Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_06a.php

| bản in | ¿ trở ra mục lục | 17 tháng 4, 2009

PHẦN II

(tiếp theo)

◎◎◎

CHƯƠNG 6

NHỮNG ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO
NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO CA-TÔ (*)

(tiếp theo)

Động Lực Khiến Cho Người Việt Nam Theo Đạo - Khác Với Người Âu Mỹ

Giáo dân TCG ở Âu Mỹ nói chung, không cuồng tín như giáo dân ở Việt Nam vì lý do như sau:

Bên Âu Tây, đế quốc La Mã thống trị toàn vùng rộng lớn, bao gồm từ Bắc Âu tới Bắc Phi, các nước quanh vùng ven biển Địa Trung Hải. Khi Giáo Hội La Mã ra đời thì tất cả mọi người trong vùng đó đều bị cưỡng bách theo đạo Ki-tô La Mã hết, nghĩa là họ không tự nguyện theo. Mọi người chung quanh họ đều như thế cả, cho nên họ không có mặc cảm khác người ta. Họ cũng không có mặc cảm vọng ngoại, hay theo giặc phản quê hương. Vì thế họ không thiết tha bảo vệ đạo như những người ở xứ nghèo có nền văn hóa khác, bị dụ theo đạo như Việt Nam.

Ở những nước nghèo, bị La Mã truyền đạo bằng dụ dỗ, và cấu kết với các cường quốc để cùng chiếm làm thuộc địa. Số đông dân nghèo được các cha đạo cho kẹo bánh, thuốc men, trị bệnh sốt rét ngả nước,... hoặc hứa hẹn được mướn làm công, làm đầy tớ, hay công chức, cho họ, được trả lương hậu hỉ... nên đã tình nguyện mà theo. Do có nguyên nhân thấp hèn, như thế, những người Việt theo đạo này bảo vệ con đường đi của mình, để che đậy mặc cảm theo Tây, theo giặc, theo vật chất,... Vì thế họ luôn bênh vực phe ngoại xâm phương Tây và cố gắng tô vẽ đạo TCG, bao che các tội phạm của người trong đạo.

Đó là những đặc tính của người cuồng tín. Lối sống như thế được truyền từ đời cha mẹ xuống con cái, và trải qua mấy đời, cho đến nay nên người theo đạo TCG ở Việt Nam nói chung là cuồng tín. Dưới đây xin đi vào chi tiết.

1.- Nguyên nhân theo đạo của “những người theo đạo để lấy gạo mà ăn”.- Vatican vốn dĩ đã có kế sách rõ rệt về việc truyền đạo ở các quốc gia mà quyền lực của Nhà Thờ Vatican chưa vươn tới, hoặc dù đã vươn tới nhưng chưa đủ mạnh để thiết lập chế độ đạo phiệt rồi sử dùng bạo lực và tất cả các phương tiện của chính quyền để truyền đạo hay mở rộng nước Chúa. Xin tạm gọi kế sách này là cẩm nang truyền đạo của các ông giáo sĩ truyền đạo ở Việt Nam.

Theo cẩm nang này thì các điệp viên chuyên nghiệp đến Á Châu hoạt động với danh nghĩa là các nhà truyền giáo để thâu người vào đạo rồi gom họ lại sống với nhau trong các khu vực biệt lập gọi là “Xóm Đạo” hay “Làng Đạo”. Vì đã thuộc lòng những điều chỉ dẫn trong cẩm nang này, cho nên khi đến Việt Nam, các ông truyền giáo phải hành động từng bước và từng bước theo đúng như kế sách của Vatican đã vạch ra.

Theo cẩm nang này, giai đoạn đầu,  khi mới bước chân tới Việt Nam, các ông truyền giáo  phải lân la tiếp xúc với lớp người dân cùng khổ hay những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, rồi tùy theo hoàn cảnh để mua chuộc họ bằng cách giúp đỡ họ một chút ít vật chất (tiền bạc) trong lúc ngặt nghèo khốn khó, hay cho họ một viên thuốc trị bệnh sốt rét (thuốc Ki-ninh) nếu gia đình họ có người mắc chứng bệnh này. Trong khi tiếp xúc với họ, các ông truyền giáo luôn luôn nhắc nhở họ phải cầu xin Chúa ban ơn cứu giúp, thì mới có hy vọng được Chúa giúp cho thoát khỏi hoàn cảnh khốn cùng hay cơn bệnh ngặt nghèo. Những người được giúp đỡ nếu thoát qua được những khó khăn mà họ đã gặp, tất nhiên là họ dễ dàng tin rằng nhờ tin có Chúa và cầu Chúa cho nên họ mới được Chúa cứu giúp. Đây là một trong những thủ đọan đại bịp trong việc mở mang nước Chúa của Nhà Thờ Vatican.

Ta gọi tín đồ Ca-tô thuộc loại này là những người “đạo gạo”. Hầu hết những người theo đạo thuộc loại này là những người ít học và dốt nát. Được giúp đỡ thoát khỏi cảnh khó khăn, họ dễ dàng tin theo lời rao tuyền và dậy dỗ của các ông giáo sĩ. Vì thế mà họ dễ dàng bị mê hoặc và trở thành hạng người cuồng tín.

Ở các quốc gia khác ngoài Á Châu, như ở Âu Châu và các thuộc địa của các đế quốc Tây Ban Nha (Mỹ Châu La-tinh và Phi Luật Tân, Bồ Đào Nha (Ba Tây và ở Phi Châu), Bỉ (ở Phi Châu) và Pháp (ở Phi Châu và Á Châu), vì các đế quốc này đều cấu kết với Nhà Thờ Vatican, cho nên việc mở mang nước Chúa thông thường nhất là sử dụng bạo lực của chính quyền. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:

“Khi đến lập nghiệp ở Châu Mỹ La-tinh, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đem theo tôn giáo của họ đến đây. Họ cho rằng ngươi Da Đỏ bản địa là những người tà giáo hay không theo tôn giáo nào cả. Sự thật, người Da Đỏ có tôn giáo riêng của họ. Tôn giáo của họ căn cứ vào niềm tin quyền lực của thiên nhiên ở chung quanh họ. Ho thờ thần mặt trời, thần gió và các thần của tất cả những sức mạnh trong thiên nhiên. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cho rằng đó không phải là tôn giáo và dùng bạo lực đàn áp họ. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tin rằng bổn phận của họ là phải biến dân Da Đỏ thành những tín đồ Ki-tô La Mã.” Nguyên văn: “The Spanish and Portuguese settlers in Latin America brought their religion with them. They believed the Indians to be pagans, or people who had no religion. In fact, the Indians did have their own religion. It was based on their belief in the powers of nature around them. They worshiped the sun, the winds, and the forces of nature. The Spanish and the Portuguese did not think this is a religion, and they took step to crush it. The Spanish and the Portuguse believed it was their duty to convert the Indians to Christianity and tho the Catholic Church.”[17]

Chính sách mở mang nước Chúa một cách tàn ngược và dã man như vậy đã làm cho dân số người Da Đỏ từ 32 triệu dân vào năm 1520, đến năm 1548 chỉ còn có 5 triệu người. Sự kiện này được ông Phạm Quốc Sử ghi lại như sau:

"Bởi thế, việc Christopher Columbus rồi Amerigo Vespucci đến Châu Mỹ cũng chính là sự khởi đầu của quá trình người Châu Âu mang những tai họa thảm khốc đến cho châu lục này. Cụ thể chỉ sau mấy năm đầu thống trị của thực dân Tây Ban Nha, hơn một triệu cư dân bản địa trên quần đảo Antilles thuộc vùng biển Caribbean đã bị tiêu diệt gần hết. Khi tiến đánh Mexico, thực dân Tây Ban Nha đã thẳng tay phá trụi tất cả những công trình văn hóa cổ xưa và tiêu diệt gần hết số dân trong thành Mexico [8, p 544]. Ở khu vực Nam Mỹ, Francisco Pizarro cùng với băng đảng gồm 160 thợ săn kho báu người Tây Ban Nha của ông ta, bằng súng thần công và ngựa, đã dìm toàn bộ nền văn minh huy hoàng của người Inca trong biển máu. Không chỉ chiếm đất đai, giết người, cướp của và tàn phá nền văn minh Inca, người Âu Châu còn reo rắc những căn bệnh lạ như bệnh sởi, khiến cho cộng đồng người Inca bị hủy diệt với tốc độ nhanh chóng. Năm 1520, dân số Inca có khoảng 32 triệu người, nhưng đến năm 1548 chỉ còn khoảng 5 triệu. Ngày nay cái tên Inca có lẽ chỉ còn được nhắc đến như một minh chứng về sự hủy diệt các nền văn minh mà thôi." [18].

