●   Bản rời    

Qua “Thiên Hạ Đại Thế Luận”, Luận Về Lập Trường Chính Trị Của Nguyễn Trường Tộ

Qua “Thiên Hạ Đại Thế Luận”, Luận Về Lập Trường Chính Trị Của Nguyễn Trường Tộ

Lê Cung 1

http://sachhiem.net/LICHSU/L/LeCung06.php

23-Oct-2020

Hơn ba thập kỷ qua (1986 – 2020), cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, nền sử học Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong xu thế đổi mới tư duy. Điều dễ dàng nhận thấy là nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử cùng với những luận điểm hầu như đã được khẳng định, không thể phủ nhận được, đã trở thành chính sử; nhưng dưới ánh sáng của tư liệu, với cách nhìn mới đúng với bản chất lịch sử như nó đã diễn ra, đã được “hiệu đính”(2). Việc hiệu đính khi phải hiệu đính là rất cần thiết. Việc làm này vừa làm tăng giá trị chân xác nội dung lịch sử; đồng thời thể hiện tính khách quan và khoa học của nền sử học Việt Nam hiện đại.

Từ cách tiếp cận vấn đề như đã nêu, bài viết này xin được luận về lập trường chính trị của Nguyễn Trường Tộ qua “Thiên hạ đại thế luận” (Bàn về những việc lớn trong thiên hạ)(3) của ông.

 

     

Việc đánh giá nhân vật lịch sử là một trong những việc làm khó khăn nhất trong công tác nghiên cứu, nhất là đối với Nguyễn Trường Tộ, khi mà đa số các tác giả đi trước đều khẳng định ông là một người có năng lực tư duy sáng tạo, có tâm huyết với đất nước, đặc biệt là một người yêu nước nhiệt thành, ... Có tác giả còn nâng Nguyễn Trường Tộ thành một “nhà thiết kế vĩ đại của đất nước ở thế kỷ XIX”. Vì vậy, để sự luận bàn đảm bảo tính khách quan, trung thực và thẳng thắn, chúng tôi dựa vào các nguồn tư liệu từ công trình “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo” của Tiến sĩ linh mục Trương Bá Cần(4) .

Việc đánh giá lập trường chính trị của Nguyễn Trường Tộ, thiết nghĩ điều cần thiết là phải xem xét tư tưởng và hành động của ông. Chúng ta đều biết, vấn đề chính trị sôi động nhất ở nước ta khi Nguyễn Trường Tộ viết Thiên hạ đại thế luận là vấn đề làm thế nào và bằng cách nào để giữ vững được nền tự chủ của đất nước trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Lúc này, triều đình Huế đã ký hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp, vua Tự Đức đang mong muốn khôi phục chủ quyền ba tỉnh đã mất và đã cử một phái đoàn sang Pháp xin chuộc lại vùng đất này; trong lúc đó nhiều nhà yêu nước đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến, quyết sống chết với quân xâm lược nhằm giành lại giang sơn đất nước, như Trương Định, Thủ khoa Huân, Nguyễn Trung Trực,... Sử sách dân tộc đã ghi công những bậc tiên liệt này; ở khắp các địa phương Nam Bộ, nhân dân tôn vinh bằng việc xây dựng các tượng đài để tưởng nhớ sự nghiệp xã thân cứu nước của những người con trung liệt.

