|
bản in |
¿ toàn bộ NTT |
09 tháng 12, 2009 |
A. Vào đề
Nguyễn Trường Tộ quê tỉnh Nghệ An, sinh
khoảng năm 1828 (có người viết sinh năm 1830…), chết 1871, thọ 41 tuổi.
Nhiều năm sống bằng nghề dạy học, ông có công xây dựng một nhà thờ lớn tại
Sài gòn, và chỉ huy đào Thiết cảng được vua khen thưởng. Ông là “tác giả” 58
bản Điều trần gởi vua Tự Đức, dùng chữ “canh tân, đổi mới, thực dụng”, và
những bản điều trần nầy đã làm nhiều người nghĩ ông có chương trình cải cách
canh tân, nhưng ngày nay sử liệu và nhiều mâu thuẩn nội tại của chính các
bản Điều trần ấy nên chúng ta cần xem lại vấn đề. Ông biết chữ Nho, nhưng
tiếng Pháp kém; chỉ đủ để làm thư ký cho Pháp mà thôi.
¬ Giám mục JEAN DENIS GAUTIER
Ngày 16.10.1858, ông cùng với Giám mục
“tình báo” Gauthier đến cửa Mành-sơn, Đà Nẳng. Ở đó, đã có các tu sĩ Pháp
tập trung khá đông đảo đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp
lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm, nhưng Đô đốc
Charles Rigault de Genouilly thấy không dễ như họ tưởng, nên tất cả đều bị
Genouilly đuổi sang Hồng Kông.
Năm 1861, từ Hồng Kông, cùng với
Phó Đô đốc Léonard Charner, về lại Việt Nam, ông được thuê làm thư ký cho
Tổng hành dinh của quân thực dân Pháp để mở rộng vùng chiếm đóng (theo Linh
mục Trương Bá Cần trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”).
Vai kề vai lòng cạnh lòng với Giám
mục Gauthier hơn 10 năm, và cùng với ông nầy, viết 58 bài Điều trần gởi đến
triều vua Tự Đức.
B. Tổng quát 58 bản Điều Trần
(nguồn: Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường
Tộ con người và di thảo”
1.- Từ bài số 1 Thiên Hạ Đại Thế Luận
viết khoảng tháng 3 - 4 năm 1863, đến bài cuối cùng, thứ 58, Bài tựa
sách Đàm Thiên Luận (1871). Nếu được sắp theo thứ
tự thời gian, chúng ta thấy ý tưởng của Nguyễn Trường Tộ không được bố cục
nhất quán, mà viết theo những biến chuyển của tình hình quân sự và chính
sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, cũng như viết theo bối cảnh lịch sử
Việt Nam thời bấy giờ, để xoáy vào chủ điểm chính: Tại sao nên hợp tác với
Pháp.
2.- Với giọng văn điêu luyện, sắc sảo,
Nguyễn Trường Tộ sử dụng hai luận điểm chính để thuyết phục Triều vua Tự
Đức. Hai luận điểm có tính chiến lược và chiến thuật đó có thể đặt tên là
“Củ cà rốt” và “Cục xương”.
Chiến thuật Củ cà rốt là
đưa ra một số kế hoạch hoa mỹ và quyến rũ như khai thác hầm mỏ, sử dụng tài
nguyên thiên nhiên...để làm cho dân giàu nước mạnh. Muốn đạt được mục đích
đó thì phải làm gì? Trả lời: phải hợp tác với Pháp, phải cầu khẩn La Mã giúp
sức như trong Di Thảo số 5.
Chiến thuật Cục xương là đưa ra
một số đề nghị không thể thực hiện được như chỉnh trang võ bị, đào kênh từ
Hải Dương đến Huế v.v...(Di Thảo số 27) để qua đó triều đình nhà Nguyễn phải
mất thì giờ gặm cục xương để không còn có thể làm gì khác hơn.
3.- Nguyễn Trường Tộ khéo lồng nội dung
tôn giáo vào hầu hết những bản Di Thảo để một mặt thì hăm dọa rằng “Tạo
vật đã định như vậy, sao cưỡng được" (Di Thảo số 1), mặt khác thì an ủi
chấp nhận số phận... "Vì tạo vật đã an bài" (trong nhiều Di Thảo).
4.- Một số Di Thảo khác thì đưa ra các dữ
kiện sai lầm về sử liệu để bi thảm hóa tình hình đất nước, nhằm kêu gọi
người Việt nên hòa với Pháp (Di Thảo 1), và để biện minh cho những đề nghị
của mình (Di Thảo số 5 và 27).
5.- Nguyễn Trường Tộ nhìn đất nước Việt
Nam trong lăng kính tôn giáo, mang đầy tính chất cuồng tín, phản tiến hóa,
phản khoa học để từ những tiền đề đó dẫn đến hai hệ luận:
Thứ nhất, Việt Nam là một phần tử trong
tổng thể của vạn vật mà tạo hóa đã an bài, do đó “không có tự do làm theo
ý muốn" (Di Thảo số 2). Và vì là sản phẩm của tạo vật nên phải chịu
số phận cần được khai hóa (Di Thảo số 1).
