●   Bản rời    

Người Quảng Bình, Thử Nhìn Từ Phía Phản Diện (Đỗ Mậu, Nhìn Từ Góc Độ Văn Hóa)

Người Quảng Bình, Thử Nhìn Từ Phía Phản Diện

(Đỗ Mậu, Nhìn Từ Góc Độ Văn Hóa)

GS Lê Cung *

http://sachhiem.net/LICHSU/L/LeCung04.php

08-Oct-2020

Chọn lựa đó của Đỗ Mậu, do đó, có tính văn hóa trước khi là một chọn lựa chính trị hay tôn giáo, bởi cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 được nuôi dưỡng bằng hai nhân tố cốt lõi: một, là phải giao trả lại nền văn hóa truyền thống dân tộc cho nhân dân Việt Nam; hai là Phật giáo phải khẳng định mình là biểu hiện của lương tâm dân tộc. (LC)

Quảng Bình, một tỉnh nhỏ xét cả về diện tích và dân số, nhưng đổi lại, vùng đất này được thiên nhiên ưu tiên ban tặng nên có được sơn hà cẩm tú, phong cảnh hữu tình. Trong tiến trình hình thành và phát triển, chỉ ở thời đương đại thôi, Quảng Bình đã sản sinh ra nhiều người con ưu tú mà tên tuổi của họ một thời vang dội khắp cả nước, trong Nam ngoài Bắc, và rộng ra cả Âu - Á - Phi - Mỹ - Úc. Võ Nguyên Giáp, một danh tướng, cầm quân trong thế “châu chấu đá xe” nhưng đã làm cho cả thế giới kinh ngạc và khâm phục về một Điên Biên Phủ lẫy lừng. Sách báo Âu - Mỹ viết về “trí tuệ và bản lĩnh” Việt Nam thời đương đại thì Võ Nguyên Giáp chỉ đứng sau Hồ Chí Minh; Thích Trí Quang, “con người đã làm rung chuyển nước Mỹ”(1) , một thời với những cuộc vận động quần chúng “dường như không có điểm dừng” của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo, thanh niên, sinh viên, học sinh và mọi tầng lớp xã hội ở các đô thị miền Nam trong những năm 60 của thế kỷ trước. Nội dung cho một chuyên khảo về hai con người này chắc chắn là không khó, vấn đề là thời gian để công bố.

Ngoài Võ Nguyên Giáp và Thích Trí Quang, thời đương đại, Quảng Bình còn có biết bao nhiêu người con khác mà sự nghiệp của họ đã gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi ách thống trị thực dân cũ và  thực dân mới. Sự đóng góp của họ diễn ra trên nhiều lãnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, .... mà hội thảo chúng ta đang đề cập. Song cũng phải khách quan mà nhận rằng cũng có một số ít người con Quảng Bình, tuy một thời vì những điều kiện lịch sử đã chọn không đúng xuất phát điểm chính trị, nhưng hành động của họ có lúc đã góp phần đáp ứng công cuộc chấn hưng và phát triển văn hóa dân tộc; đến khi đất nước, quê hương sạch bóng ngoại xâm, họ nhận ra rằng phải nhìn lại lịch sử dưới một sử quan sâu sắc hơn; để rồi từ đó họ suy ngẫm về trách nhiệm của mình đối với dân tộc, với quê hương. Một trong những người con đó là Đỗ Mậu.

Ông người làng Thổ Ngoạ, huyện Quảng Trạch, sinh năm 1918 và mất năm 2002. Tham luận này xin được đề cập một số nét về Đỗ Mậu nhìn từ góc độ văn hóa. Đây là một việc làm mà chúng tôi nhận thức rằng cái khó khăn lấn át cái thuận lợi ở mức độ cấp số nhân và hơn nữa là khác. Nhưng nếu chúng ta không bước đầu khai mở hướng khảo sát nầy nhằm để thử nghiệm, thì vẫn không tạo thêm được một hướng nghiên cứu mới khi đất nước đổi mới và trên đà hội nhập vào cộng đồng quốc tế đã gần ba thập kỷ.

Để giải mã vấn đề đã đặt ra, xin lấy ba hành hoạt sau đây của Đỗ Mậu:       

1. Một lựa chọn văn hóa khi tham gia cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài, gia đình trị, giáo trị Ngô Đình Diệm năm 1963.

2. Viết tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi năm 1986.

3. Chủ xướng Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II năm 1999. (xem Phụ Bản - SH)

 

1- Một lựa chọn văn hóa khi tham gia cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài gia đình trị, giáo trị Ngô Đình Diệm năm 1963.

Sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi (1949) và Bắc Hàn trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa (1953), Tổng thống Mỹ Eisenhower nhìn Việt Nam như con bài thứ ba tại Á châu sẽ rơi vào tay Cộng sản nên đưa ra “thuyết Domino”, làm cho nước Mỹ càng cương quyết hơn trong chủ trương chống Cộng nhằm thực hiện chủ thuyết “ngăn chận” (containment).

Đối với Mỹ, để thực hiện chủ thuyết “ngăn chận” thành công, có nghĩa là phải ngăn được phong trào Cộng sản lan xuống các nước Đông Nam Á, mà trước hết là Việt Nam, thì yếu tố tôn giáo giữ một vai trò cực kỳ then chốt. Mà tôn giáo ở đây, trong cái nhìn của các chiến lược gia Mỹ, là Thiên Chúa giáo chứ không phải là Phật giáo(2) . Do vậy, người được Mỹ chọn đưa về nắm chính quyền tại miền Nam Việt Nam phải hội đủ 2 điều kiện: Về chính trị phải là người chống Cộng, về tôn giáo phải là tín đồ Thiên Chúa giáo và Ngô Đình Diệm đã hội đủ cả hai yếu tố đó. Ellen J. Hammer viết: “Lúc đó thành tích chống Cộng rất cần thiết cho một chính trị gia châu Á và tín ngưỡng Thiên Chúa giáo nhiệt thành của Diệm đã mở cho ông nhiều con đường”(3) . Theo sử gia Buttinger thì “Hồng y Spellman chắc chắn là người Mỹ đầu tiên đã nuôi ý tưởng về một chính phủ Việt Nam do tín đồ Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm đứng đầu”“việc lựa chọn Diệm đã được thực hiện dưới sức ép nặng nề của Mỹ đối với Bảo Đại và Pháp, và bằng sự can thiệp của Hồng y Spellman”(4) . Richard F. Newcomb cũng đồng nhận định: “Đối với người Mỹ, Diệm là rất thích hợp. Ông là người Việt Nam thực sự, 54 tuổi, chống Pháp, chống Cộng. Với một vài kinh nghiệm trong thời làm quan thuộc địa, và là một người Thiên Chúa giáo (không bao giờ chú ý đến Việt Nam có 85% dân số là Phật giáo)”(5) .

Hồng Y Francis Spellman - Ngô Đình Diệm - Tổng Trưởng Ngoại Giao Mỹ

Những nhận định trên đây đều khẳng định chắc nịch rằng chế độ Ngô Đình Diệm với tấm giấy khai sinh mang hai đặc tính: Thiên Chúa giáo và chống Cộng. Hai đặc tính nầy quan hệ hỗ tương chặt chẽ với nhau. Nếu văn hóa là một cách biểu thị cuộc sống vật thể và phi vật thể thì miền Nam dưới chế độ Ngô Đình Diệm, gam màu chủ đạo chính cho cách sống đạo là Thiên Chúa giáo và cho cách sống đời là chống Cộng.

Vì vậy, “bất chấp mọi điều kiện lịch sử và tâm lý dân tộc, Mỹ - Diệm đã có nhiều cố gắng theo chiều hướng ‘công giáo hóa’ nhân dân ta, biến Thiên Chúa giáo thành quốc giáo ở miền Nam”(6) . Và điều dễ hiểu, Phật giáo đã trở thành nạn nhân của chính sách nham hiểm này(7) . Duy trì Dụ số 10(8) suốt 9 năm cầm quyền để khống chế Phật giáo trong cái khung pháp lý, đến năm 1963, khi gia đinh họ Ngô đánh vào cứ điểm văn hóa thâm hậu nhất của dân tộc là Phật giáo Việt Nam bằng việc ban hành Công điện 9195 (6-5-1963), ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản 1963, thì con đường diệt vong của chế độ chỉ ở trong gang tấc.                      

Trong số những người chủ chốt, chủ xướng cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, qua các nhân chứng và từ những tự bạch của ông, chúng ta thấy Đỗ Mậu là người duy nhất đã nhìn thấy yếu tố văn hóa dân tộc trong nội dung cuộc biến động lúc bấy giờ, nhất là khi chế độ Ngô Đình Diệm thực hiện “Kế hoạch nước lũ” (đêm 20 rạng ngày 21-8-1963), cho lực lượng mật vụ đặc biệt tấn công đồng loạt hầu hết các ngôi chùa được dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam, bắt hết giới lãnh đạo Phật giáo cao cấp miền Nam cùng với nhiều giáo sư đại học và sinh viên đấu tranh. 

