Con Chiên Nổi Loạn Bỏ “Đức Vâng Lời”

Cùng Với Linh Mục Tố Khổ Giám Mục

Trần Chung Ngọc

https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN118.php

28-Dec-2011

1 2 3 4 

(tiếp theo)

Nhưng đã 2000 năm nay rồi, Giê-su vẫn chưa tới trong vinh quang (sic), và không biết bao giờ mới tới, nếu bộ xương khô có thể tới được.  Nhưng vấn đề không phải là tới hay không tới, mà là những người viết Tân Ước không biết gì về sự cấu tạo của vũ trụ và sự gia tăng dân số trên thế giới.  Hiểu biết của họ về "mọi nước trên thế giới" chỉ là vài nước nhỏ ở miền Trung Đông cách đây gần 2000 năm, và dù có như vậy đi chăng nữa thì đoạn trên trong Thánh Kinh cũng chỉ là một niềm hoang tưởng bệnh hoạn.  Nó hoang đường như vậy mà vẫn có người tin thì kể cũng lạ, nhưng đây cũng lại là sự thực đối với gần 1/4 nhân loại.

Thứ nhất, all the nations không phải là “tất cả các quốc gia” trên thế giới và do đó tuyệt đối không phải là “các dân thiên hạ” hay “muôn dân” mà người Công giáo dịch bậy.  Trên trái đất hình cầu này có 196 quốc gia khác nhau, và dân số trên thế giới hiện nay là trên 6 tỷ người.  Chúa thì không biết bao giờ mới trở lại.  Vậy giả thử Chúa trở lại ngày mai thì hơn 6 tỷ người sẽ được tập hợp trước mặt Người như thế nào, Chúa phải cần bao lâu và một khoảng đất rộng bao nhiêu để Chúa có thể nhìn tất cả hơn 6 tỷ người để có thể tách biệt làm hai phe, giống như mục tử tách biệt chiên với dê.  Rõ ràng là Công giáo Việt Nam đã dịch và giảng láo mà không thấy những điều không thể tin được trong đó, bất kể là họ xảo biện đó chỉ là truyện ngụ ngôn.

Theo Kinh Tin Kính của Ca-Tô Giáo thì mọi tín đồ buộc phải tin là đến ngày phán xét, Chúa sẽ phán xét cả những người chết và làm cho xác chết những người Chúa chọn sống lại [ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết].  Chúng ta hãy nhìn vào hoạt cảnh phán xét của Chúa giả thử Chúa trở lại trần ngày mai để phán xét “các dân thiên hạ”.

Chúa ngồi trên Ngai, có các thiên thần hầu cận.   Để cho dễ tính, trước mặt Chúa là 6 tỷ người còn đang sống chưa kể số người chết ít ra là từ 160000 năm (sọ của một đứa bé tìm thấy ở Ethiopia gần đây được định tuổi là 160000 năm).  Như vậy là có tất cả 3 tỷ cặp người sống, trong đó có GM Khảm, Bs Cảnh, Tiến sĩ Liên v…v…., để chờ Chúa lần lượt phán xét.  Giả thử là cứ 3 cặp thì chiếm khoảng 1 mét.  Vậy nếu xếp hàng dọc hay ngang thì 3 tỷ cặp cũng chiếm 1 tỷ mét, nghĩa là 1 triệu cây số.  Đường bán kính của trái đất vào khoảng 6400 cây số.  Vậy chu vi của trái đất là vào khoảng 40000 cây số.  Lấy 1 triệu chia cho 40000 ta được 25.  Vậy nếu xếp hàng dài từng đôi một để cho Chúa tách ra dễ dàng thì hàng này dài 25 lần vòng quanh trái đất. 

Giả thử Chúa Giê-su có tài phán xét rất mau lẹ, nhìn qua một cái là biết ai là người ăn ở ngay lành ai là người bất nhân, theo tiêu chuẩn của LM Đỗ Xuân Quế, và quyết định ai sang trái hay phải với tốc độ 10 cặp trong 1 phút, nghĩa là chỉ có 6 giây 1 cặp, thì  lấy 3 tỷ cặp chia cho 10  ta được 3 trăm triệu (300 000 000) phút.  Mỗi giờ có 60 phút vậy một ngày có 1440 phút.  Lấy 3 trăm triệu chia cho 1440 ta được, lấy chẵn, là 208 000.  Lấy số này chia cho 365 ngày một năm ta được khoảng 570 năm. 

Giả thử Chúa Giê-su quyền phép vô cùng, không mệt và đói như khi vào sa mạc hay không đói như trước khi nguyền rủa cây sung cho nó chết héo queo vì nó không ra quả lúc trái mùa cho Ngài xơi, thì Ngài cũng cần tới 570 năm để phán xét xong 3 tỷ cặp.  Dân nước Việt Nam vì thuộc vần V gần cuối trong vần A,B,C nên xếp hàng gần cuối.  Nhưng có gì bảo đảm là  trong khi xếp hàng chờ Chúa phán xét con người không  lâm vào cảnh "nhàn cư vi bất thiện". Giám mục [có LM chỉ thích truyền giống] và trí thức CG, nghe theo lời dạy của Đức Thánh Cha, cấm dùng thuốc ngừa thai, lại sinh sản theo nhịp độ Chúa cho bao nhiêu thì hưởng bấy nhiêu.   Kết quả lại tiếp tục sinh con đẻ cái ngay trước mặt Chúa làm cho dân số càng ngày càng tăng.  Vậy bao giờ Chúa mới phán xét xong? 

