VÀI Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ BANG GIAO VỚI VATICAN Trần Chung Ngọc http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts34.php Một phái đoàn của Vatican sẽ đến Việt Nam ngày 16 tháng 2, 2009, để thương thuyết thiết lập liên hệ ngoại giao với Việt Nam, điều mà Vatican đã mong muốn từ lâu. Vatican biết rõ tín đồ Công giáo Việt Nam thuộc loại cuồng tín nhất trên thế giới, và tuyệt đối trung thành với Vatican Vatican nhất, nên muốn được chính thức quản trị và điều động hợp pháp số giáo dân này. Công giáo ở hải ngoại chống Cộng năng nổ nhất, với nhiều thủ đoạn xuyên tạc hạ cấp nhất. Còn Công giáo trong nước bất chấp luật pháp quốc gia: linh mục có những hành động côn đồ trong Tòa (Nguyễn Văn Lý), và giáo dân do sự điều động của TGM Ngô Quang Kiệt, trường kỳ cầu nguyện nơi không phải để cầu nguyện, làm xáo trộn đời sống xã hội trong thủ đô, để đòi lại vài mảnh đất ăn cướp được của Phật Giáo khi xưa. Đó là vài điều Việt Nam không nên quên. Việt Nam cũng không nên quên là gần đây, để khích động sự cuồng tín của tín đồ và tái tạo sách lược chống Cộng của Giáo hội Công giáo trong thế kỷ trước, giáo hoàng Benedict XVI đã mạnh mẽ lên tiếng lên án chủ thuyết quốc xã cũng như chủ thuyết Cộng sản vô thần. [Xin đọc bản tin của VietCatholic ngày 19/5/2005: “Linh Mục Đặng Thế Dũng: Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết cộng sản vô thần.”] Và trong đại hội giới trẻ Công Giáo ở Sydney năm ngoái, Giáo hoàng Benedict XVI đã chính thức tiếp nhận chiếc khăn quàng cờ vàng ba sọc đỏ, một biểu tượng của Công giáo chống đối một sống một còn với chính quyền Việt Nam, và quàng nó lên cổ. Những người đã từng nghiên cứu lịch sử Công giáo đều biết rõ rằng Công giáo đã từng liên kết chặt chẽ với phát xít Đức và Ý. [Xin đọc John Cornwell: Hitler’s Pope: The Secret History of Pius XII, 1999] Những tài liệu và hình ảnh về vấn đề này đã có đầy trong các thư viện và trên Internet [http://www.nobeliefs.com/nazis.htm] Trước những bằng chứng lịch sử bằng văn và bằng hình ảnh bất khả phủ bác như vậy mà ngày nay Giáo hoàng Benedict XVI lại lên án chủ thuyết quốc xã thì những lời lên án đó có giá trị gì. Ông ta không thể không biết đến những liên hệ của Giáo Hội Công giáo với những chế độ Phát xít Đức, Ý, và những lời lên án của ông đã quật ngược lại Giáo hội Công giáo La Mã, chứng tỏ đó chỉ là một hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả, đưa bộ mặt thánh thiện giả tạo của chính ông và giáo hội mà ông đứng đầu. Nhưng những hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả như vậy chỉ có thể lừa bịp được đám tín đồ ngu ngơ như Linh Mục Đặng Thế Dũng chứ không thể lừa bịp được ai khác. Thật ra, sự vô liêm sỉ và đạo đức giả của Benedict XVI trong việc lên án quốc xã chỉ là đi theo vết chân của Giáo hoàng Pius XII, Hitler’s Pope. Chúng ta biết rằng John Cornwell đã xuất bản cuốn Hitler’s Pope: The Secret History of Pius XII năm 1999 dựa theo những hồ sơ mật của Vatican mà ông được phép tham khảo, và những nguồn tài liệu của Đức về những hoạt động của Pius XII ở Đức trong những thập niên 1920, 1930 kể cả những cuộc thương thuyết của ông ta với Hitler trong năm 1933 [Two key officials granted me access to secret material: depositions under oath gathered 30 years ago to support the process for Pacelli's canonization, and the archive of the Vatican Secretariat of State, the foreign office of the Holy See. I also drew on German sources relating to Pacelli's activities in Germany during the 1920s and 1930s, including his dealings with Adolph Hitler in 1933.] Với hàng ngàn tài liệu tham khảo, John Cornwell đã thấy những gì? Chúng ta hãy nghe ông mô tả trong một đoạn ngắn.:
“Những bằng chứng nổ tung như bom. Lần đầu tiên chúng chứng tỏ Pacelli (tức giáo hoàng Pius XII) là người chống Do Thái có môn bài, qua chính những lời nói của ông ta. Chúng phanh phui ra rằng ông ta đã giúp Hitler lên nắm quyền lực và cùng lúc phá ngầm khả năng chống đối của Ca-Tô ở Đức. Chúng chứng tỏ ông ta đã phủ nhận và tầm thường hóa Holocaust, tuy rằng ông ta đã có những hiểu biết đáng tin cậy về mức độ của Holocaust. Và, tệ hơn nữa, ông ta là một tên đạo đức giả, vì sau chiến tranh ông ta đã vơ vào mình công lao thái quá là trong quá khứ ông ta đã nói thẳng ra để chống sự bạo hành của Nazi.” [The evidence was explosive. It showed for the first time that Pacelli was patently, and by the proof of his own words, anti-Jewish. It revealed that he had helped Hitler to power and at the same time undermined potential Catholic resistance in Germany. It showed that he had implicitly denied and trivialized the Holocaust, despite having reliable knowledge of its true extent. And, worse, that he was a hypocrite, for after the war he had retrospectively taken undue credit for speaking out boldly against the Nazis’ persecution.] Đạo đức vô đạo đức của các vị chủ chăn Công giáo như Pius XII, John Paul II thường là lắt léo, lá mặt lá trái như vậy, cho nên ngày nay chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy giáo hoàng Benedict XVI, nguyên là một phần tử trong đoàn Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler, lên án quốc xã. Bây giờ đến vấn đề Benedict XVI lên án Cộng Sản Vô Thần. Có lẽ vì suốt đời sống trong cái “bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã” (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism) cho nên Giáo hoàng Benedict XVI không hề được học rằng, giữa thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đã nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần của Do Thái trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo. Nhưng có vẻ như đám người ngu dốt này, qua sự bành trướng của Công Giáo, không chỉ giới hạn ở Âu Châu, không tiến bộ được chút nào trải qua đã vài thế kỷ, cho nên chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần” tràn ngập trên Internet, hầu hết từ phía những người Công giáo Việt Nam, hàm ý “vô thần” là một cái gì xấu xa, vì không chịu tin nhảm tin nhí vào ông thần Do Thái của họ. Thật là tội nghiệp cho họ. Họ có biết đâu “vô thần” là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức, và “vô thần” đã có trong suốt giòng lịch sử của nhân loại, trong khi Cộng Sản mới chỉ thành hình vào đầu thế kỷ 20. Tại sao họ lại đần độn và mù quáng đến độ ngày nay còn dùng đến chiêu bài “Cộng sản vô thần” như vậy? Vì họ đã bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt đầu óc, khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên trường đời. Họ là những người mù nhưng lại muốn dẫn đường cho những kẻ sáng. Họ là những người què quặt nhưng lại muốn phát cho những người lành lặn mỗi người một cặp nạng. Họ được dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất cứ giá nào, họ phải chống những người “vô thần” để duy trì sự mù quáng và những cặp nạng của họ. Họ không thể hiểu được rằng, đối với những người vô thần thì thần của Ki-Tô Giáo cũng như lông rùa, sừng thỏ, không thể có, không thể hiện hữu, cho nên chống cái không có, không hiện hữu, là một chuyện phi lý, không có mấy ai có đầu óc đi làm chuyện phi lý đó. Đọc danh sách những người “vô thần” chúng ta thấy hầu hết đều là những danh nhân trí thức trên thế giới, trong khi đọc danh sách những giáo hoàng Công giáo, những người “hữu thần” nặng ký nhất, chúng ta thấy không thiếu gì những kẻ ngu dốt, ác độc, giết người, loạn luân, phạm đủ mọi thứ tội ác thế gian. Vậy “vô thần” hơn hay là “hữu thần” hơn? Những cuộc thánh chiến tôn giáo, những tòa án xử dị giáo, những cuộc tra tấn nơi hình ngục, những cuộc thiêu sống con người, những cuộc săn lùng phù thủy, những cuộc chiếm đất diệt chủng của Ki-Tô Giáo, hai cuộc thế chiến vào thế kỷ 20 v..v.., là do “vô thần” hay “hữu thần” gây ra? Benedict XVI có biết đến lịch sử vô cùng tàn bạo đẫm máu của chính giáo hội Công giáo La Mã trên khắp thế giới không? Trong khi lịch sử của “Cộng sản vô thần” (sic) chỉ thu hẹp trong một số địa phương và có đáng kể gì so với lịch sử tàn bạo của Công giáo? Vậy Benedict XVI lấy tư cách gì để mà lên tiếng kết án chủ thuyết Cộng Sản vô thần? Cho nên, mười ngàn lời lên án Cộng Sản Vô Thần của Benedict XVI cũng không thể xóa bỏ được ảnh hưởng của Cộng Sản trong vấn đề làm Công Giáo suy sụp trên thế giới. Như vậy, thực chất những lời lên án chủ thuyết quốc xã và chủ thuyết Cộng sản vô thần của Benedict XVI là hoàn toàn vô giá trị, chỉ có tính cách ngụy quân tử và khuyến khích tín đồ Công giáo Việt Nam hãy tích cực chống Cộng. Giáo hoàng lên án chủ thuyết Cộng Sản Vô Thần là điều tất nhiên vì Công Giáo vốn không đội trời chung với Cộng Sản, một ý thức hệ đối nghịch với ý thức hệ Công giáo và đã đưa Công giáo vào một bước ngoặt lịch sử trên con đường suy thoái. Hiện tượng suy thoái của Công Giáo La Mã trên khắp thế giới, nhất là ở Tây Phương, cái nôi của Công Giáo trước đây, đã là điều hiển nhiên đối với những người để tâm tìm hiểu. Vì vậy, Công Giáo đang có nỗ lực cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú, nơi đây đám đông quần chúng còn nghèo và không có cơ hội học hỏi tìm hiểu để mở mang trí tuệ, để có cùng trình độ hiểu biết và suy luận về tôn giáo như đa số người dân Tây Phương, cho nên dễ bị mê hoặc bởi những mồi vật chất nhỏ nhoi và bởi những điều mê tín hoang đường đã không còn chỗ đứng ở Tây Phương. Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan v..v.. là những miền đất tốt để cho Công Giáo thực hiện âm mưu mang đồ phế thải ở Âu Mỹ tới trồng cấy đàng sau chiêu bài cải đạo Á Châu, với hi vọng có thể xóa bỏ nền văn hóa Đông Phương, biến con người thành những đàn chiên, tuyệt đối tuân phục Vatican như những tín đồ trong thời Trung Cổ trước đây. Ở Thái Lan, Công giáo và Tin Lành đã công khai in ấn những tài liệu xuyên tạc, phỉ báng Phật Giáo. Nhưng ở Trung Quốc và Việt Nam, Công Giáo không thể tự do hoành hành. Vì vậy từ nhiều năm nay, Vatican luôn luôn muốn ve vãn Trung Quốc và Việt Nam để đi đến thiết lâp bang giao, những nước xã hội chủ nghĩa không chấp nhận cho con dân của nước mình phải lệ thuộc một thế lực ngoại bang mà thực chất chỉ là một tổ chức thế tục. Muốn biết rõ bộ mặt thực của Vatican xin hãy đọc rất nhiều tài liệu về Vatican trên Việc thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa Việt Nam và Vatican thực ra không phải là vấn đề, vì trên thế giới đã có nhiều nước bang giao với Vatican. Toàn thể Âu Châu đều bang giao với Vatican nhưng Vatican không còn ảnh hưởng gì nhiều trên những quốc gia mà khi xưa có thể nói là toàn tòng Công giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha. Lý do là dân trí ở các nơi đây đã cao, cho nên dù là tín đồ Công giáo người dân cũng chỉ theo trên hình thức và thần quyền cũng như thế quyền của Vatican khi xưa đã không còn một tác dụng nào trên xã hội. Mới đây, ngành tư Pháp Ý còn ra lệnh phải tháo bỏ những cây thập giá treo trên các tường của trường học, và xe ô-tô- búyt còn mang bảng hiệu “Thiên Chúa có thể không hiện hữu”. Nhưng đối với Việt Nam thì có khác. Chỉ chiếm 7% dân số mà họ đã tự tung tự tác coi thường pháp luật, coi giáo luật của Công giáo đứng trên hết, như lời khẳng định của hội đồng giám mục Việt Nam trước yêu cầu của Nhà Nước muốn thuyên chuyển một số linh mục làm loạn ra khỏi địa phần Thủ Đô Hà Nội. Đó là khi mà Vatican chưa có thực quyền trực tiếp đối với giáo dân Công giáo ở Việt Nam. Tuy nhiên, có hai vấn đề cần được đặt ra. Nhà Nước cần phải biết rõ mình bang giao với ai, một quốc gia thế tục như mọi quốc gia khác, hay một tôn giáo? Như vậy, điều cần thiết là Vatican cần khẳng định với Việt Nam: Vatican là một quốc gia thế tục hay là một tôn giáo?
Nếu là một quốc gia như mọi quốc gia thế tục khác thì việc bang giao với Vatican là chuyện tất nhiên, cũng như Việt Nam đã bang giao với nhiều quốc gia khác, và cũng lẽ dĩ nhiên, vì là ngoại bang, Vatican không được có một bất cứ quyền hạn nào đối với con dân Việt Nam, bất kể là họ theo tôn giáo nào.. Nếu chỉ là một tôn giáo thuần túy lo việc tâm linh của tín đồ của một tôn giáo trong vô số tôn giáo trên thế gian, thí dụ như Hồi giáo, Do Thái giáo, Ấn Độ Giáo v..v.. , thì không có lý do gì để Việt Nam phải bang giao với một tôn giáo, nhất là tôn giáo này đã đưa đến Việt Nam nhiều hệ lụy và còn đang nắm giữ đầu óc của 5-7% dân số người Việt. Nếu Vatican vừa là một quốc gia thế tục vừa là một tôn giáo thì có lẽ Việt Nam cũng cần phải đắn đo suy nghĩ xem bang giao như thế nào, có những điều kiện và tiêu chuẩn nào v..v…, nhất là trong thời điểm này, khi mà giáo dân Việt Nam chưa mở mang trí tuệ đủ để hiểu rằng tôn giáo là việc riêng tư, giáo luật của tôn giáo nào chỉ có giá trị trong tôn giáo đó, và người Việt Nam phải được giáo dục để đặt lòng yêu nước lên trên hết. Mặt khác, trước khi bang giao với Vatican, Việt Nam có nhiều điều cần phải giải quyết với Vatican. Nhà Nước cần giải quyết dứt khoát với Vatican: - những vấn đề lịch sử khi Công Giáo đến Việt Nam, nhất là trong thời kỳ Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và sau đó; - vấn đề những đất đai và tài sản mà Công Giáo đã dựa vào thế lực của thực dân Pháp và của chế độ Công giáo Ngô Đình Diệm trong 9 năm ở miền Nam để cướp đoạt của Việt Nam; - những hệ lụy mà Vatican đã mang đến Việt Nam; - những giáo lý và thực chất của Thiên Chúa trong Kinh Thánh của Công giáo và truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam v..v…, - và nhất là vấn đề tôn trọng chủ quyền Việt Nam trong mọi hình thức hoạt động xã hội cũng như tôn giáo ở Việt Nam. Đây là những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết một khi cuộc bang giao đã hình thành. Và ngày nay, nếu muốn, Nhà Nước có thể có đầy đủ tài liệu về những vấn đề này để đặt trên bàn đối thoại thương thuyết với Vatican. Như vậy, bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng Việt Nam cần phải “biết mình, biết người”. Việt Nam cần phải biết rõ chính mình và quan trọng hơn nữa là cần phải biết rõ Vatican. Hi vọng người dân trong nước, nhất là khối Phật Giáo, có thể tích cực giúp Nhà Nước trong vấn đề biết rõ truyền thống văn hóa Việt Nam. Biết rõ Vatican trong chính sách đối ngoại là vấn đề then chốt có ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc, của “dân vạn đại”, chứ không chỉ ảnh hưởng đến một Đảng, một tôn giáo, hay một chế độ “quan nhất thời”. Cũng vì vậy mà Nhà Nước cần sự góp ý của người dân, những người dân không thuộc thế lực phi dân tộc và tất nhiên phản dân tộc. Hi vọng bài viết này có thể góp được một phần, dù nhỏ nhoi, trong chính sách đối ngoại của Nhà Nước đối