Chua xót khi chứng kiến tận mắt sự dã man của anh em Ngô Đình Diệm tấn công chùa nhằm thủ tiêu vai trò phên dậu văn hóa của đất nước, hình ảnh một gia đình họ Ngô hiện ra trước mắt Đỗ Mậu như là một tập đoàn phản quốc: Đỗ Mậu viết: “Nhưng giờ đây thì những hình ảnh dã man tàn bạo của một cuốn phim thời trung cổ hiện ra trước mắt tôi. Tôi nhìn thấy anh em ông Diệm trong suốt chín năm qua chẳng những là hạng người không có tài năng mà cũng chẳng có đạo đức. Đã thế họ lại chối bỏ Quốc Tổ Hùng Vương, khinh mạn anh hùng liệt nữ, mà còn chủ trương tiêu diệt truyền thống tốt đẹp của cha ông, tiêu diệt nền văn hóa đặc thù của dân tộc. Tôi nhìn thấy họ chỉ lo triệt hạ các tôn giáo, đảng phái và những người yêu nước đối lập với họ để phục vụ cho quyền lợi gia đình, phe nhóm và Giáo hội La Mã mà thôi. Tôi nhìn thấy anh em ông Diệm chỉ là hiện thân rõ rệt của vua Constantin, vua Louis 14, của Alexandre de Rhodes, Pigneau de Béhaine; họ và nhóm Công giáo Cần lao phe đảng của họ như những kẻ ngoại quốc sống trên quê hương mình, như ngoại nhân đến đô hộ dân mình, nước mình, đô hộ với một chính sách hà khắc không một chút lòng trắc ẩn đối với dân bản xứ”(9)

Từ những trăn trở đó, Đỗ Mậu với chức vụ là Giám đốc Nha An ninh Quân đội Sài Gòn, đã từng bước bí mật tập hợp lực lượng cho cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Có thể nói trừ Dương Văn Minh (người đứng đầu cuộc đảo chính) và Trần Văn Đôn (người được xem là bộ óc của cuộc đảo chính - Đỗ Mậu, tr. 618), còn hầu hết các tướng lãnh Sài Gòn tham gia cuộc đảo chính đều được Đỗ Mậu vận động, kết họ thành một khối, ngay cả Tôn Thất Đính dù đã được Trần Văn Đôn “kết nạp” thì cũng được Đỗ Mậu “đốt lửa can trường” để Đính giữ vững quyết tâm khi hành động. Rõ ràng, Đỗ Mậu là một nòng cốt của cuộc đảo chính. Làm như vậy, Đỗ Mậu đã dứt khoát bỏ qua một bên những tình cảm cá nhân với Ngô Đình Diệm, dù rằng ông đã từng là đồng chí tâm phúc với Ngô Đình Diệm(10) ; bỏ qua một bên những đặc quyền và đặc lợi của chế độ, những cân nhắc chính trị phe phái,… để đứng về phía Phật giáo, lúc đó, là lực lượng chủ đạo của phong trào đối kháng công khai với chế độ Ngô Đình Diệm. Chọn lựa đó của Đỗ Mậu, do đó, có tính văn hóa trước khi là một chọn lựa chính trị hay tôn giáo, bởi cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 được nuôi dưỡng bằng hai nhân tố cốt lõi: một, là phải giao trả lại nền văn hóa truyền thống dân tộc cho nhân dân Việt Nam; hai là Phật giáo phải khẳng định mình là biểu hiện của lương tâm dân tộc.

Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, về mặt chính trị là một thắng lợi to lớn của phong trào cách mạng miền Nam(11) , nhưng mặt khác, văn hóa dân tộc rõ ràng là được phục hưng một bước ở miền Nam Việt Nam(12) . Do vậy, có thể nói Đỗ Mậu là con người ít nhiều góp sức cho việc khôi phục truyền thống văn hóa dân tộc. 

2 - Tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi  

Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Hồi ký chính trị) được Nxb. Quê Hương xuất bản đầu tiên vào năm 1986 tại Mỹ, tái bản lần thứ hai (1987), rồi lần thứ ba (Nxb. Văn Nghệ, Westminster, CA, USA xuất bản năm 1993), sau đó được Nxb. Công an Nhân dân (Việt Nam) xuất bản năm 1995 với tựa đề: Tâm sự tướng lưu vong.

Tuy là một Hồi ký chính trị về một giai đoạn lịch sử đương đại nhưng chủ đề chảy xuyên nội dung tác phẩm lại là một phân tích rốt ráo, không nhân nhượng, về cuộc va chạm văn hóa Đông - Tây trên đất nước ta, để trên nền cuộc xung đột văn hóa đó, tác giả xây dựng sử quan của mình là “Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc”, để lý giải một cách thuyết phục về sự sụp đổ của hai chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu (Lời Mở đầu).

Tác phẩm bắt đầu bằng Chương I. Đây là chương hết sức quan trọng vì vừa mô tả diện mạo văn hóa, vừa làm bệ phóng cho toàn bộ nội dung tác phẩm. Ở đây,  tác giả đã có sự kết nối ba kích thước Văn, Sử Địa để mô tả và định hình quê hương Quảng Bình “địa linh nhân kiệt”, nơi xuất sinh của tác giả.

Chỉ trích dẫn một vài bài thơ, ông đã kéo được Bà Huyện Thanh Quan, thi hào Nguyễn Du, vua Lê Thánh Tông, nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, … về trong tác phẩm để phác họa chân dung văn học Quảng Bình. Chỉ nhìn lại 400 năm lịch sử cuồn cuộn trước đó, từ thời chúa Nguyễn Hoàng đến phong trào Cần Vương, từ nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nhà chiến lược quân sự Đào Duy Từ, tác giả đã nhận diện được khí phách văn hóa của người dân Quảng Bình. Và cuối cùng, chỉ một vài nét chấm phá, tác giả đã vẽ được một bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ với Đèo Ngang, Lũy Thầy(13) , Sông Gianh(14) , núi Đầu Mâu, đầm Hạc Hải, động Phong Nha (Đệ nhất kỳ quan - Thái Văn Kiểm), biển Nhật Lệ,…và 8 đại xã văn học: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim trùng trùng điệp điệp giữa gió nóng Hoành sơn và sóng bạc biển Đông.

Từ khung quy chiếu Văn - Sử - Địa đó, và tự thân trải nghiệm thực tế đau thương và nỗi nhục mất nước, với cái nhìn đậm chất văn hóa, khi kết thúc Chương I để bước vào đời ở Chương II, Đỗ Mậu đã tự bạch về chọn lựa chính trị của chính mình trước vận nước. Ông viết: “Lúc bấy giờ, ý thức đấu tranh cách mạng hay quan niệm một đảng đấu tranh cách mạng, đối với tôi, không phải là nhu cầu cấp bách nhất. Quyết định của tôi chỉ được vận động bằng tình cảm căm thù Pháp đô hộ và chỉ bằng tình cảm đó mà thôi, nên bất kỳ một tổ chức nào, Việt Quốc, Tân Việt hay ngay cả đảng Cộng Sản, nếu đến tuyên truyền và kết nạp, tôi cũng sẵn sàng gia nhập ngay.”(15) .        

Trong những chương tiếp theo, ông đã điểm mặt các thế lực chính trị và tôn giáo quay cuồng trong các lớp sóng chìm nổi của hai nền Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam (Đệ nhất Cộng hòa 1955-1963 và Đệ Nhị Cộng hòa 1967-1975), để từ góc độ văn hóa, Đỗ Mậu phê phán bản chất phi dân tộc của hai chế độ nầy. Chế độ Nguyễn Văn Thiệu, theo phân tích và đánh giá của ông, chỉ là một “chế độ Diệm không Diệm” nối dài mà thôi (Chương 19)

Để rồi đến Chương 20, chương Kết luận, Đỗ Mậu đóng tác phẩm lại bằng một thái độ xuất thế rất “sắc sắc không không” của nhà Phật qua bài kệ được xem là đỉnh cao của nền văn học Bát Nhã Việt Nam:

“Thân như điện, ảnh hữu hoàn vô

 Vạn mộc Xuân vinh Thu hựu khô

 Nhậm vận thịnh suy, vô bổ uý

 Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

(Thân như sấm chớp, có rồi không

Cây cối Xuân tươi, Thu héo hon

Nhìn cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Thịnh suy: ngọn cỏ giọt sương hồng)

(Vạn Hạnh Thiền sư)

Bài kệ thể hiện tinh thần vô ngã, vô trụ, vô chấp của bậc liễu đạo có tầm nhìn bao quát và rộng lớn về thế cuộc. Hiểu theo tinh thần bài kệ, Đỗ Mậu “tự cho phép mình ‘mở miệng cười tan cuộc oán thù” (Phan Bội Châu), hầu lui về với lời kinh câu kệ của kẻ tu hành, nhìn cuộc đời như mộng ảo bào ảnh, xem thế sự như bọt sóng chiều hôm để từ nay, nhắm mắt bịt tai ngậm miệng phủi bụi hồng trần”(16)

Chính vì tác phẩm được xây dựng trên một cơ sở văn hóa dân tộc (dù ở đây đó vẫn còn phải bàn thêm) nên không ít nhà nghiên cứu Việt Nam ở hải ngoại đã đánh giá cao Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Thạch Đăng, một nhà biên khảo văn học ở Canada viết: “Ông đã thành công trong việc làm sáng tỏ nguồn gốc của chế độ nhà Ngô và bản chất phi dân tộc của chế độ đó”; Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, một khôi nguyên khoa học không gian Mỹ đã xếp loại tác phẩm như một “tài liệu quý giá cho kho tàng văn học sử Việt Nam”. Một người bạn văn khác đã vinh danh hai công trạng lớn nhất của đời ông để mừng ông 85 tuổi, trong đó tác phẩm Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi được đánh giá là để “tiếng ngàn năm”:

Tri kỷ tân Xuân tuổi tám nhăm

Chí khí tâm linh tựa trăng rằm

Hủy diệt Ngô Đình danh một thuở

Hương ký Hoành Linh tiếng ngàn năm

Điền Sơn Nhân (Mừng Xuân tri kỹ).