Thứ hai, liên đới với hệ luận thứ nhất về
mặt trần thế, do đó, Việt Nam nên “Dùng giám mục linh mục vào việc canh
tân đất nước” (Di Thảo 17).
6.- Có 8 trong số 58 Di Thảo không có
nhiều giá trị học thuật, nên không đáng được quan tâm như Di Thảo số 6 “Về
Việc Mua Đóng Thuyền Máy”, Di Thảo số 7 “Về Việc Đào Tạo Người Điều Khiển Và
Sửa Chữa Thuyền Máy”, Di Thảo số 9 “Về Việc Mua Tàu London”, Di Thảo 11 “Tâm
Sự Với Trần Tiển Thành", Di Thảo số 16 “Bài Bạt Mừng Đào Xong Thiết Cảng”,
Di Thảo 28 “Biểu Tạ Ơn Vua”, Di Thảo số 56 “Bài Khải Quyên Tiền Sửa Cầu”, Di
Thảo số 58 “Bài Tựa Sách Đàm Thiên Luận” (cọng chung có 17 trang khổ 8x11).
Trái lại, có 3 Di Thảo không liên quan
nhiều đến chính trị và kinh tế nhưng về phương diện văn chương, lý luận và
sự kiện thì rất có giá trị, xuất sắc, nhất là tác giả lúc bấy giờ đang ở lớp
tuổi 35 và được viết cách đây 130 năm. Đó là Di Thảo số 10 “Thảo Thư Gởi Tây
Soái”, Di Thảo số 47 “Về Việc Cải Cách Phong Tục”, Di Thảo số 50 “Về Việc
Chỉnh Đốn Quân Đội Và Quốc Phòng” (gồm 18 trang).
Bốn Di Thảo khác được viết trong bối cảnh
bị triều đình Tự Đức nghi ngờ, nên giọng văn và ý tưởng có vẻ nịnh bợ hoặc
phân trần, hoặc viết để thăm dò ý của triều đình. Đó là Di Thảo số 13 “Ngôi
Vua Là Quí; Chức Quan Là Trọng”, Di Thảo số 40 “Bổ Túc Kế Hoạch Đánh Úp Gia
Định”, Di Thảo số 51 “Cần Nắm Vững Tình Hình Chính Trị Ở Pháp”, Di Thảo số
52 “Canh Tân Và Mở Rộng Quan Hệ Ngoại Giao” (gồm18 trang).
Cách phân loại như trên, dĩ nhiên là có
tính tương đối, hy vọng độc giả sẽ dễ dàng theo dõi quan điểm chính trị,
kinh tế và tôn giáo của Nguyễn Trường Tộ qua bối cảnh lịch sử và sử liệu,
nhất là các tài liệu mật của bộ Hải quân Pháp lúc bấy giờ. Bài nầy tôi chỉ
phân tích quan điểm chủ hoà của ông qua Di thảo “Thiên hạ đại thế luận”.
C.
Thiên Hạ Đại Thế Luận
Điều trần nầy giúp ta thấy được tâm chất và ý
hướng của Nguyễn Trường Tộ đối với đất nước và đối với nước Pháp.
Đà Nẵng mất ngày 1-9-1858 vì cuộc xâm lăng của quân đội Pháp do Đô đốc
Rigault de Genouilly chỉ huy. Ngày 21-6-1859, triều đình đành phải chấp nhận
thương thuyết với Pháp. Tháng 3, 1860, Pháp rút khỏi Đà Nẵng vào Sài Gòn để
chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Với Hòa ước Nhâm Tuất 1862 giữa Pháp, Tây
Ban Nha và Việt Nam, Pháp được thỏa mãn tất cả những gì mà họ đòi hỏi. Tình
hình dân Việt Nam lúc bấy giờ chia làm hai phe: Quần chúng thì chủ chiến,
nhưng triều đình thì chủ hòa mà đứng đầu và tích cực nhất của phe chủ hòa là
Phan Thanh Giản.
Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn
Trường Tộ viết bản Điều Trần số 1 “Bàn Về Những Tình Thế Lớn Trong Thiên Hạ”
(Thiên Hạ Đại Thế Luận) gởi cho triều đình vua Tự Đức vào tháng 3-4
năm 1863. Lồng nội dung bản Điều Trần nầy vào tình hình chính trị và quân sự
của đất nước lúc bấy giờ, chúng ta có thể đánh giá khá chính xác về tư duy
của Nguyễn Trường Tộ. Ông viết:
“…Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ
có Thế mà thôi. Chữ Thế là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên người
biết rõ Thế thì không trái trời, không mất thời, không hại người, không
hỏng việc.
Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ
Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc,
hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì
diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy.
Ngày nay các nước phương Tây, đã bao
chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ Châu Phi cho tới Thiên
Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống,
Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây Châu, không
đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng...Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào
có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương
mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận
với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai
cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự
lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao
không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây phương? Huống
hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm
những việc thiên hạ khó làm được?
…Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải,
là trạm nghỉ chân của người Tây phương trên đường sang Đông. Con giao long
khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi.
Mới đây người Pháp thừa thế đánh xong
tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ.
Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ. Phàm việc
binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ rằng quân ta mới nghe thanh thế họ đã
phách lạc hồn xiêu rồi".
D. Nhận định
1.-Tàu diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương.
Nguyễn Trường Tộ muốn ám chỉ: Trung Hoa
(thủy, phương Bắc) diệt (?) Việt Nam (hỏa, phương Nam), và Pháp (kim, phương
Tây) diệt (?) Đông Dương (mộc, phương Đông), trong Đông Dương có Việt Nam.
Nguyễn Trường Tộ dùng một định luật Ngũ hành, tương khắc tương sinh, của
triết học cổ Trung hoa
[1]
và từ tiền đề đó biện minh cho một lý luận chính trị hoang tưởng. Nhưng
thực tế sai lầm qua một số dẫn chứng sau đây:
Thật vậy, nước dập tắt được lửa, nhưng
lửa cũng làm cho nước bốc hơi khô cạn sông ngòi. Kim và mộc cũng thế. Vàng
sợ gì “củi” nhưng củi đun nóng cũng làm cho vàng chảy hết.
Trên cơ sở sử học cũng thế. Ngàn năm bị
đô hộ giặc Tàu, nhưng nhân dân ta đã dành lại độc lập. Suốt thời Lý Trần,
quân Nguyên Mông đánh chiếm cả thiên hạ, nhưng lúc đến Việt Nam họ không
những thua trận một lần mà thua trận đến ba lần. Học giả Phan Khôi nhận định
rất đúng: “…Trái lại, nhà Lý, nhà Trần mạnh lắm, dân khí còn hăng lắm,
mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt” (Dẫn theo Nguyễn
Lang), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 3, Lá Bối xuất bản, Paris,
1985, trang 29).
Một cuộc chiến thắng phương Bắc (Trung
Hoa) khác, là vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đuổi 20 vạn quân Thanh về Tàu
năm 1789. Đó là bằng chứng trong nhiều chứng cớ lịch sử cho ta thấy làm gì
có chuyện Tàu diệt Việt (Thủy diệt Hỏa) như Nguyễn Trường Tộ khẳng định. Còn
Kim diệt Mộc hay Pháp diệt Á đông trong đó có Việt Nam, là thêm một nhận xét
khác thiếu cơ sở sử học của họ Nguyễn.
Thật vậy, trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã
kết thúc chính sách thuộc địa gần 100 năm của Pháp. Cuộc chiến tranh giữa
hai miền Nam Bắc mà cuối cùng Hoa Kỳ cũng phải rời bỏ Việt Nam vào tháng 4,
1975. Sử liệu dưới đây cho thấy năm 1858 Pháp đánh Đà Nẵng và lúc Pháp mới
chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1860, nếu triều đình Tự Đức không giảng
hòa và hô hào toàn dân kháng chiến thì Pháp đã thua trận ngay từ đầu. Như
thế không những lý luận Kim diệt Mộc hay Pháp diệt Việt Nam bị diễn dịch
hoang đường mà trái lại, Mộc còn diệt Kim hay Việt nam còn diệt Pháp. Bằng
chứng:
1a.- Ngày 4-1-1859 Đô đốc Rigault de Genouilly gởi cho viên Thượng-thư Bộ
Hải Quân một văn thư bi thảm như sau:
... Quả thật tôi thấy cần thiết và hết sức
đau đớn xác nhận với ngài về tình trạng tồi tệ về sức khỏe chung. Thiếu tá
Levêque, Đại úy Hải quân Virot, phó kỹ sư Delautel đều đã đi Ma-cao và chắc
phải đưa về Pháp. Tôi không biết phải đối phó thế nào với các lỗ trống đó.
Mỗi ngày lại có nhiều người chết, và thời tiết xấu mà các nhà truyền giáo
bảo là sẽ chấm dứt vào đầu tháng 12 vẫn tiếp tục với những trận mưa dầm dề
không tưởng tượng nỗi. Chỉ nội sự kiện đó, ngài cũng có thể đánh giá về các
tin tức đang đến với tôi về mặt này và lòng tin tưởng của tôi đối những cuộc
hành quân phải thực hiện.
Dù thế nào đi nữa, thưa ngài Thượng Thư,
chúng ta đang nhanh chóng tuột dốc đến kiệt quệ và đến lúc phải bất động tại
Đà Nẵng. Mọi phương cách để cải thiện tình trạng quân sĩ đều đã được sử dụng
hết và không kết quả. Các y sĩ, trước tình trạng bệnh tật, đã kết luận là
người Âu không nên làm việc gì trong khí hậu nầy, nhưng làm sao được khi ở
đây, phải làm những việc cần thiết cho sự phòng vệ, xây cất bệnh viện, lều
trại v.v... Đó là một cái vòng lẩn quẩn khiến chúng ta phải điên đầu”
[2]
1b.-
Trước tình hình nguy ngập như trên, ngày 8-4-1859 một chỉ thị khác của Bộ
Hải Quân và Thuộc Địa gởi cho Đô đốc R. de Genouilly như sau:
“…Vì thế Hoàng Thượng tin cậy ở
kinh nghiệm và sự sáng suốt của Ông trong mọi quyết định, với lực lượng dưới
quyền Ông điều khiển, có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên Vương
quốc An Nam không; hay chỉ nên cưỡng bức Chính phủ họ, nhờ vào việc chiếm
đóng Đà nẵng và nhiều cứ điểm khác mà Ông đã chiếm hay sẽ chiếm được. Cùng
với việc phong tỏa một hay nhiều cảng ở Nam Kỳ để đi đến sự ký kết một hiệp
ước trên nền tảng kế hoạch 25-11-1857; hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các
vị trí mà chúng ta chiếm đóng và từ bỏ hẳn mọi mưu toan rõ ràng ngoài tầm
các phương tiện hoạt động mà Ông có”
[3].
