THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GƯƠM

Linh Mục Trần Tam Tỉnh

bản điện tử của sachhiem.net (KT đánh máy)

¿ trở ra mục lục bản in

08 tháng 1, 2010

Chương III

GIÁO HỘI TRONG CƠN BÃO BÙNG

(tiếp theo)

7 ─ NỖI HĂM DỌA CỦA HÒA BÌNH

Các giám mục không chính thức lên án các tờ tạp chí kể trên, nhưng coi đó là tờ báo nguy hiểm, để cho Cộng sản lợi dụng khai thác. Tại Việt Nam, hễ phản đối Mỹ hay là ủng hộ việc đàm phán vời Mặt trận Giải phóng, là bị kết án thân cộng. Tháng 3 năm 1971, dư luận Công giáo rất xúc động trước những lời tuyên bố của linh mục Nguyễn Viết Khai: «Tôi xin nói rõ, tôi là một linh mục đã từng ở trong tầng lớp lãnh đạo. Tôi đã chiến đấu chống lại Cộng sản một cách mù quáng. Kết quả là tôi bị kết án, do Cộng sản dĩ nhiên rồi, 23 tháng và 7 ngày tù ở… Sau 23 tháng và 7 ngày tù, tôi được tha và tôi cầm đầu một nhóm người di cư vào Nam…

Từ đó, tôi có thể tự khoe là mình đã chạy xuôi ngược khắp cả miền Nam… Chẳng có nơi nào có những người gốc Nghệ Tĩnh đang cầm súng chống lại Cộng sản mà tôi không tới thăm… Bất kỳ nghe nói ở đâu có Cộng sản là chúng tôi xốc tới, quyết đánh và tiêu diệt họ nếu cần. Đó là ý muốn minh bạch rõ ràng của chúng tôi."

Tuy nhiên, tôi đã sớm thấy ra rằng tôi làm một chuyện ngu xuẩn. Việc một linh mục được ông Diệm coi như một chiến sĩ chống Cộng tốt nhất, chẳng phải là do một cuộc tẩy não của Cộng sản, mà là nhờ suy nghĩ chín chắn về thực tế. Ông Khai còn nói: «Tôi cảm thấy càng bối rối hơn, khi tôi phải đề cập đến khía cạnh «vô Tổ quốc» của người Cộng sản. Trước mắt các anh, ai là người vô Tổ quốc? Cần phải thú nhận rằng chính chúng ta, những người dân miền Nam, chúng ta mới thật là những con người «vô Tổ quốc»… Người ta có thể hỏi xem tại miền Nam có chăng một chút tự do trong việc quản lý xứ sở mình? Từ chính quyền trung ương, xuống cho tận anh trưởng ấp, người miền Nam không được phép giải quyết vấn đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào».

Những lời tuyên bố trên của một kẻ hối cải chẳng làm vừa lòng chính quyền, cũng như hàng giáo phẩm chút nào. Chín tháng sau đó, linh mục Khai đã được mời đi khỏi xứ đạo của ông. Nếu các lời tuyên bố trên đây đã không lay nỗi lập trường của đa số trong hàng giáo sĩ cũng như giáo dân, ít ra nó cũng buộc một số người Công giáo phải suy nghĩ lại.

Tiếng nói phản kháng của Công giáo cũng vang lên tại Rôma, chẳng hạn trong bức thư đề ngày 12-8-70 có nói rõ rằng «chướng ngại chủ yếu cho nền hòa bình tại Việt Nam là Giáo hội Công giáo». Bức thư bắt đầu bằng việc nói rõ những tàn phá khốc liệt của chiến tranh. «Cuộc chiến này ngày càng trở nên một cuộc chiến diệt chủng, chẳng những cuộc chiến giết hàng ngàn kẻ vô tội mỗi ngày, mà nhất là vì nó đang phá hoại tận gốc rễ những giá trị căn bản nhất của một dân tộc».

… «Nhưng giai cấp lãnh đạo Giáo hội thì chống lại mọi nỗ lực chấm dứt chiến tranh, kể cả khi nỗ lực của chính Đức thánh Cha (Phaolô VI), bởi vì họ sợ hòa bình… Giáo hội hỗ trợ một cách hữu hiệu cho quân đội nước ngoài và chế độ hiện hành. Mọi người đều rõ, không những giữa tòa đại sứ Mỹ và Khâm sứ Tòa thánh Vatican có những liên hệ rất chặt chẽ mà còn có cả một đường dây điện thoại «đỏ» giữa ông đại sứ Mỹ và vị Khâm sứ Rôma. Chẳng phải là việc gì bí mật đối với bất cứ ai, việc các giám mục của chúng tôi có thể đến gặp tổng thống bất kỳ lúc nào, và ông không thể từ chối. Không ai biết rằng tại đây, số phận của quận trưởng, tỉnh trưởng tại các vùng đông Công giáo, không nhất thiết là đa số, cũng nằm trong tay các cha xứ. Ở mọi cấp chính quyền, người dân Công giáo lúc nào cũng được xuôi việc, anh nông dân có làm bậy gì đi nữa… có cha xứ can thiệp là việc gì cũng ổn thỏa. Một tay chủ hãng bị tố giác gian lận thuế, một vị bộ trưởng hoặc tướng tá bị tố cáo là tham ô hay buôn lậu, chỉ cần có sự can thiệp nhẹ nhàng của một Giám mục hay một vị tổng quản, là vụ việc được chôn vùi êm thắm. Giáo hội, Đức Kitô là tổ chức duy nhất còn lại để ủng hộ chế độ đó, sự ủng hộ rất thiết yếu và hiệu quả của Mỹ phần lớn cũng tùy vào thái độ của Giáo hội tại Việt Nam».

Những lời tố cáo mạnh mẽ trên đây phản ảnh một thực tế chẳng ai chối cãi. Bởi vì những người đang lợi dụng chế độ là Giám mục, Linh mục hay giáo dân, đều nghĩ rằng quân lính Mỹ là binh sĩ của Đức Kitô. Linh mục Phan Khắc Từ, Tuyên úy Thanh Lao công Sài Gòn, đã tuyên bố thẳng thừng ngày 20-9-1970 tại Firenxê rằng: «Kinh nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tin rằng Giáo hội tại Việt Nam hôm nay, là một công cụ hữu hiệu của người Mỹ». (Vị linh mục này đã có thời đi hốt rác tại Sài Gòn để chia sẽ đời sống với dân nghèo).

Trái lại, Giám mục Phạm Ngọc Chi, Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục miền nam và coi sóc địa phận Đà Nẵng, trong một chuyến đi Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1969, đã tuyên bố với báo chí rằng «miền Nam đồng tình với chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của tổng thống Nichxơn». Ông tỏ «lòng biết ơn về sự khen ngợi của nhân dân Viêt Nam… Việc ngưởi Mỹ đến dự lễ tại nhà thờ của ông là một gương sáng về đạo đức cho giáo dân của ông» (The Wanderer 1-1-1970). Tờ báo viết tiếp: «Giám mục nói rằng, ông chống lại một chính phủ liên hiệp với Việt cộng. Tại miền Bắc, chúng tôi đã thấy chuyện đó rồi. Sự liên hiệp chỉ được một lúc rồi Cộng sản gạt tất cả những người không Cộng sản ra khỏi chính phủ».

