Con Chiên Nổi Loạn Bỏ “Đức Vâng Lời”

Cùng Với Linh Mục Tố Khổ Giám Mục

Trần Chung Ngọc

https://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN118.php

28-Dec-2011

1 2 3 4 

(tiếp theo)

Vài Diễn Biến Trong Nội Bộ Công Giáo

Các trí thức Công giáo Việt Nam có thể không biết đến hay không tin những tài liệu trên, nhưng không biết hay không tin là một chuyện.  Sự thật về Giê-su là một chuyện khác.  Họ không biết về những tài liệu trên đã đành, nhưng họ lại cũng không biết cả những diễn biến trong chính Giáo hội, trong Tổng Hành Dinh Vatican của Công Giáo.  Giáo hoàng John Paul II đã chính thức công nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con ngườiDo đó thuyết sáng tạo của Ki Tô Giáo đã đi vào quá khứ, không làm gì có tội tổ tông, vai trò chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su rút cuộc chỉ là chuyện hoang đường.  Thêm một điều nữa, là chính Giáo hoàng John Paul II đã phán:

“Thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life) (https://www.aintnowaytogo.com/noHell.htm). [Vì vậy, trong bài giảng, GM Nguyễn Văn Khảm đã phải công nhận là thuyết Nghiệp Báo của nhà Phật là “công bằng tuyệt đối”]

Chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa),  Giáo hoàng đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.  Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo:   Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, và cũng bác bỏ sự hiện hữu của một thiên đường, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, bắt nguồn từ một sự mù lòa tin bướng tin càn, và sự luận phạt của Giê-su đối với những người không tin Giê-su ngày nay còn có giá trị gì, có chăng chỉ để cho những người “tinh thần yếu kém” vì những người này là những người được Giê-su chọn để chúc phúc (Matthew 5: 3).

Vậy thì quyền phán xét muôn dân của Giê-su để tùy tiện cho ai lên thiên đường hay cho ai xuống địa ngục có nghĩa gì, hay đó chỉ là một sự mê tín hoang đường của dân Do Thái trong thời bán khai?  Với những sự thật về thiên đường và địa ngục, về con người thực của Giê-su trong Thánh Kinh như trên, tôi không hiểu tại sao ngày nay vẫn có những người mang danh là trí thức mà vẫn còn tin vào một chuyện vô cùng hoang đường là Giê-su sẽ trở lại trần để phán xét luận tội thưởng phạt muôn dân, cho những người tin ông ta lên thiên đường và đầy những người không tin xuống hỏa ngục.  Vậy đầu óc của họ thuộc loại nào trong thế kỷ 21 này.

Mục sư Ernie Bringas đã giải thích là trong đầu óc họ có một điểm mù tôn giáo, cho nên sự hiểu  biết về tôn giáo của họ là sự hiểu biết cũ kỹ thuộc thế kỷ thứ 17.  Như vậy là mê tín hay là đức tin tôn giáo?  S.T. Joshi cũng đã giải thích trong cuốn “Những Người Bảo Vệ Thiên Chúa: Họ Tin Những Gì Và Tại Sao Họ Sai Lầm” [God’s Defenders: What They Believe and Why They Are Wrong”, Prometheus Books, New York, 2003, p.14]:

Điều rõ ràng trong trường hợp của nhiều người được cho là thông minh, là đầu óc và cảm xúc của họ đã bị tê liệt từ nhỏ bởi một số tín lý trong tôn giáo cho nên trên thực tế đã làm cho sự phân tích hợp lý không có ảnh hưởng vào những quan niệm về thần thánh của họ được. 

[What has clearly happened in the case of  many otherwise intelligent people, is that childhood crippling of their brains and emotions in favor of some dogmatic religion has for all practical purposes made their theistic views impervious to logical analysis.]

Đến đây xin chấm dứt chuyện “Cánh Chung Luận” của Ki Tô Giáo.  Và trên thực tế, bài này có thể kết thúc ở đây, vì có thể khai sáng cho những con chiên lên tiếng phê bình GM Khảm.  Nhưng có lẽ chúng ta cũng nên điểm qua vài luận cứ phê bình chống đối GM Khảm của mấy trí thức Công giáo để xem trình độ hiểu biết của họ đến đâu. 

Nhận Định Về Những Luận Điệu
Chống Giám Mục Nguyễn Văn Khảm


1. LM Đỗ Xuân Quế:

…thì đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sự gán ghép giả tạo, vì “Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Đúng như thế, chứ không phải ngược lại.

Thuyết Mác-xít có chăng thì chỉ là một cái bánh vẽ, một sự mơ tưởng hão huyền về một tương lai tốt đẹp cho con người, một sự ru ngủ những người cả tin vào những lời đường mật của những kẻ khéo nói có tài che đậy, để lường gạt thiên hạ mà thôi.

TCN:  Tôi không hiểu LM Đỗ Xuân Quế dùng nhữ từ như “bánh vẽ”, “mơ tưởng hão huyền”, “ru ngủ những người cả tin”,”khéo nói có tài che đậy, để lường gạt” là nói về Marx hay là về chính Công giáo, hay đúng hơn, là nói về những phương thức hành nghề Linh mục của ông..  GM Khảm không hề gán ghép “Cánh chung luận” vào chủ nghĩa Mác-xít.  Chỉ là LM Quế không thể ngờ là ở trên cõi đời này lại có cái gọi là Marxist Eschatology, tưởng rằng chỉ có Công giáo mới có Eachatology.  Hơn nữa ‘Cánh Chung Luận” của Marx là một ước vọng về một tương lai tốt đẹp cho xã hội loài người.  Có ai trên cõi đời này mà không muốn sống trong một xã hội tốt đẹp mà:

- Không còn cảnh người bóc lột người

- Làm việc theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.

- Sống với nhau trong tình huynh đệ.

