5.- Rất nhiều Linh-mục và con chiên người Việt gọi người dân bên lương chúng ta là "thằng tà đạo". Ngoài ra, họ còn gọi tất cả nhữnng người dân phi-Kito chúng ta bọn "vô đạo", bọn "dã man", trong khi đó thì họ tự xưng là "dân Chúa".

6.- Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) gọi dân Do Thái là "lũ chó", mặc dù dân tộc Do Thái cũng đã sinh đẻ ra bà Maria mà giáo hội đã gọi là "Đức Mẹ". Sự thật này đã được nhật báo The news Tribune, [Tacoma] September 3, 2000] nhắc lại trong bản tin của hãng The Associated Press với tựa đề "Jewish Family Protests Pius' Beatification...", trong đó có một đọan với nguyên văn như sau:

"Các diễn giả khác đọc mấy đoạn văn do chính Giáo Hoàng Pius (IX) viết trong đó có một đoạn ông ta cho rằng người Do Thái không phải là công dân mà chỉ là một “lũ chó.” [“Other speakers read from passages of Pius’ writing, including one in which he allegedly that the Jews were not citizens but “dogs”.[7]

Khi gọi người Do Thái là "lũ chó", Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) cũng thừa biết gọi như vậy là đã gọi tất cả mọi người con dân nước Do Thái từ đời ông thánh tổ Abraham cho đến các ông Moses, Solomon, David, Joseph, bà Maria và tất cả con cái bà con thân quyến (trong đó có ông Jesus) của bà Maria đều là "chó" cả.) Nực cuời hơn nữa là ông giáo hoàng mất dạy này lại được Giáo Hoàng John Paul II phong chân phước vào tháng 9 năm 2000 (Xem Xưởng Sản Xuất Thánh của Nguyễn Ri).

▪ B.- Những hành động vô liêm sỉ của Vatican và con chiên Ca-tô người Việt

Những người học sử và đọc sử đều biết rằng trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ giữa thế kỷ 18 đến nay, giới tu sĩ áo đen và con chiên Ca-tô người Việt luôn luôn sát cánh kề vai với Liên Minh Thực Dân Xâm Lược Pháp Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ- Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Những hành động phản quốc làm tay sai một cách vô cùng hèn hạ của họ đã khiến các sĩ quan người  Pháp trong đòan quân viễn chinh Pháp cũng phải công khai nói ra những lời ghê tởm và khinh bỉ họ đến cũng mức của khinh bỉ.. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta sự thực này:

 “Chúng tôi chỉ có với mình”, Đô Đốc Rieunier sau này nói, “những giáo dân và bọn du thủ du thực”. “Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm,” Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …”

Nhà sử học Cultru kết luận:

“Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát, phiên dịch.. ấy lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến sự trung gian cuả họ…” “… Tại Nam kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, “Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á.” [8]

Từ năm 1975 cho đến nay, quyền lực cúa Vatican không còn tồn tại ở Việt Nam. Vatican lại quay ra sử dụng các sách lược đánh phá chính quyền và nhân dân  ta mà Vatican đã sử dụng trong thời kỳ từ 1820-1945. Tuy nhiên tình hình Việt Nam cũng như tình hình thế giới đã biến đổi, không còn như hồi thế kỷ 19. Chính vì thế mà thủ đoạn xúi giục con chiên người  Việt ở trong nước (1) bất tuân luật pháp của nhà nước Việt Nam, (2)  nổi loạn phá rối trật tự an ninh công cộng, và (3) cầu cứu các đế quốc Âu Mỹ dùng sức mạnh quân sự làm áp lực chính trị đối với chính quyền Việt Nam, nhưng cũng vẫn không còn có giá trị hay hữu hiệu như hồi thế kỷ 19.

Thấy rằng các thủ đoạn trên đây đều thất bại, chúng quay ra sử dụng thêm quái chiêu với thuật ngữ “lằn ranh quốc – cộng” để tiếp tục chia rẻ dân tộc bằng khái niệm ý thức hệ mà thực tế không hiện hữu. Những người bị tác động, bị ám ảnh bởi thuật ngữ đó, cả năm này qua tháng nọ đào sâu lòng sông Bến Hải trong tâm hồn dân chúng, xúi giục và lôi kéo (1) những phần tử phản động phong kiến, (2) những phần tử đã từng được hưởng những đặc quyền đặc đặc lợi ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 (ở hải ngoại cũng như ở trong nước) và (3) những phần tử bất mãn với chính quyền Việt Nam hiện nay  vào phe của chúng với hy vọng tạo được một số đông dân chúng mà chúng gọi là “những người quốc gia chống lại chính quyền nhân dân Việt Nam”. Để hỗ trợ cho quái chiêu này, giáo hội ra lệnh cho:

1.- Các cơ quan truyền thông do các giáo hội hay con chiên người Việt làm chủ ở hải ngoại cũng như ở trong nước phải phổ biến sâu rộng và ồ ạt khẩu hiệu (thuật ngữ) “giữ vũng lằn ranh quốc – cộng” theo sách lược “cả vú lấp miệng em” và “Tăng Sâm giết người” (nhắc đi nhắc lại nhiều lần)

