TẢN MẠN XUNG QUANH VỤ TỐ KHỔ
VIỆT WEEKLY VÀ VỤ ÔNG NGUYỄN CAO KỲ

Trần Chung Ngọc

Link http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts12.php

30 tháng 7, 2007

T ôi và ông Nguyễn Cao Kỳ vốn là bạn đồng khóa, khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, nhưng chỉ là trên danh nghĩa, chứ chưa bao giờ là bạn. Tuy là bạn đồng khóa nhưng tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông Kỳ. Sau khi ra trường, chỉ có một lần thấy ông trong một cuộc họp Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan ở trong Tân Sơn Nhất, và một lần khác loáng thoáng thấy ông trong cuộc họp Cựu Sĩ Quan Trừ Bị Khóa I, Nam Định và Thủ Đức, cách đây vài năm ở Cali, ngoài hình ông trên báo chí, TV. Hồi còn ở Việt Nam, tôi biết ông Kỳ làm lớn, nhưng tính của tôi lại rất kỵ các quan lớn, cho nên cũng chẳng bao giờ lân la đến làm quen, dù tôi có quen vài người bạn thân của ông Kỳ, thí dụ như Phạm Dung [cùng đơn vị, cùng đóng đồn Tuy Lộc ở Hạt Lệ Thủy, miền Trung], và Phó Quốc Chụ [thường đấu Ping Pong nhưng bao giờ tôi cũng thua]. Vì vậy, chắc chắn là ông Kỳ không biết tôi là ai, nhưng không sao, tôi “biết” ông là đủ rồi.

Tôi viết bài này là vì tình bạn đồng khóa, nhưng không phải là bạn, vì tôi chưa từng là bạn, và cũng không có ý định làm bạn với ông Kỳ. Sở dĩ tôi phải viết lên bài này là vì những vụ việc xảy ra xung quanh những chuyến ông về nước vào dịp Tết Giáp Thân 2004, một chuyến khác sau đó 2 năm, và gần đây ông đã bay từ Việt Nam về Mỹ để đón tiếp ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết công du Mỹ, trong những dịp này ông đã đưa ra một số ý kiến cá nhân về Việt Nam. Do đó ông đã bị cả một chiến dịch mạ lỵ, chống đối, nhiều khi rất hạ cấp, ở hải ngoại. Tôi muốn chia xẻ vài ý kiến về việc này để ông thấy rằng đa số thầm lặng tuy không lên tiếng nhưng không hẳn là đồng ý với những hành động hung hăng chống đối ông chỉ vì ông đã vượt họ một khoảng khá dài về tình người và tình tự dân tộc..

Rất có thể tôi không đồng ý với vài điểm nào đó trước những ý kiến của ông về Việt Nam nhưng tôi hoàn toàn tôn trọng quyền tự do phát biểu ý kiến đó của ông, và bài viết này có mục đích bày tỏ sự tôn trọng quyền đó. Nếu tôi không đồng ý với ông ở điểm nào đó, tôi sẽ phân tích vấn đề và nêu rõ ý kiến của tôi là tại sao tôi không đồng ý. Nhưng tôi không thể, và không có quyền, lên án ông hay chụp lên đầu ông bất cứ một nhãn hiệu nào thuộc loại “tố Cộng” của thời Ngô Đình Diệm, cũng như tôi không thể nào dùng những lời lẽ hạ cấp để mạ lỵ cá nhân ông chỉ vì tôi không đồng ý với ông.. Đó không phải là phong cách ứng xử của người trí thức, đúng nghĩa là một trí thức, trong tinh thần đối thoại nghiêm chỉnh. Đây là bài học rất sơ đẳng về nhân quyền, tự do, và dân chủ cho những người nào thực sự muốn tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ. Và tôi mong những người chống đối những việc làm của ông cũng nên bắt đầu học bài học sơ đẳng này càng sớm càng tốt. Việc học hành để tăng gia hiểu biết và trở thành văn minh hơn có thể nói là điều cần thiết cho tất cả mọi người.

Nhưng có vẻ như những người chống đối ông, tuy sống ở trên những đất nước tự do nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ biết đến câu: “Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy.” (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it), mà theo một tác giả trên Internet, thực ra là của Beatrice Hall, bí danh là S.G. Tallentyre, nói năm 1907, câu mà người ta thường lầm lẫn cho là của Voltaire. [???] Họ không hiểu được điều này chính là căn bản của tự do và dân chủ.

Cho nên, tuy cái mũ Cộng Sản đã rách bươm từ lâu, nhưng một số người ngày nay vẫn còn sử dụng nó như là một vũ khí với niềm hoang tưởng rằng nó có một tác dụng gì trong giới hiểu biết, hoặc có thể gây thêm hận thù trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Cái mũ “Cộng Sản” đã được xử dụng như là một vũ khí để giữ độc quyền ăn nói và bịt miệng những người không đồng quan điểm với mình, nhưng càng ngày càng trở nên lố bịch vì ngày nay mọi người đều coi nó như một trò hề chính trị của những kẻ hạ căn, ít giáo dục, cho nên không gây nên một tác dụng nào. Những lời lẽ rất hạ cấp không thích hợp trên bất cứ một diễn đàn truyền thông nào đáng gọi là diễn đàn truyền thông, để mạ lỵ và hạ thấp cá nhân ông, đã quật ngược lại các tác giả, chứng tỏ tư cách của họ không đáng để ai phải quan tâm. Cho nên ông Kỳ không nên để tâm vào những hạng người này mà nên thương hại họ, vì họ có một kẻ thù lớn nằm vùng trong chính bản thân họ, đúng như lời Đức Phật đã dạy: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”. Qua những việc ông làm, bất kể với mục đích gì, tôi cũng mừng cho ông đã thành công xua đuổi được kẻ thù lớn của chính mình: kẻ thù lớn đó là lòng thù hận Quốc-Cộng của nhiều năm về trước.

Lẽ dĩ nhiên tôi không có lý do gì để phản đối lập trường “nghĩ tới tương lai dân tộc” của ông cả, vì tôi rất đồng ý với ông là, cuộc chiến Quốc-Cộng đã chấm dứt cách đây trên 30 năm rồi, và tôi cũng không có lý do gì để truyền lại cho con cháu, làm ô nhiễm, đầu độc đầu óc của chúng bằng những thù hận của lớp người như tôi và ông mà tôi biết rõ do nghịch cảnh lịch sử gây ra. Đối với tôi, tất cả những chức vụ của ông trước đây ở miền Nam: Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Tư Lệnh Không Quân, Thủ Tướng, Phó Tổng Thống v..v.. cũng đã chấm dứt với mốc lịch sử 30/4/75. Cho nên tôi không nghĩ ông là đại diện cho bất cứ ai, cho bất cứ đơn vị, tổ chức, hội đoàn nào, vì tất cả đều đã tan hàng, chẳng còn cái gì để mà đại diện. Những tổ chức, hội đoàn v..v.. hiện nay ở hải ngoại, mang những tên vang bóng một thời, với những tên đầu cơ chính trị khoác lên mình những chức vụ như chủ tịch, đại diện v..v.., thực chất chỉ là những cái vỏ che đậy niềm cay đắng của một thiểu số đứng trước thực tế lịch sử nhưng lại không đủ can đảm để chấp nhận nó như là thực tế lịch sử. Tôi không có viết chơi, vì thực chất những tổ chức, hội đoàn này đã được Quỳnh Thi mô tả trong bài “Vài Kinh Nghiệm Về Chiến Tranh VN” trên Đàn Chim Việt như sau:

Trong những ngày lễ hội ở đây, như ngày “Quốc hận 30/4”, ngày Quân lực Việt Nam Cộng hòa, ngày kỷ niệm thành lập binh chủng này, binh chủng nọ… người ta thấy những bộ đồ lính rằn ri của lính “Nhẩy dù”, “Thủy quân Lục chiến”, “Sinh viên sĩ quan” Đà Lạt, Thủ Đức hay “Hải quân”, được nhiều người lính già mặc vào như để cổ võ chiến tranh? Có phải họ nuối tiếc những ngày “oanh liệt”, “vàng son” một thời đã qua? Hay họ cay đắng vì cuộc chiến tranh mà họ nghĩ rằng, họ có thể giành được chiến thắng, nhưng vì người Mỹ đã phản bội, bức tử để miền Nam thất thủ, rơi vào tay cộng sản? [Chắc lớp người này đã quên đi những hình ảnh “tháo chạy” (từ của Nguyễn Tiến Hưng) từ Cao Nguyên, từ Vùng I Chiến Thuật, và trong khi tháo chạy quân đội đã làm gì với những người dân, cùng cảnh quân trang quân dụng vứt đầy xa lộ Biên Hòa. Hồ sơ và hình ảnh còn đó]

… Cuộc chiến đã quá tang thương. Hàng triệu người chết, xác người đã chất thành núi, máu chảy thành sông... Vợ mất chồng, con mất cha, người thân thất lạc Bắc Nam, nhà cửa đổ nát bị thiêu rụi vì bom đạn chiến tranh cày xới, làng xã tan hoang, nhân tâm chai cứng. Cuộc chiến tranh hơn hai mươi năm đã quá dài, quá đẫm máu, cần phải chấm dứt. Tôi chưa hề nghe thấy những tiếng kêu như thế cất lên ở đây. Mà tôi chỉ nghe thấy những lời ai oán căm hờn, sắt máu, nhồi nhét vào đầu óc lớp trẻ (trên đài TV STBN Dallas), trong những ngày lễ hội vừa qua. [Tôi cho rằng đây là điều tệ hại nhất của một số người trong cộng đồng người Việt hải ngoại, đã hủy hoại đầu óc của lớp trẻ]

Chúng ta đã thua, và một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng ở hải ngoại, chống Cộng vì những mất mát cá nhân về quyền thế, về tôn giáo, hay tài sản, hay người thân v..v.., nói chung, với lý do chúng ta là “nạn nhân của Cộng Sản”. Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi: “Thế nạn nhân của Mỹ và của phía Quốc Gia thì sao?” Ai có can đảm trả lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết khoảng 300000 người vô tội trong chính sách “tố Cộng”, cộng với những thảm bom trải từ B52, vùng oanh kích tự do, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai v..v.. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền Bắc gấp mấy lần của miền Nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh, những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không, và những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ không? Họ có quyền thù hận chúng ta không?

Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía những người quốc gia ở hải ngoại. Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Những người chống Cộng chỉ đưa ra những luận điệu một chiều để chứng minh chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi và không bao giờ nhắc đến những hành động đối với dân, với kẻ thù, của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ mà CS cũng phải chào thua. Nhưng cũng may là sự thù hận này phần lớn chỉ có một chiều, tập trung trong một thiểu số ở hải ngoại mà đa số trong đó thuộc thế lực đen, một thế lực đã nổi tiếng trong dân gian, mà lịch sử đã ghi rõ, là “mất gốc” và “hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc”, đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại nhưng thiếu khả năng, thiếu trí tuệ và giáo dục, nên chỉ có thể đưa ra những hành động chống Cộng phi lý làm nhục lây đến cả cộng đồng người Việt di cư. Ở Việt Nam, chúng ta không thể kiếm đâu ra một sự thù hận ngút trời như ở hải ngoại. Chúng ta đã thua về quân sự, nay chúng ta lại thua về tình người. Phải chăng vì vậy mà ông Kỳ đã có những hành động nhằm mục đích vớt vát mặt mũi của phe quốc gia, khi ông nhắc khéo là bây giờ không còn vấn đề Quốc-Cộng.

Vì một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng, trong số này không thiếu gì những kẻ vô liêm sỉ, trốn tránh nghĩa vụ và nhiệm vụ trong thời chiến, hay tìm cách tránh động viên, tránh quân dịch v..v.., bây giờ cũng nổi tiếng là “vô thượng thiên tài chống Cộng”, và thiểu số này lại là những người nắm phương tiện truyền thông nhiều nhất, là những người lớn tiếng nhất, cho nên, chắc ông Kỳ không lấy gì làm ngạc nhiên khi người ta nấp sau danh nghĩa những hội đoàn, tổ chức hữu danh vô thực để mà gay gắt lên án những việc làm của ông. Thực chất những hành động chống đối lố bịch này, phần lớn là của những kẻ đầu cơ chính trị, chỉ là khai thác lòng thù hận chưa thể dứt bỏ của một thiểu số người Việt sống ở nước ngoài cho những mục đích cá nhân khác. Để chứng minh, tôi xin ông Kỳ hãy cùng tôi đọc đoạn văn sau đây, có kèm theo vài lời phê bình của tôi:

Bản văn số: 012/HÐÐD/VP Tuyên Cáo của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại về những lời phát biểu của cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ ở Việt Nam. Chúng tôi, toàn thể cựu quân nhân QLVNCH, Cảnh Sát Quốc Gia, Lực Lượng Bán Quân Sự và thế hệ Hậu Duệ trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đã vô cùng công phẫn khi được tin ông Nguyễn Cao Kỳ, một sĩ quan cấp Tướng đã từng làm Tư Lệnh Không Quân, và cũng là người đứng trong hàng ngũ Lãnh Đạo Quốc Gia trong nền Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam, đã xin được cấp chiếu khán để về Sài Gòn xưng tụng chế độ độc tài của bạo quyền cộng sản Việt Nam. [Những lời thuộc loại đao to búa lớn này chứng tỏ tác giả viết bậy, nếu không muốn nói là ngu. Thứ nhất, không một cá nhân nào, không một tổ chức hay hội đoàn nào có thể nhân danh “toàn thể cựu quân nhân QLVNCH, Cảnh Sát Quốc Gia, Lực Lượng Bán Quân Sự và thế hệ Hậu Duệ trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại”. Dĩ nhiên là tôi cũng như không thiếu gì cựu quân nhân QLVNCH không hề nằm trong cái “toàn thể” này. Vả chăng, không ai có quyền và tôi cũng không cho phép bất cứ ai làm đại diện cho tôi để vơ tôi vào cái tập thể chỉ có tên trên mặt giấy của họ. Sự tiếm danh trơ trẽn này đã khiến cho toàn thể bản văn trở nên vô giá trị. Những người ra tuyên cáo này có hiểu được như vậy không? Thứ nhì, con cái tôi không dính dáng gì đến chuyện Quốc-Cộng, đừng có hòng làm ô nhiễm đầu óc chúng với sự thù hận của lớp người trước. Thứ ba, tại sao lại phải công phẫn khi được tin ông Nguyễn Cao Kỳ xin được cấp chiếu khán để về Sài Gòn, trong khi hàng trăm ngàn người khác cũng đã xin được cấp chiếu khán về Saigon? Và thứ tư, ông Kỳ có quyền đưa ra những ý kiến của ông ta về chính quyền hiện nay ở Việt Nam không? Ai nói không, xin lên tiếng! Chúng ta có thể không đồng ý với ông Kỳ nhưng chúng ta không thể và không có quyền tước bỏ quyền tự do phát biểu ý kiến của ông Kỳ qua những thủ đoạn mạ lỵ, lên án cá nhân ông. Đoạn văn sau đây hiển thị những thủ đoạn có thể gọi là hạ cấp này]

Vì gặp thời thế mà ông Nguyễn Cao Kỳ đã lên tới địa vị chỉ huy trong quân đội và lãnh đạo quốc gia. Nhưng ông vốn dĩ là người không có căn bản học vấn và ngoài tài lái máy bay, lại không có kiến thức chuyên môn về tổ chức và lãnh đạo Không Quân, thêm vào tính tình phản phúc, ngạo ngược, nên đã không đứng vững lâu dài ở những cương vị chỉ huy và lãnh đạo. [Đoạn văn này không dính dáng gì tới (irrelevant) chuyện ông Kỳ về nước và đưa ra vài ý kiến. Đây có phải là bày tỏ sự bất đồng ý kiến trong tinh thần đối thoại nghiêm chỉnh, trí thức, hay chỉ là thủ đoạn mạ lỵ, hạ thấp cá nhân [character assassination] một cách bỉ ổi, hạ cấp, rất quen thuộc trên những diễn đàn truyền thông hải ngoại, chống Cộng có môn bài và chống Cộng cho Chúa. Người Việt Nam đánh giá con người ở cái hạnh, cái tâm, chứ không ở bằng cấp và địa vị]

Từ ngày sang Hoa Kỳ, vì là người không có tài năng thực sự, nên ông Nguyễn Cao Kỳ làm gì cũng thất bại. Hiện nay ông là người bị khánh kiệt tài sản nên kiếm cơ hội về làm ăn với cộng sản Việt Nam. [Ở cái tuổi đã quá tuổi “cổ lai hi” tôi không hiểu ông Kỳ sẽ làm ăn gì với Cộng sản. Nhưng vấn đề đặt ra là ông Kỳ có quyền về làm ăn với “Cộng sản VN” (sic) không? Đã có biết bao “Việt kiều” về làm ăn với Cộng sản VN, khoan kể đến các nước Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn v.. v.. và các nước ở Âu Châu và Mỹ. Vậy về làm ăn với Cộng Sản phải chăng là một cái tội, tội đối với ai, và ai có quyền cho đó là tội. Câu viết trên cũng lại không phải để đối thoại, mà chỉ để hạ thấp cá nhân ông Kỳ một cách lạc lõng]

Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại long trọng tuyên bố rằng những lời phát biểu vô trách nhiệm của ông Nguyễn Cao Kỳ, khi xưng tụng chế độ cộng sản độc tài, là một hành động của kẻ hèn nhát, vô liêm sỉ, đi ngược lại nguyện vọng của toàn dân Việt Nam. [Đây là điều vu khống trắng trợn, vì ông Kỳ không hề xưng tụng chế độ cộng sản độc tài, ông ta chỉ đưa ra một số ý kiến cá nhân, như tôi sẽ trình bày trong một phần sau, và đây không phải là một hành động hèn nhát, vô liêm sỉ, mà trái lại rất can đảm vì đã nói thẳng ra những ý nghĩ của mình mà không sợ sệt, dù đang sống trong vùng “gió tanh mưa máu”. Vô liêm sỉ là làm những việc hèn hạ như chụp mũ, muốn tước bỏ tự do, quyền ăn nói của người khác. Mà cái gì là vô trách nhiệm? Trách nhiệm gì, và trách nhiệm đối với ai? Ở ngoại quốc mà nói đến chuyện “nguyện vọng của toàn dân” mới chính là chuyện tiếm danh láo lếu, vô liêm sỉ.”]

Như trên đã nói, sự tiếm danh bừa bãi ở trên đã làm cho bản văn “tố khổ” ông Kỳ không có bất cứ một giá trị nào. Do đó tôi không muốn phí thêm thì giờ để phê bình tiếp. Nhưng có một chuyện rất cần phải nói tới. Đó là, bản văn được ký như sau:

Làm tại Hoa Kỳ ngày 16 tháng Giêng năm 2004
Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại
Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện

Nhưng ông Kỳ có biết ai là Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại không? Đó là GS Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một người mà tôi tin rằng ông biết rõ hơn ai hết. Nhưng có thể ông đã quên hay không còn muốn nhớ đến con người này. Theo chỗ tôi được biết thì ông Vinh ra trường Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy trong khi hầu hết ra Thiếu Úy. Nhưng vì là người “cao giống”, gia nhập Cần Lao nên quan lộ thênh thang, lên đến Trung Tá. Về sau, được cho đi học ngoại quốc rồi ở lại luôn nước ngoài, trong khi các đồng đội của ông ta, trong đó có ông Kỳ, kiên trì thực sự chống Cộng từ ngày đầu đến ngày cuối ở trong nước.. Tôi không biết mọi người nghĩ sao, chứ riêng tôi, tôi cho đó là “đào ngũ”. Ông Kỳ có cảm thấy buồn cười và nghĩ sao khi thấy một người như vậy, nhưng bây giờ, ở nơi không có Cộng, nhảy lên bàn độc diễn vở tuồng đóng vai Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại [sic] để chống Cộng, vậy thì cái gọi là Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại thực chất là như thế nào mà phong một người chỉ có bằng cấp nhưng không có tinh thần tinh thần trách nhiệm, trốn tránh nhiệm vụ của một quân nhân trong thời chiến, làm Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện cho những người đã từng thực sự chiến đấu chống Cộng? Riêng tôi, tôi cảm thấy nhục nếu tôi ở trong cái Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại này với một ông Chủ tịch như vậy. Cũng may mà tôi không hề dính dáng gì đến cái gọi là Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại này và lẽ dĩ nhiên, nhân danh là một cựu quân nhân QLVNCH, tôi không thể chấp nhận tổ chức của một nhóm người nhưng lại nhân danh cả một tập thể.