với Vatican, qua một số thông tin về bản chất, chủ trương của Vatican, và nhất là thực lực của Vatican trên thế giới ngày nay. Việt Nam là một nước Phật Giáo, điều này không ai có thể chối cãi, đại lễ Vesak vừa qua đã chứng tỏ như vậy. Nhưng ý thức tôn giáo của Việt Nam là một ý thức chiết trung, nghĩa là dung hòa mọi tín ngưỡng. Do đó tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) Đồng Nguyên đã là một vết son đậm trong lịch sử tôn giáo của Việt Nam. Truyền thống văn hóa cao cả này của Việt Nam hoàn toàn đối ngược với những tôn giáo độc thần như Ki-Tô-Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo, những tôn giáo cho rằng con người chỉ có quyền được thờ thần của họ, dù rằng thần của họ chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của người dân miền Trung Đông trong thời kỳ bán khai mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong những xã hội văn minh tân tiến. Những bằng chứng khoa học ngày nay đã chứng tỏ rõ ràng như vậy hơn bao giờ hết. Tôi nghĩ rằng Nhà Nước Việt Nam cũng nên biết rõ thực lực và thực chất của Vatican và Công giáo ngày nay trên thế giới ra sao để có thể đi đến một quyết định sáng suốt trong vấn đề đi tới thiết lập liên hệ ngoại giao với Vatican. Tôi hi vọng một số tài liệu sau đây có thể giúp Nhà Nước nắm rõ vấn đề hơn.
Công giáo là một tôn giáo, theo như Robert G. Ingersoll,mạnh về số đông nhưng rất yếu kém về trí thức. Và khi trí tuệ con người mở mang tiến bộ như ở Âu Châu thì Công giáo phải suy thoái. Thật vậy, nữ học giả Công giáo Joane H. Meehl, người mà sau khi đã thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo hội Công giáo từ thế kỷ 4 tới nay, đã viết trong cuốn "Người Tín Đồ Công giáo Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau: "Đạo Công giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái" (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being). Những điều trên không phải là những nhận định vu vơ mà đã là những sự kiện mà chính Giáo hoàng Benedict XVI cũng phải thú nhận gần đây. Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì Giáo hoàng Benedict XVI đã lên tiếng phàn nàn như sau: - “Những tôn giáo chủ đạo Tây Phương có vẻ đang chết dần vì các xã hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa” [Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God]. - “Trong khi đức tin ở các nước đang phát triển đang lên thì ở Tây Phương lại khác, một thế giới chán ngấy với chính nền văn hóa của mình [Thật ra Tây Phương chán ngấy nền văn hóa Ki Tô Giáo chứ không phải là nền văn hóa Tây Phương, Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đã nhập nhằng đánh đồng nền văn hóa Tây Phương, một nền văn hóa thiên về suy lý sáng tạo, với nền văn hóa Ki-Tô Giáo, một nền văn hóa thiên về một đức tin mù quáng. TCN] nơi đây không còn bằng chứng về một sự cần đến Thiên Chúa, và ngay cả sự cần đến đấng Ki-Tô lại còn ít hơn nữa ” [It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there's no longer evidence for a need of God, even less of Christ]. - “Trong một số quốc gia tiến bộ có khi chỉ có 5% giáo dân đi xem lễ ngày Chủ Nhật” [Participation at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent.] - “Benedict cũng tỏ ra rầu rĩ về vấn đề những tín đồ Ca-Tô ly dị đã tái hôn mà không cần đến phép hủy hôn của Giáo hội. Ông ta khẳng định lại là những người này không thể được hưởng bí tích ăn bánh thánh nhưng nhấn mạnh là họ nên nghĩ rằng họ vẫn còn ở trong giáo hội.” [Benedict also expressed sadness at the plight of divorced Roman Catholics who remarry without getting an annulment, reaffirming that they cannot receive Communion but streessing they should feel they still belong to the church.] - Benedict nói: Sự “vui mừng” về số lượng các linh mục gia tăng trong các nước đang phát triển thì kèm theo một “sự cay đắng hiển nhiên” vì một số các linh mục tương lai chỉ theo đuổi một đời sống tốt đẹp hơn. [Đồng nghĩa với “theo đạo có gạo mà ăn”] Trở thành linh mục, là họ trở thành như một ông tù trưởng, đương nhiên được hưởng sự ưu đãi và có một lối sống khác.[Benedict said the "joy" at the growing numbers of churchmen in the developing world is accompanied by "a certain bitterness" because some would be priests were only looking for a better life."Becoming a priest, they become almost like a head of a tribe, they are naturally privileged and have another type of life.] (Điều này thật đúng vì thống kê cho biết đa số chủng sinh vào nghề linh mục ở Mỹ hiện nay là gốc Mễ và gốc Mít, chẳng phải là vì “ơn kêu gọi” của Thiên Chúa mà vì ông Washington trên những tấm giấy xanh gọi. Báo Chicago Tribune ngày 11 tháng 12, 2005 đăng mẩu tin: “Vào thời điểm mà có ít tín đồ Công giáo Mỹ biểu lộ sự thích thú vào nghề linh mục, những người Mỹ gốc Việt là một sự bất thường. Họ là khối thiểu số lớn thứ nhì trong các