Trên đây là nói về phương cách và thành tích mở mang nước Chúa của Nhà Thờ Vatican ở Chậu Mỹ La-tinh. Phương cách và thành tích mở mang nước Chúa của Nhà Thờ Vatican ở các thuộc địa các đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Bỉ ở các lục đia khác cũng giống như vậy.

Trái lại, Á Châu, vì không nắm trọn quyền lực chính trị ở trong tay, Nhà Thờ Vatican phải sử dung những thủ đoạn hay mánh mung khác mà thông thường nhất là dùng vật chất để giúp đỡ nhỏ giọt những người cùng khổ rồi tìm cách khẩn khoản hay buộc họ phải theo đạo thì mới được tiếp tục giúp đỡ.

Tại Trung Quốc, chưa bao giờ Nhà Thờ Vatican có quyền lực ở đây, cho nên ở quốc gia này, hầu như không có những người “theo đạo để tạo danh đời”. Thế nhưng, trước khi Cộng Đảng Trung Hoa lên nắm chính quyền vào ngày 1/10/1949, người dân Trung Hoa hầu như triền miền sống trong cảnh nghèo đói khổ sở dưới ách thống trị của bọn vua quan phong kiến hay bọn tướng quân lãnh chúa hoặc bọn hoạt đầu chính trị thối nát Quốc Dân Đảng. Lợi dụng tình trạng này, các ông truyền giáo Ca-tô cũng sử dụng những miếng mồi vật chất để câu nhử hay dụ khị những người dân nghèo khổ vì tham lợi, chạy theo bắt mồi mà theo đạo. Cũng vì thế mà người Trung Hoa cũng có từ ngữ “đạo gạo” (rice Christians). Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:

"Từ trước, đã có những sự xích mích giữa người Trung Hoa và các nhà truyền giáo, nhưng sự xích mich lần này rất là gay go do hậu quả của việc người Trung Hoa hiểu lầm về bản chất những họat động của các nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo và tín đồ Da-tô bị tố cáo là làm những việc phi luân và bất hợp pháp như là "khóet lấy tròng mắt của các trẻ em để tán làm bột thuốc". Ngoài ra, quy chế ngoại trị pháp quyền, vịêc tự cho là có độc quyền sự thật về tôn giáo và hành động chỉ biết có tôn giáo của minh mà không cần biết đến những người thuộc các tôn giáo khác (vào những khi có thiên tai thí dụ như nạn đói, các nhà truyền giáo chỉ phân phối gạo cho tín đồ Da-tô, dân Trung Hoa gọi đồng bào của họ theo đạo Da-tô là "dân đạo gạo” hay là “những người theo đạo lấy gao mà ăn"). Tất cả làm cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn. Phần lớn các nhà truyền giáo không nói được tiếng Trung Hoa cho có văn vẻ. Sự kiện này chắc chắn cũng làm cho tình trạng rắc rối thêm. Trong thế kỷ 19, có những trương hợp cá biệt trong đó các nhà truyền giáo và nhiều tín đồ Da-tô người Trung Hoa bị sát hại. Trong mỗi trường hợp, cường quốc có các nhà truyền giáo bị sát hại nhào vô lấy đó làm cái cớ để yêu sách Trung Hoa phải nhượng thêm đất đai. Đối với đại đa số người Trung Hoa, các nhà truyền giáo là những tên gian điệp ngọai quốc và tín đô Da-tô người Trung Hoa là những người vong bản, phản quôc, phản quê hương. Với tình hình phức tập như vậy, tất nhiên là lực lượng nghĩa quân "Quyền Anh" coi các nhà truyền giáo và tín đồ Da-tô người Trung Hoa là mục tiêu đầu tiên của họ.”

Nguyên văn: "That there had been friction between Chinese and missionaries has been said before; this friction was intensified as a result of Chinese misunderstanding of the nature of missionary activities. The Christians were accused of conducting immoral and illegal activities, such as "extracting eyes from infants to be commpounded into direful drugs." Besides their extraterritorial status, their assumed superiority for having embraced the true faith and their alleged clannishness (in time of famine, for instance, the missionaries distributed rice only among their converts, derogatorily referred to by other Chinese as rice Christians) combined to make the situation worse. That most missionaries could not communicate intelligible Chinese doubtless increased the confusion. During the nineteenth century, there were isolated case in which missionaries and converts were murdered, and in each case the foreign power from which these missionaries came quickly use the unfortunate occurrences as pretexts for demanding Chinese territories or other concessions. To the unsophisticated majority of Chinese, these missionaries were foreign agents and their Chinese converts were traitors to their own country and culture. Given the complexity of the situation, it was not surprising that the Boxers' first target was the missionaries and their Chinese converts.”[19]

Giống như Trung Hoa, trong thời kỳ từ 16 cho đến mấy thập niên chót của thế kỷ 20, Việt Nam cũng ở trong tình trạng chậm tiến và nghèo đói. Vì vậy mà Vatican mới có thể thi hành kế sách dùng miếng mồi vật chất câu nhử những phường tham lợi để bọn người này chạy theo bắt mồi mà đành lòng “bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai.

Đây là những thành phần nghèo đói vì tham lợi mà theo đạo. Chúng ta đặt ra hai trường hợp sau đây:

Trường hợp 1.- Nếu vì hoàn cảnh quá nghèo khổ mà họ theo đạo để được no cơm ấm áo, hoặc những người theo đạo thuộc loại “lạy Chúa Ba ngôi” (nín thở qua sông) để lấy vợ lấy chồng hay để khỏi bị tù tội, thì chúng ta có thể chấp nhận được.

Trường hợp 2.- Nhưng Nếu sau khi theo đạo để thoát cơn hiểm nghèo như trên rồi lại trở thành “La Mã hơn cả La Mã”, cuồng tín đến độ lớn tiếng bảo nhau rằng “thà mất nước, chứ không thà Chúa”, thì quả thật là mối đại họa cho đất nước. Tệ hơn nữa, để tỏ ra "đạo đức", họ còn sốt sắng nhắm mắt nghe theo lời xúi giục của các đấng bề trên trong Giáo Hội La Mã tham gia các cuộc bạo loạn gây rối. Khi tạo nên tình trạng bất ổn trong xã hội như thế, họ còn tỏ ra "hãnh diện" và "trâng tráo", ngang nhiên nói trắng ra rằng họ chỉ biết tôn trọng giáo luật của Giáo Hội La Mã mà không cần biết đến việc phải tôn trọng luật pháp quốc gia.

