●   Bản rời    

Mỹ Tạo Ra Ngô Đình Diệm Trong Tiến Trình Thay Thế Pháp - Phục Hồi Quyền Lực Vatican ở Việt Nam

Mỹ Tạo Ra Ngô Đình Diệm Trong Tiến Trình Thay Thế Pháp -
Phục Hồi Quyền Lực Vatican ở Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ107.php

02-Jun-2019

LTS: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, một người được ngoại cường đánh bóng để nắm quyền cai trị đều không có chính nghĩa. Ông Ngô Đình Diệm trước khi sang Mỹ tìm sự ủng hộ, không hề có thành tích gì với dân tộc (thậm chí còn có tội ác với dân chúng khi làm quan cho Pháp). Hơn nữa, ông lại được đào tạo trong môi trường Ca-tô Giáo La Mã, do quốc gia Vatican lãnh đạo, cũng là một loại đế quốc tinh thần. Tóm lại, chưa ai biết gì về tên tuổi Ngô Đình Diệm cả, nghĩa là thành tích là con số không hay số âm. Bài viết sau đây nói rõ sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm trên chính trường Việt nam trong tiến trình Mỹ thay thế Pháp tiếp tục cuộc chiến phục hồi quyền lực của Vatican ở Việt Nam. (SH)

 

I. Bối Cảnh Lịch Sử: Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican Sa Lầy Trong Cuộc Chiến Tái Chiếm Đóng Dương Khiến Cho Mỹ Vào Việt Nam

Khi cấu kết với nhau bổ nhậm cựu Linh-mục Thiery d’ Argenlieu làm Cao Ủy Đông Dương và đem quân sang tái chiếm Đông Dương, thì cả Vatican và Pháp đều cho rằng chỉ trong vòng mấy tháng là họ sẽ đánh tan Quân Đội Kháng Chiến và chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dưới quyền lãnh đạo của nhà cách mạng lão thành Hồ Chí Minh.

Linh-mục Thiery d’ Argenlieu

Bài viết này gồm các tiết mục dưới đây:

I.- Bối cảnh: Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican sa lầy trong cuộc chiến tái chiếm Việt Nam khiến cho Mỹ vào Việt Nam

II.- Hoa Kỳ thay thế Pháp tiếp tục cuộc chiến của Pháp ở Việt Nam

III.- Qua sự vận động của Vatican, Ngô Đình Diệm được Mỹ chọn đưa về Việt Nam cầm quyên

IV.- Lý do Hoa Kỳ dùng bộ máy đàn áp nhân nhân ta và đạo quân đánh thuê bản địa của Pháp để lại

V.- Mỹ đưa nhân viên CIA vào Việt Nam để chuẩn bị lực lượng ủng hộ, bảo vệ và làm cố vấn vấn cho Ngô Đình Diệm

VI.- Ngô Đình Diệm ưu đãi tập thể con chiên để cùng cố và bảo vệ quyền lực.

VII.- Ngô Đình Diệm Hăng Say Thực Thi Lời Tuyến Bố “tin tưởng vào quyền lực của Vatican”

VIII.- Kết Luận

Tin tưởng như vậy, cho nên cuối tháng 12/1945, Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) mới ra lệnh cho viên khâm sứ của giáo triều Vatican tại Huế là Tổng Giám Mục Antoni Drapier đưa ra đề xuất dùng Bảo Đại thành lập chính quyền bù nhìn để làm bức bình phòng che đậy cho mưu đố bất chính “chia để trị” và “dùng người Việt đánh người Việt” của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đang tiến hành “cuộc chiến bẩn thỉu” (la sale guerre) tái chiếm Đông Dương. Sách sử đều ghi rõ như vậy. Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập A: 1939-1946 ghi nhận:

“28/12/1945: Huế: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma tuyên bố: Gia đình Bảo Đại là “gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophilende tous les annamites), và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/ (1945) (À mon avis, il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi come le chef regulier avant le mars; DOM [Aix], CP 125). Drapier cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long lên kế vi, và Nam Phương là Giám Quốc [Phụ Chính].”Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập A: 1939-1946 (Houston, TX: Văn Hóa, 1996), tr 295.

Tổng Giám Mục Antoni Drapier

Nên nhớ rằng, tất cả mọi thành phần tu sĩ áo đen không được phép làm những gì mà Giáo Hội La Mã không cho phép. Sự kiện này được Linh-mục Trịnh Văn Phát khẳng định nhu sau:

“Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với giáo hội vì tôi là người của giáo hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của giáo hội.” Trịnh Văn Phát, Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi. (Đăng trong Giáo Hoàng Học Viiên PIÔ - Liên Lạc Số 2 - Nhóm Úc Châu thực hiện, tháng 7 năm 1995, tr 72.

Bản văn trên đây cho thấy rõ tất cả lời tuyên bố, quyết định, hành động cũng như đề xuất của Tổng Giám Mục Antoni Drapier trên đây đều là do lệnh truyền của triều Vatican cả.

Đồng thời, Cao Ủy Đông Dương Thierry d’ Argenlieu cũng đang tiến hành xé nước Việt Nam ra làm nhiều mảnh (tiểu quốc) theo lằn ranh biên giới địa lý, sắc tộc và tôn giáo để dễ bề tái chiếm đất nước ta bằng các độc kế:

1. Tách rời Nam Bộ ra khởi nước để thành lập nước Cộng Hòa Miền Nam mà sách sử gọi là “Nam Kỳ Quốc” vào ngày 27/5/1946 và công bố vào ngày 1/6/1946 trong buổi tụ tập tạo Công Trường Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn:

“Sau khi Hồ Chí Minh đã khởi hành đi Pháp ngày 31/05/1946, thì ngày 01/06/1946 ở Sàigòn tại Công Trường Đức Bà Sàigòn với rất đông quần chúng Pháp – Viêt, D’Argenlieu cho công bố việc thành lập Nam Kỳ Quốc. Quốc Kỳ là lá cờ vàng ba sọc xanh tượng trưng cho ba dòng sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang, quốc thiều là 4 câu đầu cuốn Cung Oán Ngâm Khúc của Bà Đoàn Thị Điểm:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì Ai gây dựng cho nên nỗi này.

Chính phủ gồm có:

Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Nội Vu: Nguyễn Văn Thinh, bác sĩ,.

Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng: Nguyên Văn Xuân, đại tá,

Tổng Trường Bộ Tư Pháp: Trần Văn Tỷ,\ thẩm phán

Tổng Trưởng Bộ Công Chánh, Viễn Thông: Lưu Văn Lang, Kỹ sư

Tổng Trưởng Tài Chính: Nguyễn Thành Lập,

Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Nguyễn Thành Giung,

Tổng Trưởng Lao Động Xã Hội: Khương Hữu Long,

Thứ Trưởng Công An Toàn quốc): Nguyễn Văn Tâm (toàn quốc),

Thứ Trường Công An (Sàigòn): Nguyễn Tấn Cường. Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nhà Sách Nam Á, 2002), tr. 2102.

2. Tách rời miền Cao Nguyên Trung Bộ để thành lập nước Tây Kỳ: Sự kiện này cũng được sách Việt Sử Khảo Luận ghi nhận như sau:

https://books.openedition.org/irasec/1434

Ngày 27/05/1946, tức là cùng ngày cho thành lập Nam Kỳ Quốc, D’ Argenlieu ký một sắc dụ thành lập “Phủ Ủy Nhiệm Các Dân Tộc Miền Núi Ở Nam Đông Dương” (Le Commissariat des Populations Montagnardes du Sud-Indochinois, tắt là P.N/SI.).

Rồi ngày 21/06/1946, ông ra lệnh cho Tướng Leclerc phải cho hai đoàn thiết giáp đi chiếm hai tỉnh mọi Pleiku và Kontum tiến đến qua Đèo An Khê mới ngưng. Thế là toàn thể vùng cao nguyên ở Nam Trung Bộ biến thành một “nước mọi thuộc Pháp” mà người Việt gọi là “Tây Kỳ Quốc”, Hoàng Cơ Thụy, Sđd., tr 2103.

3. Tách rời các tỉnh Lai Châu và Điện Biên Pbủ để thành lập xứ Thái tự trị. Sự kiện này được Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Xứ Thái Tự Trị ghi nhận như sau:

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/39/Pays_Ta%C3%AF.jpg

“Xứ Thái (tiếng Thái: เจ้าไท -Chau Tai; tiếng Pháp:Pays Taï), hoặc Khu Tự trị Thái. Mười sáu xứ Thái; tiếng Pháp: Territoire autonome Taï, TAT) là một lãnh địa tự trị tồn tại trên phần lớn khu vực Tây Bắc Việt Nam từ năm 1948 đến 1954. Miền đất này từng là nơi chồng lấn của nhiều thế lực chính trị tại khu vực phía Nam Trung Hoa, trước khi trở thành một phần của Liên bang Đông Dương. Sau khi Phát-xít Nhật đầu hàng Việt Minh, khu vực này thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đây là vùng tranh chấp giữa Việt Minh và các lực lượng của Pháp. Tới năm 1954, với việc Thực dân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ và phải rút khỏi Việt Nam, khu vực này tiếp tục được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý..”.. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu tự trị Thái)

4.) Tách Rời Tỉnh Móng Cái và các vùng phụ cận để thành lập Khu Tự Trị Nùng Hải Ninh. Sự kiện này được Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Khu Nùng Tự Trị ghi nhận như sau:

https://nungpeople.wordpress.com/2017/03/02/dan-hoa-nung-ngai-o-dao-hai-ninh/

Khu này gồm Hà Cối, Tiên Yên, Đầm Hà,Ba Chẽ, Bình Liêu, Đình Lập, Hải Ninh, với Móng Cái là thủ phủ. Đơn vị này được lập năm 1947đến năm 1950 thì gom vào Hoàng triều Cương thổ thuộc quyền Quốc trưởng Bảo Đại theo đạo dụ số 6 ký ngày 15 Tháng Tư. [Lãnh tụ Nùng là Đại tá Voòng A Sáng.” (https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_tự_trị_Nùng)

5.) Biến hai giáo khu Phát Diệm và Giáo Khu Bùi Chu thành hai giáo khu tự trị trong ý đồ sẽ biến 2 giáo khu này thành một vương quốc theo đạo Ca-tô giống như hồi 1999-2000, họ thành công biến tỉnh Đông Timor của Indonesisa thành quốc gia East Timor. Sự kiện này được Wikipedia ghi nhận như sau:

Hội Công giáo Cứu quốc, về nguyên tắc là một thành viên của Mặt trận Việt Minh. Tuy nhiên, với ảnh hưởng của mình, Giám - mục Từ đã tách dần tổ chức này ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh. Với danh nghĩa Công giáo cứu quốc, ông chỉ đạo cho các giáo dân vũ trang và tổ chức thành những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, biến các giáo khu thành những chính quyền tự trị, ngoài sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh.” (https://vi.wikipedia.org/wiki/...).

Tuy rằng đã thi hành chính sách chia để trị và dùng người Việt đánh người Việt mà cuộc chiến tái chiếm Đông Dương vẫn không dễ dàng như chính quyền Pháp cũng như giáo triều Vatican đã lầm tưởng, và càng về sau chính quyền Pháp càng ngắc ngư với những khó khăn tại chiến trường Đông Dương. Lý do là quân đội của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican càng ngày càng bị sa lầy ở Việt Nam và ở ngay chính quốc Pháp do phong trào chống chiến tranh khiến cho thanh niên Pháp không chịu sang chiến đấu ở Đông Dương.