Có khách quan hay không về những lời bình phẩm, đánh giá trên đây đối với tác giả Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, chúng tôi muốn có lời bình phẩm của hội thảo chúng ta. Và trước lúc bình phẩm, chúng tôi muốn cung cấp một lời bình luận, đánh giá (và chỉ một thôi) mà chắc chắn những ai từng đọc tác phẩm của Đỗ Mậu với tựa đề: Tâm sự tướng lưu vong do Nhà xuất bản Công an nhân dân (Việt Nam) xuất bản năm 1995 đều biết đến Lời Nhà xuất bản như sau:

“Hoành Linh Đỗ Mậu, do những đặc điểm có lợi thế riêng đã có cách nhìn, cách suy nghĩ khá độc đáo và phần nào xác thực qua hồi ký của ông chúng ta có thể tham khảo để xem xét thêm những chuyện diễn ra phía bên kia trận tuyến của một giai đoạn lịch sử chống ngoại xâm quan trọng của  đất nước mà chúng ta còn phải tiếp tục nghiên cứu”“mặc dầu còn có nhiều hạn chế do cách nhìn cách nghĩ xuất phát từ lập trường chống Cộng thâm căn cố đế, nhưng hồi ký của Đỗ Mậu vẫn vạch ra được những sự thật sinh động, về các sự kiện, các lực lượng chính trị, các tôn giáo đảng phái, những bộ mặt chính khách, tướng tá tiêu biểu trong chính trường miền Nam suốt cả một giai đoạn dài”(17) .

Từ việc phác họa một vài nét chấm phá về đất nước và con người Quảng Bình (Chương I), ... đến những lời bình phẩm trên đây giúp chúng ta nắm bắt được yếu tố văn hóa của Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi và chủ nhân của nó.

Cụ Đỗ Mậu

3- Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II

Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II đề ngày 10-01-1999 gồm 12 tác giả người Việt ở hải ngoại (Mỹ, Pháp, Canada, Úc) và Đỗ Mậu được xem như là người chủ xướng. Bản sao bằng Anh ngữ của thư này đồng kính gởi Ông Tổng Thư ký Liên hiệp quốc, Tổng thống, Thủ tướng và Quốc hội một số nước, trong đó có Thủ tướng và Quốc hội Việt Nam. Để hiểu rõ giá trị văn hóa của Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II, trước hết chúng ta cần biết những căn nguyên về sự ra đời của nó.

- Mười ba năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1988, chỉ trong năm đó, Vatican ồ ạt làm lễ phong cho 96 con chiên Việt Nam và 21 giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha lên hàng Thánh Tử Đạo. Đây là một động thái có yếu tố tâm lý chiến nhằm động viên và thúc đẩy tín hữu Thiên Chúa giáo Việt Nam giữ vững đức tin trong một chế độ mà họ gọi là “vô thần”, hầu xây dựng tổ chức để tiếp tục đối đầu với nhà nước Việt Nam trong một khung cảnh mới.

- Năm 1989, Giáo hoàng John Paul II trực tiếp lãnh đạo và yểm trợ Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan đấu tranh chấm dứt chế độ Wojciech Jaruzelski tại Ba Lan, xác tín chiến lược dùng tôn giáo để can thiệp (và thành công) vào nội tình chính trị nước khác, nhất là các nước mà Thiên Chúa giáo đã có một lịch sử truyền đạo lâu dài.

- Cuối năm 1998, Hội đồng Giám mục Việt Nam trong hội nghị từ ngày 11 đến ngày 18-10-1998, đã quyết định mời Giáo hoàng John Paul II thăm chính thức Việt Nam vào năm 1999(18) .

Ba hành động trên đây của Giáo hội Thiên giáo La Mã và Việt Nam đã thúc đẩy Đỗ Mậu cho ra đời Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II rồi vận động một số trí thức hải ngoại (tại Mỹ, Úc, Pháp, và Canada) cùng ký tên và phổ biến Thư Ngỏ nầy trên toàn thế giới. Cần phải khẳng định rằng, ở thời điểm năm 1999, Việt Nam chưa muốn có quan hệ với Vatican(19) , thế nhưng “thiện chí” công khai của Vatican trước cộng đồng quốc tế đòi hỏi Việt Nam cần phải có sự ứng xử ngoại giao “tế nhị” để ứng phó với động thái nầy.

Theo Đỗ Mậu, chuyến viếng thăm Việt Nam của Giáo hoàng John Paul II (nếu xảy ra) chỉ là một ý đồ của Vatican để tái dựng cuộc xâm thực văn hóa. Khác với những phản ứng đồng tình hay phản đối chuyến viếng thăm dưới góc độ chính trị hoặc tôn giáo, Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II có thể được xem như là một tuyên ngôn văn hóa đanh thép, nêu rõ lý do khiến người Việt Nam chưa muốn sự hiện diện của Giáo hoàng trên đất nước họ vào thời điểm đó: “Chúng tôi phải thành thật thưa với Ngài rằng chúng tôi không nghĩ điều đó có thể - và nên xẩy ra,... Thật vậy, là những người Việt Nam nhục nhã vì bị đế quốc thống trị, nghèo đói vì bị thực dân bóc lột, đau khổ chết chóc vì bị chiến tranh tàn phá, chúng tôi hôm nay và tổ tiên chúng tôi ngày trước thấy rằng Vatican và Giáo Hội Gia-tô tại Việt Nam đã chịu một phần trách nhiệm về những vết hằn lịch sử đó. Vatican không chỉ là thuốc phiện của nhân dân, Vatican còn là công cụ tự nguyện của những thế lực bóc lột và chủ chiến quốc tế. Pháp muốn biến Việt Nam thành một thuộc địa. Mỹ muốn hóa thân Miền Nam thành một con domino. Vatican lần lượt đồng lõa với cả hai”(20) .

Rằng “trừ một số con chiên của Ngài chỉ muốn tuyệt đối tuân phục quyền lực thế tục của Vatican như tín đồ Gia-tô Âu châu thời Trung Cổ, tuyệt đại đa số dân chúng phi Gia-tô ở Việt Nam đều không muốn thấy sự hiện diện của Ngài trên Tổ quốc họ lúc nầy. Những tín hữu Gia-tô nào đang muốn hình thành một giáo hội độc lập dân tộc, và đã từng thất vọng trong mong ước Vatican có những chủ trương cởi mở tiến bộ về giáo lý, giáo luật, có những chính sách hợp lý về những khác biệt lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng giữa các dân tộc, biết tôn trọng khả năng tự do tư tưởng và khả năng tự lực hoàn thiện nhân cách của mỗi người, những đồng bào đó có lẽ cũng không muốn đón tiếp Ngài lúc nầy. Chúng tôi chưa muốn gặp Ngài vì chúng tôi đang cần có thời gian để vơi bớt những vết hằn đau thương sâu đậm mà Vatican và Giáo Hội Gia-tô ở Việt Nam đã tiếp tay gây ra trên đất nước Việt Nam, trên da thịt và tâm trí người Việt Nam từ hơn hai thế kỷ qua”(21) .

Và bằng dẫn chứng lịch sử từ 400 năm trước cho đến năm 1975 cùng với những phân tích và đánh giá các biến động xảy ra từ Việt Nam cho đến các quốc gia Á Phi khác, Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II đã vạch rõ ý đồ của vị đứng đầu Giáo hội La Mã: “Trên ngai vàng của Thánh Peter, Ngài chỉ huy một chiến dịch Thập Tự Quân mới hướng về Á Phi và Nam Mỹ là những nơi đã từng chịu trăm cay ngàn đắng với thực dân và đế quốc”(22) . Để sự thật lịch sử không thể phủ nhận được, Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II đã dẫn thêm một số tư liệu của chính nạn nhân lên tiếng: “Khôi nguyên của giải Nobel Hòa Bình năm 1984 là Giám Mục Anh giáo Desmond Tutu than thở: ‘Chúng tôi có giang sơn lãnh thổ, họ chỉ có cuốn Thánh Kinh. Chúng tôi tin họ, nhắm mắt lại cầu nguyện với quyển Thánh Kinh trong tay. Lúc mở mắt ra, chúng tôi có được cuốn Thánh Kinh, còn họ có tất cả đất đai và lãnh thổ của chúng tôi’.  Giám Mục Tutu nói thế còn ít vì lúc mở mắt thì người ta một tay cầm Thánh Kinh và một tay cầm gươm súng để giết anh em đồng bào như ở Rwanda, ở Bosnia”(23) .

Kết luận, Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II đề nghị Giáo Hoàng trước khi đến thăm Việt Nam, hãy thực hiện 6 động thái để chứng tỏ Vatican thực tâm muốn quan hệ hữu hảo với Việt Nam:

“1. Công khai thành khẩn tạ lỗi với dân tộc Việt Nam như Vatican đã tạ lỗi với Galileo, với những nạn nhân của Giáo Tòa Trung Cổ, với dân Do Thái.

2. Bồi thường chiến tranh cụ thể để hàn gắn những tàn phá đổ nát, đau thương vì cuộc chiến tranh trong đó Vatican đã là đồng lõa với các thành phần gây chiến.

3. Trả lại cho Ceasar những gì thuộc về Ceasar. Chính thức trả lại cho Việt Nam những tài sản vật chất mà Vatican và Giáo Hội Gia-tô đã thủ đắc một cách không chính đáng.

4. Trả lại các cơ sở tôn giáo, văn hoá như đình, miếu, am, chùa đã bị Giáo hội Gia-tô cưỡng chiếm làm cơ sở tín ngưỡng của mình, ví như chùa Bảo Thiên ở Hà Nội và chùa Làng Vàng tại La Vang, Quảng Trị.

5. Chấm dứt tình trạng vi phạm nhân quyền và phi pháp như dụ dỗ các bệnh nhân rửa tội hoặc bắt bí tình cảm qua việc dụ dỗ hay bắt buộc kẻ khác phải theo đạo Gia tô mới được thành hôn, hoặc khuyên dụ cải đạo để hưởng những chương trình xã hội giáo dục nào đó.

