Tại Sao Tôi Chống Chiến Tranh Việt Nam?

(Tiến Sĩ Mục Sư Martin Luther King Jr. ngày 30-04-1967)

DuyenSinh@Live.com

http://sachhiem.net/TONGIAO/tgD/Duyensinh11.php

11-Dec-2014

Chín mươi phần trăm quần chúng Việt Nam là nông dân, họ đều có chung một ngôn ngữ Việt và họ thấy không có gì khác giữa những mưu ý của người Pháp trước kia và của những người Mỹ bây giờ. Họ xem người Tây phương là bạch chủng. Người Mỹ ngày nay, còn đông hơn người Pháp trước kia, đang chiếm đóng xứ sở họ, đang điều khiển những chính trị gia tại Sài Gòn, đang thả bom trên làng mạc và giết chóc nông dân vô tội. Ngay cả những người đồng ý cho rằng người Mỹ đang chiến đấu chống sự xâm lăng của những người Việt miền Bắc cũng công nhận rằng những luận điệu này không thắng được sự tuyên truyền của Mặt Trận. (TNH)

▪ Tôn Giáo Nào Khởi Động “Thập Tự Chinh” Tại Việt Nam? [9]

Sách “Vatican Assassins ”[7] và “Vietnam Why did we go?[8] rất rõ ràng và chính xác về “tôn giáo nào khởi động Chiến Tranh Việt Nam.” Sách Vietnam Why Did We Go? của Avro Manhattan, trang 13 viết:

Giáo Hội Ca-tô Rô-ma giáo phải được xem là nguồn gốc của động lực chính, leo thang, và phát khởi Chiến Tranh Việt Nam. Từ buổi bắt đầu (sau khi Columbus khám phá Mỹ châu), tôn giáo này đã cổ động dồn dập gây ra thống khổ bất tận trên cả hai lục địa Châu Á và Châu Mỹ.

Chẳng những tại châu Á và châu Mỹ, mà ngay cả những tôn giáo tại nhiều nơi trên thế giới, như Do Thái giáo, Ấn Độ giáo…, và nhất là Tin Lành giáo, một tôn giáo có cùng chung một Thiên Chúa với Ca-tô giáo, cũng đều là nạn nhân của Ca-tô giáo.

Thập niên 1170, Peter Waldo sáng lập “Waldensian Evangelical Church” đưa đến tranh luận sôi nỗi giữa Ca-tô giáo La Mã và các nhà lãnh đạo Waldensian. Trong cuộc cải cách, các nhà lãnh đạo Waldensian gia nhập giáo hội cải cách, và do đó phong trào cải cách thông qua rất nhiều giáo lý Calvin, và những người theo giáo lý Calvin đã trở thành một giáo phái Tin Lành sau này. Hiện nay, các giáo đoàn Calvin vẫn còn đang hoạt động ở Âu Châu, ở Nam Mỹ, và ở bắc Mỹ. Hầu hết dưới danh hiệu giáo hội Tin Lành Waldensian.

Năm 1184, Giáo Hoàng Lucius III tại Thượng Hội Đồng Verona; và năm 1215, Giáo Hoàng Innocent III tại Hội Đồng Lateran IV, chính thức tuyên bố Waldensian là “dị giáo.” Trước đó, năm 1211, hơn 80 giáo dân Waldensian đã bị thiêu sống tại Strasbourg. Sau nhiều thế kỷ tàn sát, Waldensian gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, ngoại trừ một số ít trốn thoát chạy sang Mỹ châu. Một phần di sản của giáo hội Waldensian được thế giới công nhận qua các tác phẩm của nhà văn Henri Arnaud; và nhà thờ Waldensian tại Ý cũng may mắn sống sót cho tới ngày nay.

Một trong các phong trào tận diệt Waldensian, có một đoàn Quân Chữ Thập Ca-tô giáo “ăn thịt người”[1] đã một thời làm rúng động cả Âu châu.

Trong cuộc nỗi dậy tại Ái Nhĩ Lan năm 1641, người Ca-tô giáo đã mổ bụng nhiều người đàn bà Tin Lành, móc bào thai quăng ra ngoài để đập đầu, đúng theo “Lời Thề Dòng Tên[2]:

Con xin hứa con sẽ, nếu có cơ hội, gây ra và tham gia chiến tranh tàn nhẫn, bí mật hoặc công khai, chống tất cả người dị giáo, người đạo Tin Lành, người đạo Pagan, như con được lệnh thi hành, tận diệt chúng khỏi mặt địa cầu; và con sẽ không chừa một ai, bất kể tuổi tác, nam nữ, hay hoàn cảnh xã hội; và con sẽ treo cổ, thiêu sống, luộc sống, mổ bụng, siết cổ, và chôn sống những kẻ dị giáo ô nhục đó, phanh bụng moi bào thai của vợ chúng ra, và quật đầu con sơ sinh của chúng vào tường.” (Xem hình dưới)[2]

Ảnh của: TopFoto, "Violence during the 1641 Rising" -
nguồn: [2], tác giả Duyên Sinh giải thích bằng mực đỏ

Chiến Tranh Trung Âu 30 năm, người Ca-tô giáo treo cổ người Tin Lành như trái đậu đũa.
Xem nguồn ảnh [3].

Khi đạo Ca-tô giáo xâm nhập vào Nhật Bản. Để dập tắt đạo Ca-tô, Nhật Hoàng Jemitsu ra sắc lệnh năm 1633, 1634 và năm 1637, hoàn toàn cấm tất cả các đạo nước ngoài truyền bá trên các quần đảo của Nhật. Tại thời điểm này, người Ca-tô giáo Dòng Tên cũng bắt đầu phản kháng. Phản kháng nổ ra vào mùa Đông năm 1637 tại Shimbara và trên các đảo nhỏ lân cận đảo Amakusa. Người trong các khu vực này hoàn toàn là người Ca-tô giáo do các linh mục Tây phương lãnh đạo. Họ bắt đầu trang bị vũ khí và tổ chức thành các đoàn “Quân Chữ Thập” khoảng 30 ngàn quân, mang các hiệu kỳ Giêsu, Maria, và St. Iago.

Họ mở các cuộc tấn công chống lại chánh phủ Nhật, đánh những trận đẫm máu dọc theo mũi Shimbara gần Vịnh Nagasaki. Sau khi giết chết viên thống đốc trung thành của Nhật là Shimbara, đội “Quân Chữ Thập” của Vatican còn đóng kín trong các pháo đài và đã thành công chống lại súng ống và tàu chiến Nhật.

May mắn cho thay cho Nhật Hoàng khi người “Tin Lành Hòa Lan” kịp tới nơi. Người Tin Lành Hòa Lan đã cho Nhật thuê tàu lớn đủ sức chở các khẩu pháo hạng nặng. Nhờ người Tin Lành Hòa Lan mà Nhật đã có thể bắn phá thành luỹ của người Ca-tô giáo cho đến khi bị tiêu hủy hoàn toàn, và tất cả Quân Chữ Thập 30 ngàn người đều chết. Đây có lẽ là cuộc phản pháo đầu tiên của người đạo Tin Lành sau nhiều trăm năm bị tòa thánh La Mã truy lùng và tiêu diệt [4].

Tại vương quốc Ayutthaya (một phần của vương quốc này, ngày nay là Thái Lan), đã lập giao thương rộn rịp với Âu châu. Năm 1684, vương quốc Ayutthaya đã lập tòa đại sứ và giao thương thân thiện với các linh mục và chính quyền Pháp.

Năm 1687, trên bờ biển Tenasserim, cảng Mergui, xảy một vụ thảm sát làm 60 người Anh thiệt mạng. Sự kiện này làm suy giảm mối quan hệ giữa vương quốc Ayutthaya và công ty Đông Ấn (East India Company). Sự kiện cũng đưa tới việc chính quyền Anh nghi ngờ Ayutthaya chủ mưu gây ra án mạng. Mối hiềm khích cũng đưa tới tình trạng vua Narai, đang trị vì vương quốc Ayutthaya, tuyên chiến với công ty Đông Ấn, và chuyển giao quyền kiểm soát cảng Mergui cho thống đốc Pháp và một đơn vị đồn trú của Pháp. Cùng lúc, ông cũng trao quyền kiểm soát hải cảng Bangkok cho Pháp, với dụng ý dùng người Ca-tô giáo Pháp chống lại công ty Đông Ấn. Narai cũng đồng ý cho quân đội Pháp đặt căn cứ tại các hải cảng của vương quốc Ayutthaya. Pháp cũng được chỉ huy pháo đài Bangkok và huấn luyện quân đội Siam theo chiến thuật Tây phương. Một số pháo đài người Siam tại Mergui, Ligor, Singora (Songkhla), Lavo, và ngay cả thủ đô Ayutthaya được xây dựng trở lại theo trận địa Âu châu. Một số lượng lớn quân đội Pháp được gửi tới đóng tại các pháo đài do tướng Desfarges chỉ huy. Vua Narai cũng đã đồng ý để Pháp đóng quân tại Mergui và Bangkok. Cả hai Mergui và Bangkok đã trở thành hai pháo đài kiên cố nhất theo kiến trúc và chiến thuật Tây phương.  

Sự giao tiếp rộn rịp với Pháp kích động một phong trào chống đạo Ca-tô mạnh mẽ. Năm 1688, tinh thần bài đạo Ca-tô đạt đến tột đỉnh, trong khi sự kỳ thị của Ca-tô giáo đối với Phật giáo càng lúc càng nổi bật. Cuối cùng, các quan lại cùng nhau thành lập một nhóm phản kháng. Các người ngoại quốc khác đến vương quốc Ayutthaya trước người Pháp, đặc biệt là người đạo Tin Lành Hoà Lan, người Anh, và người Hồi giáo Ba Tư, cũng rất bất bình về ảnh hưởng chính trị và kinh tế càng ngày càng tăng của Ca-tô giáo Pháp. Ngay cả Ca-tô giáo Bồ Đào Nha cũng phản kháng Ca-tô giáo Pháp, cho đó là một sự vi phạm hiệp ước Tordesillas.

Vatican luôn luôn theo cùng một công thức chính trị là xâm nhập từng bước kể từ khi phát hiện ra châu Mỹ. Trường hợp vương quốc Ayutthaya, bước thứ nhất là xâm nhập bộ máy cầm quyền của vua Narai bằng cách cải đạo vua Narai thành một con chiên “Ca-tô giáo.” Bước thứ hai là thành lập các phái đoàn ngoại giao để đi tới việc chính thức tiếp xúc với giáo hoàng. Cùng lúc với chùa chiền Phật giáo bị đập phá thì các nhà thờ Ca-tô giáo được dựng lên. Cùng lúc với tuyên truyền chỉ có Ca-tô giáo là một “chánh đạo” duy nhất, thì các tuyên truyền về tất cả các đạo khác đều là “đạo thờ ma thờ quỷ” được các con chiên truyền bá nhanh chóng.

