bản in |
¿ trở ra mục lục
| 21 tháng 12, 2009 |
PHẦN II
◎◎◎
CHƯƠNG 11
TỘI ÁC CỦA GIÁO DÂN NGƯỜI VIỆT
ĐỐI VỚI TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM
Nếu
cứ nghe theo lời rao giảng ở trong Nhà Thờ hay đọc những tác phẩm của các ông
Linh-mục như Phan Phát Huồn, Trần Công Hoán, Bùi Đức Sinh, Vũ Đình Họat, Nguyễn
Gia Đệ, v.v... cũng như của các ông trí thức văn nô như Nguyễn Học Tập, Lữ Giang
(Tú Gàn), Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Kim Khánh (Phan Thiết), Cao Thế Dung, Dương
Ngọc Dũng v.v..., thì chúng ta sẽ lầm tưởng rằng Giáo Hội Công Giáo La Mã “cực kỳ thánh
thiện”, vì những điệp khúc sau đây:
- Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền”. Những gì của hay thuộc về Giáo Hội đều thánh thiện, cao cả và tốt đẹp vì là
hình ảnh của Chúa.
Các cụm từ của Giáo Hội đã chứng minh: "thánh lễ", "thánh tích", "thánh ca", "thánh nhạc", "thánh kinh", "bánh thánh", "rượu thánh", "bàn thánh", "cung thánh", "thánh đường", "đức thánh cha", "đức cha", "đức giám mục", ...
- Giáo hội là "Mẹ", là “Hiền Thê của Thiên Chúa,"
- Tất cả những tín đồ của
Vatican đều là dân Chúa, là các con chiên hiền lành,
- Tất cả các chủ trương và chính sách của Giáo Hội hay của chính quyền do Vatican làm ra đều "không lầm lẫn, vì có Chúa soi sáng."
Để phản ứng lại những trường hợp các nhà viết sử chứng minh rằng Giáo Hội La Mã là một tổ chức tội ác
kinh thiên động địa, đã từng có những hành động tội ác tham tàn, bạo ngược, cực
kỳ dã man, những hành động phản nhân luân, phản đạo lý, chống lại
các quyền tự do dân chủ và quyền tự do tôn giáo của những nhóm dân thuộc các tôn
giáo và nền văn hóa khác,... các tác giả dân Chúa trên đây, đều lươn lẹo cho rằng đó chỉ là những cá nhân
của các vị thánh cha và các ngài mang chức thánh bị “quỷ ám”, chứ Giáo Hội La
Mã, giáo hoàng, giáo sĩ và giáo dân không bao giờ chủ trương và làm như vậy.
Lập luận theo kiểu lươn lẹo của Tiến-sĩ Nguyễn Học Tập trong bài viết
“Giáo Hội
Công Giáo La Mã” đăng trong
Luongtamconggiao.com mà chúng tôi ghi lại trong
Phần IV trong tập
sách Họ Và Chúng Ta (đã được đưa lên sachhiem.net từ ngày 29/12/2008) là một
trong rất nhiều cách né tránh của các ông văn nô và
trí thức Ca-tô này trong thủ đoạn chạy tội cho Giáo Hội La Mã cũng như giới giáo sĩ, tu sĩ và những người tín hữu làm Việt
gian để giúp lợi ích cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật và cho Mỹ từ hậu bán thế kỷ 16 cho
đến ngày nay.
NẾU theo dõi và
quan sát những việc làm của Vatican và giáo dân đã và đang làm, THÌ chúng ta
sẽ thấy rằng tất cả những rặng núi của đủ mọi thứ tội ác kinh thiên động địa
của Giáo Hội và của giáo dân vừa là chủ trương, vừa là chính sách, vừa là cái
bản chất (cái máu) độc ác, phi luân, phi nhân bắt nguồn từ thánh kinh truyền cho
đến Tòa Thánh Vatican và truyền qua giáo dân mà ra, chứ thực ra chẳng phải là do
quỷ ám khiến cho họ đã phải làm như vậy.
Bạn đọc sẽ tìm thấy những minh chứng hùng hồn nhất cho nhận định này trong
thánh kinh (cả Cựu và Tân Ước), trong những quyết định, những tuyên
cáo, tuyên ngôn của các ông giáo hoàng, tìm đọc những sắc chỉ hay thánh lệnh
của Tòa Thánh Vatican.
Bạn đọc cũng nên tìm đọc những tài liệu nói về
những hành động cực kỳ dã man của các ông giáo hoàng và các vị chức sắc trong
giáo triều Vatican đối xử với nhau và đối với nhân dân, tìm đọc những
tài liệu lịch sử nói về những việc làm tham tàn, độc ác và cực kỳ man rợ của các
chính quyền do Vatican dựng nên và của dân Chúa đối với những người
dân dưới quyền thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác, và tìm đọc những tài liệu lịch sử nói về đời sống phóng
đãng loạn luân, loạn dâm, phi luân và bạo ngược của các ông giáo hoàng và các vị
chức sắc cao cấp cũng như của các giáo sĩ các cấp tại các địa phương trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội.
Rõ ràng là Nhà Thờ Vatican
và tín hữu đã sử dụng cụm từ “bị quỷ ám” như là một thủ đoạn dùng “con
quỷ vô hình” để làm “con dê tế thần” gánh vác hết tất cả tội ác cho
Giáo Hội La Mã cũng như cho các giáo hoàng cùng giới tu sĩ và giáo dân trong
Giáo Hội.
Thực ra, từ khi có phong
trào Nhân Bản (humanism) đem những tội ác của Giáo Hội La Mã ra phơi bày truớc
dư luận và ánh sáng công luận từ đầu thế kỷ 14 cho đến ngày nay, bộ máy tuyên
truyền với hàng ngàn binh đoàn văn nô của Nhà Thờ Vatican KHÔNG NHỮNG đã dùng
những thuật ngữ “bị quỷ ám”, “cá nhân lẻ tẻ”, “là con người
thì tất nhiên phải có sai lầm” như là thủ đoạn để tránh né, khỏi phải
đương đầu với những sự thật về những tội ác có chủ tâm của Giáo Hội, MÀ CÒN sử
dụng rất nhiều thuật ngữ khác như “chống Chúa”, “phá Đạo”, “Vô thần chống Chúa’
, “Cộng Sản”, “Cộng Sản vô thần”, “Cộng Sản nằm vùng”, “chỉa rẽ tôn giáo”, v.v…
để đàn áp những tiếng nói muốn nói lên sự thật không đẹp của Giáo Hội. Ngòai ra,
khi phải đương đầu với một vấn đề nói về một trong những khu rừng tội ác của
Giáo Hội hoặc là của các Ngài đại diện Chúa, họ còn sử dụng
thủ đoạn lái
(chuyển hay bắt quặt) sang đề tài khác, vì họ không có đủ can đảm đối diện với
sự thật của vấn đề đang được thảo luận. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ là nói
chuyện với các con chiên người Việt về những điều sai lầm trong thánh kinh
hay về những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã trong gần hai ngàn năm qua là
nói chuyện với đầu gối. (Những rặng núi tội ác này
đã được chính Giáo Hoàng John Paul II chính thức cáo thú (với Chúa) trong một
cuộc đại lễ vô cùng long trọng tại Quảng Trường Peter (Rome) vào sáng ngày Chủ
Nhật 12/3/2000 trước sự chứng kiến của hàng triệu khán thính giả tại chỗ và hàng
trăm triệu người khác qua các màn ảnh truyền hình ở khắp nơi trên thế giới.)
Cũng vì thế mà chúng ta thể
nói rằng, “Không gian tham tàn độc, không bạo ngược dã man, không ăn gian
nói dối, không quay quắt lắt léo và không lươn lẹo, thì không phải là Nhà Thờ
Vatican và không phải là dân Chúa.” Vì thế mà ta có thể nói, “Đừng
nghe những gì Vatican và giáo dân nói, mà hãy nhìn những gì họ làm.”
۞۞۞
Từ ngàn xưa, trong bất cứ
chế độ chính trị nào ở bất cứ quốc gia nào cũng có những thành phần nằm trong
giai cấp thống trị và những thành phần nằm trong giai cấp bị trị.
A.- Giai cấp bị trị
gồm những thành phần bị cưỡng bách phải tuân hành những luật pháp do giai cấp
thống trị làm ra và phải nai lưng ra đóng thuế cùng với hàng trăm thứ đóng góp
khác trong đó có cả việc phải làm lao nô phục dịch cho tất cả
các dự án do nhà
nước đề ra. Thí dụ như trong thời Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp –
Vatican thống trị nước ta (1885-1945), dân ta bị cưỡng bách
phải đóng không biết bao
nhiêu thứ thuế (thuế thân, thuế muối, thuế chợ, v.v…) và bị cưỡng bách phải đi
làm lao nô phục dịch trong các công trường xây cất các dinh thự của nhà nước và
tư dinh cho các quan lớn, quan nhỏ trong chính quyền Bảo Hộ. Ngòai những đóng góp
trên đây cho nhà nước, dân ta còn phải đóng góp sức lao động làm lao nô phục
dịch cho các công trường xây cất hàng ngàn ngôi nhà thờ với những tháp chuông
cao chót vót lên đến tận lưng trời, hàng trăm chủng viện, tu viện và các cơ sở
kinh doanh khác như các nhà thương và trường học của Giáo Hội La Mã ở Đông
Dương. Xin xem các Chương 27, 28 và 29 (Mục X, Phần III) trong bộ sách Lịch Sử
và Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Mấy chương sách này đã được đưa lên sáchhiem.net
từ ngày 14/1/2008.
B.- Giai cấp thống trị
gồm những thành phần có liên hệ thân tình với nhà cầm quyền hay với người có thế
lực trong chính quyền đương thời. Họ là những người hoặc là làm ra pháp luật,
hoặc là được hưởng những đặc quyền đặc lợi của nhà nước hay chế độ đương thời.
Trong các quốc gia theo chế
độ dân chủ tự do như các quốc gia ở Bắc Mỹ, Âu Châu, Nhật Bản và Ấn Độ, những
thành phần nằm trong giai cấp thống trị là những người có liên hệ chặt chẽ với
những người có thế lực trong chính quyền đương thời. Tuy nhiên, những đặc quyền
đặc lợi này của họ bị chế tài bởi hiến pháp, luật pháp, và người dân có quyền
nói lên tiếng nói khi cảm thấy bức xúc về những hành động quá trớn hay lộng hành
của những thành phần nằm trong giai cấp thống trị.
Trong các quốc gia theo chế
độ quân chủ chuyên chế, thành phần nằm trong giai cấp thống trị là hoàng tộc và
giới quan lại của chế độ. Trong chế độ này, thường thì không có hiến pháp, nếu
có thì cũng chỉ là bất thành văn. Luật pháp được làm ra để phục vụ cho quyền lợi
của giai cấp thống trị và cũng là ưu tiến số 1. Vấn đề phục vụ cho phúc lợi nhân
dân chỉ là thứ yếu.
Các chế độ độc tài có nhiều
đặc tính giống như y hệt các chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến trung ương
tập quyền, dù là có hiến pháp đi nữa thì đó cũng chỉ là
một bức bình phong che đậy cho cái bản chất chuyên
chính và
phong kiến của nó. Trong thực tế, hiến pháp của các chế độ độc tài cũng chỉ là
được biên soạn bởi bọn tay sai của chế độ nhằm để củng cố quyền lực và để phục
vụ hay bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Chúng ta hãy lấy
hai chế độ Đê Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam trong những
năm 1954-1975 làm thí dụ cho các loại chế độ độc tài này. Trong hai chế độ này,
Nhà Thờ Vatican được Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican trao cho nắm giữ chính
quyền, đặc biệt là quản lý công việc nội chính. Vì vậy mà gia đình Nhà Ngô đã
hành xử không khác gì những người trong hoàng gia của một bạo quân trong một
quốc gia theo chế độ quân chủ trung ương tập quyền.
Ngoài cái gánh nặng của bộ máy cai trị sắt máu giống như bộ máy cai trị của
chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phong kiến cổ điển, lại còn có
một bộ máy cai trị sắt máu hơn, tham tàn hơn, bạo ngược hơn, dã man hơn và cực
kỳ tinh vi là bộ máy cai trị của Nhà Thờ Vatican đứng ở hậu trường chỉ đạo
chính quyền. (Muốn biết sự thực này như thế nào, độc giả chỉ cần đọc sách sử
nối về các nước Âu Châu trong thời Trung Cổ hay sách sử nói về các thuộc địa của
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Châu Mỹ La-tinh, ở Phi Châu, ở Phi Luật Tân, đọc
những tài liệu sử nói về tình cảnh người dân xứ Croatia bị sát hại tới hơn 700
ngàn người trên tổng số dân chỉ có vỏn vẹn trên dưới 3 triệu
dân trong những năm
1941-1945 dưới ách thống trị của tên bạo chúa Ca-tô Ante Pavelich,
và đọc những tài liệu nói về tình cảnh
người dân Tutsis bị sát hại tới khoảng 800 ngàn người trong một quốc gia chỉ có
8.196.000 dân trong vòng 3 tháng trong năm 1994 trong thời chế độ đạo phiệt
Ca-tô của tên bạo chúa Giám-mục Augustin Misago.)
Ghê gớm hơn nữa là, trong
hai chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu,
tín hữu Ca-tô được coi như là một siêu giai cấp giống như
những người trong hoàng tộc trong một quốc gia bị áp đặt phải sống dưới ách
thống trị của một chế độ quân chủ chuyên chể trung ương tập quyền. Họ thường rêu
rao là miền Nam là theo chế độ cộng hòa, có hiến pháp và có chủ quyền độc lập,
nhưng đó chỉ là những danh xưng rỗng tuếch được dùng làm bức bình phong che đậy
cái bản chất tham tàn, bạo ngược và cực kỳ man rợ của chế độ mà mấy câu vè
“Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” do chính Nhà Thờ sáng tác ra, và
“Nhất đĩ, nhì cha, … ” của người dân đương thời đã nói lên thực trạng
của chính quyền và xã hội miền Nam Việt Nam trong những năm này.
Tìm hiểu hai chế độ này,
chúng ta thấy, giai cấp thống trị là gia đình nhà Ngô, giai cấp giáo sĩ áo đen
mà người Pháp gọi là “les corbeaux noirs”, dân Chúa và sau cùng là bọn lưu manh
xu thời làm tay sai cho chế độ.
Cũng vì thế trong những năm
này, ở miền Nam Việt Nam, mỗi một trại định cư của người Ca-tô Bắc Kỳ
di cư trở thanh một quốc gia, các ông linh mục quản nhiệm các họ đạo đều trở
thành một thứ lãnh chúa đối với gíao dân dưới quyền, và trở thành một thứ bạo
chúa đối với chính quyền địa phương và người dân thuộc các tôn giáo khác ở
trong vùng xung quanh trại định cư hay xóm đạo này. Họ chỉ sợ có lệnh tổng thống
phát ra từ tổng thống phủ, chỉ tôn trọng có giáo luật và lời dạy của các đáng
bề trên của họ mà thôi. Còn pháp luật hay luật nước hoặc quốc pháp thì bị họ coi
như là mớ giấy lộn. Ở trong chính quyền, hay ở trong quân đội và trong bất kỳ
lãnh vực hoạt động nào ở ngoài xã hội, họ cũng đều có thể làm mưa làm gió, tự
tung tự tác, không khác gì giai cấp tăng lữ và quý tộc ở Âu Châu trong thời tiền
Cách Mạng Pháp 1789.
Dụ số 10 do chính quyền Bảo
Đại ban hành vào ngày 6 tháng 8 năm 1950, hiến pháp, luật pháp, quyết định cùng
những khẩu lệnh do chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như do cá nhân ông ta và các
nhân viên trong chính quyền ban hành là những bằng chứng bất khả phủ bác cho sự
thật về phương cách cai trị của chế độ này. Đó là những hành động của chính quyền
(1) ban hành quyết định phong cho ông Ngô Đình Cẩn làm “cố vấn lãnh đạo các
đòan thể chính trị miền Trung và miền Cao Nguyên” mà người dân miền Nam gọi
là “lãnh chúa miền Trung”, (2) ban
đặc quyền cho Giám-mục Ngô Đình Thục khai thác gỗ rừng trong tỉnh Long Khánh,
(3) việc để chô ông chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lế đứng ra tổ chức vận động
quyên tiền gây qũy làm lễ Kim Khánh cho Giám-mục Ngô Đình Thục vào mùa xuân năm
1963, (4) dùng ngân quỹ quốc gia cùng nhân lực và vật lực của đất nước vào
việc tổ chức đại lễ vô cùng long trọng rồi mời việc khâm-sứ đại diện Tòa Thánh
Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế buổi lễ này vào tháng 2 năm 1959 để
dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức cho Đế Quốc Vatican), (6) dùng tên
họ những tu sĩ và giáo dân Ca-tô đã từng bán nước Việt Nam cho Vatican và cho
Pháp để đặt tên cho các trường học và đường phố ở Sàigòn và nhiều thành phố khác
ở miền Nam Việt Nam, (7) ban hành lệnh (bất kể bằng khẩu lệnh hay bằng văn thư)
cấm treo cờ Phật Giáo ở trong các khu dân và chùa Phật Giáo trong mùa Phật Đản
vào tháng 5 năm 1963, v.v...
Trên đây là những việc làm
bất chính của chính quyền Ngô Đình Diệm để phục vụ riêng cho giai cấp thống trị
trong đó có đạo Ca-tô gọi chung là Nhà Thờ Vatican, gia đình nhà Ngô, băng đảng
Cần Lao và bọn xu thời làm tay sai cho chế độ. Sự thật là như vậy. Nhiệm vụ của
người viết sử là phải nói lên những sự thật này. Sự đời, “trung ngôn nghịch
nhĩ.” Nói lên những sự thật này thì bị mấy ông “dân Chúa” sống đạo “theo
đức tin Ki-tô” và sống “theo lương tâm công giáo” mạt sát rằng, “thằng
chuyên nói láo, thằng
lưu manh chẻ sơi tóc làm tư”.
MỘT SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TÍN ĐỒ ÂU MỸ VÀ TÍN ĐỒ NGƯỜI VIỆT
Có một điều mà chúng ta cần
nên biết là những người bình thường mà có những hành động ngang ngược và độc ác
như trên, thì chúng ta còn có hy vọng vào một lúc nào đó lương tâm họ sống lại,
và khi đó họ sẽ dùng lý trí để phân tách và tìm hiểu mà biết được những việc làm
của họ là tội ác. Khi đó, họ sẽ thức tỉnh và thành tâm sửa đổi. Sự thật này đã
từng xẩy ra rất nhiều đối với các giáo sĩ và dân Chúa người Âu Mỹ như các giáo
sĩ Peter de Rosa, Martin Malachi, Alberto Rivera, Edmond Paris,
Rafael Rodríguez Guillén, Luigi Marielli, Emmett McLoughlin,
Charles Chiniquy, Gary Wills, Avro Manhattan, Charlie Nguyễn, Phạm Hữu Tạo, Trần
Tam Tỉnh, v.v...
Đối với xã hội tín hữu Ki-tô Âu Mỹ, trong quá khứ, tình trạng này đã xẩy ra rất nhiều.
Cho đến ngày nay, tình trạng này vẫn còn tiếp
tục xẩy ra với con số ngày càng nhiều hơn, và trong tương lai,
chắc chắc vẫn còn xẩy ra. Cũng vì thế mà ở Âu Châu cũng như ở
Mỹ Châu, con số tín đồ Ki-tô bỏ đạo và con số tín đồ không đi nhà thờ ngày nay
đã lên đến mức độ làm cho Nhà Thờ Ki-tô phải lo ngại. Chẳng hạn như ở Pháp, ở Anh,
ở Đức con số tín đồ Ki-tô bỏ, không đi Nhà Thờ lên đến 97-99%, và tín đồ Ca-tô
ở các nước khác ở Âu Châu cũng đang trên đà bỏ đạo gấn giống như nước Anh và
nước Pháp. Tại Mỹ, tình trạngt này cũng đang trên đà như vậy và đặc biệt con số người ghi danh
học làm nghề linh mục giảm xuống còn độ 30% so với 50 năm về trước. Vấn đề này
sẽ được trình bày rõ rang và đầy đủ với những tài liệu dẫn chứng ở nới phần KẾT
LUẬN trong Chương 16 (Phần III) ở sau.
Trái lại, tín đồ Ca-tô
người Việt và ở những nước chậm tiến, nghèo đói như ở Rwanda, Uganda, Cameroon,
Congo, chuyện tu sĩ và giáo dân thức tỉnh (hay lương tâm sống lại) là một chuyện
không phải là không có, nhưng vô cùng hãn hữu.
