PHONG TRÀO PHẬT GIÁO Ở KHÁNH HOÀ NĂM 1963

GS Lê Cung* & Nguyễn Trung Triều**

http://sachhiem.net/LICHSU/L/LeCung12.php

06-Jul-2021

Về tính chất bất bạo động, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 thể hiện rất rõ nét, như cuộc tuyệt thực của chư Tăng Ni vào cuối tháng 5, đầu tháng 6-1963; cuộc tự thiêu của Ni sư Diệu Quang (15-8-1963)

Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 diễn ra đều khắp các địa phương miền Nam, từ Bến Hải đến Cà Mau, nhất là ở các đô thị, dẫu rằng qui mô và cường độ khác nhau. Tuy vậy, các công trình trước đây chỉ chú ý đến Huế và Sài Gòn mà hầu như bỏ quên các địa phương khác, hoặc có đề cập nhưng còn quá sơ lược. Bài viết này tập trung trình bày và phân tích những đóng góp của Phật giáo Khánh Hoà trong cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963, nhằm góp thêm cứ liệu, để có một cái nhìn toàn diện về phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Ngày 7-5-1963, giữa lúc Tăng Ni, tín đồ Phật giáo Khánh Hòa đang nô nức chuẩn bị Đại Lễ Phật đản, thì Công điện 9195 ngày 6-5-1963 của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà với nội dung cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản 1963 chuyển đến Văn phòng Tỉnh hội (1).Tin tức về việc cấm treo cờ Phật giáo nhanh chóng lan rộng, làm xôn xao toàn thể Phật giáo đồ. Liền ngay sau đó, Thượng tọa Thích Trí Thủ (2) - Giám viện Phật học viện Hải Đức Nha Trang, Đại đức Thích Đức Minh - Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà đến gặp Tỉnh trưởng Khánh Hoà đã nêu rõ lập trường: “Hoặc là tổ chức lễ Phật đản với giáo kỳ hoặc là không tổ chức gì hết”(3). Trước sự cương quyết của giới lãnh đạo Phật giáo, Tỉnh trưởng Khánh Hoà buộc phải chấp thuận cho treo Giáo kỳ trở lại. Cũng cần thấy thêm rằng trong lúc giới lãnh đạo Phật giáo đang thương thuyết với viên Tỉnh trưởng thì bên ngoài công an, cảnh sát rải đi các đường lớn trong thị xã Nha Trang như Độc Lập(4), Phan Bội Châu, Nguyễn Hoàng(5),... mở cuộc “vận động” hạ cờ Phật giáo, nhưng phần lớn quần chúng Phật tử phản ứng. Ngày hôm sau (8-5-1963), Lễ Phật đản được tổ chức trang nghiêm tại các chùa trên địa bàn tỉnh. Rồi tin chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế tối 8-5-1963, làm 8 Phật tử thiệt mạng; tiếp theo, ngày 10-5-1963, Tăng Ni, Phật tử họp mít-tinh tại chùa Từ Đàm, công bố Bản Tuyên ngôn gồm 5 nguyện vọng(6), với nội dung chủ yếu là yêu cầu chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, nhanh chóng truyền đi khắp cả nước và quốc tế. 

Tại Khánh Hòa, “tuy bên ngoài có vẻ trầm lắng để chờ quyết định chung của Tổng hội Phật giáo nhưng bên trong từ các vị Hòa thượng, Đại đức, nhân viên Ban Trị sự Tỉnh hội, Chi hội và Khuôn hội cho đến các Phật tử đều ngấm ngầm vận động một cuộc đấu tranh mới”(7). Cụ thể, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa cho phát hành “Lá tâm thư” của Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam và bản “Tường thuật cuộc sát hại Phật tử tại Huế”. Theo chính quyền Sài Gòn, văn bản này “ngoài việc ghi lại sự kiện xảy ra tại Huế còn có tác dụng động viên tinh thần đấu tranh của Phật tử”(8).

Ngày 14-5-1963, tại chùa Từ Đàm, giới lãnh đạo Phật giáo tổ chức lễ cầu siêu sơ tuần cho các nạn nhân bị thảm sát. Sau lễ cầu siêu, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, “đã gởi điện tín cho các Hội Phật giáo ở Đà Lạt, Sài Gòn, Chợ Lớn, các tỉnh Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung Phần”, chỉ thị cho các Hội Phật giáo tổ chức lễ thọ tang cho các Thánh tử đạo: “Nhân danh Hội chủ Phật giáo toàn quốc, tôi chỉ thị cho 6 Tập đoàn Tăng già và Cư sĩ toàn quốc cùng tất cả Gia đình Phật tử và các giới Phật tử khác như anh em quân nhân, vân vân... hãy nhất tề thọ tâm tang cho các Phật tử đã bỏ mình vì Đạo pháp trong Đại lễ Phật đản vừa qua tại Đài phát thanh Huế”(9).

Chấp hành chỉ thị của Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, ngày 20-5-1963, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa họp tại chùa Long Sơn bàn việc tổ chức lễ cầu siêu cho các Thánh tử đạo ở Huế. Nắm được tin này, chính quyền Sài Gòn tại Khánh Hoà yêu cầu Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà nên tổ chức đơn giản, hạn chế số lượng Tăng Ni, Phật tử tham dự và giới hạn trong phạm vi thị xã; song đề nghị này không được chấp nhận. Ngày 21-5-1963, tại chùa Long Sơn (chùa Tỉnh hội), lễ cầu siêu được tổ chức trọng thể, có dựng đài tưởng niệm. Mặc dầu chính quyền Ngô Đình Diệm tìm đủ cách ngăn cản(10), nhưng tín đồ Phật tử từ các địa phương trong tỉnh về tham dự rất đông, riêng Chi hội Cam Lâm đã thuê 7 chiếc xe khách chở Phật tử về Nha Trang dự lễ. Tiếp theo, ngày 28-5-1963, Phật học viện Hải Đức Nha Trang tổ chức lễ cầu siêu tuần thứ ba cho các Thánh tử đạo ở Huế. Lễ cầu siêu diễn ra giữa một rừng cờ Phật giáo, ngoài học tăng Phật học viện Hải Đức Nha Trang, còn có đông đảo Tăng Ni, Phật tử Khánh Hoà tham dự. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng đến thủ đoạn hèn hạ như cúp điện khiến cuộc phát thanh thông bạch và tài liệu của Tổng hội Phật giáo Việt Nam bị trở ngại.

Trước đó, trong Văn thư gởi Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 24-5-1963, để tỏ rõ quyết tâm tranh đấu cho lý tưởng tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Hội Chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, thông báo: “Để cho những nguyện vọng tối thiểu và hoàn toàn thuộc phạm vi tín ngưỡng được ghi trong bản Tuyên ngôn và Bản Phụ đính (11) của chúng tôi, được thấu hiểu và chấp nhận, tôi thiết nghĩ Phật giáo đồ - mà Tăng sĩ Phật giáo là phần chính - phải có một cách nào hơn những việc đã làm. Do đó, tôi đã chỉ thị cho các vị lãnh đạo 6 tập đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ tuyệt thực 48 giờ đồng hồ có bác sĩ giám hộ kể từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963” (12).  