Căn bản ước vọng này không có gì là sai, ước vọng của con người bình thường, có thực hiện được hay không lại là chuyện khác.  Nhìn vào xã hội Thụy Điển, chúng ta thấy xã hội Thụy Điển gần giống như là xã hội “cánh chung” của Marx.  Nhìn và xã hội Mỹ ta cũng thấy “Không còn cảnh người bóc lột người”, và “Làm việc theo khả năng, nhiều khi không, nhưng nhu cầu có bao nhiêu cứ việc sài, và còn sài quá nhu cầu nữa.”

Lẽ dĩ nhiên ước vọng này còn thực tế hơn là ước vọng về một cái bánh vẽ trên thiên đường (mù) sau khi chết của Ki Tô Giáo, một thiên đường mà Giáo hoàng John Paul II đã chính thức phủ nhận sự hiện hữu trước thế giới..

LM Quế cũng như mấy trí thức như Trần Tiến Cảnh, Nguyễn Phúc Liên v…v…không biết gì về tư tưởng vô thần của Marx, theo tiếng chuông rung của Giáo hội, phê bình láo lếu Marx “vô thần”, hàm ý Marx không chấp nhận cái ông thần tào lao của Ki Tô Giáo.  “Vô thần” của Marx chỉ là chuyện nhỏ, chỉ là lập trường về Ki Tô Giáo của Marx.  Tư tưởng của Marx còn nhiều hơn thế nhiều.  Đó là tại sao:

1. “Theo kết quả thăm dò ý kiến  thính giả đài BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại”??.  [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers, nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.]  Theo bảng kết quả thì David Hume, một nhà nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô Giáo hạng 7.

 2. “Kết quả chọn vĩ nhân của Đức Quốc ( www.unserebesten.zdf.de), với con số tham dự trên 5 triệu người, Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ 10. 

Về “vô thần” của Marx, thì thần đây chỉ là thần của Ki Tô Giáo, không phải là bất cứ thần nào khác.  Vì Marx sống trong xã hội Âu Châu vào giữa thế kỷ 19, chỉ biết đến Ki Tô Giáo.  Đọc luận điệu vô thần của ông ta chúng ta thấy rõ như vậy.  Để tăng thêm kiến thức cho LM Quế cũng như các “trí thức Công giáo” luôn luôn đả kích “vô thần” sau đây là một nghiên cứu của một Linh mục về quan niệm vô thần của Mác.

 Khi Marx đưa ra nhận định “Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng” thì Marx đã nói lên một sự kiện.  Người ta thường hiểu lầm và thường xuyên tạc lời nói trên của Marx, cho rằng Marx muốn nói đến mọi tôn giáo trên thế giới.  Thực ra, Marx chỉ muốn nói đến Ki Tô Giáo, một tôn giáo mà Marx đã biết rõ vì Marx sinh ra trong truyền thống tôn giáo này.  

Nhiều nhà thần học Công giáo cũng đã nghiên cứu về ý chí chống tôn giáo của Marx, và phần sau đây là tóm tắt sự phân tích của Linh mục John Courtney Murray, một nhà Thần Học Công giáo nổi danh thuộc hiệp hội Giê-Su (S.J. = Society of Jesus), trong cuốn "Vấn nạn của Thiên Chúa" ("The Problem of God", Yale University Press, New Haven & London,  Trg. 108-113):

Thứ nhất,  chủ thuyết vô thần của Marx không xuất phát từ thế giới các tư tưởng mà từ thế giới của sự kiện - sự kiện xã hội về sự nghèo khổ của con người.  Đó là một sự bực tức vô thần để chống lại tình trạng lịch sử của con người trong thời đại kỹ nghệ.  Ở đáy sâu của ý chí vô thần mà cỗi nguồn là vấn đề xấu ác, tiềm ẩn một ý tưởng đạo đức tuyệt đối.  Theo ý tưởng này thì không những sự xấu ác không có quyền hiện hữu mà còn không thể tha thứ được.  Đây là một nguyên lý tuyệt đối mà Thiên Chúa trong Thánh Kinh không thừa nhận tính quyết định của nó trong nhiệm vụ cai quản thế giới của Thiên Chúa.  Thiên Chúa xét xử  sự xấu ác là xấu ác nhưng không coi đó như là không thể tha thứ được.  Điều này trở thành tội án của Thiên Chúa.  Theo Marx, là Thiên Chúa theo đúng nghĩa Thiên Chúa thì không được tha thứ sự xấu ác.  Vì Thiên Chúa trong Thánh Kinh khoan nhượng sự xấu ác, nên đó không phải là Thiên ChúaNhân danh Thiên Chúa Marx đã loại bỏ Thiên Chúa .  Đây là dạng tinh khiết nhất và nồng nhiệt nhất của chủ thuyết Vô Thần khi con người bác bỏ Thiên Chúa nhân danh chính đặc tính đạo đức của một Thần.

Thứ nhì, từ sự bực tức của Marx trước sự nghèo khổ của con người đã nảy ra lòng mong muốn được tự do.  Theo Marx, cái tự do chân thực của con người là khả năng thay đổi thiên nhiên, biến đổi con người và xã hội, xây dựng một thế giới mới, khai trương một lịch sử mới.  Cái khả năng này đến với con người khi con người nhận ra được những điều cần thiết trong duy vật biện chứng sử quan.  Nhận ra rồi, con người sẽ trở thành chủ nhân của lịch sử, đó là cái tự do cụ thể của con người.  Đây cũng chính là cái tự do của Thiên Chúa Sáng Tạo, quyền năng thực sự trên quá trình lịch sử.  Từ cái tự do này, con người  Cách Mạng sẽ làm cho lịch sử có ý nghĩa, nghĩa là tạo đường hướng mới để đạt tới một thế giới không có sự nghèo khổ.