6. Thừa nhận tính cách tự trị tự lập của Giáo hội Gia-tô ở Việt Nam, mở đường cho Giáo Hội nầy trở về với đại khối đồng bào của họ thay vì bắt họ tồn tại như một thiểu số cô độc chỉ biết tuyệt đối thần phục một quyền lực xa vời không bao giờ quan tâm đến tình nghĩa, quyền lợi và những giá trị thiêng liêng của Việt Nam. Chúng tôi chỉ mong cầu tự đáy lòng Ngài yêu Ba Lan như thế nào thì Ngài hãy tạo cơ hội và điều kiện để cho các cấp giáo quyền cũng như giáo dân trong Giáo hội Gia-tô ở Việt Nam yêu quê hương và đồng bào Việt Nam của họ như thế ấy” (24) .                                                                 Và một khi sáu đề nghị trên đây được thực hiện, chắc chuyến thăm Việt Nam của Giáo hoàng sẽ không còn một một trở ngại nào như Thư Ngỏ gởi Giáo hoàng John Paul II khẳng định:“Thực hiện được sáu điều nói trên, chúng tôi nghĩ chuyến đến Việt Nam của Ngài - nếu có, sẽ là một biến cố tốt đẹp cho mọi phe liên hệ vậy”(25).                            

Rõ ràng, Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II “góp phần rất quan trọng trong việc làm rõ một sự thực lịch sử mà nó quan hệ với vận mệnh dân tộc không những hôm nay mà cả tương lai về sau nữa”(26) ... Nó xuất phát từ lợi ích dân tộc, công bằng với lịch sử, phản ánh tâm nguyện của đại đa số nhân dân Việt Nam, hướng đến một quan hệ bền vững trong tương lai. Hành hoạt đó, người chủ xướng ắt hẳn là môt con người có nhân cách, một con người có văn hóa.  


Với ba hành hoạt trên đây của Đỗ Mậu, bước đầu chúng ta có thể rút ra một số nhận định sau:

Một là, tuy là một con người hoạt động cho phía chính quyền Sài Gòn, nhưng nội hàm ứng xử của Đỗ Mậu không mang tính giáo điều, cứng nhắc, tuân phục mà mang tố chất văn hóa, thể hiện rõ nét nhất là ông đã đứng về phía văn hóa dân tộc, trở thành một trong những người chủ chốt “kết nối đồng chí”, tiến hành cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), một chế độ vừa ngược dòng thời đại, vừa ngược dòng văn hóa dân tộc.

Hai là, những nội hàm ứng xử của ông, ngoài đặc tính chung của văn hóa dân tộc, còn mang những điểm đặc thù của nền văn hóa rất Quảng Bình, vùng đất nơi ông sinh ra và với ông rất đổi tự hào. Đó là ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh và sòng phẳng với chân lý, nhưng cũng bao dung và nhân ái.

Ba là, về mặt phương pháp luận, nên chăng cần phải có một đánh giá cụ thể về những con người cụ thể. Với Đỗ Mậu, ở một mức độ nhất định, trong một số hoạt động, có thể xem ông như là người có đóng góp ít nhiều về mặt văn hóa dân tộc vốn bắt nguồn từ gốc rễ Quảng Bình nơi “địa linh, nhân kiệt” mà ông đã được hun đúc và luôn nhớ đến. 

Lê Cung

Ghi Chú

* PGS. TS. Khoa Lịch sử, Nguyên Giảng viên Cao cấp, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.

(1). Tiêu đề viết về Thích Trí Quang của báo chí Sài Gòn trước năm 1975.

(2) . Phật giáo từ khi truyền vào Việt Nam đã đi cùng với dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, phục hưng đất nước, được xem là tôn giáo truyền thống của dân tộc Việt Nam, “hai ngàn năm Phật giáo Việt Nam là hai ngàn năm Phật giáo nhập thân với dân tộc” (Hà Văn Tấn. “Phật giáo với cách mạng” trong Nghiên cứu Phật học, số 1, Phân viện nghiên cứu Phật học, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 23). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một” (Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội Phật tử Việt Nam ngày 30-8-1947).

(3) . Ellen J. Hammer. Bàn tay Hoa Kỳ, cái chết của ông Diệm (Vũ Văn Ninh và Trần Ngọc Dũng dịch). Nxb. Thế giới, San Jose, CA, USA, 1992, tr. 50-51.

(4) . Joseph Buttinger. Vietnam: A Political History. Frederick A. Praeger, Inc., Publicshers, New York, USA, 1968, tr. 385, 386.

(5) . Richard F. Newcomb. A Pictorical History of  the Vietnam Wả. Doublday & Company, INC. Garden CITY, New York, USA, 1987, tr. 26.

(6) . Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học. Lịch sử Việt Nam (1954-1965. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 174.

(7) . Xem Lê Cung, Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999

(8) . Dụ số 10 ban hành dưới thời Pháp thuộc (6-8-1950). Dụ này xem các tôn giáo, trong đó có Phật giáo, như là một hội bình thường trong xã hội, trừ Thiên Chúa giáo là có tổ chức giáo hội.

(9) . Đỗ Mậu, Việt Nam máu lửa quê hương tôi (Hồi ký chính trị), Nxb. Văn nghệ, Westminster, CA, USA, 1993, tr. 533.

(10) . Trong biến cố 1963, một bên là chính quyền Sài Gòn, đại diện là gia đình họ Ngô; một bên là Phật giáo, mà người có thể xem như đầu não của phong trào là Thích Trí Quang; còn Đỗ Mậu là một người trong những người chủ xướng của cuộc đảo chính. Cả ba đều là người Quảng Bình. Với sự kiện này, thêm một tư liệu cho thấy người Quảng Bình giải quyết rạch ròi giữa chân lý và phi chân lý. 

(11) . “Trong vòng ba tháng sau đảo chính, Việt Cộng nổi dậy khắp nơi. Tỉnh Kiến Hoà phải rút đi 51 đồn bót, mất 15 xã. Ở miền Trung từ Phan Thiết trở ra trong vòng hai tháng sau đảo chính, 2200 ấp chiến lược trong tổng số 2700 ấp chiến lược hoàn toàn bị tan tác. Tổng số 4248 ấp chiến lược ở miền Nam thì có 3915 ấp bị phá hẳn. Trong phúc trình gửi Tổng thống Johnson ngày 16-3-1964, Mc. Mamara đưa ra một bức tranh bi thảm, hậu quả của cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm: “Trong số đất đai của 22 tỉnh (trong 44 tỉnh), Việt Cộng kiểm soát tới 50% hoặc nhiều hơn thế. Phước Tuy, Việt Cộng kiểm soát 80%; Bình Dương 90%; Hậu Nghĩa 90%; Long An 90%; Định Tường 90%; Kiến Hoà 90%; An Xuyên (Cà Mau) 85%. Quận Mõ Cày và các xã Định Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp, “đỏ 100%”; trên 900 xã như trong trường hợp ba xã này ...  Sau đảo chính 1963, trong một thời gian ngắn, đường mòn Hồ Chí Minh trở thành một “xa lộ thênh thang”, thực hiện chỉ thị của Đảng: “Lấy phương thức vận tải cơ giới làm chủ yếu, kết hợp với phương thức vận tải thô sơ, vận dụng linh hoạt phương châm “đánh, phòng, tránh”. Trước đây, đoàn vận tải ô tô chỉ vào Khe Hó đổ hàng rồi từ đây dùng voi hay sức người chuyển vào Palin Thừa Thiên. Đầu năm 1964, các đoàn ô tô đã có thể đi tới điểm trạm ngã ba biên giới Kontum, số lượng vận tải tăng 40 lần so với năm trước, tỉ trọng vận tải cơ giới là 51%” (Cao Thế Dung. Việt Nam ba mươi năm máu lửa - Cuộc chiến tranh tàn sát thương binh lần thứ nhất 1945-1963. Nxb Alpha, Falls Church, VA, USA, 1991, tr. 606-608).

(12) . Dụ số 10 (6-8-1950) bị thủ tiêu, Phật giáo Việt Nam từ tư cách pháp nhân là một hội đoàn vươn lên thành một giáo hội quy mô và hợp pháp.

(13) . Nói về sự nguy hiểm của Lũy Thầy đối với quân Trịnh, dân gian có lời truyền tụng:  Khôn ngoan qua cửa sông La/ Dù ai có cánh khó qua Lũy Thầy.

(14) . Dân gian ví von sự nguy hiểm của sông Gianh: Bao giờ nước cạn Đồng Nai/Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền.

(15) . Đỗ Mậu. Việt Nam máu lửa quê hương tôi (Hồi ký chính trị). Nxb. Văn nghệ, Westminster, CA, USA, 1993, tr. 36-37.

(16) . Đỗ Mậu, Sđd., tr. 851.

(17) . Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong (Lời Nhà xuất bản), Nxb. Công an nhân dân, 1995, tr. 5, 6.

(18) . Theo hãng thông tấn Fides, cơ quan ngôn luận của Vatican, đánh đi từ Hà Nội xác nhận Giáo hoàng sẽ chánh thức viếng thăm Việt Nam vào ngày 15-8-1999, nhằm kết thúc Lễ kỷ niệm 200 Đức mẹ Maria hiện ra tại La Vang (Quảng Trị).

(19) . Ngay cả đến cuối năm 2011, đã có những vận động để Giáo hoàng Benedicto XVI đương nhiệm qua thăm Việt Nam và tham dự năm thánh kỹ niệm 350 năm thành lập Công giáo Việt Nam, và kỷ niệm 50 năm ngày Giáo hoàng John XXIII chính thức công nhận Giáo hội Việt Nam trong hệ thống Vatican, nhưng kết quả cũng không thành.  

(20) . Nhiều tác giả, Những sự thật về đạo Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, Nxb. Trẻ Hải ngoại, CA, USA, 1999, tr. 17-18.

(21) . Nhiều tác giả, Sđd., tr. 18.

(22) . Nhiều tác giả, Sđd., tr. 24-25.

(23) . Nhiều tác giả, Sđd., tr. 24-25.

(24) . Nhiều tác giả, Sđd., tr. 28.

(25) . Nhiều tác giả, Sđd., tr. 28-29.

(26) . Lê Cung, Nhận định Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II  in trong “Những sự thật về đạo Thiên Chúa giáo tại Việt Nam”, Nxb. Trẻ Hải ngoại, CA, USA, 1999, tr. 46”.

