bản in |
¿ trở ra mục lục
|
17 tháng 4, 2009 |
PHẦN II
(tiếp theo)
◎◎◎
CHƯƠNG 6
NHỮNG ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO
NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO CA-TÔ (*)
Trong Chương 4 trước
đây, chúng tôi đã trình bày rõ ràng rằng những người
Việt theo đạo Ca-tô được các tay điệp viên chuyên
nghiệp của Vatican mang danh nghĩa là các nhà truyền
giáo gom lại sống biệt lập trong các xóm đạo hay
làng đạo. Các xóm đạo này hoàn toàn xa cách và tách
rời khỏi cộng đồng dân tộc. Tại đây, họ được rèn
luyện theo nếp sống văn hóa Ca-tô hoàn toàn trái
ngược với nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc.
Điểm đặc biệt là họ được dạy phải tuyệt đối tôn kính và
trung thành với Vatican, phải triệt để tuân hành các
lệnh truyền của các đấng bề trên trong Giáo Hội La
Mã, chứ không cần biết đến chính
quyền và quốc luật Việt Nam ta. Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử từ khi Liên Minh
Pháp – Vatican khởi binh tấn chiếm (vào năm 1858) và
thống trị nước ta cho đến khi Liên Minh Mỹ - Vatican
tan rã và cuốn gói ra đi vào ngày 30/4/1975, tu sĩ
và giáo dân Ca-tô chỉ biết tuân hành lệnh truyền của
Vatican. Họ luôn luôn đứng vào hàng ngũ quân cướp
ngọai thù để chống lại tổ quốc và dân tộc ta. Cho
đến ngày nay, tình trạng này cũng vẫn không thay
đổi. Chúng ta có thể thấy rõ những thái độ, ngôn từ và hành
động của họ trong các câu chuyện sau đây:
1.- Linh-mục Hoàng Quỳnh đã trâng tráo hô khẩu
hiệu “Thà mất nuớc, chứ không thà mất Chúa”
khi chỉ huy đám giáo dân biểu tình ở ngoài hàng rào
Bộ Tổng Tham Mưu. Việc này xảy ra vào ngày 27/8/1954 để làm áp lực
với chính quyền của Tướng Nguyễn Khánh phải phục hồi
quyền lực và quyền lợi cho Đảng Cần Lao Công Giáo và
chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm,[1]
2.- Lời lẽ, thái độ và hành động xấc xược, ngược
ngạo và thiếu văn hóa của Linh-mục Nguyễn Văn Lý
trong phiên tòa xử lý ông ta luật vào ngày 30/3/2007
về tội tổ chức lực lượng đánh phá phá chinh quyền,
vi phạm và khinh thường pháp luật,
3.- Việc Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục con
chiên nổi loạn đánh phá tòa nhà công quyền tại số
142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ
18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với chiều bài đòi
chiếm lại khu đất này cho Vatican,
4.- Việc ông tổng giám mục này cùng với các Linh-mục
Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam
Phong, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một
số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn phá tường tràn
vào chiếm đóng Công Ty May Chiến Thắng tại số 178
Đường Nguyễn Lương Bằng (Phường Đống Đa, Hà Nội) từ
ngày 18/8/2008 cho đến ngày
22/9/2008.
5.- Việc các linh mục tỉnh Dòng Cứu Thế dùng lời lẽ ngang ngược
(coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) viết
trong lá thư phúc đáp gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân
Thành Phố Hà Nội đề ngày 19/12/2008.
6.- Việc Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi
Đồng Giám Mục Việt Nam) sử dụng những lời lẽ ngang
ngược, coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam
trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 để
trả lời bản văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008
của ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân
Thành Phố Hà Nội.
7.- Việc Tổng Giám Mục Ngô Quang
Kiệt kênh kiệu nói rằng
“Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất
là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”[2],
8.- Việc giáo dân ở xã An Bằng, Huế, lấn đất, lập bàn thờ cầu nguyện
trái phép ở nhiều nơi
ngoài khuôn viên Nhà Thờ, kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (tháng 1/2009).
9.- Thái độ của giáo dân và những người đồng minh
chống Cộng của họ ở hải ngọai khi hay tin Trung
Cộng xua quân tràn vào lãnh thổ và tấn công Việt Nam
vào tháng 2 năm 1979,
10.- Thái độ hồ hởi của giáo dân và những người đồng
minh chống Cộng của họ ở Hoa Kỳ khi hay tin Tòa Án
Hoa Kỳ bác bỏ đơn kiện vụ án chất độc Da Cam trong
mấy năm gần đây của chính quyền Vỉệt Nam,
11.- Việc làm phản quốc và ác tâm của giáo dân và những người đồng minh chống
Cộng của họ ở Hoa Kỳ cố gắng vận động với Quốc Hội
Hoa Kỳ trong những ngày đầu năm
2009 để đưa Việt Nam vào danh sách CPC (Countries
particular concerned), nhưng thất bại.
Tất cả bằng chứng này cho thấy rõ là (1) các ông tu
sĩ và giáo dân Ca-tô người Việt vẫn còn triền miên
trong cơn mê mơ về nước Chúa mà cứ ngỡ rằng Việt Nam
hiện nay là "Nước Cha trị đến" nằm dưới quyền
thống trị của Nhà Thờ Vatican giống như ở miền Nam
Việt Nam trong những năm 1954-1975 và họ vẫn tiếp
tục đi sâu vào con đường tội ác chống lại dân tộc và
tổ quốc Việt Nam, và (2) Nhà Thờ Vatican vẫn còn
theo đuổi chính sách sử dụng tu sĩ và giáo dân
người Việt trong mưu đồ đánh phá chính quyền và đất
nước Việt Nam để đưa dân ta vào cái tròng Ca-tô
(Catholic loop) mà các dân tộc Âu Châu đã
phải tốn không biết bao nhiêu công lao mồ hôi, nước
mắt và xương máu của biết bao nhiêu thế hệ trong
suốt chiều dài gần hai ngàn năm mới giải thoát được
các ách thống trị bạo tàn của Nhà Thờ Vatican.