Chấp hành chỉ thị của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh đạo tối cao Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, cùng với giới lãnh đạo 6 tập đoàn Phật giáo trên khắp miền Nam, từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963,19 Tăng Ni trong giới lãnh đạo Phật giáo Khánh Hoà tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ tại 2 địa điểm: Công trường Trịnh Minh Thế(13) (dành cho chư Tăng) và Công trường Cộng hoà(14) (dành cho chư Ni), để đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thoả mãn 5 nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam ngày 10-5-1963. Chiều ngày 1-6-1963, đã quá hạn 48 tiếng đồng hồ, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn “án binh bất động”, Tăng Ni vẫn tiếp tục tuyệt thực, khiến 3.000 tín đồ kéo đến 2 địa điểm nói trên, biểu tình ủng hộ(15). Cùng thời điểm trên, 120 Tăng Ni và khoảng 2.000 tín đồ tuần hành qua các đường phố Nha Trang rồi thẳng đến Tòa Hành chính Tỉnh. Đoàn biểu tình mang theo Đại kỳ Phật giáo và biểu ngữ: “Yêu cầu Chính phủ giải quyết gấp 5 nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên ngôn 10-5-1963”(16). Buổi tối 1-6-1963, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa tổ chức cuộc họp với 120 người tham dự, thảo luận về việc tổ chức cuộc biểu tình hôm sau (2-6-1963), trong đó cũng bàn đến hình thức tự thiêu. Ty Cảnh sát Khánh Hoà cho lực lượng ngầm theo dõi và trong báo cáo gởi cấp trên đã cho biết quyết định của Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà: “Nếu cuộc biểu tình ngày mai chưa thỏa đáng sẽ có cuộc biểu tình khác bằng cách táo bạo và bất ngờ chính quyền không thể đề phòng kịp và sẽ có cuộc tự sát bằng hình thức hỏa thiêu 1 người để gây tiếng vang”(17). Sáng 2-6-1963, bất chấp lệnh cấm biểu tình(18), khoảng 3.000 Tăng Ni, Phật tử tuần hành theo lộ trình: Mã Vòng - Độc Lập - Công trường Cộng Hòa - Trần Quý Cáp - Nhà Thờ(19) - Gia Long(20) - chùa Tỉnh hội. Đoàn biểu tình trương cờ Phật giáo và khẩu hiệu: “Yêu cầu chính phủ giải quyết gấp 5 nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam” bằng tiếng Anh, Pháp, Hán. Cùng ngày, đông đảo Phật tử từ Cam Lâm, Diên Khánh, Vạn Ninh cũng kéo về Nha Trang nhập cuộc. Lo sợ trước phát triển của phong trào, chiều 2-6-1963, Tỉnh trưởng Khánh Hòa đã gặp giới lãnh đạo Phật giáo Khánh Hoà, đề nghị chấm dứt các cuộc tuần hành trên công lộ, đưa các Tăng Ni tuyệt thực về chùa. Xuất phát từ tinh thần bất bạo động, đồng thời để giữ gìn lực lượng, bởi trước chính sách bạo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, cuộc đấu tranh của Tăng Ni, Phật tử cần phải bền bỉ, giới lãnh đạo Phật giáo Khánh Hòa đã chấp nhận, song yêu cầu Tỉnh trưởng Khánh Hòa loan tin trên Đài Phát thanh, rằng: “Thể theo yêu cầu của quý Tỉnh trưởng nên chư Tăng Ni đã tạm thời về chùa Phật giáo tiếp tục tuyệt thực để yêu cầu Chính phủ thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo được ghi trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963”(21). Sáng 3-6-1963, trên 3.000 tín đồ Phật tử đến 2 địa điểm tuyệt thực, đưa các Tăng Ni về Trường Trung học Bồ đề Nha Trang(22). Tại đây, chư Tăng Ni tiếp tục tuyệt thực cho đến sáng 6-6-1963.

Tiếp theo, lúc 14 giờ, ngày 4-6-1963, tại chùa Trung Nghĩa (Trụ sở Khuôn hội Kỳ Viên), Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà tổ chức lễ cầu siêu tuần thứ tư cho các Thánh tử đạo. Mặc dù đã chấp thuận trước, nhưng khi lễ cầu siêu diễn ra, chính quyền Ngô Đình Diệm đã huy động cảnh sát chặn hết mọi nẻo đường không cho Tăng Ni, Phật tử đến dự lễ. Trước tình thế đó, một số học tăng Phật học viện Hải Đức Nha Trang tích cực đấu tranh khiến vòng vây cảnh sát buộc phải nới lỏng, một số Tăng Ni, Phật tử đến gần địa điểm, nhưng vẫn bị chặn lại không cho lên chùa, họ phải quỳ dưới cấp chùa ngay giữa ngã ba Quốc lộ 1; tiếp theo chính quyền Ngô Đình Diệm cho cúp điện khiến “buổi lễ cử hành trầm lặng, giữa sự đau lòng xót dạ của mọi người”(23). Sau lễ cầu siêu, một cuộc tuần hành theo lộ trình: Quốc lộ I - Quang Trung - Lý Thánh Tôn - Nguyễn Hoàng - Xóm Mới - Phước Hải(24) - Gia Long - chùa Tỉnh hội. Mặc dầu không có kế hoạch trước, nhưng cuộc tuần hành lần này “đông đảo hơn bao giờ hết nhất là thành phần thanh niên, sinh viên và học sinh,...”(25).

Để đối phó với phong trào đấu tranh ngày càng lên cao, Tỉnh trưởng Khánh Hòa triệu tập một cuộc họp bất thường lúc 9 giờ ngày 5-6-1963, quyết định thành lập Bộ Tham mưu An ninh đặc biệt gồm: Tỉnh trưởng - Chỉ huy trưởng, Phó Tỉnh trưởng Hành chính và Phó Tỉnh trưởng Tài chính - Chỉ huy phó, Đại úy Tiểu đoàn trưởng Bảo an 38 - phụ trách chung, Đại úy Quân vụ trưởng - chịu trách nhiệm về trật tự ngoài phạm vi biểu tình trong toàn lãnh thổ quân trấn, Đại úy Chỉ huy trưởng Trường Hạ sĩ quan Đống Đế - Sĩ quan liên lạc giữa Trường với Bộ Tham mưu(26). Hành động đầu tiên của Bộ Tham mưu An ninh đặc biệt là phong toả chùa Tỉnh hội, “công chức đều bị buộc làm giấy cam kết, không đi chùa và không cho vợ con đi chùa,...”(27). Ngày 6-6-1963, Toà hành chánh Khánh Hoà ra lệnh thiết quân luật tại Nha Trang và vùng phụ cận từ 21 giờ hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau. Tuy vậy, do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, ngày 10-6-1963, Toà Hành chánh Khánh Hoà buộc phải bãi bỏ.

Ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức(28) anh dũng tự thiêu tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng(29), Sài Gòn. Khi hay tin này, Phật giáo đồ Khánh Hòa xúc động mạnh, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà chủ trương cần phải hành động quyết liệt để noi gương Hòa thượng Thích Quảng Đức và biện pháp tự thiêu đồng loạt tại 6 địa điểm đã được tính đến, gồm Công trường Trịnh Minh Thế, Công trường Cộng Hòa, Tòa Tỉnh trưởng, Ngã Sáu Nhà thờ, Bến xe Phước Hải và Bến xe Sinh Trung(30). Nhằm ngăn chặn các cuộc tự thiêu, Tỉnh trưởng Khánh Hòa ra lệnh phải kiểm soát xe cộ nghi chở người tự thiêu, tịch thu dụng cụ tự thiêu, bắt tất cả những người tiếp tay, lập biên bản chuyển qua Tòa án để truy tố; tại mỗi địa điểm trên, bố trí: 1 Quân cảnh, 3 cảnh sát, 4 lính bảo an, 2 cái mền cứu hỏa, phương tiện liên lạc bằng điện thoại hoặc bằng xe(31). Trong lúc đó, một số Tăng Ni tìm cách vào Sài Gòn thực hiện ý nguyện tự thiêu. Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa đối phó bằng cách “vận động” ngầm xe đò, hàng không không bán vé, như chiều 12-6-1963, Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa ngăn cản không cho Đại đức Thích Quảng Hương(32) mua vé máy bay đi Sài Gòn. Phản ứng lại, tối 12-6-1963, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa can thiệp, rằng bằng mọi giá, Đại đức Thích Quảng Hương phải lên được máy bay chiều 13-6-1963; nếu tiếp tục bị ngăn cản, Đại đức sẽ tự thiêu ngay tại sân bay Nha Trang. Trước sự cương quyết của Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải để Đại đức Thích Quảng Hương đi Sài Gòn bằng chuyến bay đã định. Mặt khác, bộ ảnh tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức được Nhà sách Hoa Sen (số 82 đường Độc Lập) phát hành rộng rãi trong Tăng Ni, Phật tử. Tài liệu chính quyền Sài Gòn thừa nhận: “Bộ ảnh ấy hiện nay được tiêu thụ rất mạnh và phổ biến đến đâu đều được nhiều người tò mò đua nhau xem. Sự kiện này có thể gây nhiều xúc động và kéo thêm dư âm lâu dài”, và tìm biện pháp ngăn chặn: “Tỉnh ban hành thông cáo cấm chỉ việc phát hành loại ảnh này trong toàn tỉnh để tránh những ảnh hưởng không hay về phương diện chính trị”(33). Cùng với bộ ảnh “tử vì Đạo” của Thích Quảng Đức, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa còn cho phổ biến bài thơ “Bức thư gửi bạn phương xa” của Nữ sĩ Hoàng Thành từ Sài Gòn gửi ra: “Bao uất hận đang dồn về ta cả,      Đạo từ bi nghiêng ngả bởi bạo quyền.Quá dã man bao hành động đảo điên,Vì khát máu lấy uy quyền đàn áp,...Dân tộc ta tám mươi phần Phật tử,Ánh Đạo vàng để gục tắt hay sao?Giờ phút đây kíp phải liệu thế nào,Nếu câm lặng sẽ phải vào cõi chết.Người Phật tử không khi nào sợ sệt,Vậy, chúng ta phải mạnh dạn tiến lên”.Bài thơ như tiếp thêm tinh thần và ý chí, thôi thúc đồng bào Phật tử tiếp tục đấu tranh. Chính quyền Ngô Đình Diệm phản ứng bằng cách: “Cho các cơ quan an ninh thu và lập biên bản truy tố khi bắt gặp quả tang kẻ nào đang lưu hành hoặc tàng trữ bức thư trên”(34).Sau sự kiện “Tử vì Đạo” của Hoà thượng Thích Quảng Đức (11-6-1963), không chỉ ở Khánh Hoà mà khắp các đô thị miền Nam, phong trào Phật giáo lên cao; cùng với dư luận quốc tế, đặc biệt là ở Mỹ, lên án gay gắt chính quyền Ngô Đình Diệm. Để tránh một cuộc nổi dậy của Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm phải chịu nhượng bộ bằng việc ký kết Thông Cáo chung với Phật giáo vào 1 giờ 30 sáng ngày 16-6-1963, thoả mãn 5 nguyện vọng mà Phật giáo đề ra trong Bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Nhìn trên văn bản, việc ký kết Thông Cáo chung là một thắng lợi lớn của phía Phật giáo, nhưng thực ra đây chỉ là kế hoãn binh. Âm mưu này được tiết lộ trong một bức mật điện mang số 13242/VP/TT ngày 19-6-1963 của Văn phòng Phủ Tổng thống đánh đi cho các Đại biểu Chính phủ các miền, Tư lệnh các vùng, nguyên văn như sau: “Để tạm thời làm dịu tình hình và khí thế đấu tranh quá quyết liệt của bọn Tăng Ni Phật giáo phản động, Tổng thống và ông Cố vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ. Các nơi hãy theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh. Một kế hoạch đối phó thích nghi sẽ gởi đến sau. Ngay từ bây giờ, hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới, hãy theo dõi, điều tra, thanh trừng những phần tử Phật giáo bất mãn và trình thượng cấp, kể cả sĩ quan và công chức cao cấp”(35). Trong một cuộc họp của 18 tướng tá vào đầu tháng 7-1963, Ngô Đình Nhu tuyên bố: “Nếu chính phủ này không giải quyết vấn đề Phật giáo, nó sẽ bị lật đổ vì một cuộc đảo chánh quân sự”. Theo Nhu, “bất cứ chính phủ nào thay thế chính phủ này trước hết phải đập tan những người Phật giáo”(36).

Nắm chắc bản chất lật lọng chế độ Ngô Đình Diệm nên sau ngày ký Thông Cáo chung, giới lãnh đạo Phật giáo Khánh Hòa vẫn khuyến cáo toàn thể Phật giáo đồ: “Chớ quá lạc quan mà quên mất bổn phận và trách nhiệm trong lúc hiện tại. Hằng đêm, các chùa, Khuôn hội, Chi hội phải tổ chức tụng niệm cầu nguyện cho Phật sự được an lành, nhân dân an lạc, kẻ mệnh bạc siêu thăng”(37).