Đây là một bài toán không có đáp số vì chỉ có một phương trình cứu rỗi mà lại có quá nhiều ẩn số.  Phán xét người sống xong rồi Chúa lại phải phán xét đến người chết.  Chúa phải đi kiếm da thịt đã tan rã của, theo ước tính, trên 40 tỷ xác chết, không biết chết như thế nào, bên Tàu hay bên Tây, ở Bùi Chu Phát Diệm hay Hố Nai Gia Kiệm, chết toàn thây hay bị B52 bỏ bom trúng nên tan như xác pháo v..v.., nhìn một cái là biết ngay bộ xương nào tin Chúa và bộ nào không, rồi quyết định để làm cho xác chết, chắc là còn nguyên vẹn, sống lại mà ban ơn hay đấu tố.

Giả thử Chúa có một số tôi tớ đắc lực nhất phụ giúp, Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Phúc Liên chẳng hạn, có thể phán xét người sống cũng như người chết với một siêu tốc độ trung bình 1 giây đồng hồ một người, thì Chúa và các tôi tớ của Ngài cũng cần tới hơn 1500 năm để phán xét xong 50 tỷ người sống và chết.  Ai còn tin được những chuyện như Chúa phán xét và thưởng phạt trong ngày tận thế xin mời lên tiếng.  Đừng có nói rằng "Chúa của tôi quyền phép vô cùng, làm gì chẳng được" mà người ta cười cho.  Thực tế ở trên đời chứng tỏ là Chúa chẳng có quyền phép gì, chẳng làm được gì.  Tại sao?  Vì ông ta khi còn sống cũng không biết ngay cả một cây sung không thể ra trái lúc trái mùa để cho ông ta ăn khi đói nên nổi giận vô cớ nguyền rủa cho nó chết héo queo và nhất là ông ta đã chết cách đây gần 2000 năm, hứa trở lại ngay nhưng vẫn biệt tăm

Người Công giáo kiên nhẫn một cách phi thường.  Chờ đợi cả 2000 năm nay mà vẫn cha truyền con nối chờ ngày Chúa trở lại trần. 5 tỷ năm nữa, tuổi ước tính còn lại của trái đất, thì sống chết gì rồi cũng sẽ gặp Chúa, trong đám bụi vũ trụ.

Dr. Knox Chamblin
Tiến sĩ Knox Chamblin

Thứ nhì, theo sự phân tích của Tiến sĩ Knox Chamblin [Commentary on Matthew 25:31-46] trên
[https://thirdmill.org/newfiles/kno_chamblin/NT.Chamblin. Matt.25.31-46.pdf thì cụm từ “all the nations” chỉ là hai thứ dân mà Giê-su biết: Israel và Gentiles.

Đúng vậy, Cha Giê-su sáng tạo ra trái đất mà cũng không biết là trái đất có hình cầu, vậy Giê-su làm sao biết được những quốc gia nằm ở phía bên kia miền Trung Đông trên mặt cầu. Tiến sĩ Chamblin giảng:  “Mọi quốc gia” chỉ là Israel và Gentile. Dân của những quốc gia này, là dân Do Thái hay dân Gentile, được xét xử tùy theo họ đối xử với các anh em của Giê-su như thế nào.  [The words “all the nations” embrace Jews as well as Gentiles.  The people of the nations, whether Jewish or Gentile, are judged according to the way they have treated the brothers of Jesus]. 

Nên hiểu “Brothers” (anh em) ở đây không phải là 4 người em trai của Giê-su sinh từ bà Mary mà màng trinh chưa bao giờ rách, mà là những người tin Giê-su trong đó có 11 đệ tử của Giê-su. Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 70 năm sau khi Chúa chết, và khi đó nhiều người Do Thái và dân Gentile vẫn không chịu tin Chúa, nên Matthew viết đoạn 25: 31-46 trên để truyền đạo, khuyến khích người Do Thái hãy tin thêm vào Chúa để được phần thưởng trên thiên đàng, đồng thời hù dọa dân Gentile hãy tin vào Giê-su, nếu không sẽ bị đày hỏa ngục, vì dân Gentile không chịu tin Giê-su. 

Đọc Tân Ước chúng ta thấy rõ Giê-su rất khó chịu vì dân Gentile không chịu tin mình.  Và Paul cũng dè bỉu hạ thấp dân Gentile vì cái tội không tin này. Đoạn Matthew 25: 31-46 trên rất hợp với lòng dạ Giê-su, vì trong Tân ước có nhiều đoạn chứng tỏ Giê-su rất ghét những người không tin ông ta và thường nguyền rủa họ. [Luke 8: 24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi.    Matthew 12: 34Ôi  thế  hệ của  những loài  rắn  độc, ác như các ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?  Matthew 23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc, làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?]

Chúng ta cần phải hiểu rõ từ “anh em của ta” [my brethen] mà Giê-su dùng ở rất nhiều nơi trong Tân Ước.  Thực ra trong ngữ cảnh của từ “anh em” (brothers) mà Giê-su dùng là chỉ để chỉ hai lớp người:  Một là 11 đệ tử của Giê-su, và hai là những người tin theo Giê-su, chứ không phải là bất cứ ai khác.  Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong Tân Ước để hiểu Giê-su dùng từ “brethen” (Brothers) để chỉ những ai:

Matthew 28 kể chuyện Chúa chết rồi sống lại, đón gặp người tình Mary Magdalene và Mary khác (other Mary), có lẽ là mẹ Giê-su, và nói với họ:

Matthew 28: 10  Đừng có sợ! [vì thấy một xác chết hiện hồn]. Hãy về bảo cho anh em của Ta hãy đến Ga-li-lê, và họ sẽ thấy Ta… 16 Rồi 11 môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã hẹn với họ.  [Then Jesus said to them: “Do not be afraid.  Go and tell My Brethen to go to Galilee, and there they will see Me…  Then the eleven disciples went away into Galilee, to the mountain which Jesus had appointed for them]  Chúng ta thấy rõ trong trường hợp này, từ “anh em” (brethen) mà Giê-su nói chỉ là 11 môn đồ của ông ta.  Nhưng 11 môn đồ này có phép thần thông.  Vì hai Mary chỉ bảo họ đi đến Galilee thôi chứ đâu có biết Giê-su ở đâu trong vùng Galilee.  Thế mà họ lại đến đúng chỗ Giê-su hẹn ở trên núi, chắc Giê-su hẹn họ trong giấc mộng.  Thánh Kinh viết hay thật.

