AMEN !

Là Như Thế Đó!

Trần Chung Ngọc

bản in ¿ Xem mục lục ngày 11 tháng 4, 2009

AMEN là tên cuốn sách mới xuất bản cách đây vài tháng, viết bởi Nữ Tu Công Giáo Jesme Raphael. Năm ngoái Sơ Jesme Raphael đã rũ bỏ áo tu bước ra khỏi dòng nữ tu Công giáo Carmel ở Kerala, một tiểu bang ở Tây Nam Ấn Độ có nhiều tín đồ Công giáo nhất, sau 30 năm sống trong dòng tu này, với 26 năm là nữ tu (sister = sơ). AMEN là cuốn Hồi Ký của Jesme Raphael kể lại chi tiết những chuyện động trời khủng khiếp trong dòng nữ tu này như: sự hiếp đáp khủng bố của các sơ bề trên, sự cưỡng bách tình dục của các linh mục đối với các nữ tu, tình trạng đồng giống luyến ái giữa các nữ tu v…v… [Amen: An Autobiography of a Nun, cataloging lurid details of bullying, sexual abuse and homosexuality in the oldest Catholic women’s order...] Amen có nhiều nghĩa (1), nghĩa thường dùng trong Ki Tô Giáo là “So be it” để kết thúc những màn cầu nguyện. Theo nghĩa này, tôi dịch thoát là “Là Như Thế Đó” (TCN).  

 

Trước khi đi vào chi tiết những tệ nạn trên ở trong một số dòng nữ tu của Công giáo, chứ không chỉ ở Kerala, tôi cảm thấy cần phải nhắc để các độc giả nhớ rằng: theo giáo lý của Công giáo dạy các tín đồ ngu ngơ của họ thì: Giáo hoàng chính là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ), các linh mục đều là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), các nữ tu (sơ) đều là hôn thê của Chúa (bride of Christ). Còn các tín đồ, thường gọi là con chiên, thì khỏi cần phải nói vì ai cũng biết đó chỉ là một bày đàn ngu ngơ hoàn toàn tuân phục các bề trên, nhắm mắt theo sự chăn dắt của những người chăn chiên (shepherds). Và chính vì ngu ngơ nên mới có thể tin vào những điều bịp bợm lừa dối để tạo nên quyền lực cho giáo hội. Hơn nữa, hiển nhiên là từ giáo hoàng xuống tới các con chiên, ai cũng phải qua cầu “bí tích rửa tội”, do đó trong người đã tràn đầy con Ma Thánh (Holy Ghost) mà người Công giáo Việt Nam thường gọi là Chúa Thánh Thần trong thuyết điên rồ toán học [mathematical insanity] “Ba Ngôi Thiên Chúa”, hay Thánh Linh. Con Ma Thánh này, một sản phẩm tưởng tượng phi vật chất, có nhiệm vụ hướng dẫn tâm linh tín đồ để tin Chúa, về với Chúa và làm những việc làm đẹp lòng Chúa.

Thật vậy, sách Giáo Lý Công Giáo của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên viết, trang 153:

"Khi chịu phép rửa tội rồi, ta được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn. Người giáo hữu trở nên đền thờ Chúa ngự."

Nhớ kỹ những điều này thì chúng ta sẽ thấy, qua bài viết này, thực chất những giáo lý của Giáo hội Công giáo dạy tín đồ của họ là như thế nào, và các bậc chăn chiên đã làm những gì để đẹp lòng Chúa.

Đối với nhiều độc giả, tác phẩm AMEN của sơ Jesme Raphael có lẽ là chuyện rất lạ nói về các nữ tu Công giáo mà chúng ta thường nghe người Công giáo Việt Nam ca tụng là “hiền”, “hiền như ma sơ”, nhưng đối với tôi thì chẳng lạ chút nào. Vì tôi đã đọc cuốn “Những phanh phui khủng khiếp của Maria Monk; Những Chuyện Kín Che Dấu Trong Nữ Tu Viện” (The Awful Disclosures of Maria Monk; The Hidden Secrets of Convent Life, Senate, Random House UK Ltd., 1997), kể lại những chuyện khủng khiếp trong một nữ tu viện ở Montreal, Canada, tu viện Hotel Dieu Nunnery, trong đó nữ tu Maria Monk đã khám phá ra một thế giới ác mộng của những sự đồi bại tình dục.. Không có gì quá độ, không có gì bạo tàn mà các sơ bề trên hay các linh mục ở gần đó không làm .. Những Linh mục ác ôn coi các nữ tu không phải là các chị em tâm linh mà là những “gái bao” của riêng mình [Within the Nunnery walls Maria Monk discovered a nightmare world of sexual corruption…No excess, no brutality went unpractised. The evil priests regarded the nuns not as their spiritual sisters but as their personal concubines].