Những cách tố cáo lập trường đối nghịch nhau như thế, phản ảnh có sự mâu thuẫn sâu sắc giữa hàng giáo phẩm Công giáo và một thiểu số năng động. Thiểu số này tập họp trong «Phong trào công giáo vì hòa bình» của miền Nam, trong Phong trào công giáo phụng sự Tổ quốc (ở hải ngoại) hoặc Ủy ban đòi cải thiện chế độ lao tù tại miền Nam» – Ủy ban này cũng gồm cả những người không Công giáo – oán trách hàng Giáo phẩm cứ im lặng trước chính sách của Mỹ (như ném bom hàng loạt các nơi) và sự câm nín của chính quyền Sài Gòn (về tra tấn, giam giữ). Linh mục Trương Bá Cần, Tuyên úy Thanh lao công toàn quốc, bị cảnh sát bắt tháng 11 năm 1971 vì đã tham gia vụ đình công tại Nhà mát pin Con Ó nhằm hỗ trợ những người thợ đình công, ông đã viết với giọng cay đắng rằng: «Được thiết lập và đào tạo để sống trong một xã hội bình thường (tư bản), Giáo hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền hành trong xã hội này… Giáo hội của tôi cũng đã biết lựa chọn nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ… Giáo hội của tôi đã được thiết lập và đào tạo để sống trong những tình hình bình thường, nhưng thế giới, trong đó Giáo hội tôi phải rao giảng Tin mừng, là một thế giới đầy tranh chấp… tranh chấp giữa những kẻ áp bức và những người áp bức, giữa những kẻ bóc lột và những người bị bóc lột."

Hình ảnh Giáo hội còn trở nên khủng khiếp bởi hoạt động của một số linh mục, ông thì lập đạo quân Công giáo khát máu (như linh mục Nguyễn Lạc Hon, người Trung quốc di tản, cựu trung tá, thiếu tá của quân đội Tưởng Giới Thạch), những ông khác thì mang lon trung tá, thiếu tá, đại úy hoạt động với tư cách tuyên úy tại các trại giam hay tại nha tâm lý chiến, những ông khác nữa làm việc công khai hay bí mật cho CIA.

Hơn nữa, Giáo hội cơ cấu tại Việt Nam không chịu công nhận mục đích cuộc chiến đấu của Mặt trận Giải phóng và của Chính phủ lâm thời Miền Nam, là để chống lại chủ nghĩa thực dân kiễu mới của Mỹ và cuộc kháng chiến của Miền Bắc là do ý chí của nhân dân quyết liều đổ máu nhằm bảo vệ chủ quyền và sự tự do của mình. Mặc dầu đã có việc lộ bí mật của Tài liệu Lầu năm góc, Giáo hội vẫn nhốt mình trong lập trường chống cộng tận xương tủy và mãi tin vào «cuộc chiến đấu tự vệ của thế giới tự do chống lại Cộng sản xăm lăng».

Vì thế, người Công giáo miền Nam phải kinh hoàng khi thấy báo chí phương tây đưa tin vào cuối tháng 10, bản thỏa hiệp bí mật giữa Kitxinhgiơ và Lê đức Thọ, tiên liệu về cấu trúc chính quyền ba thành phần để giải quyết vấn đề miền Nam. Đầu tháng 11 năm 1972, một số giáo dân vùng Sài Gòn hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền Thiệu, đã kéo nhau hàng loạt đi biểu tình, dưới sự điều khiển của các cha xứ, để phản đối việc thành lập chính phủ ba thành phần và phản đối việc hòa giải với Cộng sản. Sự trở mặt của Nichxơn ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng tháng 11 và tháng chạp 1972, đã được các thành phần Công giáo hoan hô thỏa chí.

Cuối cùng, Nichxơn phải nhượng bộ. Bản Hiệp định ngày 2 tháng giêng 1973 đã được ký kết tại Paris, chấm dứt việc can thiệp quân sự cũa Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

8 ─ CÒN VATICAN THÌ THẾ NÀO?

Trên đây, chúng tôi có nói đến nổ lực đáng khen ngợi của đức Phaolô. Ngài đã kêu gọi nhiều lần để hỗ trợ cho Hòa bình và đàm phán. Tuy vậy, các nổ lực của Ngài đã bị lu mờ đi trong những năm thương thuyết tại Pari (1968-1972) bởi một thái độ hàm hồ, nếu không nói là phò Mỹ. Hình như Ngài quá chăm chú nghe lời Cabốt Lốt, cựu đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và là đặc sứ của Nichxơn bên cạnh Vatican, mặc dầu Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Tòa thánh. Con người đã đào mồ chôn ông Diệm ấy làm gì bên cạnh giáo hoàng? Bóng ma của ông ta lại không lởn vởn trên đầu mấy văn phòng của Quốc vụ khanh, liên quan tới những quyết định của Giáo hoàng về Việt Nam sao? Lời kêu gọi «nhân đạo» của Đức Phaolô VI hỗ trợ các tù binh Mỹ tại Bắc Việt, lại chẳng phản ảnh mối quan tâm một chiều của Giáo chủ đối với mấy trăm tên «tội phạm chiến tranh» và đồng thời việc Ngài lờ đi số phận của hàng trăm ngàn con người Việt Nam đang bị tra tấn, hành hạ tại các nhà tù được dựng lên và được điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp với bọ Mỹ sao? Những người thành tâm có lý và bỡ ngỡ trước sự lặng thinh của vị đứng đầu Kitô giáo đối với những lá thư ngỏ hoặc thư riêng đã được gửi đến cho Ngài do các tù nhân chính trị hoặc do cha mẹ, bạn bè họ.

Cabốt Lốt phải chăng đã đóng vai trò trấn an, khi các máy bay B-52 mỗi ngày trút xuống đầu nhân dân Việt Nam hàng ngàn tấn bom, khiến đức Giáo hoàng cứ im lặng khi đứng trước cảnh tàn sát cả triệu dân thường, bất kể nam nữ lão ấu? Hay chỉ lâu lâu mới biểu lộ nỗi đau lòng trước các nạn nhân của hai bên thôi? Cả đôi bên, tức là của bên bọn xâm lược và bên của những người bị xâm lược. Phải chăng Cabốt Lốt đã giật dây khi đức Phaolô VI từ chối không tiếp Bà Nguyễn thị Bình, ngoại trưởng của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, khi Bà tới Rôma năm 1971? Theo các nguồn tin đáng tin cậy, Bà Nguyễn thị Bình chỉ được một giám chức tiếp kiến cách bí mật và ông đã đường đột hỏi Bà: «Tại sao phía Bà không chịu chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ đưa ra, mà đó là những điều rất rộng rãi? ». Bà Bình đã rất vất vả để giải thích cho ông ấy rằng, nhân dân miền Nam chẳng đòi hỏi gì ngoài nền độc lập của đất nước và sự rút lui toàn thể và vô điều kiện của quân đội Mỹ khỏi Việt Nam.