“Góp sức” vào việc giải quyết nỗi bức xúc lúc này của dân tộc, từ trong “tu viện”, Nguyễn Trường Tộ viết các bản điều trần gửi đến triều đình Tự Đức với những đề nghị canh tân, cải cách. Lập trường chính trị của Nguyễn Trường Tộ qua việc đề nghị cải cách, canh tân được thể hiện như thế nào? Trong “Thiên hạ đại thế luận”, Nguyễn Trường Tộ viết: “Trộm nghĩ trong thiên hạ chỉ có chữ ‘thế’ mà thôi.  Chữ ‘thế’ là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên người biết rõ ‘thế’ thì không trái trời, không mất thời, không hại người, không hỏng việc”(5) . Mới đọc qua, người đọc có cảm nhận rằng Nguyễn Trường Tộ sẽ đưa ra những kế sách hữu hiệu nhằm giúp triều đình Tự Đức tạo được ‘thế’, để Việt Nam vươn lên xoay chuyển tìnhthế, nhằm lật ngược thế cờ, lấy lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất; hoặc ít nhất, trước mắt Việt Nam không mất tiếp những phần đất còn lại.

Nhưng người đọc đã nhanh chóng thất vọng, khi Nguyễn Trường Tộ sử dụng một cách máy móc “học thuyết ngũ hành” để đi đến kết luận việc Việt Nam mất nước như là một điều hợp qui luật. Nguyễn Trường Tộ viết:“Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy”(7) .Không cần bàn luận thêm ở đây, chúng ta cũng thừa hiểu Nguyễn Trường Tộ muốn nói đến “ai” diệt “ai” rồi.

Như để khẳng định cho lập luận của mình, tiếp theo, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt các quốc gia, các khu vực bị thực dân phương Tây xâm chiếm rồi đi đến kết luận: “Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người phường Tây? Huống hồ người Việt ta là một nước nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được”(8) .

Rõ ràng, theo Nguyễn Trường Tộ, Việt Nam mất nước là trời định,lấy lại nước, khôi phục độc lập dân tộc cho Việt Nam là trái đạo trời. Nhiều tác giả viết bài ca ngợi Nguyễn Trường Tộ là một con người “thông làu Đông Tây kim cổ” và ngay cả Nguyễn Trường Tộ cũng cho mình như thế. Vậy tại sao Nguyễn Trường Tộ không biết đến việc Nho giáo đề cập về thiên mệnh (mệnh trời). Thiên mệnh của Nho giáo được luận giải một cách uyển chuyển đối với đời sống chính trị - xã hội, bởi “tận nhân lực mới tri thiên mệnh”. Nguyễn Trường Tộ trước lúc viết “Thiên hạ đại thế luận” đã từng chu du châu Âu, sao lại không biết ở Thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ XVIII), Montesquieu đã khẳng định: “Xã hội loài người phát triển có quy luật khách quan, không phải tùy theo ý muốn của Thượng đế”. Đây là một trong những luận điểm mang tính cách mạng sâu sắc, góp phần hết sức quan trọng trong việc xé bỏ “hào quang thần thánh” của giáo hội, cởi trói nhân dân về mặt trí tuệ, làm tiền đề cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789 đi đến thắng lợi triệt để.

Với lịch sử nước ta, chắc hẳn Nguyễn Trường Tộ không thể nào không biết đến lời thơ vang lên từ đền Trương tướng quân thời dân tộc ta kháng Tống thế kỷ XI:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

“Định phận tại thiên thư” là phải giữ được nước, chứ không như cách luận giải với một tinh thần đại chủ bại như Nguyễn Trường Tộ rằng: “Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thao súng ống, phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa ...  Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm dáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưởi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước chảy xiết. Lúc dừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi,... Nay biết họ có thể tất thắng, ta có cơ dễ thua, lại không biết phép ra quân của họ biến hóa như thế nào mà đem quân nhút nhát ra đánh lại quân vô địch của họ chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ .... Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang, đường hầm, xe kiếm, bao đất, mà đại pháo bắn ra thì núi lở, gò sập ..., trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu,...”(9) .

Trước Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Du cũng đã khẳng định:“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Không lẽ một người với cái sở học “thông làu Đông Tây kim cổ” như Nguyễn Trường Tộ há lại không biết đến! Và cũng xin nói thêm là nếu theo cách lập luận của Nguyễn Trường Tộ: “Huống hồ người Việt ta là một nước nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được” thì nước Việt Nam chúng ta đã bị xóa tên bản đồ trên thế giới vào thế kỷ XIII rồi(10) .