Trong khi tín đồ ở các nước
Âu Mỹ đã thức tỉnh như vậy, thì tín đồ Ca-tô người Việt vẫn còn triền miền trong
cơn mộng du mơ về nước Chúa như người Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ. Tệ hơn
nữa, họ còn u mê đến nỗi mất hết cả lương tâm, mất hết cả nhân tính, dám thản
nhiên đem cả người chồng, người cha thân thương ra xử lý như là một tên tội đồ
chỉ vì nạn nhân đã dám nói lên những việc làm tội ác của Nhà Thờ Vatican. Lại
còn có một con chiên dám làm cả chuyện đại nghich bất đạo là không nhìn nhận
người cha ruột thân thương của ông ta chỉ vì than phụ của ông ta đã dám cả gan
không tuân lệnh Nhà Thờ mà quyết tâm đi theo Phong Trào Việt Minh chiến đấu đánh
đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican để giành lại chủ quyền độc lập cho dân
tộc. Tình trạng này cho chúng ta thấy rõ, tín đồ Ca-tô người Việt còn tệ hơn cả
loài súc sinh! Xin xem lại Chương 9 ở trên để biết sự thực họ đã hành xử như
vậy.
Nguyên Nhân ?
TẠI SAO tín hữu
người Việt lại có thể hành xử đến độ mất hết nhân tính như vây?
Tìm hiểu sâu rộng về xã hội
Ki-tô người Việt, chúng tôi thấy rằng, sở dĩ họ đã hành xử như vậy là do:
A.- MỘT PHẦN vì hầu hết tín
đồ Ca-tô người Việt đã bị điều kiện hóa quá nặng bởi chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican đến nỗi họ đã gần như hoàn toàn:
1.- Không còn khả năng sử
dụng lý trí để phân biệt sự khác nhau giữa cái đúng và cái sai, giữa sự kiện và
ý kiến, giữa thuận lý và nghịch lý, giữa nguyên nhân và hậu quả, giữa nhân ái và
độc ác, giữa văn hóa và phi văn hóa, giữa nhân luân và phi luân.
2.- Mất hết đức tính công
bằng và vô tư. Đối với họ, bất cứ cái gì thuộc về hay của Giáo Hội La Mã hay
đạo Ca-tô của họ đều thánh thiện, đều hoàn hào, đều tuyệt với, đều tốt đẹp, và
bất kỳ cái gì thuộc về các tôn giáo hay nền văn hóa khác đều là xấu xa và tội ác
hết. Cũng vì thế mà họ mới gọi Giáo Hội La Mã là “Hội Thánh duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền", gọi tất cả các tôn giáo khác là tà đạo, và
gọi tất cả các dân tộc thuôc các nền văn hóa khác là những quân man di, mọi rợ.
Đọc Chuong 5 (các trang 188-217) trong sách Lich Sử Giáo Hội Công Giáo (Saigon:
Chân Lý, 1972) của Linh-muc Bùi Đức Sinh, chúng ta sẽ thấy rõ sự thật này.
3.- Mất hết tình cảm thiêng
liêng và hồn nhiên của con người đối với những người thân thương trong gia đình
cũng như đối với dân tộc và tổ quốc.
4.- Dốt đặc cán mai táu về
quốc sử cũng nhừ về ịch sử thế giới, lịch sử giáo Hội La Mã. Cũng vì thế mà họ
thường hay nói càn, nói bậy, nói ẩu, nói láo mà vẫn không biết là nói láo, lại
cứ tưởng là nói đúng. Dưới đây là một số bằng chứng bất khả
phủ bác cho sự kiện này:
a.- Trường hợp ông nhà giáo kiêm nhà văn và MC Nguyễn Ngọc
Ngạn viết láo, việt bậy trong cuốn Xóm Đao và tuyền bố quàng xiên trong cuốn
Paris By Ngiht 81 “Bắc Hàn không Tấn Công Nam Hàn".
b.-Trường hợp ông Trần Gia Phụng, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm
Huế, Sử Địa, tác giả của nhiều cuốn sử về Lịch Sử Việt Nam, viết trong bài "Viết
Cho Đúng Sự Thật" (đề ngày 24/11/2009, phổ biến trên diễn đàn
www.anhduongonline.com ngày
25/11/2009 để phản bác bài viết "Phê Bình Bài Viết (Lý Do Cuộc Đảo Chánh
Ngày 1/11/1963) của ông Trần Gia Phụng.) trong đó có một đoạn có nguyên văn như
sau:
“Có
một điều cần nhấn mạnh là cá nhân người nào làm thì người đó chịu trách nhiệm,
đừng vì cá nhân đó theo tôn giáo nầy hay tôn giáo khác mà đưa vấn đề thành sự
đối đầu tôn giáo rất nguy hiểm. Ví dụ trường hợp tôi viết về chế độ Ngô Đình
Diệm, thì chế độ Diệm có điểm tốt mà cũng có điểm không tốt. Rủi một điều là
cái điểm không tốt nguy hại nhất cho chế độ Diệm chính là vụ treo cờ Phật giáo
mà ai đã từng ở miền Trung, nhất là ở Huế và Đà Nẵng đều thấy và biết. Chuyện
nầy cũng được các tác giả Ky-Tô giáo viết lại, ví dụ cụ thể nhất là linh mục Cao
Văn Luận. Từ cái điểm không tốt nầy mới nẩy sinh ra đủ thứ chuyện, làm sụp đổ
chế độ Diệm. Cái điểm không tốt nầy thuộc về trách nhiệm cá nhân hai ông Ngô
Đình Thục và Ngô Đình Diệm chứ không liên hệ gì đến Ky-Tô giáo cả. Phải tách
bạch rõ ràng như thế để tránh những hiểu lầm đáng tiếc, những chụp mũ vu vơ.”
Tình trạng không biết gì về vai trò của Giáo Hội La Mã trong
dòng lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại của ông
Trần Gia Phụng cũng được thể hiện ra qua trong tất cả các tác phẩm viết về lĩch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Trong các tác phẩm này, ông Trần Gia
Phụng cũng không hề đề cập đến vai trò tích cực của Giáo Hội La Mã trong việc
việc vận động các chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội La Mã và xuất quân đánh
chiếm Việt Nam làm thuộc địa để chùng thống trị, cùng nô lệ hóa dân ta và cùng
chi nhau lợi nhuận.Cũng vì thế mà trong tất cả các tác phẩm của ông, ông không
hề đề cập đế cái khối bất động sản khổng lồ mà Giáo Hội La Mã đã dựa vào chính
quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican để cướp đoạt của dân ta mới có được.
Điều đáng buồn là dù rằng ông Trần Gía Phụng tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Huế, Ban
Sử Địa, đã dạy sử tại các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trong nhiều
năm trước ngày 30/4/1975 và đã có nhiều tác phẩm lịch sử nói về thời cận và hiện
đại Việt Nam, mà lại ở vào tình trạng "không biết lịch sử" như thế!. Như
vậy, thì còn nói chi đến những người viết sử tài tử với mục đích duy nhất là để
bào chữa cho chính bản thân họ hay ông cha của họ về những hành động cộng tác
chặt chẽ hay làm tay sai cho các thế lực ngoại thù đã từng đánh chiếm và thống
trị nước ta từ năm 1858!
c.- Không phải chí có ông Trần Gia Phụng mới rơi vào tình
trạng như đã nêu lên ở trên, mà là tất cả các tác giả khác viết sử về Việt Nam
trong thời kỳ này. Đọc các cuốn sử như Việt Nam 1945-1995 (Bethesda, MD: Tiên
Rồng, 2004) của tác giả Lê Xuân Khoa, bộ Việt Sử Khảo Luận (Paris: Nam Á, 2002)
của tác giả Hoàng Cơ Thụy, tẩ các tác phẩm lịch sử của ông Phạm Văn Sơn, cuốn
Việt Nam Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản... (San Jose, CA:TXB, 2002) của
Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử gồm các tác giả Dương Diên Nghi, Nguyễn Châu, Lương Văn
Toàn, Lê Hữu Phú, Hòang Đức Phương, v.v... và tất cả các tác phẩm lịch sử nói về
Việt Nam trong thời cận và hiện đại của giới tu sĩ áo đen và tín đồ Ca-tô còn
nặng tinh thần "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa", "Thà giữ đạo,
chứ không giữ nước", khư khư sống theo quan niệm "nhất Chúa, nhi cha, thứ
ba Ngô Tổng Thống" và sống theo " lương tâm công giáo" của họ.
Dĩ nhiên là Linh-mục Trần Tam Tỉnh, ông Charlie Nguyễn, Bác-sĩ
Nguyễn Văn Thọ, ông Giuse Phạm Hữu Tạo và Giáo-sư Lý Chánh Trung không ở
trong trường hợp này.
5.- Chỉ biết đặt giáo luật,
thánh kinh, tín lý Ki-tô, tập tục, lời dạy, lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican
hay các đấng bề trên của họ, chỉ biết
đặt quyền lợi của Nhà Thờ Vatican lên trên
hết. Họ không hề nghĩ đến tổ quốc, quốc gia và dân tộc. Thảng hoặc
NẾU họ có nói đến tổ
quốc, quốc gia, và dân tộc THÌ đó
cũng chỉ là những câu nói đầu môi chót lười để
phỉnh gạt những người ngòai đạo Ca-tô, chứ trong thực tế, quốc gia, tổ quốc và
dân tộc không có chỗ đứng trong thâm tâm của họ. Cái khẩu hiệu “thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa” và câu vè “nhất Chúa, nhì cha, thư ba Ngô Tổng Thống”
của Nhà Thờ Vatican đưa ra để dạy dỗ giáo dân và những hành động kề vai sát cánh
với Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican của họ trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa
thế kỷ 18 cho đến tháng 7 năm 1954 và kề vai sát cánh với Liên Minh Xâm Lược Mỹ
- Vatican từ tháng 7 năm 1954 cho đến ngày 30/4/1975 là những bằng chứng rõ ràng
nhất và hùng hồn nhất cho sự kiện này. Ngòai những bằng chứng nói trên, trong thời
gian mới gần đây họ còn có những thái độ và hành chống lại tổ quốc và dân tộc
qua những vụ:
a.- Thái độ và hành động
xấc xược, ngược ngạo và thiếu giáo dục của Linh-mục Nguyễn Văn Lý
ở nơi pháp đình
vào ngày 30/3/2007 trước sự chứng kiến của các phong viên của các cơ quan truyền
thông trong nước và nước ngòai.
b.- Việc Tổng Giám Mục Ngô
Quang Kiệt xúi giục con chiên nổi loạn đánh phá tòa nhà công quyền tại số 142
Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với
chiều bài đòi chiếm lại khu đất này cho Vatican.
c.- Việc ông tổng giám mục
này cùng với các Linh-mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong,
Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn,
phá tường tràn vào chiếm đóng Công ty may Chiến Thắng tại số 178 Đường Nguyễn
Lương Bằng (Phương Đống Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến nay (30/8/2008).
d.- Thái độ và lời lẽ ngang
ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) trong văn thư số 10/GHVN đề
ngày 25/9/2008 của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục
Việt Nam) trả lời văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo
(chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội).
f.- Thái độ và lời lẽ ngang
ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) trong lá thư phúc đáp của
Tỉnh Dòng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân
Thành Phố Hà Nội.
e.- Vụ dựng tượng Bà Maria
ở xã An Bằng (Huế) kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (Tháng 1/2009).
B.- MỘT PHẦN KHÁC là do cái
bản chất tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực của họ đã gây nên. Vấn đề này
đã được trình bày đầy đủ trong Chương 6 ở trên. Nếu tìm hiểu sâu rộng về nguồn
gốc của những người Công Giáo (hay Ca-tô) Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rằng chính
bản thân họ hay ông cha họ là những hạng người hoặc là “theo đạo lấy gạo mà
ăn” hoặc là “theo đạo để tạo danh đời”, hoặc là bị cưỡng bách phải
theo đạo (chẳng hạn như những người “lạy Chúa Ba Ngôi, tối lấy được vợ tôi
thôi đi Nhà Thờ” hay là “theo đạo cho xong nợ để tránh khỏi bị cảnh sát
quấy rầy”. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận như sau:
“Có những người cho rằng họ
vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vì đã từng sống
lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây
giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ, hoặc ít ra
tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát…” Điều chắc chắn
là phong trào trở lại
đạo đó đã chấm dứt với năm 1963 ngay khi tổng thống công giáo Diệm bị lật đổ.”
[1]
Riêng về những người “đí
đạo lấy gạo để ăn” và “theo đạo để tạo danh đời” là những người vốn
dĩ đã có sẵn bản chất tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực. Mục đích theo
đạo của họ là để dễ dàng nhờ vả các ông linh mục chạy chọt kiếm cho họ một chỗ
làm ngon lành trong chính quyền hay dựa vào chính quyền để thực hiện những tham
vọng bất chính mà họ hằng ấp ủ. Như đã trình bày trong Chương 6 ở trên, những
người có bản chất tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực đều là những người
mang ác tính phản trắc và có thể làm những chuyện đại nghịch bất đạo như phản
quốc, sát hại cả cha, mẹ, anh, chị em, vợ, con và dâng vợ cho những người có
quyền thế để hy vọng có thể bước vào cửa quyền. Sự thực, trong cộng đồng giáo
dân người Việt, ngọai trừ những người bị cưỡng bách hay bị chèn ép phải theo
đạo, còn tất cả tín đồ Ca-tô khác đều thuộc loại người này cả. Điều này cho
chúng ta thấy, chính sách dùng miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính
quyền hay địa vị ở ngoài xã hội để câu nhử hay dụ khị những phường tham lợi, háo
danh và thèm khát quyền lực chạy theo bắt bồi rồi theo đạo là yếu tố hết sức
quan trọng làm cho con sô những phần tử đầy những ác tính cực
kỳ ghê tởm chiếm một tỉ lệ rất
cao trong cộng động tu sĩ và giáo dân Vỉệt Nam.
Một điểm đặc biệt nữa, như
đã nói ở trên, là khi đã trở thành tín đồ Ca-tô, họ vừa bị điều kiện hóa bởi
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Vatican mà trở thành hạng người hết sức thiển
cận, mất hết lý trí, không còn khả năng tìm hiểu sự vật, mất hết nhân tính, mất
hết lương tâm, mất hết tình cảm thiêng liêng và hồn nhiên đối với những người
thân thương trong gia đình, đối với bạn bè, đối với dân tộc và tổ quốc. Đặc biệt
nhất là họ dốt đặc cán mai táu về quốc sử, về lịch sử thế giới và về lịch sử
Giáo Hội La Mã. Lý do: Nhà Thờ Vatican, cấm không cho họ học tòan bộ những bài
học sử mà chỉ cho họ học lẩy một số bài cho lấy có để trình diễn bề ngoài mà
thôi. Họ cũng không dám mở mắt tìm đọc những sách báo và những tài liệu lịch
sử cũng như những tư tưởng cao đẹp mà Vatican không cho phép. Họ chỉ còn biết
cúi đầu vâng phục vô điều kiện và triệt để tuân hành những lệnh truyền của các
đấng bề trên trong Giáo Hội La Mã. Tình trạng này đã khiến cho trình độ kiến
thức tổng quát của họ không bằng một em bé chưa học xong bậc trung học ở các
nước nằm ngoài vòng kèm tỏa của Nhà Thờ Vatican. Nguời viết được chứng kiến một
em bé người Việt sinh đẻ ở Hoa Kỳ, còn đang học lớp 10, khi nói chuyện với gia
đình về các môn học ở bậc trung học, em này đã đưa ra một nhận xét về thân phụ
của em, một giáo sư dạy Toán của một trường Công Lập ở Sàigòn trước năm 1975,
rằng “kiến thức phổ thông ở bậc trung học của bố không được quân bình."
Đây là sự thực. Kiến thức
phổ thông ở bậc trung học của hầu hết những lớp người tiếp nhận sở học qua
chính sách giáo dục của các chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican
(1885-1954) và các chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đều ở vào tình
trạng bất quân bình. Cũng vì thế mới có tình trạng ông trí thức gốc Phát Diệm đã
có bằng cử nhân luật và đã hành nghề luật sư nhiều năm trước năm 1975 mà cũng
không biết gì về phương pháp viết khảo luận. Sở dĩ có tình trạng cười ra nước
mắt như vậy là vì cả ở Phân Khoa Văn tức Đại Học Văn Khoa Sàigòn và Phân Khoa
Lụât (Đại Học Sàigòn) đều không hề đòi hỏi sinh viên bậc cử nhân
(undergraduate) viết một bài khảo luận, và các trường trung học ở miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1975 cũng không hề dạy học sinh phương pháp viết khảo
luận bao giờ. Vì thế cho nên ông trí thức gốc Phát Diệm này mới đưa ra một nhận
xét về cuốn sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi một cách rất Ca-tô ngon lành
rằng:
“Cuốn VNMLQHT không phải là một cuốn hồi
Ký. Đúng hơn, nó là một tạp ghi cóp nhặt của nhiều người và nhiều tác giả. 93
cuốn sách và 52 tạp chí được trích dẫn. Bản thân ông Đỗ Mậu chỉ xuất hiện đó đây
như một loại giây leo còm cõi sống bán vào những chất liệu cóp nhặt.”[2]
Cũng nên biết rằng, khi nói
đến tín đồ Ca-tô, đã có người cho rằng họ đã trở thành hạng người vong bản phản
dân tộc, không còn coi đất nước và tổ quốc là gì nước. Đối với họ, Vatican hay
Giáo Hội mới là tổ quốc và quê hương của họ. Nói như thế không phải là thù ghét
họ mà khinh miệt và lên án họ như vậy, mà là
"nói có sách, mách có chứng" về tư duy cũng như
về hành động của họ.
Bằng chứng về tư duy của họ
là trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam, họ đã triệt để sống theo câu
vè (1) “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Tổng Thống Ngô Đình Diệm” và khẩu
hiệu (2) “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”.
Trong câu vè (1), chúng ta
thấy chỉ có Chúa, có Cha và cá nhân ông Tổng Thóng là người
do Nhà Chúa đưa lên
cầm quyền, chứ không có chỗ nào là chỗ đứng của đất nước hay tổ quốc và dân tộc.
Và trong khẩu hiệu (2), lại còn rõ rệt hơn nữa, họ đã nói trắng ra là giữa Nhà
Thờ Vatican và nước Việt Nam, họ đã dứt khoát chọn Vatican là tổ quốc của họ và
bỏ rơi đất nước Việt Nam.
Bằng chứng về hành động tội
ác của họ chống lại tổ quốc và dân tộc ta để phục vụ cho quyền lợi của Nhà Thờ
Vatican thì càng nhiều hơn nữa. Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở trong phần
dưới của chương sách này.
Nói chung, tất cả những tội
ác của tín đồ Ca-tô người Việt đều do ảnh hưởng trực tiếp của những tín lý và
lời dạy nặng tính cách phỉnh gạt, lừa bịp và khủng bố trong thánh kinh cũng như
những lời dạy của Nhà Thờ Vatican gây ra. Ngòai ra, còn có một yếu tố hết sức
quan trọng nữa là những tấm guơng xấu của các nhà lãnh đạo
của Giáo Hội và giới tu sĩ áo đen đã ảnh
hường vào cuộc đời của họ mà gây nên. Tội ác của họ quá nhiều và mức độ tội ác
quả thật là cực kỳ trầm trọng. Người viết không biết phải dùng lời nói như thế
nào để nói lên được hết tất cả tội ác và cái bản chất tội ác của họ.
Một số trong khu rừng trọng
tội ác của họ là tội phản quốc, đi theo quân cướp ngoại thù, tấn công vào các làng
của người dân bên lương, giết người, cướp của, đốt nhà, đốt đình, đốt miếu, phá
chùa, tiêu hủy hoa mầu mùa màng, hãm hiếp đàn bà con gái, hành hạ tra tất
cà những nạn nhân của họ
một cách cực kỳ dã man.
Riêng về tội phản quốc, họ
đã gục mặt cúi đầu cam tâm “cõng đàn rắn độc Vatican và Pháp về căn gà nhà”
trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến tháng 7/1954 và cấu
kết với đế quốc Mỹ trong những năm 1954-1975 để duy trì và củng cố quyền lực cho
Giáo Hội La Mã ở miền Nam vĩ tuyến 17. Tội ác này đã trực tiếp gây nên cuộc
chiến Mỹ - Việt tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại.
Tội ác của tín đồ Ca-tô
người Việt đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam thật là vô cùng khủng khiếp.
Chúng ta biết rằng, quân xâm lược Nhà Minh chỉ đánh chiếm và thống trị nước ta
có 13 năm (1414-1427) mà cụ Nguyễn Trãi đã phải than trời rằng “Độc ác tháy!
Trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi.” Tín
đồ Ca-tô người Việt đã cấu kết và làm tay sai đắc lực cho Liên Minh Xâm Lược
Pháp – Vatican trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến năm
1954 và cho Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican trong thời gian 1954-1975, với một
khoảng thời gian gấp gần 15 lần, với cái bản chất đầy những ác tính hung dữ
mất hết nhân tính của
họ, thì tất nhiên là mức độ tham tàn, bạo ngược và dã man phải nhiều hơn gấp
hàng trăm lần nếu so với mức độ tham tàn, bạo ngược và dã man của quân giặc
Minh trước kia. Với thực trạng như vậy, tất nhiên là tội ác của tín đồ Ca-tô
người Việt đối với dân tộc và đất nước ta phải nói là nhiều hơn gấp cả ngàn lần.
Thiết tưởng các tiểu mục dưới đây nói về tội ác của Nhà Thờ Vatican và của giáo
dân người Việt chỉ là một phần rất nhỏ trong những rặng núi tội ác của họ chống
lại tổ quốc và dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa
thế kỷ 16 cho
đến ngày nay.
I.- CÁC TỘI ÁC CỦA VATICAN VÀ
GIÁO DÂN NGƯƠI VIỆT TRONG THỜI KỲ TỪ GIỮA THẾ
KỶ 16 ĐẾN NĂM 1954
Trong thời gian này, Nhà
thờ Vatican và giáo dân Việt Nam phạm những tội ác như sau:
LOẠI TỘI ÁC THỨ NHẤT:
Đây là tội ác cấu kết với Nhà Thờ Vatican cùng tiếp tay cho đế quốc thực dân xâm
lược Pháp với những hành động:
1.- Cung ứng những tài liệu
tình báo cho Vatican mà bọn giáo sĩ truyền giáo và tín đô Ca-tô người Việt đã
thâu thập được từ giữa thế kỷ 16.
2.- Tổ chức các đạo quân
thập tự ở trong các làng đạo có nhiệm vụ nổi lên làm nội ứng và tiếp viện cho Liên Quân
Xâm Lược Pháp - Vatican trong những chiến dịch tấn chiếm đất nước ta cũng như
trong các cuộc hành quân truy lùng và tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng
chiến của nhân dân ta trong những năm 1858-1945. Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương, Lê
Hoan, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm,
v.v... và nhiều tên dân Chúa đầu sỏ khác dẫn lính đạo đi tiêu diệt các lực lượng
nghĩa quân kháng chiến ở miền Nam trong những năm từ đầu thập niên 1860 và trọn
đời làm tay sai cho giặc.
3.- Cung ứng nhân sự cho
giặc làm những công việc như thông ngôn, đưa đường, chỉ lối cho giặc trong
những chiến dịch truy lùng bắt người bị tình nghi là có họat động chống giặc.
4.- Cung ứng nhân sự làm
việc cho giặc trong bộ máy đàn áp nhân dân ta, đặc biệt là trong các ngành công
an, cảnh sát, mật vụ.
5.- Đốt nhà, đốt đình, đốt
miếu, đốt chùa, giết người cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái khi họ theo liên quân giặc
trong những chiến địch tấn công chiếm đất, trong những cuộc hành quân truy lùng
và tiêu diệt lực lương nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong suốt chiều
dài lịch sử từ năm 1858 đến năm 1954. Ngoài ra, họ còn có những hành động cực kỳ dã man
như những toán lính đạo ở trong các giáo khu Phát Diệm (dưới quyền chỉ huy của
Lế Hữu Từ, Linh-mục Hoàng Quỳnh), Bùi Chu (dưới quyền chỉ huy của Giám-mục Phạm
Ngọc Chi và các linh mục dưới quyền), các toán lính đạo Bến Tre và Mỹ Tho (dưới
quyền chỉ huy của tên Ca-tô Pháp lai Jean Leroy) và ở các làng đạo nằm rải
rác trong các tình trong vùng đồng bằng Sông
Hồng dưới quyền chỉ huy của các linh mục Lương Huy Hân (Ngưỡng Nhân, Giao Thủy,
Nam Định) Mai Đức Tín (Phương Xá, Đông Quan Thái Bình), Vũ Đức Luật (Cao Mại,
Kiến Xương, Thái Bình), Anvarê Cao (Quỳnh Lang, Quỳnh Côi, Thái Bình), Nguyễn
Quang Ân (Thân Thượng, Kiến Xương, Thái Bình), v.v...
LOẠI TỘI ÁC THỨ HAI:
Đó là tội ác cướp đoạt ruộng đất trồng trọt, chưa kể ở Trung Bộ và Bắc Bộ, chỉ
riêng ở Nam Bộ tính đến cuối thập niên 1920, Vatican đã ăn cướp của dân ta tới
khoảng 25% diện tích ruộng đất canh tác, phá hủy không biết bao nhiêu ngôi chùa
và miếu đình để đoạt đất xây nhà thờ, chủng viên, tu viện và các cở sở khác.
Những ngôi nhà thờ từ lớn đến trung trung và nhỏ đều là được xây cất trên những
thửa đất đã cưỡng chiếm của đất nước ta, xây bằng vật liệu, tiền của và sức lao
động của nhân dân ta. Hành động ăn cướp này không phải chỉ xẩy ra ở Nam Bộ mà
xẩy ra trên toàn thể lãnh thổ Viiệt Nam, nghĩa là bất kỳ nơi nào mà quyền lực
của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican vươn tới.
LỌAI TỘI ÁC THỨ BA:
Đây là tội ác cấu kết
với đế quốc thực dân xâm lược Pháp bóc lột dân ta đến tận xương tận tủy bằng các
hình thứ đóng thuế (thuế thân, thuế muối, thuế chợ, bị cưỡng bách phải tiêu thụ
rượu do Nhà Nước Sản xuất, v.v...) và nhiều thứ đóng góp khác như bị cưỡng bách đi
làm lao nô phục dịch trong các công trường xây cất các dinh thự của Nhà Nước,
xây cất các nhà thờ nguy ngay vĩ đại với những tháp chuông cao chót vót đế tận
lưng trời, những chủng viện, tu viện và rất nhiều cơ sở hay xí nghiệp kinh doanh
của Nhà Thờ Vatican. Tình trạng này đã khiến cho dân ta phải sống trong cảnh
đói khổ triền miên suốt từ năm 1885 mà cao độ là dân ta phải rơi
vào thảm họa chết
đói tới hai triệu người trong mấy tháng đầu năm Ất Dậu 1945.
LOẠI TỘI ÁC THỨ TƯ:
Đó là tội ác tra tấn những nạn nhân bị chúng nghi ngờ và
bắt được
một cách cực kỳ dã man, tàn sát các nhà ái quốc cách mạng, các
chiến sĩ nghĩa
quân trong các tổ chức kháng chiến
trong đại cuộc giải phóng đất nước và
dân tộc. Điển hình như:
1.- Ngô Đình Khả đào mả cụ
Phan Đình Phùng, lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống
sông Lam Giang để trả thù người đã chết theo truyền thống lâu đời trong đạo
Ki-tô.
2.- Ngô Đình Diệm trói các
tù nhân làm cách mạng cứu nước vào một cái ghế có khoét lõ ở chính giữa, rồi
dùng đèn cầy (nến) đốt ở dưới để tra khảo lấy khẩu cung.
3.- Bọn lính đạo Phát Diệm
dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Hoàng Quỳnh bắt được ba người ngọai đạo ở các
làng bên. Chúng cho rằng nạn nhân là Việt Minh và tra tấn họ cực kỳ dã man. Sáng
hôm sau, các nạn nhân bị điệu ra cột cờ ở trước sân chợ và bị đánh đập hết sức
man rợ với chủ tâm để khùng bố tinh thần những người trong chợ. Sau đó, chúng
đâm chết một trong ba nạn nhân này, phanh ngực, móc mật đem hòa với rượu, moi
lấy gan đem nướng, rồi ngồi nhậu hả hê với nhau. Sau đó, hai nạn nhân còn lại bị
bắn chết, và cả ba nạn nhân đều bị chúng chặt lấy đầu đem xâu vào một cái sào,
rổi đem cắm ở bên vệ đường ở đầu làng. Chuyện này và nhiều chuyện hết sức rung
rợn khác sẽ được trình bày đầy đủ nơi Chương 13 ở sau.
II.- TỘI ÁC CỦA VATICAN VÀ GIÁO DÂN NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KỲ 1954-1975
Đây là những rặng núi tội
ác chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn mới của lịch sử.
Những rặng núi tội ác này cũng được phân loại ra làm nhiều loại như sau:
LOẠI TỘI ÁC THỨ NHẤT:
Đây là tội ác cấu kết với đế quốc xâm lược Mỹ gây nên cuộc chiến Mỹ - Việt và
làm cho nhân dân ta trong toàn quốc phải lao vào cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh
Xâm Lược Mỹ - Vatican để giải phóng miền Nam đem lại thống nhất cho đất nước.
Trong cuộc chiến này, liên minh giặc và bọn đầu nậu dân Chúa bán nước cho giặc
đã tàn phá đất nước bắng những thứ vũ khí hiện đại nhất với một số bom đạn khồng
lồ nhiều hơn 3 lần tổng số bom được cả hai phe lâm chiến sử dụng trong thời
Đê Nhị Thế Chiến. Theo bài viết “Đôi điều nhận xét về những phát biểu của Bà
Dương Nguyệt Ánh” của tác giả Nguyễn Hai đăng trên giaodiemonline.com ngày
03/12/2007 và sachhiem ngày 26/2/2009, thì con
số lượng bom đạn và số lượng chất độc hóa học cũng như sinh mạng người Việt và lính
Mỹ bị giết hại trong cuộc chiến này được ghi nhận như sau:
“Mỹ đã thả
xuống Việt Nam 6,727,084 tấn bom. Lượng bom nhiều gấp 2.5 lần lượng bom đã sử
dụng trên toàn thế giới trong Thế Chiến Thứ Hai.
Mỹ đã rải
xuống Việt Nam 18 triệu gallons chất độc hóa học, trong đó có khoảng 12 triệu
gallons là chất độc màu da cam (Agent Orange).
2,122,244
người chết, trong đó chỉ có 58,169 lính Mỹ.
3, 650, 956
người bị thương.
440,000 lính
của miền Bắc và 220,537 lính của miền Nam đã chết.
587,000 thường
dân đã chết.”
[3]
.
Cũng nói về số lượng bom
đạn và số lượng chất độc hóa học do quân đội Mỹ sử dụng để tàn phá ruộng vuờn
và tàn sát nhân dân ta, nhà viết sử Stanley I. Kutler viết:
“Từ năm 1965 cho đến năm
1973, Hoa Kỳ đã dùng tới hơn 14 triệu tấn thuốc nổ thuộc loại hiện đại nhồi
trong bom và đạn đại pháo để đánh phá cái diện tích bé nhỏ này. Riêng về khối
lượng bom do không quân Hoa Kỳ sử dụng cũng đã lên tới hơn 7 triệu tấn,
hơn gấp 3 lần tổng số bom được sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến.
Phần lớn những bom trong các trận không kích và đạn đai bác do pháo binh bắn phá
(gần 12 triệu tấn) thực sự là những hóa chất có công dụng làm rụng lá cây đã sử
dụng ở miền Nam Việt Nam. Mục đích của nó là hủy diệt hạ tầng cơ sở của Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam và cũng là để Mặt Trận mất đi sự ủng hộ của quần chúng
miền Nam bằng cách đẩy họ chạy về các vùng do chính quyền miền Nam kiểm soát.
Trong một buổi điều trần tại Quốc Hội vào tháng 1 năm 1966, ông Tổng Trưởng
Quốc Phòng Robert McNamara đưa ra chứng cớ về sự thành công của các cuộc tấn
kích bằng trọng pháo và không kích kể cả những phi vụ B.52 nhằm mục đích cưỡng
bách người dân trong vùng “phải di chuyển về những nơi an toàn, khỏi phải bị tấn
kích như vậy bất kể là thái độ của họ đối với chính quyền Miền Nam.” Ông
McNamara nói tiếp,” làm như vậy không những phá vỡ được những hoạt động của quân
du kích Việt Cộng, mà còn làm cho nền tảng kính tế của đối phương suy sụp.
Tuy nhiên, tác dụng của việc sử dụng những thứ vũ khí như trên đã hủy diệt
gần 1/3 ruộng đất canh tác và gần 50% xóm làng của người dân Việt. Vào năm
1972, theo bản báo cáo của tiểu ban Thượng Viện Hoa Kỳ thì bom và đạn trọng pháo
của Mỹ đã làm cho cà 10 triệu người phải bỏ làng xóm đị tỵ nạn và hầu hết đã gây
tổn thất cho người dân. ”
[4]
Riêng về chất độc Da Cam,
một thứ vũ khí hóa học cực kỳ độc hại được quân đội Mỹ sử dụng với sự hồ hởi
nhiệt liệt tán thành của Tổng Thống Ca-tô Ngô Đình Diệm, tác giả sách Chất Độc
Màu Da Cam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005) ghi nhận như sau:
“Ngày 30/11/1961, Tổng
Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang
đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam
Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin
rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[5]
Vì thế mà chiến dịch khai
quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê
gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:
“Quân đội Mỹ rải 77
triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác
hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585
thôn ấp.”[6]
LOẠI TỘI ÁC THỨ HAI:
Đây là tội ác mà chính quyền và Nhà Thờ Vatican cũng như bọn dân Chúa
coi miền Nam như là tài sản riêng của Vatican và của họ. Vì thế họ mới tự cho là
họ có toàn quyền tung tác muốn làm gì thì làm, theo đúng tinh thần của Sắc Chỉ
Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas
V (1447-1455) mà chúng tôi đã trình bày rõ ràng và đầy đủ nơi Chương 1 ở trên.
Dưới đây là những sự kiện nói lên những tội ác mà họ đã làm:
1.- Cưỡng ép
nhân dân miền Nam Việt Nam phải dùng từ kép “Công Giáo” thay vì sử dụng các
từ kép “Ki-tô giáo”, “Da-tô giáo”, Cơ Đốc giáo” để nói về đạo Thiên Chúa La Mã.
Sự kiện này được người của Nhà Thờ là Linh-mục Vũ Đình Hoạt ghi lại trong cuốn
Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan như sau:
"Nếu nói hoặc viết chỉ nguyên Công giáo mà
thôi, thì đó phải hiểu và bắt buộc phải hiểu chứ không thể hiểu khác đi được: đó
chính là Giáo Hội La Mã hoặc Vatican mà Đức Giáo Hoàng là vị lãnh đạo tinh thần
tối cao của toàn thể Thế Giới Công Giáo. Riêng tại Việt Nam kể từ năm 1533
cho đến năm 1954 khi mà các danh từ Thần Học và Kinh Thánh chưa được
Hàn Lâm Viện Hóa, nói cách khác chưa được Đại Chủng Viện thuần túy Việt Nam dịch
thuật các sách giáo khoa và Phụng Vụ cũng như Kinh Thánh các danh từ cổ như
Thiên Chúa Giáo hoặc Gia Tô Giáo trong các sách vở lịch sử hay "Nhà Đạo" vẫn
được hiểu cách chung là Đạo Công Giáo, vì lẽ khi đó chưa có đạo Tin Lành trên
đất nước Việt Nam, và các nhà truyền giáo cũng chỉ nguyên thuộc Hội Truyền Giáo
Thừa Sai Ba Lê (MEP) mà thôi. Kể từ năm 1954 về sau này khi mà đã có Đại
Chủng Viện Việt Nam chuyên môn dịch các sách Kinh Đạo Thần (Kinh Thánh, Đạo Đức
và Thần Học), lúc ấy mới có sự phân biệt rõ "Công Giáo" (Catholic), bắt nguồn từ
Kinh Tin Kính "Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông
truyền". (Sách lễ giáo dân sở di trú và tị nạn USCC. Hoa Thịnh Đốn, trang 1370).
Vậy kể từ năm 1954 về sau này, các sách vở Việt Nam, nếu
muốn trực chỉ nguyên Giáo Hội La Mã hoặc Vatican, thì bắt buộc phải dùng danh
từ Công Giáo (Catholic), chứ không thể nào dùng danh từ Thiên ChúaGiáo hoặc Gia-
tô hoặc Ki Tô được. "
[7]
2.-
Tổ chức buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2/1959 và mời Hồng Y
Agagianian, sứ thần của Vatican tại Sàigòn, đến làm chủ tế để dâng nước Việt Nam cho
Vatican được ngụy trang là dâng cho Đước Mẹ Vô Nhiễm.[8]
3.- Vinh danh các giáo sĩ
và tín Da-tô người Việt đã phạm tội chống lại tổ quốc Việt Nam trong hai thế kỷ
18 và 19: Ngay
khi ông Diệm vừa mới được Hoa Kỳ và Vatican đưa về cầm quyền ở Việt Nam, bọn Việt
gian Da-tô tay sai của Giáo Hội ở Sàigòn hồ hởi vinh danh những tên tội đồ chống
lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ thế kỷ 17. Hành động bất chính này
được thực hiện bằng cách dùng danh tính của những tên tội đồ khốn nạn này đặt
tên cho các trường học, đường phố ở Sàigòn và nhiều thành phố lớn khác ở miền
Nam Việt Nam. Ai đã từng sống ở Sàigòn trong những năm 1954-1975 đều thấy có một
số trường học và đường phố Sàigòn mang tên những tên tội đồ
khốn kiếp này.
Về trường học, chúng ta thấy có các trường học như Trường Pétrus Ký, Trường
Nguyễn Tường Tộ, Trường Trần Lục, Trường Hồ Ngọc Cẩn, Trường Nguyễn Bá Tòng,
Trường Nguyễn Duy Khang (ở Thị Nghè), Trường Lê Bảo Tịnh, Trường Thánh Thomas
(Nhà Thờ Ba Chuông), v.v...
Về đường phố,
thì có Đường Tổng Đốc Lộc (Da-tô Trần Bá Lộc), Đường Tổng Đốc Phương (Da-tô Đỗ
Hữu Phương), Đường Alexandre de Rhode, Đường Pétrus Ký, Đại Lộ Ngô Đình Khôi,
Đường Nguyễn Bá Tòng, Đường Huỳnh Tịnh Của, Đường Phát Diệm, Đường Bùi Chu, v.v...
Đặc biệt ở Vĩnh Long, lại có Đại Lộ Ngô Đình Thục.
4.- Cảnh sát hóa chính
quyền và thiết lập bộ máy đàn áp nhân dận
bằng những tổ chức công an, mật vụ như thiên la địa võng mà nhân sự gồm toàn
những tín đồ Ca-tô cuồng tín nắm giữ chức vụ chỉ huy.[9]
5.- Tiến hành kế hoạch
Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực
để đạt được chỉ tiêu mà ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố:
“Tôi có cả một
chương trình, đã bàn tính kỹ với Đức Giám Mục sẽ làn hồi tiến tới chỗ mà Hội
Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười
năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.”
[10]
6.- Tàn sát tới hơn 300
ngàn dân Lương
trong các chiến dịch “làm sáng danh Chúa” nằm trong Kế Hoạch Ki-tô Hóa nhân dân
miền Nam để theo đúng chỉ tiêu như đã nói ở trên.[11]
7.- Phóng tay cướp đoạt tài
nguyên, ăn chặn tiền ngoại viện, lũng đoạn chính quyền, nắm độc quyền kiểm soát
tất cả mọi pham vi sinh hoạt xã hội và bóc lột nhân dân bằng trăm phương ngàn
kế. Tất cả những thủ đoạn ăn cướp này đều được các chứng nhân của thời
cuộc và sách sử ghi lại rõ rằng. Dưới đây là một trong muôn ngàn vụ được sách
Việt Nam Máu lửa Quê Hương Tôi ghi lại với nguyên văn như sau:
“Chuyện thứ sáu là
trường hợp bờ biển Hòn Chồng Nha Trang. Hàng trăm năm người Pháp đô hộ vẫn giữ
cho bờ biển Hòn Chồng cái vẻ thiên nhiên mỹ miều của vùng đất thùy dương cát
trắng. Nhưng đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975), khi Giám-mục Nguyễn Văn Thuận
quản nhiệm giáo phận Nha Trang, vì vốn có thế lực trong Dinh Độc Lập như đã nói
trước kia, nên ông xây cất tại bờ biển Hòn Chồng hai dẫy lầu kiến trúc đồ sộ để
làm Giáo Hòang Chủng Viện (?). Từ đó, du khách bốn phương và nam thanh nữ tú Nha
Trang bị giới hạn không còn lui tới vui đùa đông đào nơi bãi bể Hòn Chồng nữa.”