2.- Lọai người theo đạo vì thèm khát quyền lực. Trong những năm 1792-1802, Việt Nam ở trong tình trạng nội chiến giữa triều đình Tây Sơn (1788-1802) và phe nổi loạn Nguyễn Ánh. Lợi dụng hoàn cảnh này, Vatican cho Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lôc) móc nối, kết thân và tìm viện trợ quân sự giúp cho phe nổi loạn Nguyễn Ánh. Nhờ có quân viên này mà Nguyễn Ánh mới đánh bại được nhà Tây Sơn. Trong thời gian này, nhờ dựa vào cái thế là “quân sư tối cao” của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc (có Vatican ở hậu trường) sử dụng cái chức vụ quân sư này trong chính quyền của Nguyễn Ánh mà Nhà Thờ Vatican đã câu nhử được một số khá nhiều người theo đạo. Những người thèm danh lợi tìm cách theo đạo để cẩu thân với các ông truyền giáo với hy vọng được thăng quan tiến chức một cách dễ dàng.

Suốt trong chiều dài lịch sử, đặc biệt là từ năm 1858 cho đến tháng 3 năm 1945 cũng như những năm Kháng Chiến 1945-1954, Vatican vừa là thành viên quan trọng trong Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đánh chiếm và thống trị Việt Nam, vừa là cha đẻ ra chính quyền Bảo Đại. Những năm 1954-1975, Vatican là thành viên trong Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican, cùng với Hoa Kỳ khai sinh ra chính quyền miền Nam Việt Nam, và cũng là thế lực ngồi ở hậu trường sân khấu chính trị lèo lái các chính quyền này. Ở vào những địa vị quan trọng như vậy, Vatican đã có thể tha hồ tung tác sử dụng những lợi lộc và các chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử để có thêm "tín đồ". Vì vậy mà từ 1858 đặc biệt là từ tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 30/4/1975, Vatican đã "chài" được một số khá đông tân tòng.

Với kinh nghiệm đã từng sống chung với nhiều tín đồ Ca-tô, người viết biết rằng trong những năm 1954-1975, ở miền Nam Việt Nam, (1) có nhiều tín đồ Ca-tô chưa học xong bậc tiểu học cũng được các ông linh mục đưa vào theo học Liên Trường Võ Khoa Thủ Thủ Đức, và (2) có một số tín đồ Ca-tô tuy rằng có bằng Tú Tài 2, nhưng hầu như rất dốt về sử địa. Ấy thế mà họ cũng lọt vào danh sách của những thí sinh trúng tuyển Ban Sử Địa trong một kỳ thi chỉ lấy có 40 người trong khoảng số trên 1200 (một ngàn hai trăm) thí sinh dự thi được tổ chức vào ngày 11 tháng 7 năm 1961.

Người viết không biết chắc có bao nhiêu người Việt Nam “theo đạo để tạo danh đời”. Có một điều chắc chắn con số những người theo đạo thuộc lọai này nhiều lắm. Mục đích theo đạo của loại người này là khi theo đạo rồi thì họ sẽ dựa hơi hay cậy cục vị linh mục đã rửa tội cho họ theo đạo hay gia đình của nhân vật đỡ đầu (Godfather hay Godmother) chạy chọt giúp đỡ cho họ được mau chóng thăng quan tiến chức, hoặc là họ có thể dựa thế chính quyền hay những người Ki-tô có thế lực trong chính quyền để chạy "affaires", hoặc là họ có thể dễ dàng làm ăn trong cộng đồng của những người Ca-tô. Bản văn dưới đây do nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) cho chúng ta thấy rõ tình trạng này:

Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác, ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời của đạo Thiên Chúa, bởi vì gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay không, tương lai của ông ta có leo lên được nữa hay không, đều tùy thuộc cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên ông hay tìm đến làm thân với các vị linh mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh gấp trăm lần ý kiến của quan trên! Tương tự như thế, một lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho cha Xuân lúc xây nhà thờ, từng xuống dự lễ Noel, quì mỏi gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống tặng nhà xứ một cành mai thật lớn!…”[20]

Hành động o bế Nhà Thờ Vatican và ý đồ muốn  theo đạo để củng cố quyền lực hay thăng quan tiến chức của ông quận trưởng trên đây cũng là hành động và ý đồ của rất nhiều người  khác đồng bệnh háo danh thèm khát quyền lực  trong những 1858-1945, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Những người như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Lâm Văn Phát, Lâm Lễ Trinh, Huỳnh Hữu Nghĩa, v.v… đều là loại người này. Lời thú nhận của cựu Tướng Lâm Văn Phát nói lên sự kiện về những người theo đạo Ca-tô vì bị lôi cuốn bởi miếng mồi quyền lực (chức vụ và địa vị quyền cao chức trọng trong chính quyền). Lời thú nhận này được sách Chân Dung Tướng Ngụy Sàigòn ghi lại với nguyên văn như sau:

"Từ năm 1948 đến 1954, tôi vẫn loanh quanh dẫm chân với cái lon trung tá giả định vì cái "án" có cha và chị đi kháng chiến làm cán bộ Việt Minh. Sang thời Ngô Đình Diệm lại cái bảng đen ngầm "gia đình Việt Cộng", trong lúc đó thì bọn sĩ quan đàn em như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu Có... có thời cơ leo lên vùn vụt. Lúc này, tôi nẩy ra cách thoát thân để được lòng tin cậy của triều đình họ Ngô. Cuối năm 1957, tôi xin vô đạo Thiên Chúa, xin "cậu út" Ngô Đình Cẩn nhận làm bố đỡ đầu (parrain) mặc dầu Cẩn chỉ hơn tôi dăm bẩy tuổi..."[21]

Trong cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tác giả Chính Đạo, tức sử gia Vũ Ngự Chiêu, ghi nhận việc theo đạo của ông Hùynh Hữu Nghĩa cũng tương tự như vậy với nguyên văn như sau:

"Thư đề ngày 17/2/1962, Fishel gửi Hamah; FRUS, 1961-1963 II: 149. The Fishel, một bộ trưởng (Huỳnh Hữu Nghĩa) đã cải đạo; (Ibid, II: 46) và nhiều sĩ quan cải đạo để mong được thăng cấp. (Ibid., II: 56, 45").” [22]

Sách Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 viết:

"... số người a dua chạy theo chính quyền để trục lợi vẫn còn là đại đa số. Vào đầu năm 1963, tất cả tỉnh trưởng được bổ nhiệm tại miền Nam đều là đệ tử của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục hay của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Tại miền Trung, các tỉnh trưởng đều là các thủ túc của Ngô Đình Cẩn, em út của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy không giữ chức vụ gì chính thức, Ngô Đình Cẩn tự ban cho mình chức Cố Vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị tại Trung Việt, Cao Nguyên và Hải Ngọai.

"Ngoài ta, tuyệt đai đa số các dân biểu trong Quốc Hội cũng đều là tay sai trung thành của chế độ. Hơn nữa, các phong trào chính trị toàn quốc đều do họ Ngô thành lập để tạo hậu thuẫn trong dân chúng. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao và Phong Trào Thanh Niên Cộng Hòa của Ngô Đình Nhu, Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ của vợ Nhu là Trần Lệ Xuân, và không kể biết bao nhiêu đoàn thể chầu rìa khác chạy theo voi để hít bã mía!" [23]

Theo sự hiểu biết của người viết, ngoài ra, còn có rất nhiều người trong giới tướng lãnh, sĩ quan cấp tá và cấp úy, rất nhiều viên chức trong chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cũng "vô đạo" vì "động lực" giống y như "động lực theo đạo" của cựu Tướng Lâm Văn Phát, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lâm Lễ Trinh và Nguyễn Đình Thuần, v.v…

Trường hợp theo đạo của ông Nguyễn Văn Thiệu được ông Phạm Liễu kể lại trong cuốn Trả Ta Sông Núi 2 với nguyên văn như sau:

"Sau năm 1954, ông Thiệu đã được lên tới cấp Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu ở Huế, dưới quyền Đại Tá Trương Văn Xương. Mùa Thu năm 1954, khi cuộc tranh chấp giữa Tướng Nguyễn Văn Hinh và Thủ Tướng Diệm bùng nổ, Thiếu Tá Thiệu gia nhập Đảng Con Ó, cùng với Trung Tá Trần Thiệm Khiêm, Thiếu Tá Hoàng Xuân Lãm, Đại Úy Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Mạnh, v.v... để yểm trợ Nguyễn Văn Hinh. Sau khi Tướng Hinh phải rời nước, nhóm Thiếu Tá Thiệu bị đưa về Sàigòn điều tra. Để thoát khỏi sự nghi kỵ của chế độ Diệm, Thiếu Tá Thiệu xoay qua đường giây Thiên Chúa Giáo của nhà vợ.