1c.-
Sau khi Phan Thanh Giản và Lê Duy Hiệp đại diện triều đình Huế ký Hòa ước
Nhâm Tuất 1862 với Pháp, hai ông đã bị phần lớn dân chúng lên án là hai kẻ
phản quốc. Triều đình Huế bỏ rơi phong trào kháng Pháp. Nhưng toàn dân Nam
Kỳ đã kháng cự kịch liệt dưới sự điều khiển của Nguyễn Trung Trực, Võ Duy
Dương, Thủ Khoa Huân v.v...và đã làm cho quân Pháp vô cùng khốn đốn. Một
đoạn trong bản báo cáo của Bonard ngày 18-12-1862 viết như sau:
“Các tàu tôi hiện có, trừ
hai chiếc Forbin và Cosmao, đều không thể ra khơi... Đoàn quân viễn chinh bị
bệnh tật, chết chóc, sự giảm quân làm cho yếu kém, đang bị sử dụng quá sức:
Tôi hoàn toàn bị tê liệt về các phương tiện hành động; tàu bè thì thiếu và
bị hư... Tình trạng thảm hại đó nếu không sửa chữa sẽ đưa thẳng chúng ta đến
một tai họa không xa! Tôi thấy có bổn phận phải báo cho ngài biết...Thật là
đau đớn, sau bao cố gắng quá sức con người mà tôi đã làm từ 15 tháng nay,
bây giờ thì mọi thứ đều phải xem xét lại, do sự bỏ rơi các vấn đề của Nam
Kỳ... các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi...Tôi bị đẩy vào thế tự
vệ, không có phương tiện để lập một đoàn quân chỉ 200 người... Tôi yêu cầu
Đô đốc Jaurès gửi ngay cho một số viện quân. Nếu lực lượng tăng viện đến
ngay, tôi có thể làm chủ được tình hình, nếu không thì đành bất lực”
[4].
1d.-
Ngày 27.1.1863 Bonard cũng than thở:
“Lực lượng chúng ta giảm dần vì chết,
vì bệnh, vì rút quân, đang bị đuối sức từng ngày, rõ ràng không thể tiếp tục
trong sáu tháng một chiến trận như thế này. Chúng ta thiếu Bộ binh, thiếu
Hải quân, thợ máy, phương tiện chuyên chở, tất cả trang bị Hải quân chúng ta
hoàn toàn cũ mèm mà không có phương tiện sửa chữa; sự vận tải trên đất cũng
thành vô hiệu, vì thiếu tài xế cho xe bộ binh, thiếu xe cứu thương, thiếu
thực phẩm v.v...”
[5]
Qua bốn chứng liệu của chính các viên chức
cao cấp trong bộ Hải Quân và Thuộc Địa chứ không phải của ai khác, chúng ta
thấy rõ triều đình Huế đã không nắm vững tình hình của Pháp, bằng không, thì
Pháp đã bị bại trận từ đầu.
Trong lúc số phận của quân đội
thực dân Pháp sắp cáo chung như chúng ta thấy ở trên, thì Nguyễn Trường Tộ
lại viết:
“Nay các nước phương Tây, đã
bao chiếm từ Tây Nam cho đến Đông Bắc,...ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ
nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên,…”. Từ đó, Nguyễn
Trường Tộ dõng dạc khuyên dân Việt Nam: “Huống hồ nước Việt Nam ta là một
nước nhỏ bé, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó
làm được”.
Ở đây có hai giả thuyết:
Hoặc ông, nhờ có quan hệ với Pháp, biết rõ tình hình suy kiệt của quân Pháp
nhưng cố tình báo cáo láo. Hoặc ông không biết rõ tình hình, chỉ suy luận
bừa bãi theo cái biết về ngũ hành. Trong cả hai trường hợp, điều ông trình
bày đều nói lên rõ ràng tâm trạng chủ bại của ông và ý đồ đầu hàng giặc vì
chính quyền lợi của giặc.
2.- Lính Việt Nam
hèn nhát, chưa đánh đã chạy.
Nguyễn Trường Tộ viết:
“Quân ta mới nghe thân thế họ
đã phách lảng hồn xiêu rồi...
... Nếu họ dùng súng trường từ xa
bắn suốt tới, thì quân ta chưa xáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến
gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên
như nước chảy xiết. Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng
như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi”.
