Tuyển Tập II: NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - 12 bài biện chính

Bùi Kha

http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha31h.php

29-Aug-2016

Bài 8

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, NHÌN LẠI TƯ TƯỞNG

Bùi Kha trao đổi với Tiến sĩ Lê Thị Lan

Chiều nay tôi đọc bài “Nhìn lại những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ: Lạc hậu hay đổi mới?”. Tác giả là tiến sĩ Lê Thị Lan trên trang nhà Văn Hóa Nghệ An, và bài thứ hai; Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) – một bi kịch lạc quan”, Trần Hữu Tá, trên mạng boxite. Tôi phản biện bài của Ts Lê Thị Lan là chính, còn bài ông Trần Hữu Tá có nhiều chỗ giống bài của Ts Lan, nên tôi thấy không cần thiết.

Hai tác giả khoa bảng này cũng đi theo lối mòn xưa cũ; bị cuốn hút vào những cụm từ canh tân, đổi mới, thực dụng, khai hoang,… và trích chỗ này một đoạn chỗ khác một câu rồi ghép lại với nhau mà ca tụng, chứ không để ý xem ông Nguyễn Trường Tộ viết như thế với hậu ý gì, và nói như kia, đâu là bằng chứng?    

Bà Lê Thị Lan [Tiến sĩ, Phó trưởng phòng Triết học Việt Nam, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Nguồn: Trang nhà Lam Hồng]. Bà viết một vấn để sử nhưng thiếu sử liệu, nên ca tụng quá sai lầm như sau:

“… đã 22 năm trôi qua kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới. Đó là một thời gian đủ dài để nhìn nhận lại các giá trị và hạn chế của tư tưởng cải cách (chữ đậm, BK muốn chú ý) Nguyễn Trường Tộ trong sự vận động khách quan của lịch sử”.

- Bùi Kha: Mời tiến sĩ Lê Thị Lan theo dõi một số sử liệu dưới đây. Để cụ thể tôi sẽ trình bày tư duy cải cách (nếu có) của Nguyễn Trường Tộ dưới góc nhìn mang tính toán học bằng phương trình 3 chữ T:

TT = T1  + T2 + T3 (TT: thành tựu, T1: Tâm, T2: Trí và T3: Tiền (hoặc phương tiện).

Một người muốn canh tân hoặc cải cách phải có tình yêu đối với tổ quốc (T1). Phải có trí tuệ (T2). Và hoàn cảnh cũng như phương tiện để vận hành việc canh tân (T3). Dưới đây là một số sử liệu để xem ông Nguyễn Trường Tộ có ba tiêu chí ấy không?

A. T1 (Tâm, Tình yêu tổ quốc):

Ông Nguyễn Trường Tộ có 6 hành động không thể chấp nhận sau đây:

1. Áp lực để Pháp đánh Huế:

Nguyễn Trường Tộ không đi lính để đánh giặc cứu nước, trái lại ông đến Đà Nẳng để đón quân Pháp và cùng làm áp lực để Pháp đánh Huế. Sử liệu:

Ngày ‘16/10/1858), tàu Pháp đến đảo Nhãn Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón Giám mục Gauthier và Linh mục Croc, nhưng “hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi”. Khi tàu Pháp trở về Trà Sơn, Đà nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi” Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859, (Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”, TP HCM, 1988, tr. 22).

2. Cộng tác với Pháp.

Sử liệu :

“…đầu năm 1861 để cùng với Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài gòn (TBC, Sđd, tr. 22).

3. Lừa dối trong việc mở trường kỹ thuật. Sử liệu:

Phỉnh gạt triều đình việc mở trường kỹ thuật ở Huế năm 1868. Khai gian khả năng của 4 thầy giáo mời từ Pháp về. Trong đó có hai Linh mục trình độ mới học hết chủng viện, chứ không có năng khiếu kỹ thuật, một ông gọi là Bác sĩ nhưng bị lãng tai, nghe không rõ làm sao dạy học được. Còn ông Ca Xanh (?) đòi lương quá cao không thể thuê mướn (TBC, sđd, tr.49-50).

4. Bày mưu mở viện dục anh và trại tế bần để tạo một cuộc tổng nổi dậy toàn cõi Việt Nam. Sử liệu (Xem Bùi Kha, Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân, nhà XB Văn Học, 30.3.2011, tr.149-155).*

5. Ngày 7.4.1868 viết thư ngăn cản triều đình đi Pháp đòi trả 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ. Sử liệu:

Tình hình Âu châu lúc này rất bất lợi, không cho phép Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh mới. Đô đốc La Grandière nhận được lệnh phải từ bỏ mọi dự định chiếm đóng 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ.