Thật vậy, sau “Thông Cáo chung” (16-6-1963), chính quyền Ngô Đình Diệm bằng nhiều thủ đoạn gây ra hàng loạt vụ vi phạm(38). Riêng ở Khánh Hoà, ngày 6-7-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm cho tay chân vào chùa Tỉnh hội (chùa Long Sơn) đoạt lấy hình Hoà thượng Thích Quảng Đức mà Tỉnh hội đang thờ; ngày 7-7-1963, cho người đốt xe hơi của ông Trần Quang Ba, Phó Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà; đêm 14-7-1963, tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang, chính quyền Ngô Đình Diệm cho người lạ mặt lẽn vào phòng ngủ hành hung các học tăng,...(39).

“Chiến tranh một phía” từ phía chính quyền Ngô Đình Diệm không cho phép giới lãnh đạo Phật giáo hòa hoãn được nữa, buộc họ phải phát động trở lại cuộc đấu tranh. Trong Văn thư số 83 ngày 14-7-1963 gởi Ngô Đình Diệm, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh đạo Tối cao Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, khẳng định rằng: “Vì sự tồn vong của Phật giáo, tôi kính thưa Tổng thống tường, kể từ hôm nay, với tư cách là lãnh đạo tối cao, tôi thấy có bổn phận chỉ thị cho Tăng Ni và thiện tín phát động một phong trào đòi hỏi sự thực thi bản Thông Cáo chung dưới mọi hình thức bất bạo động và trong sự tôn trọng các điều khoản của bản Thông Cáo chung ấy”(40). Cũng trong ngày hôm đó, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết gởi Thông bạch kêu gọi toàn thể Tăng tín đồ “nhất tề thực hiện phong trào”(41).Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam phục hồi trở lại với cường độ cao hơn trước. Tại Khánh Hoà, ngày 8-8-1963, 3 học tăng Phật học viện Hải Đức Nha Trang là Hồ Đắc Chương, Nguyễn Phi Vân và Nguyễn Đạo Uy đã bí mật vào Sài Gòn “để xin tự thiêu đấu tranh cho 5 nguyện vọng của Phật giáo”(42). Chỉ nửa đầu tháng 8-1963, đã có đến 4 cuộc tự thiêu phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm không chịu thi hành Thông Cáo chung, trong đó có cuộc tự thiêu của Ni sư Diệu Quang diễn ra ngày 15-8-1963 tại Ninh Hoà cách Nha Trang không xa. Chính quyền Ngô Đình Diệm cướp xác và bút tích của Ni sư. Khi hay tin này, trưa cùng ngày, chừng 1.000 Tăng Ni, Phật tử kéo đến Tòa Hành chính tỉnh yêu cầu trả lại thi hài Ni cô Diệu Quang. Đến chiều, đoàn biểu tình trở về chùa Tỉnh hội, khi qua các trại binh sĩ đồn trú, đoàn dùng loa kêu gọi binh sĩ tham gia biểu tình. Mờ sáng hôm sau (16-8-1963), hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử tụ tập từng nhóm từ 50 đến 100 người trên các đường phố, căng biểu ngữ, dùng xe hơi chạy khắp thị xã kêu gọi nhân dân đấu tranh. Lúc này, Tư lệnh Quân đoàn II(43) Sài Gòn có mặt tại Nha Trang đã ra lệnh dùng lựu đạn cay, vòi rồng giải tán các đám đông. Buổi tối cùng ngày, Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo yêu cầu Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa tiếp tục cuộc đấu tranh đòi cho kỳ được thi thể Ni cô Diệu Quang. Chấp hành chỉ thị, sáng 17-8-1963, khoảng 300 Tăng Ni, Phật tử ở lại chùa Tỉnh hội từ tối 16-8, ào ạt tiến ra Quốc lộ 1 hướng vào trung tâm Nha Trang. Đoàn biểu tình giương cao các khẩu hiểu bằng tiếng Việt, tiếng Anh: “Hãy giết chúng tôi đi”, “Hãy trả thi hài Ni cô Diệu Quang cho chúng tôi”, “Chúng tôi đòi thi hành đúng đắn Thông Cáo chung”, “Hãy chấm dứt mọi hình thức khủng bố và áp bức Phật giáo đồ”(44).Cuộc biểu tình bị chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng tay đàn áp làm 26 Tăng Ni bị thương, trong số đó có 8 trầm trọng; 13 thanh niên và học sinh Phật tử bị thương (10 nặng); trên 200 thiện tín, thanh niên và học sinh bị bắt, mà “mà công an đã ngang nhiên tuyên bố là do lệnh Trung ương”(45).

Sau 2 ngày đấu tranh, mục tiêu “đòi xác Ni cô Diệu Quang” vẫn chưa đạt được, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa “chuẩn bị cho hỏa thiêu thêm vài Tăng Ni để tranh đấu,... ”(46). Để đối phó, chính quyền Ngô Đình Diệm tại Khánh Hòa siết chặt an ninh, yêu cầu các quận thành lập “Ban cứu hỏa thiêu”, chuẩn bị phương tiện như mền ướt, cát, xe nước. Phong trào Phật giáo Khánh Hòa lên cao đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm tại đây trở nên bị động, lúng túng. Trong công điện hỏa tốc xin ý kiến Bộ Nội vụ, Tỉnh trưởng Khánh Hoà đã thú nhận tình trạng này: “Tỉnh tôi không biết xử trí ra sao?”(47). Tiếp tục đòi xác Ni cô Diệu Quang, ngày 18-8-1963, Ni cô Ngô Thị Phương Lan và Ni cô Vũ Thị Kim Oanh mang đơn của ông Ngô Đình Hòe (thân phụ Ni cô Diệu Quang) vào Sài Gòn đề nghị Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo can thiệp. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm bằng mọi biện pháp tìm cách ngăn cản không cho 2 Ni cô lên máy bay, như “nhân viên phi trường Nha Trang soát giấy chích ngừa dịch hạch nhưng đương thị không có”(48), đồng thời, lá đơn cũng bị tịch thu. Không thối chí, sáng 19-8-1963, hai Ni cô đã bí mật đi Sài Gòn bằng xe đò mang theo băng ghi âm lời thỉnh cầu của ông Ngô Đình Hòe(49).

