bản in |
¿ trở ra mục lục
|
17 tháng 4, 2009 |
PHẦN II
(tiếp theo)
◎◎◎
CHƯƠNG 6
NHỮNG ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO
NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO CA-TÔ (*)
(tiếp theo)
ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO NGƯỜI VIỆT NAM THEO ĐẠO
1.- Nguyên nhân theo đạo của “những người
theo đạo để lấy gạo mà ăn”.-
Vatican vốn dĩ đã có kế sách rõ rệt về việc truyền
đạo ở các quốc gia mà quyền lực của Nhà Thờ Vatican
chưa vươn tới, hoặc dù đã vươn tới nhưng chưa đủ
mạnh để thiết lập chế độ đạo phiệt rồi sử dùng bạo
lực và tất cả các phương tiện của chính quyền để
truyền đạo hay mở rộng nước Chúa. Xin tạm gọi kế
sách này là cẩm nang truyền đạo của các ông giáo sĩ
truyền đạo ở Việt Nam.
Theo cẩm nang này thì các điệp viên chuyên nghiệp
đến Á Châu hoạt động với danh nghĩa là các nhà
truyền giáo để thâu người vào đạo rồi gom họ lại
sống với nhau trong các khu vực biệt lập gọi là “Xóm
Đạo” hay “Làng Đạo”. Vì đã thuộc lòng những điều chỉ
dẫn trong cẩm nang này, cho nên
khi đến Việt Nam, các ông
truyền giáo phải hành động từng bước và từng bước
theo đúng như kế sách của Vatican đã vạch ra.
Theo cẩm nang này, giai đoạn đầu,
khi mới bước chân
tới Việt Nam, các ông truyền giáo phải lân
la tiếp xúc với lớp người dân cùng khổ hay những
người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, rồi tùy theo
hoàn cảnh để mua chuộc họ bằng cách giúp đỡ họ một
chút ít vật chất (tiền bạc) trong lúc ngặt nghèo
khốn khó, hay cho họ một viên thuốc trị bệnh sốt rét
(thuốc Ki-ninh) nếu gia đình họ có người mắc chứng
bệnh này. Trong khi tiếp xúc với họ, các ông truyền
giáo luôn luôn nhắc nhở họ phải cầu xin Chúa ban ơn
cứu giúp, thì mới có hy vọng được Chúa giúp cho
thoát khỏi hoàn cảnh khốn cùng hay cơn bệnh ngặt
nghèo. Những người được giúp đỡ nếu thoát qua được
những khó khăn mà họ đã gặp, tất nhiên là họ dễ
dàng tin rằng nhờ tin có Chúa và cầu Chúa cho nên họ
mới được Chúa cứu giúp. Đây là một trong những thủ
đọan đại bịp trong việc mở mang nước Chúa của Nhà
Thờ Vatican.
Ta gọi tín đồ Ca-tô thuộc loại này là những người
“đạo gạo”. Hầu hết
những người theo đạo thuộc loại
này là những người ít học và dốt nát.
Được giúp đỡ thoát khỏi cảnh khó khăn, họ dễ dàng
tin theo lời rao tuyền và dậy dỗ của các ông giáo
sĩ. Vì thế mà họ dễ dàng bị mê hoặc và trở thành
hạng người cuồng tín.
Ở các quốc gia khác ngoài Á Châu, như ở Âu Châu và
các thuộc địa của các đế quốc Tây Ban Nha (Mỹ Châu
La-tinh và Phi Luật Tân, Bồ Đào Nha (Ba Tây và ở
Phi Châu), Bỉ (ở Phi Châu) và Pháp (ở Phi Châu và Á
Châu), vì các đế quốc này đều cấu kết với Nhà Thờ
Vatican, cho nên việc mở mang nước Chúa thông thường
nhất là sử dụng bạo lực của chính quyền. Bản văn sử
dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Khi đến lập nghiệp ở Châu Mỹ La-tinh, người Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha đem theo tôn giáo của họ đến
đây. Họ cho rằng ngươi Da Đỏ bản địa là những người
tà giáo hay không theo tôn giáo nào cả. Sự thật,
người Da Đỏ có tôn giáo riêng của họ. Tôn giáo của
họ căn cứ vào niềm tin quyền lực của thiên nhiên ở
chung quanh họ. Ho thờ thần mặt trời, thần gió và
các thần của tất cả những sức mạnh trong thiên
nhiên. Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cho rằng đó
không phải là tôn giáo và dùng bạo lực đàn áp họ.
Người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tin rằng bổn phận
của họ là phải biến dân Da Đỏ thành những tín đồ
Ki-tô La Mã.” Nguyên văn: “The Spanish
and Portuguese settlers in Latin America brought
their religion with them. They believed the Indians
to be pagans, or people who had no religion. In
fact, the Indians did have their own religion. It
was based on their belief in the powers of nature
around them. They worshiped the sun, the winds, and
the forces of nature. The Spanish and the Portuguese
did not think this is a religion, and they took step
to crush it. The Spanish and the Portuguse believed
it was their duty to convert the Indians to
Christianity and tho the Catholic Church.”[17]
Chính sách mở mang nước Chúa một cách tàn ngược và
dã man như vậy đã làm cho dân số người Da Đỏ từ 32
triệu dân vào năm 1520, đến năm 1548 chỉ còn có 5
triệu người. Sự kiện này được ông Phạm Quốc Sử ghi
lại như sau:
"Bởi thế, việc Christopher Columbus rồi Amerigo Vespucci đến Châu Mỹ
cũng chính là sự khởi đầu của quá trình người Châu
Âu mang những tai họa thảm khốc đến cho châu lục
này. Cụ thể chỉ sau mấy năm đầu thống trị của thực
dân Tây Ban Nha, hơn một triệu cư dân bản địa trên
quần đảo Antilles thuộc vùng biển Caribbean đã bị
tiêu diệt gần hết. Khi tiến đánh Mexico, thực dân
Tây Ban Nha đã thẳng tay phá trụi tất cả những công
trình văn hóa cổ xưa và tiêu diệt gần hết số dân
trong thành Mexico [8, p 544]. Ở khu vực Nam Mỹ,
Francisco Pizarro cùng với băng đảng gồm 160 thợ săn
kho báu người Tây Ban Nha của ông ta, bằng súng thần
công và ngựa, đã dìm toàn bộ nền văn minh huy hoàng
của người Inca trong biển máu. Không chỉ chiếm đất
đai, giết người, cướp của và tàn phá nền văn minh
Inca, người Âu Châu còn reo rắc những căn bệnh lạ
như bệnh sởi, khiến cho cộng đồng người Inca bị hủy
diệt với tốc độ nhanh chóng. Năm 1520, dân số
Inca có khoảng 32 triệu người, nhưng đến năm
1548 chỉ còn khoảng 5 triệu. Ngày nay cái tên
Inca có lẽ chỉ còn được nhắc đến như một minh chứng
về sự hủy diệt các nền văn minh mà thôi."
[18].
Trên đây là nói về phương cách và thành tích mở mang
nước Chúa của Nhà Thờ Vatican ở Chậu Mỹ La-tinh.
Phương cách và thành tích mở mang nước Chúa của Nhà
Thờ Vatican ở các thuộc địa các đế quốc Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha và Bỉ ở các lục đia khác cũng giống
như vậy.
Trái lại, Á Châu, vì không nắm trọn quyền lực chính
trị ở trong tay, Nhà Thờ Vatican phải sử dung những
thủ đoạn hay mánh mung khác mà thông thường nhất là
dùng vật chất để giúp đỡ nhỏ giọt những người cùng
khổ rồi tìm cách khẩn khoản hay buộc họ phải theo đạo thì mới được
tiếp tục giúp đỡ.