Thứ ba, theo Marx thì Thiên Chúa (God) là kẻ thù tột đỉnh của tự do.  Sự hiểu biết về Thiên Chúa theo nghĩa trong Thánh Kinh là căn nguyên chính yếu để làm cho con người tự xa lìa chính mình.  Con người tin vào một Thiên Chúa toàn trí, toàn năng là rơi vào trong vòng giam hãm của một ảo tưởng.  Theo Marx, Thiên Chúa là một ảo tưởng, là sự sáng tạo của con người, là sự khao khát của những người bị áp bức.  Vì sự thoải mái của chính mình, con người bày đặt ra một thiên chúa với ảo tưởng là có một quyền năng làm chủ lịch sử,  có khả năng cứu vớt con người ra khỏi cảnh nghèo khổ, và dẫn lịch sử đến một thiên đường ở ngoài lịch sử.  Nhưng đây chỉ là dự phóng của chính con người.  Cho nên, cái dự phóng  ảo tưởng này, và niềm tin vào ảo tưởng này thật là tai hại.  Đó chính là sự xa lìa của con người vói chính mình.  Vì tin vào một Thiên Chúa, con người trở thành xa lạ với bản ngã chân thực của chính mình,  bị tê liệt trong những khả năng cần thiết  của chính mình.  Và con người bị biến thành bất lực trong nhiệm vụ lịch sử, nghĩa là biến đổi bản chất và xếp đặt lại những gánh nặng đang đè mình xuống hàng nô lệ trong những hoàn cảnh nghèo khổ đặc thù của xã hội tư bản cũng như trong xã hội phong kiến trước đây.

   Cho nên, cái gốc niềm tin về Thiên Chúa cần phải đánh bật ra khỏi con người cách mạng.  Hơn nữa, sự dẹp bỏ vai trò của Thiên Chúa phải được thực hiện một cách toàn diện, trong đời sống riêng tư cũng như trong đời sống công cộng.  Marx và những người kế thừa ông không bị lừa dối bởi cái luận cứ trống rỗng: tôn giáo là vấn đề thuần túy riêng tư.  Họ rất sáng suốt nhận ra rằng tôn giáo, ngay cả trong dạng tín ngưỡng riêng tư, cũng là vấn đề công cộng nhất trong những vấn đề công cộng.  Cho nên, trong xã hội lý tưởng của Marx, không ai được phép nói rằng, ngay cả nghĩ  trong thâm tâm, " Thiên Chúa hiện hữu , đang sống động trong hiện tại."  Đối với đảng xã hội cách mạng vô sản, tôn giáo không phải là một vấn đề riêng tư mà là vấn đề thuộc về ý hệ, do đó là một vấn đề của đảng, và do đó là một vấn đề công cộng.  Vì vậy, chống tôn giáo là trung tâm điểm của cuộc chiến ý hệ giữa tôn giáo và cộng sản.

Thứ tư, huyền thoại về " Thiên Chúa đã chết" (God is dead) là điểm chính yếu trong lý tưởng cách mạng.  Nhưng thực ra đây lại không phải là một huyền thoại.  Nói cho đúng, dưới cái dạng văn chương của huyền thoại này, tiềm ẩn một sự kiện khoa học.  Sự kiện này là con người cách mạng đã hiểu được một cách khoa học về lịch sử.  Con người đã khám phá ra ý nghĩa của lịch sử, nghĩa là chính lịch sử đã tạo ra bản chất con người chứ không phải là Thiên Chúa.  Sự khám phá này đưa tới sự kiện " Thiên Chúa đã chết".  Khi con người biết được chính mình qua lịch sử, hiểu được rằng mình chính là tạo phẩm của lịch sử chứ không phải là của Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã chết, ra khỏi lịch sử, để lại con người làm chủ lịch sử.

Thứ năm, con người cách mạng không làm gì hơn là tìm cách giải quyết sự xấu ác.  Họ hiểu rằng không có một giải pháp nào có thể chấp nhận trừ phi nó có tính cách thực tế, thực sự giải thoát con người khỏi sự xấu ác.  Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa dung dưỡng sự xấu ác và dùng nó để bào chữa cho công lý của Thiên Chúa.  Con người cách mạng cũng vậy, cho phép dùng những phương tiện xấu ác để đạt những mục đích tốt.  Chỉ khác là, những  mục đích  này có thể thực hiện được ngay trên trái đất.  Và như vậy, con người cách mạng đã làm nhiệm vụ "Thế Thiên hành đạo."

Qua mấy điểm phân tích của Linh Mục Murray về luận cứ sâu sắc chống tôn giáo của Marx, ít người, nhất là những người đã bị nhồi sọ để mê mẩn với một cuộc sống đời đời sau khi chết, những người không ý thức được vai trò đích thực của mình trong lịch sử nhân loại, có thể lãnh hội được những tư tưởng này.  Chúng ta thấy rằng những tư tưởng của Marx là để phục vụ con người ngay trong cõi đời này, không phải là phục vụ thần linh của một đời sau.  Tôn giáo mà Marx muốn chống là tôn giáo độc Thần trong các xã hội tư bản, phong kiến, cái tôn giáo đã liên kết với thế quyền và tư bản để bóc lột dân vô sản qua sách lược lừa dối, dụ dỗ, ru ngủ, hứa hẹn những điều không tưởng, cái tôn giáo trong đó giới giáo sĩ được hưởng những đặc quyền vật chất, ngự trị trên sự qụy lụy của đa số giáo dân sống trong nghèo khổ, chứ không phải là các tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo mà Marx không hiểu gì và không hề có kinh nghiệm gì về những tôn giáo này.  Thật vậy, Marx chủ trương đánh bật vị "Thần trong Thánh Kinh" ra khỏi đầu óc con người.  Vị Thần này không hề có trong đầu óc Phật tử.


2. Đaminh Phan văn Phước:

… lẽ ra gm Khảm cũng phải tôn thờ Chúa Giêsu là Vua trên các vua: King of kings! Nhưng ai dè gm mục đã ca ngợi ''vua Mác'' của gm như sau: ''Marx có một Cánh Chung Luận rất hấp dẫn, rất cụ thể!''