Tân Bộ Trưởng Hàng Hải, Rigault de Genouilly, luôn luôn khuyến cáo La Grandière phải tránh tất cả những gì có thể làm cho Triều đình Huế lo ngại. Ngày 10/6/1867, ông còn viết cho La Grandière là: Mặc dầu tình trạng (chính trị Âu châu) bớt căng thẳng hơn, nhưng cho tới khi có lệnh mới, ông đừng nghĩ tới chuyện biểu dương lực lượng đối với 3 tỉnh. Cho nên, phản ứng đầu tiên của Rigault de Genouilly khi được tin quân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây là bất mãn đối với La Grandière... Điều quan trọng đối với ông (La Grandière, BK) là làm sao khiến triều đình Huế chấp nhận sự việc đã xảy ra (đã chiếm 3 tỉnh miền Tây, BK); ngày 30/ 6/1867, ông gởi thư cho vua Tự Đức để đề nghị thương lượng, nhưng vua Tự Đức bằng một văn thư lời lẽ cứng rắn, trách cứ La Grandière đã lạm dụng sức mạnh mà xâm phạm quyền lợi của chính phủ Việt Nam... Nhà vua còn tỏ ý là sẽ phái sứ giả sang Paris để thương lượng thẳng với chính phủ Pháp” ”(Nguyễn Thế Anh, “Việt Nam thời Pháp đô hộ”. Lữa thiêng Xb, Sài gòn, tr. 54, 58-60).

Vua Tự Đức nhất quyết không chịu thương thuyết với La Grandière. Nếu phái đoàn Việt Nam đi Pháp thì La Grandière có thể bị thượng cấp khiển trách hoặc bãi nhiệm và Việt Nam có thể đã lấy lại được 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Sự cố này có thể là lý do để Nguyễn Trường Tộ viết thư khuyên triều đình “Bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp” vào năm 1868.

6. Khắng khít với một tên tình báo: Tiến sĩ Lê Thị Lan (và ông Trần Hữu Tá) có thể vẫn chưa biết ông Nguyễn Trường Tộ giao du chặt chẽ với một Giám mục tình báo Pháp đến gần 20 năm. Nên trong bài, ông Trần Hữu Tá mừng rỡ ca tụng “Do những mối quan hệ tốt đẹp tình cờ, ông được giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và các môn khoa học phổ thông”. Ông Tá hiểu nhầm quá lớn!

Mời ông Trần Hữu Tá và tiến sĩ Lê Thị Lan xem SÁU sử liệu mật dưới đây về ông Giám mục tình báo này :

Sau khi hiệp ước 1862 ký giữa Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha, Triều đình vua Tự Đức kiếm cách chuộc lại 3 tỉnh đã mất. Trong chiều hướng này, một người Công giáo cuồng nhiệt là Trung Tá hải quân Aubaret vận động, được bộ ngoại giao Pháp và vua Napoléon III đồng ý. Vì thế, một hiệp ước mới (thế hiệp ước cũ 1862) được bộ Ngoại giao và bộ Hải quân soạn thảo theo quan điểm của vua Napoléon III, và được ký tại Huế ngày 15/01/1864.

Mặc dù 2 bài trên đây đã dẫn chứng, nhưng để tiện dụng, tôi (Bùi Kha) vẫn ghi lại sáu chứng cứ lịch sử cho thấy ông Gauthier là một tên tình báo hạng nặng:

6.1. Gauthier theo phe Aubaret :

Thư của Giám mục Lefèbre viết cho Linh mục Pernot, cho chúng ta thấy:

 “Hiệp ước Aubaret bị dìm, đó không phải là điều rủi ro. Chỉ có Giám mục Sohier và Giám mục Gauthier là tán đồng hiệp ước, nhưng đứng trên quan điểm chính trị thực sự và quyền lợi của hội truyền giáo chúng ta, việc trả lại 3 tỉnh để lấy tiền thật là một sự ngu ngốc kỳ lạ ...Chắc Cha đã gặp Giám mục Sohier, người theo phe Aubaret, nhưng bất đồng ý kiến với tôi. Ông Aubaret đã trở lại Xiêm, hết sức xấu hổ về việc thất bại ngoại giao của ông, sự thất bại tôi đã cho ông thấy trước, khi ông ghé Sài Gòn”. Cũng nên nhớ rằng, Aubaret muốn chiếm Đại Nam theo cách khác chứ không phải ông ta có lòng tốt gì.

Nguyên văn tiếng Pháp (Xem Bùi Kha “Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân”, nhà xuất bản Văn học 30.3.2011, tr. 138).