Tại Trung Quốc, chưa bao giờ Nhà Thờ Vatican có
quyền lực ở đây, cho nên ở quốc gia này, hầu như
không có những người “theo đạo để tạo danh đời”. Thế nhưng, trước
khi Cộng Đảng Trung Hoa lên nắm chính quyền vào
ngày 1/10/1949, người dân Trung Hoa hầu như triền
miền sống trong cảnh nghèo đói khổ sở dưới ách thống
trị của bọn vua quan phong kiến hay bọn tướng quân
lãnh chúa hoặc bọn hoạt đầu chính trị thối nát Quốc
Dân Đảng. Lợi dụng tình trạng này, các ông truyền
giáo Ca-tô cũng sử dụng những miếng mồi vật chất để
câu nhử hay dụ khị những người dân nghèo khổ vì tham
lợi, chạy theo bắt mồi mà theo đạo. Cũng vì thế mà
người Trung Hoa cũng có từ ngữ “đạo gạo” (rice
Christians). Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy
rõ sự kiện này:
"Từ trước, đã có những sự xích mích giữa người
Trung Hoa và các nhà truyền giáo, nhưng sự xích mich
lần này rất là gay go do hậu quả của việc người
Trung Hoa hiểu lầm về bản chất những họat động của
các nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo và tín đồ
Da-tô bị tố cáo là làm những việc phi luân và bất
hợp pháp như là "khóet lấy tròng mắt của các trẻ em
để tán làm bột thuốc". Ngoài ra, quy chế ngoại trị
pháp quyền, vịêc tự cho là có độc quyền sự thật về
tôn giáo và hành động chỉ biết có tôn giáo của minh
mà không cần biết đến những người thuộc các tôn giáo
khác (vào những khi có thiên tai thí dụ như nạn
đói, các nhà truyền giáo chỉ phân phối gạo cho tín
đồ Da-tô, dân Trung Hoa gọi đồng bào của họ
theo đạo Da-tô là "dân đạo gạo” hay là “những người
theo đạo lấy gao mà ăn"). Tất cả làm cho tình hình
càng trở nên tồi tệ hơn. Phần lớn các nhà truyền
giáo không nói được tiếng Trung Hoa cho có văn vẻ.
Sự kiện này chắc chắn cũng làm cho tình trạng rắc
rối thêm. Trong thế kỷ 19, có những trương hợp cá
biệt trong đó các nhà truyền giáo và nhiều tín đồ
Da-tô người Trung Hoa bị sát hại. Trong mỗi trường
hợp, cường quốc có các nhà truyền giáo bị sát hại
nhào vô lấy đó làm cái cớ để yêu sách Trung Hoa
phải nhượng thêm đất đai. Đối với đại đa số
người Trung Hoa, các nhà truyền giáo là những tên
gian điệp ngọai quốc và tín đô Da-tô người Trung Hoa
là những người vong bản, phản quôc, phản quê hương.
Với tình hình phức tập như vậy, tất nhiên là lực
lượng nghĩa quân "Quyền Anh" coi các nhà truyền giáo
và tín đồ Da-tô người Trung Hoa là mục tiêu đầu
tiên của họ.”
Nguyên văn: "That there had been friction
between Chinese and missionaries has been said
before; this friction was intensified as a result of
Chinese misunderstanding of the nature of missionary
activities. The Christians were accused of
conducting immoral and illegal activities, such as
"extracting eyes from infants to be commpounded into
direful drugs." Besides their extraterritorial
status, their assumed superiority for having
embraced the true faith and their alleged
clannishness (in time of famine, for instance, the
missionaries distributed rice only among their
converts, derogatorily referred to by other Chinese
as rice Christians) combined to make the situation
worse. That most missionaries could not
communicate intelligible Chinese doubtless
increased the confusion. During the nineteenth
century, there were isolated case in which
missionaries and converts were murdered, and in each
case the foreign power from which these
missionaries came quickly use the unfortunate
occurrences as pretexts for demanding Chinese
territories or other concessions. To the
unsophisticated majority of Chinese, these
missionaries were foreign agents and their Chinese
converts were traitors to their own country and
culture. Given the complexity of the situation, it
was not surprising that the Boxers' first target was
the missionaries and their Chinese converts.”[19]
Giống như Trung Hoa, trong thời kỳ từ 16 cho đến mấy
thập niên chót của thế kỷ 20, Việt Nam cũng ở trong
tình trạng chậm tiến và nghèo đói. Vì vậy mà
Vatican mới có thể thi hành kế sách dùng miếng mồi
vật chất câu nhử những phường tham lợi để bọn người
này chạy theo bắt mồi mà đành lòng “bán tổ tiên
kiếm kế sinh nhai.”
Đây là những thành phần nghèo đói vì tham lợi mà
theo đạo. Chúng ta đặt ra hai trường hợp sau
đây:
Trường hợp 1.- NẾU vì hoàn cảnh quá nghèo
khổ mà họ theo đạo để được no cơm ấm áo, hoặc những người theo đạo thuộc loại “lạy Chúa Ba
ngôi” (nín thở qua sông) để lấy vợ lấy chồng hay để khỏi bị tù tội, THÌ chúng ta có
thể chấp nhận được.
Trường hợp 2.- Nhưng NẾU sau khi theo đạo để thoát cơn hiểm nghèo như trên
rồi lại trở thành “La Mã
hơn cả La Mã”, cuồng tín đến độ lớn tiếng bảo
nhau rằng “thà mất nước, chứ không thà Chúa”,
THÌ quả thật là mối đại họa cho đất nước. Tệ hơn
nữa, để tỏ ra "đạo đức", họ còn sốt sắng nhắm mắt nghe theo lời xúi
giục của các đấng bề trên trong Giáo Hội La Mã tham gia các cuộc
bạo loạn gây rối. Khi tạo nên tình trạng bất
ổn trong xã hội như thế, họ còn tỏ ra "hãnh diện" và "trâng
tráo", ngang
nhiên nói trắng ra rằng họ chỉ biết tôn trọng giáo
luật của Giáo Hội La Mã mà không cần biết đến việc
phải tôn trọng luật pháp quốc gia.
2.- Lọai người theo đạo vì thèm khát quyền lực.
Trong những năm 1792-1802, Việt Nam ở trong tình
trạng nội chiến giữa triều đình Tây Sơn (1788-1802)
và phe nổi loạn Nguyễn Ánh. Lợi dụng hoàn cảnh này,
Vatican cho Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lôc)
móc nối, kết thân và tìm viện trợ quân sự giúp cho
phe nổi loạn Nguyễn Ánh. Nhờ có quân viên này mà
Nguyễn Ánh mới đánh bại được nhà Tây Sơn. Trong
thời gian này, nhờ dựa vào cái thế là “quân sư tối
cao” của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc (có Vatican ở hậu
trường) sử dụng cái chức vụ quân sư này trong chính
quyền của Nguyễn Ánh mà Nhà Thờ Vatican đã câu nhử
được một số khá nhiều người
theo đạo. Những người thèm danh lợi tìm
cách theo đạo để cẩu thân với các ông truyền giáo
với hy vọng được thăng quan tiến chức một cách dễ
dàng.
Suốt trong chiều dài lịch sử, đặc biệt là từ năm
1858 cho đến tháng 3 năm 1945 cũng như những năm
Kháng Chiến 1945-1954, Vatican vừa là thành viên
quan trọng trong Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican
đánh chiếm và thống trị Việt Nam, vừa là cha đẻ ra
chính quyền Bảo Đại. Những năm 1954-1975, Vatican là
thành viên trong Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican,
cùng với Hoa Kỳ khai sinh ra chính quyền miền Nam
Việt Nam, và cũng là thế lực ngồi ở hậu trường sân
khấu chính trị lèo lái các chính quyền này. Ở vào
những địa vị quan trọng như vậy, Vatican đã có thể
tha hồ tung tác sử dụng những lợi lộc và các chức vụ
trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử để có thêm
"tín đồ". Vì vậy mà từ 1858 đặc biệt là từ tháng 7
năm 1954 cho đến ngày 30/4/1975, Vatican đã "chài" được một số
khá đông tân tòng.
Với kinh nghiệm đã từng
sống chung với nhiều tín đồ Ca-tô, người viết biết
rằng trong những năm 1954-1975, ở miền Nam Việt
Nam, (1) có nhiều tín đồ Ca-tô chưa học xong bậc
tiểu học cũng được các ông linh mục đưa vào theo học
Liên Trường Võ Khoa Thủ Thủ Đức, và (2) có một số
tín đồ Ca-tô tuy rằng có bằng Tú Tài 2, nhưng hầu
như rất dốt về sử địa. Ấy thế mà họ cũng lọt vào
danh sách của những thí sinh trúng tuyển Ban Sử Địa
trong một kỳ thi chỉ lấy có 40 người trong khoảng
số trên 1200 (một ngàn hai trăm) thí sinh dự thi
được tổ chức vào ngày 11 tháng 7 năm 1961.