Trước tình thế vừa kể, một cuộc cách mạng bùng nổ để lật đổ vua Narai, kéo theo một cuộc tấn công quy mô bằng 40 ngàn quân và hơn một trăm pháo đại bác nhắm vào hai pháo đài Ca-tô giáo Pháp tại Bangkok và Mergui, chủ động do quân đội Anh liên minh với quân đội Tin Lành Hòa Lan. Ngày 24-06-1688, toàn thể người Ca-tô giáo Pháp đã phải tháo chạy, bỏ lại các đơn vị đồn trú của họ. Du Bruant, một chỉ huy cao cấp của Pháp, thoát thân dưới mưa đạn với nhiều binh sĩ thương vong, bằng cách cướp một tàu chiến của quân cách mạng. Ông và quân đội của ông bị kẹt trên một hòn đảo hoang cho tới bốn tháng trước khi bị bắt bởi một tàu chiến Anh. Họ cuối cùng được thả và đã quay trở lại Pondicherry qua cửa ngỏ Madras. Tại Mergui, quân cách mạng vây hãm các pháo đài trong khoảng thời gian bốn tháng. Ngày 09-09-1688, tàu chiến Pháp Oriflamme, mang 200 quân, chỉ huy do de l'Estrilles, đến cửa sông Chao Phraya, nhưng không thể cập bến vì cửa sông bị chận đứng bởi quân cách mạng Siam.

Sau khi quân cách mạng Ayutthaya, cùng với Anh và Hòa Lan đánh bại quân Ca-tô giáo Pháp do “vua con chiên Narai” cầm đầu, họ còn khôn ngoan duy trì Anh Quốc và Hoà Lan tiếp tục ở lại Ayutthaya, với dụng ý để cho Anh Quốc và Hoà Lan kềm chế lẫn nhau. Chẳng những họ kềm chế lẫn nhau, mà họ còn phòng ngừa được sự quay trở lại của Ca-tô giáo Pháp.

Sau cuộc đảo chánh, quân Ca-tô giáo Pháp quá tởn!.. Họ hoàn toàn bỏ trống tòa lãnh sự Pháp, câm miệng luôn. Họ đã không dám nói gì và không dám léo hánh trở lại…[5]

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến chủ động do người Ca-tô giáo, với âm mưu Ca-tô hóa toàn cỏi châu Á mà hai tác giả Avro Manhattan và Eric Jon Phelps đã xác định một cách chính xác và rõ ràng.

Việt Sử Tân Biên của Phạm Sơn, quyển 4 các trang 376-380 có đề cập tới việc Hoa Kỳ đã hai lần trình quốc thư. Lần thứ nhất năm 1832, lần thứ hai năm 1836, do sứ thần Robert Edmund đại diện Tổng Thống Andrew Jackson, xin được giao thương buôn bán với Đại Nam, bị vua Minh Mạng từ chối. Năm 1847, Pháp tấn công Đại Nam lần đầu tiên vào Đà Nẵng rồi rút lui. Ngay sau khi Pháp rút lui, Anh Quốc từ Hồng Kông tới Đà Nẵng xin vua Thiệu Trị cho tự do buôn bán, và liên minh quân sự chống xâm lăng Pháp. Thiệu Trị cũng nhất định từ chối.

Nguyên nhân của phong kiến Việt Nam là bản tánh tự cao tự đại của một số vua chúa, nhất là các vua chúa nhà Nguyễn. Bản tánh tự cao tự đại cho họ thấy chỉ có một mình Trung Quốc là một quốc gia văn minh cao nhất trên thế giới. Là nguyên nhân của việc coi thường các quốc gia lân quốc, như Nhật Bản và Ayutthaya, mà không học được cái hay và cái khôn của họ.

Năm 1963, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, một số người đã thấy được hiện tượng kỳ lạ sau ngày Mỹ ồ ạt đổ quân vào Miền Nam Việt Nam, trong khi các tướng lãnh do thực dân Pháp để lại sau khi Pháp đầu hàng trận Điện Biên Phủ và rút khỏi Việt Nam năm 1955, hoàn toàn mất hết chủ quyền đất nước. Tiếp theo là chiến tranh Việt Nam được lèo lái để phục vụ cho một ý đồ chính trị, mà không phải là để phục vụ cho quyền lợi của nhân dân Việt Nam.

Phân tách những câu trả lời trong chuyến đi vận động hòa bình Việt Nam tại Hoa Kỳ và Âu châu của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, và các tài liệu giải mật hiện hành, cho thấy: Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc “Thập Tự Chinh” để tàn sát dị giáo. Đây là một cuộc chiến, không phải để thắng hoặc để thua, mà chỉ để giết. Người dị giáo (bất cứ ai không phải Ca-tô giáo) sẽ bị giết nhiều chừng nào tốt chừng nấy.Rất nhiều sách đã nhắc nhở đến điều này, như Vietnam a History của Stanley Karnow, America Longest War của George Herring, Vietnam a War Lost and Won của Nigel Cawthorne… tất cả đều viết “The War Nobody Won” có lẽ họ không muốn chỉ thẳng một thế lực tôn giáo quá lớn. Nếu xét về phía Việt Nam, Ca-tô giáo chỉ có 6.87%[11], nên số người Ca-tô giáo chết rất ít so với 93.13% còn lại là dị giáo. Nếu xét về hai xứ Campuchia và Lào, Ca-tô giáo ít hơn 1%[11], nên con số người bị giết gần như hoàn toàn dị giáo. Nếu xét về người Mỹ, Ca-tô giáo Hoa Kỳ chiếm 22.63%[11], có nghĩa là đa số người Mỹ vẫn là người dị giáo, gồm người da đen Hồi giáo, da đen Tin Lành, và da trắng Tin Lành… Đây có phải là một âm mưu tàn sát dị giáo cực kỳ tinh vi, gồm cả người Tin Lành, mà trước năm 1975, chưa ai có thể nhận diện[10]. Đây có phải là lý do Mục Sư Martin Luther King Jr. đã nỗ lực tranh đấu cho đồng bào người da “màu” và da trắng đạo Tin Lành của ông?

▪ Trả Lời Những Câu Hỏi Trong Chuyến Đi Vận Động Hòa Bình Cho Việt Nam Tại Hoa Kỳ Và Âu Châu Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh [6]

1) Thật là một điều sai lầm khi nghĩ rằng tình trạng căng thăng giữa chính phủ Hoa Kỳ và Phật giáo đã được gây nên bởi sự tranh chấp quyền bính ở Việt Nam. Cuộc tranh đấu của những người Phật Tử biểu dương cao độ sự đè nén thái quá và sức chịu đựng quá sức của một dân tộc trải qua 20 năm chinh chiến mà vẫn chưa thấy đưa đến một giải pháp nào. Cuộc tranh đấu này đang nhằm vận động hết thảy mọi lực lượng quốc gia không theo Mặt Trận để chống lại một chính thể mà ai cũng thấy rằng chính thể đó không tranh đấu cho quần chúng Việt Nam mà chỉ phục vụ cho chính sách Mỹ. Mục tiêu hiện tại của cuộc tranh đấu Phật giáo là thiết lập một chính phủ dân sự và độc lập, chuẩn đích của chính phủ này là thể hiện ý chí khát khao hoà bình và tiêu chuẩn về độc lập của nó nằm trong khả năng tự do chọn lựa những quyết định về chiến tranh hay hoà bình. Những người Phật tử Việt Nam không bao giờ muốn giành giựt cho riêng họ. Họ chỉ tranh đấu để tiến tới một chính phủ dân cử gồm đủ mọi đại diện tôn giáo tham dự.

2) Một điều sai lầm khác là người ta thường nêu cao sự đối nghịch giữa những cuộc biểu tình (điều động bởi Phật giáo) chống chính phủ Kỳ, chống chính sách Mỹ tại Việt Nam và chống chiến tranh và những cuộc diễn hành được gọi của “Thiên chúa giáo” phản đối lại những mục tiêu trên. Mặc dù những cuộc biểu tình chống chính sách sai lầm của chính phủ được lãnh đạo bởi Phật giáo, các tôn giáo khác vẫn hưởng ứng triệt để. Vì Phật tử là lực lượng quần chúng đông đảo tại Việt Nam và Phật giáo đã gắn liền với tinh thần quốc gia, do đó tiếng nói của Phật giáo đã trở thành tiếng nói trung thực của quảng đại quần chúng.

3) Các báo chí thường cho rằng những người Thiên chúa giáo đại biểu cho lực lượng chống Phật giáo và chống Cộng. Người ta đã hỏi tôi rằng: có cách gì để cho những người Phật tử và Thiên Chúa giáo cộng tác với nhau đấu tranh cho hoà bình và thiết lập một chính phủ vững vàng  không? Và sự sợ hãi cũng như sự căm thù những người Cộng sản của những người Thiên Chúa giáo có thực sự nghiêm trọng như người ta thường nói hay không? Để trả lời, tôi nhận thấy có nhiều điều phải đề cập tới.

Tình trạng phức tạp nhất thường xảy ra ở các đô thị, ở đó có nhiều vị lãnh đạo của các tôn giáo hiện diện. Rất nhiều vị lãnh đạo Thiên chúa giáo di cư từ Bắc vào Nam, một phần đáng kể trong những vị này có tinh thần chống Cộng rất bạo động. Họ cộng tác mật thiết với người Mỹ đến nỗi họ phải tách lìa với quảng đại quần chúng. Nhưng một số những người Thiên Chúa khác, gồm những vị linh mục trẻ và những tín đồ Thiên Chúa giáo, tuy cũng chống Cộng song họ không tin vào sự hiện hữu của giải pháp quân sự. Đồng quan điểm với những người Phật tử, họ tìm phương cách trị liệu tận gốc vấn đề Việt Nam bằng cách tranh thủ hoà bình và kiến thiết lại những căn bản xã hội vì họ nhận định đó là điều kiện thiết yếu để thoát khỏi mọi ảnh hưởng ngoại lai.