Nguyên ông Thiệu lấy bà Kim Anh, người Mỹ Tho, có đạo Thiên Chúa, đã lâu nhưng không chịu rửa tội.... Nhưng sau ngày ông Diệm cầm quyền, đạo Thiên Chúa biến thành một thứ chìa khóa danh vọng và quyền lực cho những ai tham vọng. Bởi thế ông Thiệu quyết tâm "trở lại với đạo". Trung Tá Thiệu cẩn thận năn nỉ Linh-mục Bửu Dưỡng, lý thuyết gia bản xứ của Đảng Cần Lao, đích thân rửa tội cho ông ta ở Đà Lạt. Nhờ vậy, ông Thiệu được thăng cấp Đại Tá và được giao cho nắm Sư Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5 ở Biên Hòa. Đại Tá Thiệu còn được vào Quân Ủy của Đảng Cần Lao." [24]

Trường hợp theo đạo của ông Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Đệ Nhất Cộng Hòa, ông Phạm Phú Bổn viết trong bài viết Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ Trinh trong đó có mấy đọan như sau:

"Trước hết là suy nghĩ về hai chi tiết rất sâu sắc của ông Trần Vĩnh Long về cấu trúc văn hóa và căn cước chính trị của ông Lâm Lễ Trinh. Ông theo đạo Công giáo La Mã vào năm 1958, thời điểm cực thịnh của hiện tượng “theo đạo có gạo mà ăn” dưới nền Đệ nhất Cộng hòa. Đó cũng là thời điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành ý đồ Công giáo hóa miền Nam qua hai chính sách đàn áp trù dập Phật giáo, lực lượng văn hóa nền móng và đa số của xã hội Việt Nam, và phân phát đặc quyền đặc lợi cho những người đồng đạo Công giáo cả ở trong lẫn ngoài chính quyền. Các kế sách Dinh Điền, Khu Trù Mật, (và sau nầy là Ấp Chiến Lược); các tiêu chuẩn kỳ thị về tôn giáo trong chính sách nhân dụng của bộ máy hành chánh và quân đội, trong các lãnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, và quốc phòng, ... đã làm cho không thiếu người từ bỏ truyền thống tâm linh của dân tộc, đổi đạo để tìm bổng lộc và/hoặc để bảo toàn mạng sống. Ông Lâm Lễ Trinh đổi đạo đúng vào thời gian đó! Và ông đã làm đến chức Bộ trưởng bộ Nội vu, một chức vụ cực kỳ quan trọng trong một chế độ độc tài với mạng lưới công an mật vụ dày đặc của miền Nam.". [25]

Con số người theo đạo thuộc lọai này (theo đạo tạo danh đời) có thể lên đến hàng mấy chục ngàn hay hàng trăm ngàn người trở lên cho đến hàng triệu. Cũng vì thế mà ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, trong các ngành cảnh sát, công an, mật vu, trong các trường Quốc Gia Hành Chánh, trong các ngành thẩm phán, ngành chiến tranh tâm lý, chúng ta thấy tín đồ Ca-tô chiếm một tỉ lệ rất cao, có thể nói là trên 85% trong khi tín đồ Ca-tô ở miền Nam nhiều lắm là 7%.

Người viết còn được biết, sau năm 1975, khi biết rõ đời sống khá giả của người Việt hải ngoại ở Mỹ, những người truyền đạo Thiên Chúa (cả Công Giáo và Tin Lành) phao tin rằng nếu theo đạo, thì sẽ dễ dàng được Giáo Hội bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý do này, kể từ đó, ở Việt Nam, có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Một cặp vợ chồng bạn của người viết ở Cần Thơ đã theo đạo vì lý do này. Những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung Việt mới theo đạo Tin Lành từ 1985 trở về sau cũng vì lý do này. Đây là mánh khóe lừa gạt của các nhà truyền đạo và những tín đồ Ki-tô cuồng tín theo lệnh truyền của các đấng bề trên đi dụ khị những người ngây thơ ham hố muốn đi định cư hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Canada và Úc Đại Lợi. Cặp vợ chồng người bạn của người viết ở Cần Thơ đã theo đạo từ trước năm 1995, cho đến nay (tháng 2/2009) cũng vẫn còn ở Cần Thơ và vẫn không có hy vọng gì di cư sang Mỹ định cư theo cái diện mà các nhà truyền giáo đã hứa hẹn với họ. Thủ đoạn lưu manh của những người truyền đạo Ki-tô (bất kể là Ki-tô La Mã hay Tin Lành) như thế đó!

3.- Loại người theo đạo vì hôn nhân.- Đây là trường hợp của những người muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Ca-tô nên bị chèn ép phải theo đạo. Nếu không theo đạo thì gia đình của người yêu sẽ làm khó dễ và ngăn cản, không cho tiến hành làm lễ thành hôn. Chính vì tình trạng này mà Việt Nam ta mới có câu nói:

Lạy Chúa Ba Ngôi,

Tôi lấy được vợ, tôi thôi đi nhà thờ.

 

4.- Loại người theo đạo để được khỏi bị chụp mũ là công sản hay khỏi bị nhân viên chính quyền đạo phiệt Ca-tô đến kiếm chuyện. Đây là trường hợp của những người dân các tỉnh nằm trong Liên Khu V (Thừa Thiên, Quang Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa). Vùng này, từ tháng 8 năm 1945 cho đến khi bị chính quyền miền Nam tiếp thu vào đầu năm 1955 thuộc quyền kiểm sóat của chính quyền Kháng Chiến Việt Minh. Trong thời gian này, tất cả mọi người dân từ các em học sinh bậc tiểu học cho đến các vị bô lão khoảng 60 tuổi đều gia nhập các đoàn thể cứu quốc như Đoàn Nhi Đồng, Đoàn Thiếu Nhi, Đoàn Thanh Niên, Đoàn Phụ Nữ, Nông Hội, v.v… Xã Đội Dân Quân, Xã Đội Du Kich, v.v… Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp thu vùng này vào đầu năm 1955, bọn công an và mật vụ của Nhà Thờ Vatican biết rõ các danh tánh những thành viên của các đòan thể này và dùng đó làm lý do để cưỡng bách họ phải theo đạo. Nếu ai không theo đạo, thì sẽ bị gán cho là theo Việt Minh Cộng Sản và sẽ bị bọn công an, cảnh sát và mật vụ  bắt giam, tra tấn và thủ tiêu. Có rất nhiều độc giả đã viết thư cho người viết kể lại chuyện này, trong đó có hai lá thư dài đã được in nơi các trang 324-327, Chương 11, Quyển Một của bộ sách Thực Chất Giáo Hội La Mã (Tacoma,Washington: TXB, 1999). Sự kiện này cũng được sách Thập Giá và Lưỡi Gươm ghi lại một cách đại lược như sau:

Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với "kẻ địch", bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát.” [26]

5.- Lọai trẻ mồ côi, không cha, không mẹ được các nhà truyền giáo lượm đem về nuôi ở trong các viện mồ côi rồi đem chúng ra nhà thờ rửa tội.