trường dòng, chỉ hơi ít hơn những người Mễ, trong đó có một số người già, như Trinh Quang Le, đã 51 tuổi” [At a time when fewer American Catholics are expressing interest in the priesthood, Vietnamese-American men are an anomaly. They are the second-largest minority ethnic group in seminaries, only slightly behind Hispanics. There are a few older seminatians, like Trinh Quang Le, 51…]. TCN). Lẽ dĩ nhiên những người Mỹ gốc Việt này xuất thân từ những gia đình có truyền thống Bùi Chu - Phát Diệm – Hố Nai – Gia Kiệm và những chuyên viên “bảy nghề”. Đó cũng là vấn đề tại sao Vatican rất thích thú với tín đồ Công giáo Việt Nam và mong muốn được mang đồ phế thải ở Âu Châu về tích cực mở mang nước Chúa ở Việt Nam Những lo ngại của Benedict XVI không phải là vô căn cứ vì tình hình Công Giáo ở Âu Châu đang suy thoái một cách thê thảm. Ngày nay Vatican chỉ còn dựa trên đám tín đồ thấp kém, hơn 70% thuộc thế giới thứ ba và một vài ốc đảo ngu dốt ở Á Đông, nơi đây tổng số tín đồ chỉ chiếm nhiều nhất là 2% dân số Á Đông. Đây chính là thực lực thực sự của Công Giáo La Mã. Nhưng bộ máy tuyên truyền của Vatican với sự phụ họa của đám con chiên nô lệ vẫn cố sức đưa ra những hình ảnh hào nhoáng không thực về thực lực của Vatican. Thật vậy, tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo La Mã nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một tình trạng đã rõ rệt, không ai có thể phủ nhận. Một vài tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rõ hiện tượng này. Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương trình TV 6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau: Trang 242: Âu châu đã trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đã gọi là lục địa của những “người ngoại giáo đã được rửa tội”. Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương trình truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đã trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”. Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) thì:Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế thì sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu. [Nếu có một Thượng đế]. Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục. Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo. (Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”. In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent. For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe. The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism. They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..) Trang 244: Ở Anh Quốc: Tình trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị. Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn còn là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế thì ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ... Hình ảnh này đã hoàn toàn thay đổi. Sự truyền nhiễm đã tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ ở miền quê, cũng đã bị nhiễm độc. Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%. Các nhà thống kê tranh cãi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào. Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%. Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4 có dưới 100 tín đồ.. Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn. Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Trưởng Lão Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn. Tuy nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp. Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.” Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Công giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật. Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Công giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo. (In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes. Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed. The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected. On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church. A century later, in 1951, it was nearer 10%. The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain. Some argue that consistent church attendance is as low as 4%. By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict. In London particularly, church conversion has become big business. Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house. Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants. But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France. According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”. A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants. Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church. Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.)