4) Dù những người Cộng Sản có đang điều khiển bộ máy trung ương của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, họ vẫn chỉ là thiểu số. Ảnh hưởng của Mặt Trận trong quần chúng nông dân không phải có được vì lý do họ chứng tỏ cho quần chúng thấy rằng họ là Cộng Sản; trái lại, vì họ liên tục chứng minh rằng Mặt Trận đang tranh đấu quyết liệt chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng ở miền Nam Việt Nam. Chín mươi phần trăm quần chúng Việt Nam là nông dân, họ đều có chung một ngôn ngữ Việt và họ thấy không có gì khác giữa những mưu ý của người Pháp trước kia và của những người Mỹ bây giờ. Họ xem người Tây phương là bạch chủng. Người Mỹ ngày nay, còn đông hơn người Pháp trước kia, đang chiếm đóng xứ sở họ, đang điều khiển những chính trị gia tại Sài Gòn, đang thả bom trên làng mạc và giết chóc nông dân vô tội. Ngay cả những người đồng ý cho rằng người Mỹ đang chiến đấu chống sự xâm lăng của những người Việt miền Bắc cũng công nhận rằng những luận điệu này không thắng được sự tuyên truyền của Mặt Trận. Chiến tranh càng tiến diễn thì Mặt Trận càng gây thêm uy tín trong quần chúng nông dân.

5) Yếu tố chính của chiến tranh không phải là quân sự mà là tâm linh. Hoa kỳ với thế lực quận sự hùng mạnh nhất nhì thế giới có thể đi tới một thắng lợi quân sự nhưng lúc đó đất nước Việt Nam đã bị xoá tên trên bản đồ thế giới và dân tộc Việt Nam đã bị diệt chủng. Con đường đưa tới thắng lợi này chỉ làm cho người Mỹ mất hết cảm tình và sự ủng hộ của quần chúng.

Trái lại nếu Hoa Kỳ quyết tâm thực hiện hoà bình và giao ước rút quân khỏi Việt Nam khi hoà bình tái lập tại Việt Nam, ảnh hưởng của Hoa Kỳ sẽ lớn rộng hơn nhiều. Khi Hoa Kỳ thực quyết tâm dứt chiến tranh, thì không có lý do gì Mặt trận từ khước. Trường hợp Mặt Trận vẫn tiếp tục gây chiến, lúc đó quảng đại quần chúng thôn quê hiện đang khao khát ngừng chiến sẽ trở lại chống Mặt Trận. Chính Mặt Trận cũng ý thức đến điều đó, cho nên họ không bao giờ từ chối cộng tác khi Hoa Kỳ chứng tỏ được quyết tâm thực hiện hoà bình.

6) Quảng đại quần chúng thôn quê Việt Nam đã quá chán ghét chiến tranh. “Dân chủ” và “tự do” đối với họ không có nghĩa bằng hoà bình để được yên ổn làm ăn. Chẳng có ai ủng hộ cho chính phủ Kỳ, và ủng hộ đắc lực cho Mặt trận thì chỉ có một số. Họ ủng hộ cho Mặt Trận không vì lý do say mê Chủ Nghĩa Cộng Sản hay sợ khủng bố (mặc dầu hình thức khủng bố đều được cả hai bên áp dụng). Họ theo Mặt Trận chỉ vì không thấy có giải pháp nào khác để chống lại tập đoàn Kỳ Mỹ. Sự tham chiến của người Mỹ cùng những chính phủ kế tục sau  những lần đảo chính ở Sài gòn chỉ càng làm tăng thêm uy tín cho Mặt Trận. Và Mặt Trận trở nên độc quyền trong việc giành độc lập cho quốc gia.

7) Phần lớn người Việt Nam đều nghi ngờ chủ trương của Mỹ. Rất nhiều người nghi rằng người Mỹ muốn lợi dụng Việt Nam làm căn cứ quân sự chống Trung Hoa lục địa. Họ không thể tin rằng người Mỹ đang giúp đỡ dân tộc Việt Nam chống sự xâm lấn của Cộng sản miền Bắc. Họ so sánh rất rõ ràng những nguyên nhân gây chiến xuất phát từ sự vi phạm hiệp định Genève của ông Diệm và người Mỹ, cùng dưới sự đàn áp dã man của chính thể độc tài Ngô Đình Diệm.

8) Trong vòng các đô thị ở miền Nam có nhiều người đồng ý với chủ trương chiến tranh của người Mỹ và chính thể Kỳ. Sở dĩ có sự kiện đó là bởi hạng người này sống nhờ chiến tranh, nhờ những số tiền kết xù mà Hoa Kỳ và quân đội Mỹ tung vãi ra. Hạng người này thường rêu rao chống Cộng hơn cả, hơn cả những người chống Cộng thực sự. Đến nỗi mà bây giờ những ai chống Cộng thực thụ tại miền Nam không có muốn tuyên bố ra, vì sợ bị liệt ngay vào hạng “đi ăn mày đô la.” Ở Việt Nam ngày nay chống Cộng đã thành chuyện thương mãi.

9) Quảng đại quần chúng ở Việt Nam là Phật tử. Nếu không có sự tham chiến của quân đội Mỹ và sự nhúng tay của người Mỹ trong các vụ đảo chánh nhằm giúp đỡ Hội Đồng Quân Lực thì Phật tử Việt Nam đã có đủ lực lượng hùng hậu để nói chuyện thương thuyết với Mặt Trận. Ở trong vùng Mặt Trận chiếm đóng cũng như ở khắp mọi nơi, số lượng Phật tử bao giờ cũng là số lượng đáng kể và dĩ nhiên họ sẽ luôn luôn hưởng ứng và ủng hộ cho chủ trương Phật giáo

10) Người Phật tử không bao giờ chấp nhận luận điệu cho rằng chỉ có thể chọn lựa giữa hai giải pháp: thắng trận hay đầu hàng. Một giải pháp khác có thể có thể phối hợp theo những khởi đầu sau đây: Ngưng ngay những cuộc oanh tạc ở miền Nam và miền Bắc, ngưng ngay những cuộc hành quân gây chiến của quân đội Mỹ và thiết lập một chính phủ độc lập và dân sự ở miền Nam Việt Nam. Việc quân đội Mỹ tức thời rút khỏi Việt nam là điều không thể thực hiện ngay trong một lúc. Đây không phải là một đề nghị thực tế. Tuy nhiên, quân đội Mỹ có thể giao ước rút đi sau một thời gian nào đó và chứng tỏ bằng sự thực nghiêm chỉnh. Trong quá khứ, 37 ngày “ngưng oanh tạc” miền Bắc không thể hiện được thực tâm của người Mỹ dù họ đã quảng cáo rầm rộ. Làm sao có thể tin được khi trong thời gian này quân đội tiếp viện Mỹ vẫn dồn dập đổ bộ vào Việt Nam. Ngay chính những người Việt ở miền Nam còn không thể tin được thiện chí rút lui của Hoa Kỳ thì làm sao chúng ta có thể hy vọng những người ở miền Bắc và trong Mặt Trận tin được?

11) Phải mở cuộc thương thuyết với ai để chấm dứt chiến tranh? Chúng tôi đồng ý với những ai cho rằng Mặt Trận phải được tham dự vào mọi cuộc thương thuyết, bởi lẽ họ đã tham chiến. Nhưng, một chính phủ chính đáng, độc lập, đại diện cho mọi tầng lớp dân chúng Việt nam cũng phải được tham dự. Cuộc thương thuyết nhằm giải quyết mọi khó khăn gây cấn về vấn đề Việt Nam thì dĩ nhiên cuộc thương thuyết này phải do người Việt Nam đảm nhận lấy.

12) Những thực thi nghiêm chỉnh vừa đề cập trên kia là những thực thi nào? Trước tiên ngưng oanh tạc miền Bắc cũng như miền Nam, sau đó ra lệnh cho bộ binh ngưng tấn công các vị trí địch. Tiếp đến, tuyên bố minh bạch tôn trọng hiệp ước Genève và tuyên bố rút quân sau một thời gian nào đó: ví dụ 8 hay 10 tháng.

Làm thế nào để Hoa Kỳ có thể “rút lui trong danh dự?” Danh dự là gì? Danh dự theo truyền thống Hiệp Chủng Quốc là sự tôn trọng dân chủ và quyền tự quyết của các dân tộc. Nhưng danh dự đó không được tôn trọng tại Việt Nam thì còn gì là danh dự của Hiệp Chủng Quốc. Danh dự của Hiệp Chủng Quốc sẽ không bao giờ bị sứt mẻ khi Hiệp Chủng Quốc quyết định ngừng dội bom, ngưng giết quần chúng Việt Nam. Danh dự đó đã bị tổn thương trầm trọng khi người Mỹ để cho miền Nam Việt Nam từ khước hiệp ước Genève. Miền Bắc Việt nam cũng như Mặt Trận đã có lý do chính đáng khi họ không đặt lòng tin vào Hoa Kỳ. Cần có những hành động cụ thể và mạnh dạn để chinh phục lại lòng tin đã mất.

Người ta hỏi tôi nghĩ sao về việc quân đội Bắc Việt, họ có phải rút đi chăng và tại sao tôi không lên tiếng đòi hỏi việc đó. Dĩ nhiên là tôi cũng đòi hỏi Bắc Việt phải rút quân đi. Điều tâm nguyện của chúng tôi là chiến tranh phải chấm dứt, và trong bản tuyên ngôn phổ biến rộng rãi trên thế giới hồi tháng giêng của uỷ ban Lương Tâm Quốc Tế về Việt Nam tựa là “Chúng ta đang giết anh em chúng ta.” Mặt trận phải gánh lấy trách nhiệm trong việc chấm dứt chiến tranh. Sở dĩ bây giờ tôi không đề cập đến vấn đề này trong những cuộc nói chuyện, phỏng vấn hay họp báo là vì ba lẽ:

1- Tôi đang kêu gọi các nước Tây phương và Mỹ quốc. Tôi không nghĩ rằng trong số các thính giả ở đây có những nhân vật quan yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến nền chính trị Hà Nội.

2- Rất nhiều người Tây phương tìm cách lẫn trốn mọi mặc cảm tội lỗi về những hành động tại Việt nam bẵng cách lý luận cho rằng quân đội Mỹ đang chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt. Đó là điều sai lầm. Tôi mong rằng những người bạn Tây phương đừng tìm sự an tâm lẫn tránh trong cái thần thoại đó. Việc quân miền Bắc chỉ chính thức vào Nam Việt  một thời gian khá lâu sau khi việc kiểm soát của người Mỹ ở Việt Nam trở thành thực tại và khi chính phủ Việt nam được người Mỹ ủng hộ từ khước những cuộc tuyển cử mà họ đã ước định với quần chúng. Quân đội Bắc Việt đang hiện hữu ở miền Nam, tôi mong họ phải rút đi, nhưng chúng ta phải biết rằng lý do chính của sự hiện diện này là sự tham chiến không ngừng của người Mỹ.