6.- Loại trẻ em con nhà nghèo khó bị cha mẹ bán cho các nhà truyền giáo.- Ở bất kỳ vào thời đại nào và ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nhiều gia đình nghèo khó hơn là các gia đình trung lưu và giầu có. Trong các gia đình nghèo khó, có những gia đình cực kỳ nghèo khổ, con cái nheo nhóc. Tại các quốc gia bị chiếu cố, Giáo Hội La Mã cần móc nối và bắt rễ với người địa phương để thiết lập cơ sở làm cứ điểm khởi phát cho kế họach thâu người vào đạo. Một trong những thành phần bị lọt vào con mắt cú vọ của các ông truyền giáo là những gia đình cực kỳ nghèo khổ này. Họ tìm đến thương lượng để mua con cái của các gia đình này về nuôi dưỡng để khi lớn lên sé trở thành những cán bộ họat động cho họ trong những kế họach kế tiếp do Nha Thờ Vatican đã vạch ra. Sự kiện mua các trẻ em như vậy được sách Ngàn Năm Soi Mặt ghi nhận như sau:

"Vào giữa thế kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục lệ bán con nói trên.

Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Ki-tô tìm đủ mọi cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để rửa tội cho mỗi người ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm 1858..... Số trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng. Đa số "các chú" trong các "nhà Chúa Blời" đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về." [27]

7.- Loại người theo đạo vì được Nhà Thờ can thiệp với chính quyền của giặc để thoát khỏi vòng tù tội: Trong suốt thời kỳ từ năm 1862 cho đến năm 1945, từ Nam ra Bắc, có rất nhiều tổ chức nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta nổi lên lập chiến khu và tiến hành những chiến dịch tấn công chính quyền Bảo Hộ. Để trả đũa, Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatican cho mở các cuộc hành quân tiến đến bao vây, tấn công các chiến khu này và tấn công cả các làng mạc ở chúng quanh. Trong các cuộc hành quân vào các làng mạc này, chúng tàn phá mùa màng, thiêu rụi nhà cửa, phá hủy các đền đài, đình quán, và chùa chiền, bắn giết bừa bài, hãm hiếp đàn bà con gái, bắt bớ, tra tấn tất cả những người nào chúng tóm được rồi đem đi giam cầm trong các nhà tù ở Sơn La, ở Côn Sơn và nhiều nơi khác. Lợi dụng cơ hội này các ông truyền giáo tìm cách móc nối với những gia đình nạn nhân hứa hẹn sẽ can thiệp để cho nạn nhân bị bắt oan được phong thích với điều kiện phải theo đạo. Theo sự hiểu biết của người viết, trong giáo xứ (họ đạo) An Bằng ở Huế, có nhiều người theo đạo Ca-tô ở vào trường hợp này.

Chính sách dã man này cũng được Liên Quân Xâm Lược Pháp – Vatican thi hành tại triệt để trong các vùng bị chúng tạm chiếm trong thời Kháng Chiến 1945-1954 và Nhà Thờ Vatican cũng sử dụng quái chiêu can thiệp cho những nạn nhân bị bắt oan được phóng thích với điều kiện phải theo đao. Quái chiêu nãy cũng được Nhà Thờ Vatican áp dụng ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

8.- Loại đạo gốc.- Từ kép “đạo gốc” được dùng để chỉ thành phần con cháu của những loại người theo đạo trên đây. Người ta còn sử dụng các từ kép “đạo dòng” và “đạo bế ngửa” để chỉ những tín đồ Ca-tô thuộc loại này. Sờ dĩ gọi họ là loại “đạo bế ngửa” vì mới sinh ra đước mấy ngày hay mấy tuần lễ thì họ (những em bé sơ sinh) bị cha mẹ bế đến nhà thờ làm lễ rửa tội, và khi làm lễ rửa tội thì em bé này được người cha hay người mẹ bế ngửa để cho vị linh mục làm lễ vừa ruới hay xịt một chất lỏng giống như nước lã vào đầu đứa bé, vừa lẩm nhẩm đọc mấy câu phù phép giống y như hành động của các ông phù thủy trong lúc hành nghề. Cái chất lỏng này được Nhà Thờ Vatican bịp bợm gọi là “nước thánh” hay “dầu thánh”.

ĐẶC TÍNH CỦA NHỮNG NGUỜI XIN THEO ĐẠO

Trong 8 loại người theo đạo trên đây, mỗi loại người có những đặc tính riêng. Chúng tôi tạm phân loại những đặc tính của họ làm bốn nhóm người A, B, C và D như sau:

A.- Theo đạo vì hoàn cảnh khốn cùng.

Đây là trường hợp 3, 4 và 7 kể trên. Họ là những người bị cưỡng bách, hay chèn ép hoặc là bị khủng bố mà phải theo đạo. Như vậy là họ theo đạo cho xong nợ hay cho được chuyện. Phần trình bày trong loại 4 ở trên được coi như là tiêu biểu cho nhóm này. Việc họ theo đạo là do chính sách bỉ ổi, đê tiện và khốn nạn của Nhà Thờ Vatican mà ra. Đối với họ, đạo Ki-tô chả có giá trị gì cả, mà chỉ là những trò lưu manh bịp bơm của bọn lưu manh buôn thần bán thánh mượn danh tôn giáo y hệt như bọn đồng bóng và thày cúng ở vùng ven sông Chương Hà, trong câu nguyện "Hà Bá Cưới Vợ" mà thôi.

B.- Trở thành người có đạo vì ở viện mồ côi.

Đó là các trường hợp 5 và 6 kể trên. Vì hoàn cảnh mồ côi hay nghèo khổ mà lọt vào tay Nhà Thờ Vatican và bị đem đi rửa tội theo đạo khi còn là những em bé nhỏ tuổi. Đối với pháp luật của bất kỳ quốc gia nào trong cộng đòng nhân loại ngày nay, họ còn là những em bé vị thành niên, chưa có tư cách pháp lý để quyết định bất cứ một việc gì. Về phương tâm lý và xã hội, họ còn quá ấu trĩ để cân nhắc có nên theo đạo hay không, Như vậy, đối với công lý cũng như đối với lương tâm, việc họ theo đạo là vô giá trị. Những kẻ dẫn dắt hay xúi giục họ theo đạo là những phường bất lương và cần được pháp luật trừng trị.

C.- Cuồng tín di truyền.

Đó là những người theo đạo (thuộc lọai 8 kể trên)  mang những đặc tính di truyền của cha mẹ và chịu ảnh hưởng của môi sinh. Nói cho rõ, dân “đạo gốc”, “đạo dòng” hay “đạo bế ngửa” có những đặc tính theo quy luật di truyền “cha nào con ấy” và quy luật môi sinh “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Vì được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời và được Nhà Thờ Vatican đào tạo để biến thành “con chiên”, rồi lại sống trong xã hội Ca-tô với những nếp sống văn hóa ngược ngạo và ngược đời, cho nên những người này sẽ trở thành những tín đồ Ca-tô với tất cả những căn bệnh cuồng tín giống như những tín hữu Ca-tô người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ.

Hơn nữa, vì bị người truyền đạo (dụ dỗ) nên một số dân đã tình nguyện theo đạo Chúa (bằng sự thúc đẩy của lòng hám danh hám lợi). Do mặc cảm về nguyên nhân thấp hèn như thế, những người Việt theo đạo này BẢO VỆ con đường đi của mình, để che đậy mặc cảm theo Tây, theo giặc, theo vật chất,... Vì thế họ luôn bênh vực phe ngoại xâm phương Tây và cố gắng tô vẽ đạo TCG, bao che các tội phạm của người trong đạo. Đó là những đặc tính của người CUỒNG tín. Lối sống như thế, lòng dạ như thế được truyền từ đời cha mẹ xuống con cái, và trải qua mấy đời, các dân theo đạo này đa số đều mắc phải chứng CUỒNG TÍN là như thế.