Đáng kể nhất là mưu đồ
của họ là đòi chiếm lại những bất động sản do
Vatican đã cướp đọat của dân ta ở miền Bắc trong
những năm 1884-1954. Những khoản tài sản này đã bị
quốc hữu hóa theo các Điều 19 của Sắc Lệnh ngày
4-12-1953, Điều 2 và Điều 3 của Luật Cải Cách Ruộng
Đất ban hành 14-6-1955. Điều 19 trong Sắc Lệnh ban
hành ngày 4/12/1953 xác định rằng:
"Trên nguyên tắc, sắc luật bãi bỏ quyền
sở hữu đất đai của ngoại kiều”. Còn Điều 2
và Điều 3 của Luật Cải Cách Ruộng Đất ban hành
14-6-1955 thì quy định rằng "Tịch thu toàn bộ ruộng
đất và tài sản của thực dân Pháp và của đế quốc xâm
lược khác. - Đối với địa chủ Việt gian, phản động,
cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu
toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ,
lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác. Phần
không tịch thu thì trưng thu.”
[3]
Lịch sử cho thấy rằng không phải chỉ có các tu sĩ và
giáo dân người Việt mới bị rèn luyện thành những
hạng người phản quốc như vậy, mà ngay cả những tu sĩ
và giáo dân Ca-tô người Pháp cũng có cái bản chất và
hành động phản quốc như thế cả. Bản văn sử dưới đây
cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Sau cuộc lẩn trốn của nhà vua tới Varennes, các
nước Âu Châu lại sôi nổi. Lần này, Louis XVI cam tâm
chấp nhận những điều kiện can thiệp của các nước Âu
Châu. Do đó nước Áo và Phổ bắt đầu động binh tới
biên giới Pháp - Ở trong nước, nhiều địa phương
trung thành với Giáo Hội và nhà vua, cũng bắt đầu
nổi loạn. Nhất là miền Bretagne, Normandie, Vendée
vốn là những miền sùng đạo, cũng võ trang bênh vực
các tu sĩ không chịu tuyên thệ với cách mạng. – Tình
trạng Pháp quốc lúc đó thực hết sức lung lay.”[4]
Lịch sử còn cho thấy
là không phải chỉ có những giáo sĩ và giáo dân người
Việt và người Pháp mới có cái bản chất phản quốc như
vậy, mà tất cả các giáo sĩ và giáo dân ở bất kỳ quốc
gia nào, NẾU họ còn triệt để vâng lời và tuyệt đối
trung thành với Nhà Thờ Vatican, THÌ họ cũng đều có
cái bản chất và hành động phản quốc
như vậy cả. Phần III và
Phần IV trong tập sách này sẽ cho thấy rõ thực trạng
này.
Vấn
đề đặt ra là do động lực hay nguyên nhân nào
đã khiến cho giáo dân Ca-tô nói chung và giáo dân
Ca-tô người Việt nói riêng, lại có thể có những
hành động phản quốc chống lại tổ quốc và dân tộc của
họ như vậy?
Riêng về giáo dân Ca-tô người Việt, họ không những
muối mặt chống lại tổ quốc và dân tộc, mà còn gục
mặt cúi đầu
gục mặt phế bỏ bàn thờ tổ tiên để đi theo cái
đạo mà văn hào Voltaire gọi là “cái tôn giáo ác ôn”
và các nhà viết sử gọi nó là “đồ phế thải” của
người Âu Châu.
“Thật là đáng buồn, trong khi đạo Công giáo đang
suy thoái ở Tây Phương như vậy, thì có lẽ vì “cái
khó nó bó cái khôn”, nên một số người ở trong những
hoàn cảnh khó khăn về kinh tế ở Đông phương, và
thiếu khả năng ở Tây Phương, lại lao đầu vào vòng nô
lệ tôn giáo, chạy theo một sản phẩm hầu như đã bị
phế thải ở nơi chính nó đã sản xuất ra, nhưng vẫn
hãnh diện tự khoe rằng mình đã được “ơn kêu gọi” để
che đậy động cơ vật chất đã khiến mình bước vào nghề
linh mục….”
[5]
CON SỐ GIÁO DÂN VIỆT NAM VÀ
KẾ SÁCH TRUYỀN ĐẠO CỦA VATICAN
Theo sách sử, cho đến đầu thế kỷ 16, Việt Nam ta
chưa có người nào theo đạo Thiến Chúa La Mã hay đao
Ca-tô. (Ca-tô là từ được thu gọn của từ Catholic
trong tiếng Pháp hay tiếng Anh.) Sách sử cũng ghi
nhận rằng:
1.-
Năm 1553 mới có một vài giáo sĩ của Nhà Thờ Vatican đế
truyền giáo ở các làng Ninh Cường, Quần Anh, và Trà
Lũ trong trấn Nam Sơn (tức Nam Định ngày nay). Kể
từ đó, nước ta mới có vân nạn đạo Ki-tô.
2.- Có 3 tài liệu nói về con số tín đồ Ca-tô vào
thời điểm vào cuối thập niên 1850:
a.- Con số này được nhà biên khảo Nguyễn Công Bình
ghi lại trong bài viết Người Công Gíao Việt Nam
Biết Đi Về Đâu Khi Pháp Đánh Chiếm Việt Nam ghi nhận
là 500 ngàn:
“Số giáo dân năm 1664 ở Đàng Trong có khoảng
100.000; năm 1737 ở Đàng Ngoài có 250.000 Cả nước
năm 1800 có 320.000, giữa thế kỷ XIX, có 50 vạn
người công giáo.”
[6]
b.- Con số do sử gia Marvin E. Gettleman ghi trong
sách Việt Nam: History, Documents, And Opinions On A
Major World Crisis ghi nhận là 300 ngàn:
“Vào khi người Pháp tiến chiếm Việt Nam, con số
tín đồ Gia-tô người Việt được lượng định vào khỏang
300 ngàn tín đồ dù là có vấn đề bách hại họ trở lại.”
(On the eve of the French intervenion the Christian
community was estimated the have numbered 300,000
despite recurrent persecution.”