3- Bắc Việt viện dẫn lý do sự có mặt ở miền Nam bằng hai điểm: sự vi phạm hiệp định Genève về điều khoản quy định tổng tuyển cử để thống nhất xứ sở, và sự có mặt của quân đội Mỹ. Thật ra Bắc Việt và Mặt trận không có đủ những phương tiện quân sự như người Mỹ. Họ hoàn toàn dựa vào sự giúp đỡ quần chúng nông thôn. Phương sách hữu hiệu nhất làm cho quân đội Bắc Việt phải rút lui là đem lại Hoà Bình và gây niềm tin cậy cho nông dân Việt Nam, phơi bày cho họ thấy một đảm bảo nền độc lập cho họ. Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng cách thiết lập một chính phủ miền Nam độc lập, dân sự và đại biểu cho mọi tầng lớp, một chính phủ có đủ quyền tự do chọn lựa mọi quyết định cần thiết cho Hoà Bình và minh chứng thiện chí của Hoa Kỳ trong việc muốn chấm dứt chiến tranh thực sự bằng cách ngưng oanh tạc, ngừng các cuộc hành quân gây chiến và công bố chương trình cùng thời hạn rút lui của quân đội Mỹ.

Thích Nhất Hạnh

▪ Bức Thư Kêu Gọi Mục Sư Martin Luther King Jr. của TS Thích Nhất Hạnh [6]

Thư gởi Mục sư Martin Luther King Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ngày 1-6-1965.

Các bạn theo Cơ Đốc Giáo ở Tây phương có lẽ không hiểu được tường tận ý nghĩa của sự tự thiêu của các vị tăng sĩ Việt Nam trong năm 1963. Hồi đó báo chí nói đến tự tử, nhưng kỳ thực những vụ tự thiêu đó không hẳn là tự tử. Cũng không hẳn là một sự phản kháng. Những gì các vị tăng sĩ ấy nói trong các bức tâm thư để lại trước khi tự thiêu đều nhắm tới sự báo động, nhắm tới sự làm rung chuyển trái tim của những kẻ đàn áp tàn bạo và để kêu gọi nhân dân thế giới chú ý đến tất cả những khổ đau mà lúc bấy giờ người dân Việt Nam đang phải chịu đựng.

Lấy lửa tự đốt mình là để chứng tỏ rằng những gì mình đang nói là những điều hết sức quan trọng. Không có gì làm ta đa đau đớn bằng sự tự thiêu. Nói một điều gì trong khi chịu đựng sự đau đớn đó tức là nói với tất cả can đảm, thẳng thắn, quả quyết và thành khẩn. Trong lễ trường kỳ của đại giới đàn, như ta thấy ở truyền thống Bắc Tông, người giới tử thường đốt một hay nhiều huyệt nhỏ trên thân thể để phát nguyện thọ trì 250 giới khất sĩ, sống đời một vị tăng, đạt ngộ, và xả thân cứu độ chúng sanh. Cố nhiên người ta cũng có thể vừa ngồi trên một chiếc ghế dựa êm đềm vừa đọc những lời phát nguyện như thế; nhưng chính trong lúc giới tử quỳ trước đại chúng chư tăng và chịu đựng sự đau đớn do những huyệt hương gây ra, những lời phát nguyện kia mới biểu lộ được tất cả tính cách thành khẩn nghiêm trọng của lý trí và tình cảm giới tử và do đó có một giá trị lớn lao hơn.

Trong lúc tự thiêu các tăng sĩ Việt Nam nói lên với tất cả tâm huyết và quả cảm rằng các vị có thể chịu đựng được niềm đau đớn lớn lao nhất để cầu nguyện và bảo vệ quần chúng đau khổ của họ. Nhưng tại sao các vị lại phải tự thiêu cho đến chết, các bạn? Các bạn sẽ hỏi. Sự sai biệt giữa thiêu và tự thiêu đến chết chỉ là một sự sai biệt về lượng không phải về chất. Một người tự thiêu đến mức độ nào đó thì phải chết. Điều quan trọng không phải là chết, mà là thiêu. Các vị tăng sĩ Việt Nam, không nhắm đến cái chết: họ nhắm đến sự hiển lộ ý chí quả cảm của họ để bênh vực quần chúng đau khổ. Trong tín ngưỡng Phật Giáo, đời sống không phải chỉ được giới hạn trong vòng 60 hay 80 hay 100 năm. Đời sống là miên viễn. Đời sống không phải chỉ được giới hạn trong xác thân này: đời sống là phổ quát. Cho nên bày tỏ ý chí mình bằng tự thiêu, không phải là một hành động có tính cách huỷ diệt mà là một hành động có tính cách xây dựng - xây dựng đây là đau khổ và chết vì kẽ mình thương yêu. Đây không phải là tự tử. Tự tử là xoá bỏ tự diệt. Mà chỉ vì những lý do sau đây người ta mới tự xoá bỏ và tự diệt:

1- thiếu can đảm để sống và đối phó với những khó khăn với cuộc đời. 

2- thua cuộc với cuộc đời và mất hết hy vọng.

3- ước ao hư vô (abhava)

Vì những lý do ấy thì mới gọi là tự tử một trong những vi phạm lớn lao nhất của đạo Phật. Những vị tăng sĩ tự thiêu không phải là mất can đảm, mất hy vọng, cũng không phải vì ước ao hư vô. Trái lại, họ rất can đảm, rất hy vọng, và rất ước ao những điều tốt đẹp cho tương lai. Họ không nghĩ rằng họ đang tự huỷ diệt. Họ tin nơi nghiệp quả tốt đẹp của sự hy sinh vì hạnh phúc và an lạc của các kẽ khác. Cũng như Đức Phật trong một chuyện tiền thân tự hiến mình cho một con sư tử đói đang sắp ăn thịt các con mình, người tăng sĩ tự thiêu tin tưởng rằng mình đang thực hiện hạnh từ bi tối thượng bằng cách tự hy sinh để kêu gọi sự chú ý của thể giới trên niềm đau của dân tộc và tìm cầu sự giúp đỡ của thế giới đối với dân tộc.

Thưa Mục sư, tôi tin với tất cả tâm hồn tôi rằng trong lúc tự thiêu, các vị tăng sĩ Việt Nam không nhắm đến cái chết của những kẻ đàn áp tàn bạo mà chỉ nhắm đến sự thay đổi của chính sách họ. Kẻ thù của các vị tăng sĩ kia không phải là con người. Kẻ thù của họ là cuồng tín là độc tài, là tham lam, là giận dữ, là kỳ thị - những thứ này nằm sâu trong lòng người. Tôi cũng tin chắc rằng cuộc đấu tranh vận động cho bình đẳng và tự do mà Mục sư lãnh đạo ở Birmingham, Alabama...không nhắm đến sự chống báng người da trắng mà chỉ nhắm đến sự chống báng kỳ thị, giận dữ, độc ác. Những cái này vốn là những kẻ thù đích thực của con người, chứ không phải là con người. Nơi tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng tôi mỗi ngày chúng tôi đều gào thét một cách tuyệt vọng: Xin đừng giết con người, dù là nhân danh con người. Hãy giết kẻ thù đích thực của con người - những kẻ thù này hiện hữu khắp nơi, trong trái tim và khối óc mỗi người.

Giờ đây, thưa Mục sư, trong cuộc đương đầu với các thế lực lớn ở Việt Nam, hàng trăm ngàn người dân Việt ngã gục hằng ngày dưới sự tàn phá của tên đạn và đất nước chúng tôi đang bị xé nát một cách không thương tiếc - cuộc chiến tranh bi thảm đã kéo dài tới 20 năm nay rồi. Tôi biết chắc rằng bởi vì Mục sư đã từng dấn thân vào một cuộc tranh đấu cam go nhất cho bình đẳng và nhân quyền, ngài là một trong những người có thể hiểu thấu và chia sẻ được những đau khổ không bờ bến của dân tộc Việt. Các nhà nhân bản lớn trên thế giới chẳng thể nào ngồi yên và giữ yên lặng được. Mỹ quốc thường được nhắc nhở tới như một quốc gia có căn bản vững chãi về tôn giáo, vậy thì các nhà lãnh đạo tinh thần của dân tộc Mỹ sẽ không thể nào để cho đường lối chính trị và kinh tế hoa kỳ thiếu mất chất liệu tâm linh được. Ngài không thể im lặng được, bởi vì ngài đã từng hành động và ngài hành động vì thượng đế đang hành động trong ngài - nói theo nhà thần học Kari Barth, và Albert Schweitzer cũng vậy với ý niệm tôn trọng sự sống. Và  Paul Tillich nữa, với cái can đảm hiện hữu và do đó, cái can đảm yêu thương. Và Niebuhr. Và Mackey. Và Fletcher. Và Donald Harrington. Tất cả những nhà nhân bản tôn giáo ấy, và rất nhiều các vị khác nữa, sẽ không chịu để cho sự ô nhục ở Việt Nam kéo dài hơn nữa đâu - một sự ô nhục chung cho toàn nhân loại. Gần đây, ngày 20 tháng 4 năm 1965, một học tăng tên Giác Thành tự thiêu để kêu gọi thế giới chú ý đến những đau khổ hiện tại của dân Việt.

Một học ni khác, tên Diệu Thiện, cũng sắp sữa tự thiêu vì một mục đích, nhưng bản nguyện của cô đã không thành tựu vì cô đã không có đủ thì giờ đánh lên một que diêm khi người ta thấy và đến can thiệp. Ở đây không ai muốn chiến tranh cả. Vậy thì chiến tranh để làm gì? Và chiến tranh cho ai?

Hôm qua trong buổi họp, một sinh viên của tôi đã đứng dậy cầu nguyện: "Lạy Phật cho chúng con nhận thức rằng chúng con không phải là nạn nhân của nhau. Chúng con là nạn nhân của vô minh, vô minh của chúng con và của kẻ khác. Xin Phật giúp cho chúng con tránh được sự đi sâu vào tương tàn tương sát chỉ vì thiên hạ đang tranh dành thế lực."

Thưa Mục sư tôi là một tăng sĩ Phật giáo trong khi viết cho ngài tôi đặc niềm tin của tôi nơi tình thương, nơi thông cảm, và nơi những nhà Nhân bản thế giới mà chúng tôi biết rằng tư tưởng và thái độ sẽ phải là chỉ nam cho con người để con người có thể tìm ra những kẻ thù đích thực của con người.

Mồng một tháng sáu năm 1965

Nhất Hạnh

▪ Ms Martin Luther King Jr. Hưởng Ứng Lời Kêu Gọi Của Ts Thích Nhất Hạnh

Động lực nào đã thúc đẩy nhà tranh đấu nhân quyền tiến sĩ Martin Luther King Jr. công khai chống lại chiến tranh Việt Nam? Có nhiều động lực, mỗi động lực là một quan trọng.