Tư tưởng manh nha cho một giáo hội không còn bốn Đặc Tính bất khả phân ly:

Bốn Đặc Tính ấy là: Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. Gm Khảm tôn vinh chủ nghĩa cộng sản duy vật, vô thần, cha đẻ của sự ác, coi Tôn Giáo là thuốc phiện thì thử hỏi gm có còn coi trọng kinh TIN KÍNH nữa không!!! 

TCN: Chỉ có những tín đồ thấp kém mới tôn thờ Chúa Giêsu là Vua trên các vua, chế độ phong kiến hầu như không còn mấy trên thế giới. Trên thực tế Vua Giê-su chỉ ngồi làm vì trên một thiên đường (mù), để mặc cho những đại diện của mình (Giáo hoàng) và các “Vua Giê-su thứ hai” (Linh mục) làm bậy dưới trần suốt 2000 năm nay. Lấy sự tôn thờ của mình mà bắt một Giám mục bề trên cũng phải tôn thờ vớ vẩn như mình thì thật là một chuyện hi hữu trên thế gian. Trên thực tế của lịch sử con người Cánh Chung Luận của Marx hấp dẫn và cụ thể hơn là Cánh Chung Luận hoang đường của Công giáo rất nhiều, ít ra là đối với những người có đôi chút đầu óc, không có mê mẩn về những lời trống rỗng như “Vua trên các Vua”.  Những tài liệu trong phần trên đã chứng tỏ rằng “Vua của các Vua” của ông Phan Văn Phước chẳng qua chỉ là một người Do Thái thường, lai lịch bất minh, một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả. Kinh Tin Kính là một đống mê tín hoang đường của người Do Thái trong thời bán khai.  Hãy đọc lại Kinh này xem còn có cái gì có thể còn tin được hay không.

Giáo hội của ông  Phan Văn Phước quả thật là một Giáo hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền cho nên ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000, trong một cuộc “Thánh lễ” công cộng tại "Thánh đường" Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người Chủ Chiên, Đức Giáo hoàng Gion Pôn Hai (John Paul II), đại diện cho "hội Thánh" Công Giáo La Mã gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín đồ Việt Nam, lẽ dĩ nhiên là có ông Phan Văn Phước trong này, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Công Giáo, một tôn giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”, “cao quý”, “ánh sáng của nhân loại” v…v…, và xin thế giới tha thứ cho những hành động phi Thánh phi phàm, đặc thù ông giáo, của những con cái giáo hội Công giáo "thánh thiện".

“7 núi tội ác” của giáo hội được đề cập đại cương như sau:

1. Xưng thú “tội lỗi chung”.

2. Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý””.

3. Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”.

4. Xưng thú “tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái”.

5. Xưng thú tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”.

6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”.

7. Xưng thú tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”.

Ông Phan Văn Phước chắc chưa bao giờ đọc đến lịch sử các cuộc Thánh Chiến, các Tòa án xử dị giáo, các vụ tra tấn và thiêu sống phù thủy, lịch sử các Giáo hoàng đồi bại phạm đủ thứ tội của Giáo hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, và lịch sử Công giáo xâm nhập Việt Nam.   Tôi tự hỏi, đến bao giờ giáo hội Công giáo tại Việt Nam mới xưng thú tội lỗi với dân tộc.


3. BS Nguyễn Tiến Cảnh:

Ngày Cánh Chung là ngày phán xét sau cùng của Chúa để xét sử, phân biệt giũa người lành và kẻ dữ. Người lành là những người trong cuộc sống ở trần gian đã ăn ngay ở lành, lấy tình yêu thương đối xử với nhau, không ăn gian nói dối, không hận thù oán ghét, không cướp của giết người và bóc lột nhau. Kẻ dữ là những kẻ vô đạo đức, có những hành động không giống người lành, nghĩa là họ chuyên môn ăn gian nói dỗi, có nói thành không, không thành có, dùng hận thù ganh ghét làm ân oán, cướp của giết người không nương tay, miễn sao được việc cho mình.

Chúa sẽ thưởng phúc thiên đàng cho người ngay lành và phạt xuống địa ngục khốn khổ đời đời những kẻ gian ác. Như vậy quả là công bằng và hợp lý chẳng có gì là trừu tượng như Gm Khảm đã mập mờ phê phán.

TCN:  Xin đọc lại phần phân tích Matthew 25: 31-46 về Cánh Chung Luận của Ki Tô Giáo.  Ông bác sĩ phịa láo, trong Tân Ước chẳng có chỗ nào viết như ông viết như trên.  Xét xử của Giê-su, nếu có, chỉ để cho người Do Thái tin hoặc không tin ông ta, thế thôi.  Chẳng dính dáng gì đến bất cứ dân tộc nào khác và nhất là chẳng liên quan gì đến chuyện ăn ở ngay lành hay ăn ở vô đạo đức.  Trong bài giảng, GM Khảm có nói đến quan niệm “nghiệp báo” của Phật Giáo và cho đó là “công bằng tuyệt đối”.  Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, trốn lên trời xuống biển cũng không tránh khỏi những hậu quả do chính cái nghiệp của mình tạo ra. Và chíng Giáo hoàng John Paul II cũng đã nghĩ như vậy.  Do đó, đâu cần phải đến ai phán xét trong ngày “cánh chung”.  Thời buổi này mà ông bác sĩ còn nói lên những chuyện hoang đường về thiên đàng và địa ngục trong khi chính Giáo hoàng John Paul II của ông và không thiếu những bậc lãnh đạo cao cấp trong Ki Tô Giáo đã loại bỏ sự hiện hữu của chúng từ lâu.  Thật là tội nghiệp.  Đúng là tự giam mình trong bóng tối của sự hiểu biết.