Người ta cũng biết rằng Đức Phaolô VI đã chỉ tiếp cách chính thức cụ Xuân Thủy, đặc mệnh toàn quyền của Bắc Việt và ông Nguyễn văn Hiếu, bộ trưởng của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam sau Hiệp định Pari, nghĩa là sau khi Oasinhtơn đã ký thỏa ước hòa bình với các chính quyền đó.

Vatican luôn luôn tuyên bố mình trung lập. Tại sao Nichxơn, Cabốt Lốt, Băngcơ... thì được tự do ra vào nhà Giáo hoàng mỗi lần đi qua Rôma, còn các bộ trưởng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, thì lại không được như thế? Tại sao các bộ trưởng và nghị sĩ của Thiệu - và sau đó, chính bản thân Thiệu - được nhiều lần nhận phép lành của đức Giáo hoàng khi tiếp kiến thân mật, còn những người của Kháng chiến Việt Nam lại không hề được?

Bao nhiêu là thắc mắc và câu trả lời chỉ nằm kín đáo tại văn khố của Vatican thôi. Một phóng viên Mỹ nói rằng «trong vấn đề Việt Nam, Đức Giáo hoàng giữ trung lập mà thiên vị», có đúng chăng? Đức Giêsu có chu toàn được sứ mạng của Ngài chăng, nếu Ngài đã có những buổi tâm giao với Philat hay Hêrode? May thay cho nhân loại, Ngài đã được hai ông ấy tiếp có một lần, và người ta biết tiếp thế nào...

Thái độ của Đức Giáo hoàng, của Vatican và của một số hàng giám mục phương Tây, cũng thiếu trong sáng khi liên hệ với các tín hữu Kitô Việt Nam yêu hòa bình, hoặc liên đới với người Việt Nam.

Vì hoàn toàn tin tưởng vào sự sáng suốt và tinh thần Phúc âm của vị lãnh đạo Giáo hội, những người Việt Nam Công giáo yêu chuộng hòa bình đã từng gửi đến Đức Giáo hoàng hàng trăm bức thư suốt thời gian chiến tranh, có bức thư dài tới 40 trang. Thế mà chẳng hề có sự hồi âm, không hề có một phúc đáp nào. Họ tự hỏi, phải chăng bộ máy kiểm duyệt của Tòa thánh nghiêm nhặt đến độ tiếng nói yếu ớt của họ đã không bao giờ lọt qua được cái sân Damase và bị bàn chân đại sứ Mỹ dập tắt hết. Trong một thư gửi cho Hồng y Rossi ngày 18.8.1974, một linh mục đã phải dùng lời cứng cỏi mà kêu lên: «Đức Hồng y là ông trùm tối cao của viện loan tin mừng, ngự trị tại trung ương, còn chúng tôi, những người phụ trách tại cơ sở thì mãi chốn xa xăm này. Đức Hồng y không có dịp sang tận xứ chúng tôi thì chúng tôi cũng không có cách gì sang gặp được Đức Hồng y tại Rôma: «ở giữa Đức Hồng y và chúng tôi, mặc dù đôi bên là những kẻ loan tin mừng, cả muôn ngàn thứ ngăn cách chúng ta với nhau. Không những cản trở bởi những bàn tay trung gian cứ ngoan cố che dấu sự thật, nói rõ ra là nước do chính đức Khâm sứ, cứ tìm hết cách ngăn cản không cho chúng tôi liên hệ được với Đứng Hồng y».

Có nên nhắc lại rằng vị khâm sứ cuối cùng, Giám mục Lemaitre, đã bị Linh mục Chân Tin công khai tố cáo là «một con người quan tâm đến các cuộc liên hoan ngoại giao, hơn là việc bênh vực quyền lợi con người»?

Cũng vị Khâm sứ này đã gọi cảnh sát Nam Việt đến xua đuổi một nhóm nam nữ tu sĩ và chủng sinh tới xin ông can thiệp giúp đỡ các tù nhân chính trị. Chính ông đã đánh điện sang tòa Khâm mang tại Ôttaoa và Hội đồng Giám mục Canada, đề nghị hãy cảnh giác, đừng ủng hộ đại hội thứ hai của tổ chức Kitô hữu quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, nhóm tại Quebec những ngày 7.9.1972. Đó là cuộc tập họp của 285 tín hữu, thuộc nhiều danh nghĩa của trên 20 nước, thảo luận đề tài: giải phóng con người và giài phóng các dân tộc Việt, Lào và Campuchia.

Dĩ nhiên những người dự đại hội tố cáo các cuộc xăm lăng của Mỹ và các vụ ném bom vô nhân đạo tàn ác của cường quốc đó. Một số giám mục Việt Nam miền Bắc và miền Nam được mời dự, cũng như nhiều Giám mục khác tại các nước trên thế giới. Trong số các Giám mục có mặt tại đại hội này, đức cha Mátthêu, tổng Giám mục Anh giáo tại Quebec khi dự đại hội về đã viết như sau: «Điều đã đánh động tôi hơn cả, là sự quan tâm to lớn của Đại hội đối với các nhu cầu của những người khác, không phân biệt về tôn giáo, quốc tịch hoặc chủng tộc. Mối quan tâm này bao trùm tất cả các lục địa và đại dương. Đại hội này là thực tế lẽ ra Giáo hội phải như thế, nghĩa là có tinh thần quốc tế và đề cập tới những vấn đề chính trị và kinh tế của các dân tộc, bất kỳ ở phương trời nào. Đại hội dấn thân cách vô vị lợi, nhằm giúp cho các nước Thế giới thứ ba thoát khỏi cảnh thiếu thốn vốn đi liền với bóc lột, khỏi bị khinh dễ và khỏi nỗi lo sợ chiến tranh. Đại hội đã khẳng định quyền tự quyết, quyền tự do và được sống hòa bình của nhân dân Việt Nam.”

Còn Tổng Giám mục Công giáo Quebec, có lẽ chịu ảnh hưởng của bức điện tòa Khâm sứ Sài Gòn, nên đã từ chối không tham dự và sau đó đã phát biểu ý kiến của mình trong cuộc phỏng vấn của Đài tiếng nói Canada như sau: «Đại hội đó rõ ràng là do Bắc Việt tổ chức» và «chỉ ủng hộ, ngay lúc còn chiến tranh, một bên lâm chiến thôi. Phần tôi, với tư cách là Giám mục, tôi thấy mình phải tránh đừng tham dự đại hội» (Radio Canada 10.1.1973).