[7]
c.- Con số mà các nhà truyền giáo như Linh-mục Huc,
Le Grand de Laraye và Giám-mục Pellerin rêu rao là
600 ngàn khi họ đến Paris vận động triều đình Pháp
Hoàng Napoléon III xuất quân đánh chiếm nước ta:
“Ngày 1/1/1857, Pierre Cintrat, Giám Đốc
Chính Trị Vụ Bộ Ngoại Giao (Pháp), bác bỏ đề nghi
của (Linh-muc) Huc, vì theo ông ta (Linh-mục) Huc
đang đề nghị một cuộc chiếm đóng Đại Nam, một đề
nghị không thể chấp nhận được vì Pháp đang bận rộn
và bối rối vì quyền lợi ở Âu Châu, Mỹ Châu, Viễn
Đông, Algérie, v.v…. Ngày 20/3/1857, Cintrat
còn cực lực chống đối việc chiếm “Cochinchine” (Nam
Kỳ) đặc biệt là đề nghị chiếm Cửa Hàn. Dưới nhiều áp
lực, cuối cùng Cintrat đề nghị thành lập “Ủy Ban
Cochinchine” để nghiên cứu vấn đề này. Vua Pháp chấp
thuận ngay.
Ủy Ban Cochinchine chính thức thành lập ngày 22/4/1857, tức khoảng hơn
một tuần trước ngày (Giám-mục) Pellerin về tới
Paris. (Giám-muc) Pellerin được tham dự phiên họp
thứ sáu của ủy ban trên. Ngoài lời chứng về những
kho tàng quặng mỏ, quí kim, lâm sản, cùng những viễn
ảnh buôn bán, khai thác đồn điền, hay vị trí chiến
lược Cửa Hàn mà (Linh-mục) Huc đã khoa trương,
(Giám-mục) Pellerin còn bảo đảm với Ủy Ban là
“600,000 giáo dân Việt” sẽ tiếp đón hạm đội Pháp như
những nhà giải phóng. Về một giải pháp sau ngày
chiếm xong Đại Nam, (Giám-mục Pellerin đồng ý việc
lật đổ Tự Đức. Nhưng đề nghị chỉ nên thiết lập một
chế độ bảo hộ, và tiếp tục duy trì một ông vua bản
xứ. Theo (Giám-mục) Pellerin, không nhất thiết phải
lật đổ nhà Nguyễn, khôi phục nhà Lê, như Giám-mục
Pierre Retord và, sau này, Linh-mục Legrand de la
Liraye, một phụ tá đắc lực của (Giám-mục) Retord từ
thập niên 1840, và cánh tay phải của các Đô
Đốc/Thống Đốc ở Sàigòn trong thập niên 1860, mà có
thể chọn bất cứ ai đó trong số 3,000 hoàng tử nhà
Nguyễn.”[8]
3.- Năm 1892, có 683,000 tín đồ.[9].
4.- Năm 1939, có khoảng 1,444, 655 tín đồ.
[10]
5.- Năm 1945, có khoảng 1,700,000 tín đồ.
[11]
6.- Năm 1975, có khoảng hơn 4 triệu trên toàn lãnh
thổ (Con số này là phỏng định theo sự hiểu biết của
người viết).
SỐ TÍN ĐỒ TĂNG THEO TỶ LỆ QUYỀN LỰC
CỦA NHÀ THỜ VATICAN
Nho giáo dạy rằng “Nhân tham tài tử, điểu tham
thực vong.” Những người Việt Nam theo đạo Ca-tô
để thỏa mãn lòng tham lợi, háo danh và thèm khát
quyền lực tuy không chết vì những miễng mồi này,
nhưng họ đã mắc kẹt vào cái thòng lọng Ca-tô
(Catholic loop) khiến cho họ mất hết
nhân tính và lương tâm. Tình trạng này đã khiến cho họ trờ
thành những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc và
những con người súc sinh. Đây là sự thực bất khả phủ
bác và sự thật này đã được thể hiện ra qua những
thái độ và hành động của họ trong suốt chiều dài
lịch sử Việt Nam từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày
nay. Phần trình bày dưới đây sẽ giúp cho độc giả
nhìn thấy rõ hơn về sự thật này.
Kế sách truyền đạo của Nhà Thờ Vatican là dùng thủ
đoạn khơi động và nuôi dưỡng lòng ích kỷ và gian
tham của người đời rồi dùng miếng mồi vật chất và
các chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử
họ. Đối với những lọai người sẵn có máu tham lợi,
háo danh, kế sách rất hữu
hiệu. Như vậy là càng có nhiều miếng mồi vật chất và
chức vụ trong chính quyền thì Giáo Hội càng có
phương tiện để dụ khị hay câu những lọai người hạ
lưu đê tiện này chạy theo bắt mồi
mà theo đạo. Đây là một
trong những nguyên nhân khiến cho
Giáo Hội La
Mã luôn luôn cần phải cấu kết với cường quyền và các đế quốc
thực dân xâm lược để có những
miếng mồi câu nhử người những
hạng người đê tiện như vậy vào đạo. Càng là hạng người hạ lưu và đê tiện thì
Giáo Hội càng dễ dàng đoàn ngũ hóa và biến họ thành
những lực lượng nằm vùng chống lại dân tộc và đất
nước của họ để phục vụ cho mục đích “mở mang nước
Chúa” của Giáo Hội. Đó là lý do TẠI SAO mà ta có thể nói rằng con
số tín đồ Ca-tô tăng theo quyền lực của Nhà Thờ
Vatican. Phần trình bày dưới đây sẽ cho chúng ta
thấy rõ vấn đề này.