Bs Nguyễn Tiến Cảnh:

Chúa Giêsu giáng trần làm người phàm như chúng ta là để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, để có ngày cánh chung tốt cho mọi người. Ngài lấy tình yêu thương làm căn bản của đạo. Hai chữ TÌNH YÊU được chính Chúa thể hiện qua cái chết của ngài trên thập giá. “Yêu cho đến chết”. Một quá trình giảng huấn của Chúa Giêsu trong 30 năm trời [sic] chỉ tóm gọn lại hai chữ Yêu Thương. Tất cả moị người không phân biệt giàu nghèo sang hèn đều như nhau, là anh em một nhà, cùng một cha chung ở trên trời ( ) Anh em hãy yêu thương nhau như yêu thương chính mình vậy (Mat,22: 39). Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói quá sâu sắc và ý nghĩa về hai chữ Tình Yêu rồi tưởng Gm Khảm cũng đã biết.

TCN:  Ông bác sĩ này mê sảng nặng như vậy chẳng hiểu khi ông chữa bệnh mê sảng của bệnh nhân thì ông chữa ra sao.  Ông chẳng biết gì  về sự tiến bộ trí thức của nhân loại mà chính Tòa Thánh Vatican cũng không thể phủ nhận.  Giáo hoàng John Paul II và cả Giáo hoàng Benedict XVI đều đã công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết Tiến Hóa về ngườn gốc con người, và phủ nhận sự hiện hữu của thiên đường và địa ngục.  Vậy thì làm gì có chuyện “sáng thế” của Dê-hô-va của người Do Thái, làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo nên tội tổ tông của cả nhân loại.  Một người thường Do Thái với nhiều tính nết xấu xa như Giê-su mà các học giả Tây phương đã nhận định ở trên thì đòi cứu chuộc tội lỗi của nhân loại cái nỗi gì.  Ông Bs cũng chẳng buồn đọc Thánh Kinh.  Tình Yêu của Chúa chỉ là chuyện lông rùa sừng thỏ.  Một người mà lên tiếng nguyền rủa những người không tin mình là đồ rắn rết, phải đầy hỏa ngục vĩnh viễn để bị ngọn lửa vĩnh hằng thiêu đốt, coi thường cha mẹ, gọi mẹ xách mé là “Người đàn bà kia”, đòi mang những người không tin mình, coi như kẻ thù, mang ra giết ngay trước mặt mình, đòi gom những người không tin mình như gom củi rồi mang đi đốt, làm tiền lệ cho những cụ thiêu sống trong Giáo hội Công giáo “thánh thiện”, gọi người ngoài Do Thái là chó v. . v. . mà gọi là tình yêu thì chỉ có ông bác sĩ mới có thể nói lên một cách trơ trẽn như vậy.  Nói cho ông bác sĩ biết, Giê-su chết năm 33 tuổi mà quá trình giảng huấn của ông ta trong 30 năm trời thì có nghĩa là ông ta bắt đầu giảng đạo từ khi còn đái dầm và ị đùn.


4. Nguyễn Phúc Liên:

Khi đọc bài giảng của Ngợm KHẢM với những lời như sau, thì tôi thấy chính những tên Cộng sản khinh bỉ cách luồn trôn kiểu này của Ngợm Khảm:

“Marx có một Cánh Chung Luận rất hấp dẫn, rất cụ thể. Marx đã trình bầy điểm tới của lịch sử nhân loại là một xã hội Cộng sản hoàn hào trong đó:

-không còn cảnh người bóc lột người.

-mỗi người trong anh chị em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng, còn nhu cầu có bao nhiêu cứ việc sài.

-người ta sống với nhau trong tình huynh đệ. Một thiên đường tại thế.”

   Thực vậy, khi nịnh bợ, luồn trôn CSVN, thì cũng phải luồn trôn một cách thông minh. Luồn trôn kiểu này thì CSVN sẽ nói rằng đây là thằng đần độn.”

Nhưng Ngợm KHẢM đã quên Tinh thần của chính đời sống Chúa Kitô: đi loan truyền TIN MỪNG CỨU THẾ cho những người nghèo khổ, cho những người đơn sơ, cho các trẻ em. Chúa Giêsu đã quở trách những người cậy quyền như gần Chúa mà ngăn cản không cho  những người đơn sơ như trẻ em đến trực tiếp với Ngài:

“Khi ấy, người ta đem đến các con trẻ, để được Ngài đặt tay trên mình và cầu nguyện cho chúng; môn đệ quở trách những người đem đến. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước Thiên đàng thuộc về những người giống như con trẻ ấy.” (Mt. 19, 13-14)

TCN:  Văn phong của ông Tiến sĩ Kinh tế đối với GM Khảm thật là đặc biệt, phản ánh nền giáo dục đã đào tạo ông ta thành một tín đồ Công giáo thuần thành nhưng đần độn, ngu ngơ.  Ông đần độn ngu ngơ về Marx, đần độn ngu ngơ về cái gọi là “Tin Mừng Cứu Thế” cho những người nghèo khổ, một Tin Mừng mà Giám mục John Shelby Spong đã đòi phải dẹp bỏ vì không còn bất cứ một giá trị nào trong giới hiểu biết ngày nay.  Mặt khác Chúa chỉ quan tâm đến những người nghèo hay sao.  Thế còn người giầu như ông Tiến sĩ thì sao? Trẻ em là những người chưa trưởng thành về trí óc nên rất dễ tin những điều không thể tin được như Santa, Fairy tooth và những gì các bề trên nhồi sọ.  Và chúng ta đã hiểu tại sao Công giáo chỉ nhắm vào những người nghèo, trí óc như con trẻ.  Khi đầu óc con trẻ đã bị nhiễm độc Công giáo rồi, hình ảnh hỏa ngục được nhấn mạnh, thường xuyên nhét vào đầu đứa trẻ, thì lớn lên nó sẽ luôn luôn sống trong sợ hãi và nghĩ rằng để tránh hỏa ngục phải luôn luôn yêu Chúa hết sức hết linh hồn v…v..  Công giáo nói riêng, Ki tô giáo nói chung, được xây dựng trên sự sợ hãi của tín đồ.


