●   Bản rời    

Sinh Viên, Học Sinh Các Đô Thị Miền Nam Trong Phong Trào Phật Giáo Năm 1963

Sinh Viên, Học Sinh Các Đô Thị Miền Nam Trong Phong Trào Phật Giáo Năm 1963

GS Lê Cung*

http://sachhiem.net/LICHSU/L/LeCung20.php

15-Nov-2021

chứng tỏ sự trưởng thành về mặt chính trị của tuổi trẻ miền Nam. Họ đã nhận thức rõ bản chất phản dân tộc, phi chính nghĩa của gia đình họ Ngô; đồng thời sáng tỏ về tính chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 6-5-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Công điện 9195, cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản 1963 (Phật lịch 2507). Tiếp theo, đêm 8-5-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế, làm 8 Phật tử thiệt mạng và nhiều người bị thương. Phản đối chính sách bạo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 10-5-1963, tăng ni và Phật tử Huế tổ chức meeting tại chùa Từ Đàm, công bố Tuyên ngôn gồm 5 nguyện vọng(1) đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo. Chuổi sự kiện này, nhất là cuộc tàn sát đẫm máu tại Đài phát thanh Huế (đêm 8-5-1963), khách quan đã tạo cơ hội cho sinh viên, học sinh các đô thị miền Nam tham gia vào đời sống chính trị - xã hội mà họ đang trông chờ.

Đài Kỷ Niệm Thánh Tử Đạo do Giáo hội Thừa Thiên phụng lập ở ngã tư Lê Lợi – Hùng Vương, phía góc Đài Phát thanh cũ.

Sinh viên, học sinh Huế nhập cuộc sớm nhất. Ngày 14-5-1963, trong Lễ truy điệu 8 “Thánh tử đạo” tại chùa Từ Đàm (Huế), Nguyễn Minh Triết(2) , sinh viên Y khoa, đại diện sinh viên Huế, đã lên máy vi-âm tố cáo sự tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm, kêu gọi sinh viên, học sinh và đồng bào Phật tử hãy xiết chặt đội ngũ quyết đấu tranh để giành lấy bình đẳng, tự do. Lời phát biểu có đoạn: “... Tuổi trẻ học đường với bao khát vọng về độc lập, về công bằng, được nuôi dưỡng bởi quá khứ hào hùng của dân tộc, như những đứa con bú sửa mẹ, tiếp bước cha anh, thà chết vinh, không sống nhục trước bạo lực và cường quyền, đem hết trí tuệ và mạng sống hiến dâng cho đồng bào, cho dân tộc, cho quê hương mãi xanh niềm hy vọng ... Trước cảnh đàn áp dã man, các Oanh vũ Phật tử tuổi đời lên 8, lên 9 phải nằm dưới xích sắt xe tăng nghiến ra từng mãnh, làm sao khoanh tay đứng nhìn được. Máu đã chảy cùng nước mắt; sinh viên Huế, học sinh Huế, đồng bào Phật tử Huế hãy cùng nhau đi hỏi tội những kẻ bạo tàn. Mai đây, những thế hệ kế tiếp sẽ học bài học này mà ngẩng cao đầu đi tới xây dựng một Việt Nam mãi xanh những ước mơ ...”(3) .

Đến cuối tháng 5-1963, sau những lần thương lượng, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn “án binh bất động” trong việc giải quyết năm nguyện vọng như đã đề cập khiến Phật giáo tổ chức cuộc tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ trên toàn miền Nam bắt đầu từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963. Tại chùa Từ Đàm (Huế), ngoài tăng ni còn có một số sinh viên Phật tử tham gia tuyệt thực. Trước lúc bắt đầu cuộc tuyệt thực, Đoàn Sinh viên Phật tử gởi thư cho toàn thể sinh viên và học sinh miền Nam, khẳng định cuộc đấu tranh của họ là phù hợp với “Lý tưởng Tự do và Bác ái”; đồng thời kêu gọi sinh viên, học sinh miền Nam “hãy sát cánh nhau xiết chặt hàng ngũ sau lưng Hòa thượng Hội chủ(4) - quyết tranh đấu đến kỳ cùng - Dầu phải đổ máu, để Chính phủ phải trả lại cái địa vị xứng đáng của Phật giáo”(5) . Ngày hôm sau (31-5-1963), trong một phiên họp bất thường tại chùa Từ Đàm, Đoàn Sinh viên Phật tử Huế đã gởi kiến nghị đến Ngô Đình Diệm gồm 4 điểm, tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm đã tạo ra chính sách bất bình đẳng tôn giáo, gây chia rẽ dân tộc và yêu cầu Ngô Đình Diệm nhanh chóng thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo.

“Thứ nhất: Yêu cầu Tổng thống và Chính phủ giải quyết năm nguyện vọng chính đáng và tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963.

Thứ hai: Yêu cầu Tổng thống và Chính phủ thực thi tánh cách tự do dân chủ và bình đẳng thực sự, là lý tưởng mà toàn thể thanh niên trí thức hằng thiết tha cầu đạt.

Thứ ba: Yêu cầu Chính phủ tìm mọi biện pháp để đánh tan sự chia rẽ trầm trọng giữa dân tộc hiện tại do chính sách bất bình đẳng tôn giáo gây nên.

 Thứ tư: Yêu cầu Chính phủ ra lịnh triệt để đình chỉ những mánh lưới trẻ con, thiếu trí thức của cán bộ đối với tín đồ Phật giáo trong cuộc tranh đấu. Vì những mánh lưới đó không lừa bị được ai mà chỉ làm mất uy tín của cán bộ và Chính phủ”(6) .