Tiếp theo, để cho lập luận của mình thuyết phục triều đình Tự Đức, cũng trong “Thiên hạ đại thế luận”, Nguyễn Trường Tộ viết: “Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác. Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai chủ giang sơn mãi đâu. Nhà Tấn bị Hồ gây loạn, Tống mất vào tay Nguyên, Minh mất vào tay Thanh, họ này thay thế họ kia chẳng phải là do số trời sắp đặt đó sao? Vả lại đất Quảng Nam xưa là đất cũ của Chiêm Thành, Gia Định xưa là cố đô của Chân Lạp, đâu phải là đất cũ của bản triều? Ta chiếm đoạt của người, thì cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?”(11) .

Với cách lập luận trên đây của Nguyễn Trường Tộ, dù đứng trên lập trường chính trị nào cũng không thể chấp nhận được. Người đọc không hiểu tại sao Nguyễn Trường Tộ cố lờ đi truyền thống trân quý giang sơn, lãnh thổ mà ông cha đã truyền lại cho muôn thế hệ, rằng: “Tấc đất, tấc vàng”. Cuộc mở nước về phía Nam của dân tộc ta khởi đi từ thế kỷ XI với việc sáp nhập ba châu Địa Lý, Bố Chính và Ma Linh; rồi Ô, Lý, đến Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, sau hết là vùng đất Nam Bộ trù phú. Ông cha chúng ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, có khi cả máu xương, đổi cả phận liễu yếu, đào tơ để có được một giang sơn hình chữ S diệu kỳ. Vua Lê Thánh Tông từng dặn dò: “Ta phải giữ gìn lãnh thổ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của ông cha để lại”. Thế mà Nguyễn Trường Tộ lại cổ xúy cho lập luận:“Ta chiếm đoạt của người, thì cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?”.

Vấn đề đã rõ như ban ngày, như hai với hai là bốn, không cần đến trí tuệ ở “chốn cửu trùng”, mà ngay trí tuệ ở “chốn thôn dã” cũng nắm bắt được đúng sai ở đâu về cách lập luận của Nguyễn Trường Tộ như đã nêu. Thật vô cùng ngạc nhiên, khi chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu công sức và giấy mực để nghiên cứu, luận bàn về những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, nhưng cách lập luận trên đây của ông chưa thấy một ai bình phẩm, đánh giá.

Và theo chúng tôi, với nội dung điều trần của Nguyễn Trường Tộ như đã dẫn, thì không cần phải xem xét lý lịch của tác giả và nội dung là gì, cũng khó lòng chấp nhận được.  

“không cần ... ”, song chúng tôi xin dẫn một số tư liệu về lý lịch của Nguyễn Trường Tộ nhằm góp phần giải thích tại sao triều đình Tự Đức không chấp nhận những điều trần của ông.

Trước hết, về chuyến đi Hồng Kông của Nguyễn Trường Tộ năm 1859, Trương Bá Cần cho chúng ta một nguồn tư liệu “hết sức thú vị”: “Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày 10 tháng 9 (tức 16-10-1858), tàu Pháp (trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhân Sơn, trước của Mành Sơn, để đón ‘Đức thầy Huy và cố Lý (tức Giám mục Gauthier và linh mục Croc, cũng có tên Hậu và Hòa) nhưng hôm qua hai vị ấy đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi. Khi tàu Pháp trở lại Trà Sơn, Đà Nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi. Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng Bộ Chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng vào Sài Gòn. Do đó, trước lúc đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly(12) đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859 ”(13) .