5. Vũ Ngọc Tuyến, Trần Mọng Oanh:

Một vị am hiểu về thần học, sau khi giải nghĩa Cánh Chung của Giáo Hội, đã kết luận: “Cha K. so sánh cái mục đích của Karl Marx/hạnh phúc cho mọi tầng lớp dân chúng (vô thần, chỉ đặt trọng tâm vào đời sống trên trái đất) chứ không có tâm linh và đời sống vĩnh cửu sau này. Như thế là ông cộng sản hóa môn thần học Cánh Chung của Giáo Hội. Một thứ so sánh không “có học” chút nào”

TCN: Với những tài liệu đã trình bày ở trên thì cái nhà thần học này là thần học dỏm.  Giám mục Khảm chỉ trình bày “cánh chung luận” thế tục của Marx, đâu có so sánh với “cánh chung luận” thần linh hoang đường của Công giáo.  Chúng ta chỉ có một đời sống trên cõi đời và chính Giáo hoàng Benedict XVI cũng đã nói chẳng có ai muốn về với Chúa sớm.  Vậy thì đặt trọng tâm vào hạnh phúc của con người trên cõi đời này chẳng hay hơn là mơ tưởng về một đời sống vĩnh cửu về sau, một viễn tượng không chắc chắn và hoàn toàn chưa có bất cứ một bằng chứng nào để tin.  Đức tin Công Giáo là tin chắc vào cái không có thật.


6. Duyên Lãng Hà Tiến Nhất:

Ngày lễ kính Chúa Kitô Vua (Christ the King), giám mục Khảm không giảng theo nội dung của ngày lễ, mà lại lái sang vấn đề cánh chung, còn là cánh chung của Karl Marx mới chết, không lạc đề thì còn là gì nữa. Nói thế thật ra cũng chưa đúng hẳn, vì Phúc Âm ngày lễ Chúa Kitô Vua theo thánh sử Mathew có đề cập đến vấn đề Cánh Chung. Nhưng cánh chung ở đây là ngày tận thế, Chúa quang lâm ngự xuống phán xét nhân loại, người lành cũng như kẻ dữ. Cuối cùng Thánh Sử kết luận: Thế là họ (kẻ dữ) ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời. Đấy là giáo lý và là học thuyết về Cánh Chung của người công giáo.   Ít nữa trong ngày lễ này, người tông đồ của Chúa như giám mục Khảm phải giảng thuyết làm sao chứng minh cho giáo dân thấy, và để thuyết phục những người chưa tin Chúa, nhất là bọn cộng sản vô thần chung quanh ông rằng, Chúa Giêsu là một vị đế vương. Ngài xứng đáng là vua thật. Hơn nữa còn là một minh quân, một vị hoàng đế rất thương yêu dân, biết lo cho dân, nhưng vấn đề thưởng phạt của Ngài cũng rất mực công bình, không thiên vị ai bao giờ. Con người chết đi bị Ngài xét xử để được luận thưởng hoặc phạt theo những việc làm của họ khi còn tại thế. Đó là sự cánh chung của người công giáo.

Một câu hỏi đặt ra là, thế thì Karl Marx xướng xuất ra thuyết duy vật vô thần không phải là vô lý sao? Không đâu, lý thuyết Marx đẻ ra chỉ là để triệt hạ các tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo, sau đó xây dựng một thế giới mới không còn có thần linh mà chỉ tôn thờ tiền tài, danh vọng, và dục vọng mà thôi.

TCN: Bao giờ thì Chúa quang lâm.  Đã 2000 năm nay rồi đấy.   Từ hết tiên đoán này đến tiên đoán khác về ngày quang lâm của Chúa, nhưng có ai thấy Chúa đâu.  Làm sao mà thấy cho được. Người ta đã tìm thấy bộ xương của Chúa trong một tiểu quách ở Jerusalem.

Giáo lý về “cánh chung” là giáo lý ác ôn nhất của Công giáo.  Thay vì giáo dục cải tạo con người để họ tin vào Chúa thì Chúa lại đầy họ xuống hỏa ngục.  Mỹ có phong trào đòi bãi bỏ tử hình, và nhiều nước khác đã bãi bỏ, vậy là nhân đạo và văn minh hơn Chúa rất nhiều. Cái ông có tên là Tiến Nhất hiểu biết về Công giáo này lại dốt về tôn giáo Đông phương, mang râu cụ Lão cắm vào cầm cụ Khổng khi viết: Khổng Giáo chẳng hạn thì Cánh Chung Luận của đạo Khổng là gì. Khổng Tử đã chẳng nói: Đạo khả đạo phi thường đạo. [sic]

Đúng là ông Duyên Lãng Hà Tiến Nhất chỉ nói lên toàn những điều mê sảng, những lời huênh hoang về Chúa của một kẻ nghiện đạo Chúa nặng.  Một danh nhân đã nói:  Muốn cho một người trở thành vô thần, hãy bảo họ đọc kỹ cuốn Thánh Kinh. Không phải chỉ nghe mấy người truyền đạo giảng láo, ca tụng huênh hoang Chúa của họ.  Những tài liệu trong phần trên đã chứng tỏ bản chất thực sự của Chúa là như thế nào.  Chẳng có gì lố bịch hơn là những lời như: Chúa Giêsu là một vị đế vương. Ngài xứng đáng là vua thật v…v…. Tôi trở thành người vô thần cũng vì vậy, vì đã đọc kỹ thánh kinh.

Xin nhắc lại, Marx không biết gì về các tôn giáo khác ngoài các tôn giáo thờ thần như Do Thái, Hồi, và Ki Tô Giáo.


7. Nguyễn An Quý

Cũng toàn là những lời mê sảng và kém hiểu biết như mấy người trên, thí dụ như:

Trên thực tế, ông Marx làm gì có tham vọng đưa ra cái gọi là “cánh chung luận” như GM Khảm tưởng tưọng và bốc thơm cho ông ta. Ông chỉ làm công việc của kẻ chủ trương vô thần đi đánh lừa nhân loại để thu hút quyền lực theo lối cai trị chuyên chính vô sản mà thôi.