 Cuộc tuyệt thực đã qua 48 tiếng đồng hồ, song Ngô Đình Diệm không chịu giải quyết 5 nguyện vọng của Phật giáo. Tình hình này đã thôi thúc sinh viên chuyển sang hành động. Ngày 2-6-1963, bằng một khẩn điện gởi Ngô Đình Diệm, Đoàn Sinh viên Phật tử Huế và một số sinh viên Phật tử Sài Gòn có mặt tại Huế yêu cầu Ngô Đình Diệm mau chóng thoả mãn năm nguyện vọng của Phật giáo và “thệ nguyện đem tánh mạng của mình để hiến cho năm nguyện vọng của Phật giáo liên hệ đến lý tưởng tự do bình đẳng”. Và để biểu thị ý chí này, “kể từ 19 giờ tất cả chúng tôi tình nguyện tuyệt thực 24 giờ tại Giảng đường chùa Từ Đàm, Huế”(7) .

Tiếp theo, ngày hôm sau (3-6-1963), bất chấp lệnh giới nghiêm, hơn 500 sinh viên biểu tình trước Tòa Đại biểu Chính phủ(8) để đưa yêu sách và chất vấn Đại biểu Chính phủ tại Trung Nguyên Trung Phần, người vừa đến Huế để nhận chức. Cuộc biểu tình bị lực lượng Diệm đàn áp và giải tán bằng hơi cay. Sau đó, sinh viên cùng với đồng bào Phật tử kéo về chùa Từ Đàm nhưng bị cảnh sát chận lại bên này cầu Bến Ngự. Đoàn người đã chuyển thành một một cuộc biểu tình “ngồi”. Cảnh sát ném lựu đạn cay và xua chó berger cắn xé làm 1 người chết và 125 người bị thương. Nhiều sinh viên bị bắt.

 Để kịp thời động viên và cổ vũ cuộc đấu tranh của sinh viên Huế, Mặt trận dân tộc giải phóng Thừa Thiên Huế ra tuyên bố: “Hoan nghinh tinh thần đấu tranh dũng cảm của đồng bào và tín đồ Phật giáo ở Huế”, “Hoan nghinh tinh thần đấu tranh của anh em sinh viên Viện Đại học Huế” và khẳng định “Ủng hộ yêu sách 5 điểm của Phật giáo Huế”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh của sinh viên Viện Đại học Huế đòi giải quyết cho được yêu sách của mình”(9) . Ở miền Bắc, Xã luận Báo Nhân dân (5-6-1963) viết: “Anh dũng thay sinh viên và thanh niên Huế! Một lần nữa sinh viên và thanh niên Huế đã tỏ ra xứng đáng là con em của một dân tộc anh hùng, xứng đáng là những người kế tục tinh thần anh hùng của Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Võ Thị Sáu,… Những cuộc đấu tranh liên tục của đồng bào theo đạo Phật cùng với cuộc biểu tình của sinh viên và thanh niên Huế vừa qua là những tấm gương đấu tranh của Huế bất khuất và miền Nam anh hùng”(10) .

Tại Sài Gòn, từ sau cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức (11-6-1963), sinh viên từng bước nhập cuộc tham gia đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, nhất là từ khi Thông Cáo chung(11) bị vi phạm. Ngày 20-7-1963, Đoàn Sinh viên Liên giáo ra lời hiệu triệu tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo: “Việc tàn sát Phật giáo đồ tại Huế trong ngày Phật Đản vừa qua, việc giở trò lừa bịp ký giả ký kết, thỏa thuận để xoa dịu những lúc lòng công phẫn trong nhân dân lên quá cao rồi lại tiếp tục bắt bớ, tra tấn, tàn sát đẫm máu, tất cả những việc ấy đã đem lại lợi ích gì cho quốc gia, dân tộc? Phải chăng chỉ để thỏa mãn lòng đố kỵ nhỏ nhen, óc kỳ thị tôn giáo hẹp hòi của một vài cá nhân?... Các tôn giáo trong nước đều tố cáo hành vi hạn chế tín ngưỡng phản Hiến pháp của chính quyền. Ngay cả những tín đồ Thiên Chúa giáo vô tư cũng lên án hành động của chính quyền là hẹp hòi, bẩn thỉu”. Bản hiệu triệu khẳng định: “Đoàn Sinh viên Liên giáo chúng tôi gồm đủ thành phần của các tôn giáo: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Tin Lành giáo, Cao Đài giáo, Bahai giáo... được thành lập với mục đích ủng hộ Phật giáo đấu tranh ôn hòa đòi tự do tín ngưỡng và hành giáo”(12).

Ngày 24-7-1963, đại diện một nhóm sinh viên Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn gởi thư đến Đức Khâm sứ Tòa thánh Vatican ở Việt Nam. Bức thư viết: “Sau khi theo dõi những biến cố xảy ra tại Sài Gòn cũng như ở Huế từ ngày 8-5 đến nay, cũng như sau khi chứng kiến tận mắt cái chết vô cùng dũng cảm của nhà sư Thích Quảng Đức và các cuộc biểu tình bất bạo động mới đây của tăng ni, chúng con là một nhóm thanh niên Công giáo yêu chuộng tự do và công lý không thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh đau khổ, bị đánh đập, bị bắt bớ của những người dù rằng khác tín ngưỡng nhưng cũng là đồng bào anh em với chúng con.

Hành động đàn áp nói trên của Chính phủ Công giáo đối với Phật giáo đồ đã làm tổn thương nhiều đến thanh danh của hàng Giáo phẩm Việt Nam nói riêng và Giáo hội nói chung. Không những thế, nó còn gây ra những phản ứng bất lợi cho Giáo hội Công giáo trên khắp các quốc gia Á châu,... Chúng con tin chắc rằng Đức Cha cũng đã khách quan nhận xét, đã phê phán và phúc trình về Tòa thánh những sự việc đã diễn ra”(13) .