Người viết không biết chắc có bao nhiêu người Việt
Nam “theo đạo để tạo danh đời”. Có một điều chắc
chắn con số những người theo đạo thuộc lọai này
nhiều lắm. Mục đích theo đạo của loại người này là
khi theo đạo rồi thì họ sẽ dựa hơi hay cậy cục vị
linh mục đã rửa tội cho họ theo đạo hay gia đình của
nhân vật đỡ đầu (Godfather hay Godmother) chạy chọt
giúp đỡ cho họ được mau chóng thăng quan tiến chức,
hoặc là họ có thể dựa thế chính quyền hay những
người Ki-tô có thế lực trong chính quyền để chạy
"affaires", hoặc là họ có thể dễ dàng làm ăn trong
cộng đồng của những người Ca-tô. Bản văn dưới đây do
nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại trong cuốn Xóm
Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) cho chúng
ta thấy rõ tình trạng này:
“Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác,
ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời
của đạo Thiên Chúa, bởi vì gia đình Ngô Tổng Thống
rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay không,
tương lai của ông ta có leo lên được nữa hay không,
đều tùy thuộc cách xử sự khéo léo của ông, chứ không
phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo
Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết
thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì
mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế,
cho nên ông hay tìm đến làm thân với các vị linh
mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang
nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng
nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh
gấp trăm lần ý kiến của quan trên! Tương tự như thế,
một lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay
chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm sâu trong
đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho
cha Xuân lúc xây nhà thờ, từng xuống dự lễ Noel, quì
mỏi gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên
tiếp ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông
đều không quên sai lính chở xuống tặng nhà xứ một
cành mai thật lớn!…”[20]
Hành động o bế Nhà Thờ Vatican và
ý đồ muốn theo đạo để củng cố quyền lực hay
thăng quan tiến chức của ông quận trưởng trên đây
cũng là hành động và ý đồ của rất nhiều người
khác đồng bệnh háo danh
thèm khát quyền lực trong những
1858-1945, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975. Những người
như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Lâm Văn Phát, Lâm
Lễ Trinh, Huỳnh Hữu Nghĩa, v.v…
đều là loại người này. Lời thú nhận của cựu
Tướng Lâm Văn Phát nói lên sự kiện về những người
theo đạo Ca-tô vì bị lôi cuốn bởi miếng mồi quyền
lực (chức vụ và địa vị quyền cao chức trọng trong
chính quyền). Lời thú nhận này được sách Chân Dung
Tướng Ngụy Sàigòn ghi lại với nguyên văn như sau:
"Từ năm 1948 đến 1954, tôi vẫn loanh quanh dẫm
chân với cái lon trung tá giả định vì cái "án" có
cha và chị đi kháng chiến làm cán bộ Việt Minh. Sang
thời Ngô Đình Diệm lại cái bảng đen ngầm "gia đình
Việt Cộng", trong lúc đó thì bọn sĩ quan đàn em như
Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu
Có... có thời cơ leo lên vùn vụt. Lúc này, tôi nẩy
ra cách thoát thân để được lòng tin cậy của triều
đình họ Ngô. Cuối năm 1957, tôi xin vô đạo Thiên
Chúa, xin "cậu út" Ngô Đình Cẩn nhận làm bố đỡ đầu
(parrain) mặc dầu Cẩn chỉ hơn tôi dăm bẩy tuổi..."[21]
Trong cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tác giả
Chính Đạo, tức sử gia Vũ Ngự Chiêu, ghi nhận việc
theo đạo của ông Hùynh Hữu Nghĩa cũng tương tự như
vậy với nguyên văn như sau:
"Thư đề ngày 17/2/1962, Fishel gửi Hamah; FRUS,
1961-1963 II: 149. The Fishel, một bộ trưởng (Huỳnh
Hữu Nghĩa) đã cải đạo; (Ibid, II: 46) và nhiều sĩ
quan cải đạo để mong được thăng cấp. (Ibid., II: 56,
45").”
[22]
Sách Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 viết:
"... số người a dua chạy theo chính quyền để
trục lợi vẫn còn là đại đa số. Vào đầu năm 1963, tất
cả tỉnh trưởng được bổ nhiệm tại miền Nam đều là đệ
tử của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục hay của cố vấn
chính trị Ngô Đình Nhu. Tại miền Trung, các tỉnh
trưởng đều là các thủ túc của Ngô Đình Cẩn, em út
của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy không giữ chức vụ
gì chính thức, Ngô Đình Cẩn tự ban cho mình chức Cố
Vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị tại Trung Việt,
Cao Nguyên và Hải Ngọai.
"Ngoài ta, tuyệt đai đa số các dân biểu trong
Quốc Hội cũng đều là tay sai trung thành của chế độ.
Hơn nữa, các phong trào chính trị toàn quốc đều do
họ Ngô thành lập để tạo hậu thuẫn trong dân chúng.
Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của Ngô Đình Diệm,
Đảng Cần Lao và Phong Trào Thanh Niên Cộng Hòa của
Ngô Đình Nhu, Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ của vợ Nhu
là Trần Lệ Xuân, và không kể biết bao nhiêu đoàn thể
chầu rìa khác chạy theo voi để hít bã mía!"
[23]
Theo sự hiểu biết của người viết, ngoài ra, còn có
rất nhiều người trong giới tướng lãnh, sĩ quan cấp
tá và cấp úy, rất nhiều viên chức trong chế độ đạo
phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Nguyễn Văn
Thiệu cũng "vô đạo" vì "động lực"
giống y như "động lực theo đạo" của
cựu Tướng Lâm Văn Phát, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lâm Lễ
Trinh và Nguyễn Đình Thuần, v.v…
Trường hợp theo đạo của
ông Nguyễn Văn Thiệu được ông Phạm Liễu kể lại trong
cuốn Trả Ta Sông Núi 2 với nguyên văn như sau:
"Sau năm 1954, ông Thiệu đã được lên tới cấp
Thiếu Tá, phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu ở
Huế, dưới quyền Đại Tá Trương Văn Xương. Mùa Thu năm
1954, khi cuộc tranh chấp giữa Tướng Nguyễn Văn Hinh
và Thủ Tướng Diệm bùng nổ, Thiếu Tá Thiệu gia nhập
Đảng Con Ó, cùng với Trung Tá Trần Thiệm Khiêm,
Thiếu Tá Hoàng Xuân Lãm, Đại Úy Trần Văn Trung,
Nguyễn Văn Mạnh, v.v... để yểm trợ Nguyễn Văn Hinh.
Sau khi Tướng Hinh phải rời nước, nhóm Thiếu Tá
Thiệu bị đưa về Sàigòn điều tra. Để thoát khỏi sự
nghi kỵ của chế độ Diệm, Thiếu Tá Thiệu xoay qua
đường giây Thiên Chúa Giáo của nhà vợ.
Nguyên ông Thiệu lấy bà Kim Anh, người Mỹ Tho, có
đạo Thiên Chúa, đã lâu nhưng không chịu rửa tội....
Nhưng sau ngày ông Diệm cầm quyền, đạo Thiên Chúa
biến thành một thứ chìa khóa danh vọng và quyền lực
cho những ai tham vọng. Bởi thế ông Thiệu quyết tâm
"trở lại với đạo". Trung Tá Thiệu cẩn thận năn nỉ
Linh-mục Bửu Dưỡng, lý thuyết gia bản xứ của Đảng
Cần Lao, đích thân rửa tội cho ông ta ở Đà Lạt. Nhờ
vậy, ông Thiệu được thăng cấp Đại Tá và được giao
cho nắm Sư Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5 ở Biên Hòa. Đại Tá
Thiệu còn được vào Quân Ủy của Đảng Cần Lao."