Cả thế giới và ngay cả những người cộng sản cũng đều thừa nhận chủ nghĩa cộng sản của ông Marx là chủ nghĩa vô thần chứ không phải có nhiều người nghĩ gì ráo trọi thưa Giám Mục.

Cộng sản bảo con người từ vượn, từ khỉ mà ra, và đã là vô thần thì chẳng có cánh chung cánh chơ gì cả.

Tin mừng đã giới thiệu quang cảnh của ngày cánh chung thật hết sức trang trọng và nghiêm chỉnh khi Chúa ra tay phân chia ra từng loại: chiên đứng bên phải, dê đứng bên trái.

Xin xác quyết một lần nữa, chủ thuyết Karl Marx là chủ thuyết vô thần, chống lại Thiên Chúa, chống lại mọi tôn giáo và là chủ thuyết lừa bịp nhân loại chứ không phải có cái “cánh chung luận” hấp dẫn gì ráo trọi.

Cho nên không đáng phải phê bình thêm.

 

Vài Lời Kết

Có một điều rất đáng phàn nàn trong thời đại ngày nay, đó là những người Việt Nam theo đạo Giê-su nói chung , từ các chủ chăn, trí thức cho tới các tín đồ tạm gọi là trí thức, viết về tôn giáo của mình mà thực sự lại không biết gì về chính tôn giáo của mình. Họ không biết gì ngoài những niềm tin đã ăn sâu trong tiềm thức của họ, và những phản ứng của họ trước những gì không hợp với niềm tin của họ thường là những phản ứng nặng về cảm tính và cảm xúc cá nhân, bất kể đến sự thật, bất kể đền lý lẽ.  Đúng như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định: phần lớn tín đồ Ki-Tô có một điểm mù tôn giáo, và kiến thức về tôn giáo của họ thích hợp với sự hiểu biết trong thế kỷ 17 hơn. Nhận xét trước đây của tôi: Công giáo Tây phương đã tỉnh, Công giáo Việt Nam vẫn còn mê, quả thật không sai.  Điều này chúng ta thấy rõ trong những luận điệu phản đối GM Nguyễn Văn Khảm của một số trí thức Công giáo Việt Nam.  Trong đạo, lẽ dĩ nhiên không phải là không có người hiểu biết, nhưng những người này thì lại không thể viết ra điều gì để quảng cáo tốt đẹp cho tôn giáo của mình mà không thấy ngượng với chính sự hiểu biết của mình.  Không có mấy người có đủ can đảm để viết ra những sự thật về đạo của mình như Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Quang v…v… Vì vẫn còn mê cho nên trong thời buổi này còn tin ở “Cánh Chung Luận” của Công giáo, còn mang khẩu hiệu “Thiên Chúa là Tình Yêu” để rao giảng.  Nhưng đây chính là chủ trương của Giáo hội, tiếp tục nuôi dưỡng những điều không thể tin được trong đám tín đồ.

Thật vậy, ngay từ năm 2005, Giáo hoàng Benedict XVI đã tung ra Thông Điệp Deus Caritas Est [God is Love , Gót là Tình Yêu], kêu gọi Âu Châu trở lại những giá trị căn bản của Ki Tô Giáo, để đối phó với những phong trào giải hoặc Ki Tô Giáo và thế tục càng ngày càng gia tăng trong nhiều quốc gia phát triển [Benedict XVI has emphasized what he sees as a need for Europe to return to fundamental Christian values in response to increasing de-Christianisation and secularisation in many developed countries.]  Nhưng ông ta chẳng có phát kiến gì mới, quanh đi quẩn lại chỉ nhắc lại những lời giảng đạo đã lỗi thời, diễn giải thánh kinh rất tùy tiện, và nhấn mạnh vào đức tin và hiệu lực cầu nguyện của tín đồ, cùng đề cao mặt từ thiện của Công giáo, làm như chỉ có Công giáo mới làm việc từ thiện.  Chúng ta không cần nói đến thực chất công cuộc từ thiện của Công giáo.

Đọc Thông Điệp Deus Caritas Est [God is Love , Gót là Tình Yêu] của Benedict XVI chúng ta thấy rõ như vậy.  Thời buổi này mà ông ta còn viết lên được như sau: “Là người Ki-tô không phải là là một sự chọn lựa đạo đức hay là một ý tưởng cao quý, mà là bất ngờ gặp một biến cố, một con người, cho đời sống của ta một chân trời mới và một hướng đi quyết định.  Phúc âm của thánh John mô tả biến cố đó trong những lời như sau: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” (3: 16).  Lẽ dĩ nhiên ông ta không nhắc đến câu tiếp theo, John 3: 18: Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thiên Chúa” [Being Christian is not the result of an ethical choice or a lofty idea, but the encounter with an event, a person, which gives life a new horizon and a decisive direction. Saint John's Gospel describes that event in these words: “God so loved the world that he gave his only Son, that whoever believes in him should ... have eternal life” (3:16)]  Giáo hội không dạy tín đồ “hãy suy nghĩ” (think) mà chỉ dạy tín đồ “hãy tin” (believe), coi đức tin (faith) như là đức tính quý báu nhất trên đời, vì nhờ nó mà có cuộc sống đời đời.

Nhưng câu John 3: 16: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su thì đã bị đầy đọa rồi, vì người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”, theo tôi, là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước vì những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.  Như được viết rõ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su và nhiều người cùng thời cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại còn cho là Giê-su đầu óc bất bình thường (out of his mind), cho nên  chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn?  Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này.