Động lực trước nhất phải kể là người da đen sau một trăm năm giải phóng nô lệ vẫn chưa được bình đẳng, và kế đến là những người lính da đen bị đối đãi phân biệt trong việc tuyển thu nhập ngũ và phục vụ tại Việt Nam.

Động lực thứ hai là cuộc tự thiêu của Norman Morrison, người Mỹ đầu tiên hưởng ứng phong trào tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Norman Morrison đã leo lên bức tường bao quanh Nhà Năm Góc (02 Nov, 1965) để tự thiêu phản đối chiến tranh Việt Nam. Chỗ mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara có thể nhìn thấy từ phòng làm việc của ông trong Lầu Năm Góc.


Ảnh chụp năm 1960, 5 năm trước khi Norman Morrison tự thiêu,
để lại người vợ hiền Anne, và 3 đứa con. Ảnh http://www.theguardian.com/

Động lực thứ ba rất là chính yếu, đó là kết quả tiếp xúc qua nhiều lần giữa ba người, là Tiến Sĩ Mục Sư Martin Luther King Jr., bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara, và nhà tranh đấu bất bạo động Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara chẳng những ngưng ủng hộ mở rộng chiến tranh tại Việt Nam, mà còn từ chức bộ trưởng quốc phòng quay ra chống chiến tranh Việt Nam, cho đây là một cuộc bắn giết bừa bãi làm tổng thống Johnson phải rất kinh ngạc. Sau ngày diễn thuyết bài “Tôi Có Một Ước Mơ” (I have a dream) của mục sư Martin Luther King Jr., Thiền sư Thích Nhất Hạnh được mời sang Mỹ.

Mục sư Martin Luther King, Jr. hợp báo với thiền sư Thích Nhất Hạnh
[hình chụp năm 1966] Ảnh http://phusaonline.free.fr/

Mặc dầu Bộ Tham Mưu che giấu một cách hiệu quả đường hướng của chính sách, sự mở rộng quân sự tại Việt Nam không thể nào chối cãi được, đặc biệt là về thả bom đã làm gia tăng gia chỉ trích. Thư từ tới tấp gửi tới Bạch Cung chống thả bom. Một số tờ báo hưởng ứng tờ New York Times cảnh cáo mất mát về “nhân mạng, hư hại tài sản, và tính cách vô lý tham dự một cuộc chiến ở trong rừng cách bờ biển California 7.000 dậm,” nổi bật nhất là các Thượng Nghị Sĩ Đảng Dân Chủ Frank Church, Mike Mansfield, và George McGovern, kêu gọi Tổng Thống sắp xếp thương thuyết. Các giáo sư tại University of Michigan, Harward, và Syracuse dạy suốt đêm “teach-ins;” sinh viên ở một số đại học bắt đầu vài cuộc biểu tình nhỏ, phân phát tài liệu, và kêu gọi chống thả bom; tháng 04.1965, 12.000 sinh viên tại Washington diễn hành lần đầu.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, bài thuyết giảng đầu tiên của Tiến Sĩ Mục Sư Martin Luther King Jr. được rất đông người tham dự. Sau bài thuyết giảng, hàng ngàn người hưởng ứng, rồi tăng lên hàng chục ngàn người, hàng trăm ngàn người, và sau cùng có những cuộc biểu tình lên đến cả triệu người.

▪ Tại Sao Tôi Chống Chiến Tranh Việt Nam [6]

(Tiến Sĩ Mục Sư Martin Luther King Jr., ngày 30.04.1967 tại nhà thờ Riverside, New York )

Duyên Sinh

http://www.youtube.com/watch_popup?v=FfGsVvnvA9w (một đoạn của bài thuyết giảng)

(SH- có thể đọc nguyên văn Anh ngữ ở http://therealnews.com/)

(minh họa của tác giả Duyên Sinh)

Bài thuyết giảng mà tôi sẽ gởi đến quý vị sáng nay không phải là một bài thuyết giảng về một vấn đề thông thường. Mà là về một vấn đề quan trọng. Vấn đề tôi sắp trình bày là một vấn đề còn trong vòng tranh luận. Chúng ta đang đương đầu với quê hương đất nước của chúng ta. Vấn đề tôi muốn nói: “Tại sao tôi chống chiến tranh Việt Nam.”

Giờ đây, tôi xin làm sáng tỏ ngay từ điểm bắt đầu, rằng tôi thấy cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến phi lý, quỷ quyệt, và vô ích. Tôi trình bày với quý vị về chiến tranh Việt Nam vì lương tâm của tôi không cho tôi chọn một con đường nào khác. Đây là lúc mà đất nước Mỹ phải lắng nghe những sự thật về tấm bi kịch của cuộc chiến nầy. Trong cuộc xung đột quốc tế, sự thật rất khó nhận ra được vì hầu hết các nước chủ chiến đều che đậy ý đồ của họ. Họ luôn lý luận tìm cách hợp thức hóa ý đồ của mình, và luôn tìm những con vật hy sinh. Họ liên tiếp che mắt người khác để đừng thấy tội lỗi của họ. Nhưng, trò yêu nước bề ngoài đã lỗi thời. Kẻ sống với sự giả dối là kẻ sống bằng một cái tâm nô lệ. Tự do là một quà tặng cho những người có khả năng nhận ra sự thật. Chúa Jesus dạy: “Các ngươi sẽ sống với sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ngươi.Giờ phút nầy, tôi xin trình bày với quý vị về chiến tranh Việt Nam, vì tôi đồng ý với Danté rằng những điểm nóng nhất của địa ngục trần gian, là điểm dành cho những người trong thời kỳ khủng hoảng bảo vệ được thế quân bình của họ. Đây là lúc yên lặng là đồng lõa với tội ác.

Sự thật đã vược quá tầm mức nghi ngờ. Nhưng trách vụ chúng ta cũng vô cùng khó khăn. Mặc dù lòng yêu chuộng sự thật thúc đẩy trong tâm, người ta không dễ dàng chấp nhận trách vụ chống lại chính sách của nhà nước, nhất là trong thời chiến. Cái tâm của con người cũng không dễ gì chuyển dịch được khi họ đã thờơ với chính họ và với thế giới bên ngoài. Hơn thế nữa, khi mà vấn đề đã trở thành rối beng, trở thành một trường hợp mâu thuẫn khủng khiếp. Chúng ta luôn ở vòng bìa mà không biết phải làm sao. Nhưng chúng ta phải tiếp tục! Một số người trong chúng ta đã bắt đầu chọc thủng được màn đêm đen tối, thấy rằng một bài diễn thuyết có thể trám lấp được khoảng trống lo âu… Nhưng chúng ta phải nói ra! Và chúng ta phải nói với tất cả sự khiêm tốn giới hạn trong tầm nhìn của chúng ta. Nhưng chúng ta phải nói!.. Và chúng ta phải tiếp tục. Trong quá trình lịch sử, chúng ta chưa từng có một sự bất đồng to lớn như thế nầy. Sự bất đồng giữa những người Mỹ đồng bào của chúng ta.

Những cuộc đầu phiếu thăm dò dư luận cho thấy gần mười lăm triệu người Mỹ phát biểu thẳng là họ chống lại chiến tranh Việt Nam. Hàng triệu người khác không thể dứt khoát ủng hộ cuộc chiến. Trong số nầy có những người ủng hộ nửa vời, ủng hộ vì nhầm lẫn, và ủng hộ thử. Điều nầy cho thấy rằng hàng triệu người Mỹ đã chọn sự vượt thoát giới hạn lòng yêu nước bình thường để đi tới sự bất đồng, căn cứ vào những đòi hỏi của lương tâm và lịch sử. Bây giờ, dĩ nhiên, một trong những khó khăn để nói ra ngày hôm nay, phát sinh sự kiện có người đồng hóa sự bất đồng với sự phản bội. Đây là những ngày tháng tối tăm cho đất nước chúng ta khi những người có quyền lực tìm tất cả mọi biện pháp để bịt miệng những người không đồng quan điểm. Nhưng có cái gì đang xảy ra, và người ta không thể câm lặng được. Sự thật phải được nói lên. Và tôi khẳng định rằng những kẻ đang tìm cách biến những người chống chiến tranh thành những người ngu xuẩn, phản quốc, kẻ thù của quân đội… là những kẻ đang đi ngược lại truyền thống tốt đẹp nhất của đất nước nầy.

Vâng, chúng ta phải đứng lên, phải dám nói.

[băng bị trống một đoạn] … tới đánh tan sự yên lặng phản bội của chính tôi để tôi nói từ trái tim bừng cháy của tôi. Cũng như khi tôi đã cứu xét đến nguyên do căn bản phát khởi sự tàn phá đất nước Việt Nam, rất nhiều người đã hỏi về đường lối khôn ngoan của tôi. Trong tận trái tim của họ, câu chất vấn nầy làm hiển lộ rõ ràng và vang vội: “Tiến Sĩ King! Tại sao ông nói về chiến tranh? Tại sao ông góp tiếng nói về sự bất đồng ý kiến của cuộc chiến?” Họ nói hòa bình và nhân quyền không thể lẫn lộn. Và sáng hôm nay, tôi nói với quý vị về vấn đề nầy, bởi vì tôi khẳng định rằng tôi mạnh dạn đứng về phía Phúc Âm, và sáng hôm nay, tôi đến trong buổi thuyết giảng để kêu gọi sự thương yêu hiểu biết của đất nước yêu quý của tôi.

Bài thuyết giảng nầy tôi không nhắm vào chánh quyền Hà Nội, không nhắm vào Mặt Trận Giải Phóng, không nhắm vào Tàu hoặc Nga. Cũng không nhắm vào khoảng tối tăm toàn diện của sự kiện và sự cần thiết cho một giải pháp phối hợp về tấm bi kịch Việt Nam. Nó cũng không thử cải biến Miền Bắc Việt Nam hoặc Mặt Trận Giải Phóng thành một khuông mẫu đạo đức, cũng không khám xét vai trò họ phải làm cho một giải pháp thành công của cuộc xung đột. Sáng hôm nay, tuy nhiên, tôi không muốn nói với chánh quyền Hà Nội và không muốn nói với chánh quyền Mặt Trận Giải Phóng, nhưng tôi muốn nói với tất cả các “Đồng Bào Mỹ” của tôi, những người đã mang một trách nhiệm lớn lao nhất, đã đi vào cuộc xung đột, và đã phải trả một giá nặng nề trên cả hai lục địa!