[24]
Trường hợp theo đạo của ông Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ
Trưởng Nội Vụ Đệ Nhất Cộng Hòa, ông Phạm Phú Bổn
viết trong bài viết Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông
Lâm Lễ Trinh trong đó có mấy đọan như sau:
"Trước hết là suy nghĩ về hai chi
tiết rất sâu sắc của ông Trần Vĩnh Long về cấu trúc
văn hóa và căn cước chính trị của ông Lâm Lễ Trinh.
Ông theo đạo Công giáo La Mã vào năm 1958, thời
điểm cực thịnh của hiện tượng “theo đạo có gạo mà
ăn” dưới nền Đệ nhất Cộng hòa. Đó cũng là thời
điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành
ý đồ Công giáo hóa miền Nam qua hai chính sách đàn
áp trù dập Phật giáo, lực lượng văn hóa nền móng và
đa số của xã hội Việt Nam, và phân phát đặc quyền
đặc lợi cho những người đồng đạo Công giáo cả ở
trong lẫn ngoài chính quyền. Các kế sách Dinh Điền,
Khu Trù Mật, (và sau nầy là Ấp Chiến Lược); các tiêu
chuẩn kỳ thị về tôn giáo trong chính sách nhân dụng
của bộ máy hành chánh và quân đội, trong các lãnh
vực kinh tế, giáo dục, xã hội, và quốc phòng, ... đã
làm cho không thiếu người từ bỏ truyền thống tâm
linh của dân tộc, đổi đạo để tìm bổng lộc và/hoặc để
bảo toàn mạng sống. Ông Lâm Lễ Trinh đổi đạo đúng
vào thời gian đó! Và ông đã làm đến chức Bộ trưởng
bộ Nội vu, một chức vụ cực kỳ quan trọng trong một
chế độ độc tài với mạng lưới công an mật vụ dày đặc
của miền Nam.".
[25]
Con số người theo đạo thuộc lọai này (theo đạo tạo
danh đời) có thể lên đến hàng mấy chục ngàn hay hàng
trăm ngàn người trở lên cho đến hàng triệu. Cũng vì
thế mà ở miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975, trong các ngành cảnh sát, công an, mật
vu, trong các trường Quốc Gia Hành Chánh, trong các
ngành thẩm phán, ngành chiến tranh tâm lý, chúng ta
thấy tín đồ Ca-tô chiếm một tỉ lệ rất cao, có thể
nói là trên 85% trong khi tín đồ Ca-tô ở miền Nam
nhiều lắm là 7%.
Người viết còn được biết, sau năm 1975, khi biết rõ
đời sống khá giả của người Việt hải ngoại ở Mỹ,
những người truyền đạo Thiên Chúa (cả Công Giáo và
Tin Lành) phao tin rằng nếu theo đạo, thì sẽ dễ dàng
được Giáo Hội bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang
Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý do này, kể từ đó, ở Việt Nam,
có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Một cặp vợ
chồng bạn của người viết ở Cần Thơ đã theo đạo vì lý
do này. Những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung
Việt mới theo đạo Tin Lành từ 1985 trở về sau
cũng vì lý do này. Đây là mánh khóe lừa gạt của các
nhà truyền đạo và những tín đồ Ki-tô cuồng tín theo
lệnh truyền của các đấng bề trên đi dụ khị những
người ngây thơ ham hố muốn đi định cư hải ngoại, đặc
biệt là ở Hoa Kỳ, Canada và Úc Đại Lợi. Cặp vợ chồng
người bạn của người viết ở Cần Thơ đã theo đạo từ
trước năm 1995, cho đến nay (tháng 2/2009) cũng vẫn
còn ở Cần Thơ và vẫn không có hy vọng gì di cư sang
Mỹ định cư theo cái diện mà các nhà truyền giáo đã
hứa hẹn với họ. Thủ đoạn lưu manh của những người
truyền đạo Ki-tô (bất kể là Ki-tô La Mã hay Tin
Lành) như thế đó!
3.- Loại người theo đạo vì hôn nhân.- Đây là
trường hợp của những người muốn thành hôn với người
yêu là tín đồ Ca-tô nên bị chèn ép phải theo đạo.
Nếu không theo đạo thì gia đình của người yêu sẽ làm
khó dễ và ngăn cản, không cho tiến hành làm lễ thành
hôn. Chính vì tình trạng này mà Việt Nam ta mới có
câu nói:
Lạy Chúa Ba Ngôi,
Tôi lấy được vợ, tôi thôi đi nhà thờ.
4.- Loại người theo đạo để được khỏi bị chụp mũ
là công sản hay khỏi bị nhân viên chính quyền đạo
phiệt Ca-tô đến kiếm chuyện. Đây là trường hợp
của những người dân các tỉnh nằm trong Liên Khu V
(Thừa Thiên, Quang Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa). Vùng này, từ tháng 8 năm 1945 cho
đến khi bị chính quyền miền Nam tiếp thu vào đầu năm
1955 thuộc quyền kiểm sóat của chính quyền Kháng
Chiến Việt Minh. Trong thời gian này, tất cả mọi
người dân từ các em học sinh bậc tiểu học cho đến
các vị bô lão khoảng 60 tuổi đều gia nhập các đoàn
thể cứu quốc như Đoàn Nhi Đồng, Đoàn Thiếu Nhi, Đoàn
Thanh Niên, Đoàn Phụ Nữ, Nông Hội, v.v… Xã Đội Dân
Quân, Xã Đội Du Kich, v.v… Khi chính quyền Ngô Đình
Diệm tiếp thu vùng này vào đầu năm 1955, bọn công an
và mật vụ của Nhà Thờ Vatican biết rõ các danh tánh
những thành viên của các đòan thể này và dùng đó làm
lý do để cưỡng bách họ phải theo đạo. Nếu ai không
theo đạo, thì sẽ bị gán cho là theo Việt Minh Cộng
Sản và sẽ bị bọn công an, cảnh
sát và mật vụ bắt giam, tra tấn và thủ tiêu. Có rất nhiều
độc giả đã viết thư cho người viết kể lại chuyện
này, trong đó có hai lá thư dài đã được in nơi các
trang 324-327, Chương 11, Quyển
Một của bộ sách Thực Chất
Giáo Hội La Mã (Tacoma,Washington: TXB, 1999). Sự
kiện này cũng được sách Thập Giá và Lưỡi Gươm ghi
lại một cách đại lược như sau:
Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi
bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã
từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị
tình nghi có liên hệ với "kẻ địch", bây giờ vào đạo
là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế
độ, hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của
cảnh sát.”
[26]
5.- Lọai trẻ mồ côi, không cha, không mẹ được
các nhà truyền giáo lượm đem về nuôi ở trong các
viện mồ côi rồi đem chúng ra nhà thờ rửa tội.
6.- Loại trẻ em con nhà nghèo khó bị cha mẹ bán
cho các nhà truyền giáo.- Ở bất kỳ vào thời đại
nào và ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nhiều gia
đình nghèo khó hơn là các gia đình trung lưu và giầu
có. Trong các gia đình nghèo khó, có những gia đình
cực kỳ nghèo khổ, con cái nheo nhóc. Tại các quốc
gia bị chiếu cố, Giáo Hội La Mã cần móc nối và bắt
rễ với người địa phương để thiết lập cơ sở làm cứ
điểm khởi phát cho kế họach thâu người vào đạo. Một
trong những thành phần bị lọt vào con mắt cú vọ của
các ông truyền giáo là những gia đình cực kỳ nghèo
khổ này. Họ tìm đến thương lượng để mua con cái của
các gia đình này về nuôi dưỡng để khi lớn lên sé trở
thành những cán bộ họat động cho họ trong những kế
họach kế tiếp do Nha Thờ Vatican đã vạch ra. Sự
kiện mua các trẻ em như vậy được sách Ngàn Năm Soi
Mặt ghi nhận như sau:
"Vào giữa thế kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục
quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến
thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus
Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục lệ bán con
nói trên.
Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của nhà Nguyễn,
các giáo sĩ Ki-tô tìm đủ mọi cách để gia tăng số tín
đồ. Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc
dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và
mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ (như
ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa
trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản
xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để rửa
tội cho mỗi người ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm
1858..... Số trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán
cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng. Đa số
"các chú" trong các "nhà Chúa Blời" đều là cô nhi
hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về."