A.- Thời kỳ 1533-1850:
Trong thời kỳ này, có
một thời gian ngắn (những năm 1784-1799), đạo Ca-tô
đã có thế lực ở trong thượng tầng chính quyền của
Chúa Nguyễn Ánh. Lúc đó Giám Mục Pigneau de
Béhaine (Bá Đa Lộc) làm quân sư cho Nguyễn Ánh. Tuy
là ngắn ngủi chỉ vào khoảng 15 năm, nhưng ông giám
mục này và các giáo sĩ Ca-tô khác của Nhà Thờ
Vatican cũng đã hoàn thành được sứ mạng cấy người
vào trong chính quyền từ trung ương đến các địa
phương và lôi cuốn được một số người tham danh lợi chạy theo vào đạo để nuôi hy
vọng. Sự kiện này được sách "Dưới Bóng Thánh Đường"
(Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 1990) của tác giả
Dương Thông ghi nhận như sau:
“Khi nhà Nguyễn còn nhờ vả chính phủ Pháp để có
vũ khí và cố vấn chống lại nhà Tây Sơn thì việc
truyền đạo được ủng hộ, thậm chí có quan lại, cung
phi, các bà chúa cũng tòng đạo. Đến khi nhà Nguyễn
đã xây dựng vững cơ đồ, lại thấy thanh thế đạo
Gia-tô ngày càng lớn có mở “phong trào “sát đạo”
nhưng không thể tiêu diệt được đạo này nữa.”[12]
Ngọai trừ khoảng thời gian ngắn ngủi trên đây, thời
kỳ này (1533-1850) Nhà Thờ Vatican không có quyền lực gì ở Việt
Nam. Vì thế, họ không thể sử dụng quyền lực của Nhà
Nước để cướng bách, hay chèn ép hoặc dồn nạn nhân
vào thế cùng đành phải theo đạo để cho xong nợ, khỏi
bị quấy phá. Họ cũng không có thế lực gì để xin xỏ
cho những tên tội đồ hay những người bị bỏ tù oan
được thoát khỏi cảnh tù tội với điều kiện phải theo
đạo. Hơn nữa, trong thời kỳ này, vì có rất ít tín đồ
và hầu hết sống thu gọn trong các xóm đạo, cho nên
hầu như có rất ít những cuộc hôn nhân giữa tín đồ
Ca-tô những người thuộc các tôn giáo khác,
nghĩa là trong thời kỳ này, có rất ít người bị chèn
ép phải theo đạo vì thành hôn với con chiên của
Vatican.
Trong hòan cảnh như thế,
Nhà Thờ Vatican chỉ có thể dùng
những miếng mồi vật chất do chính tiền túi của Nhà
Thờ bỏ ra mua chuộc bằng cách giúp đỡ nhỏ
giọt những người nghèo khổ hay những người lâm vào
cảnh khốn cùng để dụ khị họ theo đạo. Vì không có
quyền lực ở Việt Nam, nguồn
lợi vật chất và tiền bạc của Nhà Thờ Vatican cũng rất giới hạn. Do đó, cả một thời gian dài
ngót nghét gần 3 thế kỷ, con số người được Nhà Thờ
giúp đỡ cũng rất ít. Tất nhiên con số người theo đạo
vì cơm áo cũng không gia tăng. Đây là lý
do
TẠI SAO trong thời kỳ
dài hơn ba thế kỳ mà con số những người theo đạo chỉ có vào khoảng trên dưới 500
ngàn người.
B.- Thời kỳ 1850-1892:
Thời kỳ này là những năm Liên Minh Xâm Lược Pháp -
Vatican tiến quân đánh chiếm Việt Nam và tiến hành
những chiến dịch truy lùng,
tiêu diệt những lực
lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta. Đây
cũng là thời kỳ mà Nhà Thờ Vatican đã trèo cao lặn
sâu vào các cấp lãnh đạo trong chính quyền Bảo Hộ
Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican.
Trong
hoàn cảnh lợi thế như
vậy, Nhà Thờ Vatican có thể dựa vào
chính
quyền, cướp đoat tài
nguyền quốc gia, bòn rút
tiền của và bóc lột nhân
dân, rồi dùng những tiền
của đã cướp đoạt được
của dân ta
làm
miếng mồi và chức vụ
trong chính quyền để
dụ khị và lôi cuốn
những người nghèo khổ bần cùng, hoặc những phần tử
bất hảo, háo danh, thèm khát
quyền lực chạy theo bắt
mồi mà theo đạo. Bọn hạ lưu này nhập bọn với các toán lính đạo hay gia nhập
đoàn quân xâm lược kéo nhau đi đánh phá các làng
lương để thỏa mãn thú tính giết người, đốt làng,
phá chùa, phá miếu, hãm hiếp đàn bà con gái, cướp
của mang về tích lũy đúng với các bản chất lưu manh
của chúng. Đây là lý do TẠI SAO thời kỳ này vỏn vẹn
chỉ có 42 năm mà con số tín đồ tăng vọt lên từ 500
ngàn lên đến 683 ngàn người. Tăng
gần 40%.
C.- Thời kỳ 1892-1939:
Đây là những năm mà
chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đã
được củng cố vững chắc và bước vào thời kỳ khai thác
đất nước ta. Trong thời kỳ này, Nhà Thờ Vatican đã
trèo cao lặn sâu vào cả thượng tầng chính quyền Bảo
Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và chính quyền
bù nhìn triều đình Nhà Nguyễn. Nhờ vậy mà họ có
thể sử dụng tối đa cả những miếng mồi vật chất và
những chức vụ trong cả hai chính quyền để "mở mang nước Chúa".
Về địa vị của Nhà Thờ Vatican trong chính quyền Bảo
Hộ và thủ đọan gian manh cướp đọat tài nguyên của
đất nước ta được chính người trong Nhà Thờ là
Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại như sau:
"Ai cũng biết, những lời phê bình kể trên rất phù
hợp với một phần sự thật. "Paul Mené trong cuốn
"Pháp và An Nam Giữa Hai Lằn Đạn" (Paris 1928) không
nói ngược lại. Ông viết: "Hội Nhà Chung được tổ chức
hùng mạnh ở Nam Kỳ. Nhà Chung rất giầu có, chiếm hữu
nhiều vùng đất bao la và có nhiều bổng lộc quan
trọng tại phần lớn các xí nghiệp địa phương, nhờ
những khoản tiền vốn Nhà Chung bỏ vào đó, nhân danh
Nhà Chung hoặc phần nhiều là qua trung gian người
thứ ba. Trong thời gian Pháp xâm lăng Việt Nam, Nhà
Chung đóng một vai trò quan trọng như ai cũng biết.