Ở Mỹ, tình trạng Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, cũng không sáng sủa gì hơn. Đức tin Công giáo càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ý nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu. 60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Công giáo cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm gì thì làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa. Nhiều trường học Công giáo ở các địa phương đóng cửa vì không có học trò và không đủ tài chánh để tiếp tục hoạt động. Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục can tội loạn dâm. Năm 1990, linh mục David Rice dòng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo: Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Công giáo La mã đã bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành. (100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours. Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination. The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation) John Cornwell, một tín đồ Công giáo và cũng là một chuyên gia về Công giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the Night và Hitler’s Pope, đã viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Công giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản năm 2001, trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Công Giáo (A Catholic Dark Age). Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình trạng suy thoái trầm trọng của Công giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp. Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến linh mục, vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v.. [Vatican vớt vát được một phần bằng cách tuyển mộ được một số linh mục Mít và Mễ] Tình trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Công giáo, thật là thê thảm. Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục. Ở Ý, 90% theo Công giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa. Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Công giáo, số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian. Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.) Ở Nam Mỹ, tình trạng cũng không khá hơn. 7000 tín đồ mới có một linh mục. Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật. Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.) Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đã trở thành “vô thần”. Đây là một hiện tượng bất khả đảo ngược vì nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong luật Tiến Hóa của vũ trụ. Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đã bị phơi bầy, và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ. Trừ lớp tín đồ thấp kém trong Công Giáo La Mã vẫn tin rằng mình ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của Công giáo La Mã. Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dãy trong các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet. Giáo hội đã mất đi quyền lực ngăn chận những tác phẩm này như khi xưa giáo hội đã làm. Dân trí mở mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ còn có cách khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống Công giáo” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật lịch sử về Công Giáo, những sự thật mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con chiên của mình biết đến. Nhưng Tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước tiến trí thức của nhân loại. Do đó sự tiến bộ trí thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, bởi vì căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đã không còn chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ. Thật là đáng buồn, trong khi đạo Công giáo đang suy thoái ở Tây Phương như vậy, thì có lẽ vì “cái khó nó bó cái khôn”, nên một số người ở trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh tế ở Đông phương, và thiếu khả năng ở Tây Phương, lại lao đầu vào vòng nô lệ tôn giáo, chạy theo một sản phẩm hầu như đã bị phế thải ở nơi chính nó đã sản xuất ra, nhưng vẫn hãnh diện tự khoe rằng mình đã được “ơn kêu gọi” để che đậy động cơ vật chất đã khiến mình bước vào nghề linh mục. Chúng ta cũng biết Giáo hội Công giáo La Mã đang bị khủng khoảng về nạn thiếu hụt linh mục nên đã bắt buộc phải hạ thấp tiêu chuẩn tuyển chọn và đã chọn cả những người Tin Lành có vợ cải đạo sang Công Giáo và những người đã nhiều tuổi. Nhà Nước Việt Nam nên nắm vững những sự kiện về Công Giáo để có thể định ra một đường hướng ngoại giao thích đáng với Vatican, tuyệt đối không nên để cho Vatican có cơ hội mang đồ phế thải ở Âu Châu vào làm ô nhiễm đất nước Việt Nam và có những thái độ trịch thượng coi thường chủ quyền Việt Nam, đặt giáo luật lên trên luật pháp của Nhà Nước. Vatican ngày nay chỉ còn lớp sơn phết bên ngoài, che dấu một khối mọt rỗng ở đàng sau, nhưng luôn luôn vẫn dùng lớp sơn phết này với hậu thuẫn của đám tín đồ thấp kém cuồng tín