[27]
7.- Loại người theo đạo vì được Nhà Thờ can thiệp
với chính quyền của giặc để thoát khỏi vòng tù tội:
Trong suốt thời kỳ từ năm 1862 cho đến năm 1945, từ
Nam ra Bắc, có rất nhiều tổ chức nghĩa quân kháng
chiến của nhân dân ta nổi lên lập chiến khu và tiến
hành những chiến dịch tấn công chính quyền Bảo Hộ.
Để trả đũa, Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatican cho
mở các cuộc hành quân tiến đến bao vây, tấn công
các chiến khu này và tấn công cả các làng mạc ở
chúng quanh. Trong các cuộc hành quân vào các làng
mạc này, chúng tàn phá mùa màng, thiêu rụi nhà
cửa, phá hủy các đền đài, đình quán, và chùa chiền,
bắn giết bừa bài, hãm hiếp đàn bà con gái, bắt bớ,
tra tấn tất cả những người nào chúng tóm được rồi
đem đi giam cầm trong các nhà tù ở Sơn La, ở Côn Sơn
và nhiều nơi khác. Lợi dụng cơ hội này các ông
truyền giáo tìm cách móc nối với những gia đình nạn
nhân hứa hẹn sẽ can thiệp để cho nạn nhân bị bắt
oan được phong thích với điều kiện phải theo đạo.
Theo sự hiểu biết của người viết, trong giáo xứ (họ
đạo) An Bằng ở Huế, có nhiều người theo đạo Ca-tô ở
vào trường hợp này.
Chính sách dã man này cũng được Liên Quân Xâm Lược
Pháp – Vatican thi hành tại triệt để trong các vùng
bị chúng tạm chiếm trong thời Kháng Chiến 1945-1954
và Nhà Thờ Vatican cũng sử dụng quái chiêu can thiệp
cho những nạn nhân bị bắt oan được phóng thích với
điều kiện phải theo đao. Quái chiêu nãy cũng được
Nhà Thờ Vatican áp dụng ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975.
8.- Loại đạo gốc.- Từ kép “đạo gốc” được
dùng để chỉ thành phần con cháu của những loại người
theo đạo trên đây. Người ta còn sử dụng các
từ kép “đạo dòng” và “đạo bế ngửa” để chỉ những tín
đồ Ca-tô thuộc loại này. Sờ dĩ gọi họ là loại “đạo
bế ngửa” vì mới sinh ra đước mấy ngày hay mấy tuần
lễ thì họ (những em bé sơ sinh) bị cha mẹ bế đến
nhà thờ làm lễ rửa tội, và khi làm lễ rửa tội thì em
bé này được người cha hay người mẹ bế ngửa để cho vị
linh mục làm lễ vừa ruới hay xịt một chất lỏng giống
như nước lã vào đầu đứa bé, vừa lẩm nhẩm đọc mấy câu
phù phép giống y như hành động của các ông phù thủy
trong lúc hành nghề. Cái chất lỏng này được Nhà Thờ
Vatican bịp bợm gọi là “nước thánh” hay “dầu
thánh”.
ĐẶC TÍNH CỦA NHỮNG NGUỜI
XIN THEO ĐẠO
Trong 8 loại người theo đạo trên đây, mỗi loại người
có những đặc tính riêng. Chúng tôi tạm phân loại
những đặc tính của họ làm bốn nhóm người A, B, C và
D như sau:
A.- Theo đạo vì hoàn cảnh khốn cùng.
Đây là trường hợp 3, 4 và 7 kể trên. Họ là những người bị cưỡng bách, hay
chèn ép hoặc là bị khủng bố mà phải theo đạo. Như
vậy là họ theo đạo cho xong nợ hay cho được chuyện.
Phần trình bày trong loại 4 ở trên được coi như là
tiêu biểu cho nhóm này. Việc họ theo đạo là do chính
sách bỉ ổi, đê tiện và khốn nạn của Nhà Thờ Vatican
mà ra. Đối với họ, đạo Ki-tô chả có giá trị gì cả,
mà chỉ là những trò lưu manh bịp bơm của bọn lưu
manh buôn thần bán thánh mượn danh tôn giáo y hệt
như bọn đồng bóng và thày cúng ở vùng ven sông
Chương Hà, trong câu nguyện "Hà Bá Cưới Vợ" mà thôi.
B.- Trở thành người có đạo vì ở viện mồ côi.
Đó là các trường hợp 5 và 6 kể trên. Vì hoàn
cảnh mồ côi hay nghèo khổ mà lọt vào tay Nhà Thờ
Vatican và bị đem đi rửa tội theo đạo khi còn là
những em bé nhỏ tuổi. Đối với pháp luật của bất kỳ
quốc gia nào trong cộng đòng nhân loại ngày nay, họ
còn là những em bé vị thành niên, chưa có tư cách
pháp lý để quyết định bất cứ một việc gì. Về phương
tâm lý và xã hội, họ còn quá ấu trĩ để cân nhắc có
nên theo đạo hay không, Như vậy, đối với công lý
cũng như đối với lương tâm, việc họ theo đạo là vô
giá trị. Những kẻ dẫn dắt hay xúi giục họ theo đạo
là những phường bất lương và cần được pháp luật
trừng trị.
C.- Cuồng tín di truyền.
Đó là những người theo đạo (thuộc lọai 8 kể trên) mang những đặc tính di truyền của cha mẹ và
chịu ảnh hưởng của môi sinh. Nói cho rõ, dân “đạo
gốc”, “đạo dòng” hay “đạo bế ngửa”
có những đặc tính theo quy luật di truyền “cha
nào con ấy” và quy luật môi sinh “gần mực thì
đen, gần đèn thì sáng”.
Vì được nhồi sọ ngay từ khi mới chào đời và
được Nhà Thờ Vatican đào tạo để biến thành “con
chiên”, rồi lại sống trong xã hội Ca-tô
với những nếp sống văn hóa ngược ngạo và ngược đời, cho nên những người này sẽ trở thành những
tín đồ Ca-tô với tất cả những căn bệnh
cuồng tín giống như những tín hữu Ca-tô người Tây
Ban Nha trong thời Trung Cổ.
D.- Người xu thời dễ trở thành ác nhân.
Những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền
lực như kể trên nói chung là xu thời, là những người
cực kỳ ích kỷ. Vì vậy, tất cả những quan nỉệm cao đẹp như công
bằng, công lý, lẽ phải, lương tâm, nhân quyền, nhân
nghĩa và liêm sỉ đều bị méo mó làm sao có lợi cho riêng "dân Chúa" mà thôi, chứ không đặt trên căn bản dân tộc.
Ở bất kỳ xã hội hay văn hóa nào, Đông Tây kim
cổ, hạng người này có thể làm những
chuyện đại nghịch bất đạo như giết cha, giết mẹ,
giết anh em, đối xử tàn tệ với vợ con, phản thày,
phản bạn, phản quốc, phản dân tộc, phản lại giống
nòi để chiếm đọat cho bằng được những thứ lợi, danh
và quyền lực mà họ đang theo đuổi. Đặc biệt là sự thật này đang diễn ra trong các hội đoàn
và các tổ chức chống Cộng của người Việt hải ngọai.
Nhân
tiện đây,
người viết xin ghi lại
đây
một vài chuyện lưu xú vạn niên
trong lịch sử.
1.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Thương Thần
(thời Đông Châu Liệt Quốc) đã nhẫn tâm giết cả cha
ruột là Sở Thành Vương để có thể nhẩy lên ngai vàng
cai trị nước Sở với vương hiệu là Sở Mục Vương.
Chuyện rằng Sở
Thành Vương có nhiều con trai. Thương thần là người
con cả và đã được lập ngôi Thái Tử. Nhưng vì tham
quyền cố vị, dù là đã ở ngôi 46 năm rồi, Sở Thành
Vương vẫn cứ ngồi lỳ bám chặt lấy quyền lực, không
chịu nhường ngôi cho con như các vua nhà Trần ở nước
ta.