Nguyễn Trường Tộ bi thảm hóa
tình hình rất sai lạc. Sau đây là vài bằng chứng.
Trong văn thư đề ngày
21-9-1859, Đô đốc R. de Genouilly viết:
“Càng đi sâu vào tình hình
Vương Quốc An Nam, các bức màn càng vén lên, những lời khẳng định dối trá
(của các tu sĩ, BK)
càng tan biến, không thể không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh chống lại xứ
nầy còn khó hơn cuộc chiến tranh chống lại thiên triều...”
[6]
Bonard cũng lo âu kêu cứu:
“Người An Nam đã tỏ ra dày
dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò, giờ đây họ tấn công chúng ta ngay
những vị trí của chúng ta.” (Poyen - Notice sur l'Artillerie de la
Marine, Thái Hồng “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước,”
Viện KHXH, 1992, TP HCM, trang 263).
Hai dẫn chứng vừa nêu cho thấy sự
đánh giá tệ mạt của Nguyễn Trường Tộ về tình hình chiến đấu của quân Việt
Nam là hoàn toàn sai lầm, và hầu như cố tình lạc dẫn để cứu vãn tình thế
nguy ngập của quân đội Pháp.
3.- Giết giáo sĩ, xin một
miếng đất...
Nguyễn Trường Tộ viết: “Hơn
nữa, người Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi
vì sao không chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường
giao thương như các nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước
người. Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành
động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi dây dưa lan rộng như thế. Cũng
ví như nước lụt, người hiểu biết thì thuận theo thế nước mà cho chảy xuôi,
để nước chảy về sông về biển thì hết, nếu ngăn đọng lại thì úng núi ngập gò,
tắc lại thì trôi nhà trôi cửa. Cho nên người khéo trị lụt, thì việc làm hết
sức đơn giản."
Lồng các nhận định của
Nguyễn Trường Tộ nêu trên vào khung cảnh nước nhà lúc bấy giờ, và trước lúc
Nguyễn Trường Tộ viết bản Di Thảo nầy vào giữa năm 1863, các sử liệu sau đây
cho thấy lý do tại sao giáo sĩ bị giết.
3.1.- Lời
phê bình của Đô đốc R. De Genouilly.
Để cho vấn đề được vô tư, và
để thấy các hành động mà giáo sĩ nước ngoài đã tác hại cho đất nước Việt
Nam, xẩy ra lúc Nguyễn Trường Tộ vào khoảng 30 tuổi, trước hết chúng ta nên
nghe lời than phiền của Đô đốc Rigault de Genouilly.
“Không một nền cai trị nào, dù
là phục vụ cho đạo Ki Tô, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên
và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và
không phải thuộc quyền hạn của họ
[các giáo sĩ – BK]. Nếu cũng vì
những yếu tố buộc tội đó mà Giám mục Pellerin bị nhà cầm quyền An Nam trục
xuất thì báo chí của người truyền đạo lại kêu la om sòm là họ bị bạo hành”.[7]
Nguyễn Trường Tộ nhận định
thêm “Nếu những yêu sách... được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động
gây hấn”. Để đánh giá lời phát biểu nầy, chúng ta nên biết vài sử liệu
dưới đây:
3.2.- Bản
tường trình của Đô Đốc Bonard:
Sau khi chiếm được ba tỉnh
miền Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường, Việt Nam ký với Pháp
Hòa-ước 1862, Đô đốc Bonard gởi cho chính phủ ông một bản tường trình bằng
cách đặt bốn câu hỏi, mà câu hỏi thứ tư như sau:
“Bằng lòng với ba tỉnh đang
chiếm được, tổ chức lại để đảm bảo an ninh cho tự do buôn bán dưới ngọn cờ
của nước Pháp ư? [Bonard tự trả lời như sau]:
“Giải pháp thứ tư, đòi hỏi
phải có những hy sinh mới, nhưng có thể dẫn đến kết quả là tổ chức và xử
dụng được cái xứ rộng lớn mà vũ khí đã may mắn đặt nó vào tay chúng ta.
Những hy sinh nầy rất cần thiết để duy trì những ảnh hưởng tốt của chúng ta
ở Viễn Đông, bằng không sẽ còn phải thêm bao nhiêu máu và tiền bạc đổ ra
nữa mà không có gì hy vọng trước mắt hoặc trong tương lai.”
[8]
Qua ý kiến của Đô đốc Bonard
như trên, chúng ta thấy Pháp đã thỏa mãn với
Hòa Ước 1862 sau khi ký kết với triều đình vua Tự Đức, nhưng 5 năm sau,
tháng 6, 1867 Pháp chiếm trọn cả Nam Kỳ. Đến ngày 20-11-1873, sau khi Nguyễn
Trường Tộ chết khoảng 2 năm, Pháp chiếm luôn Bắc Kỳ. Như thế, lời khuyên của
Nguyễn Trường Tộ: Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm
dứt những hành động gây hấn là một đề nghị vừa sai lầm vừa chỉ có
lợi cho Pháp mà thôi.
4.- Chiến là đổ thêm dầu
vào lửa, hòa là thượng sách:
Nguyễn Trường Tộ viết:
“Hiện nay quân Pháp đã chỉnh
cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trù kế lâu
dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ
như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn
quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa
đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.