Matthew 23: 8: 8 "Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả đều là anh em với nhau” (But you, do not be called rabbi; for one is yout teacher, the Christ, and you are all brethen.)  “Anh em” ở đây chỉ là những người nhận Giê-su làm Thầy.

Matthew 12: 46-50:46

Người còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và các em của Người đứng bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Người. 47 Có kẻ thưa Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và các em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy." 48 Người bảo kẻ ấy rằng: "Ai là mẹ tôi? Ai là em tôi? " 49 Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. 50 Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi." 
[46 While He was still talking to the multitudes, behold, His mother and brothers stood ouside, seeking to speak with Him. 47 Then one said to Him, “Look, Your mother and Your brothers are standing outside, seeking to speak with you. 48 But He answered and said to the the one who told Him, “Who is My mother and who are My brothers?” 49 And He stretched out His hand toward  His disciples and said, “Here are My mother and My brothers!  50  For whoever does the will of my Father in heaven is my brother and sister and mother.]

Vậy trong trường hợp này thì từ “anh em” (brothers) là những người tin Giê-su.  Tại sao Giê-su lại đối xử với mẹ và các em như vậy.  Vì Tân Ước viết rõ: bà Mary biết rõ Giê-su là con ai, không phải là con của Gót.  Chúng ta chắc ai cũng đã biết chuyện sau đây được kể trong Thánh Kinh: Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó mới 12 tuổi, cùng đến Jerusalem.  Sau ngày lễ thì hai vợ chồng Joseph thấy biến mất ông con.  Tưởng rằng ông con đã đi cùng bạn bè đi về nhà nên ông bà cũng trở về nhà.  Nhưng đi suốt cả ngày cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi tìm Giê-su.  Hai ông bà quay trở lại Jerusalem và ba ngày sau thì thấy Giê-su đang ngồi đối đáp với mấy thầy thông thái trong một đền thờ.  Sau đây là những lời qua lại giữa bà Mary và ông con Giê-su, rất hỗn hào, Luke 2 : 48 -50:

Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.  Ngài trả lời: Các người kiếm tôi làm chi?  Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi hay sao?  Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết.

 Câu chót “Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói chi hết”  đã chứng minh rằng cả Joseph và Mary đều biết, nhất là Mary, người biết rõ hơn ai hết ai là cha thực của Giê-su, rằng Giê-su không phải là ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, không phải là con của Chúa Thánh Thần, không phải là Chúa Cứu Thế v..v.. cho nên mới không hiểu Giê-su nói gì khi Giê-su nói là đang lo việc của Cha, nghĩa là việc của Chúa Cha alias Thần Gia-vê của Do Thái.

Tân Ước còn viết nhiều người cùng thời Giê-su, ngay cả các em của Giê-su cũng không tin Giê-su  và còn cho là Giê-su có đầu óc bất bình thường:

John 10: 20: Có nhiều người nói: “Ông ta bị quỷ ám và điên rồi.  Tại sao lại nghe ông ta làm chi? (And many of them said, “He has a demon and is mad.  Why do you listen to him?”)

John 6: 42:  Và họ nói: “Đây chẳng phải là Giê-su, con ông Joseph hay sao mà cha mẹ ông ta chúng ta đều biết.  Sao mà ông ta lại nói: “Ta đã từ trên trời xuống

John 7: 5: Vì ngay cả các em ông ta cũng không tin ông ta. (For even his brothers did not believe in him)

Mark 3: 20-21: Giê-su trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không có thì giờ ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng “Người đã mất trí.” (out of his mind)

Để truyền đạo, Công giáo giảng láo “the least of these my brethen” là đám người nghèo khó ở trên đời, và những người ăn ở ngay lành là những người thể hiện tình yêu của Chúa, giúp đỡ tha nhân, chiêu bài từ thiện của người Công giáo, trong khi thực ra Tân Ước đã viết rất rõ “the least of these my brethen” là: “những người khốn cùng trong đám anh em này của Ta” và chỉ là những người đang theo tin Giê-su, và Chúa không hề có tình yêu đối với những người không tin Chúa.  Giê-su và các người theo ông thời đó không thuộc lớp người giàu có trong xã hội, phần lớn là dân vô học, nghèo khổ luôn luôn cần đến sự giúp đỡ của người khác. 

Học thuật Ca-Tô

Người Công giáo muốn giảng Thánh Kinh vặn vẹo như thế nào thì giảng, nhưng trong lãnh vực học thuật thì sự thật vẫn là sự thật, và không ai có thể che dấu được sự thật bằng bất cứ cách nào.  Tại sao vẫn còn có những  bậc lãnh đạo cũng như trí thức Công giáo lại không nhìn thấy những sự thật nằm ngay trong Thánh Kinh.  Vì họ là nạn nhân của nền học thuật Ca-Tô (Catholic Scholarship)