Nhà Chung đã tổ chức một hệ thống tình báo hoàn
bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những gì liên
hệ tới những con người, những công ty, những công
cuộc, những hành động và phương án chính trị tại
Đông Dương. Nhà Chung đã đặt được người thân tín của
mình vào tất cả các cơ quan, vào hầu hết các xí
nghiệp tại các trung tâm lớn cũng như tận cùng những
tỉnh xa xôi."
"Trong một báo cáo mật gửi lên Toàn Quyền Đông
Dương, viên Thống-sứ Nam Kỳ đã trình với quan thầy
rằng: "Không nên quên rằng từ những năm đầu cuộc
chiếm đóng của chúng ta, Nhà Chung đã quan tâm cho
được chiếm cho được tại Nam Kỳ những tài sản khổng
lồ. Nhà Chung có tất cả 28.500 hecta ruộng, không kể
đất đai ở thành thị cũng như các bất động sản và của
cải khác. Tại Miền Tây Nam Kỳ, Nhà Chung làm chủ
vùng đất lớn rộng tới ba bốn hoặc sáu ngàn hecta".
(Sàigon 14-12-1934).”[13]
Vì sẵn có phương tiện dồi dào về vật chất và có
quyền lực trong tay (tức là có thể đưa người vào làm
việc (nắm giữ những chức vụ trong chính quyền Bảo Hộ
Liên Minh Pháp - Vatican và chính quyền bù nhìn Huế)
cho nên Vatican có thể dụ khi được một số đông người theo đạo. Cũng vì mà
trong thời kỳ này ngắn ngủi chỉ có 47 năm mà số tín
đồ tằng từ 683,000 người lên đến 1,444, 655 người.
Con số con chiên người Việt tăng vào khoảng 110%.
TC.- Thời kỳ 1939-1945:
Đây là những năm Phong
Trào Cách Mạng, nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam với
chiến khu chính ở Việt Bắc bắt đầu phát động các
cuộc khởi nghĩa vũ trang vùng lên
ở rất nhiều nơi trên toàn lãnh thổ Việt Nam với mục
đích đánh đuổi Liên
Minh Xâm Lược Pháp – Vatican để giành lại chủ quyền
độc lập cho dân tộc. Các cuộc khởi nghĩa này được
hầu như tất cả mọi người dân
nhiệt liệt ủng hộ và tích cực tham gia.
Phản
ứng lại, chính quyền Bảo Hộ phóng ra những chiến
dịch tổng càn, tàn phá tất cả những làng bị tình
nghi có liên hệ đến các cuộc khởi nghĩa này, truy
lùng, bắt giam tất cả những người dân trong những làng
bị tình nghi và tra tấn hết sức dã man. Những người
sống sót thì bị đưa đi giam cầm trong những trại tù
như Sơn La, Côn Đảo cùng các nhà tù ở ngay trong các
tỉnh địa phương ở trên toàn lãnh thổ Đông
Dương.
Song song với những hành động tàn ngược và
dã man như trên, chính quyền Bảo Bộ còn thi hành
chính sách bao vây kinh tế bằng cách thu vơ thóc gạo
(cưỡng bách dân ta phải đóng thuế bằng thóc) để
triệt đường tiếp tế lương thực từ Nam ra miền Bắc
với dã tâm làm cho dân ta ở miền Bắc rơi vào thảm
cảnh chết đói. Chúng hy vọng rằng làm như thế thì
dân ta không có gạo để tiếp tế cho lực lượng nghĩa
quân đang họat động mạnh ở vùng Việt Bắc.
Chính sách
bao vây kinh tế này đã làm cho nhân dân miền Bắc rơi
vào thảm họa đau thương với hai triệu người chết
đói.
Rõ ràng là thủ phạm làm cho dân ta chết đói
khốn khổ như vậy là Liên Minh Xâm Lược Pháp –
Vatican mà thủ phạm chính là Nhà Thờ Vatican, chứ
không phải là người Nhật như bộ máy tuyên truyền của
Giáo Hội La Mã thường rêu rao. Chính sách dã man này
được ông Hoàng Trọng Miên nói rõ trong sách Đệ Nhất
Phu Nhân Tập I với nguyên văn như sau:
“Giữa thời kỳ ấy, để phòng ngừa dân miền Bắc
nổi dậy, Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ
vét hết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trữ
riêng, lấy cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết
ép buộc mua rẻ của dân quê, Pháp lại vãi tiền ra mua
thóc, ngô (bắp) bằng một giá cao để thu cho kỳ sạch
ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc. Gạo Nam Kỳ thì không
được đưa ra, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm
không ngừng bắn phá tàu bè, ghe thuyền, còn đường xe
lửa xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật chuyên
chở quân sự. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho,
Pháp đem đốt thay than củi ở các nhà máy điện.
Dân quê ở Bắc khởi sự chết đói từ cuối năm 1944.
Mùa lúa tháng Mười lại thất bát. Người có tiền ở
thôn quê cũng đành nhịn ăn, vì thóc gạo đã bị lấy
sạch. Tại thành phố, mỗi khẩu phần người Việt đều
phải ăn gạo “bông” (phiếu mua gạo) ở trong tay chính
quyền Pháp phân phát.”
[14]
Sách Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 cũng viết:
“Bọn Pháp Decoux – Morlant, từ mùa gặt cuối năm 1943 đến hai mùa gặt
năm 1944, cũng trưng thâu gạo bỏ vào các kho quân
đội Pháp để phòng hờ một cuộc đổ bộ Đồng Minh vào
Đông Dương.”[15]
Đứng trước hoàn cảnh vừa đói vừa khốn khổ như trên
của dân ta, Nhà Thờ Vatican liền lợi dụng và
khai thác để dụ khị nạn nhân của nạn đói và những người bị chính
quyền Bảo Hộ Liên Minh
Pháp – Vatican truy lùng, bắt bớ, bằng cách:
1.- Can thiệp với chính quyền bảo đảm và xin chính
quyền tha cho những nạn nhân bị bắt oan với điều
kiện là họ và gia đình họ phải theo đạo.
2.- Dùng một số vật chất giới hạn giúp đỡ những
người đang ở trong tình trạng sắp chết đói với điều
kiện là họ phải theo đạo.