D.- Người xu thời dễ trở thành ác nhân.

Những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực như kể trên nói chung là xu thời, là những người cực kỳ ích kỷ. Vì vậy, tất cả những quan nỉệm cao đẹp như công bằng, công lý, lẽ phải, lương tâm, nhân quyền, nhân nghĩa và liêm sỉ đều bị méo mó làm sao có lợi cho riêng "dân Chúa" mà thôi, chứ không đặt trên căn bản dân tộc.

Ở bất kỳ xã hội hay văn hóa nào, Đông Tây kim cổ, hạng người này có thể làm những chuyện đại nghịch bất đạo như giết cha, giết mẹ, giết anh em, đối xử tàn tệ với vợ con, phản thày, phản bạn, phản quốc, phản dân tộc, phản lại giống nòi để chiếm đọat cho bằng được những thứ lợi, danh và quyền lực mà họ đang theo đuổi.  Đặc biệt là sự thật này đang diễn ra trong các hội đoàn và các tổ chức chống Cộng của người Việt hải ngọai. Nhân tiện đây, người viết xin ghi lại đây một vài chuyện lưu xú vạn niên trong lịch sử.

1.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Thương Thần (thời Đông Châu Liệt Quốc) đã nhẫn tâm giết cả cha ruột là Sở Thành Vương để có thể nhẩy lên ngai vàng cai trị nước Sở với vương hiệu là Sở Mục Vương.

Chuyện rằng Sở Thành Vương có nhiều con trai. Thương thần là người con cả và đã được lập ngôi Thái Tử. Nhưng vì tham quyền cố vị, dù là đã ở ngôi 46 năm rồi, Sở Thành Vương vẫn cứ ngồi lỳ bám chặt lấy quyền lực, không chịu nhường ngôi cho con như các vua nhà Trần ở nước ta.

Thương Thần chờ lâu quá, nóng lòng và sợ rằng biết đâu vào một lúc nào đó, Sở Thành Vương sẽ đổi ý truất ngôi Thái Tử của mình và lập một người con khác lên thay thế. Rồi chuyện xẩy ra đúng như Thương Thần đã lo sợ. Sau khi lập Thương Thần làm thái tử rồi, Sở Thành Vương lại thương yêu một người con thứ tên là Chức và có ý truất ngôi thái tử của Thương Thần để đưa Chức lên thay thế. Biết được tin này, Thương Thần liền âm mưu với Phan Sùng làm đảo chính. Nửa đêm, hai người này đem quân vào cung vây bắt Sở Thành Vương và buộc phải thắt cổ tự tử. Ngay khi đó, Thương Thần lên ngôi lấy vương hiệu là Sở Mục Vương. Loài súc sinh cũng không giết cha để dành ngôi như thế!

2.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Ngô Khởi giết vợ là Điền Thị (con quan Tướng Quốc Điền Hòa của nước Tề) để cầu danh, mong được làm Đại Tướng ở nước Lỗ.

3.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Lữ Bát Vi đã muối mặt đem cả người vợ thân thương yêu quý của ông ta là Triệu Cơ dâng hiến cho công tôn Dị Nhân nước Tần (đang bị giữ làm con tin ở nước Triệu) để lót đường tiến vào cửa quyền.

4.- Vì thèm khát quyền lực, Dương Quảng giết cả cha là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581- 605), giết mẹ và giết cả anh ruột là Dương Dũng để nhẩy lên ngai vàng, lấy đế hiệu là Tùy Dạng Đế (605-618).

5.- Vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực mà Tổng Giám-mục Charles Muarice de Talleyrand (1754-1838) trở thành vua trở cờ với những thành tích:

a.- Khi thấy nhân dân Pháp bừng bừng căm thù vùng lên làm Cách Mạng đạp đổ bạo quyền của cả chế độ giáo hoàng (papacy) lẫn chế độ đạo phiệt Ca-tô Louis XVI, thì ông ta phản lại Vatican đi theo Cách Mạng Pháp 1789. Đặc biệt là trong phiên họp Quốc Hội vào đêm 4/8/1789, khi thấy rằng:

các quý tộc trong Quốc Hội đã đồng thanh tuyên bố hủy bỏ những ưu quyền của mình” và “Quốc Hội đã bỏ thăm chuẩn nhận sự hủy bỏ các đặc quyền phong kiến”, thì chính ông ta “là người đầu tiên đề nghị với Quốc Hội nên tịch thâu tài sản của Giáo Hội. Lời đề nghị này được chuyển thành sắc lệnh.”[28]

b.- Khi được chính quyền Cách Mạng trong thời Quốc Ước Hội Nghị (9/1792 – 9/1794) cử sang London vận động chính quyền Anh ủng hộ chính quyền Cách Mạng Pháp, thấy rằng Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Vatican mạnh thế, ông lại trở cờ, phản lại Cách Mạng Pháp đi theo Liên Minh Thánh, nhưng vì bị Liên Minh Thánh truy cứu tội phản lại Giáo Hội trong những ngày đầu của Cách Mạng Pháp 1789, nên ông ta phải trốn chạy sang Hoa Kỳ sống lưu vong và được chính quyền Hoa Kỳ dung dưỡng.

c.- Khi thấy Tướng Napoléon Bonarparte lên nắm chính quyền ở Pháp và đang ở thế mạnh, ông tìm cách trở về Pháp xin phục vụ và được cho giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao trong suốt thời kỳ từ cuối thập niên 1790 cho đến đầu thập niên 1810. Cuối thập niên 1790, vì còn đang ở thế yếu, lại đang phải đối phó với Anh quốc, Hoa Kỳ gửi một phái đoàn sang Thủ Đô Paris cầu thân với Pháp để chuẩn bị đương đầu với nước Anh. Lúc đó, Charles Muarice de Talleyrand đang nắm giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao của chính quyền Pháp. Thấy rằng Hoa Kỳ đang ở thế yếu và muốn cầu cạnh làm thân với Pháp để chống lại Anh quốc, ông vua trở cờ này quay ra bắt chẹt Hoa Kỳ đòi phải nộp tiền hối lộ cho Pháp rồi mới bằng lòng nói chuyện. Vì phải giữ gìn quốc thể, phái đoàn Hoa Kỳ tức giận tuyên bố: “Thà mất bạc triệu để phòng thủ còn hơn mất một xu để hối lộ”, rồi bỏ ra về.[29]

d.- Sau này, vào đầu năm 1814, chính quyền của Hoàng Đế Napoléon suy yếu và Liên Minh Thánh của Vatican đang trên đà thắng thế, ông lại phản lại Hoàng Đế Napoléon để đi với Liên Minh Thánh.

6.- Cũng chỉ vì lòng thèm khát quyền lực, mà con chiên Ngô Đình Diệm đã trở thành một nhân vật lưu xú vạn niên trong lịch sử Việt Nam thời cận đại với những thành tích vừa là một tên Việt gian ác ôn (dùng phương cách tra tấn “đốt đèn cầy sấy hậu môn các tù nhân yêu nước” để lấy khẩu cung), vừa là ông vua phản phé còn siêu hơn cả ông vua trở cờ Talleyrand. Thành tích phản phé và trở cở của thằng tam đại Việt gian này đã được trình bày rõ ràng nơi Chương 16 trong cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA: TXB, 1999) và Chương 63 (Mục XVIII, Phần VI) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.

Cũng vì long háo danh và thèm khát quyền lực, Ngô Đình Diệm không những phạm phải những tội phản trắc mà còn phạm những tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu cho tội lỗi này là việc tàn sát hơn 300 ngàn dân lương để “làm sáng danh Chúa” trong những năm 1955-1963, tội hồ hởi đồng lõa với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[30]

Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm:

Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.[31]

Do những hành động bạo ngược và cực kỳ dã man trên đây, sách sử mới khẳng định Ngô Đình Diệm là một trong số môt trăm tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Xin đọc Nigel Cawthorn, Tyrants History’100 Most Evil Despots & Dictators (London, Arcturus, 2004), pp. 167-168.