GM Jean Denis Gauthier

Giám Mục tình báo Jean Denis Gauthier

6.2. Gauthier được mời họp mật:

Năm 1872, tàu Bouragne chở Trung tá Hải quân Senez ra Bắc để dò xét tin tức cho một cuộc chiếm cứ vùng này. Trong thư báo cáo của Hạm trưởng Senez gửi cho Đô đốc Dupré cho thấy có mời Giám mục Gauthier họp mật với Senez:

“... Vừa lên bờ, tôi gởi ngay thư cấp tốc cho Giám mục Gauthier cách đó lối mười cây số và hẹn gặp ở trong làng. Chúng tôi sống suốt ngày giữa đám dân Công giáo, họ rất niềm nở với chúng tôi... Lúc 4 giờ, chúng tôi thấy một nhà truyền giáo, Cha Frichot đến nói chuyện với chúng tôi vì Giám mục (Gauthier, Bùi Kha) đi vắng…”

Nguyên văn tiếng Pháp (Bùi Kha, sđd, tr.140-141)

6.3. Gauthier viết:Triều đình Huế chỉ nghe tiếng nói của đại bác mà thôi”.

Trong thư đề ngày 12/02/1873 và ngày 19/02/1873 gửi cho Đô đốc Dupré, Giám mục Gauthier viết:

Cuộc chiến này làm hao mòn tài chánh và giết hại những tinh hoa của dân tộc (dĩ nhiên là dân tộc Pháp, BK). Giám mục Gauthier viết như vậy và còn than phiền về những việc sách nhiễu con chiên. Theo tôi, (Giám mục Gauthier) khi nói đến Triều đình Huế và quan lại. Các người đó chỉ có nghe theo tiếng nói của đại bác, còn thì điếc hẳn không nghe gì khác”. Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 141-142).

6.4. Gauthier muốn có một chính phủ Công giáo tại Bắc Kỳ.

“…Bằng những sự phóng đại đó, các kẻ truyền đạo cố lôi cuốn các viên chỉ huy quân sự Pháp vào các cuộc chinh chiến và họ tin rằng một khi sự xung đột tái diễn thì nhất định Pháp sẽ mắc kẹt trong guồng máy chiến tranh.

Tôi tin rằng, Giám mục Gauthier và Giám mục Puginier, nhất là ông thứ nhì, không chịu nổi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: Giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Công giáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ...Suốt ngày, chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó”. ”

Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 144):

6. 5. Tại sao giám mục Gauthier muốn có một chính phủ Ki Tô tại Bắc Kỳ?

Trả lời: “Tôi xác nhận rằng, khi nào Bắc Kỳ trở thành Công giáo, thì nó cũng trở thành một nước Pháp nhỏ, hoàn toàn giống như các đảo Philippines đã thành một nước Tây Ban Nha nhỏ… Giám mục Puginier viết tiếp:

Nếu chính phủ hiểu rõ quyền lợi thực sự của nước Pháp mà ủng hộ chúng … mỗi năm chúng ta có thể thu về cho nước Pháp khoảng 20.000 người bạn bằng cách cải đạo, … hy vọng rằng, sau 30 năm, gần hết xứ Bắc Kỳ đều trở thành Công giáo, nghĩa là trở thành người Pháp hết”.

Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 144).

6.6. Giám mục Gauthier, người cuồng nhiệt hạng nhì, Giám mục Puginier hạng nhất.

 Giám mục Puginier

Giám mục Puginier

Biến Bắc Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ sau khi đã đổi đạo dân Bắc, chủ trương này cũng được Đô đốc Dupré chỉ trích là quá nguy hiểm. Trong thư gửi cho Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa ngày 30/12/1874 cho thấy điều đó :

Dupré viết : “Những lần tôi nói chuyện với Giám mục Puginier. Trước khi ông rời Sài Gòn, lòng tôi vẫn không thay đổi: Vì thế, tôi vẫn giữ nguyên các nhận xét mà tôi đã trình bày với ngài, dù vị Giám mục này đã khổ công khuyến cáo rằng, hãy bỏ cái chính nghĩa đã tạo cho dân chúng (An Nam) có cảm tình với nước Pháp và theo con đường mà ông Garnier, một anh hùng bị kết án, đã vạch sẵn, nhưng người ta đã không biết những khó khăn của tình thế, do viên sĩ quan khốn nạn này để lại mà chúng ta phải gánh chịu”.

Giám mục Gauthier cũng không kém: “Chắc chắn tôi sẽ không làm vừa lòng hoàn toàn Giám mục Gauthier được, ông ta quá hăng say và trong nhiều trường hợp tôi nhận thấy thật sự quá nguy hiểm nếu nhắm mắt nghe lời của ông giám mục này”.

Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 146-147.

Qua sáu dẫn chứng nêu trên, chúng ta có thể quả quyết rằng, “Cho tôi biết bạn thường lân la với ai, tôisẽ bảo bạn thuộc loại người nào” (Dis-moi qui tu fréquentes, je te dirai qui tu es). Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier là hai người Pháp tay trong. Đưa ra miếng mồi canh tân, đổi mới, thực dụng để dễ che đậy âm mưu dối gạt triều đình và làm lợi cho Pháp. Mời tiến sĩ Lê Thị Lan và ông Trần Hữu Tá tiếp tục nhận diện thêm ông Nguyễn Trường Tộ:

B. T2 (Trí tuệ, Kiến thức).

Một người ít trí tuệ, nghèo kiến thức thì khó làm nên nổi việc gì.

Nguyễn Trường Tộ tự khoe về kiến thức của mình như sau:

Về việc học không môn nào tôi không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ”(Di thảo số 3, Bài trần tình, TBC, tr. 120).

Tự khoe kiến thức như thế, và một số người còn ca tụng ông là “Trạng Tộ”. Nếu “thông minh cỡ ấy”, tại sao ông thân cận với một tên tình báo người Pháp cao cấp (Gauthier) gần 20 năm mà không biết? Nếu biết mà không tố cáo thì Nguyễn Trường Tộ yêu nước nào mà lạ đến thế?

Nguyễn Trường Tộ dùng mớ kiến thức đen tối của mình để cứu nguy tình hình vô cùng thảm não của quân Pháp. Thế mà tiến sĩ Lê Thị Lan cũng ca tụng:

“…chủ trương, đổi đất lấy hoà bình“của Nguyễn Trường Tộ nhằm tận dụng cơ hội canh tân đất nước là có cơ sở”.

Mời bà xem sử liệu dưới đây để biết “HÒA” của Nguyễn Trường Tộ nhằm mục đích gì, có cơ sở chỗ nào? Và đổi từ 3 tỉnh, đến 6 tỉnh, cuối cùng đổi hết cả nước! Thế mà tiến sĩ lại không biết! Mời bà xem:

Trong Thiên hạ đại thế luận và một số bài chiêu dụ khác, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình và quan dân Việt Nam nên hòa, nên hợp tác với Pháp, nên cho lính nghĩ ngơi để Pháp giữ bờ cõi cho mình. Trong thực tế tình hình quân Pháp thê thảm như sau:

Bản báo cáo của tướng Bonard đề ngày 18/12/1862 cho thấy:

Các tàu tôi hiện có, trừ hai chiếc Forbin và Cosmao, đều không thể ra khơi... Đoàn quân viễn chinh bị bệnh tật, chết chóc, sự giảm quân làm cho yếu kém, đang bị sử dụng quá sức: Tôi hoàn toàn bị tê liệt về các phương tiện hành động; tàu bè thì thiếu và bị hư... Tình trạng thảm hại đó nếu không sửa chữa sẽ đưa thẳng chúng ta đến một tai họa không xa! Tôi thấy có bổn phận phải báo cho ngài biết... Thật là đau đớn, sau bao cố gắng quá sức con người mà tôi đã làm từ 15 tháng nay, bây giờ thì mọi thứ đều phải xem xét lại, do sự bỏ rơi các vấn đề của Nam Kỳ... các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi... (Thư khố Bộ Ngoại giao châu Á, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, tr. 221-224. Dẫn theo CHT, tr. 170).

Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 50-59).

Trước tình hình nguy ngập ấy, ngày 8-4-1859 một chỉ thị khác của bộ Hải  Quân và Thuộc Địa gởi cho Đô đốc R. de Genouilly như sau :

“…Vì thế Hoàng Thượng tin cậy ở kinh nghiệm và sự sáng suốt của Ông trong mọi quyết định, với lực lượng dưới quyền Ông điều khiển, có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên Vương quốc An Nam không; hay chỉ nên cưỡng bức Chính phủ họ, nhờ vào việc chiếm đóng Đà nẵng và nhiều cứ điểm khác mà Ông đã chiếm hay sẽ chiếm được. Cùng với việc phong tỏa một hay nhiều cảng ở Nam Kỳ để đi đến sự ký kết một hiệp ước trên nền tảng kế hoạch 25-11-1857; hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các vị trí mà chúng ta chiếm đóng và từ bỏ hẳn mọi mưu toan rõ ràng ngoài tầm các phương tiện hoạt động mà Ông có”.