Cũng nên biết, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt ở Âu Châu vào đầu tháng 5 năm 1945, nước Pháp cũng như tất cả các quốc gia lâm chiến ở Âu Châu và ở các lục địa khác đều lâm vào tình trạng bị chiến tranh tàn phá khiến cho đất nước bị tan hoang: Hầu hết các nhà máy kỹ nghệ đều bị bom đạn tàn phá, các đường xá, cầu đường đều bị hư hại nặng nề, đồng ruộng bị bỏ hoang, nhân dân trở nên nghèo đói, thiếu thốn đủ mọi thứ từ thực phẩm, áo quần cho đến tất cả mọi tiện nghi tối cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cũng đều trở nên khan hiếm. Tình trạng này khiến cho nhân dân lâm vào cảnh đói nghèo thiếu cơm, thiếu áo, và phải sống trong những căn nhà đã bị hư hại vì chiến tranh, thiếu thốn trăm bề. Tất cả làm cho ngân quỹ quỹ quốc gia thiếu hụt. Vì thế mà chính quyền Pháp gặp rất nhiều khó khăn để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương.

II. Hoa Kỳ Thay Thế Pháp Tiếp Tục Cuộc Chiến của Pháp Và Vatican ở Việt Nam

Cuối tháng 9 năm 1949, khi toàn bộ Quốc Quân Trung Hoa dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch bị Hồng Quân Trung Hoa đánh bại hoàn toàn và phải cuốn gói chạy trốn ra ẩn náu ở Đài Loan. Hoa Kỳ đã tiên liệu sớm hay muộn thì Pháp cũng không còn có khả năng tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương và phải bỏ cuộc. Vì thế mà Hoa Kỳ mới tính kế giúp Pháp cầm cự cho đến khi tình thế thuận tiện thì sẽ ép Pháp để cho Hoa Kỳ thay thế Pháp giải quyết những vấn đề khó khăn này của Pháp ở Đông Dương.

Hoa Kỳ giúp Pháp cầm cự cuộc chiến tái chiếm Đông Dương bằng cách nào?

Bằng chính sách tạm thời viện trợ kinh tế và vũ khí nhỏ giọt cho Pháp để Pháp có thể cầm cự được đến khi thời cơ thuận tiện cho Hoa Kỳ có thể ép Pháp nhường cho Hoa Kỳ thay thế Pháp lo phần còn lại của chiến tranh do Pháp và Vatican chủ động gây ra ở Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

8/5/1950: Washington, DC: TT Truman công bố đã quân viện cho Pháp ở Đông Dương, và số lượng ngày càng tăng. Mục đích để giúp Pháp đánh Việt Minh.

Ngoại trưởng Acheson cũng tuyên bố viện trợ trực tiếp cho ba nước Đông Dương, đồng thời tiếp tục viện trợ cho Pháp. Nước Mỹ hiểu rằng vấn đề Đông Dương tùy thuộc vào cả hai vấn đề vãn hồi trật tự và việc phát triển tinh thần quốc gia và sự giúp đỡ của Mỹ có thể và cần đóng góp vài hai mục tiêu này (FRUS, 1950, VI: 812).

11/5/1950: Washington, DC: XLTV Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố: Phái đoàn Griffin yêu cầu cho các nước Đông Nam Á vào khoảng 60 triệu Mỹ Kim. Số tiền này trích ra từ 75 triệu trong Quỹ Cứu Cấp của Tổng Thống dành cho Trung Hoa.” Chính Đạo,Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 - Tập B:1947-1954 (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr. 181.

Tình hình thế giới vào lúc đó (cuối năm 1950) không thích hợp cho Hoa Kỳ trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến của Pháp ở Đông Dưong. Lý do là Hoa Kỳ đang phải bận tâm (1) đối phó với cuộc chiến ở Triều Tiên mới bùng nổ vào ngày 25/6/1950, kéo dài mãi tới ngày 27/7/1953 mới chấm dứt, và (2) lo củng cố Minh Ước Đại Tây Dương, cần có Pháp ở trong minh ước này (để chống lại sự bành trướng của Liên Xô (đang dâng tràn từ Liên Xô tràn qua Ba Lan đến ranh giới Đông và Tây Đức, bao trùm các nước Tiệp Khắc, Hung Gia lơi, Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi.

Hòa Ước ngưng chiến tại triều Tiên được ký kết vào ngày 27/7/1953, dù rằng mọi việc lòng thòng của Hòa Ước này (chưa giải quyết xong) được giao cho một hội nghị sẽ nhóm họp ở Genève (Thụy Sĩ) giải quyết. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mới được rảnh tay tính đến chuyện can thiệp vào “Cuộc Chiến Bẩn Thỉu” (La Salle Guerre) của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ở Đông Dương. Thế nhưng:

“Hàn Quốc không ký hiệp định: Chính phủ Hàn Quốc lúc đó cũng cho rằng một hiệp định khiến bán đảo bị chia cắt là "không thể chấp nhận được" nên không ký vào hiệp định đình chiến, dù nước này gần đây xác nhận đã thảo luận về việc ký hiệp ước hòa bình với Triều Tiên. Trung Quốc cũng không phải là bên đặt bút ký vào văn bản, vì Bắc Kinh luôn cho rằng cuộc chiến này là vấn đề giữa Triều Tiên và Mỹ.

Khi ký vào hiệp định đình chiến, đại diện của các bên đều không có ý định để cuộc chiến này "lửng lơ" suốt hơn nửa thế kỷ. Họ dự định đi đến thỏa thuận hòa bình lâu dài tại một hội nghị ở Geneva vào năm 1954. Theo các sử gia, chính triển vọng về hội nghị hòa bình này là yếu tố quan trọng giúp các bên gạt bỏ các bất đồng để ký hiệp định chấm dứt đổ máu.

Nhưng tại hội nghị Geneva vào tháng 4/1954, khi bàn đến vấn đề Triều Tiên, các lãnh đạo đã không thể nhất trí về con đường hòa bình cho bán đảo. "Ý tưởng tại hội nghị lúc đó là một chính phủ Triều Tiên thống nhất sẽ được thành lập sau bầu cử, nhưng các đoàn đại biểu lại không thống nhất được tiến trình này sẽ diễn ra như thế nào", Charles K. Armstrong, chuyên gia nghiên cứu Triều Tiên, cho biết.

Việc tổng thống Hàn Quốc khi đó là Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) muốn Mỹ cần có các hành động để tăng quyền kiểm soát bán đảo của Seoul cũng gây nhiều trở ngại cho tiến trình hòa bình. Một rào cản khác là việc Mỹ không thừa nhận tính hợp pháp của chính quyền Trung Quốc khi đó, nhất là khi ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles từ chối bắt tay thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại hội nghị Geneva.

"Hội nghị Geneva đổ vỡ và cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên vẫn chưa chính thức chấm dứt từ đó đến nay.“ Bình An, Hiệp định đình chiến Triều Tiên ra đời như thế nào?” Nguồn: VNEXPRESS (https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/hiep-dinh-dinh-chien-trieu-tien-ra-doi-nhu-the-nao-3743917.html)

Khi Hội Nghị Genève 1954 lâm vào tình trạng bế tắc trong việc bàn thảo về các điều khoản trong Hiệp Ước Đình Chiến ở Triều Tiên, ngày 26/4/1954, các trưởng phái đoàn của các nước Anh, Nga, Pháp, Trung Hoa, Ấn Độ, v.v… đều đồng thuận chuyển sang bàn thảo về vấn đề chấm dứt cuộc chiến do Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican gây ra ở Đông Dương..

Cũng nên biết rằng, tình hình chiến sự tại Đông Dương vào 26/4/1954 như sau:

a.- Hơn 10 ngàn Liên Quân Pháp –Vatican tại các cứ điểm Điện Biên Phủ đang bị quân đội Kháng Chiến Việt Minh siết chặt vòng vây và số phận của các đạo quân này bị coi như là tuyệt vọng.

b.- Viện trợ Mỹ cho Pháp để tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tái chiếm Đông Dương vào đầu năm 1954 lên đến vào khoảng từ 75% đến 80% của tổng số tốn phí cho “cuộc chiến bẩn thỉu” này. Sách Việt Nam 1945-1995 ghi nhận như sau:

Cuộc chiến 1945 – 1954 đã làm thương vong cho 172.708 người về phía Pháp. Trong đó có 31.716 binh sĩ thuộc ba nước Đông Dương. Số thương vong về phía quân đội Cộng Sản không được biết rõ, nhưng được phỏng định ít nhất là một triệu. Số dân thiệt mạng trong cuộc chiến vào khoảng 250.000 người. Phí tổn về phía Pháp tính đến 1950 chiếm từ 40% đến 45% ngân sách quốc phòng và trên 10% ngân sách quốc gia.

Trong những năm cuối cùng viện trợ Mỹ gánh chịu đến 75% chi phí. Về phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phí tổn không rõ là bao nhiêu, nhưng sự thiệt hại về tài sản của nhân dân và về những nguồn lợi kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh và cả những năm sau chiến tranh cộng với sự thiệt hại về nhân mạng đã cho thấy cái giá của chiến tranh là quá đắt. Cái giá ấy sẽ không đắt nếu chiến tranh là con đường duy nhất để dẫn đến độc lập, tự do, và hạnh phúc thực sự cho dân tộc. Nhưng cái giá ấy là quá đắt vì chỉ trong vòng mấy năm sau thế chiến thứ II các xứ thuộc địa, trừ một số nước ở Nam Phi đều được trả lại độc lập mà không cần phải có chiến tranh ” (Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 (Bethesta, MD: Tiên Rồng, 2004), tr 192-193).

Và lúc đó, Hoa Kỳ đã quyết định thay thế Pháp để theo đuổi cuộc chiến này bằng cách:

1.- Tìm cách làm áp lực với Pháp phải trả trả độc lập thực sự cho Việt Nam bằng “Hiệp Ước Độc Lập Cho Quốc Gia Việt Nam” Ngày 4 tháng 6 năm 1954” (Treatty Of Independence Of Vietnam, June 4, 1954 -Gareth Porter, Vietnam A History In Documents, New York: A Merridian Book New American Library, 1979), p. 150-151.

2.- Từ chối, không công nhận Hiệp Định Genève nhưng lại tuyên bố rằng, Hoa Kỳ:

sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp Định (Genève 1954 -NMQ) là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế.” Hiệp Định Genève 1954, Bách Khoa Toàn Thư mở Wikipedia (https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiệp Định Genève,_1954).

3.- Có ý định dùng bom nguyên tử để giải vây cho hơn mười ngàn Liên Quân Phap – Vatican đã bị Quân Đội Kháng Chiến Việt Minh vây khổn, nhưng không được Hội Đồng An Ninh Hoa Kỳ tán đồng và Ngoại Trưởng Anh Anthony Enden (1897-1977) cũng không tán đồng. Vì thế mà Tổng Thống Eisenhower hủy bỏ ý định cực kỳ dã man này.