Bây giờ, chúng ta hãy thử xem ông Kỳ đã tuyên bố, đúng ra chỉ là những ý kiến cá nhân, vì ông ta không có đối tượng tuyên bố, những gì. Chúng ta hãy đọc vài ý kiến điển hình của ông Kỳ trong bài “Cựu lãnh tụ Nam Việt Nam, Khi Về Nước, Ủng Hộ Đảng Cộng Sản” (Former South Vietnamese leader endorses Communist Party on his return) của Ben Rowse, ngày 15/1/2004:

Cựu Tướng Không Quân nói rằng một chính quyền độc đảng mang đến “sự ổn định và kỷ luật” thì cần thiết cho Việt Nam để ra khỏi sự nghèo khổ.. Vấn đề ưu tiên là xây dựng nền kinh tế, từ đó có một lớp trung lưu trong nước rồi sau đó tính đến chuyện cải cách chính trị.. Tôi cho rằng thật là sai lầm khi một số người, đặc biệt là một số người Việt ở Mỹ, ngày nay đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận và thực hiện một nền dân chủ giống như nền dân chủ họ đang hưởng ở Mỹ. Quan niệm của tôi là, đó là một sự sai lầm. Nền dân chủ đó không thích hợp với Việt Nam trong tình thế hiện nay.”Những người muốn trở về quá khứ, nói lên những điều không tưởng, chỉ là một thiểu số rất nhỏ, và hầu hết không lâu cũng sẽ qua đời” [The former air force general said a strong one-party government that provided "stability and discipline" was essential for Vietnam to escape the clutches of poverty.. "The priority is to build the economy, to have a middle class in the country and then later on think about political reform," "I think it is very wrong that some, especially some Vietnamese overseas in America, today are asking, demanding that Vietnam has to adopt some sort of democracy like they have in America. "My personal opinion is that it is wrong. It does not fit Vietnam in the present situation," "The people who want to return to the past and talk about the so-called utopia are a very small minority, and mostly they will die soon," said Ky.]

Theo ông Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại thì ông Nguyễn Cao Kỳ không có căn bản văn hóa. Nhưng cái căn bản văn hóa (sic) của ông Chủ Tịch đã giúp gì được cho quốc gia dân tộc ngoài chuyện hám danh ra làm chủ tịch của một tập thể hữu danh vô thực mà không thấy ngượng? Qua những nhận định của ông Kỳ về chính trị, thời thế, thì tôi thấy hiểu biết của ông ấy vượt xa sự hiểu biết về chính trị và thời thế của ông Chủ Tịch, vì ông Chủ Tịch, bất kể bằng cấp cao đến đâu, lại không có tầm nhìn xa hơn cái mũi chống Cộng cuối mùa, khi không còn Cộng và ở nơi không có Cộng, của mình.

Thật vậy, tôi hiểu rằng “cải cách chính trị” mà ông Kỳ nói đến là tiến trình dân chủ. Tiến trình dân chủ và tự do trong một nước tùy thuộc rất nhiều yếu tố xã hội, không thể nhập cảng từ ngoài vào. Yếu tố chính là trình độ dân trí. Người dân phải ý thức được thế nào là tự do và dân chủ trong tinh thần trách nhiệm và chỉ có được ý thức này qua một nền giáo dục hợp lý để nâng cao dân trí. Trong cuốn “Bàn Về Tự Do” (On Liberty, 1859), John Stuart Mill có viết: “Giáo dục phổ quát phải đi trước quyền công dân, đặc biệt là quyền bỏ phiếu phổ quát” [Universal teaching must precede universal enfranchisement], và “Tự do chỉ có thể trở thành hiện thực trong một cộng đồng văn minh” Vậy những tổ chức, hội đoàn, cá nhân v..v.. đang “tố khổ” ông Kỳ đã hiểu thế nào là tự do, dân chủ chưa, và đã có thể họp thành một cộng đồng văn minh chưa? Đặc biệt là những người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma còn lệ thuộc Vatican thì không nên nói đến chuyện tự do và dân chủ, vì họ đang nằm trong một cấu trúc tôn giáo toàn trị của Vatican, dù là toàn trị về vấn đề tâm linh, được nền thần học Ca-Tô Giáo ngụy biện để tạo quyền lực cho giới giáo sĩ, nhốt tín đồ vào cảnh tù ngục tâm linh. Người Việt Nam theo Ca-Tô giáo không thể đến thẳng với Chúa hay sao mà cứ phải tuân phục một ông giáo hoàng ngoại quốc ngồi ở nước ngoài mà họ bị nhồi sọ để tin đó là vị “đại diện của Chúa trên trần”, có quyền phép cho họ đến với Chúa sau khi chết. Nhưng lịch sử đã ghi rõ là không thiếu gì giáo hoàng vô đạo đức, là những kẻ sát nhân, hoang dâm, loạn luân v..v.. [Xin đọc bài “Đây! Những Đức Thánh Cha” trên giaodiemonline.com]. Ngay giáo hoàng tiền nhiệm John Paul II và giáo hoàng đương nhiệm Benedict XVI cũng không phải là những người có đạo đức tôn giáo. Có cần tôi phải chứng minh không?

Ông Kỳ nói không sai về sự ổn định và kỷ luật trong xã hội, về tầng lớp trung lưu. Thực ra, ông ta chỉ nhắc lại ý kiến của của một số người có tầm vóc quốc tế, thí dụ như Thủ Tướng Lý Quang Diệu, Giáo sư Samuel P. Huntington, Bình luận gia của tờ Newsweek Fareed Zakaria, giáo sư kinh tế Guido Tabellini tại Đại học Bocconi v..v… Quan niệm của những người trên là, tầng lớp trung lưu đông đảo là xương sống của một nền dân chủ. Vậy làm sao tạo được lớp người đó? Chúng ta hãy đọc ý kiến của Thủ Tướng Lý Quang Diệu:

Khi được Jim Rohwer, Kinh tế Gia Chính về Á Châu và là Giám Đốc của văn phòng hãng CS First Boston ở Hồng Kông, hỏi: “Dân Chủ giúp, hay làm chướng ngại, hay không liên quan gì đến mức độ tiến nhanh như thế nào của các quốc gia Á Châu? (Is being a democracy a help, a hindrance, or irrelevant to how fast Asian countries can go?) Thủ Tướng Lý Quang Diệu đã trả lời:

Nếu ông ở trong một xã hội nông nghiệp, tôi cho rằng dân chủ không làm cho xã hội tiến nhanh. Hãy coi Nam Hàn, Nhật, và Đài Loan. Trong những giai đoạn đầu họ cần đến, và đã có kỷ luật, trật tự, và sự cố gắng.

[Chúng ta nên nhớ, Nam Hàn và Đài Loan, những quốc gia không có chiến tranh, không có hận thù nội bộ, cũng phải ở dưới chế độ độc tài quân phiệt trong 30 năm, từ 1950 đến 1980, rồi mới tiến tới dân chủ, nhưng cũng không phải là dân chủ Mỹ.]