Trương Bá Cần còn cho biết thêm, sau khi Pháp chiếm thành Gia Định (17-2-1859), “Nguyễn Trường Tộ đã cùng về Sài Gòn theo Giám mục Gauthier, nhưng chắc chắn không phải với ý định làm tay sai cho Pháp. Bởi vì hoài bão lớn là đem hết tâm lực ra giúp nước, làm sao Nguyễn Trường Tộ có thể nghĩ tới việc tiếp tay cho giặc được?... Lúc đầu từ chối, nhưng sau đó nhận làm từ dịch (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm”(14) .

Nguyễn Trường Tộ, con người vốn đã gắn bó với Giám mục Gauthier (người tích cực cổ xúy cho việc đánh chiếm Huế) “như hình với bóng”, liệu cái “hoài bão lớn là đem hết tâm lực ra giúp nước” của Nguyễn Trường Tộ có thực hiện được không?  Điều này chắc chắn không diễn ra, bởi Nguyễn Trường Tộ luôn luôn bên cạnh Giám mục Gauthier, hơn thế nữa Gauthier là bậc bề trên của Nguyễn Trường Tộ, không lẽ một người như Gauthier lại chấp nhận “nuôi ong tay áo” hay sao?

Còn việc Nguyễn Trường Tộ, nhận làm từ dịch (phiên dịch các tài liệu chữ Hán)”.  Phiên dịch các tài liệu chữ Hán, điều mà thực dân Pháp cần lúc này là gì? Đó chính là nội tình Việt Nam, chứ chưa phải là các lãnh vực khác, vì lúc này mục đích số một của Pháp là thôn tính, đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam.

Theo Trương Bá Cần, việc Nguyễn Trường Tộ làm thông ngôn là để mong góp phần vào việc hòa đàm”. Nhưng hòa đâu không thấy mà chỉ thấy thực dân Pháp ngày càng đẩy mạnh việc xâm lăng Việt Nam. Đại đồn Chí Hòa thất thủ (24-2-1861), tiếp theo Pháp chiếm Định Tường (12-4-1861), Biên Hòa (16-12-1861), Vĩnh Long (23-3-1862). Trương Bá Cần cho rằng “trước thái độ hung hãn của Bonard, Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở hòa cuộc, nên xin thôi không làm từ dịch cho Pháp nữa, mặc dầu nhà cầm quyền Pháp dụ dỗ, nài nỉ”. Thực ra, việc “xin thôi không làm từ dịch cho Pháp nữa” chỉ là hành động nhằm để đánh lừa về sự hợp tác với thực dân Pháp của Nguyễn Trường Tộ, một lối ngụy trang tinh vi dưới cái vỏ “bất hợp tác với Pháp” nhằm đạt được những tham vọng về sau của thầy trò Gauthier – Nguyễn Trường Tộ, để tỏ ra mình là người yêu nước.

Nguyễn Trường Tộ là một người yêu nước chăng? Hãy nhìn vào việc làm của ông sau khi thôi làm từ dịch. Theo Trương Bá Cần:“Trong lúc chờ đợi, ở Sài Gòn, sau khi thôi làm phiên dịch cho Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã giúp xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolô, số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay.

Công việc bắt đầu từ tháng 9-1862 và hoàn tất ngày 18-7-1864”(15) .

Đánh giá công trình này, Trương Bá Cần viết: “Cơ sở của Dòng Thánh Phaolô do Nguyễn Trường Tộ xây cất nổi lên giữa Sài Gòn năm 1864 như một công trình kiên cố tầm cỡ. Ngoại trừ ngôi nhà hai tầng của Hãng hàng hải dân dụng ở Bến Nhà Rồng hiện nay, tất cả, ở Sài Gòn vào thời điểm đó, tất đều bằng gỗ, tạm bợ: Dinh Toàn quyền Pháp chỉ được đặt viên đá đầu tiên tháng 3-1888 và nhà thờ Đức Bà chỉ được hoàn tất vào năm 1884”(16) .