Hiển nhiên là những người Canada trong Ban tổ chức Đại hội đã đáp lại rằng, những lời cáo buộc của Hồng y là không đúng với sự thật.

Một năm sau, cuộc họp thứ ba của Hội Kitô hữu đoàn kết với ba dân tộc Việt, Miên, Lào, được tổ chức tại Torinô, dưới sự bảo trợ của Ủy ban Pax Christi tại Ý, có 25 nước tới dự, có cả phái đoàn Bắc Việt Nam và của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam. Hội đồng Giám mục Ý, dưới áp lực của Vatican, muốn lên án ngay trước ngày họp, một cuộc tập họp quốc tế của những tín hữu Kitô, không những có các đại diện Công giáo, mà cả phái đoàn đại diện chính thức của Hội Đồng Đại kết các Giáo phái. Nhờ sự can thiệp cương quyết của Hồng y Pellagrino, địa phận Turino, và của đức cha Bettadi, chủ tịch Pax Christi tại Ý, 15 ngày trước cuộc họp, Hội đồng Giám mục Ý chỉ phổ biến một bản tin hàm hồ, nhằm gây ngờ vực về tính nghiêm túc của Hội nghị này. Cũng may, nhiều báo chí tại Ý (Sette Giorni, Rocca, Nuovo Tempi, II Giorno, la Stampa) và các nước khác (Le Monde, Témoignage chrétien, Công giáo và Dân tộc Pari v.v..) đã công bố các bản báo cáo, các bài tổng kết hội nghị, đánh bại mưu đồ ngược Tin mừng của mấy kẻ bài xích. Như tại Québec, tại Turino, các đại biểu đã chú tâm tới nhiều vấn đề của Giáo hội Việt Nam, về thái độ của Giáo hội đối với người nghèo, những kẻ bị áp bức, những tù nhân chính trị về thái độ của Giáo hội toàn cầu và các Giáo hội Tây Âu, đứng trước chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới.

Một sự cố không tốt lành xảy ra sau Hội nghị Turinô, càng làm mất sự tin tưởng của các tín hữu kitô đối với Vatican. Sau khi Hội nghị Turinô bế mạc, linh mục Trần Quang Nghiêm, đại biểu Việt Nam thuộc vùng Giải phóng đã ghé Rôma, gặp Đức ông Gremillion, thư ký của Ủy ban Tòa thánh «Công lý và Hòa bình» và trong một cuộc tiếp kiến chung, cha đã đến gần đức Giáo hoàng, thưa thốt với Ngài và trao cho Đức Giáo hoàng, một tài liệu về tình hình Việt Nam. Sự kiện đó được một ít tờ báo tại Rôma loan tin. Qua ngày sau, Vatican, với một giọng cứng rắn khác thường, đã công bố một thông tin phủ nhận thẳng thừng rằng không có chuyện Đức Giáo hoàng đã nói chuyện với Linh mục người Việt và Đức ông Gremillion cũng không co gặp Linh mục đó. Lời cải chính đó làm cho người tín hữu đâm ra vẩn vơ mơ màng, «Chẳng có ai nghĩ tới chuyện phải cải chính, khi Đức Giáo hoàng tiếp ông Thiệu với tất cả nghi thức long trọng. Thêm một bằng chứng nữa - nếu chúng ta cần thêm bằng chứng về những xu hướng lựa chọn của Vatican. (Nuovi Tempi, 11.11.1973).

Vatican xem ra chưa tách mình khỏi Hoa Kỳ. Ngày 6 tháng 7 năm 1974, Kitxingiơ đến thăm Đức Giáo hoàng, có mặt Khâm sứ Sài Gòn Lemaitre, dĩ nhiên là không phải để xin cho được thi hành Hiệp định Pari (!).

9 ─ GIÁO HỘI SAU HIỆP ĐỊNH PARI

Hôm trước ngày ký hiệp định, tổng thống Nichxơn tuyên bố ông chỉ công nhận một chính phủ hợp pháp của Nam Việt là chính phủ Thiệu. Tuy nhiên, Hiệp định Pari công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, là một trong hai bên của miền Nam Việt Nam. Hiệp định đòi phải lập ra một Hội đồng quốc gia gồm có chính quyền Sài Gòn, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam và Lực lượng thứ Ba, nhằm chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử tại miền Nam theo tinh thần hiệp nhất và hòa giải. Hiệp định đòi phải thả tất cả tù chính trị, ngoài các tù binh của hai bên.

Ngày 19-9-1973, Tổng giám mục Sài Gòn đọc diễn văn khai mạc Năm thánh, bài diễn văn chẳng những được phổ biến khắp Sài Gòn, mà còn đưa ra khắp tỉnh các miền Nam, bài diễn văn nhấn mạnh về sự hòa giải. Song tiếc thay, trong bài diễn văn hòa giải đó; Đức Tổng giám mục chỉ nói đến hòa giải giữa hai miền Bắc và Nam và im lặng chẳng nói gì tới một thực tế gấn gũi hơn, tức là Vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát. Ngài nói: «Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia». Lẽ ra, thực tế hơn, thì nên nói về sự hòa giải giữa Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời như Hiệp định Pari có tiên liệu. Tại sao Ngài không nói? Tại vì không muốn mích lòng Tổng thống Thiệu đang có mặt trong thánh lễ khai mạc năm thánh đó?

Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội nghị toàn thể hàng Giáo phẩm, các Giám mục miền Nam đã công bố một tài liệu có thể coi là tuyên ngôn của Giáo hội miền Nam sau Hiệp định Pari. Sau khi nhấn mạnh ước nguyện của các ngài là «xây dựng một nền hòa bình công bằng và hòa giải giữa những anh em cùng một dân tộc», các Giám mục tuyên bố:

«Sau việc ký kết Kiệp định Pari về ngưng bắn và lập lại hòa bình tại Việt Nam, mọi người đã hy vọng được thấy hiệu quả tốt của Hiệp định đó. Nhưng, ngược với sự trông chờ của mọi người, chiến tranh vẫn tiếp tục. Vì thế, một lần nữa, chúng tôi tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau».

Một lần nữa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời lại bị bỏ sang một bên. Hay đúng hơn, hàng Giáo phẩm miền Nam cho nó đứng chỗ khác: «Chúng tôi cũng đề nghị Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (miền nam) và các nhóm, hoặc đảng phái chính trị đối lập thuộc mọi xu hướng tại miền Nam, một đàng hãy đẩy mạnh việc dân chủ hóa các hoạt động chính trị và đàng khác, từ bỏ mọi cách chống đối có dùng vũ khí bạo động».