[12]
Trên đây là một số tội ác nhỏ
nhoi trong khu rừng tội ác dựa vào chính quyền để cướp đoat tài nguyên quốc
gia, khống chế và kiểm soát tất cả mọi sinh họat trong nhân dân, nắm độc quyền
trong mọi lãnh vực làm ăn trong xã hội, chiếm công vi tư, thâm lạm công quỹ, ăn
chặn tiền ngoại viện, mua quan bán chức, độc quyền buôn bán lậu nha phiến, bóc
lột nhân dân bằng trăm phương ngàn kế để vơ vét cho đầy túi tham của Nhà Thờ và
cho cá nhân của họ. Tất cả những hành động bất chính, đại gian đại ác này đều
được các nhà viết sử và các chứng nhân đương thời ghi vào trong các tác phẩm của
họ. Xin xem các chương 69, 70, 71, 90, 92 và 93 (Mục XXI, Phần VI) trong bộ
sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Các chương sách này có thể đọc
online.com trên sachhiem.net.
8.- Bảo quản khối bất động sản khổng lồ mà
Vatican đã cướp đoạt của nhân dân ta từ năm 1862-1954
trên toàn thể lãnh thổ và ở miền Nam trong những năm 1954-1975.[13]
LOẠI TỘI ÁC THỨ BA:
Đây là trọng tội vừa chống lại nhân dân Việt Nam, vừa chống lại nhân dân thế
giới. Lý do: Nhà thờ Vatican và chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm sử
dùng các tổ chức mật vụ và một số phi cơ vận tải của binh chủng Không Quân
để phối hợp
với cảnh sát vào việc nhập cảng thuộc phiện lậu từ Ai Lao về Sàigòn để (1) biến
chế thành thuốc phiện “chín” rồi phân phối cho dân nghiền ở Sàigòn - Chợ Lớn,
và (2) biến chính quyền miền Nam thành một bộ phận đặc trách cung cấp thuốc
phiện sống cho tổ chức tội ác quốc tế tại Marseille (Pháp) để biến chế
thuốc phiện sống này thành
bạch phiến rồi chuyển vận sang Mỹ Châu phân phối cho khách hàng tiêu thụ tại Hoa
Kỳ. Tất cả những tội ác này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Những tài liệu nói
về vấn đề này đều có bán ở ngoài thị trường và đều có ở trong các thư viện tại
bất kỳ thành phố nào trong bất kỳ quốc gia nào không bị Nhà Thờ Vatican khống
chế. Xin xem Chương 91 (Mục XXI, Phần VI) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác
của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.
1.- Về tội ác nhập cảng thuốc
phiện lậu từ Ai Lao về Sàigòn, rồi biến chế và phân phối cho các tiệm hút ở
Chợ Lớn và Sàigòn, sách The Politics of Heroin in Southeast Asia (New York:
Harper Colophon Books, 1972) nói rõ chính quyền Ngô Đình Diệm chủ động việc tổ
chức kinh tài bất chính này và mở rộng các tiệm hút ở Sàigòn - Chợ Lớn tử mấy
trăm tiệm hút trong những năm 1950-1955 lên đến 2500 tiệm hút trong những năm
1958-1963. Dưới đây là mấy đoạn văn nói về tội ác này:
“Triều Đại Diệm và Băng
Đảng Ăn Cướp Ngô Đình Nhu:…Nhưng
Ngô Đình Nhu quyết định tái lập việc buôn bán nha phiến để lấy tiền. Dù là hầu
hết các tiệm hút ở Sàigòn đã đóng cửa cả ba năm rồi, hàng ngàn dân nghiện người
Tầu và người Việt vẫn còn thèm muốn được hút trở lại. Ông Nhu cho người tiếp xúc
với những lãnh tụ của các tổ chức có thế lực của người Tầu ở Chợ Lớn để mở lại
các tiệm hút và thiết lập một hệ thống phân phối thuốc phiện nhập cảng lậu cho
họ sử dụng. Chỉ trong vòng có mấy tháng, hàng trăm tiệm hút thuốc phiện này đã
hoạt động trở lại, và năm năm sau, một phóng viên của tờ Time – Life lượng định
ở Chợ Lớn có tới 2.500 tiệm hút thuốc phiện họat động công khai.
Để có thể cung ứng thuốc
phiện đầy đủ cho khách hàng tiêu thụ, Ngô Đình Nhu thiết lập hai hệ thống đường
bay khứ hồi từ vùng sản xuất thuốc phiện sống ở Lào về miền Nam Việt Nam. Hệ
thống đường bay chính là thuê mướn mấy phi cơ nhỏ của hãng Hàng Không Lào, giao
cho tên bất lương nổi tiếng nhất Đông Dương Bonaventure “Rock” Francisci, người
Corse, điều khiển. Dù là tối thiểu có đến 4 chiếc phi cơ nhỏ chuyển vận thuốc
phiện lậu từ Ai Lao về miền Nam Việt Nam, nhưng chỉ có một mình cá nhân
Francisci trực tiếp nói chuyện và thương lượng với Ngô Đình Nhu. Theo Trung Tá
Lucien Conein, một cựu viên chức cao cấp CIA ở Sàigòn, mối liên giữa Ngô Đình
Nhu và Francisci về dịch vụ bất chính này khởi đầu vào năm 1958. Sau khi Nhu bảo
đảm an toàn cho việc đem thuốc phiện về Sàigòn, hàng ngày, Francisci dùng đoàn
máy bay Beechtcrafts hai động cơ chuyển vận món hàng này về miền Nam Việt Nam..
Ngoài ra, Ngô Đình Nhu còn phái nhân viên tình báo đến Lào với nhiệm vụ là
chuyển vận thuốc phiến sống về miền Nam Việt Nam bằng phi cơ của Không Lực Việt
Nam.
Trong khi Ngô Đình Nhu nói
chuyện và thương lượng trực tiếp và cá nhân Francisci, Bác-sĩ Trần Kim Tuyến
trực tiếp điều hành những toán điệp viên họat động ở Lào. Dù rằng, hầu hết các
tài liệu mô tả Nhu như là một nhân vật quỷ quyệt nham hiểm của chế độ Diệm,
nhiều người trong nội bộ lại cho rằng ông tu xuất Trần Kim Tuyến mới thực sự là
nhân vật chủ chốt của kế hoạch làm ăn bất chính này. Đứng đầu tổ chức mật vụ có
danh xưng tàng hình là Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính Trị, Bác-sĩ Tuyến chỉ huy
một hệ thống tình báo rộng lớn bao gồm cả Lực Lượng Đặc Biệt (do CIA tài trợ),
Sở An Ninh Quân Đội, và quan trọng nhất là Đảng Cần Lao. Qua Đảng Cần Lao,
Bác-sĩ Tuyến tuyền mộ điệp viên và cán bộ chính trị ở trong tất cả các cơ quan
trong chính phủ và trong quân đội Chính quyền Sàigòn kiểm soát chặt chẽ việc
thăng thuởng, và chỉ những người cộng tác với Bác-sĩ Tuyến mới được thăng chức
mau chóng. Nhờ có những khoản tiền kếch sù do việc buôn bán ma túy, ăn hôi lộ
và các thứ tham nhũng khác, Sở Nghiên Cứu Xã Hội và Chính Trị của Bác-sĩ Tuyến
có thể mướn hàng ngàn phu đạp xích lô, gái nhẩy tại các quán khiêu vũ và những
người bán hàng rong ở ngoài đường phố để làm chỉ điểm viên cho sở. Nhờ vậy mà ở
mỗi một góc đường phố ở Sàigòn-Cholon đều có chỉ điểm viên của sở mật vụ của
Bác-sĩ Tuyến. Thay vì cho người theo dõi một đối tượng, Bác-sĩ Tuyên chỉ cần ra
khẩu lệnh cho các chỉ điểm viên tại các góc phố truyền tin tức của đối tượng cho
nhau biết. Nhờ vậy mà sở biết được đầy đủ những chi tiết về di chuyển, nơi họp
mặt và nội dung các cuộc họp của đối tượng. Một số các nhà quan sát cho rằng
Bác-sĩ Tuyến có hàng trăm ngàn nhân viên mật vụ làm việc toàn phần và bán thời
gian. Qua hệ thống mật vụ tuyệt vời như vậy, Bác-sĩ Tuyến có đầy đù hồ sơ với
rất nhiều chi tiết của tất cả mọi nhân vật quan trọng của miền Nam Việt Nam, đặc
biệt là có cả hồ sơ của ông Diệm, ông Nhu, bà Nhu và những hồ sơ này được gửi ra
nước ngoài như là hình thức “bảo hiểm nhân thọ” của mỗi cá nhân.
Vì có trách nhiệm điều
hành phần lớn hệ thống tình báo hải ngoại của chế độ Diệm, cho nên Bác-sĩ Tuyến
có thể ngụy trang hay che giấu những dịch vụ mua thuốc phiện ở Lào bằng những
công việc bình thường trong hệ thống tình báo của ông.”[14]
2.- Về tội biến chính
quyền miền Nam thành một bộ phận cung cấp thuốc phiện sống cho tổ chức tội ác
tại Marseille để biến chế thành bạch phiến,
sách Những Cái Chết của Các Ông Vua Thời Chiến Tranh Lạnh: Vụ Ám Sát Ngô Đình
Diệm & J.F. Kennedy ghi nhận như sau:
“Francisci Đá làm việc
hoàn toàn cho băng Marseille, lúc bấy giờ do Antoine Guerini và anh trai của y
là Barthélemy điều hành. Không có gì quá đáng khi nói rằng đặc quyền buôn bán
bạch phiến ở Mỹ cũng như Tây Âu hoàn toàn bị anh em Guerini chi phối. Và
năm 1958, khi Diệm, Nhu tái lập lưu thông thuốc phiện về Sàigòn, Francisci khó
có thể hoan hỉ hơn để làm sống lại nghề cũ của ông là vận chuyển thuốc phiện từ
gốc sản xuất ở Lào đi thẳng về Nam Việt Nam bằng một phi đội máy bay riêng của
hắn. Nhưng thậm chí có thể kiểm được nhiều tiền hơn từ việc bán thuốc phiện trực
tiếp cho hàng trăm ổ hút và hàng ngàn con nghiện ở Sàigòn. Việc sản xuất thuốc
phiện ở các nơi khác trên thế giới – đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico – ngày
càng thất thường, và không chắc chắn vì liên tục bị pháp luật ngăn trở. Tình
hình này chỉ làm lợi thêm cho Guerini bởi vì nó gia tăng thị phần ma túy của y.
Chuyện này xẩy ra như thế nào?
Nhu và Francisci Đá thực
hiện một hợp đồng phân phối cơ bản. Francisci sẽ vận chuyển thuốc phiện đến
Sàigòn cho các ổ hút của Nhu, nhưng hắn còn chở nhiều thuốc phiện cho các điểm
thả dù ở Sàigòn. Tại đây, thuốc phiện sẽ được máy bay vận tải chở sang các xưởng
chế biến ở Marseille. Tại Marseille, thuốc phiện sẽ được chế biến thành bạch
phiến có chất lượng cao để bán cho các trùm ma túy ở Mỹ như Santos Traffiante,
Carlos Marcello, và Sam Giancana. Tất cả đều làm giầu trong chuyện này, và ai
cũng thấy được rằng đó là chuyện làm ăn rất an toàn, bởi vì Nhu có thể được coi
như là một thứ Bộ Trưởng Tư Pháp của Nam Việt Nam, ông ta không phải ưu tư hay
trả lời trước bất cứ một cơ quan thi hành pháp luật nào. Ông ta là luật pháp, và
ông ta sử dụng sức mạnh này để đảm bảo cho Francisci - và khách hàng của ông ở
Marseille – một nguồn cung cấp thuốc phiện ổn định để sản xuất bạch phiến.
Một vụ làm ăn ngon lành!
Với vị trí quyền lực trong
chính phủ Nam Việt Nam, Nhu có thể bảo đảm rằng các máy bay chở đầy thuốc
phiện của Francisci (đội lốt vận tải “ngoại giao”) có thể bay từ Lào đáp xuống
Sàigòn và chuyển hàng xong hết mà không gặp nhiều kiểm tra phiền toái. Thậm chí
Nhu còn tăng năng suất đều đặn trong hai năm 1961 và 1962 bằng cách huy động Đội
Vận Tải Số 1 của riêng ông (chuyên hoạt động tình báo trên không [thỉnh thoảng
bay phối hợp với CIA] vào việc đó. Giữa năm 1958 và 1963, Sàigòn thực sự trở
thành kho hàng chứa thuốc phiện thô mà phần lớn sẽ chuyển tới Marseille để cuối
cùng thỏa mãn nhu cầu của con nghiền bạch phiến ở Mỹ.
Tuy nhiên, Nhu còn có những
khuyến khích khác cho hợp đồng béo bở này. Trong lúc các máy bay vận tải thuê
riêng của Francisci – Thường gọi là Hàng Không Thương Mại Lào – hàng ngày chở
thuốc phiên (thô) tới Sàigòn mà không bị luật pháp gây rắc rối, thì những tay
cung cấp nhỏ hơn không được an toàn như vậy. Lực lượng cảnh sát của Nhu sẽ lập
tức hỏi thăm họ vì đã dám lấn sân của Francisci.
Anh em Guerini không thể
nào phấn chấn hơn trước hợp đồng của Francisci, và cũng không thể nào hài lòng
hơn về Nhu vì ông đã giúp thực hiện được hợp đồng đó. Hợp đồng này giúp cho anh
em Guerini trở thành những ông trùm ma túy toàn cầu vào cuối thập niên 1950 và
đầu thập niên 1960. Đồng thời, nó tạo ra một liên minh tội phạm vững như bàn
thạch giữa Nhu và tập đoàn Marseille. Nhu, Diệm, và toàn bộ dòng họ Ngô Đình ai
cũng nổi lên giầu có khác thường nhờ vào liên minh này (trong khi vẫn kiếm được
nguồn tài chính bất minh cần thiết cho cảnh sát, mật vụ và tình báo). Quan trọng
hơn thế, anh em tội phạm Guerini thậm chí còn tích lũy được nhiều của cải hơn,
và những khách hàng chủ yếu của họ - Mafia Mỹ - cũng vậy.
Cho nên, về căn bản, tập
đoàn Marseille, Mafia Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã biến thành những đối
tác làm ăn của nhau trong màng lưới ma túy toàn cầu. Có nghĩa là tiền tỉ, tiền
tấn chẩy vào túi người nào có dính dáng, dĩ nhiên là thế. Và nguồn suối mạnh
nhất không ngừng phát sinh ra tiền bạc và sức mạnh này chính là Ngô Đình Nhu.”
[15]
Cũng trong cuốn sách này,
nơi hai trang 303-304, các tác giả viết:
“Thứ nhì, ông ta
(Michael Victor Mertz) cũng có động cơ vững chắc để muốn Kennedy phải chết.
Kennedy và Bộ Tư Pháp do em trai Robert (Kennedy) của ông ta chỉ đạo đang tiến
hành một cuộc chiến toàn diện chống Mafia, nhất là các ông trùm tội phạm có tổ
chức như Carlos Marcello, Sam Giancana, và Santos Trafficante, tất cả những kẻ
điều hành hệ thống phân phối bạch phiến trên đất Mỹ, và tất cả những kẻ nhận
hàng từ các lò bạch phiến Marcseille của Antoine Guerini. Và chúng ta biết rằng
Mertz đã trực tiếp làm việc cho tập đoàn bạch phiến đó. Cuộc tấn công của
Kennedy nhằm vào các trùm Mafia Mỹ đã đe dọa sự ổn định của thị trường ma túy,
mà điều này lại đe dọa thị trường bạch phiến Marseille của Guerini. Hầu như
tất cả bạch phiến bán cho con nghiền Mỹ đều xuất phát từ Marseille sau khi nó
được chế biến từ thuốc phiện sống do Ngô Đình Nhu cung cấp.”
[16]
Và nơi hai trang 306-307,
chúng ta thấy:
“Chúng ta có tập đoàn bạch
phiến quốc tế, đặt tổng hành dinh ở Marseille, Pháp, và do anh em Guerini người
Pháp điều hành. Nguồn cung cấp phần lớn nguyên liệu thuốc phiện cho họ là
thông qua Nhu và kẻ trung gian là Rock Francisci, cũng là một người Pháp.
Bây giờ ta gặp một người
Pháp nữa, giống Rock Francisci, đã sống gần như suốt đời ở Đông Nam Á. Người này
là Matthew Franchini. Bề ngoài ông ta được mô tả như một thương gia trên nguyên
tắc và là chủ khách sạn đáng kính (ông ta sở hữu chủ Khách Sạn Continental nổi
tiếng ở Sàigòn). Tuy nhiên, sự thực thì Franchini là bộ não đằng sau các chuyến
hàng thuốc phiện của Rock Francisci từ Sàigòn sang các lò bạch phiến ở
Marseille. Tại sao điều này quan trọng thế?
Vì Franchini là một khâu vô
giá trong đường dây chỉ huy của thế giới ngầm Marseille, nếu không muốn nói là
đường dây chỉ huy tập đoàn bạch phiến toàn cầu. Franchini cung cấp cho
Marseille sản phẩm morphine vốn được Rock Francisci chở thoải mái về Sàigòn
(những chuyến bay do Nhu bảo kê)….”
[17]
Tóm lại, trong những năm
1955-1963, Nhà Thờ Vatican và bạo quyền Ngô Đình Diệm đã biến miền Nam thành một
trung tâm cung cấp thuốc phiện sống cho tổ chức Mafia quốc tế tại Marseille.
Trung tâm này chuyên nghề biến chế thuốc phiện sống này thành bạch phiến rồi
chuyển vận sản phẩm này sang Bắc Mỹ để phấn phối cho khách hàng tiêu thụ ở Hoa
Kỳ. Đây là một hệ thống tội ác quốc tế tay ba:
1- Nguồn cùng cấp thuốc
phiện sống là miền Nam Việt Nam do anh em Ngô Đình Diệm điều hành.
Cơ quan phụ
trách chuyển thuốc phiện sống từ Lào về là Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Lào, và tổ
chức mật vụ do Trần Kim Tuyên chỉ huy. Người phụ trách chuyển vận thuốc phiện
sống từ Continental ở Sàigòn đi Marseille là Rọck Fracncisci, một Pháp kiều đã ở
Việt Nam lâu năm. Trụ sở là khách sạn Continental.
2.- Trung tâm biến chế
thuốc phiện sống thành bạch phiến đặt cơ sở tại Marseille (Pháp) do anh em
Antoine Guerini nguời Pháp điều khiển.
3.- Trung tâm phân phối
bạch phiến tại Bắc Mỹ dưới quyền điều khiển của các tay trùm Carlos Marcello,
Sam Giancana và Santos Traficante.
Phần trình bày trong tiểu
mục trên đây cho chúng ta thấy rõ chính quyền Ngô Đình Diệm do Hoa Kỳ và Vatican
dựng nên là một băng đảng ăn cướp, đúng như sử gia Alfred W. McCoy, tác giả cuốn
The Politics of Heroin in South Asia đã gọi cái chính quyền này là “Triều
Đại Diệm và Băng Đảng Ăn Cướp Ngô Đình Nhu” (Diem's Dynasty and the
Nhu's Bandits ). Thực ra, đây cũng là cái bản chất ăn cướp của Nhà Thờ Vatican
và nhóm thiểu số dân Chúa Việt Nam. Cũng vì cái bản chất ăn cướp này mà ngay khi
vừa mới được Hoa Kỳ và Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền, thì chính quyền Ngô
Đình Diệm và Nhà Thờ Vatican đã phóng tay cướp đoạt tài sản quốc gia, bóc lột
nhân dân và vơ vét không biết bao nhiều của chìm của nổi của dân ta để tích lũy
cho đầy túi tham và gửi ra các ngân hàng ngoại quốc. Vì thế mà, chỉ mới cầm quyền
được có hai (2) năm thôi mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã chuyển ra ngân hàng
ngoại quốc tớ 18 tỉ Mỹ kim. Số tiền khổng lồ này được
Sử gia William J. Lederer viết trong sách Our Worst Enemy như sau:
"Ngoài sự
tăng lên rõ rệt về số vàng dự trữ của Sàigòn, theo các mật báo viên người Thụy
Sĩ và người Trung Hoa của tôi, từ năm 1956, một số người Việt Nam (quyên thế) đã
chuyển 18 tỉ Mỹ kim vào các nhà ngân hàng ngoại quốc. Sau đó không bao
lâu, qua một người hùn vốn kín miệng, tôi được biết bà Ngô Đình Nhu đã mua một
ngân hàng lớn hàng thứ nhì tại kinh thành Paris, trả bằng tiền mặt.” (Nguyên
văn: In addition to the visible increase in Saigon’s gold reserve,
approximately $18 billion, according to my Swiss and Chinese informants, has
been sent to foreign banks by private Vietnamese individuals since 1956. Not so
long ago, Madame Nhu, through a silent partner, purchased outright the second
largest private bank in Paris. For cash.”[18]
LOẠI TỘI ÁC THỨ BA:
Chủ trương thi hành
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ. Vấn đề này đã được trình bày trong
Chương 7 và Chương 8 ở trên. Trong chủ trường thi hành chính sách ngu dân này,
Nhà Thờ Vatican không những cắt xén rất nhiều tiết mục trong các môn
Sinh Vật Hoc (Biology), Sử (History), Công Dân (Civics), không những kiểm
soát chặt chẽ gắt gao các môn học này, mà còn hạn chế, không cho mở thêm
nhiều các trường công lập với dã tâm là tạo nên tình trạng thất học chiếm một
tỉ lệ càng cao thì càng tốt đối với Giáo Hội La Mã. Cũng nên biết rằng, người
dân càng ngu dốt, thì Giáo Hội càng dễ dàng dùng tín lý Ca-tô và lời dạy nặng
tính phình gạt, lừa bịp để dụ khị và lùa người dân vào cái tròng Ca-tô (Cathloic
loop). Hơn nữa, khi mà trường công lập càng ít thì Giáo Hội càng có nhiều cơ hội
thiết lập các trường tư thục vừa để kinh tài, vừa để đào tạo thanh thiếu niên
theo tinh thần Công Giáo. Ý đồ bất chánh này là chủ trương cố hữu lâu đời của
Nhà Thờ Vatican và chủ trương này đều được sách sử ghi lại rõ ràng:
“Giáo Hoàng Pius IX
(1846-1878) lên án các trường công lập” Nguyên văn: “Public Schools
condemned by Pope IX.”