 

Nguồn:  tác giả gửi

____________

PHỤ BẢN

Thư Ngỏ gửi Giáo hoàng John Paul II

Hoành Linh Đỗ Mậu (Mỹ), Trần Trọng Phúc (Mỹ), Lê Trọng Văn (Mỹ), Trần Đức Viết (Mỹ), Nguyễn Kha (Mỹ), Nguyễn Thái (Mỹ), Nguyễn Mạnh Quang (Mỹ), Hoàng Nguyên Nhuận, Quán Như và nhóm Chuyển Luân (Úc), Phạm Hữu Điều (Canada), Phan Tấn Hạnh (Pháp), Nguyễn Lương (Pháp)

Kính gởi :

Giáo Hoàng John Paul II

Vatican City – Rome, Italy

 

Thưa Giáo Hoàng,

Bao nhiêu năm qua, Vatican và Giáo Hội Gia-Tô tại Việt Nam đã vận động mọi cách để chuyến đi Việt Nam của Ngài có thể thực hiện vào năm 1999.

Chúng tôi hoan nghênh mọi nổ lực bang giao quốc tế căn cứ trên thiện tâm thiện chí và tương kính của các lãnh tụ quốc gia hay các vị lãnh đạo tinh thần gặp gỡ nhau để tăng thêm hiểu biết và thân hữu giữa các quốc gia hay tôn giáo. Nhưng chúng tôi phải thành thật thưa Ngài rằng chúng tôi không nghĩ điều đó có thể - và nên, xảy ra. Chẳng phải chỉ vì lý do chính quyền Việt Nam chưa có dự tính nào để mở cửa cho Ngài đến đất nước nầy.

Thật vậy, là những người Việt Nam nhục nhã vì bị đế quốc thống trị, nghèo đói vì bị thực dân bóc lột, đau khổ chết chóc vì bị chiến tranh tàn phá, chúng tôi hôm nay và tổ tiên chúng tôi ngày trước thấy rằng Vatican và Giáo Hội Gia-Tô tại Việt Nam đã chịu một phần trách nhiệm về những vết hằn lịch sử đó. Vatican không chỉ là thuốc phiện của nhân dân, Vatican còn là công cụ tự nguyện của những thế lực bóc lột và chủ chiến quốc tế. Pháp muốn biến Việt Nam thành một thuộc địa. Mỹ muốn hóa thân Miền Nam thành một con domino. Vatican lần lượt đồng lõa với cả hai trong tham vọng một khi đã hoàn toàn kiểm soát Việt Nam, Pháp và Mỹ sẽ chỉ giữ quyền ỏgiữ thànhõ và giao quyền ỏchăn chiênõ cho Vatican để Vatican biến vùng thuộc địa hay con domino nầy thành một vùng đất chỉ có nhà thờ và những con chiên thì chỉ biết có Vatican và chỉ tuân theo lệnh Pháp, Mỹ. Có một quốc gia nào còn ý thức dân tộc, còn biết bảo vệ độc lập tự chủ thể theo nguyện vọng của đa số dân chúng lại dám công khai nhún nhường trước áp lực của một thế lực hắc ám như thế không?

Trừ một số con chiên của Ngài chỉ muốn tuyệt đối tuân phục quyền lực thế tục của Vatican như tín đồ Gia-Tô Âu châu thời Trung Cổ, tuyệt đại đa số dân chúng phi Gia-Tô ở Việt Nam đều không muốn thấy sự hiện diện của Ngài trên tổ quốc họ lúc nầy. Những tín hữu Gia-Tô nào đang muốn hình thành một giáo hội độc lập dân tộc, và đã từng thất vọng trong mong ước Vatican có những chủ trương cởi mở tiến bộ về giáo lý, giáo luật, có những chính sách hợp lý về những khác biệt lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng giữa các dân tộc, biết tôn trọng khả năng tự do tư tưởng và khả năng tự lực hoàn thiện nhân cách của mỗi người, những đồng bào đó có lẽ cũng không muốn đón tiếp Ngài lúc nầy. Chúng tôi chưa muốn gặp Ngài vì chúng tôi đang cần có thời gian để vơi bớt những vết hằn đau thương sâu đậm mà Vatican và Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam đã tiếp tay gây ra trên đất nước Việt Nam, trên da thịt và tâm trí người Việt Nam từ hơn hai thế kỷ qua.

 

Thưa Ngài,

Trong tám mươi năm dưới quyền đô hộ của Pháp và ba mươi năm chiến tranh hết do Pháp đến do Hoa Kỳ chủ động trong đó toàn thể dân Việt chịu trăm ngàn đắng cay đau khổ, không thấy một Giáo Hoàng nào đến an ủi vỗ về hay bênh vực cho người Việt vô tội chống lại những can thiệp quốc tế và những độc tài quốc nội.

Chiến tranh Việt Nam là một mùa gặt ác với chúng tôi, nhưng lại là một mùa gặt thành công đối với Vatican và Giáo Hội Gia-Tô tại Việt Nam. Chế độ thực dân và chiến tranh trở thành những cơ hội kinh doanh tối hảo cho Vatican về cả hai phương diện vật chất và quyền lực. Cho đến năm 1939, hệ thống thừa sai của Vatican ở Việt Nam đã vơ vét được trên 50 triệu quan Pháp, làm chủ một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ, làm chủ nhiều đồn điền cao-su, hầm mõ và 28.500 mẩu ruộng, chưa kể số đất đai ở thành thị. Đấy là kết toán dè dặt của chính một tu sĩ Gia-Tô Việt Nam là Linh Mục Trần tam Tỉnh. Gia-Tô giáo tại Việt Nam chỉ chiếm không đầy 10% dân số miền Nam, nhưng đã tự tung tự tác đem "Việt Nam dâng cho Đức Mẹ". Thời gian Mỹ kiểm soát Miền Nam, Miền Nam có hai Tổng Thống đều là con chiên của Ngài và đồng thời là những người đã đẩy Miền Nam lún lầy chiến tranh và lệ thuộc ngoại bang. Người thứ nhất là Ngô đình Diệm đã phát khởi chiến tranh và bị giết vì thất bại trong việc tiến hành chiến tranh. Người thứ hai Nguyễn văn Thiệu, thay Hoa Kỳ gián tiếp phất cờ trắng đầu hàng và được lén lút đưa ra khỏi xứ trước lúc cuộc chiến hạ màn. Hàng ngàn nhà thờ, hàng ngàn cơ sở kinh tế, giáo dục, văn hóa đã được dựng nên, Vatican có bỏ một đồng bạc nào vào đó không, hay tất cả đều do những đồng tiền vấy máu trả công cho cuộc đấu thầu chống cộng được Vatican thăng hoa lên hàng ỏThánh Chiến chống Qủy Đỏ ở Đông Dương.

Thưa Ngài,

Quê hương khốn khổ của chúng tôi đã được Vatican chọn làm một cánh đồng xương máu thực hiện vinh quang của giáo triều Vatican bằng chính sách chia để trị được ghi rõ trong Thánh Kinh nguyên văn chắc Ngài không thể quên: "Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến không phải đem sự bình an, mà là đem gươm dáo. Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, dâu với bà gia; và người ta sẽ có kẻ thù nghịch là người nhà mình." (Mathiơ 10: 34-36).

Người đầu tiên âm mưu thực hiện chính sách đó là Linh Mục Alexandre de Rhodes từ hồi thế kỷ 17. De Rhodes đến truyền đạo ở quê hương chúng tôi và đã được đón tiếp hậu hỉ như thế nào thì ngay chính ông cũng phải thừa nhận rằng chính quyền Việt Nam ở ngoài Bắc đã cho phép ông xây nhà ở và nhà thờ gần hoàng cung và đã giúp đỡ ông rất nhiều trong các hoạt động truyền giáo. Nhưng những đối xử tốt đẹp đó của người Việt vẫn không thỏa mãn người thừa sai phiêu lưu quốc tế nầy vì điều ông nhắm đến không phải là một địa bàn an lành thuận lợi để vun quén linh hồn cho người khác mà là quyền lực thế tục. Để thực hiện mục tiêu đó, De Rhodes âm mưu xúi dục Pháp làm lính đánh thuê cho Vatican vì ông tin rằng Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cấp cho ông đủ quân số cần thiết để đem toàn thể Đông Phương về quy thuận Vatican. De Rhodes cũng thừa nhận là ông có đủ phương cách tuyển lựa nhiều Linh Mục và Giám Mục cung ứng cho các nhà thờ. Ngày 11.9.1652, De Rhodes đã đến Vatican trình bày kế hoạch, xin chỉ thị và lên đường sang Pháp vận động thực hiện kế hoạch chiếm Việt Nam.

Như vậy, luận điệu quân Pháp đánh Việt Nam để giải cứu các thừa sai ngoại quốc bị triều đình Việt Nam bức hại chỉ là huyền thoại, hư cấu và gian dối. Thực tế lịch sử là Vatican dưới triều đại của Giáo Hoàng Innocent X và đám thừa sai biệt kích phiêu lưu quốc tế mà Alexandre de Rhodes là tiêu biểu, đã liên tục âm mưu xúi dục dẫn dụ các nước Âu châu ngoan đạo tung quân đội, tàu chiến và những tên quan lại, thực dân tham lam đi chiếm nước người để cho Vatican thực hiện giấc mộng "vừa chăn chiên vừa làm kẻ giữ thành".

Hai trăm năm sau âm mưu đó mới được thực hiện thành công qua cuộc đổ bộ của liên quân Pháp - Tây Ban Nha vào Đà Nẳng năm 1858. Hăng say nhất trong đám thừa sai biệt kích nầy là Giám Mục Pellerin. Tháng 5.1857, Pellerin gặp Napoléon III và đã khuyến dụ được ông vua nầy phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tháng 11.1857, Pellerin về Vatican phúc trình với Giáo Hoàng Pie IX và được Giáo Hoàng khen thưởng kế hoạch vận động Pháp chiếm Việt Nam. Ngày 1.9.1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng và đã được đạo quân thứ năm của Vatican tiếp trợ. Trong đạo quân thứ năm cỏng rắn cắn gà nhà nầy có các Linh Mục Việt Nam là Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Nguyễn Trường Tộ theo lệnh của Linh Mục Croc, Giám Mục Gauthier và Giám Mục Pellerin.