Một quan chức thực dân, Trung úy hải quân Richard, trong bài viết: “Sài Gòn và phụ cận đầu năm 1866” đã nhận xét như sau: “Chúng tôi rời đan viện này(17) và thích thú đi thăm tu viện xinh xắn của Dòng Thánh Phaolô, với một ngôi nhà nguyện nhỏ, nhưng tuyệt diệu, trên cao là một ngọn tháp duyên dáng nổi bật giữa tất cả vùng này, như báo tin cho chúng ta biết thủ đô của nước Pháp ở Á Đông. Một Thánh giá trên chóp đỉnh của công trình này, và bên cạnh là lá cờ của nước Pháp như là sự bảo trợ cho dấu hiệu linh thiêng này của văn minh. Tu viện giống lối kiến trúc của nước Ý, pha lẫn những trang trí tự tiện của người Việt Nam.

Nhà nguyện được xây theo kiểu Gotic và được trang trí bằng những bức vẽ thẩm mỹ đáng nghi ngờ, mà mưa gió và thời gian sẽ xóa nhòa đi? Tất cả là do công của một linh mục? Việt Nam, người Bắc Kỳ, là một kiến trúc sư bất đắc dĩ, không học hành gì, nhưng đã phác thảo và thực hiện đồ án của công trình này ... ”(18) .                   

Trong khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm đóng, đất nước đang đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cả dân tộc đang vùng lên chống xâm lăng, một người được gọi là thức thời như Nguyễn Trường Tộ có nên thi công xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolô với qui mô, được xem như là “thủ đô của nước Pháp ở Á Đông,...”  vậy không? Chưa nói nguồn nhân vật lực lấy từ đâu mà Dòng Thánh Phaolô được hoàn thành trong một thời gian tối thiểu.

Hẳn Nguyễn Trường Tộ đã thừa biết triều đình Tự Đức và nhân dân Việt Nam bấy giờ đã và đang nghĩ gì về hàng giáo sĩ thuộc địa. Nghiên cứu về cuộc xâm lăng của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ XIX, Nguyễn Ái Quốc đã cung cấp những dòng tư liệu vô giá, giúp chúng ta hiểu bản chất của hàng giáo sĩ thuộc địa: “Hàng giáo sĩ thuộc địa không những phải chịu trách nhiệm gây ra chiến tranh thuộc địa mà còn là bọn kéo dài chiến tranh, bọn chủ trương đánh đến cùng, không chịu điều đình ‘non’. Đô đốc R. Đờ Giơ-nui-y trong một báo cáo với Bộ Hải quân đã viết rằng: “Tôi muốn tìm cách giao thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam để ký kết một hòa ước, nhưng đã gặp những trở ngại rất lớn do các nhà truyền giáo gây ra,... Một hòa ước với người Việt Nam, dù có lợi bao nhiêu, cũng chẳng thỏa mãn được lòng ham muốn của các ông ấy. Họ muốn đánh chiếm hết cả nước và lật đổ triều đại đang trị vì. Giám mục Pen-lơ-ranh đã nhiều lần nói như thế và đó cũng là ý kiến của Giám mục Lơ-phe-vơ-rơ”(19) .

Vậy, Nguyễn Trường Tộ được xem là một con người sáng suốt có nên tích cực cho những việc làm trên đây hay không? Một người yêu nước, một người am hiểu về chính trị chắc Nguyễn Trường Tộ phải tạm gác lại tất cả để lo cho đất nước; hoặc giả có chăng nữa thì cũng ở mức độ vừa phải, mới mong thuyết phục triều đình Huế chấp nhận những điều trần của mình (giả như những điều trần của Nguyễn Trường Tộ là hợp lý).