Họ phải tạo ra sự thặng dư về nông sản để bắt đầu làm cho mặt kỹ nghệ tiến. Không có chế độ quân phiệt, hay độc tài, hay chính phủ độc đoán ở Nam Hàn và Đài Loan, tôi không nghĩ rằng các quốc gia này có thể chuyển đổi mau như vậy.

Trái lại, hãy coi Phi Luật Tân. Họ có dân chủ để tiến từ năm 1945. Họ chưa bao giờ tiến được bước nào; xã hội quá hỗn loạn. Nó trở thành một trò chơi trong phòng khách – ai lên cầm quyền, ai chiếm hữu được cái gì.

[Đầu thập niên 1950, Phi Luật Tân, 95% theo Ca Tô Giáo, theo chế độ Dân Chủ Ca Tô (Catholic Democracy), nghĩa là dân chủ tuân theo sắc lệnh của giáo hoàng, được Mỹ giúp cho kinh tế Phi Luật Tân lên cao, nhiều ngàn phụ nữ Hồng Kông đổ sang Phi Luật Tân làm đầy tớ; 40 năm sau, tình trạng đổi ngược, trên 100000 (một trăm ngàn) phụ nữ Phi Luật Tân đi làm đầy tớ cho dân Hồng Kông. [Jim Rohwer, p. 61]

Hay hãy coi Ấn Độ và Tích Lan. Trong 3 kỳ bầu cử sau khi độc lập, họ đi qua cơ chế của dân chủ. Nhưng thiếu kỷ luật làm cho sự tiến bộ chậm chạp và lờ phờ. [Điều này rất đúng nếu chúng ta so sánh Nga sô và Trung Quốc sau 1989: Nga sô vội vã lao đầu vào dân chủ nên Sô Viết Liên Bang trở thành Sô Viết Tan Hoang, và bây giờ Putin lại trở lại độc tài để cứu vãn, trong khi Trung Quốc độc tài, đẩy mạnh kinh tế rất thành công, trở thành một đối trọng ngang ngửa với Mỹ, và bây giờ hình thức dân chủ đã hiện ra ở nhiều mặt, nếu chúng ta có dịp đi Trung Quốc và quan sát. Có vẻ như Việt Nam cũng đi theo con đường này nhưng hình như chậm chạp hơn vì nhiều vấn nạn xã hội và hậu quả của cuộc chiến]

Nhưng một khi ông tiến tới một trình độ tiến bộ kỹ nghệ nào đó, ông đã có một lực lượng lao động có học, một dân số thành thị, ông có những quản trị viên và kỹ sư. Rồi ông phải có sự tham dự của họ, vì họ là những người có học, có lý trí. Nếu ông cứ tiếp tục với một hệ thống độc đoán, ông sẽ vấp phải mọi thứ đình trệ. Ông phải nghĩ ra một hệ thống đại diện nào đó.

Điều này sẽ làm cho sự tiến tới giai đoạn trở thành kỹ nghệ hóa một cách dễ dàng. Rồi ông có thể bắt đầu một xã hội công dân, với những người họp thành từng nhóm: chuyên gia, kỹ sư v..v.. Hầu như đột nhiên, những nhóm này sẽ được thành lập, vì là những người có học, có tầm nhìn thế giới rộng rãi hơn, sẽ kéo những người cùng trình độ đến với nhau. Chỉ như vậy ông mới có thể bắt đầu cái mà tôi gọi là hạ tầng cơ sở dân chủ. [Chỉ mới là bắt đầu hạ tầng cơ sở dân chủ thôi]

Asia Rising [Jim Rohwer, Asia Rising: Why America Will Prosper as Asia’s Economies Boom, Simon & Schuster, N.Y., 1995, p. 329: I would say that democracy is not conductive to rapid growth when you are in an agricultural society. Take Korea, Japan, Taiwan. In their early stages they needed and had discipline, order, and effort. They must create that agricultural surplus to get their industrial sector going. Without military rule or dictatorship or authoritarian government in Korea and Taiwan, I doubt whether they could have transformed themselves so quickly.

As against that, take the Philippines. They had democracy from the word go in 1945. They never got going, it was too chaotic. It became a parlor game – who takes power, then who gets what spoils. Or take India and Ceulon. For the first three elections after independence, they went through the mechanics of democracy. But the lack od discipline made growth slow and sluggish.

But once you reach a certain level of industrial progress, you’ve got an educated workforce, an urban population, you have managers and engineers. Then you must have participation, because these are educated, rational people. If you carry on with an authoritarian system, you will run into all kinds of logjams. You must devise some representative system.

That will ease the next stage to become industrialized. Then you may get the beginnings of a civic society, with people forming their own groups: professionals, engineers etc... Almost spontaneously, these will form, because being educated, knowing the wider world, will bring like-minded people together. Then only do you have the beginnings of what I would call an active grassroots democracy.]

Trong cuốn Asia Rising.., Jim Rohwer cũng đã đưa ra nhận xét sau:

“Sau khi sống vài năm ở Á Châu tôi thấy rằng cái hố ngăn cách lớn nhất giữa giới trí thức Tây Phương và Á Châu là về vấn đề dân chủ. Ở Tây phương, dân chủ được coi như là chế độ chính quyền duy nhất mà một quốc gia văn minh phải theo... Trái lại, nhiều tư tưởng gia sống ở Á Châu cũng xét đến ý tưởng dân chủ nhưng lý luận mạnh mẽ là, một loại chủ thuyết độc đoán nào đó thì tốt hơn là dân chủ tự do và vô trách nhiệm. Điều này thật là dễ hiểu. Ở Á Châu ngày nay, chính phủ độc đoán thường không đưa đến sự gian khổ và chiến tranh mà là hòa bình, thịnh vượng, và bình đẳng.”

[Jim Rohwer, Ibid., pp. 322-323: I realized after living in Asia for a few years that probably the world’s biggest intellectual gulf among highly educated people lay between Westerners and Asians on the subject of democracy. In the West democracy is generally thought to be the only form of government by which a civilized society should consider running itself....By contrast, many thoughtful people living in Asia are open to the idea, and sometimes argue it vigorously, that a certain kind of authoritarianism is better than a freewheeling democracy. This is understandable. In modern Asia, authoritarian government has often brought not hardship and war but instead peace, prosperity, and equality.]

Trong cuốn Sự Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh Và Sự Tái Lập Trật Tự Thế Giới [The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order, Simon & Schuster, NY, 1996], Giáo sư Samuel P. Huntington cũng đưa ra nhận định:

Nếu dân chủ có tới thêm với các quốc gia ở Á Châu, đó là vì các giới tiểu tư sản và trung lưu càng ngày càng mạnh trong các quốc gia đó muốn như vậy.” (If democracy comes to additional Asian countries it will come because the increasingly strong Asian bourgeoisies and middle classes want it to come).