Vi thế mà trong thời gian này vỏn
vẹn chỉ có 6 năm mà con số giáo dân tăng vọt từ 1,444, 655 lên đến 1
triệu 700 ngàn người, nghĩa là Nhà Thờ Vatican đã có thể câu nhử được thêm 255, 445
tín đồ trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 6 năm. Sự kiện này cho chúng ta thấy nhà thờ "vừa
là quân ăn cướp vừa
là kẻ la làng":
a.- Truy lùng, bắt bớ, tra tấn, giam cầm
dân ta cũng là do
chính quyền Bảo Hộ chủ động, trong đó có Nhà Thờ Vatican.
Rồi lại cũng Nhà Thờ đóng vai "anh hùng cứu mỹ nhân" can thiệp để cho những nạn nhân được phóng
thích. Mỗi lần có việc can thiệp như thế thì Nhà Thờ lại làm "phép rửa tội" cho một số người "được cứu thoát" (xin xem nhân chứng của làng An Bằng đăng trong đường nối
http://sachhiem.net/XAHOI/LeMinhTuu.php).
b.- Thi hành chính sách bao vây kinh tế bằng cách
triệt đường tiếp tế gạo từ Nam ra Bắc để cho người
dân miền Bắc rơi vào thảm họa chết đói là do chính
quyền Bảo Hộ chủ động trong đó,
Nhà Thờ Vatican là cánh tay mặt.
Tay phải tiếp tục đóng vai kẻ cướp, và tay trái đóng vai anh hùng, chiêu bài này thật độc đáo. Nhà thờ bèn đem một chút vật chất giúp đỡ những nạn
nhân sắp chết đói rồi dụ theo đạo,
rồi hoan hỉ rửa tội
cho nạn nhân bị dồn vào thế kẹt phải theo đạo, có khi
có cả làng theo đạo theo
kiểu này.
Sách lược truyền đạo của Nhà Thờ Vatican quả thật là
siêu việt tuyệt vời.
D.- Thời kỳ 1954-1975:
Trong thời gian này,
tuy rằng quyền lực của Nhà Thờ Vatican đã bị thu gọn
lại từ vĩ tuyên 17 trở vào Nam và chỉ vỏn vẹn có 21
năm, nhưng tai đây họ được Liên Minh Xâm Lược Mỹ -
Vatican giao cho nắm trọn quyền quản lý các công
việc nội trị. Như vậy là trong những năm này, miền
Nam Việt Nam thực sự bị áp đặt sống dưới chế độ đạo
phiệt Ca-tô. Nhờ thế mà họ có thể thao túng chính
quyền, sử dụng tất cả các phương tiện của Nhà Nước
để kiểm soát tất cả các pham vi sinh họat trong xã
hội cũng như sử dụng tất cả những chức vụ
và
mọi chỗ làm làm trong chính quyền, đặc biệt là những
chỗ làm trong
các ngành cảnh sát, công an, mật vụ, không bị
phải đối đầu vơi lửa đan ở nơi chiến trường. Những chỗ
làm ngồi mát ăn bát vàng này là những món mồi
béo bở khiến cho những hạng người
tham quyền lợi, hay những người cầu an, úy tử tham sinh
vô cùng thèm khát. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta
thấy rõ sự kiện này:
“Bên cạnh chủ nghĩa hiếu thắng bề ngoài đó, phải
nói thêm một thứ hiếu thắng khác về "mục vụ" như là
đặc điểm của Giáo Hội trong thời kỳ này, đó là việc
đưa dân ngọai vào đạo. Giám-mục Ancel phụ tá địa
phận Lyon (Pháp), đã nhắc lại lời Giám-mục Thục: "Có
những làng nguyên vẹn xin chịu phép rửa. Người ta
không làm sao dạy giáo lý kịp cho họ...! Và ông kết
luận: "Đây là nước duy nhất tại Viễn Đông (không kể
Philippines) đang trên đà trở lại đạo cả nước".
Những con số người lớn chịu rửa tội, nhất là tại địa
phận Qui Nhơn xem ra phù hợp với cảm tưởng của vị
giám mục Pháp: 16.323 năm 1956-1957, 27.385 năm
1958-1959, 37.429 năm 1960-1961, Năm 1959, tại Qui
Nhơn, chỉ trong một tháng, 61.000 người xin chịu
phép rửa. Ơn Chúa hình như đùng một phát tuôn xuống
như mưa trên địa phận của Giám-mục Chi, giám mục phụ
trách di cư những năm 1954-1955, ông đã nhận được từ
cơ quan Viện Trợ Công Giáo Hoa Kỳ 38 triệu đô la, và
của tổ chức viện trợ Pháp cũng như Caritas quốc tế
còn nhiều triệu khác nữa.
Phong trào trở lại đạo hàng loạt như thế vừa là
kỳ diệu vừa gây khó chịu, bởi vì dân chúng các vùng
đó đã sống dưới quyền kiểm sóat của Việt Minh trong
thời chiến tranh Pháp - Việt. Giám-mục Chi đã cho
chúng tôi biết rằng phép lạ đó, một phần đã nhờ có
việc tuyên truyền "thuyết nhân vị" của chính phủ,
dọn đường cho quần chúng tại đây tìm gặp được đạo
Công Giáo và đàng khác là nhờ các việc từ thiện Công
Giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm
phát quần áo, bánh mì và lương thực. Có người cho
rằng việc theo đạo hàng lọat đó chỉ là lặp lại theo
ngụ ngôn "đi đạo lấy gạo mà ăn" thôi. Quả thế, viện
trợ Công Giáo từ ngòai vào đều do các linh mục tự
tiện thao túng và thường chỉ dành để phân phát cho
người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này, là vùng
nghèo nhất miền Nam, chẳng qua đã tìm nơi việc theo
đạo Công Giáo một phương thế kiếm ăn.
Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi
bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã
từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình
nghi có liên hệ với "kẻ địch", bây giờ vào đạo là
gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế
độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của
cảnh sát.”[16].
Đó là nguyên
nhân giúp cho con số tín đồ Ca-tô trong thời gian
ngắn ngủi chỉ có 20 năm tăng vọt lên từ 1 triệu 7
trăm ngàn lên đến khỏang 4 triệu, khoảng 250% dù
chỉ có một nửa lãnh thổ.