Hồng Y Spellman (trái) được Giáo Hoàng Pius XII tiếp đón tại Vatican

Cũng nên biết rằng, ngay khi chính quyền Hoa Kỳ còn lưỡng lự có nên hay không nên dùng bom nguyên tử để giải vây cho hơn mười ngàn Liên Quân Pháp – Vatican tại các cứ điểm Điện Biên Phủ, thì Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) và Hồng Y Francis Spellman hăng say cổ võ chính quyền Hoa Kỷ phải nên sử dụng 6 trái bom nguyên tử có sức tàn phá cực mạnh và tác hại gấp nhiều lần so với hai trái bom nguyên từ mà Hoa Kỳ đã sử dụng bỏ xuống thành phố Hiroshima vào ngày 06/08/1945 và thành phố Nagasaki vào ngày 09/08/1945 để giải vây cho đạo quân này của Liên Quân Pháp – Vatican. Sự kiện này được sử gia Avro Manhattan ghi lại rõ ràng nơi trang 72, sách Vietnam Why Did We Go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984) và cũng đã được chúng tôi tình bày đầy đủ với nhiều chi tiết trong bài viết “Giáo Hoàng Pius XII (1939-1954) Dưới Mắt Một Người Việt Nam” (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ46_Pius12.php).

III. Qua Sự Vận Động Của Vatican, Ngô Đình Diệm Được Chọn Đưa Về Việt Nam Cầm Quyền

Ngay từ mùa hè năm 1950, giáo triều Vatican biết được rằng Hoa Kỳ có quyết định có kế hoạch thay thế Pháp tiếp tục cuộc chiến bần thỉu này ở Đông Dương, Giáo Hoàng Pius XII (1939-1958) liền tính kế cho người dẫn con chiên cuồng đạo Ngô Đình Diệm đến giáo triều Vatican trình diện để ông ta dặn dò về cung cách ứng xử khi tiếp xúc với các chính khách có thế lực trên chính trường Hoa Kỳ, rồi cho người dẫn ông Diệm sang Hoa Kỳ giao cho Hồng Y Spellman đảm trách việc chạy chọt với các nhà lãnh đạo tôn giáo và các nhận vật có thế lực trong chính quyền Hoa Kỳ để làm áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả Hoa Kỳ và Vatican ở Việt Nam. Sự kiện này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ và rất rõ ràng trong Chương 60 với nhan đề là “Những Tính Toán Của Vatican Trong Năm 1950” (http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH60-1.php), sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.

Hồng Y Spellman giới thiệu Ngô Đình Diệm cho Ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles

Về vấn đề ông Diệm được chọn đưa về Việt Nam cầm quyền để làm tay sai cho cả Mỹ và Vatican, sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

Sự kiện 90% người dân Việt Nam không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo không làm cho ông Diệm quan tâm vì ông đã tuyên bố trong bữa cơm tối hôm đó rằng ông “tin tưởng vào quyền lực của Vatican và ông chống Cộng một cách cực lực,” [COO. Tr. 242].

Với hai yếu tố vì tôn giáo và vì chống Cộng, ông Diêm được Hồng Y Spellman tiếp tục giới thiệu với William O. Douglas, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy, Allen Dulles, Giám Đốc Trung Ương Tình Báo CIA, và anh của ông Dulles là Ngoại Trưởng John Foster Dulles [MAN, Tr. 58].Từ đó, ông Diệm trở thành con đáp số gần như mỹ mãn trong bài toán chính trị của một phe phái có ý muốn can dự vào Việt Nam:

a.- Chính sách đối ngoại đang đòi hỏi Hoa Kỳ phải xây dựng một thành trì chống Cộng ở Việt Nam.

b.- Ngoại Trưởng John Foster Dulles đang muốn tìm một lãnh tụ chống Cộng theo khuôn mẫu đạo đức và xã hội Thiên Chúa Giáo.

c.- Đức Hồng Y Spellman đang cần Hoa Kỳ thay thế Pháp ở Việt Nam, và cũng cần một giáo dân trung kiên như ông Diệm để lãnh đạo công cuộc chống Cộng như lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Pius XII.

Điều còn lại sau cùng cho kế hoạch chính trị hỗn hợp này là làm thế nào để giải thích cho Hội Đồng Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ và kinh nghiệm chính trị và khả năng lãnh đạo của ông Ngô Đình Diệm? Tổng Thống Eisenhower cũng chỉ có thể trấn an Hội Đồng Chính Phủ bằng câu nói, “Trong đám mù, thằng chột làm vua,”[HER]. Điều này cho thấy: một là ông Diệm không có một thành tích chính trị nào đáng kể, hai là ông Diệm không có khả năng lãnh đạo, hoặc ba là người Mỹ hoàn toàn không biết gì về ông Diệm.

Đầu năm 1954, Ngoại Trưởng John Foster Dulles khuyến dụ Pháp khuyên nhủ Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam làm thủ tướng.” Lê Hữu Dản,Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, California, 1997), trang 23-24.

Sách Vietnam Why Did We Go? cũng viết:

The dicision having been taken, Dulles advised France to tell Bao Dai to appoint Diem as prime minister. Franc, having by now decided to abandon Vietnam, agreed. Diem became prime minister in June, 1954. The 19th of that same month, Bao Dai invested Diem with dictatorial power. This entailed not only civilian but also military control of the country. Diem arrived in Saigon June 26, 1954 and on July 7 set up his own government.” Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), pp. 57-58. Tạm dịch: Quyết định xong, Dulles khuyên cáo Pháp ra lệnh cho Bảo Đại bổ nhiệm Diệm làm Thủ tướng. Lúc đó, Pháp, đã quyết định bỏ Việt Nam, nên cũng đồng ý. Ngày 19 tháng 6 năm 1954.

Xin đọc thêm Chương 60 có nhan đề là “Những Tính Toán Của Vatican Trong Năm 1950” (http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH60-1.php), sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã cùng tác giả.

IV. Lý Do Hoa Kỳ Dùng Bộ Máy Đàn Áp Nhân Dân Ta Và Đạo Quân Đội Đánh Thuê Người Việt Của Pháp Để Lại.

A.- Về nhân sự trong bộ máy đàn áp nhân dân ta và đạo quân bản địa của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican, giáo triều Vatican đã chuẩn bị từ lâu trước khi liên minh giặc này khởi binh tấn công Đà Nẵng vào gày 1/9/1958. Bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này là trước đó, giáo triều Vatican thiết lập Chủng Viện Penang ở Mã Lai, Tiểu Chủng Viện Vĩnh Trị ở Nam Định, và nhiều tiểu chủng viện khác. Các chủng viện và tiểu chủng viện này cũng là một trung tâm huấn luyện bọn tín đồ người Việt và con chiên Ca-tô thuộc các nước khác thuộc ở Á Châu. Ở đây, các học viên phải theo các khóa học chữ Pháp rồi hành nghề thông ngôn cho giặc, và kỹ thuật thâu thập tin tức tình báo chiến lược mà giáo triều Vatican chủ trương và chủ động. Những người như Ngô Đình Khả, Nguyến Hữu Bài, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v. v….ở vào trường hợp này. Ngoài ra, tại các làng đạo hay xóm đạo cũng là những trung tâm huấn luyện các con chiên trở thành những người làm việc đắc lực cho Liên Minh Xâm Lược Pháp và khi quyền lực của liên minh này vươn tới các vùng kế cận tại địa phương của họ.

B.- Về các đạo quân đánh thuê người bản địa: Việc thành lập đạo quân người Việt đánh thuê cho Liên Minh giặc Pháp – Vatican có thể chia ra là các thời kỳ như sau:

Thời Kỳ Thứ Nhất: Trước khi liên minh giặc khởi binh tấn công Đà Nẵng vào ngày 1/9/1858.

Trong thời kỳ này, bọn cha cố quản nhiệm các xóm đạo dùng những miếng mồi vật chất của quân giặc để câu nhử và khích lệ các thanh niên và tráng niên nỗ lực tiếp xúc với viên chức của đoàn quân viễn chinh giặc Pháp – Vatican để tình nguyện xin được giặc sử dụng làm bất cứ công việc làm nào để tiếp tay cho quân giặc sớm hoàn thành công việc đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Sự kiện này được Tiến-sĩ Nguyên Xuân Thọ biên soạn trong sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897.

Chúng tôi chỉ có với mình”, Đô Đốc Rieunier sau này nói, “những giáo dân và bọn du thủ du thực”. “Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm,” Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …”

Nhà sử học Cultru kết luận:

Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát, phiên dịch.. ấy lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến sự trung gian cuả họ…”

“… Tại Nam kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, “Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á.” Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp: Tự Xuất Bản, 1995), tr. 101-102.

Do đó, tất cả bọn lính đạo (gọi là lính Tập) dưới quyền chỉ huy của những tên con chiên Việt gian như Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Trần Lục, v.v… cũng như hầu hết các nhân viên dân sự làm việc trong bộ máy đàn áp nhân dân ta của Liên Minh Xâm Lược giặc Pháp – Vatican trong thời kỳ 9/1958 -1914 đều là những chiên thanh niên và tráng niên con chiên xuất thân từ các xóm đạo làng đạo.

Thời kỳ Thứ Hai 1914-1945:

Trong thời kỳ này, vì nhu cầu cần có những thanh niên đi linh đáp ứng cho nhu cầu quân sự của nước Pháp chống lại quân Đức, nhà nước liên minh giặc Pháp – Vatican tuyển mộ nhiều thanh niên Việt Nam xung vào quân đội gửi sang nước Pháp làm bia đỡ đạn cho thanh niên Pháp. Vì thế mà kể từ đó có nhiều thanh niên Việt Nam không phải là con chiên Ki-tô cũng bị cưỡng bách đi lính cho giặc để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh trong thời Đệ I Thế Chiến (1914-1918) và Đệ II Thế Chiến 1939-1945.

Thời Kỳ Thứ Ba 1945-1954:

Căn cứ vào những bản văn sử trích dẫn từ sách Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Trong Giai Đoạn Hình Thành 1946-1955  từ các trang 191 và 192-193, và sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, cho chúng ta thấy rõ:

1.- Từ ngày 1/10/1946 cho đến ngày 11/5/1950, đạo quân người Việt do người Pháp lập ra, huấn luyện và chỉ huy để đánh thuê cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican.

2.- Từ ngày 11/5/1950 cho đến tháng 7/1954, đạo quân người Việt này trở thành đạo quân đánh thuê cho Hoa Kỳ qua sự bao thầu và chỉ huy bởi người  Pháp.

3.- Từ tháng 7/1954 đến những ngày rã ngũ tan hàng (11/3/1975 - 30/4/1975), đạo quân người Việt này trở thành đạo quân đánh thuê cho Liên Minh Mỹ - Vatican qua sự chi tiền, huấn luyện và chỉ huy trực tiếp của người Hoa Kỳ với sự trợ giúp chỉ đạo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Việc Hoa Kỳ viện trợ cho Liên Minh Pháp – Vatican trong cuộc chiến tái chiếm đông Dương như trên là nguyên nhân khiến cho chính quyền Kháng Chiến Việt Nam nêu cao khẩu hiệu vừa chống Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican, vừa chống cả chính sách can thiệp vào Việt Nam của Đế Quốc Mỹ.