Bản tuyên ngôn của Hàng Giáo phẩm đã vấp phải sự phản đối đồng loạt, không những trong số tín hữu «Tiến bộ», mà cả nơi các chính trị gia Công giáo bảo thủ, xưa nay vẫn theo sát đường lối của Giáo hội. Người thì bàng hoàng, kẻ thì tức giận. Một nghị sĩ Công giáo bảo thủ lấy làm tiếc vì các Giám mục đã không chịu bàn hỏi những người có sở trường, trước khi lên tiếng về lãnh vực chính trị với những lời lẽ có thể gây lộn xộn và tác hại cho ước nguyện chung của dân tộc. Báo Chính Luận, một tờ báo cánh hữu, viết trong bài xã luận rằng «lời tuyên bố của các Giám mục là một món quà quí giá cho Chính phủ». Nguyễn Ngọc Lan trong Đối Diện nói thêm: «Giữa người lớn với nhau, người ta thường trao đổi quà cáp nhân dịp Tết nhứt. Các Giám mục mình sẽ nhận lại món quà gì? ». Nhật báo Hòa Bình tự hỏi rằng, khi các Giám mục bỏ quên Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong bàn Tuyên bố có phải đó là một cách phá hoại Hiệp định Pari (như Thiệu làm) chăng? Một nhóm Công giáo cho phổ biến một tài liệu cho rằng hàng Giáo phẩm «không có thẩm quyền nhân danh Giáo hội mà phàt biểu về các vấn đề trần gian» và hy vọng rằng từ nay, khi các Giám mục bàn về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội hoặc văn hóa, hãy hỏi anh em giáo dân có sở trường đang dấn thân và đang quan tâm các vấn đề đó. Tin Mừng Hôm Nay, tạp chí lậu được xuất bản thay thế Chọn đã bị chính quyền cấm tiếp tục, cho biết rằng một đàng các Giám mục không biết điều khoản số 10 Hiệp định Pari và đàng khác, các ngài vẫn đi theo một luận đề của Mỹ, đã bị chính quyền người Mỹ từ bỏ lâu ngày rồi, một luận đề hoàn toàn đối nghịch lại Hiệp định Pari, một bản Hiệp định mà toàn thể nhân dân Việt Nam coi là cơ sở khả dĩ có thể dẫn tới hòa giải dân tộc.

Khi đọc bản văn trên của các Giám mục, người ta thấy ra được mối nợ còn đè nặng trên hàng Giáo phẩm Miền Nam. Quen thuộc với luận thuyết lẫn lộn «Cộng sản – Quốc gia», hàng Giáo phẩm chia dân Việt Nam ra hai loại: loại người dân sống trong chế độ «quốc gia» và loại người sống dưới chế độ «Cộng sản». Nói tới hai chế độ «Cộng sản» của Hà Nội và của Cách mạng Lâm thời, là xóa mất phạm trù truyền thống đó. Phải chăng hàng Giáo phẩm sợ sa vào «bãy Cộng sản?». Tháng 11 năm 1969, hai đức cha Nguyển văn Bình và Phạm ngọc Chi, chủ tịch Hội đồng Giám mục miền Nam, do áp lực của Vatican, đã xin được tới phát biểu tại bàn Hội nghị hòa bình Pari. Các phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chù Cộng hòa và của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã phúc đáp sẵn sàng gặp các vị, nhưng không có mặt phái đoàn Mỹ và Sài Gòn. Các Giám mục đã nghĩ là không nên gặp hai phái đoàn đó như thế, lý do là «vì không muốn bị Cộng sản lợi dụng khai thác. Lập tức sau đó, họ đã qua Mỹ. Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời còn tuyên bố năm 1972 rằng, các Giám mục sẽ luôn được tiếp đón tại trụ sở của phái đoàn tại Pari.

Các phương cách thực hiện hòa giải và lập lại hòa bình tại miền Nam Việt Nam đã được tiên liệu trong bản Hiệp định Pari: lập ra Ủy ban Hòa hợp và hòa giải gồm 3 thành phần. Hôm sau ngày ký Hiệp định, Tổng thống Thiệu không chịu thừa nhận có lực lượng thứ Ba. Ông tuyên bố rõ: «Chỉ có Cộng sản và Quốc gia; ai không theo chúng tôi là kẻ thù của chúng tôi». Phải chăng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nếu trong tài liệu của Hội Đồng giám mục miền Nam chẳng nhắc gì đến lực lượng thứ Ba, Ủy ban Hòa Hợp và hòa giải?

Một điểm quan trọng khác của Hiệp định Pari là việc thả tù chính trị. Nhiều ủy ban điều tra đã được phái tới do các Giám mục Bắc Mỹ, chẳng hạn Giám mục Gămblơntơn (Gumbleton), Giám mục phụ tá Đitroy và Giám mục Bêlăngiê, địa phận Vanđêfiu. Hội Ân xá quốc tế và Ủy ban Nam Việt đòi cải thiện chế độ lao tù, đều đã đưa ra đầy đủ chứng cớ, rằng chế độ Sài Gòn còn giam giữ 200.000 tù nhân chính trị vào mùa hè 1973. Thiệu chỉ trả lời: Không có tù nhân chính trị, chỉ có những tội phạm Cộng sản thôi».

10 ─ GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ THAM NHŨNG

Một trong các vấn đề quan trọng của tài liệu hàng Giám mục liên quan đến miền Nam là vấn đề tham nhũng. «Chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng hòa… hãy diệt tận gốc các tệ nạn xã hội, nhất là nạn hối lộ và tham nhũng trong chính quyền. Chúng tôi xem rằng đất nước này sẽ bị mất vì nạn tham những, hối lộ, nhất là khi nó lại do các kẻ cầm quyền phạm lỗi».

Lời kêu gọi đó dấy lên một «Phong trào chống tham nhũng» được 301 linh mục bảo trợ bằng bản tuyên bố ra ngày 18-6-1974. Các linh mục này nêu rõ rằng «nền tảng của cơ quan lãnh đạo đất nước chính là sự tham nhũng».

«Nạn mua bán các chức vụ trong chính quyển và quân đội đã biến đời sống xã hội thành một trận địa không còn tình thương, không còn ngơi nghĩ… Dưới sự bao che của những kẻ thế lực, việc buôn bán ma túy, các tổ chức ăn cướp, cờ bạc, đĩ điếm và chợ đen đã xô cả xã hội vào một cảnh sa đọa khiến cho nạn trộm cướp, hãm hiếp… lan tràn khắp nơi… như chưa từng xảy ra trong lịch sử.

«Hai chữ «chống Cộng»: đã được những kẽ tham ô lợi dụng như các nút thần đế trám miệng dân chúng, vì bất kỳ ai mà không được nâng đỡ về mặt chính trị, đều có thể bị kết án là có liên lạc hoặc buôn bán với Việt Cộng».

Trong một thư gửi Tổng thống Thiệu, linh mục Trần hữu Thanh, người chủ xướng phong trào chống tham nhũng, phê phán chế độ một cách không còn tiếc lời.