Thương Thần chờ lâu quá, nóng lòng và sợ rằng biết
đâu vào một lúc nào đó, Sở Thành Vương sẽ đổi ý
truất ngôi Thái Tử của mình và lập một người con
khác lên thay thế. Rồi chuyện xẩy ra đúng như Thương
Thần đã lo sợ. Sau khi lập Thương Thần làm thái tử
rồi, Sở Thành Vương lại thương yêu một người con
thứ tên là Chức và có ý truất ngôi thái tử của
Thương Thần để đưa Chức lên thay thế. Biết được tin
này, Thương Thần liền âm mưu với Phan Sùng làm đảo
chính. Nửa đêm, hai người này đem quân vào cung vây
bắt Sở Thành Vương và buộc phải thắt cổ tự tử. Ngay
khi đó, Thương Thần lên ngôi lấy vương hiệu là Sở
Mục Vương. Loài súc sinh cũng không giết cha để dành ngôi như thế!
2.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Ngô Khởi
giết vợ là Điền Thị (con quan Tướng Quốc Điền Hòa
của nước Tề) để cầu danh, mong được làm Đại Tướng ở
nước Lỗ.
3.- Vì háo danh và thèm khát quyền lực, Lữ Bát Vi đã
muối mặt đem cả người vợ thân thương yêu quý của ông
ta là Triệu Cơ dâng hiến cho công tôn Dị Nhân nước
Tần (đang bị giữ làm con tin ở nước Triệu) để lót
đường tiến vào cửa quyền.
4.- Vì thèm khát quyền lực, Dương Quảng giết cả cha
là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581- 605), giết mẹ và giết
cả anh ruột là Dương Dũng để nhẩy lên ngai vàng, lấy
đế hiệu là Tùy Dạng Đế (605-618).
5.- Vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực mà Tổng
Giám-mục Charles Muarice de Talleyrand (1754-1838)
trở thành vua trở cờ với những thành tích:
a.- Khi thấy nhân dân Pháp bừng bừng căm thù vùng
lên làm Cách Mạng đạp đổ bạo quyền của cả chế độ
giáo hoàng (papacy) lẫn chế độ đạo phiệt Ca-tô Louis
XVI, thì ông ta phản lại Vatican đi theo Cách Mạng
Pháp 1789. Đặc biệt là trong phiên họp Quốc Hội vào
đêm 4/8/1789, khi thấy rằng:
“các quý tộc trong Quốc Hội đã đồng thanh tuyên
bố hủy bỏ những ưu quyền của mình” và “Quốc
Hội đã bỏ thăm chuẩn nhận sự hủy bỏ các đặc quyền
phong kiến”, thì chính ông ta “là người đầu
tiên đề nghị với Quốc Hội nên tịch thâu tài sản của
Giáo Hội. Lời đề nghị này được chuyển thành sắc lệnh.”[28]
b.- Khi được chính quyền Cách Mạng trong thời Quốc
Ước Hội Nghị (9/1792 – 9/1794) cử sang London vận
động chính quyền Anh ủng hộ chính quyền Cách Mạng
Pháp, thấy rằng Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của
Vatican mạnh thế, ông lại trở cờ, phản lại Cách Mạng
Pháp đi theo Liên Minh Thánh, nhưng vì bị Liên Minh
Thánh truy cứu tội phản lại Giáo Hội trong những
ngày đầu của Cách Mạng Pháp 1789, nên ông ta phải
trốn chạy sang Hoa Kỳ sống lưu vong và được chính
quyền Hoa Kỳ dung dưỡng.
c.- Khi thấy Tướng Napoléon Bonarparte lên nắm chính
quyền ở Pháp và đang ở thế mạnh, ông tìm cách trở
về Pháp xin phục vụ và được cho giữ chức vụ Bộ
Trưởng Ngọai Giao trong suốt thời kỳ từ cuối thập
niên 1790 cho đến đầu thập niên 1810. Cuối thập
niên 1790, vì còn đang ở thế yếu, lại đang phải đối
phó với Anh quốc, Hoa Kỳ gửi một phái đoàn sang Thủ
Đô Paris cầu thân với Pháp để chuẩn bị đương đầu
với nước Anh. Lúc đó, Charles Muarice de Talleyrand
đang nắm giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao của chính
quyền Pháp. Thấy rằng Hoa Kỳ đang ở thế yếu và muốn
cầu cạnh làm thân với Pháp để chống lại Anh quốc,
ông vua trở cờ này quay ra bắt chẹt Hoa Kỳ đòi phải
nộp tiền hối lộ cho Pháp rồi mới bằng lòng nói
chuyện. Vì phải giữ gìn quốc thể, phái đoàn Hoa Kỳ
tức giận tuyên bố: “Thà mất bạc triệu để phòng
thủ còn hơn mất một xu để hối lộ”, rồi bỏ ra về.[29]
d.- Sau này, vào đầu năm 1814, chính quyền của Hoàng
Đế Napoléon suy yếu và Liên Minh Thánh của Vatican
đang trên đà thắng thế, ông lại phản lại Hoàng Đế
Napoléon để đi với Liên Minh Thánh.
6.- Cũng chỉ vì lòng thèm khát quyền lực, mà con chiên Ngô Đình Diệm đã trở thành
một nhân vật lưu xú vạn niên trong lịch sử Việt Nam
thời cận đại với những thành tích vừa là một tên
Việt gian ác ôn (dùng phương cách tra tấn “đốt
đèn cầy sấy hậu môn các tù nhân yêu nước” để lấy
khẩu cung), vừa là ông vua phản phé còn siêu hơn
cả ông vua trở cờ Talleyrand.
Thành tích phản phé và
trở cở của thằng tam đại Việt gian này đã được trình
bày rõ ràng nơi Chương 16 trong cuốn Thực Chất Của
Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA: TXB, 1999) và Chương 63
(Mục XVIII, Phần VI) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ
Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.
Cũng vì long háo danh và
thèm khát quyền lực, Ngô Đình Diệm không những phạm
phải những tội phản trắc mà còn phạm những
tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt
Nam. Tiêu biểu cho tội lỗi này là việc tàn sát hơn 300 ngàn dân lương
để “làm sáng danh Chúa” trong những năm 1955-1963,
tội hồ hởi đồng lõa với quân đội Mỹ trong
việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và
rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện
này được sách sử ghi lại như sau:
“Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê
chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai
quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình
Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt
liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và
tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[30]
Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ
cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê
gớm:
“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da
cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng
và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và
gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”[31]
Do những hành động bạo ngược và cực kỳ dã man trên
đây, sách sử mới khẳng định Ngô Đình Diệm là một trong số môt trăm
tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Xin đọc
Nigel Cawthorn, Tyrants History’100 Most Evil
Despots & Dictators (London, Arcturus, 2004),
pp. 167-168.
Từ 6 cái gương lưu xú vạn niên nêu lên trên đây,
chúng ta có thể kết luận rằng, ngoại trừ một số
những trường hợp cá biệt, hầu hết những người Việt
theo đạo thuôc lọai 1, lọai 2 và những người đạo
gốc con cháu những người này cũng như tất cả những
người xu thời đều là những hạng người có những ác
tính tiềm ẩn sẵn trong lòng và chỉ chờ có cơ hội thì
những ác tính ghê tởm này sẽ thể hiện ra thành hành
động. Hầu hết những tội ác cấu kết với Liên Minh Xâm
Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ -
Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc ta trong suốt
chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến
ngày 30/4/1975 và còn tiếp tục cho đến ngày nay đều
do những hạng người này gây ra.
Còn một điều quan trọng nữa cũng nên trình bày ở đây
để mọi người cùng biết. Tất cả những giáo dân bước
vào học nghề làm linh mục thường là
những người tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực
và gian dối. Đây là sự thực được chính những người trong giới người này là ông
nhà văn Ca-tô J. Ngọc (tu xuất) kể lại trong cuốn
Cõi Phúc và Giây Oan như sau:
“Những người con trai thơ dại mong được đào tạo
trở thành linh mục sau này. Tôi mồn một nhớ về tâm
trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi
dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một
quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi
hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng
trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi, ý
nghĩ đi tu chỉ vấn vương qua những hình ảnh vật
chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn
sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân,
nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ đã như những
tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân
tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và
muôn ngàn hình ảnh khác."