Giáo hội Công giáo đã vận dụng tối đa "học thuật Ca-Tô", một loại học thuật không dính dáng gì đến nền học thuật chân chính của con người trí thức, để cho thế giới quên đi lịch sử đen tối, đẫm máu của Giáo hội, đồng thời đưa vào đầu óc tín đồ một hình ảnh trái ngược hẳn với hình ảnh thực sự của Giáo hội.  Học thuật Công giáo bao gồm những lý thuyết Thần học mơ hồ và những văn kiện ngụy tạo v…v… để bảo vệ đức tin Công giáo chủ yếu nhằm vào giới trí thức; những sách lược tuyên truyền về "những cái hay" nhưng  sai tự thực của Giáo hội để thu hút và giữ tín đồ; những tín lý vô căn cứ của Giáo hội đưa ra để duy trì quyền lực tự phong của giới lãnh đạo Công giáo.  Và nhất là nghệ thuật trích dẫn chọn lọc Thánh Kinh, giảng giải vặn vẹo tùy tiện ngoài ngữ cảnh nhằm mục đích dựng lên bộ mặt thánh thiện và vai trò thần linh của Giê-su.  Ngoài ra, Giáo hội cũng còn dùng mồi  "phong Thánh" cùng tạo ra những cái gọi là  "phép lạ" để khai thác  triệt để  lòng mê tín  dị đoan của đám đông tín đồ đầu óc vốn yếu kém, mù mịt.  Học thuật Công giáo thành công vì Giáo hội đã đào tạo được một lớp cán bộ truyền giáo trung kiên (linh mục), kiến thức thực sự không có là bao, chỉ là những cái loa của nền học thuật Công Giáo, nhưng rất hữu hiệu trong vấn đề uốn nắn đầu óc giáo dân ngay từ lúc sơ sinh vào một niềm tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu, và nhất là tuyệt đối theo lệnh của Vatican, vì tin rằng Giáo hoàng nắm giữ chìa khóa mở cửa Thiên đường. 

Các Bậc Lãnh Đạo Ki Tô Giáo Nhận Định Sao Về Ngày “Cánh Chung” Của Ki Tô Giáo?

Giám mục Nguyễn Văn Khảm và Linh mục Đỗ Xuân Quế cũng như các con chiên chống đối GM Khảm đều tin vào ngày “Cánh Chung” của Công giáo, tức ngày Chúa Giê-su trở lại trần lần thứ hai để phán xét luận tội hay thưởng người sống cũng như người chết.  Nhưng đối với giới lãnh đạo trí thức trong Ki Tô Giáo thì quan niệm của họ ra sao.  Sau đây là vài tài liệu điển hình.

Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio, đưa ra nhận định:

conggiao02 Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được. Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa, và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

    Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined) của D. F. Strauss đã quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này. Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

1. Đức Mẹ đồng trinh

2. Hiện thân của Chúa (Gót hiện thân thành người, nghĩa là, Gót là Giê- su.)

3. Nhiệm vụ chuộc tội của Chúa [kế hoạch cứu rỗi]

4. Sự sống lại của Chúa.

5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết cho ngày phán xét cuối cùng)

7. Ngày phán xét cuối cùng (Gót phán xét mọi người khi Giê su trở lại trần thế)

    (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur. In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies continue to support and confirm this assertion. The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

1. The virgin birth

2. The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

3. The work of Atonement (plan for salvation)

4. The resurrection

5. The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

6. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

7. The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

   Trong cuốn Một Ki Tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới (A New Christianity For A new World), xuất bản năm 2001. Giám Mục John Shelby Spong liệt kê ra 5 tín điều căn bản của Ki Tô Giáo như sau:

NewChriatianity- Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thiên Chúa.

- Tư cách thần linh của Giê-su vì sinh ra từ một Nữ Trinh.

- Cái chết của Giê-su là để chuộc tội cho nhân loại, và máu của Giê-su là năng lực cứu rỗi (saving power of his blood).

- Thân xác Giê-su sống lại. Ngôi mộ trống là một sự thật cũng như chuyện Giê-su hiện ra sau khi chết.

- Giê-su sẽ trở lại để phán xét nhân loại.

Và Giám mục Spong đưa ra nhận định như sau:

Ngày nay, tôi thấy những tín lý căn bản này mà chúng ta thường hiểu theo truyền thống, không những chỉ là ngây ngô mà còn có thể phải dứt khoát loại bỏ. Trong thế hệ của chúng ta, không một tín điều nào ở trên được các học giả Ki Tô danh tiếng xác nhận.

[Today I find each of these fundamentals, as traditionally understood, to be not only naïve, but eminently rejectable. Nor would any of them be supported in our generation by reputable Christian scholars.]

Tại sao các bậc thức giả trong Ki Tô Giáo lại không còn tin vào những chuyện trong Thánh Kinh, nhất là về ngày “Cánh Chung”, và đây chỉ là vài tài liệu điển hình.  Vì sự tiến hóa trí thức của nhân loại đã đưa đến sự phá sản của nền Thần học Ki Tô Giáo, phản ánh qua những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, về những luận cứ thần học ngụy biện mà ngày nay đã không còn giá trị v..v..  Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của chính những bậc trí thức trong các giáo hội Ki Tô Giáo, điển hình là của các nhà thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann, các giám mục linh mục như Peter de Rosa, Malachi Martin, John P. Meier, Leonardo Boff, Joseph McCabe, James Kavanaugh, John Dominic Crossan v..v.., các giám mục mục sư Tin Lành như John Shelby Spong, Ernie Bringas, Ruben Alves, các học giả KiTô như Karen Armstrong, Joseph L. Daleiden v..v..các bậc trí thức như Robert G. Ingersoll, Bertrand Russell v..v.., các khoa học gia như Carl Sagan, Stephen Hawking, Paul Davies v..v.. Mặt khác, trí tuệ của người dân thường, trừ những người sống trong những ốc đảo ngu dốt của Ki Tô Giáo, đã mở mang, cho nên sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo đã được phơi bày, và càng ngày càng có nhiều người biết đến. Theo dõi tin tức thời cuộc, chúng ta thấy chính Giáo hoàng và hàng giáo phẩm Công giáo cũng không còn tin vào những huyền thoại như trên nữa.

Giê-su Có Đủ Tư Cách Để Phán Xét Nhân Loại Không?