Ảnh giacngo.vn: Giới tử Đại giới đàn Quảng Đức - Khánh Hòa 2009

Để đẩy lùi phong trào, chính quyền Ngô Đình Diệm phong toả chùa Tỉnh hội, Phật học viện Hải Đức Nha Trang và Trường Bồ Đề Nha Trang; điện nước bị cắt, mọi tiếp tế lương thực và thuốc men bị ngăn chặn. Phản đối hành động dã man này, trong Thư văn gởi Ngô Đình Diệm ngày 19-8-1963, Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Lãnh đạo tối cao Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo viết: “Phật giáo đồ chúng tôi xin ghi thêm một thành quả tốt đẹp của nền Dân chủ Cộng hoà Nhân vị do những lá thăm của 80% dân chúng Phật giáo xây dựng, và xin để quốc dân đồng bào và Thế giới Tự do phán xét” (50). Không riêng gì ở Nha Trang mà hầu hết các đô thị miền Nam, phong trào Phật giáo lên cao, lôi cuốn các tầng lớp xã hội tham gia như giáo sư và sinh viên, nhất là tại Huế và Sài Gòn(51). Để cứu nguy cho chế độ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho thực hiện “Kế hoạch nước lũ”: “Cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong giới Tăng Ni, công chức, giáo sư, sinh viên, cũng như trong các đoàn thể nhân dân”  nhằm giải quyết dứt điểm “vụ Phật giáo”. “Thời gian ấn định cho việc thực hiện xong kế hoạch là từ 21-8 đến 30-9-1963 (52).  Đúng như kế hoạch vạch ra, đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, trên khắp miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm cho quân tấn công các ngôi chùa dùng làm cơ sở đấu tranh. Tại Khánh Hoà, chùa Tỉnh hội là trọng điểm tấn công của chính quyền Ngô Đình Diệm.  Tại đây, vào lúc 4 giờ sáng ngày 21-8-1963, công an, cảnh sát cùng lực lượng bảo an chia từng tốp, lục soát Chánh điện, Văn phòng Ban Trị sự, tịnh thất,... Lực lượng Diệm tịch thu tất cả hồ sơ, giấy tờ, máy chữ, máy vi âm, máy ronéo,... Nham hiểm nhất, vào phòng Ban Trị sự, họ “bỏ vài trái lựu đạn vào tủ và lập biên bản xuyên tạc nhà chùa có vũ khí” (53), ... Hầu hết Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà cùng một số Phật tử cốt cán đều bị bắt đưa vào trại giam trong đêm tấn công này. Tiếp theo, để tạo cớ cho việc bắt giữ những Phật tử tham gia đấu tranh, ngày 22-8-1963, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Khánh Hòa ra Thông cáo số 306/TKKH/3, ban hành lệnh giới nghiêm trên địa bàn tỉnh (54): “Cấm hẳn các cuộc tụ tập trên công lộ, các cuộc hội họp trên 5 người bất cứ dưới hình thức nào; trong giờ giới nghiêm cấm ra đường ngoài trừ trường hợp có bệnh nặng, sanh nở thì phải mang theo đèn, nhân viên công lực gọi phải đứng lại, gọi 3 lần không đứng sẽ nổ súng; tất cả các tư gia cũng như đoàn thể và tôn giáo có loại máy khuếch âm và vi âm phải đến kê khai tại Tiểu khu, chỉ được sử dụng khi có giấy phép của Tiểu khu; cấm tàng trữ, lưu hành tất cả các loại truyền đơn không có kiểm duyệt; tất cả các loại vũ khí kể cả khí giới bén nhọn dù có giấy phép mang giữ hay không đều phải đưa nạp Tiểu khu hoặc đơn vị quân sự gần nhất. Mọi vi phạm các khoản Thông báo trên đều bị truy tố trước Tòa án Quân sự”(55).Ngày 23-8-1963 và những ngày kế tiếp, tại Nha Trang, lực lượng Ngô Đình Diệm đến nhà riêng, bắt thêm nhiều Phật tử, đưa vào trại giam. Ở các quận (huyện), “tình trạng cũng tương tự như ở tỉnh, cũng lục soát, đập phá chùa chiền và bắt giữ các nhà sư cùng nhân viên các Ban Trị sự”(56).Sau “Kế hoạch nước lũ” (đêm 20 rạng ngày 21-8-1963) và ban hành lệnh giới nghiêm (22-8-1963), phong trào Phật giáo Khánh Hòa vì mục tiêu tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo dường như kết thúc: “Vấn đề tranh đấu của Phật giáo hiện nay, dù muốn dù không cũng không thể tiếp tục được vì dụng cụ, máy móc, tài chính, hồ sơ đều bị chính quyền tịch thu. Chúng tôi hiện nay như chim bị nhặt lông, nhổ cánh. Chắc Quý tỉnh không còn lo ngại về việc làm của chúng tôi nữa”(57). Song trên thực tế, phong trào vẫn tiếp tục diễn ra, khi âm thầm khi công khai. Tại Nha Trang, “Phật giáo đồ làm sẵn bạch thư để gởi về Sài Gòn nhằm đệ trình Phái đoàn Liên hợp quốc, trong đó tố cáo chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo”(58). Tiêu biểu nhất là ngày 25-10-1963, trong lúc đang chào cờ, học sinh đã gây ra một vài tiếng nổ tại góc Trường Trung học Võ Tánh(59) và Trường Nữ Trung học Nha Trang(60). Lợi dụng tình thế này, một số truyền đơn như  “Lá tâm thư của sinh viên, học sinh toàn quốc gửi đồng bào các giới tại trường Võ Tánh” được ném vào 2 hai trường.

Cũng thời gian này, trong giới học sinh phổ biến bài “Ca dao mới”, với những câu mở đầu đầy ý mỉa mai:“Em bước lên nhà thờ

   Nhìn lên cây Thánh giá Lệ em rơi lã chãEm cầu chúa Ki-tôBan phước lành xuống họ NgôMạnh tay đàn áp Phật giáo đồ Việt Nam”(61).

Điều này báo trước tiền đồ đen tối của chế độ Ngô Đình Diệm, và sự thật “phước lành” đã đến khi cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 diễn ra. Anh em Diệm - Nhu bị giết chết. Chế độ gia đình trị, giáo trị Ngô Đình Diệm sau 9 năm thống trị miền Nam sụp đổ. Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam nói chung, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 kết thúc. Nghiên cứu và tìm hiểu phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963, chúng ta rút ra một số nhận định cơ bản sau:Một là, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 có mốc mở đầu, tuy mức độ non hơn, nhưng cùng với phong trào Phật giáo miền Nam, và diễn ra hết sức quyết liệt mặc cho chính quyền Ngô Đình Diệm dùng hết mọi biện pháp dã man để trấn áp. 