[32]
Danh ngôn thế giới về Thiên Chúa
giáo La Mã
Dưới đây là cái nhìn của một số danh nhân và vĩ
nhân trên thế giới về đạo Ki-tô La Mã và các ông
giáo sĩ cái tôn giáo quái đản này:
1.- Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi
(1807-1882) tuyên bố:
a.-
"Linh muc là hiện thân của sự gian trá". (The
priest is the personification of falsehood).
b.-
“Vatican là con dao găm đâm vào tim nước Ý”
(The Vatican is a dagger in the heart of Italy.)
c.-
"Giao Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và
là kẻ thù trung kiên của tự do". (The Catholic
Church is the handmaid of tyranny and the steady
enemy of liberty).
2.-
Edward Gibbon (1737-1794), sử gia người Anh viết:
a.-
"Đối với cái nhìn triết lý, những thói xấu của giới
giáo sĩ thì ít nguy hại hơn những đức tính của họ
rất nhiều." (To a philosophic eye, the vices of the
clergy are far less dangerous than their virtues.)
b.-"Những
tội nghiêm trọng nhất đã bị dẹp bỏ. Người đại diện
của Chúa Kitô - Giáo Hoàng John XXIII (1414) - chỉ
bị kết tội là ăn cướp, sát nhân, hãm hiếp, giao hợp
đồng giống, và loạn luân.". (The most serious
charges were suppressed; the Vicar of Christ - Pope
John XXIII (1414) - was accused only of piracy,
murder, rape, sodomy, and incest.)
3.-
Tiểu thuyết gia Anh Daniel Defoe (1660-1731) nhận
xét:
"Trong tất cả tai họa mà nhân loại phải gánh chịu,
sự độc đoán của giới giáo sĩ là tệ hại nhất."
(Of all the plagues with which mankind are cursed,
Ecclesiastic tyranny's the worst.)
4.-
Học giả Hòa Lan Hugo Grotos (1583-1645) tuyên bố:
"Người
nào đọc lịch sử giới giáo sĩ không đọc gì khác ngoài
sự gian giảo và điên rồ của các giám mục và linh
mục." (He who reads eccleciastical history reads
nothing but the roguery and folly of bishops and
churchmen.)
5.- Thi sĩ người Anh John Milton (1608-1674) nhận
xét:
"Đạo Ca Tô Rô Ma (Đạo Gia-tô hay Kitô La Mã) có
ít tính chất tôn giáo hơn là sự chuyên chế của giới
linh mục, những người được trang bị với những bổng
lộc của quyền lực dân sự, với chiêu bài tôn giáo, đã
chiếm lấy quyền của Chúa." (Romanism is less a
religion than a priestly tyranny armed with the
spoils of civil power which, on the pretext of
religion, it had seized against the command of
Christ himself.)
6.-
Văn sĩ Anh Lady Mary Wortley Montagu (1689-1762)
tuyên bố:
"Trên
khắp thế giới, các linh mục có thể nói láo và các
tín đồ tin." (Priests can lie, and the mob can
believe, all over the world.)
7.-
Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) tuyên
bố:
a.-
"Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh
mục đã thù nghịch đối với tự do." (In every
country and in every age, the priest has been
hostile to liberty.)
b.-
"Thượng Đế (của Giáo Hội La Mã) là một nhân vật
có những đức tính cực kỳ độc ác, ưa thích trả thù,
bất khoan dung, đồng bóng và bất công." (The God
is a being of terrific character - cruel,
vindictive, capricious, and unjust).
c.-
"Đã tới 50, 60 năm tính từ ngày tôi đọc cuốn Khải
Huyển, và từ đó tôi coi nó chỉ là những lời điên dại
mê sảng của một kẻ cuồng điên." (It has been 50
and 60 years since I read the Apocalypse, and I then
considered it merely the ravings of a maniac.).
8.-
Hoàng Đế Pháp Napoleon I (1769-1821) tuyên bố:
a.-
"Hiệp Hội Giêsu (Dòng Tên ?) là hội nguy hiểm nhất,
và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn
giáo khác." The (Society of Jesus is the most
dangerous of orders, and has done more mischief than
all the others.).
b.-"Kiến thức và lịch sử là những kẻ thù của tôn
giáo." (Knowledge and history are the enemies of the
religion.)
c.-
"Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian
dối và sai lầm." (Priests have verywhen and
everywhere introduced fraud and falsehood).
9.-
Học giả Hoa Kỳ Robert G. Ingerssoll (1833-1899)
tuyên bố:
"Một
thày giáo giỏi có giá trị hơn 1000 (một ngàn) linh
mục". (good teacher is worth a thousand priests).
10.-
Văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885) viết:
"Trong
mỗi làng đều có một ngọn đuốc soi sáng là người thầy
giáo - và một kẻ làm tắt bó đuốc đó là ông linh mục
xư (sở tại)". (There is in every village a
torch: the schoolmaster - and an extinguisher: the
parson).”
11.-
Sử gia Ái Nhĩ Lan William E. H. Lecky (1838-1903)
nhận xét:
a.- “Hầu hết Âu Châu, trong nhiều thế kỷ đã bị
ngập máu, máu đổ do dự chủ mưu trực tiếp hoặc do sự
hoàn toàn chấp thuận của những người có quyền trong
giới giáo sĩ .” (Almost all Europe, for many
centuries, was inundated with blood, which was shed
at the direct instigation or with the full approval
of the ecclesiastical authorithies).
b.- “Bất cứ khi nào mà giới giáo sĩ Ca-tô hay Tin
Lành đứng cạnh thế quyền dân sự, thì kết quả là bạo
hành.” (Whenever the clergy were at the elbow of the
civil arm, no matter whether they were Catholic or
Protestant, persecution is the result.”.[33]
12.-
Linh-mục Phát Huồn ghi trong sách Việt Nam Giáo Sử
Q I ( Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1965) rằng:
"Các
nhà viết sử cho rằng "Những chuyện của Giáo-sĩ
thuật lại là những chuyện hoàng đường."[34]
Đúc kết lại, người viết xin khẳng định rằng:
a.- Chỉ có những phường tham lợi háo danh và thèm
khát quyền lực mới lao vào học cái nghề làm linh
mục.
b.- Tất cả các giáo sĩ từ giáo hoàng cho đến các
hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục bất kể
là linh mục triều hay linh mục dòng đều là những kẻ
gian dối. Bằng chứng là tất cả họ đều chưa bao giờ
lên thiêng đường và tất cả họ đều chưa xuống hỏa
ngục, ấy thế mà ở bất cứ nơi nào, nhất là ở trong
nhà thờ vào những giờ lễ cũng như khi tiếp xúc với
mọi người, hễ có dịp nói đến thiên đường và địa ngục
thì họ thao thao bất tuyệt nói ra những lời làm như
họ đã từng sống lâu năm ở trên thiên đường hay mới
từ hỏa ngục trở về.
Tất cả trên đây là sự thực về bản chất độc ác hay
những ác tính và những tích tội ác của giới giáo sĩ
Vatican. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Hầu
hết những tài liệu nói về những bản chất ghê tởm và
những khu rừng tội ác này của họ đều do những người
trong giới giáo sĩ của nhà thờ Vatcan ghi lại. Phần
lớn những tài liệu này được chúng tôi sử dụng để
biên soạn cuốn Tâm Thư này.
Dĩ nhiên là những tín đồ Thiên Chúa Giáo thuộc lọai
cuồng tín và những người ở ngoài cái tôn giáo này
NẾU không chịu tìm hiểu, THÌ không thể nào biết được
sự thực này.
CÁC QUỐC GIA KHÁC TRÊN LỤC ĐỊA Á CHÂU
RẤT ÍT NGƯỜI THEO ĐẠO CA TÔ
Khác với Việt Nam, tại các quốc gia khác trên lục
địa Á Châu, rất ít có người theo đạo Ca-tô. Lý do là
vì tại các quốc gia này Vatican không có cơ hội
cấu kết hay cặp kè với cá nhân hay thế lực cầm quyền
như ở Việt Nam.