Sau khi, Liên Minh Mỹ - Vatican đến thay thế Liên Minh Pháp - Vatican và đưa con chiên Ngô Đình Diệm lên thay thế ông Bảo Đại, chính quyền quốc gia còn được gọi là chính quyền miền Nam Việt Nam hay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Cũng từ đó, toàn bộ các cơ quan chính quyền và quân đội của miền Nam, từ công việc tổ chức, trang bị, huấn luyện nhân viên và trả lương hàng tháng cho nhân viên chính quyền và quân nhân trong quân đội đều do chính quyền Hoa Kỳ đài thọ và nắm quyền chỉ huy, đúng như ông Trưởng Phái Đoàn Cố Vấn Quân Sự Mỹ ở Sàigon là Tướng John O’ Daniel tuyên bố rõ ràng là “Ai chi tiền thì nguời đó chỉ huy” (Who pays, commands). Sự kiện này được ông Nguyễn Tiến Hưng ghi lại trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy như sau:sau:

Ngay từ lúc Mỹ nhúng tay vào miền Nam cũng đã có sự bất đồng ý về chiến thuật giữa cố vấn Mỹ và tướng lãnh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền Nam, Tướng O’ Daniel đã nói toạc ra là “ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (who pays, commands). Rồi khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh Hoa Kỳ được xác định là chiến đấu, sứ mệnh quân đội Miền Nam là gìn giữ an ninh. Vì thế quân đội Mỹ đã theo một chiến thuật gọi là “tìm và diệt địch” (search and destroy). Báo chí Mỹ đã riễu cợt quân đội Miền Nam là họ chỉ theo chiến thuật là “tìm và né địch” (search and avoid).” Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy, (San Jose, CA: Hứa Chấn Minh, 2005), tr 454.

Mỹ chi tiền để nuôi dưỡng chính quyền và quân đội miền Nam.

Việc Mỹ dựng nên chính quyền và Quân đội miền Nam để làm tay sai và đánh thuê cho họ, họ phải chi tiền ra  nuôi từ anh binh nhì cho đến ông Đại Tướng nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Truởng, tất cả cũng đều được “itemized” (ghi rõ từng khoản chi tiêu) và ghi rõ danh tánh của từng người lãnh lương vào trong sổ lương của chính quyền Hoa Kỳ. Đây là cái lý đương nhiên (common sense) không ai có thể phủ nhận hay phản bác được. Mỹ còn tiếp dưỡng và cưu mang chính quyền và quân đội miền Nam trong đó có việc trả lương hàng tháng cho tất cả công nhân viên chính quyền từ anh tùy phái cho đến ông Tổng Thống và trả lương hàng tháng cho tất cả các quân nhân các cấp.

V. Mỹ Đưa Nhân Viên CIA Vào Việt Nam Để Chuẩn Bị Thế Lực Bản Địa Ủng Hộ, Bảo Vệ, Và Cố Vấn Cho Ngô Đình Diệm

Thói đời, “có đi có lại mới toại lòng nhau.” Lời Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Fostre Dulles khuyến dụ Pháp khuyên nhủ Bảo Đại bổ nhiệm ông Diệm làm thủ tướng (đã nói trong Tiết Mục 3 ở trên) không phải là lời khuyến dụ xuông, mà có kèm theo chiếc phong bì giầy cộm” (đúng theo nếp sống văn hóa truyền thống trong nhà thờ Vatican. Sách sử nói về chiếc phong bì này như sau:

Đầu năm 1955, trong một cuộc tranh chấp quyền lực với Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội M ền Nam Việt Nam, một sĩ quan của Pháp đưa về để bảo vệ Bảo Đại, ông Diệm bị Bảo Đại cách chức vì lý do khòng còn được tín nhiệm. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng đồng ý trả 100 triệu đô la bằng viện trợ quân sự cho Quân đội Viễn Chinh để Pháp chấm dứt ủng hộ Bảo Đại nên ông Diệm có tư thế không tuân hành lệnh giải nhiệm.” Lê Hữu Dản, Sđd, tr 26..

Song song với lời “Ngoại Trưởng Dulles khuyên cáo Pháp ra lệnh cho Bảo Đại bổ nhiệm Diệm làm Thủ tướng”, ngày 1 tháng 6 năm 1954, chính quyền Hoa Kỳ gửi Đại Tá CIA Edward G. Lansdale đến Việt Nam để lo các công việc an ninh và tuyên truyền cho ông Ngô Đình Diệm về Sàigòn chuẩn bị thành lập nội các để thi hành lệnh truyền của Hoa Kỳ và thực thi lời tuyến bố rằng, “ông tin tưởng vào quyền lực của Vatican.” Sách sử ghi lại sự kiện Đại Tá Lansdale đến Sàigòn như sau:

1/6/1954: Đại Tá Edward G. Lansdale, Trưởng Toán Công Tác Qu ân Sư Sàigòn (Saiigon Military Mision, SMM) tới thủ đô Miền Nam. Là một sĩ quan CIA, Lansdale mang danh hiệu là Phụ Tá Tùy Viên Không Quân Tòa Đại Sứ. làm việc chặt chẽ với trưởng sở Thông Tin (USIS) để phát động một chiến dịch tuyên truyền trong giới quân đội Việt Nam. Được Tổng Trưởng Quát và Tướng Hinh, cũng như các viên chức Pháp đồng ý cho làm “cố vấn” tạm thời của Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, Do Đại Úy Phạm Xuân Giai cầm đầu.[Xem 1/7/1954].” Chính Đạo, Vỉệt Nam Niên Biểu 1939-1975 - Tập B: 1947-1954 (Houston, TX: Văn H óa 1997), tr 388-389.

Nhờ vậy mà ngày 19/6/1954 (có sách ghi là ngày 16/6/1954), ông Ngô Đình Diệm được Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhậm làm thủ tương với ”toàn quyền quyết định dân sự lẫn quân sự.”. Rồi ngày 24/6/1954, ông Diệm lên máy bay về Sàigòn sắp xếp nhân sự thành lập nội các chính quyền và chính thức nhậm chức vào ngày 7/7/1954.

Về chiến dịch tuyên truyền, tức là tô son điểm phấn hay vẽ mặt cho ông Ngô Đình Diệm để làm lớp vỏ bọc che giấu những hành động tội ác làm tay sai cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican của ông ta trong quá khứ hầu có thể lôi cuốn hay dụ khi người dân Việt Nam ủng hộ ông con chiên này, sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

A.- Tại miền bắc vĩ tuyến 17, sách Thập Giá và Lưỡi Gươm viết:

“Nước Pháp xin Hoa Kỳ cung cấp cho máy bay và tầu thủy của Hạm Đội 7. Người Mỹ, trung thành với chủ thuyết Mắc A Tua (McArthur) và thuyết Đô mi nô (Domino), đã không chịu ký vào Hiệp Định Genève, sau khi đã đặt lên một người cầm đầu chính phủ Sàigòn theo ý mình là Ngô (Đình Diệm), tín đồ công giáo được Hồng Y Spellman, Tổng Giám Mục Nữu Ước (New York) bảo trợ. Sau Hiệp định Định Genève, họ lập ra tổ chức Hiệp Hội Đông Nam Á (OTASE hay SEATO), một Liên Minh Chống Cộng và một số nước chư hầu châu Á. Tại chỗ, quân của Mỹ do Trung Tá Landsdale chỉ huy, nhộn nhịp làm công tác chiến tranh tâm lý chống Bắc Việt Nam, nhất là xúi giục dân chúng bỏ xứ sở đi vào Nam.

Nhờ việc xuất bản “Tài Liệu Lầu Năm Góc” (Tài Liệu Bộ Quốc Phòng Mỹ), chúng ta biết được phần nào những mưu chước đó (x. The Pentagon Papers, tr 58-64). Trước tiên là chiến dịch tung tin đồn: “chiến dịch thứ nhất nhằm khéo léo tung ra câu chuyện một tiểu đoàn Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Kỳ đã trả thù một làng người Việt, phụ nữ bị hãm hiếp…. Điều đó làm cho người ta nhớ lại những sách nhiễu của quân lính Tưởng Giới Thạch năm 1945 và như vậy làm cho người Việt càng lo sợ về một cuộc chiếm đóng của quân Tàu dưới chế độ Việt Minh (…). Mấy tuần sau, người ta thuật lại với nhau câu chuyện giật gân về những điều tàn ác của các sư đoàn lính Trung Hoa làm tại vùng đất Việt Minh. Sau một cuộc điều tra, người ta mới biết rằng đó chỉ là chiến dịch tung tin đã cũ, được tô lại cho ra vẻ Việt Nam thôi.

Chiến tranh tâm lý tìm cách hạ giá uy tín chính phủ Hồ Chí Minh trước khi chính phủ này tiến vào Hà Nội.. Một người Việt ái quốc (sic) và một đại úy Mỹ “đã đi rải các tập tài liệu có ký tên Việt Minh, chỉ vẽ cho dân chúng phải hành động những gi khi chiếm được vùng Hà Nôi. Đầu tháng 10 (1954) các chỉ dẫn chủ yếu trong đó liên quan đến quyền tư hữu, việc đổi tiền và 3 ngày nghỉ việc dành cho thợ thuyền khi Cộng Sản chiếm được chính quyền. Qua hôm sau, số người đăng ký xin vào Nam đã tăng lên gấp ba. Hai ngày sau, tiền Việt Minh chỉ còn 50% giá trị. Lợi dụng sự mê tín dân gian, trước dịp Giáng Sinh năm 1954, người Mỹ lại sử dụng một vũ khí khác, “Một người ái quốc mà chúng gọi là Triều Đình, làm việc tại sở in lịch bói toán phổ biến rất rộng rãi, nhất là tại các tỉnh miền Bắc đang còn năm trong tầm tay của ta. Người ta mời các thầy bói Việt Nam nổi tiếng đến, tiên đoán về những thất bại nghiêm trọng của một số cán bộ Việt Minh và về việc thống nhất tại miền Nam.” Người ta không biết bộ lịch đó gây ra những hậu quả to lớn chừng nào.

Cũng có tin đồn qưân Mỹ sẽ ném bom nguyên tử tiêu diệt miền Bắc.

Nếu các hoạt động phá hoại của bọn Pháp và Mỹ gây được ảnh hưởng lên toàn thể dân chúng người Việt, thì có những luận điêu tuyên truyền khác đóng một vài trò quyết định hơn nơi các cộng đồng người công giáo.

Trước kia, họ sử dụng Đức Mẹ Fatima, mà việc tôn sùng mấy năm gần đây đã được tăng cường qua việc thành lập Đạo Binh Đức Mẹ, Đạo Binh Xanh, Hiệp Hội Chiến Sĩ. Tất nhiên Đức Mẹ được giao phó cho chức năng chính trị là để giải thoát những kẻ tôn sùng Ngài. Người ta đồn rằng Đức Mẹ hiện ra ở Ba Làng, Thanh Hóa để ra lệnh cho giáo dân đi vào Nam, bởi vì Mẹ cũng bỏ miền Bắc Việt Nam. “Việc hiện ra” hình như đã được dàn dựng tài tình bởi một linh mục, ông đã mặc áo Đức Mẹ cho một thiếu niên và đã cho em đứng vào sau bàn thờ Đức Mẹ Fatima. Trước mấy cây nến tung ánh lung linh, một vài nhà “đạo đức” coi đó là Đức Mẹ hiện ra, nói với họ một giọng dịu dàng nhưng minh bạch rằng, phải từ bỏ đất Cộng Sản bất cứ với giá nào mà tìm lánh sang vùng đất tự do, Đức Mẹ sắp sửa bỏ miền Bắc. Từ miệng qua tai, tin đồn được loan ra như một vết dầu loang được thêm thắt những nét chấm phá mới, kèm theo những lời tiên tri mới, hoặc những điềm gở tiên báo tai ương săp đổ tới. Óc tưởng tượng của dân chúng lại bày ra những chuyện linh mục bị tàn sát, những mật lệnh của Hồ Chí Minh bảo phải tiêu diệt cho hết người công giáo, hay là bắt họ phải bỏ đạo.