Với lập trường chính trị của Nguyễn Trường Tộ được thể hiện qua quan điểm và hành động như đã trình bày ở trên làm sao triều đình Tự Đức có thể tin dùng và chấp nhận được những điều trần của ông. Riêng ở mặt này, chúng tôi cho rằng triều đình Tự Đức tỏ ra còn rất sáng suốt. Điều này là hiển nhiên. Bởi bất cứ thời đại nào, một con người bị nhà nước nghi ngờ về lập trường chính trị, nhất là thứ lập trường chính trị đó đứng về phía kẻ thù (thực dân Pháp) đang trực tiếp xâm lăng đất nước mình, chưa nói là bị liệt vào loại phản quốc thì việc nhà nước đó sử dụng họ không dễ dàng chút nào, nhất là khi đất nước đang đứng trước  tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.  

Để kết thúc, chúng tôi xin dẫn một đoạn trong bài viết: “Lịch sử, sự thật và sử học” của GS. Hà Văn Tấn để chúng ta cùng suy ngẫm: “Từ khi có chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử mácxít ra đời, khám phá ra cơ chế của sự phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính chất thể-năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện qui luật và, nhờ đó, sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện những chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.

Nhưng biết sự thật không dễ, và nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư(20) mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng lại theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này: Muốn viết sử, phải biết phương pháp sử học, và trước hết, phải là người trung thực chứ không phải tên cơ hội”(21) .

 

____________

(1) . PGS.TS. Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.

(2) . Xin dẫn ra một trường hợp “hiệu đính” tiêu biểu: Bản Luận cương chính trị do TrầnPhú khởi thảo và được Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 thông qua, đã được khẳng định là có sự kế thừa và phát triển các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo (được thông qua trong Hội nghị thành lập Đảng trước đó) và được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, dựa trên những tư liệu mới, cách nhận thức này không còn phù hợp. Trong bài: “Hồ Chí Minh với ngọn cờ độc lập dân tộc trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng”, sau khi phân tích nội dung các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) và Luận cương chính trị do Trần Phú khởi thảo trong Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, Nhà giáo nhân dân, Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn khẳng định: “Đã đến lúc các nhà sử học phải hiệu chỉnh lại những đánh giá sai lầm về Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt Dự án Luận cương chính trị. Đừng để cho đảng viên, nhân dân ta và các em học sinh chúng ta hiểu lầm rằng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là bản Luận cương chính trị do Trần Phú khởi thảo đã được kế thừa và phát triển các văn kiện trước đó, còn Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt là hữu khuynh, phạm sai lầm nghiêm trọng về chính trị, là “nguy hiểm” cho cách mạng!

Hãy trả về đúng chỗ đứng lịch sử của bản Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh khởi thảo – Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng. Đó thực là một cương lĩnh chính trị đúng đắn và sáng tạo, một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn về quan điểm dân tộc, quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn” (Lê Mậu Hãn. Hồ Chí Minh với ngọn cờ độc lập dân tộc trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng  trong “Sáng ngời Hồ Chí Minh những bài viết tâm đắc”, Nxb. Công an Nhân dân, TP. Hồ Chí Minh, 2005, tr. 382-383).

(3) . Nguyễn Trường Tộ viết “Thiên hạ đại thế luận” vào tháng 2-3, Tự Đức năm thứ 16, tức tháng 3-4 năm 1863.

(4) . Đứng về mặt tư liệu, chúng tôi cám ơn tác giả Trương Bá Cần với công trình: “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998. Qua công trình này, chúng tôi hiểu rõ hơn về những bản điều trần cùng con người Nguyễn Trường Tộ. Những luận bàn của chúng tôi đều dựa trên những tư liệu do công trình này cung cấp.

(5) .  Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 107.

(6) . Những chữ in đậm là người viết có ý nhấn mạnh.

(7) . Như chú thích 2.

(8) . Trương Bá Cần, Sđd., tr. 107.

(9) . Trương Bá Cần, Sđd., tr. 109.