Theo sách
Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (Sàigòn: Chân Lý, 1972),
tất cả các nước khác tại lục địa Á Châu, số người
theo đạo Ca-tô rất ít, chỉ ở mức từ dưới một phần
ngàn lên đến trên dưới 1% trên tổng số người dân
trong nước. Dưới đây là những bản văn trong sách này
ghi nhận về con số tín đồ Ca-tô tại một vài nước Á
Châu:
Nhật Bản: Theo sách Lịch Sử Công Giáo của
Linh-mục Bùi Đức Sinh, thì con số tín đô Ca-tô ởr
quốc gia này chưa tới 1 phần 10 của một phần ngàn
trên tổng số dân số. Dưới đây là bản văn nói về vấn
đề này:
“Từ đây, các thừa sai tìm ra gần 20 ngàn người
Công Giáo trong vùng Nagasaki. Không linh mục,
không một trợ giúp, suốt 200 năm qua, những người
tín hữu này vẫn rửa tội cho nhau, vẫn trung thành
với Đức Tin vẫn cầu nguyện, vẫn tuân giữ các giới
răn, đến cả ảnh tượng thánh họ cũng còn kính cẩn cất
giấu. Họ truyền lại cho nhau những dấu hiệu để một
ngày kia sẽ nhận ra ai là những người đến nối tiếp
các thừa sai xưa để cho tổ tiên họ biết Đạo: độc
thần, hiệp nhất với Giáo Hoàng La Mã, sùng kính Đức
Trinh Nữ Maria.
Chính quyền được báo động, liền nhắc lại những
Chiếu Chỉ cấm Đạo (1868). Người Công Giáo một lần
nữa chịu bách hại: 80 ngàn người bị lưu đày. Năm
1873, áp lực của các cường quốc Tây Phương đòi
chính quyền Nhật phải trả quyền tự do cho người
Ki-tô hữu. Từ đó, đạo Chúa lại được rao giảng, nhưng
tiến triển chậm chạp: năm 1913, số dân Công Giáo
Nhật không quá 100 ngàn, trên tổng số 67 triệu dân.”[35]
Triều Tiên: Có số người theo đạo cũng rát ít,
không qua 1 phần 10 của một phần ngàn trên tổng
số:
“Cuối thế kỷ XVI, Nhật Bản đem quân đánh Cao Ly
(Triều Tiên); trong quân đội Nhật có một số quân
nhân Công Giáo đã khuyên được nhiều người Cao Ly
theo đạo. Nhưng vua Cao Ly hạ lệnh cấm, khiến một
nhóm giáo dân quá non nớt không thể đứng vững, nhưng
đất Cao Ly đã được thấm máu tử đạo từ đấy. Sau gần
hai thế kỷ, ông Lee trong thời gian làm đại sứ ở Bắc
Kinh, được giao thiệp với các thừa sai Công Giáo nên
đã chịu phép Rửa, lấy tên thánh là Phêrô. Năm 1784,
ông trở về Cao Ly, làm tông đồ tại nước nhà. Hoạt
động của ông Lee rất kết quả: Năm 1789 có gần 4 ngàn
người theo đạo. Nhưng vì công cuộc truyền giáo thiếu
giáo sĩ, lại phải chịu những thử thách quá nặng nề,
suốt 80 năm bách hại nhất là trong những năm 1827,
1839, 1846 và 1860-1873: Con số tử đạo lên tới hàng
ngàn người. Năm 1837, xứ truyền giáo được trao cho
Hội Thừa Sai Ba Lê; giữa thế kỷ XIX, con số giáo dân
trên 11 ngàn. Năm 1910, Cao Ly bị sáp nhập vào Nhật
Bản, công cuộc truyền giáo vẫn tiếp tục mặc dầu gặp
những khó khăn liên tiếp. Năm 1936, số giáo dân
128 ngàn người trên tổ số 21 triệu dân.”[36]
Trung Hoa: Con số người theo đạo Ca-tô lại
còn ít hơn cả hai nước Nhật Bản và Đại Hàn:
“Những cuộc bách hại ở Trung Hoa không gây đổ máu
nhiều như ở Việt Nam hay Nhật Bản, bởi vì ít khi đi
tới ác liệt (cuộc tử đạo của Cha Perboyre (vào) năm
1840). Tuy nhiên, cũng đủ dữ dội để người Ki-tô hữu
có cơ hội xưng Đức Tin can trường, sống Đạo một cách
sốt sắng, trung thành, nhẫn nhục, nhưng số giáo dân
tăng rất chậm: 202 ngàn (vào) năm 1800, lên 350 ngàn
(vào) 1860 (1/1000).”
[37]
Các quốc gia Đông Nam Á Châu: Tại các quốc
gia khác ở Đông Nam Á, con số những người theo đạo
Ca-tô cũng chỉ loanh quanh không tới 1 phần ngàn
trên tổng số dân số.
“Công cuộc truyền giáo ở vùng Đông Nam Á, chỉ ở
Việt Nam là khả quan, với con số giáo dân từ 420
ngàn (và) năm 1840 lên đến 683 ngàn (vào) năm 1892,
và 1.544.765 (vào) năm 1930. Còn ở Miến Điện,
Xiêm La, Mã Lai, Nam Dương công việc bắt đầu hơi
muộn, lại tiến chậm chạp, nên tất cả các nước này,
hợp lại chỉ có khoảng 300 ngàn người Công Giáo
(vào) hồi năm 1930.”[38]
CHÚ THÍCH
[17] Jack Abramowtz and Kenneth Job,
Homelands of the World: Resources and Cultures
(Cleveland, OH: Modern Curriculum Press, Inc. 1982),
p. 245.
[18] Phạm Quốc Sử. "Văn Hóa Đông Nam Á Trong
Sự Đồng Hóa Của Phương Tây".Giao Điểm số 51
Spring 2004:97-98.
[19] Li, Dun J., The Ageless Chinese (New
York: Charlrd Scribner’s Sons, 1978) p. Ibid., p.
428.
[20] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông
Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) tr 152-153.
[21] Nguyễn Đình Tiên, Chân Dung Tuớng Ngụy
Sàigòn (Hà Nội: Nhà Xuất Bản QÐND, 2002), tr 344
[22] Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng
(Houston, Texas: Văn Hóa, 2004), tr 450.
[23] Vu Văn Mẫu, Sáu Tháng Pháp Nạn 1963 (Garden
Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 8.
[24] Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi 2
(Houston, Texas: Văn Hóa, 2003), tr 307-308.
[25] Phạm Phú Bổn. "Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông
Lâm Lễ Trinh Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Ðệ Nhất Cộng Hòa"
www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004
[26] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr130.
[27] Nguyên Vũ, Ngàn Nam Soi Mặt
(Houston, Texas: Văn Hóa, 2002), tr 196-197.
[28] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng và Hành Ðộng
(Sàigòn: Quan Ðiểm, 1964), tr. 35 và 37.
[29] Jack Abramowitz,. American History.
Chicago (Illinois: Follett Publishing Company,
1979), p 210. "In 1797, President Adams sent
representatives to France to work out a treaty. They
reported back that French officials were demanding
bribes and a loan to France. These officials were
identified only as X,Y and Z. American feelings now
rose against the French because of the XYZ affair.
The whole nation supported the president in refusing
to pay any bribes. A popular cry was "millions for
defense, but not one cent for tribute." Congress
repealed the former treaties with France and the
United States. So, in 1798, an undeclared naval war
began between France and the United States." Muốn
biết rõ nhân vật này, xin đọc Chương 16 Thực Chất
Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA, 1999).
[30] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và
Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao
Điểm, 2005), tr. 35.
[31] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.
[32] J. Ngọc, Cõi Phúc Và Giây Oan - Tập Một
(Houston, Texas: Văn Hóa, 1995) tr 9-10.
[33] Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 283-304.
[34] Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử Q I
( Sàigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr. 39.
[35] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr. 277.
[36] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr. 277-278.
[37] Bùi Đức Sinh, Sđd., tr.278.
[38] Bùi Đức Sinh, Sđd.,tr. 280.