Chạy trốn để cứu lấy mạng sống và cứu lấy đức tin", "Chúa Kitô đã vào Nam", "Đức Mẹ đã rời bỏ Bắc Việt". Những khẩu hiệu phi lý đó làm cho người Kitô hữu Phương Tây phải cười, nhưng lại có tác dụng rất lớn nơi một cộng đồng Kitô hữu Việt Nam đã từng bị giam nhốt xưa nay trong sự ngu dốt và trong một kiểu tin đạo nói được là thời trung cổ. Trong cái ốc đảo khép kín đó của giáo dân, những gì gọi là "Bí mật của Đức Mẹ Fatima đều được coi như là tín điều bắt buộc, đang khi nó chỉ dựa vào một mớ tài liệu tuyên truyền nhảm nhí. Nếu những năm 1949-1953, các linh mục đã thề biến giáo dân hiền lành vô tội đó thành những tên sát nhân cuồng nhiệt, nhờ khẩu hiệu"tiêu diệt Cộng Sản để làm vinh danh Chúa", thì họ cũng chẳng khó khăn gì trong việc tạo ra cuộc "Xuất hành vĩ đại" vào những năm 1954-1955. Hiển nhiên là người nông dân Việt Nam sống gắn bó với đất của tổ tiên, với mái nhà, với mảnh vườn, với nhà thờ và làng xóm hơn nông dân các nước khác nhiều. Nhưng họ lại dám từ bỏ tất cả mọi sự để bảo vệ đức tin, nhất là khi các cha xứ của họ lại bảo đảm với họ rằng, tại miền Nam Việt Nam có một vị thủ tướng công giáo đang chờ đón họ và sẽ cấp cho họ vùng đất phì nhiêu để làm ăn. Và khối dân chúng đó đã bước chân ra đi, thì không có gì có thể ngăn họ lại. Thế là với những áp lực đủ kiểu đủ sách, nhờ một lối tuyên truyền xảo trá, tạo ra một cơn hốt hoảng tinh thần nơi dân chúng Công Giáo, người ta đã thành công đưa vào Nam hàng trăm ngàn nông dân, bởi vì khối di cư công giáo sẽ là một lực lượng chính trị to lớn hỗ trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm." Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr 101-105.

B.- Tại miền Nam vĩ tuyến 17, sách The Two Vietnams viết:

“In a succession of swift moves that left each sect chief wondering whether his sworn ally of yesterday had not sold him out for a substantial sum, Diem bought the Cao Dai “General” Trinh Minh The – mastermind of the messy Saigon street bombings of 1952 so well described in Graham Greene’ s The Quiet American $2 million; another Cao Dai “general,” Nguyen Thanh Phuong, for $3.6 million (plus monthly payments for his troops); and a Hoa Hao warlord Tran Van Soai for $ 3 million more. In all likelihood, the total amount of American dollars spent on bribes during March and April, 1955, by Diem may well have gone beyond $12 million. By the time greedy sect leaders found out that they had been outmaneuvered and began to fight back, theirs was a lost cause.” Bernard B. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A. Praeger, 1964), tr. 245-246.

TẠM DỊCH: "Trong một loạt hành động mau lẹ khiến cho các ông lãnh tụ các giáo phái hoang mang không biết người bạn đồng minh mới thề bồi ngày hôm trước đã bán đứng lấy một số tiền khá lớn hay chưa, khi ông Diệm mua ông Tướng Cao Đài Trình Minh Thế với một số tiền là 2 triệu Mỹ kim. Ông tướng này là người chủ mưu các vụ gài bom tại các đường phố Saigon vào năm 1952 và đã được ông Graham Greene tả trong cuốn Người Mỹ Thầm Lặng như là những vụ phá họai rất tài tình. Tiền mua ông tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương là 3.6 triệu Mỹ Kim, và còn phải trả thêm tiền lương hàng tháng cho quân lính của ông ta. Số tiền mua ông lãnh chúa Hòa Hảo Trần Văn Soái là 3 triệu Mỹ Kim. Tất cả tiền chi tiêu dùng để mua các ông tướng giáo phái như vậy lên đến hơn 12 triệu Mỹ Kim. Tới khi các ông lãnh tụ tham lam này ý thức được là họ đã bị phỉnh gạt, họ quay ra chống lại, nhưng cuộc chiến của họ không còn chính nghĩa nữa."

C.- Nỗ lực Bảo Vệ An Ninh, săn sóc sức khỏe và dạy bảo ông Diệm về cung cách hành xử đối với mọi người, Đại Tá Edward G. Lansdale ghi lại:

a.- Lo việc bảo vệ an ninh cho ông Diệm, ông viết:

Trong một chuyến thăm Ma-ni chớp nhoáng với các sĩ quan của ông (Nguyễn Văn Hinh,) tôi (Đại Tá Edward Lansdale) đã nói chuyện với (Tổng Thống) Magsaysay về hoàn cảnh làm việc của ông Diệm, đặc biệt về việc bảo vệ an ninh tại Dinh Độc Lập. Magsaysay đồng ý rằng nếu ông Diệm cần, ông sẽ cho Đại Tá Nap oleon Valeriano sang Saigon ít tuần để giúp đỡ ý kiến về phương thức bảo vệ an ninh cho thủ tướng (Ngô Đình Diệm). Valeriano là tùy viên chính của Magsaysay và chỉ huy tiểu đoàn phòng vệ phủ tổng thống tại Ma Ni. Ông Diệm nhiệt liệt đồng ý. Valeriano được mời sang Saigon và chẳng bao lâu vấn đề an ninh được chặt chẽ hơn. Khi trở lại Ma Ni, ông ta mời theo một số sĩ quan Việt Nam để học hỏi thêm về tiểu đoàn phòng vệ phủ Tổng Thống Phi.” Edward Lansdale, Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Sàigon: Đại Nam, 1972), tr 56..

"Tôi nghênh đón một vài người Phi Luật Tân sang Saigon và được biết rằng họ là những người tiền thám của một nhóm chí nguyện hăng hái, đi tìm sự hướng dẫn để biết làm cách nào có thể giúp người Việt Nam."Edward Lansdale, Sđd., tr. 85.

b.- Về việc Săn sóc sức khỏe cho ông Diệm, ông Lansdale viết::

"Tôi mong muốn tìm được địa điểm nghỉ mát thật tốt cho ông Diệm để ông có thể nghỉ ngơi và bồi dưỡng tinh thần cũng như giúp cho sự suy tư của ông lắng dịu là những điều cần thiết để một vị nguyên thủ quốc gia làm việc đắc lực." Edward Lansdale, Sđd., tr. 250.

c.- Về Việc Dạy bào ông Diệm về cung cách hành xử với mội người, Đại Tá Lansdale viết:

"Đến Dinh (Độc Lập), tôi bước vào giữa lúc có cuộc họp giữa ông Diệm và một nhóm sĩ quan Việt Nam. Trong số này, có Tướng Tỵ, Đại Tá Đôn cũng như hai vị chỉ huy mặt trận đánh Bình Xuyên là Minh nhỏ và Minh lớn. Họ đều có vẻ vui mừng. Quân đội đã tiến qua Kinh Đôi ở Chợ Lớn và quân Bình Xuyên đang chạy trốn. Họ hỏi tôi có mừng cho họ không? Tôi trả lời không, chưa mừng được. Trong lúc họ đang quây quần tất cả ở đây để ca tụng lẫn nhau thì cuộc tấn công của họ qua Kinh Đôi đang bị thảm bại vì họ không chịu cung cấp hỏa lực yểm trợ bằng trọng pháo cho cánh quân này. Tôi lưu ý họ rằng như họ đã biết, tôi bị cấm ngặt không được chỉ dẫn cho họ một điều gì. Tuy nhiên, lệnh cấm ấy không cấm được tôi kể chuyện cổ tích cho họ nghe. Ngày xưa có một vài cấp chỉ huy Việt Nam ngồi uống trà với ông xếp của họ và kể cho ông xếp nghe họ đã thành công tốt đẹp như thế nào trong khi đáng lẽ họ nên di chuyển một trong những pháo đội ở Dinh Độc Lập, hay ở trước tư dinh vị Tham Mưu Trưởng, hoặc ở sân Bộ Tổng Tham Mưu để yểm trợ cho Trình Minh Thế ở Cầu Tân Thuận. Đơn vị của Tướng Thế là đơn vị duy nhất trong toàn thể mặt trận phải đụng độ với các loại súng lớn được lớp vỏ sắt che chở. Đây cũng là đơn vị duy nhất không được pháo binh yểm trợ. Dân chúng nổi giận khi nghe được chuyện này. Hiện giờ, tôi rất tức giận về việc ấy và mong mỏi các vị sĩ quan hiện diện hãy làm nốt phần kết cục của câu chuyện cổ tích vừa kể. Khi tôi ngưng nói, mọi người im lặng một cách kinh ngạc.

Ông Diệm phá tan sự im lặng ấy bằng cách bảo ông Minh nhỏ đem pháo binh giúp cho Trình Minh Thế ngay lập tức. Ông Minh vội đi ngay, và những người khác cũng ra về. Tôi tỏ ý vui mừng về vụ tiến quân qua Kinh Đôi. Họ nhìn tôi có vẻ do dự. Tôi đã vô cùng tức giận khi tôi xen ngang vào cuộc họp. Tôi đoan chắc với họ rằng tôi vui mừng với các thành quả vừa qua. Tuy nhiên, còn khá lâu họ mới thắng trận này, và bây giờ chưa phải lúc nghỉ ngơi. Ông Diệm bảo tôi ở lại nói chuyện với ông (ấy). Chúng tôi sang phòng khách nhỏ có chiếc ghế bành lớn để khá xa nhau khó nói chuyện. Vì vậy, tôi mời ông cùng ngồi trên ghế dài. Ông Diệm mở đầu câu chuyện, nói rằng chưa bao giờ ông thấy tôi nổi giận như lúc này. Dầu sao Trình Minh Thế cũng là một quân nhân là phải chịu hiểm nguy cùng với những người khác ở mặt trận. Tôi không nên quá lo lắng đến công việc của anh ta. Dù Trình Minh Thế là người bạn, thì ông ta cũng chỉ là một trong những người Việt Nam bạn của tôi và có lẽ ông ta không có học vấn cũng như kinh nghiệm bằng một vài người khác. Tôi bảo ông (Diệm) không nên nói như vậy. Lời nói ấy dẫn đến chỗ khiến ông nói thêm một vài điều gì đó làm cho tôi bực tức trở lại. Trình Minh Thế đã ủng hộ ông trong lúc những người học thức và có kinh nghiệm còn lưỡng lự. Hiện giờ ông ta đang chịu nguy hiểm đến mạng sống của mình cho ông Diệm. Tình thân hữu của Trình Minh Thế có giá trị hơn tất cả loại thân hữu chỉ biết phù thịnh. Hơn thế nữa, kẻ nào đó ngu xuẩn một cách đáng kết tội đã làm quân sĩ của Tướng Thế chưa được huấn luyện đầy đủ, chưa được trang bị đầy đủ, (lại đem) sử dụng vào cuộc tấn công qui mô mà không có hỏa lực yểm trợ. Đó là cách sử dụng rất sai lạc khả năng của du kích quân Liên Minh (Trình Minh Thế). Ông Diệm thay đổi câu chuyện...