Điều hiển nhiên là, trước khi Giê-su sinh ra đời thì nhân loại đã trải qua bao nhiêu thế hệ trong nhiều ngàn năm, trong đó có các thế hệ của tổ tiên, ông bà Giê-su.  Ai biết đến Giê-su? Ai tin Giê-su?  Vậy tất cả cũng đều bị Giê-su luận phạt hay sao?  Trước năm 1533, người Việt Nam không ai nghe và biết đến tên Giê-su, hiển nhiên không ai có thể tin Giê-su, vậy tất cả dân tộc Việt Nam trong mấy ngàn năm trước năm 1533 cũng bị luận phạt hay sao?  Những người Công giáo Việt Nam có nghĩ đến các điều hoàn toàn vô nghĩa như trên hay không? Cái tín điều phi thực tế, phi nhân tính, phi lôgic như vậy mà giáo hoàng vẫn nêu lên được trong thời đại này thì chúng ta thấy rõ, Công giáo không quan tâm đến sự mở mang hiểu biết của tín đồ, mà cố duy trì họ trong cảnh mê tín ngu muội. Điều đáng nói hơn nữa là các tín đồ vẫn còn tin theo cái tín lý quái gở đó với một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ nghĩ đến đời sống đời đời sau khi chết của riêng mình, mà không hề nghĩ đến bản chất ác độc, phi lý, phản khoa học, hoang đường, bất khả áp dụng, của cái gọi là “Cánh Chung Luận” của Công giáo: Chúa Giê-su phán xét kẻ sống người chết trong ngày tận thế. Không những chỉ ích kỷ mà họ còn để lộ một tinh thần yếu kém, sợ sệt thần linh trong thời đại tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay mà quan niệm thần linh khi xưa đã không còn chỗ đứng.  Trong thời đại mà các thần bình vôi, thần cây đa, thần hà bá v..v.. đã không còn ý nghĩa, tại sao họ vẫn còn có thể tin vào một “Thiên Chúa” của người Do Thái cách đây 2000 năm mà bản chất cũng không khác gì những “Thiên Chúa” trong dân gian trên khắp thế giới, nếu không muốn nói là chiếm giải quán quân về tâm địa độc ác.

Giáo hoàng và các bậc chăn chiên cùng các tín đồ miệng luôn luôn nói “Thiên Chúa là Tình Yêu”, nhưng đọc Cựu Ước cũng như Tân Ước chúng ta thấy Tình Yêu đó ở đâu. Hãy chỉ cho tôi coi tình yêu của Thiên Chúa đặt nơi đâu trên thế giới.  Nơi một đứa bé hồng hào bụ bẫm hay nơi một quái thai.  Nơi những người giầu có ăn uống thừa thãi hay nơi 40000 đứa trẻ dưới 5 tuổi chết mỗi ngày vì thiếu ăn hay thiếu dinh dưỡng.  Nơi hoàng hôn, “sắc trời đỏ tựa giáng pha”  hay nơi Tsunami.  Người Công giáo nhìn đời bằng một mắt và nhắm một mắt, và từ con mắt mở nhưng lèm nhèm này đã hết lời ca tụng Thiên Chúa tuy rằng họ chẳng biết Thiên Chúa là cái gì.  Nghe giáo hội dạy “Thiên Chúa là Tình Yêu” thì cứ nhắc lại như con vẹt.  Quảng cáo yêu người hàng xóm lân cận nhưng nếu người hàng xóm đó là một người Hồi Giáo hay là TCN hay NMQ thì có yêu hay không, hay tìm cách giết để vinh danh Thiên Chúa trên trời?  Lịch sử Công giáo, nhân danh “Thiên Chúa là Tình Yêu” đã thể hiện rõ nhất trong những cuộc Thánh Chiến, những Tòa Án xử dị giáo, nhưng cuộc tra tấn phù thủy và người lạc đạo rồi mang đi thiêu sống, số nạn nhân vô tội lên đến hàng trăm triệu người.  Có Tình Yêu nào của con người mà lại như Tình Yêu của Thiên Chúa như vậy không?

Tôi không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo. Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào.

Tôi không chống cá nhân những người theo Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành. Đối với tôi, không có lý do gì để chống họ, nhất là chỉ vì họ đi theo một tôn giáo hợp với sở thích của họ. Tuy nhiên, trong thời đại này, những sự thực lịch sử cũng như giáo lý của tôn giáo, bất kể là tôn giáo nào, cần phải được trình bày rõ ràng để cho người dân biết đâu là sự thực. Đưa ra những sự thật về tôn giáo để nhận rõ đâu là nguồn gốc khổ đau cũng như đâu là nguồn gốc hạnh phúc mà tôn giáo đã mang đến cho nhân loại, ít ra là trong vài ngàn năm qua, tôi cho là một điều cần thiết, nhất là đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam. ▪

 

Trần Chung Ngọc

Graylake, Illinois

Ngày 31 tháng 12, 2011--------

Trong dịp Lễ Giáng Sinh, viết để kỷ niệm Chúa Giê-su sinh ra lúc 23 giờ 59 phút 56.7466... giây đêm ngày 31 tháng 12.

Xin giải thích:

Nếu chúng ta biểu diễn tuổi của vũ trụ, khoảng 15 tỷ năm, được thu gọn lại thành một năm, có  khoảng 365 ngày (con số gần đúng nhất là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 45.96768...giây), mỗi ngày có 24 giờ, mỗi giờ có 60 phút, và mỗi phút 60 giây, thì Gót của Ki-tô giáo, theo Thánh Kinh, mới chỉ “sáng tạo ra trái đất phẳng và dẹt, có 4 góc” cách đây khoảng 6000 năm, nghĩa là lúc 23 giờ 59 phút 48.3866 giây đêm ngày 31 tháng 12, và Giê-su sinh ra lúc 23 giờ 59 phút 56.7466... giây đêm ngày 31 tháng 12. 

Trần Chung Ngọc:

Chúa Giê-su đã mạc khải cho tôi phải bình luận như trên.
Ngươi là ai mà dám nghi ngờ sự thông thái của Ông Ta?
[Jesus has revealed to me that I have to write as above.
Who are you to question His wisdom?]