Phần trình bày trên đây cho
chúng ta thấy rõ:
1.- Đao Ki-tô nói chung và hệ
phái Ki-tô La Mã (con chiên Việt Nam gọi là đạo Công
Giáo) chỉ có thể tồn tại bằng phỉnh gạt, lừa bịp, hù
dọa và phát triển bằng bạo lực của chính quyền.
2.- Ở nơi nào dân trí được
nâng cao bằng chính sách giáo dục tự do, khai phóng
và đại chúng, thì nó không còn chỗ để dung thân.
Bằng chứng là ở các nước dân chủ tại Bắc Mỹ và Âu
Châu, dù là đại đa số nhân dân vốn là những tín đồ
Ki-tô truyền lại từ nhiều đời, những vì dân trí được
nâng cao qua chính sách giáo dục tư do và khai
phóng, cho nên ngày nay con số tín đồ bỏ đạo khiến
cho chính Giáo Hoàng Benedict XVI đã phải than phiền
rằng hinh như người dân Âu Châu không còn biết đến
Thiên Chúa nữa, và con số tín đồ đi lễ nhà thờ
thường xuyên vào ngày Chủ Nhật chi còn độ tù 1% đến
5%.
3.- Ở nơi nào Nhà Thờ Vatican
không thể cấu kết được với cường quyền hay đế quốc
thực dân xâm lượic (tức là Nhà Thờ Vatican không thẻ
sử dụng những miếng mồi danh và lợi lộc của chính
quyền để câu nhử những phường tham lợi háo danh chạy
theo bắt mồi rồi theoi đạo, và cũng không thể sử
dụng bạo lực của Nhà Nước đễ cưỡng bách nhân dân
dưới quyền phải theo đạo), thì ở đó nó không thể
phát triển được. Nhìn vào con số tín đồ:
a.- tại Phi Luật
Tân chiếm một tỉ lệ tín đồ Ca-tô rất cao lên đến hơn
90% trên tổng số dân. Lý do là vì ở đây Nhà Thờ
Vatican đã cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Tây
Ban Nha, sử dụng bạo lực của Nhà Nước cưỡng bách
nhân dân phải theo đạo trong suốc chiều dài lịch sử
từ thế kỷ 16.
b.- tại Việt Nam có tỉ lệ rât
thấp chỉ độ từ 5% đên 7%, nhưng nêu so với các nước
khác cũng ở tại Á Châu thì con số tỉ lện này rất
cao. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì ở đây có một
thời, Nhà Thờ Vatican đã cấu kết với đế quốc thực
dân xâm lược Pháp trên dưới một thế kỷ, inhưng đế
quốc này vốn có thâm thù Giáo Hội La Mã, cho nên họ
đã không để cho Giáo Hội tự do tung tác sử
dụng bạo lực của chính quyền để cưỡng bách nhân dân
ta phải theo đạo như ý muốn của Vatican. Vì thế mà
con số con chiên của Nhà Thờ Vatican chi loanh quanh
từ 5% đến 7% trên tổng số dân số.
c.- tại các nước Nhật Bản,
Triều Tiên, Trung Hoa, Thái Lan, Miến Điện, và nhiều
nước Á Châu khác, con số tín đồ Ki-tô chỉ loanh
quanh từ 1/10 của 1/1000 đến 1% trên tổng sổng số
dân số. Lý do là Nhà Thờ Vatican không hề có quyền
lực chính trị tại các quốc gia này. Vấn đề này sẽ
được trình bày rõ ràng trong phần chót của chương
sách này.
KẾ SÁCH CƯỠNG BÁCH VÀ DỤ KHỊ CỦA NHÀ THỜ
Thông thường, khi đôi diện với các giáo dân, những
người tò mò thường đặt ra vấn đề: Họ là dân đạo gốc
hay dân tân tòng? Nguyên nhân hay động lực nào khiến
cho họ tự nguyện hay bị cưỡng bách hoặc bị chèn ép
phải theo cái đạo quái đản mà văn hào Voltaire đã
ghê tởm gọi là “cái tôn giáo ác ôn” và người
Âu Châu đã coi là “đồ phế thải”?
Hy
vọng rằng phần trình bày dưới đây sẽ giải đáp được
thắc mắc trên đây.
Lịch sử cho thấy rằng kế
sách
truyền đạo hay thâu người vào đạo
của Nhà Thờ Vatican là tùy theo hoàn cảnh
chính trị tại địa phương. Xin tạm chia ra
làm 3 lọai hoàn cảnh chính trị như sau:
A.- Trường hợp chính quyền địa phương đã hoàn
toàn lọt vào tay của Giáo Hội La Mã, tức là Giáo Hội
đã thiết lập được chế độ đạo phiệt Ca-tô để cai trị
nhân dân. Chính quyền trở thành tay sai của Nhà Thờ.
Chính quyền này có nhiệm vụ phải dùng bạo lực của Nhà Nước để
cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo. Đây là
trường hợp các nước Âu Châu, các nước Mỹ Châu
La-tinh, Phi Luật Tân, v.v…
B.- Trường hợp Nhà Thờ không có một
chút quyền lực chính trị nào tại
địa phương. Đây là những trường hợp như ở Trung Hoa, Nhật
Bản, Triều Tiên, và Việt Nam trong những năm
1533-1784, v.v. Trong hoàn cảnh này,
các giáo sĩ truyền đạo tìm
đủ mọi cách cân la tiếp xúc với những
người cùng khổ trong xã hội, lựa một thời điểm
hay hoàn cảnh thích
hợp tiến tới iúp đỡ
an
ủi con mồi để mua chuộc
và gây cho họ cái mặc cảm, mang ơn đối với Nhà Thờ
Vatican. Chịu ảnh hương
sâu nặng của nền văn hóa tam giáo, người dân Đông
Phương vốn quen với nếp sống hiền lương, nặng tình
nặng nghĩa, cho nên, một khi đã mang ơn hay chịu ơn
của người nào, thì họ luôn luôn cảm thấy áy náy và
nôn nóng muốn đáp ơn lại bằng cách làm một cái gì
cho "ân công" đền đáp lại và cũng là để tỏ lòng biết
ơn của họ đối với người đã giúp đỡ họ. Có như vậy
thì lòng họ mới cảm thấy thanh thản. Lợi dụng cái
điềm này của dân ta, các ông giáo sĩ truyền đạo chỉ
đưa ra lời yêu cầu và nếu cần thì khẩn khoản hay nài
nỉ họ theo đạo. Rút cục, những người "mang ơn" này trở thành "con
chiên tân tòng" của Nhà
Thờ Vatican. Khi đã trở
thành con chiên ròi, họ được dạy
rằng "nhiệm vụ tông đồ" mới thật là con chiên "đạo đức", nghĩa là suốt đời của họ luôn luôn cần phải "dụ" thêm được người vào đạo. Ngòai những thủ
đoạn lưu manh này, các nhà truyền giáo còn sử dụng
kế sách:
1.-
Thuê người đi lượm những đứa trẻ thơ không cha không
mẹ (trong đó có con cái của giới tu sĩ và các bà
phước) đem về nuôi trong các viện mồ côi rồi tự động
rửa tội cho chúng.