http://archive.org/stream/cihm_38885#page/n5/mode/2up

Cuốn “The Awful Disclosures” của Maria Monk, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1836, đã gây nên một làn sóng công phẫn về những chuyện động trời trong nữ tu viện Công giáo Hotel Dieu, thí dụ như: Các linh mục ở gần đó có lối riêng và kín đáo để vào tu viện bất cứ lúc nào và tự do làm tình với các nữ tu. Những đứa bé sinh ra liền được mang đi rửa tội để bảo đảm chúng sẽ được lên thiên đường rồi bóp mũi cho chết [All babies born of these illicit encounters, Monk claimed, were baptized before being killed and dumped in the basement].

Maria Monk cũng kể rằng, Sơ được các Sơ bề trên dạy là một trong những nhiệm vụ lớn lao của các nữ tu là phải tuân phục các linh mục trong mọi vấn đề, kể cả vấn đề phục vụ tình dục cho các linh mục [I must be informed that one of my great duties was to obey the priests in all things; and this I soon learnt, to my utter astonishment and horror, was to live in practice of criminal intercourse with them]. Tại sao? Maria Monk được bề trên giải thích: “Vì không có các linh mục làm phép, chúng ta không thể được tha tội và phải xuống hỏa ngục.” [They, the priests, might be considered our saviors, as without their service we could not obtain pardon of sin, and must go to hell] Chúng ta thấy, chính sách tẩy não nhồi sọ của Công giáo thật là đáng sợ.

Lẽ dĩ nhiên, vào thượng bán thế kỷ 19, quyền lực lớn lao của Công Giáo ở Canada đã tìm đủ mọi cách để phủ nhận sự phanh phui của Maria Monk. Theo luận điệu của Công Giáo thì một số người Tin Lành đã được phép của Giám Mục ở Montreal đến tu viện Hotel Dieu để điều tra sự thật và kiểm chứng những điều Maria Monk viết trong sách. Lẽ dĩ nhiên, kết quả điều tra của những người Tin Lành này là, không có một bằng chứng nào chứng tỏ là những điều Maria Monk phanh phui đã thực sự xảy ra.

Nhưng những người Tin Lành Mỹ không chấp nhận kết quả điều tra này vì cho rằng cuộc điều tra là của những người thuộc Dòng tên giả dạng làm Tin Lành [The American Protestants refused to accept these results, claiming that the investigation was biased because it had purposedly bên conducted by Jesuits disguised as Protestants]. Điều này có khả năng là đúng, vì trong thời đó và cho tới bây giờ, Công giáo rất ghét Tin Lành, luôn luôn cầu nguyện để cho những người Tin Lành đều đi xuống hỏa ngục, cho nên không làm gì có chuyện để cho Tin Lành vào một nữ tu viện của Công giáo để điều tra sự việc.

Dù sao thì vào thời điểm đó, chuyện Công giáo tìm cách bịt miệng Maria Monk cũng không phải là chuyện khó. Nhất là, sau khi rời bỏ tu viện, cuộc đời của Maria Monk xuống dốc một cách thê thảm, cho nên Công Giáo phô trương nói rằng đó là kết quả phản đạo của Maria Monk, và tuyên bố là những phanh phui của Maria Monk đã đi theo Maria Monk vào cõi chết. Tuy nhiên, Maria Monk chết nhưng chưa hết chuyện, vì tác phẩm The Awful Disclosures của Maria Monk đã được tái bản rất nhiều lần, và ấn bản mà tôi có là ấn bản mới nhất, xuất bản vào năm 1997 của Random House ở bên Anh.

Một số nhà nghiên cứu tôn giáo hiện nay đã xét lại những kết quả điều tra tu viện Hotel Dieu của Công giáo và cho rằng những điều Maria Monk viết trong cuốn The Awful Disclosures không phải là không có cơ sở. Tại sao lại có chuyện xét lại. Vì những phanh phui gần đây về những chuyện động trời trong Công giáo như Linh mục loạn dâm với trẻ, cưỡng dâm nữ tu, nữ tu đồng giống luyến ái (lesbian), và những chuyện gian lận, hành hạ trẻ mồ côi trong một số viện mồ côi quản trị bởi các nữ tu “hiền như ma sơ”. Sau đây là một số trường hợp điển hình.

Trong những năm gần đây, nhiều bản tường trình cho thấy chi tiết về các vụ linh mục cưỡng dâm nữ tu trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Phi Châu, nhưng Vatican vẫn nằng nặc phủ nhận [Undeniably, the best reason to reconsider Maria Monk’s claims is based on modern revelations of victims and survivors of clergy sexual abuse. Reports (http://www.priestsofdarkness.com/nuns.html) in recent years have detailed extensive and global abuse of nuns by priests, which the Vatican has vigorously denied. Nuns, especially in Africa, have been even more vulnerable than before as they are deemed to be safe from AIDS.]