Nguyên văn tiếng Pháp (BK, sđd, tr. 52-53).

Nếu ông Nguyễn Trường Tộ, quả thực không hề biết đến tình hình nguy ngập của quân Pháp thì ông là «Trạng Tộ» như thế nào ? Cố vấn kiểu này cần xét xử hay nên ca tụng ?

Về chỉnh trang võ bị, ông không có một sáng kiến nào mà chỉ cóp nhặt trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp. Sử liệu:  

Tám điều cần phải làm gấp (trong Tế cấp bát điều, Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”. TP HCM, 1988, tr. 222). Điều thứ nhất: “Xin gấp rút việc sửa đổi võ bị”.

Đọc cuốn Tôn Ngô binh pháp, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ lấy ý trong cuốn sách này nhưng không xuất xứ (đạo văn và đạo ý). Đã vậy, ý của ông so ra còn kém xa. Sau đây là một số dẫn chứng.

a. Nguyễn Trường Tộ viết: “Cái khó của môn học này là người học võ học các sách binh thư đồ trận. Học sách xong phải thể nghiệm tập tành. Học cái gì tập luyện cái đó. Óc sáng suốt, cái nhìn nhanh như thần mới nắm được cốt cách mau lẹ...”.

Tôn Ngô binh pháp:

Việc binh, lấy trá mà thành. Lấy lợi mà động. Lấy hợp tan làm biến hóa. Nhanh như gió. Thong thả như rừng. Lấn cướp như lửa. Bất động như núi. Khó biết như mây (Tôn Ngô binh pháp, Ngô Văn Triện dịch, tr. 121-122).

b. Nguyễn Trường Tộ:

Kẻ học võ học các phép động tĩnh đánh đấm đúng chân truyền mới không sai khi ứng dụng...”.

Tôn Ngô binh pháp:

Tính giỏi thì biết cái thế đắc thất. Tác động để biết cái động tĩnh. Nghiên cứu địa hình để biết sống chết. So đọ để biết chỗ thiếu thừa” (TNBP, tr. 108-109).

c. Nguyễn Trường Tộ:

Kẻ học võ đối với những nơi hiểm yếu có tính cách sinh tử, những hình thể có tính cách quyết định thắng bại, phải giả tạo hiện địa, lập trận đồ đích thân luyện tập… mới thể nhận được rõ ràng…”.

Tôn Ngô binh pháp:

Ứng biến về địa thế: “Tránh chỗ bằng, đón chỗ nghẽn, lấy một đánh mười đâu bằng chỗ nghẽn, lấy mười đánh trăm đâu bằng chỗ hiểm, lấy trăm đánh nghìn đâu bằng chỗ ngẵng” (TNBP, tr. 281).

d. Nguyễn Trường Tộ:

Kẻ học võ quan sát đồn bót xem mặt nào có thể đánh được giữ được, hướng nào có thể ra được vào được, phải chính mắt xem xét rõ ràng hình thế địa lý và ghi nhớ trong lòng.

Tôn Ngô binh pháp :

Người giỏi đánh quân địch không biết đâu mà giữ, người giỏi giữ quân địch không biết đâu mà đánh” (TNBP, tr. 89).

e. Nguyễn Trường Tộ :

Con nhà võ khi ra trận tên đạn trước mặt, gươm giáo sau lưng, tiến lên thì chết vào tay giặc, thoái lui thì luật nước không cho. Lệnh xuất quân đã ban thì quên nhà, trống thúc quân đã giục thì quên mình...”.

Tôn Ngô binh pháp: “Ra đến cửa như thấy quân địch, khi lâm trận không nghĩ đến sự sống, phá được quân địch mới tính chuyện ra về”(TNBP, tr. 278).

g. Nguyễn Trường Tộ:

Con nhà võ biết bắc cầu đắp đường, dựng đồn lập lũy. Công việc của họ làm thiên biến vạn hóa. Nương theo địch mà tìm cách thắng địch, tùy theo địa thế mà lập cách phục binh, xuất quỷ nhập thần không theo một phương thức sẵn có hay một khuôn khổ nhất định. Cho nên, cái kỳ diệu của nhà binh không thể báo trước được”.

Tôn Ngô binh pháp: “Việc dụng binh hễ được thế thì mạnh mất thế thì yếu. Mạnh thì hăm hở, yếu thì rụt rè” (TNBP, tr. 89). Dọa phía Đông, đánh phía Tây, nhử phía trước đánh úp đằng sau, biến hóa khôn cùng” (TNBP, tr. 98).“Tiến mà họ không chống được bởi ta xông vào chỗ thực, lui mà họ không đuổi kịp vì ta nhanh chóng mà họ không thể theo” (TNBP, tr. 100).