Cố vấn Ed. Lansdale và Ngô Đình Diệm

Ông Nhu bước thẳng đến trước chỗ tôi và ông Diệm ngồi, yên lặng nhìn chúng tôi một lúc. Cuối cùng ông nói nhỏ nhẹ: "Trình Minh Thế chết rồi" ... bị trúng đạn nơi phía sau tai do một viên đạn súng trường. Suy từ góc độ của đường đạn đi, thì thủ phạm ở một nơi phía sau và trên cao. Binh sĩ tại đây nói rằng thủ phạm phải là một lính bắn tỉa... Ông Nhu ra khỏi phòng... Tôi quay sang bảo ông Diệm "Chúng ta mất một người bạn chân thành". Tôi không thể nói gì hơn. Ông Diệm nhìn vào mặt tôi rồi khóc. Những tiếng nấc lớn làm rung động cả thân hình ông. Tôi ngồi lại xuống ghế và ôm lấy ông. Ông xin tôi tha lỗi những điều ông đã nói về Trình Minh Thế trước đấy. Tôi nói thực ra không có gì phải cho tôi tha lỗi, nhưng ông phải luôn luôn ghi nhớ bạn thành thật thì hiếm hoi. Không bao giờ được bỏ rơi những con người bất vụ lợi phục vụ cho tự do. Tôi và ông Diệm ngồi trên ghế im lặng cho đến khi ông Diệm lấy lại được bình tĩnh. Sau đó tôi trở về nhà." Edward Lansdale, sđd, tr 199-202.

 

VI. Ngô Đình Diệm Ưu Đãi Tập Thể Con Chiên Để Củng Cố Và Bảo Vệ Quyền Lực

Ngay khi về tới Sàigon, không phải chỉ có anh em ông Ngô Đình Diệm hồ hởi tính kế làm thế nào có thể sử dùng chính quyền để làm lợi cho gia đình và phục vụ tối đa cho quyền lợi của Giáo Hội La Mã mà hầu như tất cả các con chiến Ca-tô cũng hô hời và cũng có nhưng suy tư như anh em nhà Ngô. Bằng chúng bất khả phủ báccho sự kiện này là hầu như tất cả các nhà viết sử, các chứng nhân đương thời cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới đều khẳng đình rằng, chính quyền Ngô Đình Diệm là “một chế độ gia đình tôn giáo trị.” Cụm từ trong ngoặc kép trên đây cho thấy rõ chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ biết đặt quyền lợi của gia đình họ Ngô và quyền lợi của Giáo Hộ la Mã lên trên quyền lợi của nhân dân và đất nước Việt Nam.

Lòng hăng say và thái độ hồ hởi của tập thể con chiên trong hy vọng sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm phục vụ cho quyền lợi cá nhân họ và của Giáo Hội La Mã được thể hiện ra qua lá thư gửi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đề ngày 5/3/1955 của con chiên Nguyễn Văn Chức thỉnh cầu thành lập một đạo quân gồm toàn những con chiên Ca-tô để củng cố và bảo vệ chính quyền Ngô Đình Diệm. Dưới đây là nguyên văn thư lịch sử này:

Sàigòn, ngày 25 tháng 2 năm 1955.

Kính gửi Cụ NGÔ-ĐÌNH-DIỆM,

Thủ-TướngChính-Phủ Việt-Nam

Thưa Thủ-Tướng,

Tình hình Việt-Nam trong mấy tháng gần đây thật là hết sức khó khăn và phức tạp. Tương-lai Tổ-Quốc nói chung và tương-lai Công-Giáo Việt-Nam nói riêng, thật đáng quan-ngại. Càng quan-ngại hơn khi cả Thế-giới tự-do và Thế-giới Công-Giáo đang nhiệt-thành giúp đỡ chúng ta cố-gắng, nỗ-lực vượt qua mọi khó khăn trở-ngại, để tích-cực chuẩn-bi chờ ngày chiến-thắng-Việt-Minh Cộng Sản.

Những thí-nghiệm và những việc làm của Chính-Phủ không phải là không có kết-quả, nhưng vẫn còn nhiều cheo leo và khó khăn to lớn khác luôn luôn tìm cơ hội phá hoại. Tình-trạng ấy bắt buộc Chính-Phủ phải có một hậu-thuẫn to lớn, vững chắc, trung-thành, có tổ chức mạnh mẽ và có hành động thiết thực.

Trong tinh-thần ấy, CẦN-LAO NHÂN-VỊ CÁCH-MẠNG ĐẢNG đã cố gắng rất nhiều nhưng tiếc rằng một đảng chính trị thuần túy trong tình thế này vẫn chưa được tất cả những người Công-Giáo Việt-Nam hâm-mộ. Người ta e rằng: trong tình trạng ấy, CLNVCM chỉ có thể là một đoàn-thể có bề rộng mà thiếu bề sâu.

Trung-thành với Giáo-lý, người Công-Giáo Việt-Nam trong lúc này, đòi hỏi một đoàn-thể hoàn-toàn Công-Giáo, có tính-chất tôn-giáo. Cuộc di-cư của đồng-bào Công-Giáo Bắc-Việt phải là một cuộc chuẩn-bị tinh-thần và đạo-đức, một cuộc rèn luyện can trường và đức TIN để rồi còn chiến-đấu với Cộng-Sản (vì C.S. còn-tấn công).

Vì vậy, chúng tôi nghĩ cần phải gấp đưa ra trong lúc này một đoàn-thể tạm gọi là THẬP-TỰ-QUÂN HÒA-BÌNH để vừa thúc đẩy mọi hoạt-động Công-Giáo đang cần-thiết trong giai-đoạn này và phụ-họa với hoạt-động của CLNVCM, vừa chứng minh rằng : không phải chỉ có người C.S. tuyên truyền yêu Hòa-Bình mà những người Quốc-Gia cũng biết yêu Hoà-Bình một cách thành-thực.

THẬP-TỰ-QUÂN HÒA-BÌNH, theo ý chúng tôi nghĩ, là một cuộc tập-hợp lớn lao nhất của người Công-Giáo Việt-Nam. Ảnh-hưởng của nó sẽ quan-trọng và do đó, trở nên một lực-lượng hậu-thuẫn đắc-lực nhất, trung-thành nhất của Thủ-Tướng. Nó lại còn có những lợi ích

1.- Làm cho người Công-Giáo Việt-Nam vững tin và luôn luôn vững tin dù có phải gian-khổ cũng vẫn hiên-ngang, chiến đấu cho đức TIN, như vậy lực lượng tinh-thần chống Cộng sẽ vô cùng vững chắc.

2.- Làm cho sự lãnh đạo của Thủ-Tướng càng ngày càng vững chắc và có kết-quả vì có một khối Công-Giáo lớn, mạnh, có tổ chức, có tranh đấu, làm hậu thuẫn.

3.- Làm cho Thế-Giới tự-do và Thế Giới Công Giáo nức lòng ủng-hộ cho cuộc tranh-đấu chính-trị hiện nay và cuộc chiến-đấu quân-sự mai kia của Q.G.V.N.

Vì những lý do ấy, chúng tôi lấy làm hân hạnh được kính gửi THỦ TƯỚNG:

 Bản ĐIỀU-LỆ và NỘI-QUY đại-cương của THẬP-TỰ-QUÂN HÒA-BÌNH tuy chưa được hoàn-hảo nhưng cũng đã bao gồm những phần chính trong chương-trình hoạt-động.

Chúng tôi có ý-định, nếu đại cương điều lệ ấy được Thủ-Tướng đồng ý thì xin Thủ-Tướng cho tham-khảo ý kiến các Đức Giám-Mục, các vị linh-mục, các Chiến-sĩ Công Giáo tiến-hành, các nhân-vật Công-Giáo và các nhân-viên lãnh-đạo CLNVCM để gấp đi đến một cuộc Hội-nghị sơ-bộ nghiên-cứu Điều-lệ và Nội-quy, chương-trình vận-động thành-lập để kịp cho tới đầu tháng Đức Mẹ (tháng 5 dương-lịch) sắp tới, THẬP-TỰ-QUÂN HÒA-BÌNH có thể ra đời được.

Thưa Thủ-Tướng,

Kính xin Thủ-Tướng vui lòng khứng nhận những tấm tình mỹ-hảo tận-tâm của tôi cùng những ý-nghĩ trung-thành luôn luôn cầu Chúa và Đức Mẹ xuống ơn thiêng liêng cho Thủ-Tướng trong công-cuộc lãnh-đạo Quốc-Gia Việt-Nam chiến-thắng Cộng-Sản vô-luân, vô thần.

Trọng-kính

Ký tên,

NGUYỄN-VĂN-CHỨC

Địa -chỉ

NGUYỄN-VĂN -CHỨC Mộc đóng dấu ghi rõ ngày nhận là ngày 26/2/1955”

Nhà Ông Mười, Phố Băng, Đường làng số 19, Phú Nhuận, GIA-ĐỊNH (Xem phụ bản).

 

VII. Ngô Đình Diệm Hăng Say Thực Thi Lời Tuyến Bố “tin tưởng vào quyền lực của Vatican …” như thế nào?

Ngay khi vừa được Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican đưa về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho họ, chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất hăng say và tích cực lao vào làm những hành động tội ác chống lại dân tộc và đất nước Việt Nam bằng tất cả khả năng của chúng.

Tội Ác 1: Chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối, không chấp nhận “đề nghị hiệp thương của chính quyền miền Bắc để cùng thảo bàn việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7 năm 1956 như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định. Hành động tội ác này đã khiến cho chính quyền miền Bắc không còn có cách nào khác hơn là phải phát động cuộc chiến giải phóng miền Nam vào cuối năm 1959 để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mà bất kỳ tổ chức nào của những người Việt yêu nước cũng đều phải theo đuổi. Vĩ vậy mà nhân dân ta lại phải chấp nhận lao vào cuộc chiến vô cùng khốc liệt 1959-1975 này. Xin đọc bài viết “Giá Trị Và Tầm Quan Trọng Của Ngày Thống Nhất Đất Nước 30/4/1975 (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ53_304.php).

Tội Ác 2: Âm mưu cải đạo toàn diện.

Ưu đãi và biến nhóm thiểu số con chiên Ca-tô thành một giai cấp thượng đẳng, ”một thứ kiêu dân” trong xã hội miền Nam. Thực trạng này được ông Trần Lâm nói rõ ràng trong bài viết “Kiêu Dân Công Giáo Thời Ngô Đình Diệm” (http://sachhiem.net/LICHSU/T,R/TranLam3.php).

Dùng bọn “Kiêu Dân Công Giáo“ này (1) vào trong các tổ chức công an, mật vụ, cảnh sát, lực lượng đặc biệt, và (2) trao cho chúng nắm giữ các chức vụ chỉ huy trong các cơ quan trong chính quyền và các đơn vị trong quân đội. Các tổ chức công an, mật vụ, cảnh sát của chính quyền Ngô Đình Diệm thật là vô cùng khủng khiếp giống như thiên la địa võng. Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praege, r, 1967), p 956, và Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ, 1994), tr 645.

2.a: Đưa bọn con chiên ít học (mới học hết bậc tiểu học hay chưa hoàn tất chương trình trung học Đệ Nhất Cấp hoặc chưa học đến lớp 11 ở bậc Đệ Nhị Cấp) vào học tại Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức với danh nghĩa là đặc cách là “Lính Bảo An” hay lính “Địa Phương Quân” để biến họ thành sĩ quan quân đội, rồi thăng chức và bổ nhậm họ vào các chức vụ chỉ huy trong các tổ chức công an, mật vu, cảnh sát và quân đội.