Thủ Tướng Lý Quang Diệu thì ai cũng biết, nhưng Giáo sư Samuel P. Huntington là ai? Ông ta là một lý thuyết gia chính trị thế giới nổi tiếng của Mỹ, thường viết trong tập san Foreign Affairs. Uy tín của Huntington không ai có thể phủ nhận. Ông ta là giáo sư đại học Harvard, giữ chức vụ Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược John M. Olin và Chủ Tịch Học Viện Harvard Nghiên Cứu Các Địa Phương Trên Thế Giới. Ông cũng từng là Giám Đốc Kế Hoạch An Ninh cho Hội Đồng An Ninh Quốc Gia dưới thời Tổng Thống Carter, và Chủ Tịch Hội Chính Trị Khoa Học Hoa Kỳ.

Và trong bài “Dân Chủ Đến Sau” [Democracy Comes Second], Giáo sư Kinh Tế Guido Teballini có viết:

Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ những bài học lịch sử. Cải cách chính trị có cơ may thành công nếu trước đó cải cách kinh tế đã thành công[Nevertheless, we should remember the lessons of history. Political reforms are more likely to be successful if they are preceded by economic reforms.]... Cho phép tự do bầu cử và tự do ứng cử tuy rất quan trọng, nhưng những biện pháp này chỉ nên theo sau, chứ không phải đi trước, cải cách kinh tế. [Allowing free elections and true political competition is also critically important, but this should follow economic reforms, not precede them]

Đó là quan niệm về một tiến trình dân chủ của những người mà khả năng và uy tín trên thế giới khó ai có thể phủ nhận, qua những bài học và kinh nghiệm lịch sử trong bộ kiến thức của họ. Điểm những khuôn mặt dân chủ ở hải ngoại, hiếm thấy một bộ mặt nào ra hồn có đủ uy tín và hiểu biết, hiếm thấy khuôn mặt nào có đầy đủ sự lương thiện trí thức [qua phản ứng trước vụ án Nguyễn Văn Lý], và hầu như chỉ dùng chiêu bài tự do, dân chủ để chống Cộng kiểu những con bò rừng húc đầu vào lá cờ đỏ. Còn những “bộ mặt dân chủ” ở trong nước như Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân v..v.. thì hầu hết thuộc thế lực đen, Công giáo và Tin Lành, làm tay sai cho ngoại nhân hay nhận tiền từ nước ngoài để chống phá Việt Nam.

Nếu những hành động hung hăng côn đồ và những lời lẽ ngỗ nghịch thóa mạ tục tĩu trong Tòa của Nguyễn Văn Lý, mà giới truyền thông hải ngoại khai thác tấm hình, đồng thanh lên tiếng cho đó là “bịt miệng tiếng nói dân chủ”, thì tôi nghĩ rằng cái loại dân chủ này nên để cho những tổ chức, hội đoàn chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa ở hải ngoại dùng với nhau, chứ không thể nhập cảng vào Việt Nam được.

Việt Nam không bao giờ có thể chấp nhận những “tiếng nói dân chủ” như vậy, hay chấp nhận những “tiếng nói dân chủ” của những tay sai ngoại bang, được ngoại bang huấn luyện về “dân chủ”, lãnh tiền của ngoại bang hay của những thế lực chống phá Việt Nam từ ngoài, theo sách lược xuất cảng dân chủ của Mỹ, trong khi Mỹ có một hồ sơ khủng khiếp nhất về vi phạm nhân quyền và tự do của con người trên thế giới. Trước những hành động như trên của Nguyễn Văn Lý, một người khoác trên vai “thiên chức linh mục”, tôi tự hỏi quảng đại quần chúng Việt Nam ngày nay đã ý thức được thế nào là tự do, dân chủ trong tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp chưa?

Ở Cali, họ đang thực hiện “nền dân chủ Nguyễn Văn Lý trong Tòa” trong chiến dịch chống phá VietWeekly. Thật vậy, nhìn những hành động hung hăng, những biểu ngữ v..v.. trong đám người biểu tình, chúng ta thấy rõ ý thức dân chủ của những người biểu tình chống đối để “bịt miệng” VietWeekly. Đó mới là những hành động “bịt miệng” thực sự. Nên để ý rằng trước đó, trong Bản Lên Tiếng Về Lập Trường Thân Cộng Của Tuần Báo Việt Weeky, đại đa số những cá nhân và tổ chức ký tên là…CÔNG GIÁO:

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, nhà báo Nguyễn Xuân Tùng (Diễn Đàn Kitô-hữu, Nguyệt San Chính Việt), bác sĩ Trần Văn Cảo (Chủ Nhiệm Diễn Đàn Giáo Dân), nhà báo Trần Phong Vũ (Chủ Bút Diễn Đàn Giáo Dân [DĐGD]), ký giả Trần Nguyên Thao (DĐGD), giáo sư Phạm Tất Hanh (TTK Diễn Đàn Giáo Dân), cựu đốc sự Cao Viết LợI (Chủ Tỉch Phong Trào Giáo Dân Nam Cali), kỹ sư Đỗ Như Điện (Điều Hợp Viện Phong Trào Giáo Dân hải Ngoại), tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng (Phong Trào Giáo Dân), cựu giáo sư Đỗ Anh Tài (Phong Trào giáo Dân), nhà thơ Hà Thượng Nhân, nhà báo Phạm Bá Cát (DĐGD), nguyên nghị sĩ Trần Tấn Toan (Diễn Đàn Kitô-hữu), cựu Thiếu tướng Lý Tòng Bá (Chủ Tịch VNCH Foundation), Tiến sĩ Nguyễn Tiến Ích (DĐGD), Bà Hoàng Dược Thảo (Chủ Nhiệm Tuần Báo Saigon Nhỏ), cựu giáo sư Lê Tinh Thông (DĐGD), nhà văn Hoàng Quý, Bà Trần thanh Hiền (Tiếng Nói Giáo Dân), Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh (Công giáo)v..v..

Nếu GS Nguyễn Xuân Vinh có đủ can đảm giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ/VNCH/Hải Ngoại [sic] mà không biết ngượng thì Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng có dư can đảm để nhảy lên bàn độc diễn vai trò công tố viên trong một tòa án nhân dân để tố khổ VietWeekly. Ông Nguyễn Chí Thiện là người nổi tiếng với hai câu thơ bất hủ trong bài Đồng Lầy, tương đương với câu “Thà mất nước chẳng thà mất Chúa” của Linh mục Hoàng Quỳnh, chỉ cần thay chữ “Chúa” bằng cụm từ “Thực dân Pháp”. Hai câu đó như sau:

"Ôi thằng Tây mà khi xưa người dân tốn bao xương máu đánh đuổi. Nay người dân xao xuyến luyến tiếc [thằng Tây] vô chừng."

Vì cái hận cá nhân, đưa tư tưởng phản bội dân tộc, luyến tiếc thực dân của chính mình vào làm tư tưởng của toàn dân, phủ nhận và mạ lỵ công ơn của toàn dân đã tốn bao xương máu để giành lại độc lập cho đất nước, tôi nghĩ hai mươi mấy năm ông Nguyễn Chí Thiện nằm ngâm thơ cho muỗi và rệp nghe kể cũng đáng.