[19]
Sách Tôn Giáo và Dân Tôc
cũng viết:
“Giáo Hội cần có một nền
giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền
bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.”
[20]
Cũng nằm trong chính sách
ngu dân này, Vatican và chính quyền đạo phiệt Ngô Đình Diệm đưa những người của
Nhà Thờ vào nắm giữ những chức vụ quan trong các đại học Văn Khoa Sàigòn, Đại
Học Huế và Đại Học Đà Lạt. Chẳng hạn như Linh-mục Cao Văn Luận chỉ có bằng cử
nhân về môn triết học Tây Phương được đưa lên làm Viện Trưởng Đại Học Huế, một
linh mục khác được đưa lên làm Viện Trưởng Đại Học Đà Lạt. Nhiều tín đồ Ca-tô
khác thiếu hẳn tiêu chuẩn về kiến thức như ông Lê Hữu Mục, Phạm Việt Tuyền, thì
được đưa vào làm giáo sư giảng dạy môn văn tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn và Đại
Học Huế. Sự dốt nát về môn văn và môn sử của ông giáo sư Lê Hữu Mục được thể hiện ra qua lời
tuyên bố của ông ta rằng, “Trước khi viết Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã đọc
Thánh Kinh”. Sự kiện này được tác giả Đỗ Quang Vinh ghi lại trong cuốn Bút
Thuật của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh với nguyên văn như sau:
“Hoặc như học giả Lê
Hữu Mục, mới đây nhất, lại cho rằng trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc
Thánh Kinh và trong tư tưởng của Nguyễn Du không hẳn chỉ tìm thấy vết tích của
Phật, Lão, Nho mà còn cả Thiên Chúa Giáo nữa.”[21]
Ông Lê Hữu Mục không những dốt nát về văn học
Việt Nam (như trường hợp trên đây) mà còn dốt nát cả về môn sử. Không biết cái
thân phận dốt nát về sử học, ông ta còn xé rào nhào sang lãnh vực sử học với dã
tâm bóp méo lịch sử bằng cách viết lươn lẹo để chạy tội cho
Linh-mục Trần Lục về tội
làm Việt gian bán nước cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican. Vì ngu dốt và vì
gian ý này, cho nên trong bài viết “Cụ Sáu đối diện với Văn Thân” đăng
trong cuốn Trần Lục (Mantréal, Quebec: TXB, 1996), ông ta mới viết một đọan văn
như sau:
“Linh-mục Trần Công
Hoán, tác giả tiểu sử cụ Trần Lục, linh mục Nam tước Phát-diệm, tái bản tại Hoa
Kì, 1991, còn cho biết thêm: “Toàn quyền Pháp ở Hà Nội nhờ cụ Sáu dẹp hộ (vụ Ba
Đình) song ngài kiếu hẳn” (Sđd., tr. 83). Đại Úy Joffre, sau này là thống chế,
đến Phát Diệm xin thêm ít cu-li và mấy chiếc thuyền. Cụ Sáu nói: “Người sẵn và
thuyền sẵn, muốn lấy, tôi yêu cầu phải trả công cho
họ”. (Nt, tr. 8). Như vậy đúng như lịch sử Việt Nam đã ghi, không có chuyện Cụ
Sáu cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình, cũng không có lính Công Giáo
trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình. Những điều ấy chỉ có trong cuốn
Ba Đình truyện kí, Hà Nội, 1945, do nhà văn Phan Trần Chúc tưởng tượng ra.”
[22]
Văn tức là người. Viết đoạn
văn trên đây, ông Giáo-sư Lê Hữu Mục đã phơi bày cho mọi người thấy rằng ông ta
không có khả năng sử dụng lý trí để lý luận vì rằng ông ta sử dụng luận điệu của
một Linh-mục Việt gian sử nô bán nước cho Vatican để bào chữa cho một tên
Linh-mục Việt gian khác cũng mang tội bán nước cho cả Vatican và Pháp. Hơn
nữa, những lời bào chữa của ông ta lại càng để để lộ ra việc Linh Mục Trần Lục
bán nước cho giặc Pháp, chỉ khác ở chỗ Linh-mục Trần Lục vòi giặc Pháp trả thêm
tiền mà thôi. Ngoài ra, cũng vì viết đọan văn này, ông giáo-sư Lê Hữu Mục đã để
cho thiên hạ thấy rằng ông ta quá dốt về lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La
Mã. Vì dốt sử như vậy, cho nên ông ta mới không biết rằng tất cả các linh mục
đều là những hạng người gian dối, đúng như:
Hòang Đế Napoléon I
(1769-1821) đã khẳng định:
"Ở mọi nơi
và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm." (Priests have
verywhen and everywhere introduced fraud and falsehood.)[23]
Nhà ái quốc Ý Đại Lợi
Giuseppe Garibaldi (1807-1882) tuyên bố:
"Linh mục là hiện thân
của sự gian trá". (The priest is the personification of falsehood.)
[24]
Học giả dân Chúa Charlie
Nguyễn (tức Bùi Văn Chấn, cựu Thiếu Tá Thẩm Phán Công Tố Tòa Án Mặt Trận Vùng 4)
viết:
“Hầu hết các tu sĩ là
những kẻ đại gian đại ác ngụy trang dưới lớp áo đen, áo đỏ, áo trắng đóng vai
đạo đức giả phỉnh gạt tín đồ. Bề ngoài, họ làm ra vẻ thuận thảo với nhau,
thật sự bên trong nội bộ, họ ganh tị tranh đua nhau và sẵn sàng hạ thủ nhau để
tranh quyền đoạt thế. Họ dùng đủ mọi thủ đoạn để bòn rút tiền bạc xương máu của
giáo dân, để xây nhà thờ nguy nga đồ sộ chỉ cốt để họ được vênh vang với đời.
Mái nhà thờ của họ càng rộng lớn bao nhiều, càng che khuất ánh sáng mặt trời
chân lý bấy nhiêu. Các bức tường của nhà thờ càng cao bao nhiêu càng ngăn cách
giữa con người với nhau bấy nhiêu. Giáo sĩ là những con ký sinh trùng vừa ăn
bám, vừa phá hoại xã hội. Họ tội lỗi cùng mình lại nắm quyền tha tội cho đám tín
đồ vô tội hoặc ít tội hơn họ. Họ thực sự là một bọn ăn cướp nguy hiểm hơn bọn
cướp thường vì những kẻ cướp thường đều bị luật pháp trừng trị. Trái lại, bọn
cướp đội lốt giáo sĩ lại được giáo dân tôn kính, đi lại tự do vênh váo và được
xã hội tâng bốc là “những vị lãnh đạo tinh thần”. Tất cả các tệ nạn này đều phát
xuất từ sự thiếu hiểu biết của đại đa số giáo dân. Do vậy, việc giáo dục khai
sáng tâm linh là vô cùng cần thiết để cứu nước và bảo vệ nền văn hóa nhân bản
rất cao đẹp của dân tộc ta mà tuyệt đối đa số giáo dân không hề biết tới.”
[25]
Thực ra, các linh mục và các tín đồ Ca-tô
khác được đưa vào dạy tại các Đại Học Văn Khoa Sàigòn, Đại Học Đà Lạ và Đại học
Huế đều dốt nát về văn chương và văn hóa Việt Nam, dốt nát về lịch sử thế giới
cũng như dốt nát về lịch sử Giáo Hội La Mã và về lịch sử Việt Nam giống như ông
giáo sư Lế Hữu Mục cả. Độc giả có thể kiểm chứng tình trạng này của họ bằng
cách đọc các bài viết hay các ấn phẩm của họ có liên hệ đến văn hóa, văn chương,
lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã và lịch sử Việt Nam, thì sẽ thấy rõ.
Mấy đề tài dưới đây có thể sử dụng làm những câu hỏi trắc nghiệm để biết rõ thực
trạng về trình đồ kiến thức tổng quát của họ:
1.- Đặt ra vấn đề với họ TẠI SAO trong hơn
mười năm chót của cuộc đời, Giáo Hoàng John Paul II đi đến
bất kỳ quốc gia nạn nhân nào
của Giáo Hội cũng xin
lõi lia lịa, tính ra tất cả có tời trên dưới 100 lần, và đã phải cho tổ chức một cuộc đại lễ vô cùng long trọng vào ngày
12/3/2000 tại Quảng Trường Peter (Rome) để chính ngài và các vị chức sắc cao
cấp trong giáo triều Vatican đứng ra cáo thú tội ác với Chúa trước triệu hàng
khán thính giả tại chỗ và hàng trăm triệu những khán thính giả khác theo dõi qua
các màn ảnh truyền hình ở khắp nơi trên thế giới.
2.- TẠI SAO lại có phong trào đòi cải cách tôn
giáo ở Âu Châu bắt đầu thừ thế kỳ 14?
3.- NGUYÊN NHÂN NÀO đưa đến phong trào Tin
Lành bùng lên ở lục địa Âu Châu vào thế kỷ 16, rồi biến thành những cuốc chiến
tranh tôn giữa một bên là là tín đồ của các hệ phái Tin Lành và một bên là Nhà
Thờ Vatican và tín đồ Ki-tô La Mã? (Dù rằng cả hai phe thù địch trong những cuộc
chiến này đều cùng thờ Chúa Bố Jehovah và Chúa Con Jesus.)
4.- TẠI SAO nhân dân các nước Anh, Pháp, Ý,
Đức, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua vối đều là tín đồ
Ca-tô của Giáo Hội La
Ma lại thù ghét Giáo Hội La Mã và phải dùng đến những biện pháp mạnh để loại
Giáo Hội ra khỏi chính quyền và trừng trị thẳng tay những phần tử ngoan cố vẫn
còn đặt giáo luật lên trên luật pháp quốc gia?
III.- BÀN TAY NHÀ THỜ
VATICAN TRONG
CHÍNH QUYỀN VÀ TỆ NẠN XÃ
HỘI MIỀN NAM
Có lẽ không có câu nói nào
trung thực về thực trạng bàn tay Nhà Thờ Vatican trong chính quyền và trong vấn
đề tệ nạn xã hội ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 bằng hai câu
vè (1) “Nhất Chúa nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” và (2) “Nhất đĩ, nhì
cha (cố đạo) , tam sư, tứ tướng".
Điểm đặc biệt là câu vè (1)
tác phẩm của Nhà Thờ Vatican được sáng tác ra để “đào tạo thanh thiếu niên
theo tinh thần công giáo” để cho họ theo đó mà “sống đạo theo đức tin
Ki-tô” hay “sống theo lương tâm công giáo”. Câu vè (2) là sản phẩm tự
phát của người dân miền Nam để nói lên cái thực trạng xã hội miền Nam lúc bấy
giờ. Qua hai câu vè trên đây, chúng ta thấy rõ vai trò của Nhà Thờ Vatican ở hậu
trường sân khấu chính quyền và bàn tay của các ngài lãnh chúa áo đen quấy trời
chọc nước ở trong xã hội miền Nam trong những năm này. Cũng vì thế mà những khu
rừng tội ác như đã trình bày ở trên đều là do các chính quyền đạo phiệt Ca-tô
Ngô Đình Diệm và quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu cùng với bàn tay của Giáo Hội
La Mã qua các Nhà Thờ Vatican ở hậu trường các chính quyền này gây ra. Những
rặng núi tội ác này không những đã trực tiếp gây ra hậu quả vô cùng tai hại cho
miền Nam Việt Nam, mà còn để lại những di hại vô cùng ghê gớm vào tâm hồn những
người chịu ảnh hưởng của nếp sống văn hóa Vatican. Phần trình bày dưới đây sẽ
giúp cho mọi người chúng ta thấy rõ vấn đề này.
1.- Nhà Thờ Vatican và các
chính quyền miền Nam cấu kết với nhau cùng sử dụng chính quyền để cứớp đoạt tài
nguyên quốc gia (cướp gỗ rừng, chiếm đọat ruộng đất), thâm lạm công quỹ, ăn chặn
tiền viện trợ, chuyển ngân, buôn lậu nha phiến, buôn vàng lậu và hàng hóa lậu,
tổ trác tham nhũng, mua quan bán chức, v.v...
Như đã trình bày ở trên, trong những năm 1954-1975, Nhà Thờ Vatican ở hậu
trường chỉ đạo các chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Ca-tô
Nguyễn Văn Thiệu thi hành các chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Hội La
Mã, Ki-tô hóa các chức vụ chỉ huy trong chính quyền cũng như trong quân đôi, mở
rộng các tổ chức mật vụ, cảnh sát, công an và an ninh quân đội, tiến hành chính
sách Ki-tô hóa nhân nhân bằng bạo lực và bằng các phương tiện khác của chính quyền,
khống chế và kiểm soát tất cả mọi phạm vi sinh họat trong xã hội để bốc hốt và
vơ vét cho đầy túi tham. Mục đích chính của Nhà Nhà Thờ Vatican là biến miền Nam
Việt Nam thành một xã hội “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”.
Sách Vixars of Christ còn
nói rõ Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) vừa loạn luân với chị hay em gái vừa cho
phép "mở nhà chứa" để thu thuế.
Dưới đây là bản văn
này:
“Hỏi những thằng tướng
tham nhũng, đào ngủ trước ngày 30/41975 có công lao gì với đất nước và dân tộc
mà đem cờ vàng phủ trên cái xác của chúng nó. Giá nó làm đám tang như một người
dân giả bình thưòng thì chẳng ai thèm mất thì giờ phỉ nhổ chúng nó làm chi.
(HCT)
Điếu Ông Tướng Tham Nhũng
Thiếu
Tướng xưa ngồi Sở Động Viên
Nổi
danh tham nhũng khắp hai miền
Tướng
bà soái phủ đi thu hụi
Trai
tráng tại gia phải đóng tiền
Chiến
sự leo thang càng khốc liệt
Tướng
ông hốt bạc tọa an nhiên
Sài
Gòn thất thủ, ông đào tẩu
Nay
thác cờ vàng phủ ván thiên!
- [2009]
[28]
"Ông
Ngô Đình Thục không từ bỏ một hành động bần tiện nào trong việc làm tiền.. Ông
đã nhờ Tổng Thống Diệm ra lệnh cho Đại Tá Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp) đang
chỉ huy ngành quân Nhu ở Quân Khu I, phải mua nước mắm "thối" của các bà sơ ở
Phan Thiết, thứ nước mắm lâu ngày không bán được bị hư thối để bán lại cho gia
đình binh sĩ...”
[29]
“Chính
phủ Công Giáo” ngày càng trở nên lộ liễu khi ngành công binh, từng đoàn quân xa
và vật tư của chính phủ được đưa ra sử dụng trong việc xây cất nhà thờ, chủng
viện, các nhà cho thuê thuộc tòa giám mục, khi các cán bộ nông thôn và công
chính được phái đi lo việc trồng dương liễu và dừa cho đức cha, khi các binh sĩ
được biệt phái thường trực tại văn phòng Công Giáo Tiến Hành, khi các giám mục
có chỗ danh dự đứng bên cạnh tổng thống trong các nghi lễ công cộng, hay là
trong việc duyệt binh, khi chính phủ phê nhận 90% dân không là Công Giáo – các
khoản luật gần giống như trong giáo luật. Khỏi nói tới việc dựng tượng Đức Mẹ do
tay tổng thống, có giám mục nọ kia phụ vào…”
[30]
“Nhằm biến La Vang thành
một thứ Lộ Đức Việt Nam, hàng giám mục đã tổ chức xổ số La Vang để lấy cho được
cỡ 10 triệu đồng dành cho cho việc xây nhà thờ mới với các tượng Thánh Giá và
cái hồ “làm phép lạ”. Vé số được phân phối một cách đương nhiên cho các công
chức, công giáo hay không cũng mặc, bằng cách khấu trừ tiền lương của họ. Các
học sinh nghèo nhất tại các trường miền Nam cũng phải mua vé số. Một số vé được
đem giao cho các giáo xứ phân phối. Tại Sàigòn, một bữa tiệc kiểu Mỹ được tổ
chức, trong đó mỗi khách được mời phải đóng 2.500 đồng (ngang một tháng lương
của công nhân) gọi là để đóng góp cho Trung Tâm Quốc Gia La Vang. Danh sách các
ân nhân “tự nguyện” của La Vang rất dài, với những người đứng đầu sổ là Phó Tổng
Thống người Phật Giáo, các bộ trưởng, các tướng tá, mỗi người dâng cúng từ
10.000 (mười ngàn) đến 20.000 (hai mươi ngàn) đồng.”
[31]
“Nạn mua bán các chức vụ
trong chính quyền và quân đội đã biến đời sống xã hội thành một trận địa không
còn tình thương, không còn ngơi nghỉ… Dưới sự bao che của nhứng kẻ có thế
lực, cờ bạc, đĩ điếm và chợ đen đã xô cả xã hội vào một cảnh sa đọa khiến cho
nạn trộm cướp, hãm hiếp… lan tràn khắp nơi… như chưa từng xẩy ra trong lịch sử.
“Hai chữ “chống Cộng” đã
được những kẻ tham ô lợi dụng làm như cái nút thần để trám lỗ miệng dân chúng,
bất kỳ ai không được nâng đỡ về mặt chính trị, đều có thể bị kết án là có liên
lạc hoặc buôn bán với Việt Cộng.”[32].
2.- Tệ nạn ăn cắp, ăn trộm,
cướp giật, cướp đường.-
Sống ở Sàigon ít nhất là tới 15 năm và cũng là nạn nhân nữa, người viết có một
số kinh nghiệm vế tệ nạn này. Nhờ vậy mà tác giả được biết một trong những
phương cách cướp giật đồ của người đi đường là chúng sử dụng loại xe Honda hai
bánh có khả năng gia tốc mạnh (giọt mạnh khi rú ga) với một người lái và một
người ngồi sau. Khi nhìn thấy có một người nào di chuyển mang va li hoặc là cầm
túi xách tay hay mang đồng hồ, đứa lái xe sẽ luợn xe sắp ngang và kè sát bên nạn
nhân để cho đứa ngồi sau chộp thật lẹ lấy món đồ, xong rồi đứa lái xe sẽ rú ga
chạy tẩu thoát. Chuyện rằng, có một người Mỹ đã bị giựt mất chiếc đồng hồ theo
kiểu như vậy. Sau đó, ông Mỹ này tìm cách trả thù bằng cách đeo một chiếc đồng
hồ giả trông thật lộng lẫy, có gài theo một lưỡi dao bào để cho phần lưỡi dao
nhô ra, rồi ngồi trên xe xích lô đạp và cố tình để tay đeo đồng hồ lộ ra cho
người qua đường nhìn thấy. Thế rồi, hai tên cướp cạn đi trên một chiếc xe Honda
hai bánh lượn tới chộp được chiếc đồng hồ giả này. Dĩ nhiên là bàn tay hành sự
của tên cướp cạn này cũng bị trừng phạt, máu chẩy khá nhiều.
Về chuyện những xé gắn máy
bị ăn cắp, thường thường những xe bị đánh cắp được đem về tập trung tại sào
huyệt của chúng ở một chỗ tương đối hẻo lánh. Người viết được biết trại định cư
Dốc Mơ nằm trên đường đi Đà Lạt và cách Sàigòn khoảng 82 km là một thí dụ điển
hình. Khi đã đem được chiếc xe chộp được về tới ổ (sào huyệt), chúng liền tháo
ra làm nhiều mảnh, đem những mảnh này ráp vào môt cái khung (sườn) của một cái
xe khác (cũng là xe ăn cắp đã cạo số và sơn lại), rồi bán rẻ cho khách hàng.