Trong lúc phong trào Phật giáo đang được phục hồi trên khắp các đô thị miền Nam, nhất là Huế và Sài Gòn, thì Đại sứ Mỹ Frederick E. Nolting, trong một cuộc phỏng vấn của Don Baker, ký giả của hãng thông tấn UPI, đã bào chữa cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Nolting nói: “Hơn hai năm tôi sống ở Việt Nam, tôi chưa bao giờ nhận thấy dấu hiệu nào chứng tỏ có sự kỳ thị tôn giáo”(14) . Tiếp theo, ngày 3-8-1963, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự, Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu) lên tiếng công kích và nhục mạ Phật giáo, rằng “hoạt động của Phật giáo là một hình thức phản bội xấu xa ...”(15) . Về sự tự thiêu của Thích Quảng Đức, Trần Lệ Xuân cho là sư “nướng sư”. Trả lời phỏng vấn của ký giả báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: “Tôi còn đánh sư gấp 10 lần như thế nữa à. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới”(16) .

Thái độ bất chấp sự thật của Nolting cùng với lời lẽ hỗn xược của Trần Lệ Xuân như “lửa đổ thêm dầu”, phong trào Phật giáo đột ngột phát triển mạnh. Từ ngày 3-8-1963, sinh viên Huế từng tốp thay nhau liên tục tuyệt thực tại chùa Diệu Đế để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm không chịu thi hành Thông Cáo chung. Ngày 12-8-1963, tại chùa Xá Lợi, nữ sinh Mai Thị Tuyết An tự chặt tay trái của mình để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 13-8-1963, nhà sư Thích Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên, Huế. Lực lượng Ngô Đình Diệm cướp thi thể và đàn áp quyết liệt cuộc đấu tranh giành lại thi thể nhà sư, làm 30 người bị thương, trong đó có 8 người bị thương nặng phải đưa vào bệnh viện để cứu chửa. Ngày 15-8-1963, sinh viên Huế biểu tình phản đối vụ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tại chùa Phước Duyên. Tiếp theo, ngày 16-8-1963, nhà sư Thích Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Đàm. Phong trào sinh viên Huế càng lên cao. Ngày 17-8-1963, Ngô Đình Diệm cách chức Viện trưởng Cao Văn Luận khiến toàn thể khoa trưởng và giảng viên từ chức. Trần Hữu Thế được cử ra thay Cao Văn Luận làm Viện trưởng, bị giảng viên và sinh viên tẩy chay. 14 giờ ngày 17-8-1963, sinh viên Viện Đại học Huế tổ chức hội thảo tại Trường Đại học Khoa học(17) , ra kiến nghị: “Yêu cầu Tổng thống và Ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục tìm mọi phương sách để Quý vị Khoa trưởng và giáo sư đã từ chức ... đảm nhận lại chức vụ của mình, ... thâu hồi lệnh bãi chức Viện trưởng Cao Văn Luận”; đồng thời “quyết định bãi khóa từ hôm nay cho đến khi nào những nguyện vọng trên được thỏa mãn”(18) .

Tiếp theo, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Nguyễn Hữu Trí(19) , sinh viên tổ chức biểu tình, kéo đến “Tòa Đại biểu Chính phủ”, gặp Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đang có mặt tại đây để gởi kiến nghị. Đại diện sinh viên đọc kiến nghị, gồm những nội dung chủ yếu: “Yêu cầu Chính phủ thu hồi lệnh cách chức Linh mục Viện trưởng Cao Văn Luận; hãy giữ lại các vị Khoa trưởng và giảng viên Viện Đại học Huế đã đệ đơn từ chức ngày 17-8-1963; nếu những lời thỉnh nguyện trên không được chấp thuận thì kể từ giờ này 17-8-1963, sinh viên Đại học Huế xin bãi khóa”(20) .

Tối ngày 17-8-1963, qua Đài Phát thanh Huế, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Huế Trình Giảo Kim do chính quyền Ngô Đình Diệm điều khiển, phát đi thông cáo phủ nhận cuộc biểu tình và quyết định tuyên bố bãi khóa vào chiều ngày 17-8-1963 của sinh viên Viện Đại học Huế; đồng thời yêu cầu toàn thể sinh viên “hãy bình tĩnh và sáng suốt nhận định vấn đề, tách rời vấn đề giáo dục này ra khỏi mọi vấn đề chính trị và tôn giáo, …”(21) . Phản đối tuyên bố của Trình Giảo Kim, sáng ngày 18-8-1963, một cuộc hội thảo tại Trường Đại học Khoa học, có gần 500 sinh viên tham dự với sự có mặt của Giáo sư Nguyễn Hữu Trí. Cuộc hội thảo đã ra tuyên bố tẩy chay Ban Chấp hành cũ: “Kể từ giờ này không tín nhiệm Tổng hội Sinh viên cũng như Ban chấp hành cũ nữa”(22) ; đồng thời tuyên bố thành lập một Ủy ban Chấp hành lâm thời để thay thế Ban Chấp hành cũ. Ban Chấp hành lâm thời gồm 7 sinh viên và Cố vấn đoàn gồm 6 giảng viên(23) . Hội thảo còn đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó “vạch một kế hoạch làm thế nào cho Tân Viện trưởng từ chức hầu mới mong Viện trưởng Cao Văn Luận trở về lại Huế”(24) .