Từ 6 cái gương lưu xú vạn niên nêu lên trên đây, chúng ta có thể kết luận rằng, ngoại trừ một số những trường hợp cá biệt, hầu hết những người Việt theo đạo thuôc lọai 1, lọai 2 và những người đạo gốc con cháu những người này cũng như tất cả những người xu thời đều là những hạng người có những ác tính tiềm ẩn sẵn trong lòng và chỉ chờ có cơ hội thì những ác tính ghê tởm này sẽ thể hiện ra thành hành động. Hầu hết những tội ác cấu kết với Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975 và còn tiếp tục cho đến ngày nay đều do những hạng người này gây ra.

Còn một điều quan trọng nữa cũng nên trình bày ở đây để mọi người cùng biết. Tất cả những giáo dân bước vào học nghề làm linh mục thường là những người tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực và gian dối. Đây là sự thực được chính những người trong giới người này là ông nhà văn Ca-tô J. Ngọc (tu xuất) kể lại trong cuốn Cõi Phúc và Giây Oan như sau:

Những người con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này. Tôi mồn một nhớ về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi, ý nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ đã như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác." [32]

Danh ngôn thế giới về Thiên Chúa giáo La Mã

Dưới đây là cái nhìn của một số danh nhân và vĩ nhân trên thế giới về đạo Ki-tô La Mã và các ông giáo sĩ cái tôn giáo quái đản này:

1.- Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi (1807-1882) tuyên bố:

a.- "Linh muc là hiện thân của sự gian trá". (The priest is the personification of falsehood).

b.- “Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý” (The Vatican is a dagger in the heart of Italy.)

c.- "Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên của tự do". (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady enemy of liberty).

2.- Edward Gibbon (1737-1794), sử gia người Anh viết:

a.- "Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của giới giáo sĩ thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ rất nhiều." (To a philosophic eye, the vices of the clergy are far less dangerous than their virtues.)

b.-"Những tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ. Người đại diện của Chúa Kitô - Giáo Hoàng John XXIII (1414) - chỉ bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp đồng giống, và loạn luân.". (The most serious charges were suppressed; the Vicar of Christ - Pope John XXIII (1414) - was accused only of piracy, murder, rape, sodomy, and incest.)

3.- Tiểu thuyết gia Anh Daniel Defoe (1660-1731) nhận xét:

"Trong tất cả tai họa mà nhân loại phải gánh chịu, sự độc đoán của giới giáo sĩ là tệ hại nhất." (Of all the plagues with which mankind are cursed, Ecclesiastic tyranny's the worst.)

4.- Học giả Hòa Lan Hugo Grotos (1583-1645) tuyên bố:

"Người nào đọc lịch sử giới giáo sĩ không đọc gì khác ngoài sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh mục." (He who reads eccleciastical history reads nothing but the roguery and folly of bishops and churchmen.)

5.- Thi sĩ người Anh John Milton (1608-1674) nhận xét:

"Đạo Ca Tô Rô Ma (Đạo Gia-tô hay Kitô La Mã) có ít tính chất tôn giáo hơn là sự chuyên chế của giới linh mục, những người được trang bị với những bổng lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã chiếm lấy quyền của Chúa." (Romanism is less a religion than a priestly tyranny armed with the spoils of civil power which, on the pretext of religion, it had seized against the command of Christ himself.)

6.- Văn sĩ Anh Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762) tuyên bố:

"Trên khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo và các tín đồ tin." (Priests can lie, and the mob can believe, all over the world.)

7.- Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) tuyên bố:

a.- "Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do." (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.)

b.- "Thượng Đế (của Giáo Hội La Mã) là một nhân vật có những đức tính cực kỳ độc ác, ưa thích trả thù, bất khoan dung, đồng bóng và bất công." (The God is a being of terrific character - cruel, vindictive, capricious, and unjust).

c.- "Đã tới 50, 60 năm tính từ ngày tôi đọc cuốn Khải Huyển, và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại mê sảng của một kẻ cuồng điên." (It has been 50 and 60 years since I read the Apocalypse, and I then considered it merely the ravings of a maniac.).

8.- Hoàng Đế Pháp Napoleon I (1769-1821) tuyên bố:

a.- "Hiệp Hội Giêsu (Dòng Tên ?) là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác." The (Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others.).

b.-"Kiến thức và lịch sử là những kẻ thù của tôn giáo." (Knowledge and history are the enemies of the religion.)

c.- "Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm." (Priests have verywhen and everywhere introduced fraud and falsehood).

9.- Học giả Hoa Kỳ Robert G. Ingerssoll (1833-1899) tuyên bố:

"Một thày giáo giỏi có giá trị hơn 1000 (một ngàn) linh mục". (good teacher is worth a thousand priests).

10.- Văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885) viết:

"Trong mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng là người thầy giáo - và một kẻ làm tắt bó đuốc đó là ông linh mục xư (sở tại)". (There is in every village a torch: the schoolmaster - and an extinguisher: the parson).”

11.- Sử gia Ái Nhĩ Lan William E. H. Lecky (1838-1903) nhận xét:

a.- “Hầu hết Âu Châu, trong nhiều thế kỷ đã bị ngập máu, máu đổ do dự chủ mưu trực tiếp hoặc do sự hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong giới giáo sĩ .” (Almost all Europe, for many centuries, was inundated with blood, which was shed at the direct instigation or with the full approval of the ecclesiastical authorithies).

b.- “Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ Ca-tô hay Tin Lành đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là bạo hành.” (Whenever the clergy were at the elbow of the civil arm, no matter whether they were Catholic or Protestant, persecution is the result.”.[33]

12.- Linh-mục Phát Huồn ghi trong sách Việt Nam Giáo Sử Q I ( Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1965) rằng:

"Các nhà viết sử cho rằng "Những chuyện của Giáo-sĩ thuật lại là những chuyện hoàng đường."[34]

Đúc kết lại, người viết xin khẳng định rằng:

a.- Chỉ có những phường tham lợi háo danh và thèm khát quyền lực mới lao vào học cái nghề làm linh mục.

b.- Tất cả các giáo sĩ từ giáo hoàng cho đến các hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục bất kể là linh mục triều hay linh mục dòng đều là những kẻ gian dối. Bằng chứng là tất cả họ đều chưa bao giờ lên thiêng đường và tất cả họ đều chưa xuống hỏa ngục, ấy thế mà ở bất cứ nơi nào, nhất là ở trong nhà thờ vào những giờ lễ cũng như khi tiếp xúc với mọi người, hễ có dịp nói đến thiên đường và địa ngục thì họ thao thao bất tuyệt nói ra những lời làm như họ đã từng sống lâu năm ở trên thiên đường hay mới từ hỏa ngục trở về.

Tất cả trên đây là sự thực về bản chất độc ác hay những ác tính và những tích tội ác của giới giáo sĩ Vatican. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Hầu hết những tài liệu nói về những bản chất ghê tởm và những khu rừng tội ác này của họ đều do những người trong giới giáo sĩ của nhà thờ Vatcan ghi lại. Phần lớn những tài liệu này được chúng tôi sử dụng để biên soạn cuốn Tâm Thư này.

Dĩ nhiên là những tín đồ Thiên Chúa Giáo thuộc lọai cuồng tín và những người ở ngoài cái tôn giáo này Nếu không chịu tìm hiểu, thì không thể nào biết được sự thực này.

CÁC QUỐC GIA KHÁC TRÊN LỤC ĐỊA Á CHÂU RẤT ÍT NGƯỜI THEO ĐẠO CA TÔ

Khác với Việt Nam, tại các quốc gia khác trên lục địa Á Châu, rất ít có người theo đạo Ca-tô. Lý do là vì tại các quốc gia này Vatican không có cơ hội cấu kết hay cặp kè với cá nhân hay thế lực cầm quyền như ở Việt Nam.