để lòe thiên hạ và đẩy mạnh những mưu toan bành trướng của mình nơi miền đất mới: Á Châu. Cho nên, chính quyền Việt Nam không nên mơ mộng tin vào những lời đường mật hứa hẹn của Vatican về bất cứ vấn đề gì. Sách lược đối ngoại của Vatican luôn luôn là có lá mặt lá trái, thả con săn sắt bắt con cá rô. Toán học Vatican chỉ có dấu cộng dựa theo dấu thập ác chứ không có dấu trừ. Khi ở thế yếu thì Vatican nhũn như con chi chi, hợp tác với bất cứ thế lực, chủ thuyết nào, bất kể là độc tài tàn bạo như thế nào, thí dụ như Phát Xít Đức, Ý, Tây Ban Nha, Croatia v..v.., miễn là có thể duy trì được quyền lợi và mưu đồ thống trị thế giới bằng đạo Công giáo của Vatican. Khi ở thế mạnh thì Vatican sẽ không khoan nhượng và không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt đối phương. Đối với Vatican, Cộng Sản luôn luôn là kẻ thù truyền kiếp. Lời lên án Cộng Sản Vô Thần của Benedict XVI gần đây chỉ có mục đích hồi phục và mở đầu cho một chiến dịch chống Cộng mới mà thôi. Benedict XVI lên án Cộng Sản Vô Thần nhưng thế giới chưa hề quên lịch sử Công Giáo La Mã là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, với hàng trăm triệu xác người vô tội, từ già tới trẻ, đè trên bờ vai của Giáo hội Công giáo khiến cho Giáo hoàng John Paul II đã phải lên tiếng đãi bôi xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội đối với thế giới. Do đó, tin rằng Vatican thật tình muốn giúp Việt Nam, một nước Phật Giáo, hiện đảng Cộng Sản đang cầm quyền, với những hứa hẹn bất cứ về vật chất hay về cái gì khác, thì thật là ngây thơ hết chỗ nói. Vatican có tất cả những vòi của một con bạch tuộc (Octopus Dei) và có thể ôm chặt và nghiền nát cả một quốc gia. Lịch sử Công Giáo, hơn gì hết, đã chứng tỏ như vậy. Rất có thể Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, tung hỏa mù về thế lực giả tạo của Vatican, chịu khó bỏ tiền ra mua chuộc cán bộ nhà nước, cộng với áp lực của Mỹ, sẽ áp dụng chính sách dùng “củ cà rốt và cây gậy” ở Việt Nam, để Nhà Nước phải nhượng bộ ít điều liên quan đến quyền lực của Vatican, tin rằng như vậy chứng tỏ là đã tiến bộ về vấn đề Tự Do Tôn Giáo trước thế giới, thỏa mãn yêu cầu của Mỹ, và do đó sẽ có lợi cho Việt Nam. Thật đáng tiếc, Nhà Nước đã không đánh giá đúng mức thực lực của Vatican trên thế giới cho nên đã có những nhượng bộ đối với Vatican không cần thiết. Nhà Nước cần phải hiểu sách lược của Vatican là “được đàng chân, lân đàng đầu” và như vậy Nhà Nước sẽ còn phải tiếp tục nhượng bộ nhiều hơn nữa. Bài này hi vọng có thể giúp Nhà Nước nhận ra thực chất của Vatican và ngưng những nhượng bộ khác mà thực sự không cần thiết và không hợp lý. Đối với khối dân tộc phi Công giáo.. Vatican không ngừng tìm cách, nhất là sách lược tạm thời “khom mình để chinh phục” (stoop to conquer), để tái diễn tấn tuồng Ba Lan ở Việt Nam. Sự làm càn cuồng tín của các tín đồ Công giáo Việt Nam, đồng thời một mặt đẩy mạnh bộ mặt thánh thiện từ thiện giáo dục xã hội để tạo uy tín, len lỏi vào những cơ quan công quyền, mua chuộc nhân sự v..v.. đều nằm trong sách lược này. Nhưng ở hải ngoại, Công Giáo và những tay sai không ngừng dùng mọi thủ đoạn, kể cả bịa đặt, xuyên tạc lắt léo để chống Cộng và họ đã từng lên tiếng gợi ý van xin Giáo Hoàng John Paul II: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha [Ba Lan], và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con [Việt Nam].”[Xin đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, Thăng Tiến, 1995, trang 11]. Cái nguy hại của Công Giáo không phải là ở chỗ tin nhảm tin nhí vào một vị thần của Do Thái, mà là họ không chấp nhận bất cứ một đạo nào khác ngoài đạo của họ, và khi có quyền lực hay có cơ hội họ sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, bất kể là vô đạo đức và tàn nhẫn như thế nào, để cưỡng bách người ngoại đạo theo đạo của họ, phải tin theo những điều nhảm nhí của họ, phải tuân theo những tiêu chuẩn mà họ cho là đạo đức, và nhất là, phải tuân phục Vatican không điều kiện. Lịch sử Công Giáo trên thế giới đã chứng minh như vậy. Và những sự kiện lịch sử về một số chính quyền Công giáo trong thế kỷ 20, Pavelic ở Croatia, Franco ở Tây Ban Nha, Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, là những bằng chứng rõ ràng hơn gì hết. Có thể có độc giả cho rằng tôi đã viết quá dài dòng, ra ngoài chủ đề bang giao với Vatican. Không hẳn vậy, tôi thấy thực sự cần thiết phải đóng góp phần nào, cung cấp giúp cho Nhà Nước Việt Nam một số thông tin, và đây chưa thể gọi là đủ đâu, về bộ mặt thật và thế lực thực sự của Công giáo La Mã để Nhà Nước Việt Nam sửa soạn con đường đi đến bang giao với Vatican.
Con Đường Bang Giao.