2.- Bọn con chiên được ca tụng là “nhân sĩ lớn” thành lập cái gọi là "Việt Nam Cộng Hòa Foundation" rồi cùng nhau đến tòa nhà Civic Center tại thành phố Westminster (California) nhóm họp để bàn về việc "Phát Động Chiến Dịch Yêu Cầu Liên Hiệp Quốc "bắt buộc" CSVN Thi Hành Hiệp Định Ba Lê". Chúng đã diễn cái trò hề “Lê Chiêu Thống” khốn nạn này vào tháng 7 năm 2003. [12]

3.- Bọn con chiên đầu nậu của tổ chức sản xuất băng nhạc Asia phát động chiến dịch lấy chữ ký của những người Việt nông nổi hoặc háo danh rồi kéo nhau đến (a) Tòa Bạch Ốc) và (b) đến Quốc Hội Hoa Kỳ để tiếp tục tái diễn cái trò hề “Lê  Chiêu Thống”  vào ngày 5/3/2012. Xin  đọc bài viết “Thỉnh Nguyện Thư – Hơn 30 Năm Chưa Tỉnh Cơn Mê” của tác giả Võ Khánh Linh (http://sachhiem.net/THOISU_CT/ChuV/VoKhanhLinh.php), và bài viết “Vài Ý Kiến Ngắn Về “Thỉnh Nguyện Thư” của tác giả Trần Chung Ngọc (http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts055.php),

4.- Tìm cách lạy lục các cơ quan hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ dùng chiêu bài “nhân quyền” làm áp lực với chính quyền Việt Nam vào khi có một cuộc thương thảo về vấn đề hợp tác về phương diện nào đó giữa hai chính quyền Việt Nam và Hoa Kỳ.

5.- Bọn con chiên văn, sử, thi, nhạc nô  Ca-tô phải viết những bài viết có nội dung chửi bới và miệt thị (1) những người Việt ở hải ngoại nào viết phơi bày bộ thật ghê tởm của đạo Ki-tô La Mã  trong gần hai ngàn năm qua bàn tay của “cái tôn giáo ác ôn” này đã can thiệp vào nội tình Việt Nam một cách vô cũng thô bạo từ hậu bán thế kỷ 16 cho đến ngày nay, (2) những người chống lại chúng, và (3) những người không a dua hay vào hùa với chúng.

Tóm lại, theo kinh nghiệm lịch sử như đã trình bày ở trên, những người Việt Nam nào cho đến ngày nay vẫn còn hô hào tư tưởng "lằn ranh Quốc Cộng" là những kẻ chia rẻ dân tộc Việt Nam theo đúng chủ trương của quốc gia Vatican: "cải đạo cả thế giới, ai không theo thì phải chết". Đó là tư tưởng phát sinh và phát triển do sách lược Giáo Hội La Mã đã được thi hành từ lúc đưa Bảo Đại trở lại thành lập chính quyền với danh xưng là "chính quyền quốc gia" để chống lại chính quyền Việt Nam kháng chiến từ năm 1948.

Mong rằng lời giải thích trên khả dĩ giải đáp được thắc mắc của BBT.

Thân chào

Trân trong,
Nguyễn Mạnh Quang

CHÚ THÍCH

[1] Phan Đình Diệm. “Mea Culpa” Bài 3: Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm.” www.kitohoc.com/Bai/Net066.htm Ngày 4/5/2000.

[2] Nguyễn Mậu: "Thời Sự Trong Tuần" Chính Nghĩa - Bộ Mới Số 251 (San Jose, California) ngày 03/12/1994.

[3] (M.J. Su, The birth and family of Jesus (Encyclopedia Britannica, Vol. 10, Ed. 1980) p. 149.),

[4] Charlie Nguyễn, Công Giáo Huyền Thoại và Tội Ác (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr, 316-317.

Nguyễn Khắc Xuyên & Phạm Đình Khiêm, Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên (Sàigòn: Tinh Việt Văn Đoàn, 1961), tr. 83.

[6] Nguyên Vũ, Ngàn Năm Soi Mặt (Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), trang 389.

[7] The Associated Press. "Jewish family protest Pius’ beatification”] [The News Tribune [Tacoma, Washington] Sunday, September 3, 2000.

[8] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam1858-1897 (Saint Raphael, Pháp: Tự Xuất Bản, 1995), tr. 101-102.

[9] Charlie Nguyễn, Công Giáo huyền Thoại Và Tội Ác (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 299.

[10] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 246.

[11] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), tr. 424.  

[12] Vấn đề này đã được chúng trôi nói rõ trong Phần “Lời Nói Đầu” trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Viêt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2003), tr 9-14.

Nguyễn Mạnh Quang

________________

Mời đọc thêm:

- Sao Không Về Việt Nam? - Lằn Ranh Quốc Cộng (Trần Tiên Long)