1. Báo chí không được quyền tự do ngôn luận…

2. Dân chúng thì chỉ còn Quốc hội và Thượng viện… Khốn thay, với tiền bạc và áp lực, ông đã mua đứt phần lớn các nghị sĩ và dân biểu để biến họ thành một lũ nô dịch… Còn nghị sĩ và dân biểu nào tìm cách bảo vệ sự liêm chính, thì tiếng nói của họ chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, nếu không bị coi là Cộng sản…

3. Các tôn giáo qui tụ hàng triệu tín đồ không được tự do hành đạo và không được phép nói lên ý kiến xây dựng của mình…». Sau khi đã nêu ra các trường hợp tham nhũng, bức thư kết luận: «Ông biết rõ hơn ai hết, tội lỗi đó đổ lên kẻ cầm đầu. Tiếng kêu than của dân chúng vang thấu trời, vì nạn tham nhũng là lưỡi kiếm giết họ từ từ».

Xem bề ngoài, phong trào này gây vài khó khăn cho chính quyền, nhưng chính quyền chẳng sợ bao nhiêu, từ 25 năm nay, tham những luôn gắn chặt với các chính quyền «quốc gia» vốn lệ thuộc một cường quốc ngoại bang, là Pháp rồi tới Mỹ. Không nên quên rằng chừng 10.000 cố vấn Mỹ lúc này vẫn còn ở Sài Gòn. Đàng khác, chính quyền có một con bài rất gớm: Giáo hội thì giàu có và Giáo hội cũng đâu có thoát khỏi tham nhũng. Người ta đọc thấy trong một báo cáo cuối tháng 5-1974 do một cơ quan viện trợ quốc tế biên soạn như sau: «Giáo hội Công giáo tại miền Nam có một ngân hàng lớn tại Sài Gòn (Đại Nam), những cách sạn hạng nhất (Caravelle), những nhà hàng (Kim Đô), những dãy nhà cho thuê (Lam Sơn, bin-đinh Tax) v.v… kỹ nghệ từ việc mai táng cho tới nhả máy giấy. Điều dân chúng thường nói cho thấy thực tế đó, đất nước chúng tôi nằm trong tay Ba Tàu và Giáo Hội…»

Từ Hiệp định Pari, các tổ chức từ thiện quốc tế như Caritas, Corev đã cấp cho các Giám mục hàng triệu đô la để tái thiết. Tiền bạc xem ra được xử dụng trong việc thiết lập các trại tị nạn, nhiều khi có sự hơp tác của chính quyền, nhằm ngăn cản họ khỏi trở về quê cũ trồng trọt đất đai tổ tiên, bởi vì các vùng đất ấy nằm trong vùng do Chính phủ Cách mạng Lâm thời kiểm soát. Hiệp định Pari bảo đảm cho họ quyền tự do trở về quê cũ, Thiệu đã thành công ngăn cản họ nhờ các trại nói trên, có binh lính canh giữ cẩn thận. ‘Viện trợ tài chánh được cấp rộng rãi và không cân nhắc, tạo ra một thái độ quan liên tiêu biểu nơi các lãnh tụ tôn giáo tại Nam Việt. ». Bản báo cáo trên còn nói như vậy.

Tất cả các nhà quan sát nước ngoài có chú ý một tí, tất cả người dân Việt nam đều công nhận rằng «Giáo hội là một hòn đảo trù phú giữa đại dương nghèo đói» của Nam Việt. Linh mục Gheddo, chủ nhiệm tờ Mondo e Missione, vốn công khai bênh vực thái độ Giáo hội miền Nam, đã phải viết trong một bản phúc trình bí mật gửi cho Vatican ngày 30-1-173 như sau: «Thật là gương mù gương xấu, khi thấy Giáo hội cứ tiếp tục xây cất những kiến trúc to lớn như nhà thờ, tòa Giám mục, chủng viện, dòng tu… đang khi 80-85% dân chúng miền Nam hiện còn phải sống trong các lều tranh vách ván… Vấn đề tiền bạc đòi phải viết trang này sang trang khác về các chuyện cụ thể tôi đã được nghe kể lại và lặp đi lặp lại khắp mọi nơi! Không nên tin tất cả những «lời» đó, nhưng điều chắc là ai cũng cả quyết rằng «Giáo hội tại Việt Nam đặt nền tảng trên tiền bạc, trên chuyện xoay sở tiền bạc, trên chuyện đầu tư tiền bạc... Phải nói rằng Việt Nam là biển tham nhũng (...). Tóm lại, lý do mà tất cả mọi người, linh mục, giám mục, tu sĩ nam nữ nói đến nhiều hơn hết là tiền bạc: chúng tôi thiếu vốn, chúng tôi thiếu sự giúp đỡ, thiếu của viện trợ v.v.. (...). Điều còn tệ hơn nữa là những trường hợp lừa đảo: các tu sĩ Biển Đức tại Ban mê Thuột có xưởng cưa, họ lường gạt dân miền núi khi mua rẻ cây cối dân Thượng chở tới, rồi lại đem bán giá cao và lừa dối người mua cả về phẩm chất của cây gỗ. Các tu sĩ Xalêdiêng mua xi măng rẻ tiển về Sài Gòn, đem chở đi với hai linh mục áp tải để tránh thuế vụ (tại Việt Nam, các linh mục tự do làm mưa làm gió) và bán lại giá cao tại Đà Lạt. Một viên đồn điền người Ý tại Ban mê Thuột đã có tuổi và đáng tin cậy, đã khẳng định với tôi rằng, khắp đó đây tại Việt Nam, Giáo hội bỏ tiền ra mua các vùng đất bị bỏ hoang vì chiến tranh: mua với giá rẻ mạt mà lại khỏi đóng thuế sang tên. Khi vùng này trở lại cuộc sống bình thường (hoặc nay mai sẽ bình thường), thì các đám đất ngon nhất đã nằm trong tay các Giám mục, Linh mục, Hội đồng... Người ta có cảm giác rằng, Giáo hội mắc phải chứng «bịnh xây cất và kiếm tiền' và có thể cả quyết rằng, trong cảnh nghèo đói chung và cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay, Giáo hội là cơ quan duy nhất có tầm cỡ quốc gia, vẫn tiếp tục xây cất mở mang, có những phương tiện lớn lao và những con người được chuẩn bị cho việc đó. Một linh mục (giám đốc tờ nhật báo Thắng Tiến) đã nói với tôi rằng đó là dấu hiệu phúc lành Chúa ban.”

Chúng tôi đã trích cả một đoạn dài của bản phúc trình mật nói trên. Các sự kiện do tác giả ghi nhận, không phải lá quần chúng Việt Nam không hay biết. Tin mừng hôm nay, cũng đầy dẫy các mẫu chuyện loại đó, thậm chí, còn tăm tối hơn. Có những nhà quan sát từ Việt Nam về đã nhận xét tương tự tại Ý, Pháp, Mỹ, nhưng Giáo hội vẫn bịt tai làm ngơ. Người ta còn dám cho rằng «những tiết lộ đó về sự giàu có và các phương tiện không chính đáng của Giáo miền Nam gây thiệt hại cho Giáo hội.”