Về mốc mở đầu, nếu như ngày 7-5-1963 được xem là ngày mở đầu phong trào Phật giáo miền Nam với việc Tăng Ni, Phật tử xuống đường bao vây tỉnh toà Thừa Thiên(62), thì ở Khánh Hoà, ngày đó cũng được xem là mốc mở đầu phong trào. Thật vậy, ngày 7-5-1963, ngay khi Công điện 9195 ngày 6-5-1963 của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm chuyển đến chùa Tỉnh hội, cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản 1963, thì Tăng Ni, Phật tử Khánh Hoà đã phản ứng tức khắc, cụ thể giới lãnh đạo Phật giáo đã gặp viên Tỉnh trưởng để bày tỏ lập trường: “Hoặc là tổ chức lễ Phật đản với giáo kỳ hoặc là không tổ chức gì hết”. Viên Tỉnh trưởng buộc phải chấp nhận và ngày 8-5-1963 (tức Rằm tháng Tư âm lịch), Lễ Phật đản được tổ chức trên khắp các địa phương toàn tỉnh. Về sự quyết liệt của phong trào, có thể thấy ở một số sự kiện tiêu biểu, như chiều ngày 1-6-1963, cuộc tuyệt thực đã quá hạn 48 tiếng đồng hồ, nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn “án binh bất động”, Tăng Ni vẫn tiếp tục tuyệt thực, khiến 3.000 tín đồ biểu tình ủng hộ,... và cuộc họp tối hôm đó, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa đã bàn đến hình thức tự thiêu, rằng: “Nếu cuộc biểu tình ngày mai chưa thỏa đáng sẽ có cuộc biểu tình khác bằng cách táo bạo và bất ngờ, chính quyền không thể đề phòng kịp và sẽ có cuộc tự sát bằng hình thức hỏa thiêu 1 người để gây tiếng vang”; hoặc sau cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức (11-6-1963), Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà chủ trương cần phải hành động quyết liệt, biện pháp tự thiêu đồng loạt đã được tính đến; trong lúc đó, một số tăng sĩ tìm cách vào Sài Gòn thực hiện ý nguyện tự thiêu, như Đại đức Thích Quảng Hương; hoặc trong cuộc đấu tranh đòi trả lại thi thể Ni cô Diệu Quang, sáng 17-8-1963, Tăng Ni, Phật tử biểu tình giương cao các khẩu hiểu bằng tiếng Việt, tiếng Anh: “Hãy giết chúng tôi đi”, “Hãy trả thi hài Ni cô Diệu Quang cho chúng tôi”, “Hãy chấm dứt mọi hình thức khủng bố và áp bức Phật giáo đồ”(63).Tỉnh trưởng Khánh Hòa trong công điện hỏa tốc gởi chính quyền Sài Gòn phải chua chát thừa nhận: “Tỉnh tôi không biết xử trí ra sao?”(64), hoặc sau “Kế hoạch nước lũ” (đêm 20 rạng ngày 21-8-1963), 3 học tăng Phật học viện Hải Đức Nha Trang là Hồ Đắc Chương, Nguyễn Phi Vân và Nguyễn Đạo Uy bí mật vào Sài Gòn “để xin tự thiêu đấu tranh cho 5 nguyện vọng của Phật giáo”,... Có được mốc mở đầu và sự quyết liệt như vậy, cái chính là quyết tâm đấu tranh của Phật giáo đồ; mặt khác, được xem là rất quan trọng, Phật giáo Khánh Hoà có một “Ban Lãnh đạo cương quyết, đã không thối lui trước mọi trở ngại và khó khăn đến đâu”; rồi “Tỉnh hội ở gần Phật học viện. Chính việc này đã cung cấp cho nhiều ý kiến hay và nhân lực để thúc đẩy sự tranh đấu”(65).Hai là, về tính chất, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 hướng đến việc giải quyết mâu thuẫn dân tộc trong một xã hội thuộc địa, đồng thời in đậm giáo lý nhà Phật. Nói cách khác, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 vừa mang tính chất dân tộc dân chủ, vừa mang tính chất bất bạo động. Về tính chất dân tộc khi Phật giáo Khánh Hoà cùng với Phật giáo miền Nam đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm thì cũng có nghĩa chống cả thế lực ngoại bang, tức chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, mà chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ là kẻ tay sai, thừa hành. Về tính chất bất bạo động, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 thể hiện rất rõ nét, như cuộc tuyệt thực của chư Tăng Ni vào cuối tháng 5, đầu tháng 6-1963; cuộc tự thiêu của Ni sư Diệu Quang (15-8-1963),... Cần phải thấy rằng con em tu sĩ Khánh Hoà không chỉ thể hiện bất bạo động trên quê hương mình mà cả ở Sài Gòn, dinh luỹ của Ngô triều, như cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức (11-6-1963), được xem là sự kiện nổi bật nhất trong phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963. Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Hành động dũng cảm của Hoà thượng Thích Quảng Đức là một bản án không gì bôi được đối với chế độ bù nhìn của Mỹ ở Sài Gòn, đồng thời là một lời kêu gọi đồng bào Phật tử đấu tranh chống phát-xít, dù chết không chịu lùi bước. Thật không phải thường có những cái chết kích động nhân tâm sâu sắc và rộng rãi như cái chết của Hoà thượng Thích Quảng Đức”(66). 

Ba là, phong phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 có quy mô rộng lớn, đa dạng và phong phú về các hình thức và biện pháp đấu tranh. Về qui mô rộng lớn, không chỉ Nha Trang mà hầu như các huyện, phong trào đều diễn ra, quần chúng Phật tử tích cực hưởng ứng, như ngày 21-5-1963, Chi hội Cam Lâm đã thuê 7 xe khách chở Phật tử về Nha Trang dự lễ thọ tang các Thánh tử đạo đã bỏ mình tại Huế; hoặc sáng 2-6-1963, đông đảo Phật tử từ Cam Lâm, Diên Khánh, Vạn Ninh cũng kéo về Nha Trang biểu tình; hoặc Ni sư Diệu Quang tự thiêu tại Ninh Hoà (15-8-1963),... Sau “Kế hoạch nước lũ”, chính quyền Ngô Đình Diệm cho lực lượng lùng bắt Phật tử không chỉ ở Nha Trang mà ở các quận (huyện) “cũng lục soát, đập phá chùa chiền và bắt giữ các nhà sư cùng nhân viên các Ban Trị sự”. Điều này cho thấy phong trào Phật giáo đã diễn ra khắp các địa phương trong tỉnh,...

Về đa dạng và phong phú các hình thức, biện pháp đấu tranh, ở Khánh Hoà ngoài biểu tình, phổ biến các tài liệu từ Huế vào hay từ Sài Gòn ra, cầu siêu, tuyệt thực, tự thiêu,... còn có thơ ca vừa động viên quần chúng đấu tranh, vừa mỉa mai chế độ bạo trị Ngô Đình Diệm, như phổ biến bài thơ “Bức thư gửi bạn phương xa” của Nữ sĩ Hoàng Thành từ Sài Gòn gửi ra, hoặc “Ca dao mới”,...