Giờ đây, là một diễn thuyết viên với lời kêu gọi, tôi nghĩ đó không phải là một điều ngạc nhiên vì tôi có tới bảy lý do chính để mang Việt Nam tới tầm quan sát luân lý của tôi. Có… một điều dĩ nhiên và dễ hiểu liên hệ giữa chiến tranh Việt Nam và sự cố gắng của tôi mà nhiều người khác cùng lúc đả tiến hành trên đất Mỹ. Một vài năm trước đây có lúc cố gắng đó đã sáng tỏ. Nó có vẻ là một niềm hy vọng cho người nghèo, cho cả hai, người da đen và người da trắng, xuyên qua chương trình giảm nghèo. Có những thử nghiệm, có niềm hy vọng, và có bắt đầu xây dựng cuộc sống mới. Rồi kế đến vụ Việt Nam càng lúc càng bộc phát. Và tôi đã quan sát chương trình giảm nghèo bị đứt đoạn khi những trò chơi chính trị trong xã hội trở thành cơn thịnh nộ chiến tranh. Và tôi cũng biết rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ đầu tư vào các ngân quỷ cần thiết hoặc đầu tư năng lực phục hồi nghèo đói khi mà những cuộc mạo hiểm lăn xả vào chiến tranh, như chiến tranh Việt Nam, tiếp tục lôi kéo rút rỉa nhân lực, sự khéo léo, và tiền tài như một ống hút tàn phá tinh vi xảo quyệt. Và quý vị có thể không biết, thưa quý vị, người ta đã tính chính phủ phải tốn 500.000 Mỹ Kim để giết một tên lính thù địch trong khi chỉ tốn có 55 Mỹ Kim cho mỗi người nghèo, và 53 Mỹ Kim vào lương bổng của người không nghèo. Vì vậy tôi buộc phải nhìn nhận một sự thật là, “chiến tranh là kẻ thù của người nghèo,” và tôi đã tấn công chiến tranh là vậy.

Có lẽ sự nhận thức bi kịch thực tại xảy ra đã trở thành sáng tỏ đối với tôi, rằng chiến tranh còn tệ hơn sự hủy diệt niềm hy vọng của người nghèo tại mảnh đất quê nhà. Chúng ta đã gởi con cái của chúng ta, gởi anh em của chúng ta, gởi chồng của chúng ta, để chiến đấu và chết ở một vùng đất xa lạ, không người thân thích. Chúng ta đã gởi những người da đen bị què quặt bởi xã hội chúng ta, và gởi họ đi 8.000 dặm đường, để bảo vệ tự do ở Đông Nam Á mà không bảo vệ được tự do ở Đông Nam Georgia và Đông Harlem! Đó là tại sao chúng ta phải liên tục đối mặt với các tội ác trên màn ảnh truyền hình, để xem người da đen và người da trắng cùng giết lẫn nhau, cùng chết với nhau, trong một quốc gia mà người da đen và người da trắng của quốc gia đó, không thể ngồi chung một lớp học! Đó là tại sao chúng ta phải nhìn họ, trong sự đoàn kết và thích thú, đốt những mái nhà tranh vách lá nghèo nàn trong những xóm làng xơ xác! Nhưng chúng ta phải thực tế rằng những người nầy rất khó sống cùng một khu vực với chúng ta ở Chicago hoặc ở Atlanta. Giờ phút nầy, tôi đã không thể còn ngậm miệng được nữa khi đối diện với sự đối đãi tàn nhẫn giữa con người với con người trên mảnh đất nghèo khổ! Lý do thứ ba của tôi là xét nghiệm càng sâu hơn những kinh nghiệm khi tôi sống ở khu da đen ở Miền Bắc hơn ba năm, đặc biệt là ba mùa hè ở đó. Khi tôi đi giữa những người trẻ đã tuyệt vọng, đã từ chối, và đã giận dữ, tôi đã nói vói họ rằng lựu đạn và súng không thể giải quyết vấn đề của họ. Tôi đã cố gắng dâng tặng họ sự cảm thông sâu sắt nhất trong khi duy trì khẳng định rằng sự thay đổi xã hội đến với tràn đầy ý nghĩa xuyên qua bất bạo động. Họ đã hỏi tôi, “Việt Nam thì sao?” Họ nghi vấn tại sao đất nước chúng ta đã không dùng một lực lượng bạo động lớn giải quyết vấn đề đem lại thay đổi mong muốn. Câu hỏi của họ đã đưa tôi về thực tế, và tôi hiểu được rằng tôi sẽ không bao giờ nói tới ngăn chận bạo động ở các khu da đen nếu trước tiên tôi không làm sáng tỏ với các nhà quân sự về bạo động trên thế giới ngày hôm nay: Chánh phủ của tôi bạo động!.. Vì tương lai của thế hệ mai sau, vì tương lai của quê hương đất nước, vì tương lai của hàng trăm ngàn người đang khiếp sợ trước bạo động. Đứng trước bạo động tôi không thể câm miệng!.. Được hoan hô nhiệt liệt mấy năm qua. Họ hoan hô toàn diện phong trào của chúng tôi. Họ hoan hô tôi. Nước Mỹ và hầu hết những tờ báo đã hoan hô tôi ở Montgomery. Và tôi đã đứng trước hàng ngàn người da đen sẵn sàng làm loạn khi tư gia của tôi bị đặt bom và nói, chúng ta không thể làm cách nầy! Họ hoan hô chúng tôi trong buổi biểu tình ngồi. Chúng tôi quyết định ngồi xuống trước bàn tính tiền ăn. Họ hoan hô chúng tôi về Chuyến Xe Tự Do khi chúng tôi chấp nhận cú đấm không trả thù. Họ tán tụng chúng tôi tại Albany và Birmingham và Selma, Alabama. Ồ! Nhà báo quá đẹp trong tiếng hoan hô, và quá đẹp trong sự ca ngợi khi tôi nói, hãy lịch sự với Bull Connor. Khi tôi nói hãy lịch sự với Jim Clark. Có một cái gì khó hiểu về đất nước và báo chí chúng ta, khi họ ca tụng bạn, khi bạn nói, hãy lịch sự với Jim Clark. Nhưng họ sẽ nguyền rủa khi bạn nói “Hãy lịch sự với những đứa trẻ da vàng Việt Nam.” Có một cái gì đó đã sai đối với báo chí…

Sức nặng ràng buộc đời sống trong khuôn khổ nước Mỹ vẫn chưa đủ, một ràng buộc khác đã được đặc để lên tôi vào năm 1964. Và tôi không thể quên giải Nobel Hòa Bình chẳng phải chỉ xảy ra một cách đơn giản rồi bỏ qua, nhưng đó là một sựủy thác. Một ủy thác, mà với sự ủy thác đó, tôi chưa bao giờ phải làm việc nặng nhọc như vậy, cho tình anh em nhân loại. Đây là tiếng gọi đã đưa tôi ra khỏi ranh giới quốc gia. Nhưng nếu không có việc gì đã xảy ra, tôi vẫn chưa phải sống một đời sống ràng buộc với Sứ Mạng Thiên Chúa. Đối với tôi, sự liên hệ đến Sứ Mạng Hòa Bình là việc quá dĩ nhiên, làm tôi cảm nhận sự tuyệt dịu khi người nào đó hỏi tại sao tôi phải diễn thuyết chống lại chiến tranh. Có thể tin rằng người ta sẽ không biết tin vui cho tất cả nhân loại, cho người Cộng Sản, cho người Tư Bản, cho tất cả con trẻ, cho chúng ta, cho người da đen lẫn da trắng, cho người làm cách mạng, cho người bảo thủ. Làm thế nào mà họ quên được rằng sứ mạng của tôi là vâng lệnh người đã mang thương yêu đến với kẻ thù một cách trọn vẹn và đã chết cho kẻ thù? Rồi, tôi có thể nói với Việt Cộng, hoặc Castro, hoặc Mao, tôi là Sứ Giả Trung Thành của Đức Chúa Jesus hay không? Tôi mang tới cho họ cái chết hay tôi mang tới cho họ sự sống? Cuối cùng, tôi phải thành thật với lương tâm của tôi rằng, tôi sẽ chia xẻ với tất cả những người con của Đức Chúa Vĩnh Cửu. Tôi không còn giới hạn của chủng tộc, tôi không còn giới hạn của quốc gia, tôi không còn giới hạn của tín ngưỡng của tình cha con và tình huynh đệ. Và tôi tin Thiên Chúa đã suy xét sâu kín trong lòng Ngài. Đặc biệt cho những đứa con đau khổ không ai giúp đỡvà bị ruồng bỏ của Ngài. Và ngày hôm nay, tôi đến đây, để nói lên tiếng nói của những người không ai giúp đỡ và bị ruồng bỏ đó! Và tôi cân nhắc cơn thịnh nộ của Việt Nam và tìm trong tôi những phương cách để hiểu và đáp lại bằng tình thương. Thâm tâm tôi liên tục nghĩ tới những người ở nửa vòng trái đất bên đó. Lúc nầy tôi không chỉ nói riêng với những người lính hai bên, không chỉ nói riêng cho quân đội của chính quyền Sài Gòn, nhưng, một cách đơn giản, tôi nói với tất cả những người bị cuống theo quỹ đạo của cuộc chiến suốt ba thập niên. Tôi cũng nghĩ tới họ, vì đối với tôi, rất rõ ràng là không có giải pháp nào có thể giúp được họ, cho đến khi những tiếng thổn thức từ trái tim của họ được lắng nghe.