2.- Bỏ tiền ra mua những đứa con
của các gia đình quá
nghèo khổ đem về nuôi và rửa tội cho chúng.
C.- Trường hợp Giáo Hội là thành phần
trong chính quyền tại thuộc địa của Đế Quốc Xâm Lược
Pháp (Việt Nam, Cao Mên, Ai Lao, Tunisia, Algeria,
Morocco, v.v…) hay của thuộc địa Đế Quốc Xâm Lược Mỹ
(Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975): Tại
đây, Nhà Thờ Vatican không được hoàn toàn tự tung
tự tác, mọi việc làm của giới
tu sĩ và tin đồ cúa Giáo Hội La Mã đều bị Pháp
(trong những năm 1858-1954) hoặc Mỹ (trong những năm
1954-1975) nắm quyền chỉ đạo tối cao để ý, theo dõi,
cầm chân. Vì thế mà mọi kế sách quá khích dùng bạo
lực của chính quyền do Nhà Thờ Vatican đưa ra đều phải
được sư chấp thuận của Pháp hay của Mỹ chấp thuận
mới được thi hành. Điển hình là (1) Kế Hoạch
Puginier được Nhà Thờ Vatican đưa ra vào đầu thập
niên 1860 bị Pháp lược bỏ rất nhiều (không thi hành
phần diệt tận gốc, trốc tận rễ Nho Giáo và giới Nho
sĩ) và mãi đến năm 1917 mới chính thức sử dụng chữ
Pháp và chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Hán trong văn thư
hành chánh. (2) Kế hoạch dùng bạo lực chính quyền
để biến toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam thành
công giáo hết trong vòng 10 được Hoa Kỳ ngầm đồng
lõa những phải đồi thành những “chiến dịch tố Cộng”
(làm bức bình phong che đậy cho những chiến dịch làm sáng danh Chúa) và
sau này là những “chiến dịch Phụng Hoàng”.
Tuy
nhiên, với kinh nghiệm của một con cáo già đã từng
lăn lộn trên sân khấu chính trị từ thế kỷ 4 cho đến
ngày nay, Giáo Hội La Mã có cả trăm phương ngàn kế
dùng tất cả những kế sách áp dụng trong cả hai
trường hợp A và B trên đây và thêm vào kế sách cưỡng
bách những người ngoài đạo nếu muốn thành hôn với
tín đồ Ca-tô thì phải theo đạo.
Như
vậy là chính sách truyền đạo và thâu người vào đạo tại Việt Nam
tùy theo thời kỳ và tùy theo hoàn
cảnh chính trị tại từng địa phương, của Nhà
Thờ Vatican đã thi hành cả ba kế
sách A, B và C trên đây.
A: ở Liên Khu V trong những năm 1955-1963, B: trong
những năm 1533-1984, C: trong những năm 1984-1975.
Riềng từ năm 1975, Nhà Thờ Vatican vẫn còn thi hành
cả kế sách B và C.
(xem tiếp)
CHÚ THÍCH
* Ca-tô = Da-tô = Công Giáo, được dùng trong nhiều tài liệu khác nhau nhưng có cùng một nghĩa.
[1] Chu Văn Trình, Văn Sử Địa (Tavares,
Florida: Ban Tu Thư Tự Lực, 1989), tr. 80.
[2] Lời phát biểu của Giám0muc Ngô Quang Kiệt
trong buội thảo luyân với Ử Ban Nhân Dân Thành Phố
Hà Nội vào ngày Thứ Bảy 20/9/2008.
[3] Trần Minh Khoa “Cầu Nguyện Đòi Đất", Sự Thật
Nào "Sẽ Giải Phóng Anh Em"?” sachhiem Ngày
13/9/2008.
[4] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng và Hành Động
(Sàigòn: Quan Điểm, 1964) tr. 46.
[5] Trần Chung Ngọc. “Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang
Giao Với Vatican.” Sachhiem.net. Ngày 16/2/2009.
[6] Ban Tôn Giáo Của Chính Phủ, Một Số
Vấn Đề Lịch Sử Đạo Thiên Chúa Trong Lịch Sử Dân Tộc
Việt Nam (Tp Hồ Chí Minh: Viện Khoa Hoc Xã Hội và
Ban Tôn Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh. 1988) tr 29.
[7] Marvin E. Gettleman, Vi?t Nam: History,
Documents, And Opinions on a Major World Crisis
(New York: Fawcett World Library, 1966) p. 15.
[8] Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ
Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA:
Hương Quê, 1988), tr.73-74.
[9] Bùi Ðức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo
- Phần Nhì (Sàgòn, Chân Lý 1972), tr 280.
[10] Bùi Ðức Sinh, Sdd., tr 280.
[11] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá và Lưỡi Gươm
(Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr, 50.
[12] Dương Thông, Dưới Bóng Thánh Đường
(Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thanh Niên, 1990), tr. 25.
[13] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 76-78.
[14] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập
1 (Los Alamitos, CA: Vi?t Nam, 1989), tr 79-80.
[15] Hoàng Co Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn
4 (Paris: Nam Á, 2002), tr. 1970.
[16] Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 128-130