Cũng ở cuộc hội thảo này, các thành viên còn lại trong Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Huế ra thông cáo phản đối “Trình Giảo Kim đã tuyên bố độc đoán không thể hiện đúng quyền lợi và nguyện vọng của sinh viên Đại học Huế,…từ nay không hay biết những việc làm của ông Trình Giảo Kim”; đồng thời tuyên bố: “Nhiệt liệt ủng hộ Ban Đại diện sinh viên Đại học Huế, tranh đấu cho tinh thần bản kiến nghị ngày 17-8-1963”(25) .

Cùng thời điểm này (18-8-1963), tại Sài Gòn, một cuộc lễ cầu siêu cho tất cả các vị tử đạo được tổ chức tại chùa Xá Lợi. Sau lễ cầu siêu, Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn kêu gọi quần chúng tham gia tuyệt thực tại chỗ, có tới 10.000 người tham gia. Suốt ngày hôm đó, đông đảo đồng bào Sài Gòn kéo đến chùa Xá Lợi để ủng hộ cuộc tuyệt thực, khí thế đấu tranh của quần chúng hết sức sôi nổi.

Để cứu nguy chế độ, chính quyền Ngô Đình Diệm cho thực hiện “Kế hoạch nước lũ”: “Cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới tăng ni, công chức, giáo sư, sinh viên, cũng như trong các đoàn thể nhân dân” nhằm giải quyết dứt điểm “Vụ Phật giáo”; “thời gian ấn định cho việc thực hiện xong kế hoạch là từ 21-8 đến 30-9-1963”(26) .

Đúng như kế hoạch đã vạch ra, đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm cho quân tấn công hầu hết các ngôi chùa được dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tại Huế, chùa Từ Đàm và chùa Diệu Đế là trọng điểm đánh phá của chính quyền Ngô Đình Diệm. Sinh viên cùng với tăng ni, Phật tử bảo vệ chùa chống trả quyết liệt, kéo dài từ nửa đêm cho đến gần sáng lực lượng Diệm mới phá vỡ vòng đai phòng thủ để tiến vào chùa.

Tại Sài Gòn, cảnh sát dã chiến và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu mặc quân phục(27) tấn công các chùa và bắt giữ tăng ni, Phật tử. Chùa Xá Lợi, trụ sở của Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo, cuộc tấn công của lực lượng Diệm diễn ra rất ác liệt. Sinh viên, học sinh cùng tăng ni, Phật tử chống trả mãnh liệt, cho đến lúc kiệt sức thì bị bắt tống lên xe chở vào trại giam. Hầu hết các nhà sư trong giới lãnh đạo Phật giáo đã bị bắt trong cuộc tấn công này. Ở chùa Ấn Quang, theo Phiếu đệ trình số 0289 ngày 22-8-1963 của Tư lệnh Quân đoàn III Sài Gòn, thì cuộc tấn công của lực lượng Diệm vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của tăng tín đồ Phật tử: “Việc khám xét chùa Ấn Quang cũng gặp trở ngại vì chùa đã tổ chức phòng thủ và báo động. Khi lực lượng an ninh tiến vào chùa thì gặp một hàng rào kẽm gai có truyền điện nên một số nhân viên bị điện giật và bị thương. Một số tăng ni canh gác trong sân chùa dùng gậy định chống trả lúc đầu, nhưng sau đó lại rút lui lên lầu. Các sư liền sử dụng máy phóng thanh kêu gọi đồng bào quanh vùng thức dậy để chứng kiến quân đội tấn công chùa. Trong chùa, trống đánh ầm ĩ để báo động và sử dụng điện thoại để liên lạc với các chùa khác.

Các tăng ni tiếp tục ném đá và ve chai vào các toán an ninh. Đặc biệt là các tăng ni có ném một chất hóa học cay mắt và một chai a-xít vào trung đội an ninh trong lúc tiến công vào chùa, nhưng may không có nhân viên nào bị thương”(28) .

Cùng với “Kế hoạch nước lũ”, Ngô Đình Diệm đọc tuyên cáo và ban hành lệnh giới nghiêm. Sắc lệnh giới nghiêm cho phép quân đội có quyền “xét các tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ những người xét có hại cho an ninh công cộng” (Điều 3), “Tất cả mọi sự vi phạm đến trật tự công cộng đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Quân sự” (Điều 4)(29) . Theo số liệu của chính quyền Ngô Đình Diệm, trong đêm tấn công đồng loạt chỉ tính riêng Sài Gòn và Huế đã lên tới 1.323 người bị bắt (Sài Gòn: 728 người, Huế: 595 người). Ngày 21-8-1963 và những ngày kế tiếp, chính quyền Ngô Đình Diệm cho người đến tận nhà riêng, bắt thêm khoảng 2.000 người khác, trong đó đa số là giáo sư, luật sư và sinh viên. Thực hiện “Kế hoạch nước lũ” và ban hành lệnh giới nghiêm, chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm đã “thực sự giẫm trúng vỏ chuối do Phật giáo quăng ra”(30) , đã tự chọn cho mình một tuyệt lộ.

Liền sau “Kế hoạch nước lũ”, Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo ra Lời hiệu triệu tố cáo sự tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm: “Trong giờ phút nghiêm trọng này, toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam đang bị đàn áp cực kỳ dã man, chùa chiền bị dẫm nát dưới gót dày tàn bạo. Khắp nơi tăng ni, tín đồ đang bị lâm nạn. Ở miền Trung, chùa Diệu Đế và Từ Đàm cùng nhiều chùa khác bị tàn phá, hàng trăm người bị giết và hàng ngàn người bị trọng thương. Toàn thể Phật giáo đồ đang quằn quại rên xiết dưới áp lực của kẻ bạo tàn”; đồng thời kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hãy đoàn kết đấu tranh vì sự trường tồn của Đạo pháp và kiên quyết không lùi bước trước chế độ bạo tàn Ngô Đình Diệm: “Trước tình trạng nguy nan cho sự tồn vong của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam, chúng tôi thiết tha kêu gọi lương tri của toàn thể đồng bào Việt Nam.