Bây giờ, để tôi kể quý vị nghe một sự thật. Người Việt Nam chắc phải nhìn người Mỹ như là người giải phóng quái gỡ! Bạn có biết rằng người Việt Nam đã tuyên bố độc lập năm 1945, sau khi đánh đuổi cả hai lực lượng xâm chiếm của Pháp và Nhật hay không? Và ngẫu nhiên thay, sự kiện đã xảy ra trước cuộc cách mạng Cộng Sản ở Trung Quốc. Cuộc chiến chống Pháp và Nhật do Hồ Chí Minh lảnh đạo. Và sự thật ít người biết khi họ tuyên bố độc lập năm 1945, họ đã chép lại bản Tuyên Ngôn Độc Lập của chúng ta làm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, nhưng chánh phủ chúng ta lại khước từ công nhận nền độc lập của họ. Tổng Thống Truman nói “họ chưa sẵn sàng độc lập.” Vì vậy mà chính quyền của chúng ta đã đánh đổ một nước độc lập nạn nhân bằng chất độc ngạo nghễ của chúng ta, làm ung thối ý nghĩa độc lập quốc tế nhiều năm. Người Pháp liền dựa vào đó trở lại xâm chiếm thuộc địa củ của họ. Người Pháp đã chiến đấu cực nhọc, hung tợn, ròng rã tám năm. Bạn có biết ai đã giúp người Pháp không? Đó là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ!.. Chúng ta giúp tới một mức độ mà chúng ta phải trả hơn 80% chi phí chiến tranh. Và ngay khi người Pháp trở thành tuyệt vọng và chán nản, chúng ta vẫn chưa chịu thôi!.. Và năm 1954, một cuộc thương thuyết được triệu tập tại bàn hội nghị Geneva, và một thỏa ước được ký kết vì Pháp bị đánh bại trong trận Điện Biên Phủ. Nhưng ngay cả sau khi Hiệp Định Geneva được ký kết, Chúng ta cũng vẫn chưa chịu thôi!.. Chúng ta phải đối diện với một sự kiện đau buồn chính phủ chúng ta đeo đuổi, trong ý nghĩa thật của nó, là phá hoại Hiệp Định Geneva. Nè, sau khi Pháp bị đánh bại, trông như độc lập và thống nhất đất nước sẽ được thực hiện xuyên qua Hiệp Định Geneva. Nhưng thay vào đó, Hợp Chủng Quốc đã giúp đỡ một người tên là Diệm, mà người đó là một nhà độc tài tàn nhẫn nhất chưa từng có trên thế giới. Diệm đã bịt miệng tất cả những ai đối lập. Nhiều người bị ám sát một cách tàn bạo vì họ đã dám chỉ trích chính sách của Diệm. Và người nông dân khúm núm nhìn Diệm bứng tận gốc bất cứ ai đối lập. Người nông dân đã thấy ảnh hưởng của Mỹ qua việc tăng cường quân đội đàn áp nổi loạn, hậu quả của Diệm để lại. Khi Diệm bị lật đổ, họ có thể cảm thấy vui mừng. Nhưng vì một quá trình độc tài lâu dài trong quân đội dường như đã không thay đổi gì trên thực tế, đặc biệt về phương diện thống nhất lảnh thổ và hòa bình. Và ai là người mà chúng ta yểm trợở Việt Nam hôm nay? Tên của người đó là Tướng Kỳ. Người đã đứng trong hàng ngủ của người Pháp chống lại nhân dân của ông ta. Và có lần ông đó đã nói người anh hùng vĩ đại nhất trong đời của ông ta là Hitler. Đây là người mà chúng ta đang ủng hộ tại Việt Nam ngày nay. Ồ! Chánh phủ và báo chí thường không cho chúng ta biết, nhưng Thượng Đế đã bảo tôi nói cho quý vị biết sáng hôm nay. Sự thật phải được nói ra!..

Tăng gia quân lính là sự thay đổi độc nhất của chính phủ Mỹ, để hổ trợ một chính phủ mà chính chánh phủ đó đã trở thành hủ bại, vớ vẫn, quần chúng không ủng hộ gì nữa. Dân chúng lúc nào cũng đọc được những truyền đơn hứa hẹn hòa bình, dân chủ, và thống nhất. Bây giờ người dân trở thành tiều tụy dưới bom đạn của chúng ta và coi người Mỹ chúng ta mới chính là kẻ thù, chớ không phải là đồng bào của họ. Họ di chuyển một cách buồn bả và lảnh đạm khi chúng ta lùa họ khỏi mảnh đất tổ phụ mà họ từng sinh sống, để vào những chỗ tập trung là ấp chiến lược, nơi đó, những nhu cầu xã hội tối thiểu ít khi đủ. Họ biết họ phải di chuyển hoặc ở lại bị tiêu diệt bởi bom đạn. Vì vậy họ phải ra đi, đa số là đàn bà, trẻ con, và người già cả. Nơi đó họ nhìn ruộng nước của họ bị bỏ chất độc khai hoang, nhìn chúng ta phá hủy hàng triệu hec ta mùa màng. Họ phải khóc khi xe ủi đất gầm gừ qua khu vực chuẩn bị tiêu hủy những cây cối quý giá. Họ vất vưởng ở những khu phố để thấy hàng ngàn hàng vạn trẻ con, người không nhà, quần áo không lành lặn, hàng hàng lớp lớp trên đường phố như đàn súc vật. Họ thấy những đứa bé bị hạ cấp bởi quân lính của chúng ta, khi những đứa bé nầy đi ăn xin… Họ thấy trẻ em bán chị của nó cho quân lính chúng ta, van xin cho cha mẹ của chúng nó. Chúng ta đã tiêu hủy hai cơ sở của người dân: Gia Đình và Làng Mạc. Chúng ta đã hủy diệt đất đai mùa màng của người dân. Chúng đã hợp tác với họ nghiền nát tổ chức độc nhất không Cộng Sản của xứ nầy là Phật Giáo Thống Nhất. Đây là vai trò của đất nước chúng ta đã làm, vai trò của những người làm vô hiệu hóa cách mạng hòa bình, nhưng không từ bỏ được đặc ân và niềm vui đến từ nguồn lợi vô biên do đầu tư ở hải ngoại. Tôi xác quyết rằng nếu chúng ta đứng đúng vị trí cách mạng thế giới, chúng ta, với tư cách là một quốc gia, chúng ta cần có một cuộc cách mạng căn bản về giá trị cho chính chúng ta. Chúng ta phải mau mau chuyển đổi từ một xã hội định hướng vật chất sang xã hội định hướng cá nhân. Khi mà máy móc và máy điện toán, nguồn lợi phim ảnh và tác quyền được coi là quan trọng hơn con người, những đứa con sinh ba khổng lồ của: Kỳ Thị Chủng Tộc, Chủ Nghĩa Quân Phiệt, và Kinh Tế Bóc Lột sẽ không phương cứu chửa.

Một cuộc cách mạng về giá trị thật tiễn sẽ sớm thúc đẩy chúng ta đặt câu hỏi về sự ngay thẳng và công bằng về nhiều chính sách hiện tại mà chúng ta đang thi hành. Mặt khác, chúng ta kêu gọi vai trò Người Làm Phước cho cuộc sống bên lề đường. Nhưng đó chỉ là một hành động sơ khởi. Một ngày nào đó, chúng ta phải đến để thấy toàn thể con đường Jericho được đổi mới và người đàn ông hoặc người đàn bà sẽ không thường xuyên bị đánh đập, bị cướp bóc, khi họ bắt đầu cuộc hành trình trên đại lộ của cuộc đời. Tình thương thật sự không phải chỉ là ném một đồng xu cho người ăn mày. Một cuộc cách mạng giá trị đích thực sẽ không thấy bằng phẳng trên tấm kính tương phản giữa sự nghèo đói và sự giàu có với sự câm phẩn chính đáng. Hãy nhìn ra đại dương sẽ thấy những nhà tư bản cá nhân Phương Tây đầu tư một lượng lớn tiền bạc vào Á Châu, vào Phi Châu, và vào Nam Phi Châu, chỉ là để thâu lợi mà không hề xét gì về cải tiến xã hội những xứ sở đó và nói, “Đây không phải chỉ là.” Hãy nhìn đồng minh của chúng ta với đất đai trù phú quý tộc Châu Mỹ La Tinh và nói, “Đây không phải chỉ là.” Tính kiêu căng Tây Phương là có tất cả những gì để chỉ dạy người khác mà không có cái gì để học hỏi từ người khác. Một cuộc cách mạng giá trị thật sự sẽ đặt bàn tay lên trật tự thế giới và nói tới chiến tranh, “Sự xếp đặt khác biệt cách nầy không phải chỉ là.” Công việc thiêu hủy loài người bằng bom napalm, công chuyện chất chứa đầy ắp trẻ mồ côi và góa phụ vào những căn nhà đất nước, công chuyện chích thuốc độc hận thù vào mạch máu của người bình thường, công việc gởi về đất nước từ những trận mạc máu me đen tối, những con người tật nguyền điên loạn, không còn phân biệt được khôn ngoan, phải trái, và thương yêu. Một đất nước mà năm nầy qua năm khác trút đổ tiền bạc vào cũng cố quân đội nhiều hơn là nâng đỡ xã hội, là một đất nước đang tiến vào địa ngục của những linh hồn chết!..

Ố, này quý vị, nếu có gì khác chúng ta phải thấy hôm nay thì đó là cuộc cách mạng thời gian. Tất cả mọi nơi trên thế giới, con người đang làm cách mạng để đổi mới những hệ thống lỗi thời bóc lột và áp bức, và làm lành những vết thương của thế giới mỏng manh. Hệ thống luật pháp và công bằng xã hội đang thành hình. Người chân đất, không áo mặc, càng lúc càng nhiều. Người ngồi trong bóng tối đã thấy được ánh sáng. Họ nói, một cách không để ý, như chúng ta hát trong một bài hát về tự do của chúng ta, “Tôi sẽ không để bất cứ ai xoay ngược tôi lại!” Có một sự thật đau buồn, bởi vì muốn tự làm cho êm dịu và tự thỏa mãn, căn bệnh sợ sệt chủ thuyết Cộng Sản, một thiên kiến điều chỉnh bất công của chúng ta, các quốc gia Tây Phương khởi đầu quá nhiều cuộc cách mạng tinh thần của thế giới tân tiến đã trở thành một vòm trời phản cách mạng. Sự kiện nầy đã lèo lái nhiều người thấy rằng chỉ có chủ thuyết Mark có một cách mạng tinh thần. Vì thế cho nên, chủ thuyết Cộng Sản là mẫu mực cho các thất bại của chúng ta để làm dân chủ có thật và tiếp diễn suốt đoạn đường từ lúc bắt đầu. Chỉ có hy vọng của chúng ta ngày hôm nay nằm trong khả năng đạt thành cuộc cách mạng tinh thần và vượt ra ngoài một thế giới đôi khi thù hận tuyên bố hận thù trường cửu tới nghèo đói, kỳ thị chủng tộc, và quân phiệt. Với sự ràng buộc mãnh liệt, chúng ta sẽ liều lỉnh thử thách bất công nhiều hơn nữa, và vì vậy tiến nhanh lên tới ngày “tất cả các thung lủng được nâng cao, tất cả núi đồi được hạ thấp, những lồi lõm được sang bằng, những cong queo được kéo thẳng. Và sự huy hoàng của Thiên Chúa được hiển lộ, và thịt xương sẽ được thấy là thịt xương chung của nhau.”