Tránh lúc địch hung hăng, đánh úp lúc chúng trễ biếng. Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi nhọc, lấy no đợi đói” (TNBP, tr. 128-129). “Mồi nhử chớ ăn, giặc cùng chớ bách” (tr. 133-134).

Sáu đoạn so sánh trên đã cho chúng ta biết ý kiến về võ bị của Nguyễn Trường Tộ phát xuất từ đâu.

C. T3: Chữ T thứ 3 là Tiền, Phương tiện (nhân sự).

Một số người gán nhầm cho Nguyễn Trường Tộ rằng ông ta có chương trình và kế sách canh tân. Dưới đây chúng ta sẽ nêu vài điểm để làm cơ sở lý luận và xác minh:

- Binh lính: Muốn canh tân, quốc gia phải có chủ quyền và binh lính là một lực lượng không thể thiếu. Nhưng Nguyễn Trường Tộ đã viết bài khuyên triều đình cho lính nghĩ ngơi để Pháp giử bờ cõi cho mình (Thiên hạ đại thế luận, TBC, tr.111). Ngay cả không có lính hoặc cảnh sát, công an giữ an ninh trật tự thì có canh tân được không, giả thiết ông có chương trình canh tân?

-  Nhân sự để canh tân: Trong bài chiêu dụ “Dùng giám mục linh mục vào việc canh tân” (TBC. Tr. 188) Nguyễn Trường Tộ đề nghị bốn linh mục là các ông Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Nguyễn Lâu. Sơ lược về các linh mục và giám mục mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị vào việc canh tân. Chúng ta có các chi tiết sau đây:

* Theo bài viết Nguyễn Trường Tộ học ở đâu, học giả Đào Duy Anh [tạp chí « Tri Tân, số 7 », 1941, tr. 167] cho biết: Nguyễn Trường Tộ và Linh mục Nguyễn Hoằng như sau:

Nguyễn Trường Tộ học rộng nhưng viết và nói tiếng Pháp không thạo lắm vì ông không chuyên học chữ Pháp ở Pê Năng như các ông Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Hoằng. Bởi thế, ông không khi nào làm thông ngôn. Mà khi giúp việc cho súy phủ thì chỉ làm việc từ hàn (Lettré) cũng như Tôn Thọ Tường. Mỗi khi Triều đình cần dùng người thông ngôn thì Nguyễn Trường Tộ cứ giới thiệu Nguyễn Hoằng (Linh mục Hoằng) chứ tự mình không khi nào đương việc ấy”. [Học giả Đào Duy Anh sắp NTT ngang hàng với tên việt gian Tôn Thọ Tường].

* Về những người làm thông ngôn như Nguyễn Hoằng, những viên thư ký, như Nguyễn Trường Tộ, nhà sử học Cultru đánh giá họ như thế nào? Tôi chỉ tóm lược:

Đề đốc Rieunier nói: “Chúng tôi chỉ có những giáo dân và bọn du thủ du thực”.

Đại tá Bernard cũng khinh miệt: “Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét, hoặc vì tội phạm xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ ham sống sợ chết, họ hoàn toàn hờ hững với cuộc đấu tranh của dân tộc họ, phụng sự bất cứ những ông chủ nào...”.

Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chánh cần thiết cho địa phương hoặc những người giúp việc gia đình: Làm đầy tớ, khuân vác, chạy giấy, và có những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép, được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của hội Truyền giáo, chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà quân đội thực dân mới đổ bộ lên làm quen với người Việt Nam”.

Qua sử liệu vừa trích dẫn cho thấy chính đề đốc và đại tá người Pháp cũng đánh giá những người thông ngôn, phiên dịch, là những kẻ khốn nạn... “Lưng mềm, dễ uốn, ham sống, sợ chết, phụng sự bất cứ những ông chủ nào…”.

Nhưng thành phần nầy lại được NTT đề nghị dùng để canh tân đất nước !

* Còn Giám mục Gauthier, thầy của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều là một tên gián điệp mà tôi đã đưa ra sáu dẫn chứng ở phần trước. Sau đây là một số dẫn chứng tóm lược:

* Theo sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, thì năm 1858, Giám mục Gauthier có đem theo vào Đà Nẵng cụ Khang, cụ Điều (người An Phú), cụ Huấn (người Trung Hậu), khi ấy cả ba ông chưa thụ chức thầy cả”(TBC, Sđd, phần chú thích, tr. 190).

Sau này chúng ta chỉ thấy Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Joannes Vị cùng đi Pháp với Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ (1867-1868) (TBC, Sđd, tr. 90).