Tôi thường nghiên cứu sự thế
trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách…”.
So sánh nội dung đoạn trong
bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ nêu trên được gởi cho triều đình Tự Đức
khoảng tháng 3-4 năm 1863, và một tối hậu thư của đại diện toàn quyền chính
phủ Pháp và Tây Ban Nha gởi cho Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đề ngày
28.2.1863, chúng ta thấy có những ý tứ thật trùng hợp nhau như sau:
“Nếu chấp thuận (phê
chuẩn hiệp ước, BK) thì dân chúng và vương quốc An Nam sẽ không còn những
khốn khổ.
Nếu không, thì Vương quốc ông sẽ
không còn nữa, vì điều đó sẽ dẫn đến sự tham dự của những người nổi loạn
miền Bắc và sự chiếm đóng tức thời ba tỉnh phía Nam. Như thế vương quốc của
ông sẽ mất đi cùng lúc cả Nam Kỳ và Bắc Kỳ.”
[9]
Sở dĩ có sự hăm dọa như trên
vì vua Tự Đức một mặt kiếm cớ trì hoãn sự phê chuẩn hiệp ước, mặt khác vận
động chuộc lại các tỉnh đã mất. Như thế, Nguyễn Trường Tộ có đi đêm với Pháp
hay không? Nếu không đi đêm thì cũng “đồng thanh tương ứng đồng khí tương
cầu».
5.- Nên nhường đất cho
lính nghỉ, giáo sĩ chỉ mở rộng đạo không tranh giành đất.
Nguyễn Trường Tộ viết: “Nay
có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình miếng đất mà
thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết...
Theo cách ngày nay thì nên để
cho quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổ ngày xưa cắt Quan
Trung cho hạng Võ, để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì
chồn cáo không dám bén mảng tới…”
Một,
qua các sử liệu mà chúng ta đã thấy, nếu triều đình vua Tự Đức biết được
tình hình suy nhược và rối loạn của địch và
thấy được thế mạnh của ta, thì quân xâm lược bị chôn xác xuống lòng đất ngay
từ những tháng đầu của việc chiếm đóng.
Hai, triều đình
Vua Tự Đức muốn giảng hòa với Pháp khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất,
nhưng vấn đề đó không thể thực hiện được một cách có lợi cho quốc gia Việt
Nam, vì những kết quả tốt đẹp có được tại bàn hội nghị sẽ tùy thuộc vào
những chiến thắng quân sự tại chiến trường. Còn không, thì Việt Nam là người
đi xin mà Pháp là kẻ bố thí. Người xin chỉ được những gì mà người cho phế
thải ra mà thôi.
Thật vậy, trước lúc phái bộ
Phan Thanh Giản vào Nam Kỳ để thương thuyết với Pháp, cuối buổi tiệc khoản
đãi phái bộ trước khi lên đường, vua Tự Đức nói với các đình thần những lời
cảm động như sau:
“Đất nước hôm nay đang bị
dồn vào ngõ cụt khó khăn; muốn đưa nó thoát ra, chỉ có bàn tay của những
người tôi trung tài năng và tận tụy. Có hai điểm cơ bản các khanh cần luôn
luôn ghi nhớ: vấn đề nhường đất và vấn đề hành đạo Cơ Đốc giáo. Về hai điểm
quan trọng hàng đầu ấy, các khanh đừng nhẹ dạ trong việc ký kết. Đừng vì một
sự yếu đuối hay vội vàng nào đó mà làm thiệt hại đến vận mệnh và danh dự của
cả giang sơn đang được giao phó vào tay các khanh
Nhưng, ngày 7. 6. 1862,
các sứ thần Việt Nam rời Sài Gòn trở về Huế tường trình về nhiệm vụ của sứ
bộ. Kết quả đáng buồn.
Đất nước bị cắt mất ba
tỉnh miền Đông: Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Người
Pháp bắt một nước đã bị xơ xác vì bao nạn chiến tranh và chiếm đóng phải trả
một số chiến phí quá nặng: 4 triệu đồng bạc tức khoảng 2.800.000 lượng bạc.
Sau nữa, là chuẩn y mười hai điều khoản liên quan đến vấn đề hành đạo Ki-Tô
và mở cửa đất nước cho việc buôn bán đối ngoại {Nguyễn Xuân Thọ “Bước Mở
Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)”,
tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1995, trang 66, 67, 68}.
Do đó, Nguyễn Trường Tộ bảo:
nên cho quân lính nghỉ ngơi để Pháp giữ bờ cõi cho mình, là một ý kiến
«rước cọp vào nhà» nhằm có lợi cho thực dân.
Riêng câu viết “Còn như giáo sĩ
thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm,
chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả.”
Dưới đây là hai thí dụ, trong
nhiều thí dụ, để thấy sự sai lầm cố ý của nhà thuyết khách họ Nguyễn.