Tôi đã khám phá ra hành động gian trá này khi được Bộ Tư Lệnh Không Quân tuyển chọn cho theo học Khóa 7 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khai giảng và ngày 12/6/1958. Tôi thuộc Trung Đội 7 với Chuẩn Úy Nguyên Quang Anh là cán bộ trung đội trưởng, Đại Úy Nguyễn Mộng Tưởng là đại độ trưởng,à Trung Tá Nguyễn Viết Thanh là giám đốc Trường Bộ Binh, và chỉ huy trưởng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức là Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm. Trong Trung Đội 7 của tôi có tới 5 hay 6 sinh viên khóa sinh thuộc diện “đặc cách Địa Phương Quân”. Tất cả họ đều là con chiên Ca-tô.

2.b: Dùng chính sáchsĩ quan đồng hóa để đưa con chiên vào hàng ngũ sĩ quan rồi trao cho nắm giữ các chức vụ chỉ huy quan trọng trong chính quyền cũng như trong quân đội. Con chiên Phạm Ngọc Thảo ở vào trường hợp này. Có thể có nhiều trường hợp khác nữa mà chúng tôi không biết.

2.c: Dùng các tổ chức quân sự được vũ trang trên đây để tiến hành Kế Hoạch Kitô hóa toàn thể nhân dân miền Nam (tùy theo hoàn cảnh của từng địa phương) bằng bạo lực theo chỉ tiêu mà ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố:

Tôi có cả một chương trình đã bàn kỹ với Đức Giám Mục sẽ lần hồi tiến chố mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.” Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam, 1989), tr. 428.

Hậu quả của kế hoạch này là chế độ của anh em nhà Ngô và bọn “Kiêu Dân Công Giáo” đã tàn sát hơn 300 ngày lương dân miền Nam. [Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr 127-131].

Tội Ác 3: Lộng hành tôn giáo.

Tôn vinh các giáo sĩ và con chiên người Việt chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong các thế kỷ 17, 18, 19 và nửa đầu thế kỷ 20 bằng cách dùng danh tính của chúng đặt tên cho các trường học, đường phố ở Sàigòn và ở nhiều thành phố lớn khác ở miền Nam Việt Nam. Ai đã từng sống ở Sàigòn trong những năm 1954-1975 đều thấy rõ sự thật này.

Về trường học, chúng ta thấy có các Trường Pétrus Ký, Trường Nguyễn Tường Tộ, Trường Trần Lục, Trường Hồ Ngọc Cẩn, Trường Nguyễn Bá Tòng, Trường Nguyễn Duy Khang (ở Thị Nghè), Trường Lê Bảo Tịnh, Trường Thánh Thomas (Nhà Thờ Ba Chuông), v.v…

Về đường phố, chúng ta thấy có Đường Tổng Đốc Lộc (con chiên Trần Bá Lộc), Đường Tổng Đốc Phương (con chiên Đỗ Hữu Phương), Đường Alexandre de Rhode, Đường Pétrus Ký, Đại Lộ Ngô Đình Khôi, Đường Nguyễn Bá Tòng, Đường Huỳnh Tịnh Của, Đường Phát Diệm, Đường Bùi Chu, v.v… Đặc biệt ở Vĩnh Long, lại có Đại Lộ Ngô Đình Thục.

3.a: Cưỡng bách người dân miền Nam phải dùng từ “công giáo trong các văn thư hành chánh, trong các sách giáo khoa ở các học đường, trong báo chí và trong tất cả các ngành hoạt động văn hóa. Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan Tập II (Fall Church. VA: Alpha, 1991), tr. 1014.

3.b: Tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể vào tháng 2/1959 để dâng nước Việt Nam cho giáo triều Vatican (được ngụy trang là Đức Mẹ Vô Nhiễm) và mời viên Khâm sứ đại diện giáo triều Vatican tại Sàigòn là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế. Buổi đại lễ này tốn phí lên đến nhiều triệu đồng vào thời đầu năm 1959. Trần Tam Tỉnh,Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chí Minh: NXB Trẻ, 1978), 126-128.

Tội Ác 4: Triệt để tuân hành lệnh truyền của giáo triều Vatican bảo quản khối bất động sản khổng lồ mà Giáo Hội La Mã đã cướp đoạt của nhân dân ta trong những năm 1862-1954 bằng thủ đoạn “Không rớ tới 370 ngàn mẫu Anh mà Giáo Hội La Mã đã cướp đọat trong thời gian đó” khi tuân lệnh Hoa Kỳ thi hành chính sách“Cải Cách Điền Địa” trong những năm 1957-1963. Joseph Buttinger,Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger, 1967), pp 932-933.

Tội Ác 5: Biến miền Nam Việt Nam thành một trung tâm cung cấp thuốc phiện sống làm nguyên liệu cho Trung Tâm biến chế bạch phiến ở Marseille cũng do con chiên Ca-tô điều hành. (Rồi sau đó, trung tâm này phân phối bạch phiến đi khắp nơi trên thế giới). Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong Chương 91 có tựa đề là “Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy” (http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH91.php, sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã.

Tội Ác 6:- Biến chính quyền miền Nam thành một tổ chức tội ác với hàng rừng hành động tham nhũng chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Tình trạng này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 90 với tựa đề là “Vấn Nạn Tham Nhũng Ở Miền Nam Trong Những Năm 1954-1975”, sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã (sẽ được phổ biến trên trang nhà sachhiem.net và sachhiem.org trong một ngày gần đây.)

Tội Ác 7:- Vấn đề giáo dục. Các chính quyền Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu:

1. Kiểm soát gắt môn Lịch Sử và Công Dân bằng một quyết định bất thành văn. Bất kể bài học nào trong hai môn học này làm lộ ra bất kỳ sự kiện nào liên hệ đến những sự thật xấu xa trong tín lý ki-tô hay những hành động tội ác của Giáo Hội La Mã đều bị loại bỏ và tác giả của bài học đó sẽ bị khốn đốn. Bộ sách Lịch Sử Thế Giới do hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soan vừa mới phát hành vào cuối năm 1955 thì bị chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành chỉ vì trong bộ sách này có đề cập đến Thuyết Tiến Hóa của nhà bác học Charles Darwin (1809-1882) và “nói đến sự bê bối của một vài giáo hoàng” trong thời Trung Cổ. Hơn nữa, tác giả Nguyễn Hiến Lê còn bị “mạt sát là đầu óc đầy rác rưởi ” và bị mật vụ của chính quyền đến nơi cư ngụ để rình mò dò xét với với thâm ý là khủng bố tinh thần tác giả Nguyễn Hiến Lê. Có thể nói là sinh mạng của tác giả bị “đe dọa”. [Xem các quyển dưới đây]

a.- Đời Viết Văn Của Tôi (Westminster., CA: Văn Nghẹ, 1986), tr 99-101) của ông Nguyễn Hiến Lê.

b.- Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê (TP Hồ Chí Minh: NXB Văn Học, 1993), tr. 354-356, của tác giả Nguyễn Hiến Lê.

2. Dành đặc quyền cho giới tu sĩ áo đen thao túng chính sách giáo dục và nắm độc quyền mở các trường tiểu và trung học ở trong các trại định cư, trong các khu dinh điền và trong các làng đạo theo đúng chủ trương của chế độ giáo phiệt Ca-tô. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày tương đối khá đầy đủ trong “Đề Tài Nói Chuyện Trực Tuyến Kỳ 4: Giáo Dục Thời Việt Nam Cộng Hòa” (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ79.php).

Việc làm bất chính trên đây của chính quyền đao phiệt Ca-tô Ngô Đình Diêm chứng tỏ rằng chính sách giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 hoàn toàn không có một chút gì gọi là “nhân bản, dân tộc và khai phóng” như ông TS Mai Thanh Truyết và ông Giáo-sư TS Phạm Cao Dương đã lớn tiếng quảng bá trong các bài viết của họ. [Xem“Vài Ý Kiến Về Lá Thư Của Ông Mai Thanh Truyết Trên Diễn Đàn Thư Tín,http://sachhiem.net/NMQ/NMQ48.php đăng ngày 23/5/2014.), và “Đề Tài Nói Chuyện Trực Tuyến Kỳ 4: Giáo Dục Thời Việt Nam Cộng Hòa” (http://sachhiem.net/NMQ/NMQ79.php).]

Tội Ác 8: Hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

“Ngày 30/11/1961, Tổng Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Miền Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.” Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này như sau:

“Quân đội Mỹ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp.”Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

Tội ác này còn ghê gớm và khủng khiếp gấp ngàn lần NẾU so sánh với tội ác tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng bạo lực như đã nói ở trên, vì rằng cho đến ngày nay, hậu quả của hành động tội ác vẫn còn tác hại cho người dân Việt Nam cũng như đất đai canh tác và rừng cây trong những vùng bị ảnh hưởng. Vì thế mà sách sử mới ghi nhận con chiên Ngô Đình Diệm là một trong 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại như đã nói ở trên.

Vì những tội ác dã man giết hại quá nhiều người và tàn phá đất nước như vậy mà quân dân miền Nam mới đứng lên lật đổ chế độ bạo quyền khốn nạn này ngày 2/11/1963.

Cũng nên biết, đối với các nhà cầm quyền cai trị đất nước, truyền thống của dân ta là:

Thương dân, dân lập bàn thờ,

Hại dân, dân đái xuống mồ thấu xương.

Vì truyền thống này mà khi xây mồ mả mấy tên tội này, thân nhân ruột thịt của anh em Ngô Đình Diệm và các bè đảng mới không dám ghi rõ danh tính lên trên hai tâm mộ chí của hai thằng bạo chúa Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu mà chỉ ghi vỏn vẹn có mẫy chữ Giacobê Đệ và Gioan Baotixita Huynh mà thôi!

VIII. Kết luận:

Những tội ác trên đây là do Giáo Hội La Mã chủ trương, và được ông Ngô Đình Diệm triệt để thi hành đúng, như lời ông đã tuyên bố trước khi được đưa về Việt Nam cầm quyền. Chuyện này xẩy ra trong một bữa tiệc tổ chức trại khách sạn Mayflower, Washington DC, vào tháng 10, 1950, khi các nhà chính khách Hoa kỳ thăm dò khả năng chính trị của ông nếu được đưa về Việt Nam cầm quyền ở Việt Nam, thì ông có giải pháp như thế nào để đối phó với tình hình lúc bấy giờ, ông trả lời: "Tôi tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực của Vatican và tôi cực lực chống Cộng".

Cho tới nay, chủ trương này của Giáo Hội La Mã vẫn còn được tiếp nối bởi các linh mục quản nhiệm tại các họ đạo. Mỗi khi có cơ hội là các linh mục liền hô hào và trực tiếp điều khiển giáo dân nổi loạn để phục vụ cho quyền lợi của Giáo Hội La Mã. Những hành động này luôn được ngjuy trang dưới hình thức tranh đấu chống những tiêu cực xã hội. Xin đọc thêm vài bài viết dưới đây để thấy rõ hiện tượng này.