Một cuộc cách mạng giá trị đích thực có nghĩa là trong sự phân tích sau cùng, lòng trung kiên của chúng ta phải mang tính chất toàn cầu thay vì tính chất khu vực. Mỗi quốc gia lúc nầy cần phải phát triển vượt thoát lòng trung kiên đối với nhân loại như một tổng thể, để duy trì những gì tốt đẹp nhất trong những xã hội riêng biệt. Điều nầy đòi hỏi một tình thân hữu quốc tế có thể tháo gỡ tình lân quốc, vượt thoát bộ lạc, chủng tộc, thứ cấp. Và quốc gia thật sự, là sự kêu gọi ôm ấp trọn vẹn trong vòng tay của nhau, kêu gọi thương yêu nhau trong tình thương vô điều kiện. Thông thường, nhận thức hiểu biết và cắt nghĩa sai về điều nầy, đã bị bác bỏ bởi thế giới Nietzsches, đã bị cho là một động lực yếu đuối hèn mọn, giờ đây thì hoàn toàn rất cần thiết cho sinh tồn nhân loại. Và khi tôi nói tới tình thương, tôi không nói tới tình thương nhạy cảm và yếu đuối. Tôi muốn nói tới một năng lực mà tất cả các tôn giáo lớn đã nhận thấy là một tập hợp tối thượng chính yếu cho đời sống. Tình thương, bằng một phương cách nào đó, là một chìa khóa mở cửa đưa đường tới bản môn đích thực. Niềm tin Ấn-Hồi-Chúa-Thiên-Bụt nầy về bản môn đích thực tươi đẹp đã được tóm tắt trong Thư Thiên Sứ John: “Let us love one another, for God is love. And every one that loveth is born of God and knoweth God. He that loveth not knoweth not God, for God is love. If we love one another, God dwelleth in us and his love is perfected in us.”

rằng tôi chống lại chiến tranh Việt Nam vì tôi yêu thương đất nước Mỹ. Tôi diễn thuyết chống lại chiến tranh, không vì cơn tức giận, nhưng với sự lo âu trong tim, và hơn tất cả, với một tình thương đòi hỏi được thấy đất nước yêu quý của tôi đứng vững như một biểu tượng luân lý của thế giới. Tôi diễn thuyết chống lại chiến tranh vì tôi đã bất mãn với nước Mỹ. Và không có chán nản vĩ đại nào không đến từ tình thương vĩ đại. Tôi chán nản với sự thất bại của chúng ta trong việc đối xử tích cực và thẳng thắn với ba con quỹ: “Kỳ Thị Chủng Tộc,” “Kinh Tế Bóc Lột,” và “Chủ Nghĩa Quân Phiệt.” Hiện tại chúng ta đang đi xuống con đường cùng, đường nầy có thể đưa đất nước chúng ta vào thảm họa. Nước Mỹ đã làm tung tóe đến nhiều quốc gia xa xôi, sự Kỳ Thị Chủng Tộc và Chủ Thuyết Quân Phiệt. Căn nhà nơi đó, tất cả có quá nhiều người Mỹ đã rời khỏi, được kiến tạo quá lý tưởng bằng những cột trụ vững chắc trong cái nhìn truyền thống Thiên Chúa La Mã. Con người được tạo dựng qua hình ảnh Thiên Chúa. Con người là huynh đệ. Con người được sinh ra bình đẳng. Tất cả mọi người đều là thừa kế tài sản giá trị và xứng đáng. Tất cả mọi người đều có quyền mà không cần được ban phát, cũng không cần đón nhận của quốc gia, những quyền do Thượng Đế… Chỉ một dòng máu, Thượng Đế đã tạo dựng con người cư trú trên bề mặt địa cầu. Kỳ diệu thay cho nền tảng cư trú. Huy hoàng thay và lành mạnh thay cho một nơi cư trú. Nhưng đất nước Mỹ đã đi lạc hướng, và sự lạc hướng không tự nhiên nầy chỉ mang tới lầm lẫn và hoang mang. Nó đã để lại những cái đau nhói của trái tim với tội lỗi và tâm tư điên đảo với cảm xúc phi lý.

Đây là lúc cho lương tâm của tất cả mọi người dân trên đất nước kêu gọi người Mỹ chúng ta hãy quay trở về quê hương. Hãy quay trở về quê hương! Những đồng bào Mỹ của tôi ơi!.. Omar Khayyam đã nói đúng: “Ngón tay viết, lệnh truyền tung ra…” Hôm nay tôi kêu gọi Washington. Hôm nay tôi kêu gọi mỗi người đàn ông, mỗi người đàn bà, hãy sẵn lòng trên khắp nước Mỹ. Tôi kêu gọi tất cả những người trẻ của đất nước Mỹ ngày hôm nay phải quyết định, hãy mạnh dạng đứng về công lý. Ngày mai có thể quá muộn. Quyển sách có thể đóng lại. Và đừng để bất cứ ai làm quý vị nghĩ rằng Thượng Đế chọn Nước Mỹ là nước phân giải, một Đấng Cứu Rỗi, một loại cảnh sát thế giới. Thượng đế có cách đứng của Ngài trước các quốc gia với sự công bằng, và dường như tôi có thể nghe được tiếng nói của Ngài, “Các ngươi quá kêu ngạo! Và nếu các ngươi không thay đổi, ta sẽ đứng dậy bẻ gảy xương sống quyền lực các ngươi, và ta sẽ đặt nó trên bàn tay quốc gia chưa hề biết tên ta. Hãy đứng yên và biết ta là Thượng Đế.”

Giờ đây, không dễ gì đứng lên cho sự thật và công lý. Đôi khi là một sự bực bội. Khi quý vị nói lên sự thật và đứng về lằn ranh công lý, đôi khi nó có nghĩa là quý vị sẽ đi trên những con đường với quả tim nặng trĩu. Thỉnh thoảng nó có nghĩa là mất việc làm… bị sĩ nhục, hoặc bị khinh khi. Đứa con tám chín tuổi của quý vị có thể hỏi, “Bố ơi tại sao bố phải đi tù quá nhiều như vậy?” Và từ lâu, tôi đã kinh nghiệm được khi tôi chấp nhận con đường của Chúa Jesus Christ, tôi phải chấp nhận vác lên vai cây Thánh Giá. Và Kinh Thánh cũng cho tôi biết ngày Good Friday tới trước ngày Chúa Sống Lại. Trước khi đội lên Vương Miện, kìa là Thánh Giá chúng ta phải cưu mang. Chúng ta hãy cưu mang Thánh Giá cho sự thật, chúng ta hãy cưu mang Thánh Giá cho công lý, và chúng ta hãy cưu mang Thánh Giá cho hòa bình. Xin cho tôi bước ra buổi sáng hôm nay với tâm nguyện. Và tôi chưa đánh mất niềm tin. Tôi chưa tuyệt vọng vì tôi biết rằng có một trật tự luân lý. Tôi chưa đánh mất niềm tin bởi vì cầu vòng luân lý vũ trụ bao la, nhưng nó sẽ qui tụ về điểm công lý. Tôi vẫn còn hát được “Chúng ta sẽ vượt qua” bởi vì Carlyle đã nói đúng: “Giả dối không bao giờ sống mãi.” Chúng ta sẽ vượt qua bởi vì William Cullen Bryant đã nói đúng: “Sự thật ép lên trái đất nó sẽ bật trở lại.” Chúng ta sẽ vượt thoát bởi vì James Russell Lowell đã nói đúng: “Chân thật bao giờ cũng lên đoạn đầu đài, sai lầm bao giờ cũng lên ngôi báu.” Chưa đủ, đoạn đầu đài đó ngự trị tương lai. Chúng ta sẽ vượt thoát vì Kinh Thánh đã nói đúng: “Gieo nhân nào thì được quả nấy” (You shall reap what you sow). Với niềm tin nầy chúng ta sẽ có thể san phẳng ngọn núi tuyệt vọng tìm ra một viên đá hy vọng. Với niềm tin nầy chúng ta sẽ có thể chuyển hóa tiếng bất hòa chát chúa thành một điệu nhạc huynh đệ tươi vui. Với niềm tin nầy chúng ta sẽ có thể tiến nhanh lên ngày công lý sẽ tràn xuống như thác nước, và chân chính sẽ hùng mạnh như một dòng sông. Với niềm tin nầy chúng ta sẽ có thể tiến nhanh tới một ngày khi sư tử và cừu nằm chung với nhau, và tất cả mọi người sẽ cùng nhau ngồi xuống với ly rượu nho và trái sung của họ, và không còn ai sợ sệt vì Chúa đã nói như vậy. Với niềm tin nầy chúng ta sẽ có thể tiến nhanh tới một ngày mà mọi người trên thế giới có thể nối liền cánh tay và hát bài Tinh Thần Người Da Đen xa xưa, “Cuối cùng được tự do! Cuối cùng được tự do! Cám ơn Chúa Toàn Năng, chúng ta cuối cùng được tự do.” Với niềm tin nầy, chúng ta sẽ hát như chúng ta sẵn sàng hát bây giờ. Người đàn ông sẽ nhịp gươm vào chuôi cài và tra kiếm vào vỏ. Đất nước nầy sẽ không còn nổi lên chống lại đất nước kia, không ai còn cần biết gì về chiến tranh nữa. Và tôi không biết quý vị nghĩ sao. Phần tôi, sẽ không bao giờ còn nói tới chiến tranh!

Mục Sư Martin Luther King, Jr.

DuyenSinh@Live.com

 

GHI CHÚ:

[1] http://www.duyensinh.com/files/pdf/DOAN_QUAN_CHU_THAP_AN_THIT_NGUOI.pdf

[2] http://www.northernrenaissance.org/re-membering-women-protestant-womens-victim-testimonies-during-the-irish-rising-of-1641/

[3] http://en.wikipedia.org/wiki/File:The_Hanging_by_Jacques_Callot.jpg

[4] http://duyensinh.com/files/pdf/XAM_NHAP_TON_GIAO_VAO_NHAT_BAN.pdf

[5] http://duyensinh.com/files/pdf/XAM_NHAP_TON_GIAO_VAO_AYUTTHAYA.pdf

[6] Trích từ “Hoa Sen Trong Biển Lửa” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh (ngưng xuất bản). [SH - có thể đọc trên thuvienhoasen.org]

[7] Vatican Assassins, Eric Jon Phelps, ISBN: 0-9704999-2-2. Xem thêm lời bàn "Eric Jon Phelps gọi là “Chiến Tranh Của Giáo Hoàng”

[8] Vietnam: Why did we go?, Avro Manhattan, ISBN: 0-937958-19-0. Xem bản dịch tiếng Việt của Trần Thanh Lưu

[9] http://www.duyensinh.com/files/pdf/CA-TO_GIAO_LA_MOT_HIEM_HOA.pdf

[10] http://www.duyensinh.com/files/pdf/BI_MAT_TOA_AN_DI_GIAO_VIET_NAM_CONG_HOA.pdf

[11] http://www.catholic-hierarchy.org/country/sc1.html

 

Mục Lục Duyên Sinh

____________________

Các bài của tác giả Duyên Sinh trên sachhiem.net

_____________________