Bốn là, phong trào Phật giáo Khánh Hoà năm 1963 là một bộ phận hữu cơ của phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963. Thật vậy, phong trào Phật giáo Khánh Hoà diễn ra đúng với mục tiêu và phương pháp(67) mà giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam đã vạch ra. Lập luận này có thể minh hoạ bằng một số sự kiện cụ thể, như ngày 14-5-1963, giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam chỉ thị cho các Hội Phật giáo tổ chức lễ thọ tang cho các Thánh tử đạo thì ngày 21-5-1963, tại chùa Long Sơn (chùa Tỉnh hội), Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà tổ chức lễ với sự tham gia không chỉ riêng Nha Trang mà khắp Phật giáo đồ khắp các địa phương, riêng Chi hội Cam Lâm đã thuê 7 chiếc xe khách chở Phật tử về Nha Trang dự lễ; rồi tuần thứ ba tại Phật học viện Hải Đức, tuần thứ tư tại chùa Trung Nghĩa. Tiếp theo, giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam chỉ thị tuyệt thực 48 giờ đồng hồ, kể từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963 để “yêu cầu Chính phủ giải quyết gấp 5 nguyện vọng ghi trong Bản Tuyên ngôn 10-5-1963”(68) và Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hoà đã chấp hành, tổ chức tuyệt thực đúng thời gian qui định; hoặc tối ngày 16-8-1963, giới lãnh đạo Phật giáo yêu cầu Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa tiếp tục cuộc đấu tranh đòi cho kỳ được thi thể Ni cô Diệu Quang, thì sáng 17-8-1963, Tăng Ni, Phật tử biểu tình giương cao các khẩu hiểu bằng tiếng Việt, tiếng Anh: “Hãy giết chúng tôi đi”, “Hãy trả thi hài Ni cô Diệu Quang cho chúng tôi”, “Chúng tôi đòi thi hành đúng đắn Thông Cáo chung”, “Hãy chấm dứt mọi hình thức khủng bố và áp bức Phật giáo đồ”(69), ... Một lần nữa, bài học rút ra đối với Phật giáo Việt Nam là vấn đề thống nhất, đoàn kết thành một khối duy nhất là nhân tố đảm bảo cho sự viên mãn đối với sự nghiệp phục vụ dân tộc và Đạo pháp. Do vậy, sau ngày đất nước thống nhất (30-4-1975), sự ra đời Giáo hội Phật giáo Việt Nam (11-1981) được xem là tất yếu.

____________

CHÚ THÍCH

* PGS. TS. Trường ĐHSP - Đại học Huế.

** TS. Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang.

 

(1). Tại Huế, Công điện 9195 ngày 6-5-1963 của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà được Tỉnh trưởng Thừa Thiên chuyển đến giới lãnh đạo Phật giáo Trung Phần (chùa Từ Đàm) vào lúc 20 giờ 30 cùng ngày.

(2). (2). Năm 1973, Hoà thượng (lúc này, Thượng toạ Thích Trí Thủ đã được tấn phong Hoà thượng) là Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; ngày 7-11-1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập, Hoà thượng được bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.  Năm 1973, Hoà thượng (lúc này, Thượng toạ Thích Trí Thủ đã được tấn phong Hoà thượng) là Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; ngày 7-11-1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập, Hoà thượng được bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 

(3), (23), (25), (27), (53), (56) và (65). Tuệ Giác, Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử, Nxb. Hoa Nghiêm, Sài Gòn, 1964, tr. 308, tr. 304, tr. 384, tr. 385, tr. 325, tr. 316 và tr. 299.

(4). Nay là đường Thống Nhất.

(5). Nay là đường Ngô Gia Tự.

(6). 5 nguyện vọng gồm: 1. Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo; 2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một quy chế đặc biệt như các Hội Truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong Dụ số 10; 3. Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo; 4. Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo; 5. Yêu cầu Chính phủ phải đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8352).

(7). Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa, Công văn số 4599/C3.M. ngày 17-5-1963, Về dự định của Phật giáo Nha Trang, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(8). Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa, Công văn số 4641/C2.M. ngày 18-5-1963, Về diễn biến về tình hình Phật giáo, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(9). Mật điện của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ngày 14-5-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: Đệ ICH-8529.

(10). Như chặn xe lục soát giấy tờ, đóng cửa các ấp chiến lược, triệu tập học tập bầu cử Quốc hội,...

(11). Bản Phụ đính công bố ngày 23-5-1963, giải thích rõ ràng, cụ thể 5 nguyện vọng đã nêu trong “Bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963”.

(12). Thích Hải Ấn và Lê Cung, Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 qua tài liệu các cấp Phật giáo, Nxb. Thuận Hoá, Huế 2013, tr. 119.

(13). Nay là Công viên 23-10.

(14). Nay là địa điểm Tượng đài Chiến thắng, số 5, đường 2-4. 

(15). Bảng kê các hoạt động có tính cách phá rối trật tự trong vụ Phật giáo, tr. 2, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: ĐICH-19.489.

(16), (68). Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa, Công điện số 5133/C2.M, ngày 1-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(17). Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hòa (1963), Công điện số 5124/C2.M, ngày 1-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(18). Ngày 1-6-1963, Tòa Đại biểu Chính phủ Trung Nguyên Trung Phần ban hành Công điện số 157/CT nghiêm cấm biểu tình.

(19). Nay là đường Lê Thành Phương.

(20). Nay là đường Thái Nguyên.

(21). Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa, Công văn số 307 PG/KH ngày 4-6-1963 gởi Tỉnh trưởng Khánh Hoà, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(22). Nay là trường Trung học Cơ sở Phan Sào Nam.

(24). Nay là đường Nguyễn Trãi.

(26). Tòa Hành chính tỉnh Khánh Hòa, Biên bản cuộc họp ngày 5-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(28). Hoà thượng Thích Quảng Đức sinh năm 1897 tại Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, từng giữ chức Kiểm tăng của Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Từ năm 1943, Hòa thượng rời Khánh Hòa vào hành đạo tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

(29). Nay là ngã tư đường Cách mạng tháng Tám và Nguyễn Đình Chiểu, TP. Hồ Chí Minh.

(30), (31). Tòa Hành chính tỉnh Khánh Hòa, Biên bản cuộc họp ngày 12-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ Khánh Hòa, Ký hiệu tài liêu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(32). Thích Quảng Hương từng học tập tại Phật học viện Hải Đức Nha Trang. Thời điểm năm 1963, Đại đức Thích Quảng Hương Trú trì chùa Khải Đoan (Buôn Ma Thuột) kiêm Giảng sư tại Tỉnh hội Phật giáo Đắk Lắk. Đại đức tự thiêu tại Sài Gòn ngày 5-10-1963.

(33). Ty Thông tin Khánh Hòa, Công văn số 177/TT/KH/HC/M. ngày 24-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H02, HS15.

(34). Tỉnh trưởng Khánh Hòa (1963), Công văn số 1901/VP/M. ngày 27-6-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(35). Nam Thanh, Cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam, Viện Hóa Đạo xuất bản, Sài Gòn, 1964, tr. 421.

(36). Jerrold Schecter, The New Face of Buddha, John Weather Hill, Tokyo, 1967,  tr. 197, tr. 182.

(37). Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa, Công văn số 339 PG/KH/HC ngày 26-6-1963, V/v lễ tụng niệm cầu nguyện tài chùa và các Khuôn hội, Chi hội, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(38), (51), (62). Xem “Lê Cung, Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 (in lần thứ tư), Nxb. Thuận Hoá, Huế, 2008.