Vì thế, lịch sử Việt Nam phải nói lên nói rõ nguy hiểm này cho đất nước để cho dân ta biết và nhất là các thế hệ mai sau nhận thức và phân biệt được:

1.- Cá nhân và thế lực nào yêu nước đã quyết tâm liều chết chiến đấu cho đại cuộc đánh đuổi các thế lực ngoại thủ để hoàn thành nhiệm vụ đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, đòi lại miền Nam cho tổ quốc, đem lại thống nhất cho đất nước, và

2.- Cá nhân và tập thể nào đã nối tiếp nhau cấu kết với các thế lực ngoại thù Vatican, Pháp, Nhật và Hoa Kỳ mà đành lòng là tay sai cho chúng chống lại dân tộc và đất nước.

California ngày 2/11/2018

Nguyễn Mạnh Quang


PHỤ BẢN 1

_______________

PHỤ BẢN 2

Cảm tác

MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1954-1963

Từ ngày đất nước chia hai,

Pháp thu quân lại chờ ngày hồi hương.

Mấy năm trước Diệm xuất dương

Sang Mỹ vận động ngoại cường giúp tay.

Loay hoay cả mấy năm chầy,

Chờ cơ hội tới, Mỹ xoay cơ đồ.

Ra công đánh bóng họ Ngô

Lại thêm mấy trịệu tiền đô trình làng.

Nhờ oai Mỹ Diệm nên sang

Bảo Đại cũng phải nể nang nhận lời.

Pháp như đã biết cơ trời:

Cái thời oanh liệt thôi rồi còn đâu!

Thê nên Diệm được “chầu hầu”,

Được cho giữ chức “cai thầu” trị dân

Miền Nam trong cảnh sứ quân:

Cap Đài, Hòa Hảo mỗi quân một vùng,

Bình Xuyên xưng bá xưng hùng,

Rải quân hùng cứ một vùng thủ đô.

Gần triệu dân Bắc di cư

Bỏ quê, bỏ cả cở đồ vào Nam.

Sức đau tiêu diệt đảng gian,

Tiền đâu ổn định dân Nam không nhà.

Trông nhờ tiền Mỹ chi ra,

Mỹ vào thay Pháp dân ta reo mừng.

Khắp nơi nô nức, tưng bừng.

Hân hoan ủng hộ người hùng họ Ngô.

Lại thêm một vị quân sư,

Hết lòng chỉ bảo họ Ngô cần quyền.

Tướng Hinh tư thế kém hèn,

Biết mình đến lúc hết quyền phải đi.

Cao Đài: Tướng Thế chỉ huy,

Mỹ làm sứ mạng Trương Nghi đưa về.

Bình Xuyên mộtt Trận Nhà Bè,

Toàn quân gian đảng chém vè chạy mau.

Hòa Hảo: Soái, Ngộ về đầu,

Còn lại Ba Cụt rơi vào thế cô.

Bấy lâu gây dựng cơ đồ,

Anh hùng thất thế, sa cơ rơi đầu.

Đồng thời Diệm tổ chức bầu:

Truất phế Bảo Đại lên lầu vinh quang.

Toàn gia đình Diệm vênh vang:

Xuân, Nhu, Thục, Cẩn ngang tàng nhẩy ra,

Tuyên xưng chế độ Cộng Hòa

Mà quyền chuyên chính một nhà tóm thâu

Năm ác quỷ một Thị Mầu

Chia nhau cỡi cổ đè đầu nhân dân.

Vốn nòi thập ác độc thần:

Tham tàn hơn cả thực dân thuở nào!

Diệm ngồi ngội vị tối cao,

Hè nhau dựng Đảng Cần Lao để phò.

Đảng viên toàn lũ cuồng nô,

Chúng coi dân nước như nô lệ nhà,

Thi nhau bóc lột dân ta:

Thượng vàng hạ cám chẳng tha thứ gì.

Miền Trung “Cậu Cẩn” trị vì:

Quyền uy hơn cả hơn cả quyền uy vua Tần.

Tiếm danh “Đệ Nhất Phu Nhân”,

Lệ Xuân cong cớn hơn quân điếm đàng.

Tuy không chức phận rõ ràng,

Thục như một thái thượng hòang oai phong,

Tận tình nhũng lạm của công,

Cướp rừng nộp thuế ăn thông với thù.

Đệ nhất gian ác là Nhu,

Tổ chức mật vụ mưu đồ bất nhân:

Độc quyền buôn lậu chuyển ngân,

Thủ tiêu đối lập giam cầm sinh viên,

Ưu tiên Công Giáo đặc quyền,

Đêm quân đánh phá chùa chiền giết sư.

Mưu toan đem đạo Ca-tô

Bắt dân toàn quốc phải thờ phải theo.

Dân ta cơ cực trăm điều,

Thế cùng đành phải tự thiêu đòi quyền.

Biểu tình chống đối liên mien.

Mỹ làm áp lực giảm tiền viên chi,

Đòi Xuân Nhu phải ra đi.

Diêm dùng chiến thuật ù lì hoãn binh,

Khiến cho Mỹ cũng bất bình.

Quân đội chụp lấy tình hình đứng lên,

Thừa cơ đạp đổ bạo quyền

Mở nhà tù thả sinh viên về trường.

Dân mừng tràn ngập phố phương,

Mừng đoàn quân đã can trường diệt Ngô,

Mừng từ đây có tự do,

Từ đây thoát ách “cuồng nô” bạo tàn,

Từ đây mật vụ, công an

Không còn rình rập, làm càn, tác oai.

Cần lao gian ác tay sai

Biết thân, chúng vội liệu bài chạy xa.

Từ đây Lương Giáo một nhà

Muôn dân hát khúc hòa ca ân tình.

Nguyễn Mạnh Quang

 

Trang Đối Thoại




Đó đây


2019-09-19 - Thêm thắt Việt Nam vào câu hỏi dành cho Joshua Wong, - Trà My của đài VOA Tiếng Việt bị chỉ trích nặng nề

2019-09-18 - Trẻ trâu Ngô Bảo Châu, Cơm Rau Veggie Meal Pác Pó, Chương trình “Từ Thủ Ðô" với LS Trịnh QThiên -

2019-09-18 - 2016 - "Giê-su của Philly" thuyết giáo đường phố đã bị bắt vì hành vi vô trật tự sau khi từ chối rời khỏi Apple Store - Người nghiện heroin, cảnh tượng rất phổ biến trên đường phố trong hai năm qua với áo choàng, mái tóc dài, bộ râu và cây thánh giá, Michael Grant đã tạo một hình dáng đặc biệt.

2019-09-18 - Tin chấn động về Hoàng Chi Phong từ Luật Sư Trịnh Quốc Thiên -

2019-09-17 - Đèn linh vật khổng lồ đón Trung thu - Hàng trăm chiếc đèn khổng lồ được người dân rước trên đường phố. Đèn cao khoảng 5, hoặc 10m găn trên ô tô hoặc xe điện. Người lớn, trẻ em từ khắp nơi đổ về dự lễ hội, nhảy múa trên đường phố

2019-09-17 - Saudi Arabia, nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới bị drone tấn cộng, bốc cháy, 2019.09.14. - Bộ Nội vụ Vương quốc nói, đã gây ra một đám cháy lớn tại một cơ sở xử lý quan trọng đối với các nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu

2019-09-17 - Việt Nam có mạng xã hội, Lotus - TS Phan Quốc Việt: "Tôi mong Lotus sẽ là bông sen vàng - ngát hương thơm, nâng cao văn hóa người Việt". Lễ ra mắt mạng xã hội "Made in Viet Nam" - Lotus, sẽ chính thức diễn ra tại Hà Nội vào tối 16/9.

2019-09-15 - Chương Trình: Đêm Trăng Cổ Tích | Ngày 14/08 năm Kỷ Hợi -

2019-09-14 - Cha ông chúng tôi giải phóng vì dân tộc này, chứ đếch vì tụi mày -

2019-09-13 - Yêu cầu Trung Quốc rút ngay nhóm tàu vi phạm khỏi vùng biển Việt Nam - Tại buổi họp báo thường kỳ chiều 12/9, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã cung cấp thông tin cập nhật nhóm tàu Hải Dương 8 và yêu cầu Trung Quốc rút ngay nhóm tàu vi phạm khỏi vùng biển của Việt Nam



▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 >>>




Thư, ý kiến ngắn
● 2019-09-14 - Trung Thu - Niềm vui vỡ òa từ chương trình tràn qua tâm mình : Ký Ức Vui Vẻ - Mùa 2 - Mike Wilson -

● 2019-09-14 - Cựu Thẩm Phán, nhà báo Lữ Giang-Tú Gàn đã an nghỉ trong Chúa - Diễn đàn thư tín -

● 2019-09-13 - Tin lề trái về LM Trần Đình Long - Tin Thêm 34 Việt Kiều Mỹ, Úc... Đòi Thưa Cha Long - Cộng Đồng FB -

● 2019-09-08 - Ý Kiến Khác Về Việc Cô Ni, Tăng Chú (Chú Tiểu) tới Nhà Thờ - Giác Hạnh -

● 2019-09-07 - Đề phòng kẻ gian lợi dụng tuyên truyền phản cảm làm nhục đạo Phật - FB Phú Lâm Châu -

● 2019-09-06 - Cảnh báo - Nhân vụ Giáo Điểm Tin Mừng Bị Dẹp - FB Lâm Châu -

● 2019-09-03 - Xem quân sử "Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn" - Việt Dân -

● 2019-08-31 - Cởi Áo Cà Sa Khoác Chiến Bào: Đại Đức => Đại Tá Đinh Thế Hinh - Thi Nguyen & Bạn -

● 2019-08-30 - Xem video clip "Bằng chứng về Siêu Điệp Viên Nguyễn Văn Thiệu của Cộng Sản - Cựu tổng thống VNCH" - Phạm Uyên Bác -

● 2019-08-29 - Người ta gọi người không theo chúa là bên Lương, vậy bên theo Chúa là ... - sylvia le -

● 2019-08-28 - Lời tâm sự của một người lương, em một người anh có vợ theo đạo Chúa - FB Mạnh Hoàng -

● 2019-08-26 - Linh Mục Trần Đình Long (từng hoạt động ở GĐTM) Đang Chờ Bị Xét Xử - FB Thi Nguyen -

● 2019-08-24 - Tuổi trẻ VN hôm nay ở Việt Nam - và những người đoán mò ở hải ngoại - Trần Quang Diệu -

● 2019-08-20 - Họ không có trách nhiệm bảo vệ bí mật cho Việt Nam. Nhưng chúng ta phải khác - FB BỨC TƯỜNG PHÍA NAM -

● 2019-08-12 - Cộng đồng hải ngoại không thể đoàn kết.! Chính vì sự cuồng tính cực đoan ngu dốt của họ - Giác Hạnh -

● 2019-08-09 - Nổi đóa! -Tại sao cái gì tốt đẹp nhất họ cũng cố chứng minh không phải... người Việt? - Thư bạn đọc -

● 2019-08-09 - TT Trump: Thành phố Baltimore "lúc nhúc đầy chuột" - Nhưng Nhà Trắng đầy chuột và gián là chuyện có thậ - Mike Wilson -

● 2019-07-31 - Góp Ý, Sau khi nghe xong câu chuyện GS Nguyễn Mạnh Quang kể - Súy Nguyễn -

● 2019-07-30 - Chỉ có Chệt và hậu duệ của Việt gian theo Pháp, Vatican... mới có ý muốn DẸP VN - Diễn Đàn -

● 2019-07-26 - Nhóm “Vệ Quốc Quân” - Có vẻ như công an VN đã thâm nhập vào các tổ chức của bọn chúng, và biết r - Việt Dân -


▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 >>>