(10) .  Ở thế kỷ XIII, đế chế Mông – Nguyên đã thôn tính hoặc đánh bại nhiều nước ở hai lục địa Âu - Á, kể cả những nước lớn như Trung Quốc, Nga, ...; nhưng ba lần đế chế này xâm lăng Đại Việt, thì cả ba lần chúng đã đều bị đại bại trước tinh thần kháng chiến mãnh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các vị vua Trần anh minh.

(11) . Trương Bá Cần, Sđd., tr. 111.

(12) . Đô đốc Rigault de Gennouilly, Thủy quân Đô đốc Pháp, người chỉ huy Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.

(13) .  Trương Bá Cần, Sđd., tr. 22  (chú thích 14). 

(14) . Trương Bá Cần, Sđd., tr. 24.

(15) . Trương Bá Cần., Sdd., tr. 27.

(16) . Trương Bá Cần, Sddd., tr. 30.  

(17) .  Đan viện Carmel, ở số 33 Tôn Đức Thắng hiện nay, đối diện với Dòng Thánh Phaolô, số 4 Tôn Đức Thắng.

(18) . Trương Bá Cần, Sđd., tr. 29.  

(19) . Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1975, tr. 110.

(20) . Khi đề cập đến tư cách người viết sử, Yết Hề Tư đời Nguyên viết: “Việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc. Người có văn học mà không biết cách chép sử thì không thể cho vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”, Hà Văn Tấn, Lịch sử, sự thật và sử học, Tạp chí Xưa & Nay, số 332, tháng 5, 2009, tr. 17)

(21) . Hà Văn Tấn, Lịch sử, sự thật và sử học, Tạp chí Xưa & Nay, số đã dẫn, tr. 17.

 

Lê Cung

 

Nguồn: tác giả gửi

 

Trang Thời Sự




Đó đây


2020-11-26 - Trường Giang đi ĂN MẢNH, bỏ rơi Đại Nghĩa MỘT MÌNH nấu món chay -

2020-11-25 - Lê Thái| Vài lời gửi tới Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, chủ kênh Vietvision -

2020-11-25 - Tạp chí Mỹ: Việt Nam vẫn an toàn nhờ những nỗ lực của chính phủ và người dân - Bnews - Mặc cho COVID-19 hoành hành trên thế giới, Viện nghiên cứu chính sách và kinh tế (VEPR) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2020 đạt ít nhất 5%

2020-11-24 - Làm sao HDH tiêu diệt được Đảng Đại Việt? -

2020-11-23 - Biển Đông không thể bị cướp mất chỉ vì một nước láng giềng lớn hơn thèm muốn - "Quyền thừa hưởng những nguồn tài nguyên ở Biển Đông không thể bị cướp mất chỉ đơn giản vì một nước láng giềng lớn hơn và thèm muốn những gì thuộc về các bạn", Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ nói với sinh viên Học viện Ngoại giao.

2020-11-23 - Đã 80 ngày Việt Nam không ca mắc COVID-19 mới trong cộng đồng - Chiều tối 21-11, Bộ Y tế cho biết đã ghi nhận thêm một ca mắc COVID-19 nhập cảnh, nâng tổng số ca mắc từ đầu mùa dịch lên 1.306. Hôm nay cũng là tròn 80 ngày không ghi nhận ca mắc mới trong cộng đồng.

2020-11-23 - Cố vấn an ninh Mỹ O’Brien: Mỹ và Việt Nam tôn vinh những giá trị giống nhau - "Thể chế chính trị của chúng ta có thể khác nhau, nhưng tuyên ngôn độc lập của cả Mỹ và Việt Nam tôn vinh những giá trị giống nhau"- cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien phát biểu trước sinh viên Học viện Ngoại giao Việt Nam ngày 22-11

2020-11-23 - Tôi Mong sao những nhận định của mình về HDH.TN .LL là sai - Nhìn lại các cuộc cách mạng màu diễn biến thế nào.