Sau đây là vài sự thật về Giê-su đã khiến cho những người có đầu óc không làm sao còn có thể tin vào huyền thoại ngày “Cánh Chung” của Ki Tô Giáo nữa.  Vấn đề là chúng ta hãy hỏi, quyền năng phán xét của Giê-su từ đâu mà ra, đặt trên căn bản nào, với tư cách nào, và ai cho ông ta cái quyền đó, và trên thế gian ngày nay bao nhiêu người công nhận cái quyền đó.  Ở trên tôi đã chứng minh rằng, dựa hoàn toàn vào Tân Ước, Giê-su không có tư cách để phán xét bất cứ ai.  Thật ra ngày “Cánh Chung” chỉ là một huyền thoại của người Do Thái khi xưa, tin rằng ngày tận thế đã gần kề, do đó Giê-su luôn luôn rao giảng là hãy thống hối trước Gót của Do Thái vì ngày tận thế đã gần kề.

Hermann Samuel Reimarus: Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rõ ràng.  Chúng nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Kinh Thánh” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới” (What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized.  It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”).

Vào thời điểm  Giê-su sinh ra  đời  thì Do Thái đang sống dưới ách thống trị khắc nghiệt của La Mã.  Do đó, dân Do Thái, cũng như trong những thời kỳ bị chinh phục và bắt làm nô lệ trước, mong chờ  và tin rằng Thần Gia-vê sẽ đoái thương đến họ, và một đấng cứu tinh thuộc dòng dõi vua David sẽ xuất hiện để giải phóng dân tộc họ.  Và quan niệm Nước Trời (Kingdom of God) nguyên thủy của người Do Thái rất đơn giản, đó chỉ là sự biến đổi thế giới thường thành một thế giới mà Thần của họ sẽ trực tiếp cai quản công việc thế gian và do đó, khôi phục những phúc lợi của dân Do Thái, dân đã được Thần chọn (Joel Carmichael, The Birth of Christianity, Dorset Press, New York, 1989, p. 1: The Kingdom of God meant the transformation by God of the natural world into one in which God's will would conduct human affairs directly and hence restore the fortunes of the Jews, the Chosen People).  Người Do Thái tin tưởng rằng nơi nước Trời hay nước của Chúa này, dân Do Thái sẽ sống sung sướng với sữa và mật tràn đầy, dưới sự quản trị và ân sủng trực tiếp của Thần Gia-vê.  Các tín đồ Công giáo Việt Nam, từ trên xuống dưới, không biết về lịch sử Do Thái, không đủ khả năng tự mình đọc và hiểu lấy Thánh Kinh, không hiểu ý nghĩa của nước Trời hay nước Chúa (Kingdom of God) trong Thánh Kinh, nghe lời giảng hoang đường huyễn hoặc của giới giáo sĩ, nên coi đó là một một nước ở trên thiên đường và gọi là "Nước Cha Trị Đến" mà không hiểu rằng nước này chỉ là một nước mà Chúa Cha trị vì, cai quản các việc thế gian của dân Do Thái như một ông vua trên trần thế, theo niềm tin  của người Do Thái thời bấy giờ, chứ  chẳng  dính dáng  gì  tới  bất  cứ dân tộc nào khác trên thế giới.

Vấn nạn chính của các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam là họ không đọc Thánh Kinh, không đọc những tác phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh cũng như về nhân vật Giê-su trong Thánh Kinh, cho nên mù quáng tin vào những lời truyền đạo lừa dối của giới giáo sĩ về những điều không thể tin được. Đối với những tín đồ nghèo khổ vô học nguyên thủy thời các thừa sai Công Giáo và Bồ Đào Nha đến Việt Nam truyền đạo với những luận điệu bịp bợm mê hoặc như của Alexandre de Rhodes thì không nói làm gì.  Nhưng ngày nay, ở thế kỷ 21 mà họ vẫn không biết gì về con người thực của Giê-su, chỉ nhắm mắt mà tin thì quả là điều không thể hiểu nổi, mà lại tin vào cái chuyện phán xét hoang đường thì lại càng không hiểu nữa.   Vậy chúng ta hãy duyệt qua một số tài liệu của các học giả Tây phương, phần lớn là những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo như Giám mục, linh mục v…v….  Tuyệt đối không có một tài liệu nào của Cộng sản hay của Phật Giáo.

Trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Ngay Thẳng Của Ki Tô Giáo [A Time For Christian Candor], Giám Mục James A. Pike của giáo xứ California đã thảo luận về các niềm tin của tín đồ đối với Giê-su, và chứng minh rằng Giê-su chỉ là một người thường, trang 109, như sau: 

 Quan niệm về thế giới của Giê-su là quan niệm trong thời đại của ông ta.  Quan niệm về một Nước Chúa mà ông ta nhấn mạnh là quan niệm đã được đưa vào Do Thái giáo từ thế kỷ 5 trước thời đại thông thường này, dưới ảnh hưởng của Zoroaster (Một nhà tiên tri Ba-Tư trong thế kỷ 6 trước Tây Lịch. TCN).  Ông ta (Giê-su) chịu ảnh hưởng giáo lý của dân Essenes, như là chúng ta càng ngày thấy đó là điểu hiển nhiên qua những bản dịch của những Cuộn Kinh Trong Biển Chết.  Ông ta có một đầu óc giới hạn - điều này đúng đối với mọi người.  Thí dụ, giống như các ông thầy tu Do Thái (Rabbis) cùng thời, ông ta cho rằng chính David viết tất cả những bài Thánh Vịnh cho nên ông ta đã chưng dẫn David như là tác giả bài Thánh Vịnh số 110 (thực ra là một bài đã được viết sau thời David) trong một cuộc tranh cãi với dân Pharisees.  Và ông ta nghĩ rằng ngày tận thế đã gần kề, phù hợp với tâm cảnh về một ngày tận thế trong thời của ông ta.