 Hỡi các nhà đạo đức trí thức, học giả!

Hỡi các nhà trí thức xã hội học và luân lý học!

Hỡi anh chị em sinh viên và học sinh!

Hỡi các giới sĩ, nông, công thương và quân đội Việt Nam!

Hãy tiếp tay với chúng tôi nhất tề xiết chặt hàng ngũ để đấu tranh bảo vệ tự do tín ngưỡng, bảo vệ Phật pháp.

Khí giới duy nhất của chúng ta là đoàn kết, bất bạo động, bất hợp tác. Lực lượng đoàn kết toàn dân là lực lượng vô địch. Tất cả hãy nghe đây: Hãy đình công bãi thị; sinh viên học sinh bãi khóa, công nhân và tư chức ngừng hoạt động để chứng tỏ cho quốc dân biết rằng chính sách dã man chuyên dùng bạo lực sẽ sụp đổ.

 Hãy đòi chính quyền trả tự do cho tăng ni tín đồ toàn quốc.

Hãy đòi chính quyền trả lại cho nhân dân cái gì đã mất.

Hãy cương quyết tranh đấu thắng lợi dù phải hy sinh giọt máu cuối cùng để bảo vệ Phật giáo”(31) .

Sau “Kế hoạch nước lũ”, cả Sài Gòn rung động trước sự phát triển của phong trào. Nhiều bộ trưởng, khoa trưởng, giáo sư đại học từ chức. Đầu tiên là Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu từ chức ngày 21-8-1963. Buổi chiều cùng ngày, sinh viên Trung tâm Kỹ thuật Phú Thọ bãi khóa. Tiếp theo, Khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, gởi đơn từ chức ngày 22-8-1963. Ngày hôm sau, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam. Nghe tin GS. Phạm Biểu Tâm bị bắt, sinh viên Y khoa tập trung về trường, họ bàn kế hoạch rồi chia ra từng nhóm đi thuyết phục các vị khoa trưởng và giáo sư từ chức. Cùng ngày 22-8-1963, Ủy ban chỉ đạo sinh viên Liên khoa được thành lập, hai hôm sau (24-8) đổi tên là Ủy ban chỉ đạo sinh viên và học sinh. Ủy ban ra tuyên tuyên ngôn, yêu cầu chính quyền Ngô Đình Diệm:

“1. Thực sự tôn trọng và bảo vệ tự do tín ngưỡng.

 2. Trả tự do cho tăng ni và tín đồ Phật giáo, sinh viên, học sinh và giáo sư hiện bị giam giữ.

 3. Chấm dứt tình trạng khủng bố, bắt bớ hành hạ tín đồ Phật giáo.

 4. Giải tỏa chùa chiền, ban bố tự do ngôn luận”(32) .

Bản Tuyên ngôn khẳng định: “Sinh viên và học sinh Việt Nam nguyện đem mồ hôi và xương máu để tranh đấu cho bốn nguyện vọng khẩn thiết trên. Đồng bào hãy sát cánh cùng chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho tự do và đòi được quyền phụng sự Tổ quốc”. Và “tuyên bố bãi khóa, nghỉ học để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng”(33) .

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban chỉ đạo sinh viên và học sinh, ngay trong ngày 24-8-1963, tại trường Đại học Khoa học có tới 1.200 thí sinh đến trường để thi vào năm dự bị, nhưng không chịu vào phòng thi, họ xé phiếu báo danh, hô các khẩu hiệu: “Đả đảo Chính phủ” và hô hào bãi khóa. Tại trường Đại học Dược khoa, 700 sinh viên đến trường nhưng không chịu vào lớp mặc dầu có lời kêu gọi của Khoa trưởng. Truyền đơn của Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo dán trên bảng đen kêu gọi đình công, bãi thị, bãi khóa để đấu tranh bảo vệ cho sự sống còn của Đạo pháp và dân tộc. Tại trường Đại học Luật khoa, có tới 1.200 sinh viên các phân khoa, tổ chức meeting có sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Văn Mẫu vừa từ chức. Sinh viên đọc tuyên ngôn, tuyên bố bãi khóa, nghỉ học để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng. Tại trường Đại học Y khoa, khi các thí sinh đến dự thi vào năm dự bị Y khoa và Nha khoa, sinh viên các trường khác đến tuyên truyền và yêu cầu bãi khóa, một số sinh viên đã xông vào phòng hội đồng xé đề thi để lộ đề thi toán(34) .  

Trong điều kiện chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành lệnh giới nghiêm sau “Kế hoạch nước lũ” song vẫn có những nữ sinh viên bất chấp hiểm nguy, vượt qua lực lượng cảnh sát mang thư đến Tòa Đại sứ Mỹ, như ngày 24-8-1963, 2 nữ sinh(35) đến Tòa Đại sứ Mỹ yêu cầu can thiệp để tăng ni bị bắt giữ được trả tự do. Họ mang theo biểu ngữ với nội dung “Yêu cầu ông Đại sứ Mỹ giải quyết vấn đề kỳ thị tôn giáo tại miền Nam Việt Nam”(36) .

Để đẩy lùi phong trào nổi dậy của sinh viên, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh đóng cửa các trường đại học và cao đẳng, lùng bắt cán bộ chỉ đạo phong trào. Tuy vậy, sáng ngày 25-8-1963, bất chấp lệnh giới nghiêm, sinh viên, học sinh từ nhiều hướng khác nhau đổ về trước chợ Bến Thành tổ chức biểu tình lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Đông đảo đồng bào từ trong chợ đổ ra đường hưởng ứng.  Cảnh sát Diệm bắn vào đoàn biểu tình, nữ sinh Quách Thị Trang hy sinh và có tới 2.000 nam nữ sinh viên bị bắt đưa về giam tại Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Ngô Đình Diệm ra huấn lệnh cho phép các lực lượng an ninh được phép bắn vào bất cứ đám đông nào tụ tập trên đường phố mà không xin phép.