Công việc làm ăn này của chúng luôn luôn được bàn tay ngầm của Nhà Thờ bao che
bằng cách sẵn sàng can thiệp để giải thóat cho chúng vì nhờ có ăn chịu hay có
những người đồng đạo trong phe đảng do Nhà Thờ đưa vào làm
việc trong ngành cảnh
sát. Sự kiện Nhà Thờ đưa người vào làm việc trong các cơ quan như vậy được
Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm như sau:
“Giáo Hội không từ một
việc nào để có được những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt
họ phải theo ý mình muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt khác
để khai thác các vùng đất nhượng cho không và những thử ruộng cướp được của nông
dân. Giáo Hội có người của mình nắm những vai trò thế giá trong chính quyền
thuộc địa…”
“Nhà Chung đã biết tổ chức
một hệ thống tình báo hoàn bị, cung cấp tin tức cho biết tất cả những gì lỉên hệ
tới những con người, những công ty, những công cuộc, những hành động và phương
án chính trị tại Đông Dương. Nhà Chung đã đặt được người thân tín của mình vào
tất cả các cơ quan, vào hầu hết các xí nghiệp, tại các trung tâm lớn cũng như
tại các tỉnh xa xôi…”[35]
Cũng nên biết là trong thời
hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và
quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, hầu hết các nhân viên
trong ngành cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh quân đội đều do các ông linh
mục Bắc Kỳ di cư tuyển chọn đưa vào làm việc trong các ngành này. Một trong các
ông linh mục đặc trách việc làm này là Linh-mục Mai Ngọc Khuê, gốc Bùi Chu, quản
nhiệm họ đạo Tân Sa Châu (Tân Sơn Hòa, Tân Bình, Gia Định).
Dù là chế độ đạo phiệt
Da-tô Ngô Đình Diệm bị lật đồ vào chiều ngày 1/11/1963, nhưng
những giáo dân được đưa
vào làm việc tại các nha, sở, phòng, ban và tiểu ban trong các ngành cảnh sát,
công an, mật vụ, an ninh quân đội, và các chức vụ chỉ huy vẫn
còn nằm trong tay của
họ cả. Chính vì tình trạng này mà dù là chế độ cha cố Ngô Đình Diệm đã bị sụp
đổ, nhưng các ngành cảnh sát, công an, mật vụ và an ninh quân đội vẫn nằm trong
tay giáo dân dưới quyền chỉ huy gián tiếp của các ông linh-mục đã giới thiệu họ
vào làm việc trong các ngành này.
Cũng vì tình trạng này mà
trong những năm 1954-1975, mỗi trại định cư của giáo dân Bắc Kỳ di cư (họ đạo) ở
miền Nam là một quốc gia trong quốc gia. Nhờ thế mà cái băng đảng ăn cướp xe
Honda có sào huyệt ở trại định cư Dốc Mơ (dưới quyền qủan nhiệm của Linh-mục
Trần Đình Vận) như đã nói ở trên vẫn hoạt động an toàn cho đến ngày 30/4/1975.
Không biết họ đạo ở gần Bình Thủy (Cần Thơ) dưới quyền quản nhiệm của Linh-mục
Vũ Thạch Nghị có ở trong tình trạng giống như Trại Định Cư Dốc Mơ dưới quyền
quản nhiệm của Linh-mục Trần Đình Vận hay không. Có một điều rõ ràng nhất là
Linh-mục Vũ Thạch Nghị được coi là cấu kết với ông Tá Không Quân họ Ôn (nắm
giữ một chức vụ chỉ huy tại Căn Cứ Không Quân Bình Thủy)
và là chủ mưu trong vụ ăn cắp xác một chiếc máy bay (không
rõ là C 47 hay là một loại máy bay trực thăng)
đem bán cho một công ty người ngọai quốc vào đầu thập niên 1970. Vụ này đã làm
cho dư luận đã xôn xao rùm beng trong nhiều ngày khiến cho ông Tá họ Ôn bị kỷ
luật, không được nắm giữ chức vụ chỉ huy, còn Linh-mục Vũ Thạch Nghị vẫn không
hề hấn hấn gì vì Ngài mang chức Thánh, đại diện Chúa, ai mà dám rớ tới!
Muốn biết các trại định cư
khác của giáo dân Bắc Kỳ di cư ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này có những
hoạt động bất chính (dù là dưới một hình thức khác) giống như trại định cư Dốc
Mơ và Bình Thủy trên đây hay không, xin độc giả tìm đọc sách Cõi Phúc và Giây
Oan - Tập 1 (đặc biệt từ Chương 5 (trang 113 đến hết Chương 16 (trang 165) của
nhà văn Da-tô J. Ngọc (Houston, TX: Văn Hóa 1995). Đọc qua cuốn sách này, độc
giả sẽ nhìn thấy rõ Linh-mục Y có những phương cách móc túi (ăn cắp và ăn cướp)
của dân hết sức là siêu việt.
Ngoài việc tuyển chọn giáo
dân đưa vào làm việc trong các ngành bắt nạt dân trên đây, Linh mục Mai Ngọc
Khuê còn có nhiệm vụ đặc trách tuyển mộ giáo dân tới tuổi thành niên đưa vào các
lực lượng đặc biệt và các đội biệt kích do CIA huấn luyện rồi đưa ra thi hành
các điệp vụ tình báo và phá hoại ở phía bắc vĩ tuyến 17.
Vì có sự toa rập với những
người có thế lực trong chính quyền và được bao che như trên, cho nên hồi đó, ở
Sàigòn và các vùng phụ cận, tệ nạn trộm cắp và cướp giật hoành hành thật là kinh
khủng. Các gia đình khá giả đều phải làm cửa sắt để đề phòng trộm cắp. Các chủ
nhân xe hai bánh, dù là xe đạp hay xe gắn máy, cũng đều phải sắm một cái khóa
ngoại nhập để mỗi khi để xe ở chỗ nào là phải khóa lại cho kỹ. Có người cho biết
là một nhà biên khảo người Tây Đức nói rằng, trong những năm này, miền Nam Việt
Nam tiêu thụ nhiều khóa nhất trên thế giới.
Tuy là đã sử dụng khóa an
toàn cho chắc ăn như vậy mà cũng vẫn bị mất xe như thường. Cuối năm 1963, bản
thân người viết lái chiếc xe Solex đến Lăng Ông ở Bà Chiểu. Đến nơi, sau khi đậu
xe và khóa lại cẩn thận, rồi mới đi vào trong đền thờ để gặp và nói chuyện với
một người bạn khoảng 20 phút. Khi trở ra, chiếc xe đã biến mất. Năm 1971, nhà
văn Doãn Quốc Sĩ lái chiếc xe bốn bánh hiệu Daihatsu loại pick-up từ nhà ở Đường
Thành Thái đến Hội Việt Mỹ ở Đường Mạc Đĩnh Chi, khóa lại rồi vào trong văn
phòng của hội này để thăm một người bạn. Hơn nửa giờ sau trở ra, chiếc xe đã
biến mất. Đi trình cảnh sát, nhưng chẳng có hiệu quả gì.
Tình trạng ăn cắp, ăn trộm,
móc túi, cướp giật, cướp đường ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 rõ
ràng là như vậy. Có nhiều nguời cho rằng tình trạng này là một nét đặc thù trong
các xã hội bị áp đặt phải sống dưới một chế độ đạo phiệt Da-tô: Xã hội nào càng
bị ảnh hưởng sâu nặng của nếp sống văn hóa Vatican hay Giáo Hội La Mã (chế độ
cha cố) và càng lâu, thì tình trạng ăn cắp, ăn trộm, móc túi, cướp giật, cướp
đường, cướp chợ càng trở nên trầm trọng. Lý do là vì người dân trong các quốc
gia này đuợc nhồi sọ phải sống theo những tín lý Ki-tô nặng tính cách bịp bợm và
phải tuân hành những giáo luật nặng tính cách chuyên chính, áp chế và bóc lột.
Mà bịp bợm, chuyên chính, áp chế và bóc lột là một hình thức của ăn cắp, ăn
trộm, móc túi, cướp giật và cướp đường mà thủ phạm đầu nậu ăn cướp, ăn cắp, đĩ
điếm, loạn luân, lọan dâm và phi luân lại là giáo hoàng, và giới giáo sĩ từ
những người nắm giữ các vị chức vị cao cấp trong giáo triều Vatican cho đến các
giáo sĩ các cấp tại các địa phương rồi mới lan sang các nhân viên chính quyền và
nhân dân. Cũng vì thế mà tại Tây Ban Nha, tại Phi Luật Tân cũng như tại các
quốc gia châu Mỹ La-tinh, và ở nước Ý, đặc biệt là tại kinh thành Rome, (những
nơi bị áp đặt phải sống dưới các chế độ cha cố lâu đời nhât) là những nơi mà các
tệ trạng ăn cắp, ăn trộm, móc túi, cướp giật, cướp đường ở vào tình trạng kinh
khủng nhất. Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách thử làm một chuyến
du hành đến kinh thành Rome hay các quốc gia này thì sẽ thấy thực hư như thế
nào.
Tương tự như tệ nạn ăn
cắp, ăn trộm, móc túi, cướp giật, cướp đường như đã nói ở trên, tệ nạn đĩ điếm
cũng vậy. Tệ trạng này đã có từ thời Trung Cổ và bắt nguồn từ trong Tòa Thánh
Vatican như đã trình bày ở trên (cũng trong Mục III này). Tệ trạng này vẫn tồn
tại cho đến ngày nay và càng ngày càng trở nên tinh vi hơn, siêu việt hơn. Bằng
chứng là cho đến ngày nay:
a.- Chúng ta vẫn chưa thấy
có một lời tuyên bố công khai nào của Giáo Hội xác nhận sự sai lầm và tuyên bố
thú nhận để sửa sai về cái quyết định cấp giấy cho phép mở nhà chứa (nhà thổ)
của Giáo Hoàng Sixtus IV (1471-1484) để lấy tiền gia tăng cho ngân quỹ nhà Chúa
của Tòa Thánh Vatican.
b.- Giáo Hội vẫn tiếp tục
bưng bít các vụ lạm dụng tình dục của các ông tu sĩ Da-tô, và ngay cả khi bị
chính nạn nhân đem nội vụ phơi bày ra công luận, Giáo Hội cũng vẫn còn tìm đủ
mọi cách để bưng bít.
c.- Ngay cả những trường
hợp đã bị phơi bày ra trước công luận rồi, Giáo Hội cũng vẫn còn tiếp tục bao
che và dung dưỡng cho những tên tội đồ khốn nạn này.
Tình trạng này tất nhiên là
có ảnh hưởng sâu nặng trực tiếp đến xã hội miền Nam Việt Nam trong những năm
1954-1975. Lý do là miền Nam bị cưỡng bách phải sống dưới ách thống trị của Liên
Minh Pháp - Vatican từ năm 1862 cho đến năm 1954, rồi từ năm 1954 cho đến năm
1975 lại bị áp đặt phải sống dưới ách thống trị của chế độ đạo phiệt Da-tô, cho
nên không thể nào thoát khỏi những tệ trạng tham nhũng, buôn lậu, đĩ điếm, trộm
cắp và cướp giật của chế độ cha cô tạo nên từ thế kỷ 4..
3.- Tệ nạn mãi dâm:
Trong thời gian 1954-1975, những ai đã từng sống ở Sàigòn hay ở các thành phố
lớn như Cần Thơ, Vũng Tầu, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang hoặc là những thành phố trung
trung như Long Xuyên, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mâu, Bình Định, v.v...và đã từng lặn
lội “thăm dân cho biết sự tình” đều thấy rõ các ổ mãi dâm này của thời đó. Là
một người đã sống ở Sàigòn trong nhiều năm, lại là người tiếp cận với những
người bạn lính thuộc loại “chịu chơi”, và chịu khó đi quan sát để chuẩn bị cho
việc biên khảo trong nghề nghiệp dạy môn sử, người viết được biết ở thủ đô
Sàigòn và các vùng phụ cận, đi đến đâu cũng thấy có nhà chứa (ổ mãi dâm). Xin
nêu ra đây những địa điểm nổi danh ở Sàigòn và các vùng phụ cận như khu Bàn Cờ,
Cư Xá Lữ Gia, Đường Võ Tánh (Gia Định) chạy ngang qua Bộ Tổng Tham Mưu, Ngã Ba
Chú Ía, Lăng Cha Cả, Xóm Mới, Gò Vấp, Hành Thông Tây, khu chung quanh Nhà Thương
Cộng Hòa, Ngã Ba Chuồng Chó, Hành Thông Tây, Xóm Chiếu, Khu nhà gần Nhà Thương
Nguyễn Văn Học (Gia Định), ngay cả làng Đại Học Thủ Đức, v. v...,
đặc biệt là tại
Chợ Lớn, còn có những nơi gọi là “Nhất Dạ Đế Vương” dành cho những nhân viên cao
cấp trong chính quyền, những sĩ quan nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong quân
đội, trong các ngành cảnh sát, công an, mật vụ và những nhà tư bản nội địa thuộc
loại làm giầu vì chiến tranh đến đó hưởng thụ.
Theo sự tìm hiểu của người
viết, trong những năm 1954-1975, Hoa Kỳ đã bỏ ra tới trên hai trăm tỉ Mỹ kim để
chi viện cho miền Nam. Ngoài ra, lại còn có gần 600 ngàn quân lính Mỹ, Úc Đại Lợi,
Tân Tây Lan, Đại Hàn, Thái Lan và Phi Luật Tân hiện diện ở miền Nam. Hơn nữa,
lại còn có hàng chục ngàn nhân viên dân sự ngoại kiều làm việc trong các cơ
quan chính quyền và các công ty tư nhân của Hoa Kỳ ở miền Nam nữa. Ấy là chưa kể
những người ngọai quốc đến miền Nam Việt Nam để mua vui rẻ tiền, chưa kể bọn
buôn lậu nha phiến đến miền Nam Việt để làm ăn. Cộng chung lại, có tới gần một
triệu quân lính nước ngoài đồn trú, và hàng chục ngàn ngọai kiều làm ăn
(thương khách) và du hí (dân du lịch) ở miền Nam Việt Nam. Những người này thả
tiền ra tiêu sài rộng rãi, đặc biệt là họ rất rộng rãi trong chuyện tìm thú vui
du hí. Tình trạng này đã trở thành cơ hội tốt đẹp cho những bọn ma cô dụ dỗ phụ
nữ đưa vào các động mãi dâm để cung ứng cho nhu cầu giải quyết sinh lý của khối
lượng khách hàng khổng lồ trên đây vào thời bấy giờ. Người ta ước lượng, trong
những năm 1960-1975, ở miền Nam có ít nhất là hơn 500 ngàn gái điếm và không
biết bao nhiêu ngàn gái bán bar, bao nhiều ngàn chủ bar, bao nhiêu ngàn phụ nữ
lấy chồng Mỹ.
Lại có người cho rằng con số gái mãi dâm ở miền Nam lúc đó lên đến tới một triệu
hay nhiều hơn. Một triệu gái mãi dâm trên tổng số 20 triệu dân ở miền Nam thì
quả thật là kinh khủng. Tình trạng này cùng với những tệ trạng tham nhũng, buôn
lậu, cướp giật, trộm cắp đã làm cho xã hội miền Nam Việt Nam đã trở thành tan
hoang, giống như cái giẻ rách nát, nát hơn cả tương Bần. Riêng về tệ nạn đĩ
điếm, một nhân chứng có tên là Thuân Nguyên kể lại bằng một điện thư nói về
những tổ chức bán dâm được tổ chức quy mô có bàn tay của chính quyền lúc bấy giờ
ở trong đó. Bản điện thư này được phổ biến vào ngày 30/7/2007. Dưới đây là nguyên văn bản điện thư này:
From: Thuan Nguyen
(Chuyển) From Golden Pen
Sent: Sun, 30 Jul 2006,
To
DienDanCongLuan@yahoo.com, NhanQuyenChoVietNam@yahoo.com
Chị Linh và các chú thím ăn
mày tỵ nạn 54/75 chống cộng dạo để kiếm sống ở trong chợ Tàu thương mến,
Thấy các chị Linh và chú
thím quốc gia chống cộng say sưa ở trên mạng y như là đấu tranh thật có trí có
dũng vậy đó làm kích thích nẫu, nẫu ngứa nghề, nẫu tìm vui hén! Nẫu sẽ nói
chuyện lịch sử, chuyện người quốc gia VNCH và đĩ điếm bị bệnh lậu hén. Tình anh,
tình em, tình của những thằng ma cô, của những con điếm đòi tự do tôn giáo và
lính Mỹ hén.
Chào tất cả,
CHÍNH QUYỀN VNCH TỔ CHỨC ĐỈ
CHUYÊN NGHIỆP VÀ SEX TOURS CHO LÍNH MỸ VÀ ĐỒNG MINH ĐỂ LẤY.. ĐÔ LA.
1.- Những năm 1967 cho tới
1973, quân đội tác chiến Mỹ đã lên tới 540,000 quân. Đó là drafted soldiers. Còn
nondraftees là 160,000. Đó là chưa kể lính Đồng Minh.
2.- Con số này là con số
khổng lồ.
3.- Sự đòi hỏi về tình dục
tại VN bởi lính Mỹ là khổng lồ...
4.- Mỹ lại bỏ đô la ra để
cho quân đội họ giải trí.. CHO NÊN SÀI GÒN, ĐÀ NẴNG, CẦN THƠ, HUẾ, BIÊN HOÀ,
LONG BÌNH, NHA TRANG, VŨNG TÀU.. biến thành những động điếm khổng lồ.. HÀO
NHOÁNG GIẢ TẠO BÊN NGOÀI ĐỂ CHO LÍNH MỸ HƯỞNG THỤ những lần về thành phố..
5.- Con số hơn nữa triệu
quân là một sự đòi hỏi về GIẢI TRÍ VÀ TÌNH DỤC KHÔNG LỒ..hén!
6.- Cộng thêm vào đó, dân ở
các vùng bị bắn phá, bom B-52, và chất độc hoá học đã TẠO THÀNH MỘT LÀN SÓNG TỊ
NẠN tản cư về thành phố kiếm sống và trú bom đạn…
7.- Bởi vậy VNCH có hai
loại gái điếm tự do tôn giáo là:
Gái chuyên nghiệp
(professional prostitutes) là được CHÍNH PHỦ ĐÀO TẠO, HUẤN LUYỆN, KHÁM SỨC KHOẺ,
CHO CẤP GIẤY PHÉP NGỦ (chơi bậy, chửa hoang) với MỸ ĐỂ LẤY PHẦN TRĂM…
Loại gái chuyên nghiệp
(professional) này thời VNCH có khoảng 200,000 khắp 4 vùng chiến thuật.
Gái thường không chuyên
nghiệp thì không được chính phủ VNCH cấp giấy phép... tức là không được tự do
dân chủ tự do tôn giáo như loại điếm chuyên nghiệp của quốc gia hén!!!.
Loại gái điếm thường này
thì khoảng trên 1.5 triệu.. Đó là chưa kể hàng chục ngàn ME MỸ SỐNG VỚI MỸ VÀ CÓ
CON VỚI MỸ... Và thêm vào đó là me Đại Hàn, me Úc, Me Phi, Me Mễ, Me Thái,
v.v....Hiện tượng đỉ điếm này tạo ra một xã hội rất phức tạp tại miền Nam VN
thời đó.
8.- VNCH tổ chức gái điếm
ĐỔI LẤY ĐÔ LA THẾ NÀO:
Có hai hình thức:
a.- Thứ nhất là sponsoring
private brothels. Chính phủ VNCH đã bảo vệ, tiếp tay với các động hạng sang tại
các thành phố lớn để ĐƯA GÁI CHO LÍNH MỸ VÀ CỐ VẤN MỸ.
KHI CÁC CỐ VẤN MỸ VÀ LÍNH
MỸ SANG (VIỆT NAM), thì có những ĐƯỜNG DÂY ORGANIZED SEX TOURS.. phục vụ lính Mỹ
và cố vấn Mỹ.
Các Ty Cảnh Sát VNCH sẽ
trực tiếp bảo vệ, và bao cấp cho các động này.
b.- Hình thức thứ hai:
chính phủ VNCH đứng ra tổ chức đường giây đỉ điếm chuyên nghiệp phục vụ cho lính
Mỹ và cố vấn Mỹ.
Các gái điếm trên có số
danh bộ, đăng ký, khám sức khoẻ tránh bệnh hoa liễu, và được dạy nghề đấm bóp,
chút ít Anh Văn do TỔNG CỤC DU LỊCH VNCH trá hình tổ chức...