Theo sách Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (Sàigòn: Chân Lý, 1972), tất cả các nước khác tại lục địa Á Châu, số người theo đạo Ca-tô rất ít, chỉ ở mức từ dưới một phần ngàn lên đến trên dưới 1% trên tổng số người dân trong nước. Dưới đây là những bản văn trong sách này ghi nhận về con số tín đồ Ca-tô tại một vài nước Á Châu:

Nhật Bản: Theo sách Lịch Sử Công Giáo của Linh-mục Bùi Đức Sinh, thì con số tín đô Ca-tô ởr quốc gia này chưa tới 1 phần 10 của một phần ngàn trên tổng số dân số. Dưới đây là bản văn nói về vấn đề này:

Từ đây, các thừa sai tìm ra gần 20 ngàn người Công Giáo trong vùng Nagasaki. Không linh mục, không một trợ giúp, suốt 200 năm qua, những người tín hữu này vẫn rửa tội cho nhau, vẫn trung thành với Đức Tin vẫn cầu nguyện, vẫn tuân giữ các giới răn, đến cả ảnh tượng thánh họ cũng còn kính cẩn cất giấu. Họ truyền lại cho nhau những dấu hiệu để một ngày kia sẽ nhận ra ai là những người đến nối tiếp các thừa sai xưa để cho tổ tiên họ biết Đạo: độc thần, hiệp nhất với Giáo Hoàng La Mã, sùng kính Đức Trinh Nữ Maria.

Chính quyền được báo động, liền nhắc lại những Chiếu Chỉ cấm Đạo (1868). Người Công Giáo một lần nữa chịu bách hại: 80 ngàn người bị lưu đày. Năm 1873, áp lực của các cường quốc Tây Phương đòi chính quyền Nhật phải trả quyền tự do cho người Ki-tô hữu. Từ đó, đạo Chúa lại được rao giảng, nhưng tiến triển chậm chạp: năm 1913, số dân Công Giáo Nhật không quá 100 ngàn, trên tổng số 67 triệu dân.”[35]

Triều Tiên: Có số người theo đạo cũng rát ít, không qua 1 phần 10 của một phần ngàn trên tổng số:

Cuối thế kỷ XVI, Nhật Bản đem quân đánh Cao Ly (Triều Tiên); trong quân đội Nhật có một số quân nhân Công Giáo đã khuyên được nhiều người Cao Ly theo đạo. Nhưng vua Cao Ly hạ lệnh cấm, khiến một nhóm giáo dân quá non nớt không thể đứng vững, nhưng đất Cao Ly đã được thấm máu tử đạo từ đấy. Sau gần hai thế kỷ, ông Lee trong thời gian làm đại sứ ở Bắc Kinh, được giao thiệp với các thừa sai Công Giáo nên đã chịu phép Rửa, lấy tên thánh là Phêrô. Năm 1784, ông trở về Cao Ly, làm tông đồ tại nước nhà. Hoạt động của ông Lee rất kết quả: Năm 1789 có gần 4 ngàn người theo đạo. Nhưng vì công cuộc truyền giáo thiếu giáo sĩ, lại phải chịu những thử thách quá nặng nề, suốt 80 năm bách hại nhất là trong những năm 1827, 1839, 1846 và 1860-1873: Con số tử đạo lên tới hàng ngàn người. Năm 1837, xứ truyền giáo được trao cho Hội Thừa Sai Ba Lê; giữa thế kỷ XIX, con số giáo dân trên 11 ngàn. Năm 1910, Cao Ly bị sáp nhập vào Nhật Bản, công cuộc truyền giáo vẫn tiếp tục mặc dầu gặp những khó khăn liên tiếp. Năm 1936, số giáo dân 128 ngàn người trên tổ số 21 triệu dân.”[36]

Trung Hoa: Con số người theo đạo Ca-tô lại còn ít hơn cả hai nước Nhật Bản và Đại Hàn:

Những cuộc bách hại ở Trung Hoa không gây đổ máu nhiều như ở Việt Nam hay Nhật Bản, bởi vì ít khi đi tới ác liệt (cuộc tử đạo của Cha Perboyre (vào) năm 1840). Tuy nhiên, cũng đủ dữ dội để người Ki-tô hữu có cơ hội xưng Đức Tin can trường, sống Đạo một cách sốt sắng, trung thành, nhẫn nhục, nhưng số giáo dân tăng rất chậm: 202 ngàn (vào) năm 1800, lên 350 ngàn (vào) 1860 (1/1000).” [37]

Các quốc gia Đông Nam Á Châu: Tại các quốc gia khác ở Đông Nam Á, con số những người theo đạo Ca-tô cũng chỉ loanh quanh không tới 1 phần ngàn trên tổng số dân số.

Công cuộc truyền giáo ở vùng Đông Nam Á, chỉ ở Việt Nam là khả quan, với con số giáo dân từ 420 ngàn (và) năm 1840 lên đến 683 ngàn (vào) năm 1892, và 1.544.765 (vào) năm 1930. Còn ở Miến Điện, Xiêm La, Mã Lai, Nam Dương công việc bắt đầu hơi muộn, lại tiến chậm chạp, nên tất cả các nước này, hợp lại chỉ có khoảng 300 ngàn người Công Giáo (vào) hồi năm 1930.”[38]

 

CHÚ THÍCH


[17] Jack Abramowtz and Kenneth Job, Homelands of the World: Resources and Cultures (Cleveland, OH: Modern Curriculum Press, Inc. 1982), p. 245.

[18] Phạm Quốc Sử. "Văn Hóa Đông Nam Á Trong Sự Đồng Hóa Của Phương Tây".Giao Điểm số 51 Spring 2004:97-98.

[19] Li, Dun J., The Ageless Chinese (New York: Charlrd Scribner’s Sons, 1978) p. Ibid., p. 428.

[20] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) tr 152-153.

[21] Nguyễn Đình Tiên, Chân Dung Tuớng Ngụy Sàigòn (Hà Nội: Nhà Xuất Bản QÐND, 2002), tr 344

[22] Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston, Texas: Văn Hóa, 2004), tr 450.

[23] Vu Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 8.

[24] Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi 2 (Houston, Texas: Văn Hóa, 2003), tr 307-308.

[25] Phạm Phú Bổn. "Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ Trinh Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Ðệ Nhất Cộng Hòa" www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004

[26] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr130.

[27] Nguyên Vũ, Ngàn Nam Soi Mặt (Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), tr 196-197.

[28] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng và Hành Ðộng (Sàigòn: Quan Ðiểm, 1964), tr. 35 và 37.

[29] Jack Abramowitz,. American History. Chicago (Illinois: Follett Publishing Company, 1979), p 210. "In 1797, President Adams sent representatives to France to work out a treaty. They reported back that French officials were demanding bribes and a loan to France. These officials were identified only as X,Y and Z. American feelings now rose against the French because of the XYZ affair. The whole nation supported the president in refusing to pay any bribes. A popular cry was "millions for defense, but not one cent for tribute." Congress repealed the former treaties with France and the United States. So, in 1798, an undeclared naval war began between France and the United States." Muốn biết rõ nhân vật này, xin đọc Chương 16 Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA, 1999).

[30] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

[31] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

[32] J. Ngọc, Cõi Phúc Và Giây Oan - Tập Một (Houston, Texas: Văn Hóa, 1995) tr 9-10.

[33] Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 283-304.

[34] Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử Q I ( Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr. 39.

[35] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr. 277.

[36] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr. 277-278.

[37] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr.278.

[38] Bùi Đức Sinh, Sđd.,tr. 280.

Trang Nguyễn Mạnh Quang