Lên án chính sách bạo trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, trong Lời tuyên bố ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa trường học, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên và học sinh. Tội ác dã man của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận, cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình... Trước tình thế ấy, đồng bào miền Nam ta đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam: “Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất định giành được thắng lợi”(37) .

Ngày 1-9-1963, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, gởi công hàm cho các nguyên thủ các nước Á - Phi, vạch rõ chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Công hàm viết: “Tín đồ Phật giáo ở miền Nam Việt Nam từ 4 tháng nay kiên cường giương cao nguyện vọng tự do tín ngưỡng của mình, một nguyện vọng bình thường ở những nước văn minh dân chủ, nhưng bị chà đạp tàn tệ dưới chính thể Ngô Đình Diệm. Năm vị sư đã tự thiêu, hàng trăm người bị chết, hàng ngàn người bị giam cầm và tra tấn, chỉ để đòi đạo Phật được cư xử một cách phải chăng, xứng đáng với lượng tín đồ cũng như 25 thế kỷ lịch sử của nó”(38) .

Sau cuộc đàn áp ngày 25-8-1963, nhìn bên ngoài, chính quyền Ngô Đình Diệm dường như có vẻ làm chủ tình hình. Tuy nhiên trên thực tế, phong trào đang tìm đối sách thích ứng trước sự khủng bố dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 6-9-1963, đài BBC trong phần bình luận, cho rằng: “Diệm đã nắm vững và Hoa Thịnh Đốn đã nhượng bộ, không đòi vợ chồng Nhu đi nữa”(39) . Như để cải chính một cách hùng hồn, ngày 7-9-1963, học sinh Sài Gòn bãi khóa. Tại trường các trung học công lập Võ Trường Toản, Gia Long, Trưng Vương, học sinh không vào lớp mà kê bàn, đứng lên diễn thuyết, tố cáo tội ác của chế độ. Tại trường Võ Trường Toản và Trưng Vương, học sinh đánh nhau hàng giờ với cảnh sát chiến đấu và đã hô những khẩu hiệu đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm và tuyên bố là Mỹ đi với Diệm, không đi với nhân dân Việt Nam. Hằng trăm học sinh nam nữ bị bắt tống lên xe hơi đưa về trại giam. Buổi chiều hôm đó, phụ huynh học sinh đã tụ tập ở Nha Cảnh sát, biểu tình đòi con. Đoàn biểu tình đã chỉ trích Mỹ ủng hộ Ngô Đình Diệm.

Ngày 8-9-1963, học sinh trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng bãi khóa. Cuộc chiến đấu của học sinh chống lại lực lượng cảnh sát Ngô Đình Diệm diễn ra hết sức dữ dội. Trong lúc học sinh đang hô hào bãi khóa biểu tình, cảnh sát chiến đấu được huy động tới bao vây và đàn áp. Học sinh đã dùng búa và các khí cụ của nhà trường để chống lại cảnh sát. Hai bên giao tranh suốt buổi sáng làm cho một số cảnh sát bị thương tích trầm trọng. Cùng ngày, học sinh trường Chu Văn An bãi khóa. Tại đây, học sinh đã căng lên nhiều biểu ngữ viết bằng máu tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm chà đạp tự do tín ngưỡng, đòi Mỹ ngưng viện trợ cho chế độ Ngô Đình Diệm. Cuộc chiến đấu chống sự đàn áp của cảnh sát diễn ra rất mãnh liệt. Học sinh đã dùng bàn ghế và các dụng cụ sẵn có chống lại sự tấn công của cảnh sát. Hai đợt tấn công đầu của cảnh sát đều bị đẩy lùi. Đợt thứ ba, chính quyền Ngô Đình Diệm huy động thêm lực lượng mới đàn áp được. Có tới 1.200 học sinh bị bắt đưa về trại giam An Nhơn ở Gò Vấp.

Tại Huế, sau “Kế hoạch nước lũ”, ngoài số sinh viên, học sinh bị bắt đưa vào trại giam, số còn lại vấn ngấm ngầm hoạt động. Ngày 13-9-1963, học sinh Quốc học dự định tổ chức bãi khóa và bạo động, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ 11 học sinh, tịch thu một số truyền đơn với nội dung sinh viên, học sinh kêu gọi bãi khóa; trong lúc đó tại trường 5 khẩu hiệu được viết bằng tiếng Việt có chú thích bằng tiếng Anh được căng lên:

“1. Yêu cầu Liên Hiệp Quốc tỏ thái độ trước sự kỳ thị tôn giáo ở Việt Nam.