Hai hình thức tổ chức
organized đỉ điếm trên VNCH đã thu về cả chục triệu đô la mỗi năm...
Đó, VNCH là thế: xã hội rất
băng hoại, đỉ điếm tràn lan. Tới nỗi đỉ công khai ra đường chào đón khách, ban
ngày ban mặt.
Tại các snack bars thì đỉ
điếm ra vô nhởn nhợ chào mời lính Mỹ.. NÓ tạo ra một tệ nạn xã hội trầm trọng
trong thời VNCH...Làm cho CẢ MIỀN NAM KHÔNG CÓ TINH THẦN CHIẾN ĐẤU, XÂY DỰNG, VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ...
Miền Nam VNCH là thế??
Vậy CSVN có cần lường gạt
người dân để họ hy sinh đời mình để đứng lên lật đổ chế độ khốn nạn, đốn mạt, vô
lương tâm, cuồng tín mọi rợ VNCH không???
Câu trả lời quá rõ ràng...
Mỹ nói hầu hết ghệ phụ nữ VNCH đều bị bệnh lậu đó chị Linh. Chị nghĩ đó là kiêu
sang là tự do hôn chị ???
Em nói có bằng mách có
chứng, bên dưới là ảnh tà áo dài văn hóa hiện đại cúa quốc gia tự do công giáo
VNCH đấy nhé:
Chồng hỡi chồng ơi ! Con
hỡi con!
Mình giờ bệnh lậu biết làm
sao đây?”
[36]
Ngày nay, những việc làm
kinh tài bất chính như trên không còn nữa. Bọn quạ đen và bọn tay sai của Nhà
Thờ Vatican đã từng nắm giữ những chức vụ lớn trong chính quyền cũng như trong
quân đồi miền Nam Việt Nam trước kia cảm thấy vô cùng nuối tiếc cái thời vàng
son của ngày nào. Vì thế, họ mới quyết tâm bơi ngược dòng lịch sử mưu đồ rước
con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam một lần nữa với hy vọng họ sẽ được sống
lại cái thuở huy hoàng làm cha thiên hạ giống như ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975. Đây là lý do tại sao họ khư khư bám lấy chiêu bài chống
Cộng và cùng nhau hò hết lật đổ chính quyền Việt Nam hiện nay mà không cần biết
đến quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc.
4.- Một nét tổng quát về xã
hội Miền Nam vào đầu thập niên 1970 qua cái nhìn của một nhà sử học ngọai quốc:
Nói về xã hội miền Nam Việt Nam trong những năm này, nhà viết sử Stanley I.
Kutler viết trong Encyclopedia of The Vietnam War (New York: Simon & Schuster
McMillan: 1996) như sau:
Không ai chối cái được
là xã hội miền Nam lúc bấy giờ trở thành một xã hội gái điếm. Tình trạng này là
do chính sách cai trị cực kỳ tham tàn của hai chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình
Diệm và quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu với Nhà Thờ Vatican ở hậu trường
Vatican gây ra. Chủ tâm của Nhà Thờ Vatican là làm cho xã hội băng hoại, tẩy xóa
hết nếp sống văn hóa tam giáo cổ truyền của dân tộc để chuẩn bị cho việc gieo
vào đầu dân ta những hạt giống của những tín lý Ki-tô hoang đường nặng tính cách
lừa bip, bạo ngược, loạn luân, loạn dâm, phản nhân luân, phản dân chủ, phản nhân
quyền và đĩ điếm giống như “cái ổ điếm Vatican”. Vấn đề Tòa Thánh Vatican là
một ổ điếm được sách sử đã ghi lại rõ ràng như đã trích dẫn ở trên.
Phần trình bày trên đây cho
chúng thấy rõ ràng là quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới đâu, thì ở đó đĩ
điểm khởi phát từ ở trong nhà thờ rồi mới lan truyền ra ngoài xã hội. Một phần
hậu quả của tệ trạng đĩ điếm phát khởi từ trong các nhà thờ là tệ nạn con hoang
do các ngài tu sĩ Da-tô để lại cho xã hội. Tệ trạng này cũng được sách Vicars
of Christ ghi nhận rõ ràng và đã được trích dẫ ở trên. Xin ghi lại ở đây một lần
nữa để độc dễ dàng nhận ra:
"Một bản thống kê cho
biết: một xứ có 900 ngàn dân mà có tới 3 ngàn tu sĩ; và cứ 2 trong 5 (40%) đứa
con hoang là con của các ông tu sĩ." Nguyên văn: "One amazing
statistic emerges: in a country of 900,000 people, there were 3,000 clergy; and
yet two out of five bastards were born to the clergy.")
[38]
Trong bài điểm sách “AMAN”
của tác giả Jesme Raphael đăng trên sachhiem.net ngày 11/4/2009, Giáo-sư Trần
Chung Ngọc có nói rất nhiều về tệ trạng các ngài giám mục và linh mục tán tỉnh,
làm tình và hiếp dâm các bà phước đến mang thai và sinh con; những đứa con này
hoặc là bị giết hại hoặc là nếu may mắn không bi giết thì trở thành những đứa
con hoang và được đưa và các viện mồ côi của Giáo Hội. Dưới đây là một vài đọan
văn trong bài điểm sách trên đây nói về tình trạng này:
“Cuốn “The Awful
Disclosures” của Maria Monk, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1836, đã gây nên một
làn sóng công phẫn về những chuyện động trời trong nữ tu viện Công giáo Hotel
Dieu, thí dụ như: Các linh mục ở gần đó có lối riêng và kín đáo để vào tu viện
bất cứ lúc nào và tự do làm tình với các nữ tu. Những đứa bé sinh ra liền
được mang đi rửa tội để bảo đảm chúng sẽ được lên thiên đường rồi bóp mũi cho
chết [All babies born of these illicit encounters, Monk claimed, were
baptized before being killed and dumped in the basement].
Maria Monk cũng kể rằng, Sơ
được các Sơ bề trên dạy là một trong những nhiệm vụ lớn lao của các nữ tu là
phải tuân phục các linh mục trong mọi vấn đề, kể cả vấn đề phục vụ tình dục cho
các linh mục [I must be informed that one of my great duties was to obey the
priests in all things; and this I soon learnt, to my utter astonishment and
horror, was to live in practice of criminal intercourse with them]. Tại sao?
Maria Monk được bề trên giải thích: “Vì không có các linh mục làm phép, chúng ta
không thể được tha tội và phải xuống hỏa ngục.” [They, the priests, might
be considered our saviors, as without their service we could not obtain pardon
of sin, and must go to hell] Chúng ta thấy, chính sách tẩy não nhồi sọ của Công
giáo thật là đáng sợ.….”
“Trong cuốn The Awful
Disclosures của Maria Monk có nói đến dòng tu của các “Grey Nuns”, các Sơ mặc áo
xám, được gọi là các “Sơ của Bác Ái” (Sisters of Charity). Cách đây ít năm,
chương trình Prime Time của đài ABC cũng như chương trình Date Line của đài NBC
đều đưa lên vụ kiện 1.2 tỷ đô-la [1.2 billion suit] của những trẻ mồ côi, nay đã
trưởng thành, thường được biết là những “Trẻ mồ côi của Duplessis” (Duplessis
Orphans). Những đứa trẻ này trước sống trong những viện mồ côi ở Québec, Canada,
quản trị bởi các “Sơ của Bác Ái”, dưới triều Thủ Tướng Maurice Le Noblet
Duplessis, một tín đồ Công giáo bảo thủ cực đoan. Một số những đứa trẻ mồ côi
trong số khoảng 3000 còn sống sót này, nay đã trưởng thành, đã lập nên một tổ
chức để kiện chính quyền Québec và viện mồ côi St. Julian ở Québec, do các “Grey
nuns” (Sisters of Charity) quản trị, về những hành động hành hạ độc ác, ngược
đãi, lừa gạt của các Sơ đối với các em khi còn ở trong các viện mồ côi, với sự
toa rập của chính quyền Công giáo Québec trước đây và bác sĩ Công giáo.
Đọc nội dung vụ kiện này và những bằng chứng
mà các nạn nhân đưa ra, chúng ta không thể tưởng tượng được là trong “hội thánh,
thiên khải, tông truyền, duy nhất”, alias Công giáo, lại có thể xảy ra những
chuyện tàn bạo vô lương tâm của tập đoàn Công giáo gồm từ Thủ tướng Công giáo ở
Québec đến các linh mục, bác sĩ Công giáo, nữ tu Công giáo toa rập với nhau để
làm thương tổn nặng nề đến tinh thần cũng như vật chất của nhiều ngàn trẻ mồ côi
sống trong các viện mồ côi và các nhà thương Công giáo trị bệnh tâm thần.
Độc giả có thể đọc chi tiết
đầy đủ về vụ “Duplessis Orphans” trong bài “Bác Ái Của Công Giáo Trong Hành
Động” (Catholic Charity in Action) [http://www.lazyboysreststop.com/history-3.htm]
và bài “Những Nữ Tu Công Giáo Ác Độc, Lừa Gạt Ở Mỹ Và Trên Khắp Thế Giới”
(Abusive Nuns In The USA And Worldwide) trên trang nhà:
http://www.ianpaisley.org/new_details.asp?ID=353. Ở đây tôi chỉ tóm tắt
những nét chính và đưa ra một số sự kiện điển hình.”[39]
Mấy
đọan văn trích dẫn trên đây cho chúng ta thấy rõ Giáo Hội La Mã và các ông tu sĩ
của cái tôn giáo này quả thật là một nhân tố vô cùng quan trọng gây nên tệ nạn
đĩ điếm và tệ nạn con hoang trong các xã hội mà quyền lực của Nhà Thờ Vatican
vươn tới.
Tóm
lại, miền Nam Việt Nam vừa nằm dưới ách thống trị của Nhà Thờ Vatican qua hai
chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu, với
những người lãnh đạo chính quyền bất tài và bất xứng, vừa có nạn tham nhũng
hoành hành, vừa nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Mỹ - Vatican, vừa có nếp
sống dựa trên một nền đạo lý giả nhấn giả nghĩa của đạo Ki-tô La Mã, vừa có sự
hiện diện của gần sáu trăm ngàn quân lính Hoa Kỳ và đồng minh cùng với hàng chục
ngàn ngoại kiều làm việc trong các công ty ngoại quốc phục vụ cho bộ máy chiến
tranh của Hoa kỳ, với tình trạng như vậy, làm sao miền Nam có thể thoát khỏi
được những tệ nạn đĩ điếm, ăn cắp và cướp đường.
IV.- NẾP SỐNG VĂN HÓA
VATICAN DI HAI
VÀO TÂM HỒN TÍN ĐỒ CA-TÔ
NGUỜI VIỆT
Chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đã để lại rất nhiều di
hại vào tâm hồn những người tiếp nhận sở học qua chính sách này trong một thời
gian khá dài nếu họ không cố gắng tự mình tìm cách thoát ra khỏi cái ngục tù ngu
dốt này. Những di hại này nằm sâu trong tâm tư và thường thể hiện ra trong cung
cách hành xử của họ. Chúng tôi xin ghi lại những cung cách hành xử này của họ ở
trong nước và ở hải ngoại.
A.- Ở TRONG NƯỚC
Như đã trình bày ở trong
Chương 8 ở trên, chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican đã
gây ra không biết nhiều hậu quả vô cùng tại hại cho những người tiếp nhận sở học
của nó. Nó không những đã làm cho nạn nhân trở thành ngu dốt, không biết sử dụng
lý trí để phân biệt cái ĐÚNG và SAI,giữa sự kiện và ý kiến,
giữa thuận lý và nghịch lý, giữa yêu nước và phản quốc, giữa độc lập và mất nước,
v.v... mà còn cấy vào đầu óc nạn nhân những
tư tưởng độc hại phản tiến hóa, phản khoa học, phản nhân luân, phản dân tộc và
phản quốc. Tư tưởng biến thành hành động. Sự ngu dốt và những tư tưởng độc hại
này của họ cũng được thể hiện ra thành hành động mà chúng ta đã từng chứng kiến
như:
1.- Linh-mục Hoàng Quỳnh đã
dám ngang nhiên hô khẩu hiệu “Thà mất nuớc, chứ không thà mất Chúa”[40]
khi chỉ huy đám giáo dân biểu tình ở ngoài hàng rào Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày
27/8/1954 để làm áp lực với chính quyền của Tướng Nguyễn Khánh phải phục hồi
quyền lực và quyền lợi của Đảng Cần Lao Công Giáo và phục hồi chế độ đạo phiệt
Ca-tô Ngô Đình Diệm.
2.- Một nhóm giáo dân Hà
Nội tập trung bất hợp pháp, dùng kìm, búa và xà beng đập tường, phá công của
một công sở tại số 42 Phố Nhà Chung rồi xâm nhập vào đây dựng tượng Đức Bà,
cắm thập giá bừa bài ở trong sân, gây bạo lọan từ ngày 18/12/2007 cho đến ngày
30/1/2008.
3.- Cũng nhóm giáo dân đó ở
Hà Nội tái diễn trò hề tập trung bất hợp pháp dùng kìm, búa và xà beng đập,
tường phá cồng của Công Ty May Chiến Thắng tại số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng
Hà Nội, rồi xâm nhập vào bên trong dựng tượng Đức Bà, cắm thập giá bừa bài ở
giữa sân với mục đích gây rối trong suốt thời gian từ ngày 15/82008 đến ngày
22/9/2008.
4.- Việc tỉnh Dòng Cứu Thế
dùng lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) viết trong
lá thư phúc đáp của Tỉnh Dòng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ
Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.
5.- Việc Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) sử dụng những lời lẽ ngang
ngược, coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam viết trong văn thư số 10/GHVN
đề ngày 25/9/2008 để trả lời bản văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông
Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội của với ông Chủ Tịch
Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội vào ngày 20/9/2008.
6.- Việc Tổng Giám Mục Ngô
Quang Kiệt ếng nói rằng “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là
nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam”.
7.- Việc giáo dân ở xã An
Bằng, Huế, dựng tượng Bà Maria bừa bãi kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay
(Tháng 1/2009).
8.- Thái độ hồ hởi vui mừng
của giáo dân và những người đồng minh chống Cộng của họ ở hải ngọai khi hay tin
Trung Cộng xua quân tràn vào lãnh thổ và tấn công Việt Nam và tháng 2 năm 1979.
Tất cả cho chúng ta thấy
giới tu sĩ và dân Chúa người Việt đã mất hết tình yêu đối với tổ quốc và dân
tộc Việt Nam. Họ cho rằng đất nước Việt Nam này là của riêng của Nhà Thờ Vatican
và họ là người của Vatican thì phải chiến đấu cho quyền lợi của Vatican.
B.- TẠI HẢI NGOẠI
Cũng vì chính sách ngu dân
và nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican và các chính quyền đạo phiệt Ca-tô triệt để thi
hành ở miền Nam trong những năm 1954-1975, cho nên mới có những trường hợp như
sau:
1.- Cuối thập niên 1980,
như đã nói ở trên, con chiên Nguyễn Văn chức viết rằng:
“Cuốn VNMLQHT không phải là một cuốn hồi
Ký. Đúng hơn, nó là một tạp ghi cóp nhặt của nhiều người và nhiều tác giả. 93
cuốn sách và 52 tạp chí được trích dẫn. Bản thân ông Đỗ Mậu chỉ xuất hiện đó đây
như một loại giây leo còm cõi sống bán vào những chất liệu cóp nhặt.”
[41]
Đây là cái hậu quả của
việc nhà trường ở bậc trung học cũng như ở đại học không dạy cho học sinh biết
phương cách viết “điểm sách” (Book Report) và cũng không dạy phương cách viết
bài khảo luận hay viết sách theo phương pháp khảo luận. Chúng ta thấy tình trạng
ngu dốt như thế này xẩy ra rất thường ở hải ngọai,
thường hơn cả là trong lãnh vực viết “điểm sách”. Thật là tội nghiệp cho họ. Là
những người dốt nát về vấn đề này mà lại không biết là dốt nát và lại mang cái
bệnh “dốt hay nói chữ”. Vì thế, họ cũng ti toe viết điểm sách và viết theo cảm
tính. Thích ai thì viết những lời tấng bốc đến tận mây xanh, và không ưa ai,
nhất là những người dám viết lên sự thật về những việc làm tội ác của Giáo Hội
La Mã hay các chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Dệm và quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn
Thiệu, thì họ viết “điểm mặt” trong đó họ moi móc đời tư và bịa đặt ra nhiều
điều xấu xa để bêu riếu, hạ nhục, rủa xả và gán cho tác giả là “chống Chúa",
là ”Cộng Sản”. Đây là trường
hợp các ông Ca-tô Trương Phú Thứ viết bài “Đọc Sách: A Poem For My Children”
của tác giả Nguyễn Mạnh Quang đăng nơi cảctang 26-27, 86-87. trong tờ Văn Nghệ
Tiền Phong số 559, phát hành vào tháng 5/1999, và các ông Ca-tô Vũ Đình Họat,
Nguyễn Văn Chức, Đinh Từ Thức viết về cuốn Việt Nam Máu Lử Quê Hương Tôi của tác
giả Đỗ Mậu.‘
2.- Ngày 19/8/1985:
Một nhóm con chiên
(người Việt) cố gắng
phá thối buổi ra mắt cuốn sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II do anh em
trong nhóm Giao Điểm tổ chức ở Wesminster, California.
3.-Và thượng tuần Tháng
6/1996: Một nhóm
tín đồ Da-tô do các ông Bùi Bỉnh Bân, Đòan Thế Cường và Vạn Võ Hành Khuyên dẫn
đầu đến chùa Việt Nam để hạch sách thày Pháp Châu về điều mà họ cho rằng nhà sư
này có “thái độ thân Cộng”.
4.- Ngày 20/12/1997:
Một nhóm con chiên (người Việt) mưu đồ biểu tình và phá thối buổi hội thảo văn
hóa của anh em văn nghệ sị Bắc Mỹ do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức
tại Seattle, Washington.
5.- Ngày 18/5/1998:
Một nhóm con chiên (người Việt) tổ chức và tham dự vụ biểu tình và bao vây ngôi
chùa Đức Viên ở San Jose, khi Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng từ Việt Nam qua
Hoa Kỳ tham quan và lưu trú tại đây. Hành động này kéo dài trong nhiều ngày.
6.- Tháng 1/1999:
Một nhóm con chiên tổ chức biểu tình thị uy và khủng bố tinh thần ông Trần
Trường chủ tiệm cho muớn băng Video tại thành phố Wesminster, Califiornia khi
ông này trưng hình Cụ Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng ở trong cửa tiệm của ông
ta. Hành động này kéo dài trong nhiều tuần lễ (như đã nói ở trên). Trong khi đó,
hàng năm, cứ đến ngày 1/11, tín đồ Da-tô người Việt tại các địa phương ở Bắc Mỹ
tổ chức lễ giỗ thằng Da-tô phản thần bạo chúa tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm vô
cùng rầm rộ thì chẳng có ai nói gì cả.
7.- Ngày 20 và 21 tháng 7
năm 2001: Một
nhóm con chiên khoảng 20 người biểu tình trước Sở Học Chánh Tacoma (Washington)
để chống Bà Minh Anh Hodge Giám đốc Chương Trình ESL, Ngoại Ngữ và Tiểu Học tại
Nha Học Chánh Tacoma, Washington), và gửi đại diện đến văn phòng ông Chánh Sở
Học Chánh Tacoma thỉnh cầu cho bà nghỉ việc với lý do là khi thuyết trình về đề
tài Người Việt Tị Nạn ở Washington vào cuối tháng 4/2000 tại Tacoma Community
College (kỷ niệm 25 năm của nguời Việt tị nạn), Bà đã cho trình chiếu nhiều tấm
hình về cuộc chiến Việt Nam, trong đó, có tấm hình Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự
thiêu, hình Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đang nhắm bắn một tù nhân hai tay bị trói ké
quặt lại sau lưng và hình em bé Kim Phúc bị cháy phỏng bởi bom lửa (Napalm) với
thân hình trần truồng vừa chạy vừa khóc trong kinh hoàng. Ông Chánh sở Học Chánh
Tacoma trả lời rằng dù cho bà Minh Anh Hodge có là Cộng Sản cũng không phài là
vấn đề thuộc thẩm quyền của ông, và ông đề nghị với họ rằng nếu thấy rằng Bà ấy
vi phạm pháp luật thì họ nên đem vấn đề này ra cơ quan tư pháp (Tòa an) xét xử.
Bọn người này bị cụt hứng, thủi thủi kéo nhau ra về.