[Pike, James A., A Time for Christian Candor, p. 109: Jesus' world-view was that of his time.  The concept of the Kingdom of God which he stressed was that introduced into Judaism in the fifth century B.C., under Zoroastrian influence.  He was influenced by the teaching of the Essenes, as is growing more and more evident with the availability of translations of the Dead Sea Scrolls.  He had a limited mind - as is true of every man.  For example, like his fellow rabbis he thought that David wrote all the Psalms and hence he quotes as of Davidic authorship Psalm 110 (which in fact is of later date) in an argument with the Pharisees.  And he thought, in accord with the apocalyptic temper of his day, that the end of the world is near.]

Chuyện Giê-su sinh ra để chuộc tội cho nhân loại và quyền năng cứu rỗi của Giê-su chỉ là luận điệu thần học của dân Do Thái, và chỉ cho dân Do Thái mà thôi.  Cũng vì nhận rõ được tính chất hoang đường và lỗi thời của cái gọi là “tội tổ tông”, của vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Giê-su, mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết, Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go).  Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau: https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php

"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi.  Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.  Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội.  Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội.  Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

[John Shelby Spong, Why Christianity Must Change or Die,  pp. 98-99: We human beings do not live in sin.  We are not born in sin.  We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism.  We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.]

Và nhận định: Không có bất cứ một hình ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. Hình ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái hình ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái hình ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế (the divine rescuer).”. 

Và Linh mục James Kavanaugh, trong cuốn Sự Sinh Ra Của Thiên Chúa (The Birth of God) đã viết về “Huyền Thoại Cứu Rỗi, xin đọc:
https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php :

Tại sao Linh mục James Kavanaugh lại cho vai trò cứu rỗi của Giê-su chỉ là một huyền thoại, và Giám mục John Shelby Spong lại đòi phải dẹp bỏ vai trò cứu thế của Giê-su?  Vì họ là những trí thức Ki Tô Giáo lương thiện, đã đọc kỹ Thánh Kinh cũng như biết về những công cuộc khảo cứu về cuốn Thánh Kinh và thực chất khuôn mặt của Giê-su trong Tân Ước của không ít học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-tô trong vòng 200 năm gần đây. 

Thật vậy, ngày nay chẳng còn có mấy người tin Giê-su là con “đức Chúa trời”, vì chính “đức Chúa trời” đã bị loại bỏ qua sự công nhận của Giáo hội về thuyết Big Bang và thuyết Tiến Hóa, vậy thì làm gì có con một của “đức Chúa trời”. Hơn nữa,  Russell Shorto, một học giả Ki Tô Giáo, đã tổng hợp những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su, có thể là một con người Do thái lịch sử, trong vòng 200 năm nay, và kết luận như sau trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel Truth):

Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ  là huyền thoại…

Gospel_TruthCác học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  – họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sưNhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.

[Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger.  So the only ones left in the dark are ordinary Christians.]

Nếu chính Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng  thì những người theo đạo Giê-su sống với một ảo tưởng cũng không phải là chuyện lạ.  Và chính cái ảo tưởng này đã giam chặt họ trong bóng tối.  Cho nên chúng ta không lấy làm lạ là ngày nay vẫn còn có nhiều người sống với các ảo tưởng đó.  Đầu óc của họ thuộc loại đặc biệt, có lẽ không nằm trong quá trình tiến hóa của nhân loại.

Ngoài ra, Giám Mục John Shelby Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Giê-su Sinh Ra Đời (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, 1992) đã đưa ra nhận xét, trang 41:

Born_Woman    Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là aiRất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những trái mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .

(John Shelby Spong, Born of a Woman: A Bishop Rethinks the Birth of Jesus, p. 41: He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemmed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)

Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đã đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:

GM John ShelbySpongCó những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

(There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

Chúng ta nên biết Giám Mục Spong là người nổi tiếng trên đất Mỹ về những điều ông ta “nghĩ lại”.  Hiện nay ông vẫn còn tại vị của một Giám mục và đã được mời lên TV nhiều lần cũng như được mời đến đại học để nói về những điều ông ta “nghĩ lại”, về Thánh Kinh, về Giê-su và về nhiều vấn đề khác của Ki Tô Giáo.

Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài https://www.nobeliefs.com/jesus.htm: Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đã ban cho ông ta hay không?  Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ đã giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực.  Nền học thuật chân thật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến.  Trong khi đó thì, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đã khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị  ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ.  Tuy trên 90% gia đình ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là họ không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh.

Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

[Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say.

Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

Robert G. IngersollSau đây là một phần trong bài thuyết giảng về cuốn Thánh Kinh (About The Holy Bible) của Robert G. Ingersoll. Robert G. Ingersoll được coi như là một nhà tư tưởng tự do và nhà hùng biện nổi danh của Mỹ vào cuối thế kỷ 19 (A celebrated orator of 19th century America).  Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống Hoa Kỳ, là một đại tá trong quân đội và sau làm Chưởng Lý bang Illinoi.  Ông là người đã có công nhất trong việc làm nở rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend of three U.S. presidents, the individual most responsible for the flowering freethought in the United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông, nay được đặt ở Periora, Illinois.  Bài này ông nói vào cuối thế kỷ 19, trước một cử tọa mà nhiều người đã bỏ đi lễ nhà thờ và phải bỏ ra $2 (vào năm 1890) để được nghe ông ta.