* Gauthier dẫn mấy ông này vào để đón giặc Pháp đánh Đà nẵng năm 1858 và :

“làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm…Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông lánh nạn…” (TBC, Sđd, tr. 22).

Linh mục Trương Bá Cần cho biết thêm:

Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp thì sớm nhất là giữa năm 1859  mới tới nơi và khó có thể có mặt ở Hồng Kông đầu năm 1861 để cùng với Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài gòn”(TBC, Sđd, tr. 22).

Nối kết các đoạn vừa dẫn trên, theo thứ tự thời gian, chúng ta thấy, hai Linh mục Nguyễn Hoằng và Nguyễn Điều mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị Triều đình dùng vào việc canh tân thì cả hai ông đều đã có mặt trong đám linh mục Pháp, mà người đứng đầu là Giám mục Pellerin, cố gây áp lực để quân Pháp đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Còn Nguyễn Trường Tộ thì có mặt trong đám giáo sĩ gián điệp và thực dân hai lần. Lần đầu là tại Đà Nẵng năm 1858, bị Đô Đốc Genouilly bắt buộc đi Hồng Kông cùng với thầy mình là Gauthier. Lần thứ hai, năm 1861, cùng với Giám mục tình báo Gauthier trở về Sài Gòn theo yêu cầu của Đô Đốc Charner... để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài Gòn...

Nếu các vị linh mục nêu trên không thuộc loại người « khốn nạn, lưng mềm dễ uốn, chạy theo chủ mới» như đại tá Bernard người Pháp nhận định, thì cũng không thể dùng mấy ông nầy vào việc canh tân đất nước được. Không phải ai nói được tiếng Pháp, làm được thông ngôn thì có thể học được các kỹ thuật mới?

Sử liệu cũng cho thấy, sau khi Nguyễn Trường Tộ chết, năm 1871, ý kiến đề nghị “dùng giám mục linh mục vào việc canh tân” đã có phần “kết quả” như sau:

"… Sau khi Hàm Nghi lên ngôi đi kháng chiến, Chánh Mông sang tòa khâm sứ Pháp xin De Courcy để tên đại tướng giặc thương tình cho hai đội lính Pháp hộ tống sang Thành nội làm lễ đăng quang lên ngôi hoàng đế, đặt ra niên hiệu Đồng Khánh thì ông vua bù nhìn này được sự cố vấn của Trương Vĩnh Ký và Linh mục Nguyễn Hoằng (chức Ngự Tiền Hành Nhân) hợp cùng tay sai đắc lực Pháp như Nguyễn Hữu Độ, Phan Liêm... ra sức dùng mồi danh lợi kêu gọi nghĩa quân...”(Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, tr. 340). Cùng trang 340 sách này, tác giả Nguyễn Sinh Duy, chú thích thêm:

Còn Nguyễn Hoàng (có chỗ chép Hoằng), sinh 1839, người Hà Tĩnh, theo đạo Thiên Chúa, từng du học ở chủng viện Pénang, Mã Lai. Năm 1876, được cử làm Tham Biện Thương Chính ở Hải Phòng và Hải Dương, năm 1885, hàm Hường lô tự Khanh kiêm Tham Biện viện Cơ Mật, năm 1886, giữ chức Phụ tế đại thần và Ngự tiền Triều vua Đồng Khánh”.

Thật là đại họa, vua nhà Nguyễn nuôi ong tay áo, nhận giặc làm con. Đến lúc Đồng Khánh được De Courcy cho lên làm vua bù nhìn để dễ sai dễ bảo, thì thực dân Pháp đã gài được ít nhất là hai tên Việt gian là Linh mục Nguyễn Hoằng và Trương Vĩnh Ký giữ chức quan trọng trong Triều vua tay sai Đồng Khánh. Trương Vĩnh Ký là một giáo sĩ Công giáo tu xuất và đã viết thư tay yêu cầu chính phủ Pháp đánh chiếm Việt Nam. Xin xem cuốn “Ki Tô giáo, từ thực chất đến huyền thoại”.

Tóm lại, qua phương trình ba chữ T nêu trên, chúng ta đã biết được khá rõ: Tâm, Trí và Phương tiện canh tân, đổi mới, thực dụng… của Nguyễn Trường Tộ như thế nào?

Trong bài, tiến sĩ Lê Thị Lan ca tụng Nguyễn Trường Tộ đề nghị “Canh tân nông nghiệp”. Để tránh lối viết tùy tiện bà nên đọc cuốn “Việt Nam sử lược”, quyển 2, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục, Trung tâm Học liệu xuất bản, Sài gòn 1971. Có thể tìm thấy một phần trong Bùi Kha, sđd, tr. 120-126.