Có thể có xu hướng nghĩ rằng sự dính bén Mammon đó chỉ tiêu biểu những lúc yếu đuối nhất thời của Giáo hội Chúa Kitô tại miền Nam. nhưng người ta sẻ bỡ ngỡ khi đọc một bài giải thích của Thư ký thường trực Hội đồng Giám mục châu Á năm 1970 như sau: «Phải công nhận rằng Hội nghị Giám mục châu Á, bị lung lay bởi tình hình hiện nay ở châu Á và quá say sưa với những chương trình phải thực hiện không thoát khỏi những kiểu công thức một chiều và mị dân khi tuyên bố «chúng tôi phải là Giáo hội của người nghèo» hoặc «chúng tôi phải trở nên Giáo hội của giới trẻ», bởi vì «Giáo hội là của mọi người». (Thắng Tiến, 17-2-1974).

Giáo hội trở nên giàu có, một phần nhờ thỏa thuận hiệp với Nhà nước. «Đây là sự thật: tôi có nghe những lời phê bình đó nhắm vào chế độ Thiệu, kể cả những người của chính quyền...: trái lại, nói chuyện với linh mục và giám mục, tôi chỉ nghe họ bênh vực Thiệu như bức lũy cuối cùng chống lại Cộng sản». Cha Gheddo còn nói: «người ta biết rằng tháng 9-1971, trong cuộc bầu cử độc diễn nổi tiếng, nhiều người thuộc nhiều xu hướng và tôn giáo khác nhau đã kêu gọi dân chúng tẩy chay «cái trò bầu cử» đó. Nhưng Hội đồng Giám mục đã công bố một thư chung bắt buộc người Công giáo phải đi bỏ phiếu cho Thiệu».

Đường lối một chiều đó, được nhiều sự kiện cụ thể minh chứng, vẫn không được sửa đổi, mặc dù có bức thư của 301 vị linh mục chống tham nhũng.

Dẫu sao, dầu công việc sẽ kết thúc thế nào đi chăng nữa, Giáo hội Công giáo vẫn còn là một trong những rường cột của chế độ Sài Gòn và hầu như chẳng đem lại một đóng góp nào cho việc giải quyết tấm thảm kịch Việt Nam theo Hiệp định Pari.

Đàng khác, dưới con mắt của chính quyền và dư luận quần chúng, những người duy nhất có thẩm quyền để phát biểu «nhân danh Giáo hội» là các Giám mục, chứ không phải cá Linh mục hay Giáo dân.

11 ─ GIÁO HỘI TRONG VÙNG GIẢI PHÓNG

Tình hình hoàn toàn khác tại Vùng doo chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam kiểm soát. Người ta biết rằng Mặt trận Giải phóng được thành lập từ năm 1960 dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Hữu Thọ, một trong những người tù thoát khỏi ngục Ngô Đình Diệm. Được tổ chức trong bưng hiền, đứng ra đấu tranh chống nạn độc tài của Diệm và sự xâm chiếm của Mỹ. Mặt trận Giải phóng cũng như Việt Minh, bao gồm mọi thành phần dân miền Nam, không phân biệt đảng phái, xu hướng chính trị và tôn giáo. Trong ban lãnh đạo, có người Công giáo ngồi bên cạnh Phật tử; có người Tin lành với người Cộng sản. Theo chiến thuật «tát nước bắt cá», quân đội Mỹ đã tìm cách đuổi dân chúng khỏi vùng nông thôn, để quân du kích không còn sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân nữa. Mặt trân Giải phóng vì thế, kiểm soát được nhiều đất, nhưng chỉ có ít dân. Theo lời của cha Trần Quang Nghiêm, một trong số ít ỏi linh mục đã ở lại trong vùng giải phóng, nhiều Giám mục đã ra lệnh cho các Linh mục phải rời khỏi các làng bị Mặt trận chiếm đóng và tìm cách tập trung giáo dân lại trong cái trại tị nạn do Mỹ dựng nên. Làm như thế là để bảo vệ đức tin. Tháng 4 năm 1974, trong lúc Quãng Trị bị tấn công, Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền đã khuyên các Linh mục nên ở lại với giáo dân. Có vài Giám mục đã trách đức cha về việc làm đó.

Trong những giai đoạn thăng trầm bi thảm của cuộc chiến Việt Nam, Giáo hội cơ cấu, tức hàng Giáo phẩm, thường nói về người của Mặt trận Giải phóng với những từ ngữ khinh dễ và kết án, cho là «Việt Cộng» phản loạn, Cộng sản xâm lăng, quân khủng bố, gian ác. Người ta đã thấy vai trò của nó trong chiến tranh. Và cả sau Hiệp định Pari, hàng Giáo phẩm vẫn làm như không biết gì tới chính phủ Cách mạng Lâm thời - một trong những bên đã ký vào Hiệp Định - hoặc chỉ gọi đó là «tay chân của Hà Nội» thôi. Và chính trong môi trường Công giáo, người ta nói nhiều nhất về những vụ hạ sát linh mục, bắt bớ tôn giáo tại vùng đất của chính phủ Cách mạng Lâm thời, cũng như «cuộc tắm máu» phải xảy ra nếu Mặt trận Giải phóng thắng được chính quyền Sài Gòn.

Trong vùng do chính phủ Cách mạng Lâm thời quản lý - một vùng ranh giới không rõ ràng, cứ thay đổi thường - ban đêm thì mở ra rất rộng, còn ban ngày thì thu hẹp lại - đời sống của giáo dân chẳng khác gì của những tầng lớp quần chúng, nghĩa là vừa kháng chiến vừa sản xuất, và lúc máy bay địch ném bom thì phải xuống hầm trú ẩn. Dỉ nhiên cuộc sống ở đó chẳng yên ổn gì. Và những giới hạn hy sinh thì vô kể. Như trong mọi cuộc kháng chiến trên thế giới, có xảy ra những vụ bắt giữ và tình nghi, những vụ thanh toán bọn làm tay sai cho giặc, bọn phá hoại hoặc do thám, phải huy động dân chúng để lo việc phòng vệ. Nhưng không thể đưa ra chứng cớ cụ thể tàn sát linh mục hoặc giáo dân vì lý do tôn giáo, hoặc cố tình vi phạm tự do tín ngưỡng.