Lịch sử đất nước chúng tôi trong những ngày đen tối đầu tiên đó chứng tỏ không phải những toán lính xâm lược đã dùng cây thập tự giá và chiếc áo chùng đen để che đậy những khẩu đại bác trên các chiến hạm mà chính những thừa sai của Vatican đã ấp ủ tham vọng cướp quyền thuyền trưởng để ra lệnh cho những chiến hạm đó tấn công vào bất cứ nơi nào họ muốn.

Bằng chứng thứ nhất là sau khi Đà Nẵng bị thất thủ, toán biệt kích thừa sai của Pellerin muốn thừa thắng xông lên, nên nôn nóng xúi dục de Genouilly tiến ra đánh Huế cho chóng dứt điểm. De Genouilly không dám liều, và chủ trương phải làm yếu Việt Nam bằng cách chiếm Saigon trước. Nhưng vì đám thừa sai biệt kích nầy bám riết quấy rầy nên trước khi hành quân đánh Saigon, de Genouilly ra lệnh đuổi hết đám thừa sai biệt kích nầy hoặc trở về các giáo xứ địa phương hoặc phải tạm thời sang Hồng Kông chờ đợi kết quả. Trong phúc trình gởi Bộ Hải Quân, de Genouilly đã xác nhận ông không chịu đựng nổi đám thừa sai biệt kích Pellerin vì: "Không một chính quyền nào, dù là chính quyền phục vụ cho quyền lợi của chính đạo Gia-tô, lại có thể chịu đựng những lũng đoạn thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, công dân và quân sự vốn không phải và không thể là thuộc quyền hạn của họ. Nếu cũng vì lý do đó mà nhà cầm quyền Việt Nam trục xuất Giám Mục Pellerin thì báo chí thừa sai kêu ỏm lên là họ bị bách hại."

Một tư lệnh viễn chinh khác của Pháp là Đô Đốc Bonard, ngày 24.7.1862 cũng đã bí mật phúc trình với chính quyền Pháp về hành động ngang ngược của đám thừa sai biệt kích nầy bằng lời lẽ như sau: "Tất cả đám thừa sai nầy đều ôm ấp cái mộng trở lại thời kỳ mà Giám Mục Bá Đa Lộc hành xử như ông vua thực sự của xứ An Nam. Để đạt mục đích đó họ đã dùng mánh lới là kẻ nào kế vị Gia Long mà không chìu theo dục vọng của các giáo sĩ thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính cách chính thống của những người nầy, và khi lật đổ được kẻ đương triều thi họ sẽ tìm cách đưa lên một ông vua khác theo ý họ."

Đô Đốc Page cũng đã nói rõ đạo Gia-Tô đã biến những người Việt thành tay sai ngoại bang như thế nào trong các phúc trình gởi về Bộ Hải Quân trong thời gian từ 14 đến 25.12.1859: "Hơn nữa, không có một tín đồ Gia-Tô Việt Nam nào không hăng hái xin tình nguyện đi lính cho. Vua Việt Nam không theo đạo không phải là vua của họ. Bây giờ chắc Ngài đã hiểu tại sao vua quan đã coi các thừa sai là kẻ thù?" Page cũng giải thích thêm rằng : "Những năm đầu mới lên ngôi, vua Tự Đức đối xử khá ân cần với họ. Vua ra lệnh cho chính quyền địa phương bỏ qua những việc làm trái phép, những vụ phạm vi cảnh. Nhưng rồi các giáo dân do các giáo sĩ lãnh đạo ngày càng xấc xược ngạo mạn, đến mức không coi chính quyền địa phương ra gì. Họ công khai làm loạn và nói thẳng là họ không thèm vâng lời những ai theo tôn giáo khác." Đó chính là hình ảnh tiêu biểu của đám kiêu binh tiền phương trong cuộc "thánh chiến" của Vatican trên đất nuớc Việt Nam với chủ đích triệt để cô lập hóa Việt Nam khỏi Á Châu để dễ đồng hoá, chặt đứt Việt Nam thành ba phần khác biệt rồi khởi sự cãi đạo toàn thể Bắc Kỳ và biến Bắc Kỳ thành một "nước Pháp nhỏ", sau đó sẽ đến lượt Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Thưa Ngài,

Chúng tôi chỉ xin nhắc lại hầu Ngài một vài sự kiện lịch sử mà thư khố quốc gia Pháp còn giữ đầy đủ để chứng tỏ tại sao quan hệ Việt Nam-Vatican là một quan hệ không tốt đẹp cô đọng trong một câu hát nhân gian Việt Nam:

Chiếc áo chùng thâm, một màu tang phủ lên đất Việt

Chiêu bài truyền giáo, mấy triệu người bán đứng quê hương.

Là người Ba Lan, Ngài thấu hiểu dân tộc Ba Lan đã đau khổ nhục nhã như thế nào dưới sự thống trị của ngoại bang từ thế kỷ thứ 10 cho đến nay. Chúng tôi hy vọng Ngài thông cảm cho tấc lòng chúng tôi và tổ tiên chúng tôi từ ngày bị Pháp đô hộ và Ngài sẽ thấy rõ hơn trách nhiệm của Vatican cũng như của Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam trong những đau khổ nhục nhã đó.

 

Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, Việt Nam tái thống nhất, người Việt Nam bắt đầu có cơ duyên để lại nhận ra nhau là anh em đồng bào. Đây cũng là cơ duyên để cho Vatican và Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam thống hối những sai trái bất công đã phạm đối với dân tộc nầy. Các Ngài đã không làm chuyện đó. Khi Trung Hoa phát động chiến tranh biên giới để tranh dành ảnh hưởng quốc tế và Hoa Kỳ tiếp tục trả thù và trừng phạt chiến thắng của Việt Nam bằng luật phong tỏa kinh tế, Vatican đã im lặng như bức tường Thương Khó ở Jerusalem không một lời bênh vực Việt Nam nhân danh nhân quyền, tự do, hòa bình là những khẩu hiệu Vatican đang tung ra một cách lạm phát khắp thế giới để tranh dành ảnh hưởng.

Vatican đã không làm gì mà triều đại Ngài còn làm một điều hết sức đáng tiếc là đã phong thánh hay công khai vinh thăng cho 117 người Bồ Đào Nha, Pháp và Việt Nam từng có liên hệ với lực lượng viễn chinh cách nầy hay cách khác trong thời kỳ Pháp phóng tay thiết lập nền thống trị ở Đông Dương bằng sắt máu.

Thưa Ngài,

Quả thực, nếu có Thiên Đàng và Thượng Đế, và nếu 117 người đó đã sống tốt lành thật thì họ đã ở trên Thiên Đàng như những vị thánh từ ngày họ chết rồi. Không cần chờ quyết định của Vatican họ mới được lên đó. Cho nên quyết định của Ngài vinh thăng cho một đạo quân thứ năm đã từng dọn đường cho một đế quốc thực dân đó chỉ là một quyết định chính trị nhân danh Thiên Chúa.

Đáng buồn là Vatican không chỉ tưởng thưởng những con chiên đã làm cọng tác viên cho Pháp như vậy thôi mà có khi chính người kế vị Thánh Peter đã trực tiếp cộng tác với thế lực gây chiến ở Việt Nam nữa. Bằng chứng là Giáo Hoàng Pius XII liên tục ủng hộ Tây Phương tiến hành một cuộc chiến nguyên tử phòng vệ. Năm 1954, khi quân Việt Nam đang bao vây Pháp ở Điện Biên Phủ thì Vatican đã vận động Quốc Hội Mỹ chấp nhận kế hoạch dội bom nguyên tử để giải vây cho quân Pháp. Thời chính quyền Eisenhower, anh em Ngoại Trưởng Dulles, Hồng Y Spellman và cả Giáo Hoàng tiếp tay soạn thảo chính sách của Mỹ thì quân đội Mỹ đã dự trù dùng ở Việt Nam từ một đến sáu quả bom nguyên tử. Mỗi quả nặng 31 tấn và sức tàn phá gấp ba lần quả bom đã thả xuống Hiroshima ở Nhật. Chương trình xử dụng võ khí nguyên tử nầy đã được ghi lại trong các tài liệu đã được bạch hóa và do Phòng Quân Sử Mỹ công bố năm 1984.

Vatican tham chiến bên cạnh Pháp nhân danh chính sách giải cứu các thừa sai bị triều đình Việt Nam bách hại. Pháp thất bại ra đi, Mỹ thế chân Pháp và Vatican lại tiếp tục chính sách Thánh Chiến chống Qủy Đỏ bằng súng đạn, nhà tù và trại tập trung với con chiên ngoan đạo là Ngô đình Diệm. Thành tích phóng tay làm vinh danh Thiên Chúa ở Việt Nam của Ngô đình Diệm là từ năm 1955 đến 1960 ít nhất có 24,000 bị đánh đập thương tích, 80,000 bị xử tử hay bị giết, 275,000 bị giam giữ hoặc bị tra tấn và khoảng 500,000 bị dồn vào những trại tập trung hay trại giam. Những con số nầy hẳn còn cao hơn nữa nếu tính đến cuối năm 1963 là lúc Ngô đình Diệm bị lật đổ.