Về vụ chống VietWeekly, có một đoạn trong bài Bẫy Sập Tự Giăng của Dốc Thượng có thể cho chúng ta thấy đại khái nội vụ:

Sau đó, họ tổ chức người đi đánh phá các địa điểm bán báo của Việt Weekly, gọi điện thoại hăm dọa các thân chủ quảng cáo, và quyết định biểu tình trước trụ sở Việt Weekly. Họ dự tính gây phiền toái khu phố cho đến khi nào chủ phố phải “đuổi” Việt Weekly đi. Người đứng đằng sau xúi giục cho vụ này lại là một cơ quan truyền thông, tờ nhật báo Người Việt. Tờ báo này chỉ đăng tin một chiều, họ cho đăng thật nhiều những bài viết đánh phá Việt Weekly, nhưng không cho đăng một bài viết bênh vực Việt Weekly, mặc dầu có độc giả gởi vô.

Giới truyền thông Mỹ sẽ hỏi có thể tưởng tượng ra một cách đơn giản là, tại sao các anh biểu tình? Ban tổ chức biểu tình sẽ mạnh mẽ trả lời, tại vì Việt Weekly là cộng sản. Câu hỏi tiếp theo, tại sao Việt Weekly là cộng sản? Tại vì họ cho đăng bài Hà Văn Thùy, phỏng vấn Nguyễn Minh Triết. Thế còn các ý kiến chống cộng cũng được đăng trên Việt Weekly như Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Đạt, Amy Dương, Nguyễn Hữu Chánh, Đỗ Hoàng Điềm, Vi Anh, và nhiều người khác nữa thì sao?

Đến lúc này, ban tổ chức biểu tình sẽ lúng túng. Không lẽ, lúc đó họ trả lời đại, “nhưng mà chúng tôi không chấp nhận đăng tải một ý kiến nào từ phía Việt Nam cả”.

Ơ kìa, các anh đang sống ở Mỹ hay đang sống ở một xứ độc tài nào vậy?

Bởi vậy ông Hồ Văn Xuân Nhi đã đặt câu hỏi: Phải chăng “Biểu Tình Tẩy Chay Việt Weekly: Động cơ là ân oán cá nhân, chống cộng quá khích và cạnh tranh nghề nghiệp bất chính?” Hết chuyện VietWeekly, nay trở lại chuyện ông Nguyễn Cao Kỳ.

Ngay từ hồi còn học Chu Văn An ở Hà Nội, và sau này ở miền Nam, tôi đã không thích cái tính cao-bồi của ông Kỳ. Nhưng qua sự cố này, cái tính cao-bồi của ông ấy không phải là không có chỗ dùng được. Ông ấy đã đạp lên những sự chống đối để tiếp tục đi trên con đường mình chọn, giống như một đoàn lử hành, thản nhiên đi qua, không hề để tâm đến những tiếng ồn ào bên đường. Ông ấy đã có những nhận định sâu sắc về tình thế, về sự phát triển và cải tiến trên mọi mặt ở Việt Nam, do đó ông ấy đã bỏ lại đàng sau quá khứ có thể nói là huy hoàng của mình để có một tầm nhìn xa hơn về tương lai dân tộc và đất nước. Ông ấy đã can đảm nói thẳng về thực chất các chế độ ở miền Nam khi xưa, tuy ông ấy đã giữ những chức vụ cao cấp nhất trong những chế độ ấy. Ông ấy cũng phê bình không khoan nhượng, ngay giữa trung tâm chống Cộng ngút trời ở Cali, thực chất thiểu số chống Cộng ở ngoài nước. Ông ấy cũng đã không nể nang gì khi phê bình một số dân biểu Mỹ, để kiếm phiếu của người tị nạn, đã xuyên tạc tình hình về tôn giáo ở Việt Nam v..v...

Những điều ông ấy làm, không phải ai làm cũng được. Và vì vậy, tôi không thể nói gì hơn là tôi rất cảm phục sự thay đổi tư duy, hướng về đại khối dân tộc, và những hành động can đảm của ông. Tôi cũng tin rằng, ông không phải là một cao-bồi đơn độc trong chiều hướng này.

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn trích dẫn quan niệm của một người ngoại quốc, Johannjs, đối với dân chống Cộng ở hải ngoại.

Nếu những người nào “thù ghét những người Cộng sản vì những gì họ đã làm”, vậy thì họ hãy nên thù ghét những người còn tự cho mình là “người quốc gia”, xét rằng họ đã giúp những kẻ xâm lăng tàn bạo để diệt chủng dân tộc họ… Và ai là những kẻ xâm lăng tàn bạo? Về vấn đề này, không còn phải bàn cãi gì nữa: những người ở đây đều hiểu ai là những kẻ ngoại xâm tàn bạo. Đừng toan tính lật ngược tình thế, cho rằng đó là những người Việt Nam xâm lăng chính quốc gia của họ. Không một người nào có đầu óc lô-gic, Bắc, Nam, sẽ tin được điều này. Ngay chính những kẻ xâm lăng cũng đã thừa nhận là họ chẳng có nhiệm vụ gì ở miền đất xa xôi đó.

Vì có những người [chống Cộng] như các người, người Việt hải ngoại đã nổi tiếng là những kẻ “nói láo đến cực điểm” và những kẻ “vô liêm sỉ, nói láo một cách tuyệt đối bệnh hoạn”

Có bao nhiêu tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh đã được lập ra để xử những người Cộng sản Việt Nam? Không có một cái nào! Có bao nhiêu tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh đã được lập ra để xử nước Mỹ [tự cho là] có quá đạo đức tôn giáo? Có rất nhiều.. Và đây là một sự thật..

(If anyone should "hate the communists for what they have done", then they should hate even more those who still pretend to be "nationalists", whereas they helped brutal invaders to genocide their people... And who are the brutal invaders? Concerning his question, it was no question: every body here understands who were the brutal foreign invaders. Don't pretend to reverse the situation, into that of the Vietnamese invading their own country! Nobody with a logical mind will listen to that, North, South. Even the invaders themselves have admitted they had nothing to do in that far away land.

Because of people of your kind, the Vietnamese abroad have gained that reputation of being all "fieffés menteurs" and "mythomanes" (unashamed and absolute pathological liars).

How many international war crime tribunals were set against the Vietnamese "communists"? none. How many international war crime tribunals were set against the so religiously moralist United States of America? many... and that's a simple fact. [This post has been edited by Johannjs: Nov 30, 2004, 12:53 PM ]

Và sau cùng, chúng ta đã biết, Bác Sĩ Allen Hassan, một Bác sĩ đã phục vụ tại Việt Nam, đã viết cuốn “Failure To Atone” mà bản dịch tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ dịch là “Không Thể Chuộc Lỗi” (Đúng ra là “tội”, tội ác chứ không phải “lỗi”, lỗi lầm) nói về một số tội ác của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Trước những núi tội ác của Mỹ đối với Việt Nam, Bác sĩ Allen Assen cho rằng: “Bây giờ dù bất cứ làm việc gì, nước Mỹ cũng không thể chuộc lại tội của mình đối với người dân Việt Nam.” Nhưng tại sao Mỹ, với những tội ác rất nghiêm trọng phạm ở Việt Nam, lại không có cả một lời xin lỗi. Chúng ta có thể đọc những ý kiến sau đây của cựu Tổng Thống Bill Clinton trên Internet.