8.- 27/10/2002:
Con Chiên Nguyễn Xuân Tùng chỉ huy đoàn người đồng đạo mà họ gọi là Diễn Đàn
Ki-tô Hữu đến bao vây ngôi Chùa Việt Nam ở Garden Grove để khủng bố tinh thần
nhà sư Thích Pháp Châu vì rằng nhà sư này vừa là chủ bút tạp chí Hoa Sen, vừa là
trường ban điều hành Đài Phát Thanh Quê Hương Việt Nam. Đây là lần thứ nhất họ
biểu tìinh và bao vây ngôi chùa này.
9.- Ngày 24/4/2004:
Cũng lại con cừu non Nguyễn Xuân Tùng chỉ huy đoàn người đồng đạo trong nhóm
Diễn Đàn Đạo Hữu Ki-tô đến bao vây ngôi Chúa Việt Nam ở Garden Grove để khủng bố
tinh thần nhà sư thích Pháp Châu một lần nữa. Lần này kéo dài tới ngày 31/5/2004
(tất cả là 55 ngày), trong đó có ngày đại lễ Phật Đản vào ngày 30 5/2004.
10.- Tháng 7 năm 2003:
Một nhóm con cừu non người Việt tổ chức biểu tình với chủ tâm phản đối và phá
thối buổi ra mắt cuốn sách Trả Ta Sông Núi của Cựu Đại Tá Phạm liễu được
tổ chức ở San Jose, California.
11.- Chỉ là văn nghệ sĩ,
chúng cũng chẳng tha.
Chúng thù ghét cả những
người ái mộ các nghế sĩ mà họ không ưa thích. Cũng vì thế mà từ khi cuốn băng
Thúy Nga Paris 40 được phát hành vào năm 1996, những người có liên hệ đến cuốn
băng nhạc này như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, các ca sĩ
như Hương Lan, Ái Vân, Băng Kiều, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Ngọc Huyền, Hồng
Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương, Lam Trường, Phương Thanh, v.v... đều trở thành
những nạn nhân của bọn người cuồng nô vô tổ quốc này. Tệ hại hơn nữa, cả những
người ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng bị chúng ghét cay ghét đắng và bị chụp
mũ là thân Cộng hay Cộng Sản nằm vùng.
12.- Họ chửi bới và hạ nhục
những người Việt hải ngoại về thăm quê hương.
Điển hình là vụ tổ chức một buổi lễ tẩy chay ông Nguyễn Cao Kỳ chỉ vì ông Kỳ về
thăm Việt Nam trong dịp Tết Giáp Thân 2004. Những hành động vừa trẻ con, vừa độc
tài này còn tệ hơn chế độ Phát xít Ý và Đức Quốc Xã.
13.- Ở thành phố Garden
Grove, California, có một nhóm tổ chức buổi văn nghệ kỷ niệm ngày nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn qua đời (1/4/2001).
Thế là những người nhân danh là người Việt Quốc Gia hô hảo rủ nhau đến tụ tập ở
trước của rạp hát cỏ tổ chức buổi văn nghệ này trương cao cờ vàng ba sọc đỏ để
biểu tình chống đối và viết bài chứi bới nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những người
ngưỡng mộ nhạc sĩ họ Trịnh và yêu thích nhạc của ông bằng những thứ ngôn ngữ cực
kỳ mất dạy. Thấy rằng chuyện tụ tập với nhau trương cờ vàng ba sọc đỏ biểu tình
chống đối buổi văn nghệ này quả thật là quá ư kệch cỡm, Giáo-sư Trần Chung Ngọc
viết trong bài viết “Phiếm luận về Cộng Sản Hải Ngoại” trong đó có một đoạn như
sau:
“Thật vậy, trên
tinparis.net chúng ta có thể đọc câu sau đây về cuộc biểu tình chống nhạc
Trịnh Công Sơn, nguyên văn: “Biểu tình quy tụ 150 người so với 350 kẻ (thân Cộng
và nằm vùng) đi nghe nhạc Trịnh Công Sơn” Hay thật, đi nghe nhạc Trịnh Công Sơn
nhất định là phải thuộc lớp người “thân Cộng và nằm vùng”? Chống Cộng kiểu
này thì
Tây ở Paris cũng phải phì
cười vì nó ngu ơi là ngu.”
[2]
14.- Từ tháng 7/2007 cho
đến nay (12/4/2008),
ở Nam California, họ tổ chức biểu tình chống phá và viết báo hạ nhục và chửi bới
tờ báo Viet-Weekly bằng những ngôn từ cực kỳ mất văn hóa chỉ vì tờ báo này có
quan điểm chính trị khác với họ, muốn phổ biến bài viết có quan điểm khác và tin
tức một cách trung thực.
15.- Từ tháng 1 năm 2008,
ở Wesmninster, California, họ tổ chức biểu tính chống phá và viết báo hạ nhục và
chửi bới tờ báo Người Việt bằng những ngôn từ giống y như họ đã sử dụng đối với
tờ báo Viet-Weekly chỉ vì tờ bào này in hình lá cờ vàng ba sọc đỏ trong một cái
bồn rửa chân của một người làm nghề Nail (sửa móng tay).
16.-
Tháng 1 nam 2009, cũng ở Nam California, có cuộc triển lãm nghệ thuật của anh em
văn nghệ sĩ của tổ chức danh xưng là VAALA (Vietnamese American Art & Letter)
trong đó có trừng bày một số tác phẩm nghệ thuật không hợp ý với quan niệm về
nghệ thuật của các ông hoặc là đã tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ ở Việt Nam trước năm 1975, hoặc là bị ảnh hưởng của Nhà Thờ
Vatican. Vì thế mà họ quay ra tổ chức biểu tình chống đối. Nhân dịp này, giáo-sư
Trần Chung Ngọc mới viết bài VAALA: From Prologue to Epilogue, Or “NghệThuật Lên
Tiếng” đăng trên sachhiem.net ngày 4/ 2/2009 với lời của tòa soạn như sau:
“Gần
đây có cuộc triễn lãm tranh ảnh nghệ thuật làm sôi nổi dư luận ở California.
Thật ra đối với những người ít chú ý đến nghệ thuật không ai biết đến hội
này. Nhóm người thường xuyên chống cộng đã có cơ hội dương cờ vàng xuống đường.
Việc chống đối đã đưa đến xây xát và phá hoại các bức tranh. Tòa soạn
sachhiem.net đăng chi tiết sau đây để bạn đọc thử tìm hiểu chủ trương lẫn hoạt
động của hội VAALA. Vấn đề còn lại xin để đọc giả nhận xét (SH.)”
[42]
17.- Thái độ hồ hởi vui
mừng của giáo dân và những người đồng minh chống Cộng của họ ở Hoa Kỳ khi hay tin Tòa Án Hoa Kỳ bác bỏ đơn kiện vụ án chất độc Da Cam
trong mấy năm gần đây của chính quyền Vỉệt Nam.
18.- Hành động trong những
ngày gần đây (đầu năm 2009) của giáo dân và những người đồng minh chống Cộng của
họ ở Hoa Kỳ cố gắng vận động với Quốc Hội Hoa Kỳ để đưa Việt Nam vào danh sách
CPC (Countries
particular concerned), nhưng thất bại.
Phần trình bày trên đây cho
chúng ta thấy rõ ràng là những hành động tội ác của người Việt tại hải ngọai là
một trong những di lụy của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội
La Mã đã được triệt để thi hành ở miền Nam Việt Nam trong những năm trong những
năm 1954-1975. Nói chung, tất cả những tội ác của người Việt ở trong nước cũng
như ở hải ngoại đều có nguyên nhân phát xuất từ Nhà Thờ Vatican mà ra cả và tất
cả những việc làm ngu xuẩn này (vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tư
tưởng, vi phạm quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí) đều phù hợp với chủ
trương của Giáo Hội La Mã. Cái chủ trương chuyên chính, phản tiến hóa và phản
dân chủ này đã được Giáo Hòang Hoàng Gregory XVI (1831-1846) công khai tuyên bố
rõ ràng cho mọi người được biết. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại đầy đủ.
Sách Tôn Giáo và Dân Tộc viết:
“Đức Giáo Hoàng Grégoire
XVI đã gọi tự do báo chí là ”thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm
nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp
nơi...”[43].
Vì vốn là
những người thuộc thành phần ăn trên ngồi trốc, hét ra lửa mửa ra khói và sống
nhờ vào những đồng tiền kiếm được từ những tệ nạn xã hội trên đây
ở miền Nam Việt Nam trước kia, cho nên ngày nay ở hải ngoại, họ cảm thấy xót
xa đau đớn vì đã mất hết tất cả những thứ béo bở trên đây và trở thành những kẻ
trắng tay. Họ nuối tiếc cái thời vàng son của ngày nào. Vì thế mà họ mới quyết
tâm bơi ngược dòng lịch sử mưu đồ rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam
một lần nữa với hy vọng họ sẽ được sống lại cái thuở huy hoàng làm cha thiên hạ
giống như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Đây là lý do tại sao
họ khư khư bám lấy chiêu bài chống Cộng để cùng nhau hò hết lật đổ chính quyền
Việt Nam hiện nay mà không cần biết đế quyền lợi tối thượng của tổ quốc và dân tộc.
Cái tâm lý này của họ được ông Mục Đồng ghi nhận như sau:
“Do bối cảnh lịch sử đặc
biêt của nước Việt Nam, sau 30/04/1975 có nhiều người Vệt định cư ở nhiều nơi
trên thế giới, qui tụ đông nhất là ở Mỹ. Đại đa số người Việt nầy lo làm ăn hòa
nhập vào xã hội xứ người, nhưng vẫn còn một số tiếc nuối những đặc quyền, đặc
lợi mà họ được hưởng trong các chế độ Pháp thuộc, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn
Thiệu ở Miền Nam Việt Nam trước 30/04/1975, cho nên tới nay vẫn còn nuôi lòng
thù ghét nhà nước Việt Nam và đang sống trong hoang tưởng!
Nếu có dịp xem qua các tờ
báo phát không của người Việt ở Mỹ như tờ Saigon Nhỏ, Niềm Tin,…, và xem các bài
viết của các cơ sở truyền thông như Tinparis, vietcatolic, tiengnoigiaodan,…,
thì sẽ thấy những người vẫn đang nuôi căm thù và hoang tưởng gồm một số cựu sĩ
quan của chế độ VNCH, một số đảng phái đã tùng có thành tích hợp tác với Pháp và
Mỹ trong chiến tranh ở nước ta, và đa số Con Chiên của chúa Jesus.
Họ tạo thành những nhóm
chống Cộng cực đoan với những hoạt đông trong cái “hoang tưởng trở về thống trị
dân Việt Nam”. Họ thường xuyên cố ý bôi nhọ nhà nước Việt Nam bằng cách chọn
những sự kiện xấu nhất xảy ra ở Việt Nam rồi biên tập bình luận xuyên tạc đổ tội
cho nhà cầm quyền Việt Nam là ngu dốt, tham tàn, bóc lột dân,..,.Họ đã làm những
hành động mang tính chất hoang tưởng. Chẳng hạn, họ vận động xin chữ ký của Giáo
dân gởi cho Giáo Hoàng ở Vatican để Giáo Hoàng thay mặt Chúa Jesus toàn năng,
muốn làm gì cũng được “làm phép” buộc nhà nước Việt Nam đổi tên Tp Hồ Chí Minh
thành Saigòn! (nhưng bao năm qua mà chúa vẫn chưa làm được!). Họ theo dõi vụ các
cha đạo xúi Giáo dân cầu nguyện đòi dành đất cho Vatican ở Hà nội, rồi xuyên
tạc, vu khống, bôi nhọ nhà nước Việt Nam để khích động khí thế chống Cộng cho
phe nhóm của họ. Điều buồn cười là theo luận điệu của họ thì nhà nước Việt Nam
nay suy yếu lắm rồi, sẽ sập nay mai. Và chúng lăm le trở về ngự trị, sẽ tiêu
diệt hết 3 triệu đảng viên,…
Điều khôi hài nhất là họ tự
tỏ ra là những người tài như thánh, mặc dầu vào ngày 30/04/1975 họ bỏ chạy trối
chết đôi khi trên người chỉ còn chiếc quần đùi…, và ngày nay chỉ là những người
già sống nhờ tiền trợ cấp xã hội của Mỹ ! Vài năm trở lai đây, họ công khai
tổ chức tưởng niệm, viết bài cổ xúy tinh thần tượng Ngô Đình Diệm của họ,
(như Tôn Thất Thiện,..), đồng thời moi móc cố ý nói xấu Hồ Chí Minh (như Trần
Gia Phung), và phỉ báng những người mà họ cho là "làm cho miền Nam sụp đổ" trong
đó có Nhạc sĩ Trinh Công Sơn…”
[44]
CHÚ THÍCH
[1]
Trần Tam Tình, Thập Gia và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xúat Bản Trẻ,
1978), tr. 129-130.
[2]
Nguyễn Văn Chức, Việt Nam Chính Sử (Fall Church, VA: Alpha,
1992), tr. 1.
[3]
Nguồn: Nguyen Hai. “Đôi điều nhận xét về những phát biểu
của Bà Dương Nguyệt Ánh” sachhiem.net. Ngày
26/2/2009
[4]
Stanley I. Kutler (Ed.), Encyclopedia of the Vietnam War (New York: Simon & Schuster
McMillan, 1996), pp. 591-592. Nguyên văn: “Between 1965 and 1973, the
United States used more than 14 million tons of air – and artillery high
explosives on the area. The bombing done accounted about 7 million tons or more
than three times the tonnage used during World War II. Most of the bombs and
artillery shells, and virtually all the defoliant (nearly 12 million tons), fell
on the southern half of the country. The purpose to destroy the National
Liberation Front revolutionaries’ infrastructure and to deprive them of popular
support in the South by driving the population into areas controlled by the
South Vietnamese government. In congressional testimony in January 1966,
Secretary Defense Robert McNamara introduced evidence on the success of air and
artillery attacks, including “the most devasting and frightening” B.52 raids in
forcing the villagers “to move to where they will be safe from such attacks
regardless of their attitude to the GVN.” This, Mc Namara contininued, not only
disrupted Viet Cong guerrillas’ activities but also threatened” a major
deterioration of their economic base. The effect, however, was to destroy nearly
one third of the cropland and more than half of the hamlets. By 1972, according
to a U.S. Senate subcommittee report, U.S. air and artillery attacks were
responsible for great bulk of the ten million refugees and most of the civilian
casualties.”
[5]
Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam
(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.
[6]
Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.
[7]
Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Tôn Giáo
Chính Trị Quan - Tập II ( Falls Church, VA: Alpha, 1991), tr.
1013-1014.
[8]
Trần Tam Tình, Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978),
tr. 126-127.
[9]
Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York:
Frederick A. Praeger, 1967), p 956, Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê
Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1994), tr 645, và Nguyễn Đắc
Xuân. " viết "Bất ngờ, Sinh Viên Huế 1963." http://www.giaodiem.com
Ngày 18/10/2002.
[10]
Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân
– Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr.
428.
[11]
Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên 204), tr. 127-131.
[12]
Đỗ Mậu, Việt Nam Máu lửa Quê Hương
(Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993), tr. 786.
[13]
Joseph Buttinger, Ibid., p. 932-933.
[14]
Alfred W McCoy, The Politics of
Heroin in Southeast Asia (New York: Harper Colophon Books, 1973)
pp. 159-161.
Nguyên Văn: “Diem’s Dynasty
and the Nhu’s Bandits.-
…But Nhu was determined to go ahead, and to revive the opium traffic to provide
the necessary funding... Although most of Saigon’s opium dens had been shut for
three years, the city’ s thousands of Chinese and Vietnamese addicts were only
too willing to resume or expand their habits. Nhu used his contacts with
powerful Cholon Chinese syndicate leaders to reopen the dens and set up a
distribution network for smuggled opium. Within a matter of months hundreds of
opium dens had been open reopened, and five years later one Time-Life
correspondent estimated that there were twenty-five hundred dens operating
openly in Saigon‘ s sister city Cholon.
To keep these outlets
supplied, Nhu established two pipelines from Laos poppy fields to South Vietnam.
The major pipeline was a small charter airline, Air Laos Commercial, managed by
Indochina’s most flamboyant Corsican gangster, Bonaventure “Rock” Francisci.
Although there were at least four small Corsican airlines smuggling between
Laos and South Vietnam, only Francisci’s dealt directly with Nhu. According to
Lt. Colonel Lucien Conein, a former high ranking CIA officer in Saigon, their
relationship began in 1958 when Francisci made a deal Ngo Dinh Nhu to smuggle
Laotian opium into South Vietnam. After Nhu guaranteed his opium shipment safe
conduct, Fracisci’s fleet of twin engine Beechcrafts began making clandestine
airdrop inside South Vietnam on a daily basis.
Nhu supplemented these
shipments by dispatching intelligence agents to Laos with orders to send back
raw opium on the Vietnam air force transports that shuttled back and forth
carrying agents and supplies.
While Nhu seems to have
dealt with the Corsican personally, the intelligence missions to Laos were
manged by the head of his secret police apparatus, Dr. Tran Kim Tuyen. Although
most account have portrayed Nhu as the Diem regime’s Machiavelli, many insiders
feel that it was the diminutive ex-seminary student. Dr, Tuyen, who had the real
lust and capacity for intrigue. As the head of the secret police,
euphemistically titled Office of Social and Political Study, Dr. Tuyen commanded
a vast intelligene network that included the CIA financed special forces, the
Military Security Service, and most importantly, the clandesdtine Can Lao party.
Through Can Lao party, Tuyen recruited spies and political cadres in every
branch of the military and civil bureaucracy. Promotions were strictly
controlled by the central government, and those who cooperated with Dr. Tuyen
were rewarded with rapid advancement. With profits from the opium trade and
other officially sanctioned corruption, the Office and Political Study was able
to hire thousands of cyclo-drivers, dance hall girls (”taxi dancers”) and street
vendors as partime spies for an intelligence network that soon covers every
block of Saigon-Cholon. Instead of maintaining surveillance on a suspect by
having him followed, Tuyen simply passed the word to his “door to door”
intelligence net work and got back precise, detailed reports on the subject’s
movements, meetings, and conversations. Some observers think that Tuyen may have
had as many as a hundred thousand full and part time agents operating in South
Vietnam. Through this remarkable system Tuyen kept detailed dossiers on every
important figure in the country, including paricularly complete files on Diem,
Madame Nhu, and Nhu himself which he sent out of the country as a form of
personal “life insurance.”
Since Tuyen was responsible
for much of the Diem regime’ foreign intelligence network, he was able to
disguise his narcotics dealing in Laos under the cover ordinary intelligence
work.”
[15]
Bradley S. O’ Leary & Edward Lee, Cái chết của những ông vua thời
chiến tranh lạnh: Vụ Ám Sát Ngô Đình Diệm & J.F Kennedy –
Phạm Viên Phương & Mai Sơn dịch (Nhà Xuất Bản Tự Do, 2000), tr. 51-52.
[16]
Bradley S. O’ Leary & Edward Lee,
Sđd., tr. 303-304.
[17]
Bradley S. O’ Leary & Edward Lee,
Sđd., tr. 306-307.
[18]
William J. Lederer, Our
Worst Enemy (New York: W. W. Norton & Company Inc., 1968), tr 165.
[19]
Loraine Boettner, Roman Catholicism
(Phillipsburg, New Jersey: Presbyterian and Reformed Publishing Company,
1962), p, 9.
[20]
Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc
(Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr. 66.
[21]
Đỗ Quang Vinh, Bút Thuật Của Nguyễn Du Trong Đoạn Trường Tân Thanh
(Canada: TXB, 2003), tr. 7.
[22]
Nhiều tác giả, Trần Lục (Montréal, Canada: LM Nguyễn Gia Đệ,
1996), tr. 388.
[23]
Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm,
2001), tr. 292.
[24]Trần
Chung Ngọc, Sđd., tr. 300.
[25]
Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2001), tr. 63-64.
[29]
Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn
Nghệ, 1993), tr. 412.
[30]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 126.
[31]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr, 127-128.
[32]
Trần Tam Tỉnh, Sđd, tr. 175-176.
[33]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 178-179.
[35]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 77.
[38] Peter
de Rosa, Sđd., tr 416.
[39]
Trần Chung Ngọc, “Điểm sách “AMAN” của tác giả
Jesme Raphael” sachhiem.net Ngày
11/4/2009.
[40]
Chu Văn Trình, Văn Sử Địa (Tavares, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực,
1989), tr. 80.
[41]
Xem chú thích 2 ở trên.
[42]
Trần Chung Ngọc. “VAALA: From Prologue to Epilogue, Or “NghệThuật Lên
Tiếng.” sachhiem.net. ngày 4/2/2009.
[43]
Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc
(Sàigon: Lửa Thiêng, 1973), tr 76
[44]
Mục Đồng. “Xin Tha
Tội Cho Con Chiên Trịnh Cung – Amen.” Sachhiem.net Ngày 25/4/2009.