Thưa Ngài,

Với chính sách Thánh Chiến chống Quỷ Đỏ và hệ luận của chính sách đó là dứt phép thông công kẻ nào chấp nhập ý thức hệ Karl Marx, Vatican và Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam đã đưa bao nhiêu người Việt xuống hỏa ngục. Vatican và Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam sẽ ăn nói thế nào với những người đó khi Ngài muốn bắt tay thân thiện với chính quyền Việt Nam đương nhiệm mà theo nguyên tắc vẫn là một chính quyền theo ý thức hệ Marx? Vatican đã đưa bao nhiêu người xuống hoả ngục vì họ đã chấp nhận ý thức hệ Marx và đã phong thánh cho bao nhiêu người theo lệnh của Vatican để tàn sát những người theo Marx. Ngài lại muốn lặp lại những sai lầm thần học ấy bằng chuyến viếng thăm Việt Nam sao?

Ngài là một trong những người đã tiếp tay đào huyệt mai táng chủ nghĩa Stalin ở Âu châu, và chính quyền cộng sản trên quê hương Ngài như Ngài từng thừa nhận. Trên ngai vàng của Thánh Peter, Ngài chỉ huy một chiến dịch Thập Tự Quân mới hướng về Á Phi và Nam Mỹ là những nơi đã từng chịu trăm cay ngàn đắng với thực dân và đế quốc. Khôi nguyên của giải Nobel Hòa Bình năm 1984 là Giám Mục Anh giáo Desmond Tutu than thở: "Chúng tôi có giang sơn lãnh thổ, họ chỉ có cuốn Thánh Kinh. Chúng tôi tin họ, nhắm mắt lại cầu nguyện với quyển Thánh Kinh trong tay. Lúc mở mắt ra, chúng tôi có được cuốn Thánh Kinh còn họ có tất cả đất đai và lảnh thổ của chúng tôi." Giám Mục Tutu nói thế còn ít vì lúc mở mắt thì người ta một tay cầm Thánh Kinh và một tay cầm gươm súng để giết anh em đồng bào như ở Rwanda, ở Bosnia.

Các nước giàu mạnh ở Âu châu và Bắc Mỹ tiến vào thời đại tin học, một tay kiểm soát tiền bạc, một tay đẩy nền văn minh kỷ nghệ chế biến sản xuất cho các nước Á Phi và Nam Mỹ và Cộng Hòa Nga nghèo khó trong kế hoạch thực hiện một trật tự mới cho thế giới hậu Chiến Tranh Lạnh. Càng giàu mạnh, dân chúng Âu châu và Bắc Mỹ càng tự tin, càng tự tin họ càng quay lưng lại với những tổ chức tôn giáo Tây Phương, tôn giáo chỉ lấy quyền lợi thế tục chứ không lấy việc phục vụ nhu cầu tâm linh của con người làm mục tiêu. Bị suy thoái ảnh hưởng tại Âu Châu và Bắc Mỹ, Vatican cũng như các tôn giáo Tây Phương nầy lại quay mũi dùi về Á Phi và Nam Mỹ, nghĩa là đi lại con đường mấy trăm năm trước khi Âu châu và Bắc Mỹ hoặc núp sau các thừa sai phiêu lưu quốc tế, hoặc đã bị các thừa sai nầy dẫn dụ đánh chiếm Á Phi và Nam Mỹ làm thuộc địa. Vatican chẳng đã công khai tuyên bố thế kỷ 21 là thế kỷ của Á Phi đó sao! Cũng vì vậy, tuy tuổi già sức yếu không năm nào Ngài lại không phải rời Vatican để thực hiện một vài cuộc viễn du với chiêu bài thiện chí hoà bình và cảm thông quốc tế, nhưng thực chất là mở đường cho những toán thập tự quân thời đại mới tái chiếm những vùng đất mà Vatican đã mất ảnh hưởng khi dân chúng nổi lên đánh đuổi thực dân thu hồi độc lập tự chủ. Ở Việt Nam, năm 1975 Vatican đã phải ra đi như một đồng minh của kẻ chiến bại và như một tòng phạm của tội ác chiến tranh. Giờ thì Vatican định trở lại với tư cách gì, thưa Ngài? Không lý Ngài lại vác thập tự đi trở lại con đường khổ nạn Golgotha mà Vatican từng tiếp tay với thực dân và đế quốc vạch ra trên đất nước Việt Nam từ hơn hai thế kỷ qua?

Thưa Ngài,

Năm 1954, giáo hữu Gia-Tô ở Việt Nam bỏ miền Bắc vào miền Nam vì được "Đặc sứ toàn quyền Mỹ bên cạnh chính quyền Ngô đình Diệm" là Đại Tá Edward Landsdale thông báo rằng "Đức Mẹ đã vào Nam". Vì Đức Mẹ chỉ ở trong nhà thờ nên khi đã định cư ở Miền Nam rồi, các tín hữu Gia-Tô không lo bảo vệ lãnh thổ, phát triển quốc gia mà chỉ lo xây cất và bảo vệ Nhà Thờ với khẩu hiệu Thà Mất Nước Không Thà Mất Chúa. Miền Nam đã "mất" thật năm 1975. Một số giáo hữu Gia-Tô cố đưa Đức Mẹ vượt biên di cư lần nữa để thiết lập những Giáo Hội Gia-Tô Việt Nam lưu vong tại những nơi họ định cư. Nhưng tín đồ Gia-Tô da trắng không bao giờ để cho họ làm chuyện đó mặc dù định cư ở đâu là họ cố làm sống lại những giáo hội địa phương đang tàn lụi khi ngày càng ít người đến nhà thờ. Số Linh mục và nữ tu Việt Nam lưu vong trở thành chủ lực của giáo hội Gia-Tô địa phương đang thiếu hụt giáo quyền trầm trọng vì đàn ông không mấy ai chịu đi tu nữa và Giáo Hội lại không cho đàn bà làm Linh Mục.

 

Ngày nay, người Ki-Tô giáo da trắng bản xứ, dù thuộc giáo phái nào suốt đời nhiều lắm cũng chỉ đến nhà thờ ba lần bằng xe mà thôi. Xe nôi để được rửa tội, xe hoa để làm đám cưới và xe tang để từ giã cõi đời . Ngày thường và nhất là ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật nếu có người đi nhà thờ thì đại đa số nếu không phải người tỵ nạn Việt Nam thì phần lớn là di dân Á Phi hay Nam Mỹ. Lý đáng Vatican phải tập trung nổ lực giúp giáo dân Gia-Tô Việt Nam lưu vong cũng cố và cãi thiện sinh hoạt tín ngưỡng của họ nơi họ đang định cư, giúp họ an tâm hội nhập, xây dựng lại cuộc đời, sống hòa hợp với những đồng bào khác tôn giáo với mình. Vatican đã không làm chuyện ấy trái lại còn âm mưu lợi dụng họ một lần nữa vào việc tái lập quyền thống trị của Vatican ở Việt Nam, bằng cách biến họ thành những đoàn thể áp lực đối với chính quyền Việt Nam để mở đường cho Vatican mặc cả quyền lợi. Bi hài hơn nữa là chuyến đi Việt Nam được dự tính của Ngài đang trở thành đối tượng tranh đấu của cái gọi là phong trào vận động nhân quyền cho Việt Nam mà một số tín hữu Gia-Tô lưu vong đang rầm rộ thực hiện khắp nơi với sự hổ trợ của Vatican.

Chủ trương tận tình chiếu cố Việt Nam của Vatican làm cho một số tín hữu Gia-Tô Việt Nam lưu vong tin rằng Vatican đang muốn thực hiện lần nữa ở Việt Nam một Hung Gia Lợi năm 1956, một Tiệp Khắc năm 1968 và một Ba Lan sau cuộc thăm viếng của Ngài năm 1979, khởi đầu cho tiến trình giải thể chế độ Mác-xít mười năm sau đó. Tham vọng lật ngược thế cờ chính trị ở Việt Nam cọng thêm lòng cuồng tín cố hữu và thói quen tuyệt đối vâng lời Vatican đã được thổi phồng lên tột độ trong những nơi có người Việt tập trung định cư. Các tín đồ Gia-Tô Việt Nam trở thành những nhóm chủ lực xách động và lũng đoạn mọi sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị của những cộng đồng người Việt lưu vong. Những chiến dịch song hành hoặc liên tiếp công khai hô hào gây bạo loạn ở Việt Nam bằng vũ lực, bằng diễn biến hòa bình, hoặc âm thầm bằng tham nhũng hủ hóa các tầng lớp cán bộ, nhân viên hành chánh, quân sự các cấp. Chiến dịch bóp méo lịch sử để đánh bóng lại một vài nhân vật Gia-Tô Việt gian như Nguyễn trường Tộ, Trương vĩnh Ký, Ngô đình Khả, Ngô đình Diệm. Chiến dịch vận động nhân quyền, đa nguyên chính trị. Chiến dịch đánh phá các tôn giáo và bất cứ người nào không chịu sắp hàng chung song song với chiến dịch liên tôn chống Cộng để khũng bố và khuyến dụ những người Việt phi Gia-Tô chịu đứng ra làm bình phong hay công cụ cho họ. Tãt cả những chiến dịch đó đều được sự tán trợ và đồng lõa của các cấp giáo quyền, các đại diện Vatican tại địa phương, để tăng sức ép cho Vatican vận động phục hồi thế đứng đã mất ở Việt Nam.

Thưa Ngài,

Hoàn cảnh phải gánh gánh nặng Ba Lan trên vai và sau đó cả Tòa Thánh, chúng tôi tin Ngài có thời giờ và cơ hội tìm hiểu quê hương, dân tộc chúng tôi và những đọa đày mà chúng tôi đã chịu từ ngày người Tây Phương -trong đó có những thừa sai và con chiên của Ngài, đến Việt Nam cho đến ngày họ phải cuốn gói ra đi. Chúng tôi tin rằng Ngài đã được thuyết minh đầy đủ những điều cần biết về đất nước, dân tộc chúng tôi, ở Việt Nam cũng như ở những nơi định cư từ 1975 đến nay.