Một đoạn trong mật thư, ngày
24.7.1862, Đô đốc Bonard gởi cho Chasseloup Laubat như sau:
“Ai (các giáo sĩ, BK)
cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giám mục Bá
Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ
có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục nầy, hoặc được
ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế
hoạch sau đây: nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông
giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua nầy, và khi
lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ.”
[10]
Một đoạn khác trong thư đó
viết về hành động của các giáo sĩ dòng tu Đô-Mi-Níc người Tây Ban Nha:
“Còn tu sĩ dòng Dominique Tây
Ban Nha thường chiếm cứ nhiều vùng miền Thượng Du Bắc Việt, họ lại còn bất
trị hơn: hăng hái và quá cuồng tín, đa số trong bọn nầy phát xuất từ các
đoàn du kích và phe Carlistes, họ rời bỏ Tây Ban Nha và sẵn sàng mang gươm,
súng và thánh giá chữ thập dốc toàn lực tham dự vào các cuộc nổi loạn gây
tai họa cho xứ Bắc Kỳ.”
[11]
Trên đây là vài nhận xét thuộc lãnh vực chính trị của Nguyễn Trường Tộ khi
đối chiếu với các sử liệu chính xác và tình hình thực tế không thể chối cãi.
Những sai lầm nghiêm trọng, những lời khuyên và nhận xét hoàn toàn sai lạc
về tình thế, về lịch sử mà Nguyễn Trường Tộ viết trong bản Điều Trần, giả sử
ông không có hậu ý giúp Pháp, thì ông cũng nên được lịch sử phê phán cho
trung thực và đúng mức, vì đề nghị sai chỉ có lợi cho Pháp mà thôi.
Bài kế tiếp sẽ bàn về vấn đề kinh tế của
ông.
Bùi Kha
[1]
Theo
triết
học cổ Trung Hoa,
tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm
nguyên
tố cơ bản và
luôn luôn trải qua năm trạng thái được gọi là:
Mộc,
Hỏa,
Thổ,
Kim
và
Thủy
(tiếng
Trung: 木,
火,
土,
金,
水).
Năm trạng thái này, gọi là Ngũ hành (五行),
không phải là vật chất như cách hiểu đơn giản theo nghĩa đen trong
tên gọi của chúng mà đúng hơn là cách quy ước của
người
Trung Hoa cổ
đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật.
Học
thuyết Ngũ hành diễn giải sự sinh hoá của vạn vật qua hai nguyên lý
cõ bản (生
- Sinh) còn gọi là Týõng Sinh và (克
- Khắc) hay Týõng Khắc trong mối týõng tác và quan hệ của
chúng.
-
Trong mối quan hệ Sinh
thì Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy,
Thủy sinh Mộc.
-
Trong mối quan hệ Khắc
thì Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc
Kim, Kim khắc Mộc.
Nãm
nguyên tố và các nguyên lý cõ bản của Ngũ hành ðã ảnh hýởng mạnh mẽ
ðến nhiều lĩnh vực hoạt ðộng của ngýời Trung Hoa cũng nhý một số
quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh nhý:
Việt
Nam,
Nhật
Bản,
Hàn
Quốc,
Triều
Tiên,
Ðài
Loan,
Hồng
Kông,
Singapore ...
từ thời cổ ðại ðến nay trong nhiều lĩnh vực nhý hôn nhân và gia
ðình, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, y học cổ truyền, quân sự v.v.
Ngũ
hành ðýợc ứng dụng vào
Kinh
Dịch, có từ
thời kỳ
nhà Chu (thế kỷ 12 TTL
ðến nãm
256 TTL),
một cuốn sách ðýợc coi là tác phẩm vĩ ðại nhất trong lịch sử Trung
Hoa về triết học.
[2] �...Je
dois en effet et bien malheureusement confirmer à Votre Excellence
l'état déplorable de la santé générale. M. le Commandant Lévêque, M.
le Lieutenant de Vaisseau Virot, M. le S. Ingénieur Delautel vont à
Macao et devront être probablement renvoyés en France. Je ne sais
plus comment faire face à tous ces vides. Chaque jour amène de
nombreux décès et les mauvais temps, qui d'après les missionnaires,
devaient finir avec le décembre, continuent avec une abondance de
pluies qui dépasse toute idée. Par ce seul fait, Votre Excellence
peut juger de la valeur des renseignements qui me viennent de ce
côté, et de la foi que je puis leur accorder, pour les opérations à
entreprendre avec la division. Mais quoiqu'il en soit, Monsieur le
Ministre, nous descendons par une pente rapide vers l'impuissance
radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous
les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont
été épuisés et sans succès. Les médecins, vaincus par la maladie,
arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dans
ce climat aucun travail, mais alors comment s'y établir, pourvoir
aux nécessités de la défense, des constructions d'hôpitaux, de
baraques etc... C'est un cercle vicieux contre lequel on viendrait
se briser la tête.” (Archives Nationales, Fonds marine) BB4769 CHT,
p. 108). - (Thư Khố Quốc Gia, tư
liệu Hải Quân, số hiệu #B 84769, dẫn theo luận án tiến sĩ của Cao
Huy Thuần “Christianisme et Colonialisme au Viet Nam 1857 – 1914”
Paris, France, 1968, bản ronéo, trang 108).