Thật vậy, trong bài Hồ Sơ Về Sự Lạm Dụng Tình Dục Của Các Linh Mục Đối Với Các Nữ Tu [Documents Allege Abuse of Nuns by Priests], trên tờ New York Times ngày 21 tháng 3, 2001, viết bởi Chris Hedges, chúng ta có thể đọc những đoạn như sau:

Những bản phúc trình mật của Giáo hội Công giáo La mã trong thời gian 7 năm qua đã cho biết có nhiều trường hợp nữ tu (hôn thê của Chúa) bị các linh mục (Chúa thứ hai) cưỡng bách tình dục và các bề trên trong giáo hội đã bao che, không đáp ứng và không đưa ra biện pháp để kỷ luật những linh mục phạm tội. [Confidential Roman Catholic Church reports written over a period of 7 years allege numerous cases of sexual abuse of nuns by priests and a failure by church leaders to discipline the clerics who were involved]

5 bản phúc trình viết bởi những viên chức cao cấp trong các dòng nữ tu và một linh mục Mỹ, cho thấy sự lạm dụng tình dục của các linh mục đã xảy ra trong nhiều quốc gia, kể cả Mỹ.

Các bản phúc trình viết rằng một số linh mục đã đòi hỏi các nữ tu ở dưới quyền phải phục vụ tình dục cho họ để đổi lấy một số ưu đãi đặc biệt. Trong một số trường hợp, các linh mục làm cho nữ tu có mang rồi bắt họ đi phá thai. [The reports say some priests have demanded sex from nuns under their charge in return for favors. In some instances priests are said to have impregnated nuns and the forced them to have abortions]

Như thường lệ, sự bất lương của Vatican hiển lộ trong lời tuyên bố của Joaquin Navarro-Walls, phát ngôn viên của Vatican, rằng vấn nạn trên chỉ xảy ra giới hạn trong môt vùng địa dư (The Vatican spokeman, Joaquin Navarro-Walls, issued a statement saying the problem was confined to “a limited geographical region”) tuy rằng phúc trình chi tiết nhất là của Sơ Maura O’Donohue, một bác sĩ Công giáo, thành viên của cơ quan Medical Missionaries of Mary, dựa trên những dữ kiện thu thập được, đã viết rõ rằng vấn nạn trên đã xảy ra trong 23 quốc gia kể cả Mỹ, Ý và Ái Nhĩ Lan.

Sơ O’Donohue kể ra trường hợp ở Malawi, chỉ trong một dòng nữ tu đã có tới 29 nữ tu mang thai bởi các linh mục. Khi Sơ bề trên phàn nàn với Tổng Giám Mục của giáo xứ, thì Sơ bề trên này bị thay thế. [Sister O’Donohue went on to discuss a case in Malawi, where 29 sisters in a single congregation “became pregnant by priests in the diocese.” When the sisters’ superior general complained to the archbishop, Sister O’Donohue wrote, she was replaced. Sister O’Donohue wrote that she knew of similar cases in 23 countries, including the United States, Italy and Ireland.]

Bản phúc trình của Sơ Maura O’Donohue còn đưa ra nhiều chi tiết chứng tỏ sự phá sản tâm linh và đạo đức trong cấp lãnh đạo của giáo hội Công giáo. Trong bản phúc trình, Sơ O’Donohue đưa ra những trường hợp động trời, thí dụ như:

- Linh mục đưa các nữ tu và con chiên đến nhà thương Công giáo để phá thai [Priests were bringing sisters (and other young women) to Catholic health institutions for abortion.] Bác sĩ Công giáo bị áp lực của linh mục nên phải làm việc vô đạo đức này dù giáo hội cấm.

- Một trường hợp đặc biệt là một linh mục mang một nữ tu đi phá thai và nữ tu này chết trong vụ này và linh mục trên đứng làm chủ lễ an táng [An example of a priest who had brought a sister for an abortion. She died during the procedure and the priest officiated at the Requiem Mass]

- Đối với các Sơ bị các linh mục làm cho mang thai thì linh mục thường chỉ bị khiển trách nhẹ - thí dụ như hai tuần lễ sám hối hay thuyên chuyển đi giáo xứ khác [để tiếp tục làm bậy như báo chí gần đây đã phanh phui], còn các nữ tu thì bị đuổi ra khỏi dòng tu. [The most disturbing incidents concerned sisters who became pregnant. While the priests were usually given mild reprimands – for example, two-week retreat or transfer to another parish – the nuns were forced out of the order]

Giáo hoàng Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin, đã nhận được bản phúc trình của Sơ O’Donohue năm 1998 về những vụ linh mục cưỡng bách tình dục các nữ tu nhưng hoàn toàn coi phúc trình đó như không có trước quần chúng, theo đúng sách lược của giáo hội từ thời Trung Cổ, tuyệt đối giữ kín những vụ linh mục bê bối trong vấn đề tình dục. Ông ta có phải là “đại diện của Chúa trên trần” như giáo hội Công giáo tuyên dương hay không?