25 năm sau chiến tranh chấm dứt, khi được hỏi ông ta có nghĩ rằng Mỹ nợ Việt Nam một lời xin lỗi, ông Clinton đã trả lời, đơn giản là, “Không, tôi không nghĩ như vậy” [Tại sao?], Vì:

- Xin lỗi về những tội ác chống dân Việt Nam có nghĩa là thừa nhận những điều chúng ta nói với nhau về cách ứng xử của chúng ta trong thế giới – khi đó cũng như bây giờ - là điều nói láo.

- Xin lỗi là thừa nhận rằng trong khi chúng ta tuyên bố là bảo vệ dân chủ, chúng ta lại đi trật ra ngoài dân chủ. Trong khi chúng ta tuyên bố rằng chúng ta đang bảo vệ Nam Việt Nam, thì chúng ta lại tấn công người dân Nam Việt Nam.

- Chúng ta đã thả 6 triệu rưỡi tấn bom và 400 ngàn tấn Napalm trên dân tộc ở Đông Nam Á. Bỏ bom tràn trề những vùng dân sự, những chương trình chống khủng bố và ám sát chính trị, thường xuyên giết người dân thường và dùng gần 45 triệu lít chất độc da cam để phá hủy mùa màng và mầu mỡ đất đai – tất cả đều là một phần của cuộc chiến tranh khủng bố của Mỹ ở Việt Nam, cũng như ở Lào và Cambod.

(When asked if he thought the United States owed the people of Vietnam an apology, 25 years after the end of the war, Clinton said, simply, "No, I don't."

[...] To apologize for crimes against the people of Vietnam would be to admit that the stories we tell ourselves about our conduct in the world -- then and now -- are a lie.

[…] To apologize would be to acknowledge that while we claimed to be defending democracy, we were derailing democracy. While we claimed to be defending South Vietnam, we were attacking the people of South Vietnam.

[...] we dropped 6.5 million tons of bombs and 400,000 tons of napalm on the people of Southeast Asia. Saturation bombing of civilian areas, counterterrorism programs and political assassination, routine killings of civilians and 11.2 million gallons of Agent Orange to destroy crops and ground cover -- all were part of the U.S. terror war in Vietnam, as well as Laos and Cambodia.[/quote])

Những tài liệu trên, cũng như hàng trăm tài liệu hiện hữu khác về chiến tranh Việt Nam của chính người Mỹ mà tác giả gồm các tướng lãnh, chính trị gia, giáo sư đại học v..v.., đã nói lên những sự thật về chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến đã chấm dứt cách đây hơn 32 năm rồi. Và ngày nay, dù những sự thật đó có mang lại nhiều cay đắng cho người Việt Quốc Gia chúng ta, với tất cả sự lương thiện trí thức, chúng ta phải chấp nhận chúng, vì đơn giản chúng chỉ là sự thật. Và từ đó, hi vọng mỗi người trong chúng ta, nếu còn nghĩ đến quê hương đất nước, sẽ tìm ra được một con đường hợp lý hơn để góp phần xây dựng đất nước.


Bang Giao "Bắc Kinh-Vatican" (?) Một Kinh Nghiệm Quý Giá Cho Việt Nam (Trần Chung Ngọc)

Chống Cộng Theo Gương David (Trần Chung Ngọc)

Chủ Nghĩa Khủng Bố và Diệt Chủng (Trần Chung Ngọc)

Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar

DÆ° Luận Quần ChĂºng

Ma Quân Quấy Nhiễu Sư Tăng - Nhưng Thất Bại (Trần Chung Ngọc)

MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 2 (Trần Chung Ngọc)

MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM - 3 (Trần Chung Ngọc)

MỘT CHUYẾN VỀ VIỆT NAM -1 (Trần Chung Ngọc)

Một trong ba thứ (Trần Chung Ngọc)

NED và Lê Quốc Quân

NGÀY 30/4/1975 (Trần Chung Ngọc)

Ngáp Lớn Trong Tòa Mỹ Bị Tù - Còn Nguyễn Văn Lý ? (Trần Chung Ngọc)

Nhân chuyện ông Triết đi Mỹ

Nhân Quyền của Mỹ & Dự Luật H.R. 3096 (Trần Chung Ngọc)

Nhũng Điều Tưởng Tượng Điên Rồ Của Bộ Giáo Dục Texas (Geoffrey R. Stone)

Những Người Máy Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)

Nước Mỹ - Nhân Quyền - Việt Nam - 1 (Trần Chung Ngọc)

Nước Mỹ - Nhân Quyền - Việt Nam - Phần 2: Tội ác chiến tranh (Trần Chung Ngọc)

Phải Chăng Chiếc Khăn Quàng Là Giải Pháp Cho Tòa Khâm Sứ? (Trần Chung Ngọc)

Richard Dawkins: Haiti Và Sự Đạo Đức Giả ... (Trần Chung Ngọc)

Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Chiến Tranh Việt Nam (Trần Chung Ngọc)

Thắc Mắc Cần Được Giải Đáp: 3. Về Lá Cờ Vàng (Trần Chung Ngọc)

Thử Phân Tích Vài Đoạn Trong Bài Diễn Văn Nhậm Chức (Trần Chung Ngọc)

Tâm Thư Gửi Những Ai Quan Tâm (Trần Chung Ngọc)

Tại Sao Lại Việt Nam ? (Trần Chung Ngọc)

Tại Sao Những Người Tin Chúa Lại Thù Ghét Những Người Vô Thần? (Trần Chung Ngọc)

Tản Mạn về Chống Cộng (Trần Chung Ngọc)

Tản Mạn Xung Quanh Chuyến Về Việt Nam Thứ Tư Của Tôi (Trần Chung Ngọc)

Viết Mà Chơi - Ai Chống Cộng Và Ai Không Chống ? (Trần Chung Ngọc)

Vài Nhận Định Khi Đọc Lời Phát Biểu Của Ông Ngô Quang Kiệt (Trần Chung Ngọc)

Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc)

Vấn Đề Nhân Quyền Trước Luật Pháp Quốc Gia (Phúc Lâm sưu tầm)

Đôi Hàng Về Chuyện Cờ Vàng Cờ Đỏ (Trần Chung Ngọc)

ĐĐ Thích Nhật Từ và Xóm Đạo (Trần Chung Ngọc)

“Religulous” Điểm Phim Cuối Tuần (Trần Chung Ngọc)

 

Trang Trần Chung Ngọc