 IX.  Đấng Ki Tô Có Phải Là Gương Mẫu Cho Chúng Ta Không. Ông ta chưa bao giờ nói lên một lời nào ủng hộ giáo dục.  Ông ta chưa bao giờ có mảy may ý kiến nào về sự hiện hữu của khoa học nào.  Ông ta chưa bao giờ thốt lên lời nào ủng hộ kỹ nghệ, kinh tế hay cố gắng nào để cải tiến hoàn cảnh của chúng ta trong thế giới này.  Ông ta là kẻ thù của sự thành công, của sự giàu có.  Các phú ông bị đầy xuống hỏa ngục, không phải vì họ xấu mà vì họ giàu có.  Lazarus được cho lên thiên đường không phải vì hắn ta tốt mà là vì nghèo. (Phúc thật tám mối)

Đấng Ki-tô không quan tâm gì đến hội họa, điêu khắc hay âm nhạc – không một nghệ thuật nào.  Ông ta không nói gì về bổn phận của một quốc gia đối với một quốc gia, của Vua đối với thứ dân; về nhân quyền, về tự do trí thức hay tự do phát biểu ý kiến.  Ông ta không nói gì về sự thiêng liêng của gia đình, không một lời về hôn phối, vinh dự của người mẹ.  Ông ta chưa từng cưới vợ.  Ông ta đi lang thang từ nơi này sang nơi khác với vài đệ tử.  Không có người nào trong đám đó làm ăn gì, có vẻ như chỉ sống nhờ của bố thí.  Đời này hy sinh cho đời sau; làm nản lòng mọi cố gắng của con người.

Sau cùng, trước khi sắp chết, đấng Ki-tô, thấy rằng mình đã sai lầm, mới kêu than: “Gót của tôi ơi! Gót của tôi ơi!  Sao người lại bỏ tôi.”

Tại sao chúng ta phải đặt Giê-su lên tột đỉnh của nhân loại?  Ông ta có từ ái hơn, dễ tha thứ hơn, hay hi sinh bản thân hơn đức Phật hay không?  Ông ta có thông thái hơn, đối diện với cái chết một cách bình tĩnh toàn hảo hơn là Socrates không?  Ông ta có kiên nhẫn, nhân từ hơn là Epictetus không? Ông ta có là một triết gia lớn hơn, một tư tưởng gia sâu sắc hơn là Epicurus hay không?  Về phương diện nào ông ta đứng trên Zoroaster?  Ông ta có hòa ái hơn Lão Tử hay phổ quát hơn Khổng tử không? Những ý tưởng về nhân quyền và bổn phận con người của ông có cao hơn của Zeno  không? Ông ta có đưa ra những chân lý cao hơn của Cicero không?  Đầu óc ông ta có tinh tế hơn Spinoza không? Đầu óc ông ta có sánh bằng đầu óc của Kepler và Newton không?  Trong sự thông minh, trong cách diễn đạt, trong sự sâu rộng của tư tưởng, trong sự phong phú của cách minh họa, trong khả năng so sánh, trong sự hiểu biết về tâm trí, sự đam mê và sợ hãi của  con người, ông ta có hơn được Shakespeare không?

Nếu Giê-su thực sự là Gót Con, ông ta phải biết mọi việc trong tương lai.  Ông ta phải thấy rõ lịch sử sẽ xảy ra.  Ông ta phải biết người ta sẽ diễn giải những lời ông nói như thế nào.  Ông ta phải biết những tội ác nào, những sự khủng khiếp nào, những sự ô nhục nào mà người ta sẽ phạm phải nhân danh ông.  Ông ta phải biết đến những ngọn lửa bạo hành bốc lên xung quanh chân tay những kẻ bị thiêu sống  vì không có cùng niềm tin như những tín đồ Ki Tô Giáo. Ông ta phải biết đến hàng ngàn người, đàn ông cũng như đàn bà, đau đớn mòn mỏi trong ngục tù tối tăm.  Ông ta phải biết cái giáo hội của ông ta sẽ phát minh ra những dụng cụ tra tấn; những tín đồ của ông sẽ dùng đến roi vọt và bó củi, xiềng xích và giá căng (banh)  người.  Ông ta phải thấy chân trời tương lai sáng rực với những ngọn lửa thiêu sống con người trong những cuộc lễ auto da fe.  Ông ta phải biết những tín lý, giáo điều sẽ mọc lên như nấm độc trong mọi cuốn sách bổn của giáo hội.  Ông ta phải thấy những phe phái Ki Tô ngu đần gây chiến với  nhau.  Ông ta phải thấy hàng ngàn con người, theo lệnh của các linh mục, xây những nhà tù cho đồng loại.  Ông ta phải thấy hàng ngàn máy chém đẫm máu của những người tốt nhất và dũng cảm nhất.  Ông ta phải thấy những tín đồ của ông ta sử dụng những dụng cụ tra tấn gây đau đớn cho con người.  Ông ta phải biết những diễn giảng về lời ông nói sẽ được viết bằng gươm giáo, và đọc trong ánh sáng của những bó củi thiêu sống người. Ông ta phải biết những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo sẽ được thiết lập theo những lời giảng dạy của ông.

Ông ta phải thấy những sự ngụy tạo và suy diễn lệch lạc mà những kẻ đạo đức giả viết ra và nói cho quần chúng.  Ông ta phải thấy những cuộc chiến tranh sẽ được gây ra, và ông ta phải biết là trên những cánh đồng chết chóc đó, những ngục tù tăm tối đó, những giá căng người đó, những cuộc thiêu sống người đó, những cuộc hành quyết đó, trong cả ngàn năm, ngọn cờ của cây thập giá đẫm máu đã tung bay.

Ông ta phải biết người ta sẽ khoác áo thánh thiện và đội vương miện cho sự đạo đức giả - sự độc ác và nhẹ dạ cả tin sẽ ngự trị thế giới; phải biết sự tự do của con người sẽ mai một trên thế giới (dưới quyền lực của giáo hội); phải biết rằng nhân danh ông các giáo hoàng và vua chúa sẽ nô lệ hóa hồn xác con người; phải biết rằng họ sẽ bạo hành và tiêu diệt mọi nhà khảo cứu, nhà tư tưởng và nhà phát minh; phải biết là giáo hội của ông ta sẽ dập tắt ánh sáng thánh thiện của lý trí và giữ thế  giới trong tăm tối.