Nhằm phá hoại uy tín của Mặt trận Giải phóng và nhất là nhằm biện hộ trên dư luận quốc tế cho cuộc thánh chiến chống Cộng, bộ tuyên truyền Việt - Mỹ rất nham hiểm đã loan tin rằng Mặt trận Giải phóng tàn sát hàng loạt linh mục. Thực ra, một đàng, con số các linh mục Việt Nam bị giết, vì bom đạn của Mỹ hoặc do CIA ám sát, vượt xa con số các linh mục bị coi như do Việt Cộng sát hại. Đàng khác, nhiều vụ được thuật lại như là do Việt Cộng tàn sát, thực ra chẳng có bằng cớ nào cụ thể cả. Chẳng hạn vụ thảm sát tại Huế trong dịp tết 1968. Tại vùng Gia Hội, quân của Mặt trận Giải phóng củng đóng tại tu viện Biển Đức Thiên An mà không có một linh mục nào ở đó bị ngược đãi. Có hai tu sĩ người Pháp là Guy và Uyrbanh (Urbain), khi quân của Mặt trận Giải phóng rút lui khỏi tu viện trước sự phản công của Mỹ, thì họ còn sống, rồi sau đó người ta gặp thấy xác chết hai ông nằm bên ngoài tu viện. Báo chí Sài Gòn cho rằng đó là do Việt Cộng giết: những người khác thì lại nghĩ rằng bọ bị trúng bom Mỹ mà chết thôi.

Linh mục Gheddo, một người chẳng dịu dàng với Mặt trận Giải phóng, thuật lại một vị thừa sai Pháp đã từng sống tại vùng giải phóng 18 tháng như sau:

«Bản thân tôi, tôi chẳng có gì để phàn nàn cả: họ đã đối xử tử tế với tôi và ít ra giai đoạn đầu, tôi được tương đối tự do đi lại và chu toàn sứ vụ linh mục của mình. Và nếu cha mẹ tôi đã không nhờ trung gian sứ quán Pháp tại Hà Nội để đòi cho tôi được về, thì chắc tôi đã ở lại An Lộc, bởi vì ở đó tôi sẽ làm được rất nhiều điều hay. Đàng khác, một số niềm an ủi to lớn về mặt thiêng liêng cho đời thừa sai của tôi, tôi đã gặp được trong thời gian tôi chung sống giữa bà con giáo hữu và những người ngoại đạo và cả với những người bộ đội Bắc Việt từng tỏ tình tâm sự với tôi và đôi khi có đến xưng tội với tôi. Tôi đã không nghĩ tới chuyện trở về vùng đất thuộc Sài Gòn, nhưng khi họ cho tôi giấy phép để về, tôi đã xử dụng, bởi vì ngay cả đối với tôi, tình hình bắt đầu xoay chiều không có lợi: nghĩa là họ bắt đầu hãm phanh, kiểm soát tôi nghiêm nhặt hơn và sớm muộn e rằng rồi tôi cũng sẽ rơi vào một cái bãy nào đó, hoặc có ai sẽ tố cáo tôi chuyện này chuyện kia. Tôi phải nói rằng, cho tới ngày tôi ra, họ muốn tìm cách tố cáo tôi, song chẳng thấy ai, dầu ngoại đạo, hay giáo dân, chẳng chịu nói điều gì chống lại tôi cả».

Lời tuyên bố đó của một vị thừa sai Công giáo, phản ảnh đúng tâm não của Giáo sĩ đối với phong trào giải phóng. Một cách vô ý thức, họ cứ sợ rằng những người cách mạng này, đã cam chịu tất cả hy sinh trong đời, đã phải chấp nhận chiến đấu với vũ khí hết sức không cân đối chống lại một đại cường quốc như Mỹ, mà cứ rình chực hễ có lúc nào thuận tiện, là ra tay bách hại đồng bào Công giáo của họ và hành hạ các linh mục. Và chẳng bao giờ có chuyện họ làm hại các nhà sư Phật giáo! Tại sao vậy, thử hỏi xem...!

Một tiếng chuông khác của linh mục Việt Nam mà chúng ta thiết tưởng cũng là người đáng tin cậy: «Trong những năm 40, tôi là cha phó của một họ đạo thuộc vùng vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long, đó là họ đạo Cổ Cò, tỉnh Sóc Trăng: Tôi chăm sóc cho 400 gia đình nông dân lúc đó sống lây lất trong cảnh đói khổ: thiếu cơm gạo, thuốc men, mang nợ nần triền miên. Có những gia đình thiếu thốn độ hai người chỉ có một cái quần... tôi làm hết cách để giúp đỡ họ, nhưng thân phận họ vẫn không khá lên bao nhiêu. Xảy ra cuộc Cách mang tháng 8-1945. Chính phủ ban hành cải cách ruộng đất, giao đất cho người chưa có, và giảm tô cho các tá điền. Nhưng cuộc sống bà con giáo dân của tôi vừa mới kha khá một chút thì chiến tranh đã nổ ra. Quân đội Pháp, nhất là lính lê dương, đàn áp dân chúng rất dã man và bất cứ đi tới đâu là gieo rắc tàn phá và tang thương. Ngay các nhà thờ cũng không được chúng tha cho.

«Bấy giờ tôi nhận được lệnh (của Đức cha) phải rời khỏi vùng kháng chiến, ra vùng có quân lính Pháp chiếm đóng. Biết làm sao? Sự lựa chọn lúc này rất quan trọng. Giáo dân đang năn nỉ tôi đừng bỏ họ, tôi đã quyết định ở lại nơi tôi đang ở bấy lâu...

«Tại vùng giải phóng, khi nhìn thấy các chiến sĩ cách mạng không có đạo mà xả thân bất kể sự gì, để chăm lo cho kẻ khác, người Công giáo không thể không hồi tưởng lại câu chuyện thánh Mactin, đã từng chia áo choàng của mình cho người hành khất. Trong những lúc khó khăn, người ngoài Công giáo không bao giờ khước từ giúp đỡ chúng tôi một sự gì: săn sóc người ốm, sửa chữa nhà thờ v.v.. Thái độ đó khiến chúng tôi đoàn kết với nhau giữa mọi người, ngoài Công giáo với Công giáo, trong sự tôn trọng lẫn nhau. Chính trong bầu không khí đó mà đức tin Kitô giáo, chẳng những không sút giảm, trái lại không ngừng được tăng trưởng trong vùng giải phóng. Chúng tôi không có những thánh đường tráng lệ, không có những cuộc rước kiệu long trọng hùng vĩ, nhưng xuyên qua tình yêu thương tha nhân và sống công bằng chúng tôi làm chứng cho Đức Kitô».

Vị linh mục cao niên đó là cha Trần Quang Nghiêm vẫn sống tại vùng giải phóng dưới quyền kiểm soát của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Năm 1973-1974; theo chỗ chúng tôi biết, có độ nửa tá linh mục và mấy chục ngàn giáo dân, tạo nên một cộng đồng giáo hội sống động trong vùng giải phóng, ở đó chẳng phải là thiên đàng cũng không phải là địa ngục, nhưng đơn giản là một nửa phần đất Nam Việt nam, bị bom đạn Mỹ và thuốc độc hóa học tàn phá.


Trang Tôn Giáo