Pope Benedict XVI, when was Cardinal Joseph Ratzinger in charge of the Doctrine of Faith, acknowledged to receive the 1998 O’Donohue Report of sexual harassment and raping of women religious (nuns) and completely publicly ignored it following an old practice of the Catholic Church since the

Middle Ages of maintaining strict secrecy in dealing withsexually abusive clergy. Is he the representative of God on Earth as the Catholic Church proclaims?

Vấn nạn về phá sản tâm linh và đạo đức không chỉ thu hẹp trong giới giáo hoàng và linh mục mà còn xảy ra trong giới nữ tu, các hôn thê (bride) của Chúa, và dòng các “sư huynh” (Christian Brothers).

 Trong cuốn The Awful Disclosures của Maria Monk có nói đến dòng tu của các “Grey Nuns”, các Sơ mặc áo xám, được gọi là các “Sơ của Bác Ái” (Sisters of Charity). Cách đây ít năm, chương trình Prime Time của đài ABC cũng như chương trình Date Line của đài NBC đều đưa lên vụ kiện 1.2 tỷ đô-la [1.2 billion suit] của những trẻ mồ côi, nay đã trưởng thành, thường được biết là những “Trẻ mồ côi của Duplessis” (Duplessis Orphans). Những đứa trẻ này trước sống trong những viện mồ côi ở Québec, Canada, quản trị bởi các “Sơ của Bác Ái”, dưới triều Thủ Tướng Maurice Le Noblet Duplessis, một tín đồ Công giáo bảo thủ cực đoan. Một số những đứa trẻ mồ côi trong số khoảng 3000 còn sống sót này, nay đã trưởng thành, đã lập nên một tổ chức để kiện chính quyền Québec và viện mồ côi St. Julian ở Québec, do các “Grey nuns” (Sisters of Charity) quản trị, về những hành động hành hạ độc ác, ngược đãi, lừa gạt của các Sơ đối với các em khi còn ở trong các viện mồ côi, với sự toa rập của chính quyền Công giáo Québec trước đây và bác sĩ Công giáo.

Đọc nội dung vụ kiện này và những bằng chứng mà các nạn nhân đưa ra chúng ta không thể tưởng tượng được là trong “hội thánh, thiên khải, tông truyền, duy nhất”, alias Công giáo, lại có thể xảy ra những chuyện tàn bạo vô lương tâm của tập đoàn Công giáo gồm từ Thủ tướng Công giáo ở Québec đến các linh mục, bác sĩ Công giáo, nữ tu Công giáo toa rập với nhau để làm thương tổn nặng nề đến tinh thần cũng như vật chất của nhiều ngàn trẻ mồ côi sống trong các viện mồ côi và các nhà thương Công giáo trị bệnh tâm thần.

Độc giả có thể đọc chi tiết đầy đủ về vụ “Duplessis Orphans” trong bài “Bác Ái Của Công Giáo Trong Hành Động” (Catholic Charity in Action) [http://www.lazyboysreststop.com/history-3.htm] và bài “Những Nữ Tu Công Giáo Ác Độc, Lừa Gạt Ở Mỹ Và Trên Khắp Thế Giới” (Abusive Nuns In The USA And Worldwide) trên trang nhà: http://www.ianpaisley.org/new_details.asp?ID=353. Ở đây tôi chỉ tóm tắt những nét chính và đưa ra một số sự kiện điển hình.

 

(xem tiếp)

0  1  2


Chú thích của SH:

(1) Người đạo Công Giáo thường hiểu "Amen" là "Mong Được Như Thế." Nghĩa này chỉ đúng sau những lời cầu nguyện có tính cách cầu xin. Còn những bài kinh có tính cách tán tụng Thiên Chúa hay Đức Mẹ v..v...thì chữ Amen có ý nghĩa xác quyết hơn (nguồn gốc do tiếng Do Thái cổ được dùng cuối các bài thánh vịnh hay kinh nguyện, có nghĩa khẳng định, xác nhận). Đó là trường hợp nghĩa "So be it" , "Ainsi soit - il", hay "Là Như Thế Đó" mà tác giả Trần Chung Ngọc dùng trong bài.

 

Trang Trần Chung Ngọc