Ông ta phải thấy những người theo ông sẽ chọc mù mắt con người, róc thịt, cắt lưỡi họ, tìm những chỗ nào đau đớn nhất trên thân thể con người để mà hành hạ.

Tuy nhiên ông ta đã chết đi với bờ môi khép kín.

     Tại sao ông ta không nói lên, không dạy các tông đồ và xuyên qua họ, dạy thế giới: "Các ngươi không được thiêu sống, tù đầy và tra tấn con người nhân danh ta.  Các ngươi không được bạo hành đồng loại.

Tại sao ông ta đi đến cõi chết một cách ngu đần, để lại thế giới cho sự đau khổ và nghi ngờ?

     Tôi sẽ nói cho các người biết.  Vì Giê-su chỉ là một người thường, ông ta chẳng biết gì  đến những điều xảy ra sau khi ông ta chết.

https://www.holysmoke.org/sdhok/bible2.htm :

IX. IS CHRIST OUR EXAMPLE?

He never said a word in favor of education. He never even hinted at the existence of any science. He never uttered a word in favor of industry, economy or of any effort to better our condition in this world. He was the enemy of the successful, of the wealthy. Dives was sent to hell, not because he was bad, but because he was rich. Lazarus went to heaven, not because he was good, but because he was poor.

Christ cared nothing for painting, for sculpture, for music -- nothing for any art. He said nothing about the duties of nation to nation, of king to subject; nothing about the rights of man; nothing about intellectual liberty or the freedom of speech. He said nothing about the sacredness of home; not one word for the fireside; not a word in favor of marriage, in honor of maternity.

 He never married. He wandered homeless from place to place with a few disciples. None of them seem to have been engaged in any useful business, and they seem to have lived on alms.

This world was sacrificed for the next; all human effort was discouraged.

At last, in the dusk of death, Christ, finding that he was mistaken, cried out: "My God My God! Why hast thou forsaken me?"

WHY SHOULD WE PLACE CHRIST AT THE TOP ANDSUMMIT OF THE HUMAN RACE?

Was he kinder, more forgiving, more self-sacrificing than Buddha? Was he wiser, did he meet death with more perfect calmness, than Socrates? Was he more patient, more charitable, than Epictetus? Was he a greater philosopher, a deeper thinker, than Epicurus? In what respect was he the superior of Zoroaster? Was he gentler than Lao-tsze, more universal than Confucius? Were his ideas of human rights and duties superior to those of Zeno? Did he express grander truths than Cicero? Was his mind subtler than Spinoza's? Was his brain equal to Kepler's or Newton's? Was he grander in death -- a sublimer martyr than Bruno? Was he in intelligence, in the force and beauty of expression, in breadth and scope of thought, in wealth of illustration, in aptness of comparison, in knowledge of the human brain and heart, of all passions, hopes and fears, the equal of Shakespeare, the greatest of the human race?

If Christ was in fact God, he knew all the future. Before him like a panorama moved the history yet to be. He knew how his words would be interpreted. He knew what crimes, what horrors, what infamies, would be committed in his name. He knew that the hungry flames of persecution would climb around the limbs of countless martyrs. He knew that; thousands and thousands of brave men and women would languish in dungeons in darkness, filled with pain. He knew that his church would invent and use instruments of torture; that his followers would appeal to whip and fagot, to chain and rack. He saw the horizon of the future lurid with the flames of the auto da fe. He knew what creeds would spring like poisonous fungi from every text. He saw the ignorant sects waging war against each other. He saw thousands of men, under the orders of priests, building prisons for their fellow-men. He saw thousands of scaffolds dripping with the best and bravest blood. He saw his followers using the instruments of pain. He heard the groans -- saw the faces white with agony. He heard the shrieks and sobs and cries of all the moaning, martyred multitudes. He knew that commentaries would be written on his words with swords, to be read by the light of fagots. He knew that the Inquisition would be born of the teachings attributed to him.

He saw the interpolations and falsehoods that hypocrisy would write and tell. He saw all wars that would he waged, and he knew that above these fields of death, these dungeons, these rackings, these burnings, these executions, for a thousand years would float the dripping banner of the cross.

He knew that hypocrisy would be robed and crowned -- that cruelty and credulity would rule the world; knew that liberty would perish from the earth; knew that popes and kings in his name would enslave the souls and bodies of men; knew that they would persecute and destroy the discoverers, thinkers and inventors; knew that his church would extinguish reason's holy light and leave the world without a star.

He saw his disciples extinguishing the eyes of men, flaying them alive, cutting out their tongues, searching for all the nerves of pain.

He knew that in his name his followers would trade in human flesh; that cradles would be robbed and women's breasts unbabed for gold.

And yet he died with voiceless lips.

Why did he fail to speak? Why did he not tell his disciples, and through them the world: "You shall not burn, imprison and torture in my name. You shall not persecute your fellow-men."

Why did he leave his words to ignorance, hypocrisy and chance? Why did he go dumbly to his death, leaving the world to misery and to doubt?

I will tell you why. He was a man, and did not know.

Chúng ta cần ghi nhận một điều: những kết quả nghiên cứu như trên về Giê-su trong lãnh vực học thuật đều là của các bậc trí thức có lương tâm, có chức vụ, trong các giáo hội Ki Tô, hoặc các học giả trong các xã hội Ki Tô Giáo, không phải của người ngoại đạo, cho nên chúng ta khó có thể nghi ngờ thành ý và sự lương thiện của họ trong lãnh vực học thuật.  Chúng ta cần phải hiểu đây chỉ là những công cuộc nghiên cứu thuần túy trí thức trong lãnh vực học thuật nằm khai sáng sự hiểu biết của người dân chứ không phải là chủ trương đối nghịch tôn giáo hay chống Chúa hay chống đạo như một số người thường chụp mũ một cách vô trách nhiệm.

(xem tiếp) --->