(39). Phúc trình về các điểm khiếu nại của Phật giáo Khánh Hoà và Bình Định, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: ĐICH-8521.

(40). Văn thư số 83 ngày 14-7-1963 của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam gởi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Tài liệu lưu tại chùa Từ Đàm, Huế.

(41). Thông bạch số 84 ngày 16-7-1963 của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam gởi toàn thể Tăng đồ và tín đồ trong nước, Tài liệu lưu tại chùa Từ Đàm - Huế.

(42). Bảng kê các hoạt động có tính cách phá rối trật tự trong vụ Phật giáo đã dẫn, tr. 14.

(43). Tư lệnh Quân đoàn II lúc này là Đại tá Nguyễn Khánh, người mà về sau cầm đầu “cuộc chỉnh lý” lật đổ Dương Văn Minh ngày 30-1-1964.

(44), (47), (63), (64) và (69). Tỉnh trưởng Khánh Hòa (1963), Công văn số 2524/CT/1M ngày 21-8-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(45), (50). Văn thư của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Lãnh đạo Tối cao Uỷ ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo gởi Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 19-8-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: ĐICH-8521.

(46). Tỉnh trưởng Khánh Hòa, Công văn số 1077/VP/M ngày 16-8-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(48). Nha Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, Tờ trình ngày 20-8-1963, V/v Ni cô Diệu Quang tự hỏa thiêu tại Ninh Hòa, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(49). Với quyết tâm đòi bằng được xác Ni cô Diệu Quang, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa lên kế hoạch tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ vào ngày 21-8-1963, trong cuộc biểu tình này “sẽ có một nhóm học sinh và quân nhân cải trang để làm hậu thuẫn cho Tăng Ni”, nhưng không thực hiện được vì “Kế hoạch nước lũ” của chính quyền Ngô Đình Diệm đêm 20 rạng ngày 21-8-1963.

(52). Kế hoạch thanh toán vụ tranh chấp bạo động của Tổng hội Phật giáo tại Thừa Thiên, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu SC.04-HS. 8466.

(54). Trước đó, ngày 20-8-1963, Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh: “Nay tuyên bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam, kể từ ngày công bố Sắc lệnh này cho tới khi có lệnh mới” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8468).

(55). Tiểu khu trưởng Tiểu khu Khánh Hòa (1963), Thông cáo số 306/TKKH/3 ngày 22-8-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, ký hiệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(57). Hội Tăng già Khánh Hòa, Thư gửi Tỉnh trưởng Khánh Hòa ngày 22-8-1963, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(58). Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, ký hiệu tài liệu SC.04-HS.8466.

(59). Nay là Trường Trung học Phổ thông Lý Tự Trọng.

(60). Nay là Trường Trung học Cơ sở Thái Nguyên.

(61). Ty Cảnh sát Quốc gia Khánh Hoà, Công văn số 10150/C2.M, ngày 30-10-1963, V/v học sinh phổ biến ca dao phản động, Chi cục Văn thư Lưu trữ  Khánh Hòa, Ký hiệu tài liệu: Tòa Hành chính, H13, HS04.

(66). Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập II, Nxb. Khoa học, Hà Nội, 1966, tr. 434.

(67). Trong hội nghị mật tại chùa Từ Đàm (Huế), giới lãnh đạo Phật giáo đã đề ra những nét đại cương, trong đó về “Mục tiêu: Bình đẳng và tự do cho tín ngưỡng Phật giáo (trong phạm vi nhân quyền); Phương pháp: Bất bạo động” (Thích Trí Quang, Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam, Tuần báo Hải Triều Âm, số 2, ngày 30-4-1964, tr. 4).

Nguồn: tác giả gửi cho trang SH

 

Các bài cùng tác giả


 ▪ Chính Sách Tôn Giáo Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm - Lê Cung

Lời đầu: Chính Sách Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm Đối Với Phật Giáo Miền Nam Trên Lãnh Vực Tư Tưởng Chí - Lê Cung

Chính Sách Tôn Giáo Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm - Lê Cung

Chính Sách Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm Đối Với Phật Giáo Miền Nam - Phần I - Về kinh tế - xã hội - Lê Cung

Nhận Thức Lịch Sử Cần Được Khẳng Định Về Linh Mục Dòng Tên Alexandre De Rhodes - GS Lê Cung

Mưu Đồ Chính Trị Của Alexandre De Rhodes và Vấn Đề Chữ Quốc Ngữ - Hoàng Văn Lân & Đặng Huy Vận

Người Quảng Bình, Thử Nhìn Từ Phía Phản Diện (Đỗ Mậu, Nhìn Từ Góc Độ Văn Hóa) - GS Lê Cung

Mưu Đồ Chính Trị Của Alexandre De Rhodes và Vấn Đề Chữ Quốc Ngữ - Hoàng Văn Lân & Đặng Huy Vận

Qua “Thiên Hạ Đại Thế Luận”, Luận Về Lập Trường Chính Trị Của Nguyễn Trường Tộ - Lê Cung

Hội An Nam Phật Học Và Vị Trí Của Huế Trong Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo Ở Việt Nam Thế Kỷ XX - Lê Cung

Chính Sách Của Mỹ Đối Với Chính Quyền Ngô Đình Diệm và Phong Trào Phật Giáo Miền Nam 1963 - Lê Cung

Phật Giáo Với Sự Nghiệp Của Các Chúa Nguyễn Ở Đàng Trong (1558 - 1777) - Lê Cung

Bàn Về “Cuộc Cách Mạng Tư Sản Pháp (1789 – 1799)” Trong Dạy – Học Ở Bậc Đại Học Và Cao Đẳng - Lê Cung

Tinh Thần Đại Sư Khuông Việt Trong Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam Năm 1963 - Lê Cung

Chính Sách Nội Trị Và Ngoại Giao Của Nhà Tiền Lê Qua Thi Pháp Của Thiền Sư Đỗ Pháp Thuận - GS Lê Cung

Những Tiền Đề Xác Lập Vai Trò Phật Giáo Trong Việc Hình Thành Vương Triều Lý Vào Đầu Thế Kỷ XI - GS Lê Cung

PHONG TRÀO PHẬT GIÁO Ở KHÁNH HOÀ NĂM 1963 - GS Lê Cung & Nguyễn Trung Triều

Cuộc Tự Thiêu Vì Hoà Bình Của Đại Đức Thích Viên Đạo Ngày 17-10-1973 - GS Lê Cung

Bàn Thêm Về Sự Nghiệp Phật Hoàng Trần Nhân Tông - GS Lê Cung

Chính Sách Của Chính Quyền Ngô Đình Diệm Đối Với Phật Giáo Miền Nam Việt Nam (1954 - 1963) - GS Lê Cung


▪ 1 2 >>>

Trang Thời Sự