  2. Hãy trả lại cho chúng tôi những tăng, ni và Phật giáo đồ bị giam giữ.

  3. Chính phủ Mỹ hãy chứng tỏ công hiệu của viện trợ cho Chính phủ Việt Nam.

  4. Trái tim và chiến xa.

5. Chúng tôi muốn tự do”(40)

*

*     *

Từ sự nhập cuộc của sinh viên, học sinh các đô thị miền Nam trong phong trào Phật giáo năm 1963, có thể rút ra một số nhận định cơ bản sau:

Một là, trước năm 1963 sinh viên, học sinh các đô thị miền đã tiến hành  những cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng thực sự chưa trở thành phong trào rộng lớn. Phong trào Phật giáo miền Nam bùng nổ (7-5-1963) là cơ hội để sinh viên, học sinh các đô thị miền Nam tham gia vào đời sống chính trị - xã hội. Tuy vậy, ở buổi đầu sinh viên chỉ tham gia dưới danh nghĩa Đoàn Sinh viên Phật tử Huế và một số sinh viên Phật tử Sài Gòn có mặt tại Huế cùng đứng chung trong phong trào Phật giáo; đợi đến khi Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế, bị chính quyền Ngô Đình Diệm cách chức và sau “Kế hoạch nước lũ” của chính quyền Ngô Đình Diệm (đêm 20 rạng ngày 21-8-1963) thì cái thế “hợp pháp” mới được mở ra để sinh viên, học sinh các đô thị miền Nam tranh đấu dưới danh nghĩa tổ chức của mình. Lập luận này được tỏ rõ qua các bản kiến nghị (17-8-1963); những cuộc hội thảo của sinh viên Huế ngày 18-8-1963; rồi Ủy ban chỉ đạo sinh viên và học sinh Sài Gòn ra đời (24-8-1963), tiếp theo là những cuộc biểu tình, bãi khóa của sinh viên làm rung động cả Sài Gòn; rồi đầu tháng 9-1963, học sinh các trường công tư thục Sài Gòn, biểu tình, bãi khóa, đánh nhau dữ dội với cảnh sát Ngô Đình Diệm,...

Hai là, sự nhập cuộc tích cực của sinh viên, học sinh các đô thị miền Nam trong cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963 – thành phần trẻ có học nầy đem lại cho phong trào một sinh khí và sắc diện mới, chứng tỏ Phật giáo không chỉ lôi cuốn thành phần cao niên đã chán sự đời mà còn hấp dẫn thế hệ đang hăm hở hướng về tương lai của dân tộc và tín ngưỡng - đã góp phần tích cực làm cho hậu phương địch trở nên rối loạn. Qua phong trào Phật giáo với sự tham gia đông đảo và sôi nổi của sinh viên, học sinh, chỗ dựa về mặt xã hội ở đô thị của chính quyền Ngô Đình Diệm bị phá vỡ. Trên thực tế, sự vùng dậy của sinh viên, học sinh đã góp phần quan trọng làm cho “thành thị cũng dấy lên những làn sóng cách mạng quyết liệt, làm rối loạn hậu phương của địch, làm lung lay tận gốc chế độ bù nhìn… đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi tay sai, phế bỏ Ngô Đình Diệm hòng để cải thiện tình hình chính trị và quân sự để cứu vãn thất bại”(41) . Thêm một cứ liệu để khẳng định cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1-11-1963) là tất yếu.

Ba là, sự tham gia đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963 của sinh viên, học sinh các đô thị chứng tỏ sự trưởng thành về mặt chính trị của tuổi trẻ miền Nam. Họ đã nhận thức rõ bản chất phản dân tộc, phi chính nghĩa của gia đình họ Ngô; đồng thời sáng tỏ về tính chính nghĩa của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, nhân dân miền Nam nói chung, tuổi trẻ nói riêng “phấn khởi reo mừng như vừa thoát một tai ách đè nặng trên đời mình”. Họ “đòi hỏi muốn thấy một bộ mặt hoàn toàn mới, đạp đổ tất cả những cái gì do chế độ cũ tạo ra, không cần cân nhắc lợi hại”(42) ; để rồi ngay sau đó các đô thị miền Nam, nòng cốt là sinh viên, học sinh, thực sự “dậy mà đi”, góp phần đẩy các chính quyền Sài Gòn sau chính quyền Ngô Đình Diệm liên tục bị sụp đổ, tạo ra thế “ba mũi giáp công”, góp phần to lớn đưa phong trào cách mạng miền Nam tiến lên bước phát triển mới cao hơn.

 

_____________

CHÚ THÍCH

* PGS. TS. Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế. .

(1) Năm nguyện vọng gồm:
“1.   Yêu cầu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thu hồi vĩnh viễn Công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo.

2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng quy chế đặc biệt như các Hội truyền giáo Thiên Chúa đã được ghi trong Dụ số 10.

3. Yêu cầu Chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo.

4. Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo.

5. Yêu cầu Chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức”.

(2) Nguyễn Minh Triết, hiện ở số nhà 320/7 Huỳnh Văn Bánh, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh. Anh là sinh viên Y khoa Huế từ niên khóa đầu tiên (1961-1962). Năm 1968, Nguyễn Minh Triết bị địch bắt đưa đi Côn Đảo. Sau khi ra tù năm 1971, anh tiếp tục học tập. Năm 1972, Nguyễn Minh Triết ra trường với Luận án Tiến sĩ Y khoa Quốc gia: “Nhận xét về bệnh lý tại một nhà lao”. Nhà lao đây nhà chính là nhà lao Côn Đảo.

(3) Lê Công Cơ, Năm tháng dâng người, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 2006, tr. 146.  

(4) Hòa thượng Thích Tịnh Khiết - Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Trong phong trào đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo năm 1963, Hòa thượng là Lãnh đạo Tối cao Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo. Hiện nay ở Huế có đường phố mang tên Thích Tịnh Khiết.

(5) Thích Hải Ấn, Lê Cung, Cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam năm 1963 qua tài liệu các cấp Phật giáo, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2013, tr. 131.

(6) Thích Hải Ấn, Lê Cung, Sđd., tr. 132.

(7) Thích Hải Ấn, Lê Cung, Sđd., tr. 133.

(8) Hiện nay là Khách sạn số 5 Lê Lợi, Huế.

(9) Tuyên bố của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế về vụ Mỹ - Diệm đàn áp tôn giáo ở Huế, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: Đệ I CH-8529.

(10) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại, Tập II (1961-1964), Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1974, tr. 132.