 

Thưa Giáo Hoàng,

Nếu phép lạ có thật thì chúng tôi chỉ cầu mong một phép lạ. Đó là lá thư ngõ nầy sẽ đến tay Ngài trước khi Ngài từ giã cõi đời. Chúng tôi cầu mong thư nầy đến tay Ngài để Ngài có những quyết định khả dĩ tạo ra những kết quả tốt đẹp lâu dài cho mối liên hệ Vatican-Việt Nam cũng như riêng cho Giáo Hội Gia Tô ở Việt Nam. Những quyết định đó là :

1. Công khai thành khẩn tạ lỗi với dân tộc Việt Nam như Vatican đã tạ lỗi với Galilea, với những nạn nhân của Giáo Tòa Trung Cổ, với dân Do Thái.

2. Góp phần cụ thể hàn gắn những tàn phá đổ nát, đau thương vì cuộc chiến tranh trong đó Vatican đã là đồng lõa với các thành phần gây chiến.

3. Trả lại cho Ceasar những gì thuộc về Ceasar. Chính thức trả lại cho Việt Nam những tài sản vật chất mà Vatican và Giáo Hội Gia-Tô đã thủ đắc một cách không chính đáng.

4. Trả lại các cơ sở tôn giáo, văn hoá như đình, miếu, am, chùa đã bị Giáo Hội Gia-Tô cưỡng chiếm làm cơ sở tín ngưỡng của mình, ví dụ như chùa Báo Thiên ở Hà Nội và chùa Làng Vằng nay là nhà thờ La Vang, Quảng Trị.

5. Chấm dứt tình trạng vi phạm nhân quyền và phi pháp như dụ dỗ các bệnh nhân rửa tội hoặc bắt bí tình cảm qua việc dụ dỗ hay bắt buộc kẻ khác phải theo Gia-Tô mới được thành hôn, hoặc khuyến dụ cãi đạo để hưởng những chương trình xã hội giáo dục nào đó.

6. Thừa nhận tích cách tự trị tự lập của Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam, mở đường cho Giáo Hội nầy trở về với đại khối đồng bào của họ thay vì bắt họ tồn tại như một thiểu số cô độc chỉ biết tuyệt đối thần phục một quyền lực xa vời không bao giờ quan tâm đến tình nghĩa, quyền lợi và những giá trị thiêng liêng của Việt Nam. Chúng tôi chỉ mong cầu tự đáy lòng Ngài yêu Ba Lan như thế nào thì Ngài hãy tạo cơ hội và điều kiện để cho các cấp giáo quyền cũng như giáo dân trong Giáo Hội Gia-Tô ở Việt Nam yêu quê hương và đồng bào Việt Nam của họ như thế ấy.

Được như thế, chúng tôi nghĩ chuyến đến Việt Nam của Ngài - nếu có, sẽ là một biến cố tốt đẹp cho mọi phe liên hệ vậy.

Thành kính cầu chúc Ngài sức khoẻ dồi dào.

Kính thư,

Hoa Kỳ ngày 10 tháng 1 năm 1999.

Đồng ký tên:

Hoành Linh Đỗ Mậu (Mỹ), Trần Trọng Phúc (Mỹ), Lê Trọng Văn (Mỹ), Trần Đức Viết (Mỹ), Nguyễn Kha (Mỹ), Nguyễn Thái (Mỹ), Nguyễn Mạnh Quang (Mỹ), Hoàng Nguyên Nhuận, Quán Như và nhóm Chuyển Luân (Úc), Phạm Hữu Điều (Canada), Phan Tấn Hạnh (Pháp), Nguyễn Lương (Pháp).

Bản sao song ngữ Việt - Anh đồng kính gởi:

. Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
. Tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền
. Tổng Thống & Quốc Hội Hoa Kỳ, Pháp và Nga
. Thủ Tướng & Quốc Hội Anh, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Cambodia, Thái Lan, Tích Lan, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
. Thủ Tướng & Quốc Hội Việt Nam
. Quý vị lãnh đạo tôn giáo
. Các cơ quan truyền thông, báo chí trong và ngoài nước.

Nguồn: tác giả gửi

Trang Văn Học




Đó đây


2020-10-22 - Lên Án HDH hạ bệ Cờ Đỏ Sao Vàng thiêng liêng thành cần câu cơm-Yêu cầu HDH đưa bằng Quốc Tịch VN ! -

2020-10-22 - Nhóm Công giáo nói GH Francis là người "dị giáo" vì quan điểm về đồng tính và phá thai - Có 19 người ký vào một lá thư thúc giục Hội Đồng Giám mục tố cáo giáo hoàng và thậm chí xem xét tước chức giáo hoàng nếu ông không thể hiện "sự ăn năn thực sự." Bức thư được hỗ trợ bởi một bản kiến nghị, cáo buộc Giáo hoàng đã "phủ nhận các chân lý của đức tin" và đã không đủ thẳng thắn về các khía cạnh chính của giáo điều như phá thai và đồng tính luyến ái và dường như chấp nhận các đức tin khác. Thậm chí Giáo Hoàng còn bị buộc tội từng sử dụng biểu tượng satan.

2020-10-20 - Thủ tướng Nhật Bản Suga: Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đang mạnh mẽ chưa từng thấy - Tại cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 19-10, Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide khẳng định quan hệ Việt Nam và Nhật Bản đang là mối quan hệ mạnh mẽ nhất từ trước tới nay.

2020-10-20 - Người Biên Ải: Bộ mặt thật của Luật sư Bìm Bịp -

2020-10-19 - "Cách mạng trắng" là cái quái gì vậy Dương Béo ? -

2020-10-19 - Anh nông dân DUY TÂM | tâm tình về LS HDH và con đường quay về -

2020-10-18 - Hoa Kỳ công bố khoản viện trợ giúp Việt Nam ứng phó thiên tai - Ngày 17/10, thông tin từ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam D.J. Kritenbrink đã công bố một khoản viện trợ ứng phó thiên tai ban đầu trị giá 100.000 USD

2020-10-18 - TRUNGNP_14OCT: Vô Chiêu Thắng Hữu Chiêu Của Anh Côn Đồ Xảo Trá Có Học -

2020-10-18 - LỄ TRUY ĐIỆU 13 LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH TẠI RÀO TRĂNG - Vô cùng thương tiếc các anh. Xin chia buồn đến với gia đình các chiến sĩ !

2020-10-18 - Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide đã đến Hà Nội, chính thức thăm Việt Nam - Giới quan sát cho rằng việc ông Suga chọn thăm Việt Nam đầu tiên phản ánh thực tế thủ tướng Nhật đánh giá cao mối quan hệ song phương Việt Nam - Nhật Bản, cũng như vai trò của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản



▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 >>>




Thư, ý kiến ngắn
● 2020-10-20 - Các luận điệu bênh vực cho LS HDH trong video xuyên tạc việc soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Bác Hồ - Mảng Lịch Sử Chưa Viết -

● 2020-10-17 - Bây giờ cháu mới hiểu tại sao Bác Hồ trich dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp đê làm gì. - 2 nhận xét về Đề tài 85 -

● 2020-10-17 - Nếu "cố tình" trường kỳ mai phục để thực hiện Diễn Biến Hòa Bình thì... - Noi Pham -

● 2020-10-16 - Đạo Văn/Góp Ý - Không lưu manh, gian xảo thì không phải là Chiên Việt gian - Ri Nguyễn -

● 2020-10-16 - Cứu lụt như cứu lửa - Eyes of Compassion Relief Organization - Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời -

● 2020-10-14 - Thư vận động Học bổng Tám Phật Tử Hy Sinh Vì Đạo (Tám Thánh Tử Đạo) 2020 - Nguyễn Thiện Tống -

● 2020-10-10 - Vẽ cây thập tự ban "phép lành?" Thời đó, ở La Mã người ta thấy cây thập tự là một nỗi kinh hoàng - TRUONG-AN -

● 2020-10-09 - Trong nước có Vũ Quang, hải ngoại có Trần Mạnh Hùng - Lão Ông -

● 2020-10-07 - Bệnh viện mới nhất của NEW ZEALAND từ chối xây một nhà nguyện Cơ đốc. Cơn giận dữ ập đến - Ri Nguyễn -

● 2020-10-07 - Về: 10 câu hỏi với cựu đại đức Phật giáo (Huệ Nhật) của con chiên Nguyễn Hy Vọng - Huy Thái -

● 2020-10-07 - HT Thích Không Tánh không thể đại diện cho bất cứ đoàn thể nào của PGVN để vào "liên tôn" - Trần Quang Diệu -

● 2020-10-07 - Chiên Nguyễn Thị Saigon gian manh viết láo "Trước cái CHẾT... " - Ri Nguyễn -

● 2020-10-07 - Chứng minh bằng kinh thánh... Tại sao gọi là ông Chúa ác ôn, côn đồ, khát máu..? - Ri Nguyễn -

● 2020-10-07 - Lịch sử bi tráng của nhân dân Viet Nam - Vo Du -

● 2020-10-04 - Nhiều người yêu nước vẫn cố né tránh, không nói đến một yếu tố đau lòng trong lịch sử: Ki-tô La Mã - Vo Du -

● 2020-10-01 - PolitiFact, web kiểm tra sự thật: Trong bài phát biểu tiếp nhận đề cử của đảng Cộng hòa, Trump có 60 lần nói - Diễn đàn E-mail -

● 2020-10-01 - Đây không phải là "người Việt tự khen mình" mà là Andre Vltceck, Ký Giả Châu Âu - nth-fl -

● 2020-09-30 - Bài Bình Luận của Báo Nhân Dân Online: Nếu yêu nước, hãy hành xử bằng lương tri trong sáng - Võ Đinh -

● 2020-09-27 - Kể từ ngày lũ chiên bò cha cố mũi lõ mang đạo Thiên Chúa vào Việt Nam - Ri Nguyễn -

● 2020-09-27 - Thụ Tinh Nhân Tạo Là Tiếm Quyền Thiên Chúa(?) - FB Lê Thị Kim Hoa -


▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 146 147 148 149 150 151 152 153 154 155 >>>