[4]
“Les vieux
bâtiments dont je dispose sont, à l'exception du Forbin et du
Cosmao, incapables de prendre la mer... Le personnel du corps
expéditionnaire affaibli par les maladies, les morts et les
congédiements, est surmené: Je suis complètement paralysé dans mes
moyens d'action; mes navires sont insuffisants et en trop mauvais
état... Cet état déplorable, si l'on n'y porte un prompt remède,
nous mène droit à une catastrophe qu'il est de mon devoir de
signaler à Votre Excellence comme imminente... Il est pénible, après
les efforts surhumains que je fais depuis 15 mois, de voir tout
remis en question, par suite de l'abandon dans lequel sont laissées
les affaires de Cochinchine... L'insurrection a éclaté partout à la
fois... Je suis réduit à la défensive, n'ayant pas les moyens de
former une colonne de 200 hommes... Je demande à l'amiral Jaurès
instamment de m'envoyer quelques renforts. Si ces renforts arrivent
promptement, je pourrai me rendre maitre de la position, si non,
non”. (Dépêche du 10, 12, 1862, Archives du Ministère des Affaires
Étrangères Asie, Mémoires et Documents, vol. 28, fol. 221-224).
[5]
“Notre effectif réduit par
les morts, les maladies, les évacuations est accablé de fatigue;
chaque jour il diminue; il est matériellement impossible de
continuer 6 mois une pareille campagne. Nous manquons d'hommes, de
marins, de mécaniciens, de moyens de transport; tout notre matériel
naval est complètement usé, et sans que nous ayons les moyens de
pouvoir les réparer; les transports par terre sont aussi
radicalement anéantis, faute de conducteurs pour le train
d'artillerie, les ambulances, les vivres etc..." (Dépêche du
27-1-1863, fol. 295 et 318, CHT, pp.170 & 171).
[6]
( …à mesure que
l’on pénètre dans la situation de l'Emprire
annamite, que les voiles se lèvent, que les assertions mensongères
disparaissent, il est impossible de ne pas reconnaitre qu'une guerre
contre ce pays est plus difficile qu'une guerre contre le Céleste
Empire (Dépêche de l'Amiral Rigault de Genouilly, Archives
Nationals, Fond Marine # BB4 769: CHT, pp. 117-118).
[7]
Fut-elle au service de
l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et
insolente dans les affaires politiques, civiles et militaires qui ne
sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr
Pellerin avait été prononcée, pour les mêmes chefs d'accusation, par
une autorité Vietnamienne, la presse des missionnaires aurait crié
partout persécutio. (Correspondance, 29.1.1859, CHT, p.113).
[8]
Se contenter des trois
provinces acquises, les organiser, y assurer la sécurité commerciale
sous le drapeau Francais?
La quatrième combinaison
exige de nouveaux sacrifices, mais elle peut amener à organiser et à
utiliser le vaste pays que les chances de la guerre ont mis entre
nos mains. Ces sacrifices sont indispensables pour maintenir très
haut l'influence que nous avons conquise dans l'Extrême Orient, sous
peine de voir tout les sang et l'argent dépensés venir s'ajouter à
celui tout à fait perdu qu'il faufra pour subvenir aux demi-mesures,
desquelles il n'y a rien à espérer ni dans le présent, ni dans
l'avenir..” Correspondance de Cochinchine�, Tom VI, pp. 130 à 147.
Archives du ministère de la France - Outremer, Paris. (Thư quan hệ
giữa Nam Kỳ, tập 4, trang 130- 147. Lưu trử Bộ Ngoại giao Pháp,
Paris. Dẫn theo Nguyễn Xuân Thọ trong cuốn Histoire de la
Pénétration Francaise Au Vietnam" (1858-1897. Trung tâm văn hóa
Linh Sơn xuất bản, Hawaii, 1993, trang 91-92}.
[9] Oui,
c'est la fin des malheurs du peuple et du royaume d'Annam.
Non, c'est la ruine de ce
royaume, car il entrainera nécessairement l'assistance aux insurgés
du Tonkin et la prise immédiate des trois provinces du sud: Votre
royaume perdra donc, du même coup le Nam Ky et Bac Ky. (Archives du
Ministere des Affaires, Asie, Mémoires et Documents, Tome 28, pp.403
- 404: CHT, p.171).
[10]
"Tous caressent l'idée de
revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du
royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou
sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont
employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les
successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs
désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à
mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie
régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins”.
(Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et
Documents, Vol, 28, Fol.85 - 88: CHT, p. 150).
[11]
Quant aux Dominicains
espagnols qui occupent généralement le haut Tonkin ils sont
beaucoup plus ingouvernables: ardents et fanatiques au dernier
degré, un assez grand nombre d'entre eux sortant des bandes de
guérillas et de carlistes ayant abandonné l'Espagne portent
assez volontiers le sabre et le mousquet avec la croix et sont
mêlés, et de coeur et le corps, aux révoltes qui affligent le
Tonkin (CHT, p. 152).
*Ban biên tập
có sửa lỗi chính tả và thêm vài dòng với sự đồng ý của tác giả.