KẾT LUẬN.

Đọc hết 58 bản chiêu dụ của Nguyễn Trường Tộ, một vài chỗ ông tỏ ra thành khẩn, có lòng yêu nước và vài đề nghị hợp lý như Cải cách phong tục, chỉ huy đào Thiết Cảng. Nhưng về những đề nghị cái gọi là cải cách của Nguyễn Trường Tộ, thì dưới đây là một bức tranh khá chính xác về ông:

1. Ý thức hệ chủ đạo: Nguyễn Trương Tộ phán: Tạo Vật đã định như vậy, sao cưỡng được. ”

2. Lúc đất nước lâm nguy: tình trạng quân Pháp suy thoái nguy hiểm muốn rút về, ông khuyên triều đình cho lính nghỉ ngơi để Pháp giữ bờ cỏi cho mình!

3. Về thế Quốc tế: Thương hiếu với Giáo hoàng La Mã. Nhưng lịch sử đã cho thấy là nhiều cuộc chiến trên thế giới từ trước đến nay, nhất là giai đoạn Pháp chiếm Việt Nam đều phát xuất từ giáo triều Vatican La Mã.

4. Cố vấn: Ông Giám mục tình báo Gauthier có thể giúp. ”

5. Trường kỹ thuật: Được điều hành bởi 3 ông linh mục không có khả năng trong ngành.

6. Nhà giữ trẻ, viện mồ côi: giám mục tình báo sẽ cử người coi sóc để tạo một mạng lưới gián điệp cùng cả nước (Bùi Kha, sđd, tr.150-155).

7. Canh tân đất nước: Có 4 ông linh mục Việt gian phụ trách: Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Nguyễn Lâu.

8. Chỉnh trang võ bị: Theo Tôn Ngô Binh pháp.

Như thế, từ tư duy chủ đạo, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, từ ông có thế lực đến gã cố vấn, nhân viên thư ký đều do ngoại bang, gián điệp và các tên giáo sĩ Việt gian điều khiển hết!

Chúng ta có cơ sở để tin rằng tất cả 58 bài chiêu dụ, Nguyễn Trường Tộ và ông tình báo Gauthier đồng tác giả. Trong đó, ý của Gauthier nhưng lời là của Nguyễn Trường Tộ. Thông qua Gauthier, Pháp và Vatican muốn ông Tộ phải viết như thế nào, lộng giả thành chơn và ngụy trang như thế nào, để có thể dụ được triều đình Việt Nam lọt vào các bẫy sập của chúng.

Để tránh dị ứng, mời độc giả đọc ý kiến của:

Giám Mục Puginier: Lúc nào Bắc Kỳ trở thành Công giáo thì nó cũng trở thành một nước một Pháp nhỏ, và Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp như cua bị bẻ gãy hết càng.

Đô Đốc Page: Không có một người Công giáo An Nam nào lại không muốn làm lính dưới cờ Pháp. ”

Công Sứ Bonnal: Khi một ông giáo sĩ lập được một họ đạo thì giáo dân từ chối không đóng thuế, ... không thừa nhận chính quyền. ”

Đô Đốc Paul Bert: Nếu tất cả dân An Nam đều là Công giáo, thì chúng ta sẽ lãnh đạo họ một cách dễ dàng theo ý muốn của chúng ta.

Kế sách “HÒA” hoặc dụ hòa nên Việt Nam mất ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây, cuối cùng mất cả nước. Nguyễn Trường Tộ, “một người yêu nước nồng nàn, một nhà canh tân lớn, một kiến thức vượt thời đại”đã hăm hở và thập thò núp sau bức màn canh tân để đưa dân tộc ta vào kế hoạch mà 4 ông thực dân, gồm đô đốc, công sứ và giám mục đã cho thấy như trên!

Do đó, mong Tiến sĩ Lê Thị Lan và ông Trần Hữu Tá lúc viết nên kèm theo sử liệu, để những độc giả như chúng tôi có thể chia sẻ. Và cũng để tránh do vô tình mà đưa một người có tội với tổ quốc lên ngang hàng với những anh hùng dân tộc!

Bùi Kha,

6.12.2011

 

*Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân, Bùi Kha, nhà XB Văn học 30.3.2011, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học phát hành. Có bán tại các nhà sách. Có thể liên lạc tòa soạn Hồn Việt, Đc: 72 Trần Quốc Thảo, P.7, Q.3, TP HCM. ĐT(08) 6. 290-7530.

Email: toasoanhonviet@gmail.com

Trang Đối Thoại