(11) Sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, ngày 16-6-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải ký với giới lãnh đạo Phật giáo một Thông Cáo chung, nội dung thỏa mãn 5 nguyện vọng mà Phật giáo đã đề ra trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. 

(12) Lời hiệu triệu của Đoàn Sinh viên Liên giáo gởi toàn thể sinh viên, học sinh Việt Nam, Tài liệu lưu tại chùa Từ Đàm - Huế.

(13) Thư ngày 24-7-1963 của đại một nhóm thanh niên và sinh viên Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn gởi Đức Khâm sứ Toà thánh Vatican tại Việt Nam, Tài liệu lưu tại chùa Từ Đàm, Huế.

(14) Quốc Tuệ, Công cuộc đấu tranh của Phật giáo Việt Nam, Tác giả xuất bản, Sài Gòn, tr. 298.

(15) Jerrold Schecter, The New Face of the Buddha, John Weatherhill, Tokyo, 1967, page 196.

(16) Thư ngày 24-7-1963 của đại diện một nhóm thanh niên và sinh viên Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn gởi Đức Khâm sứ Tòa thánh Vatican tại Việt Nam, Tài liệu lưu tại chùa Từ Đàm - Huế.

Quốc Tuệ, Sđd., tr. 307.

(17) Nay là Khách sạn Sài Gòn - Morin. Trước năm 1975, Trường Đại học Khoa học Huế chỉ có những ngành tự nhiên.

(18) Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, ký hiệu tài liệu: Đệ I CH-8529.

(19) GS. Nguyễn Hữu Trí lúc này là giảng viên, sau đó là Khoa Trường Đại học Sư phạm Huế (1963-1965).

(20) Công văn số 419 CSĐB/IM ngày 17-8-1963 của Ty trưởng Cảnh sát quốc gia Thành phố Huế gởi Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: ĐệICH-8529.

(21) Thông cáo của Tổng hội sinh viên Huế ngày 17-8-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,  Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: ĐệICH-8529.

(22) Công văn số 429-CS/ĐB/IM ngày 18-8-1963 của Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia Thành phố Huế gởi Tỉnh trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, ký hiệu tài liệu: ĐệICH-8529.

(23) Gồm SV. Lê Quang Tái, Tổng đại diện; SV. Nguyễn Khắc Diệp, Tổng Thư ký; SV. Vĩnh Kha, Phó Tổng Thư ký; SV. Trần Ngọc Tá, Chủ tịch lâm thời và đoàn viên là các sinh viên: Nguyễn Quốc Chưởng, Trần Văn Tú, Vương Thị Thúy Nga. Cố vấn đoàn gồm GS. Lê Khắc Quyến (Y khoa), Nguyễn Hữu Trí (Sư phạm), Nguyễn Văn Trường (Khoa học), Lê Khắc Phò (Sư phạm), Nguyễn Văn Thạch , Hoàng Văn Giàu (Văn khoa).

(24) Công văn số 429-CS/ĐB/IM ngày 18-8-1963 đã dẫn. 

(25) Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: Đệ I CH-8529

(26) Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp. Hồ Chí Minh, Ký hiệu tài liệu: SC.04-HS. 8356.

(27) Âm mưu của lối cải trang này nhằm đánh lừa dư luận rằng chính quân đội đã ủng hộ Ngô Đình Diệm khiến Phật giáo tập trung mũi nhọn về phía quân đội, dẫn đến quân đội sẽ đứng về phía chế Diệm - Nhu.

(28) Phiếu đệ trình số 0289/QĐ III/VPTL ngày 22-8-1963 của Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh vùng III chiến thuật, kiêm Tổng trấn Đô thành Sài Gòn, gởi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II. Ký hiệu tài liệu TM-HS 209.

(29) Sắc lệnh ngày 20-8-1963 tuyên bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: SC. 04 KS. 8468.

(30) Tâm Phong, Nhớ lại cuộc vận động của Phật giáo, Tuần báo Thiện Mỹ, số 1, ngày 27-11-1963, tr. 12.

(31) Lời hiệu triệu của Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: ĐICH-8529.

(32) 1963 - 2013, Năm mươi năm nhìn lại, Tuyển tập của 99 tác giả, Tập Ba (3/3), Nxb. Thien Tri Thuc, Garden Grove, CA, USA, 2012, tr. 138.

(33) Tin về hoạt động tôn giáo (mật) số 17357/TCSQG/CII/2/M ngày 24-8-1963, Bộ Nội vụ, Nha Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: TM-HS. 686.

(34) Tin về hoạt động tôn giáo (mật),  ngày 24-8-1963, đã dẫn

(35) Hai nữ sinh là Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 15 tuổi, học sinh trường Diên Hồng và Nguyễn Thị Thư, 17 tuổi, học sinh trường Nguyễn Khuyến.

(36) Tin về hoạt động tôn giáo (mật),  ngày 24-8-1963, đã dẫn. 

(37) Lời tuyên bố ngày 28-8-1963 của Hồ Chủ tịch về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay. Bào Quân đội Nhân dân, ngày 29-8-1963, tr. 1.

(38) Trần Văn Giàu, Sđd., tr. 231.

(39) Tâm Phong, tài liệu đã dẫn, tr. 12.

(40) Công điện của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Bộ trưởng Bộ Nội Vụ ngày 14-9-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Ký hiệu tài liệu: ĐệICH-8529.

(41) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr. 248.

(42) Bộ Thông tin - Phòng 2, số 13559/VICT/TM2/TB/K, Bản nhận định tình hình Vùng I Chiến thuật sau ngày Cách mạng 1-11-1963, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II,  Ký hiệu tài liệu: TNTP-4129.

Nguồn: tác giả gửi cho trang SH