2020-11-23 - Âm mưu xuyên tạc lịch sử và diễn biến hoà bình của thế lực thù địch -

2020-11-21 - Phải hiểu đúng giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Không thể “nhầm lẫn” hoặc cố tình đánh tráo khái niệm “nghệ thuật chớp thời cơ” tài tình của Đảng ta với “sự ăn may của lịch sử” (TS. TRẦN TĂNG KHỞI, Trưởng Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị khu vực III 11:00, ngày 07-10-2020)



▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 >>>




Thư, ý kiến ngắn
● 2020-11-23 - Thông báo về trang web Huehoc của Hội nghiên cứu & Phát triển Di sản Văn hóa Huế - Nguyễn Đắc Xuân -

● 2020-11-23 - Thông báo về trang web Huehoc của Hội nghiên cứu & Phát triển Di sản Văn hóa Huế - Nguyễn Đắc Xuân -

● 2020-11-22 - Vùng cấm nào? Ông Hoàng Duy Hùng cố ý nhục mạ dân tộc VN xuống hạng cuồng tín cực đoan - Lão Ông -

● 2020-11-22 - Hoàng Duy Hùng đã nhai lại câu nói của MC Nguyễn Ngọc Ngạn - Thể chế nhất thời - MD -

● 2020-11-21 - Kể từ đó, đạo CG La Mã thờ Jesus qua hình ảnh đứa con trai Giáo Hoàng da trắng Alexandre VI - Trang nhà -

● 2020-11-21 - Chúng tìm mọi cách để dựng lên một chế độ Ca-tô lần nữa đê chúng tiếp tục “làm cha” trên đầu dân t - Võ Du -

● 2020-11-20 - Nguyễn Xuân Diện xuyên tạc Phật Giáo - Tìm hiểu thêm về ông này - Trần Quang DIệu -

● 2020-11-19 - “Trump gây thêm hỗn loạn và mơ hồ” – Nhiều Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hoà chỉ trích Trump sa thải Krebs - Calitoday/ Sáng Tỏ -

● 2020-11-19 - Cám ơn các ôngTrần Quang Diệu và Ri Nguyễn - các đường links những cuộc Thập Tự Chinh và sự tàn ác củ - Chiến Nguyễn -

● 2020-11-16 - Chính trị Mỹ ngày nay là cả một chuỗi "chơi xấu", "hạ cấp", "đê tiện" liên tục ! - Lão Ông -

● 2020-11-15 - Con chiên cuồng Trump đến nỗi xem Giáo Hoàng Francis không bằng một tội nhân. - Diễn Đàn Cuồng -

● 2020-11-15 - Nhiều Nghị Sĩ CH, 150 Cựu Viên Chức An Ninh Quốc Gia Đòi Bạch Ốc Phải Chuyển Giao Quyền Lực và Để Biden Tiếp - NBC news -

● 2020-11-13 - Những người truyền tin thất thiệt là gian manh, thô bỉ, vô liêm sĩ - Sáng Tỏ -

● 2020-11-09 - Nhìn vào bài học nước Mỹ để biết cách bảo vệ độc lập chủ quyền tổ quốc VN - Việt Dân -

● 2020-11-09 - VÈ “CHIÊN NÔ” CÔNG GIÁO - Ri Nguyễn -

● 2020-11-09 - Cục C6 - Milu Dau -

● 2020-11-09 - Đảng Cộng hòa, đã đến lúc phải lựa chọn giữa chế độ chuyên quyền và nền cộng hòa - -

● 2020-10-24 - Bản Chất Cố Hữu Của Bọn Ba Sọc - Trần Bình - FB VNTB -

● 2020-10-23 - Vai trò của Mỹ đã suy giảm trong khi đó Trung Quốc và Đức, đang trở thành siêu cường - Mike Wilson -

● 2020-10-23 - Tổng hợp và bình luận những xảo trá của Xó Nhìn Vệ Sinh - Lão Ông -


▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 146 147 148 149 150 151 152 153 154 155 156 >>>