Vài nét đơn sơ về Vatican và đạo Công giáo La Mã ở trên hi vọng có thế giúp chính quyền Việt Nam phần nào trong sách lược ngoại giao đối với Vatican. Như trên đã nói, việc bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng gồm có hai mặt: mặt thế tục và mặt tôn giáo. Về mặt thế tục, Vatican như là một quốc gia nhỏ với dân số ở Vatican vào khoảng một ngàn người, không mang gì đến được cho Việt Nam. Vatican rất giầu về tiền bạc nhưng như trên đã nói, toán học Vatican chỉ có dấu cộng chứ không có dấu trừ. Bất cứ ở địa hạt nào, nếu không có lời, Vatican không bao giờ bỏ vốn ra, nhất là cho không. Bởi vậy tài sản của Vatican ngày nay đã lên tới trên ngàn tỷ đô-la. Thật vậy, Nino Lo Bello viết trong cuốn Đế Quốc Vatican (The Vatican Empire), trang 153-154: “Đối với người Ý, đặc biệt là những người sống ở Rome, Vatican nổi tiếng là “rẻ tiền”, “thắt chặt hầu bao”, “keo kiệt”. Chẳng cần phải gợi ý, người thường ở ngoài đường phố có thể nói với bạn : “Vatican thu vào nhưng chẳng cho ai đồng nào” (Among the Italians, particularly among the residents of Rome,, the Vatican has a reputation for being “cheap”, “tight,” “stingy”. Without much provocation, the ordinary man in the street is likely to tell you , Il Vaticano riceve – ma non da a nessuno (The Vatican receives – but gives to no one). Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng, khi Vatican bỏ tiền ra là luôn luôn có mưu đồ đàng sau. Vatican đã bỏ ra hàng trăm triệu đô-la vào Ba Lan để lật đổ Cộng Sản ở Ba Lan. Khi cần, Vatican có thể “bóc lột tiền của kẻ nghèo để trả kẻ giầu” (Rob Peter to pay Paul). Dòng “Thừa sai Bác Ái” của bà Teresa đã kiếm cho Giáo hội bao nhiêu triệu để trong các ngân hàng là một thí dụ điển hình. Giáo hoàng tới thăm đâu, giáo hội địa phương phải trang trải phí tổn cho chuyến “thăm giáo dân” của Ngài. Mỹ đã tốn trên 2 triệu đô-la cho một chuyến thăm Mỹ của John Paul II trước đây. Tin vào sự viện trợ của Vatican hay bất cứ hứa hẹn vật chất nào của Vatican là chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng. Chính sách của Vatican đã rõ rệt từ muôn đời: bỏ ra một, lấy lại 10 hay nhiều hơn. Họ dùng bả vật chất để chiêu dụ tín đồ, một khi tín đồ đã bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ trên trời rồi thì sẽ suốt đời tình nguyện đóng góp cho Giáo hội dù có nghèo đến đâu, quy luật của giáo hội là phải đóng 10% lợi tức. Ở Âu Châu trước đây, Giáo hội thu tiền của cả những người cùi, ăn mày, gái điếm và người chết như Avro Manhattan đã viết trong cuốn The Vatican Billions. Bất cứ ở đâu có chính quyền Công giáo là tài sản quốc gia được vơ vét cho Vatican và cho giáo hội địa phương. Những sự kiện lịch sử ở một số nước Phi Châu, Nam Mỹ và ở Nam Việt Nam dưới chính quyền Ngô Đình Diệm là những bằng chứng bất khả phủ bác. Đổi Thánh Kinh lấy tài sản là sách lược cố hữu của Công Giáo La Mã. Họ mang cuốn Kinh Thánh đến để mê hoặc lòng người, nhưng kết quả là đất đai thuộc về giáo hội như lời than tiêu biểu sau đây của Giám-mục Tutu: "Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi." ["We have our lands and they came here with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened our eyes, we have the Bible and they have our lands."] Kinh nghiệm ở Việt Nam cũng cho thấy, theo Linh mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm: "Năm 1939, tài sản Nhà Chung thừa sai Pháp (tại Việt Nam) trị giá 50 triệu quan Pháp. Trị giá đó là chính thức, nhưng theo các luật gia thuộc địa Caratini và Grandjean thì thấp hơn giá trị thực tế và không bao gồm tất cả tài sản của Giáo Hội, vì đã bỏ ra ngoài của cải của các xứ đạo và nhiều pháp nhân giáo hội khác vốn có quyền sở hữu. Tài sản các Nhà Dòng Đa Minh Tây Ban Nha cũng rất quan trọng… Nhà Chung được liệt vào hạng địa chủ lớn nhất của thời ấy." Đây là một kinh nghiệm để đời cho các dân tộc nghèo đang phát triển nhưng lại nghe lời đường mật của Vatican, và đặt niềm hi vọng vào những hứa hẹn giúp đỡ vật chất của Vatican. Vatican có hai mặt, vừa là một tôn giáo, vừa là một quốc gia có chủ quyền. Vì thế chính trị của Vatican cũng có hai mặt, lúc thì nhân danh là một tôn giáo, lúc thì nhân danh là một quốc gia. Vì vậy Vatican có liên hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác. Mỹ và Mễ Tây Cơ đã có thời cắt đứt liên lạc ngoại giao với Vatican nhưng rồi lại tái thiết lập vì tình hình chính trị và vì cả hai nước đều có nhiều tín đồ Công Giáo, ở Mỹ vào khoảng 22%, ở Mễ Tây Cơ hầu như toàn tòng. Tuy vậy, vì những tác hại và lạm dụng của giới linh mục trong nước nên Mễ Tây Cơ đã có đạo luật cấm các tu sĩ Công Giáo không được mặc y phục Linh mục nơi công cộng, không được mở trường học v..v.. Ở Mỹ, đa số người dân vẫn không ưa Công Giáo. Hình ảnh những người dân Mỹ biểu tình phản đối cuộc viếng thăm trước đây của Giáo hoàng John Paul II, cầm biểu ngữ đòi: Chính phủ Mỹ chấm dứt công nhận Vatican (End US Gov’t Recognition Of The Vatican), Hãy đăng ký các giám mục như là những điệp viên ngoại quốc (Register Bishops As Foreign Agents), Ngưng nạn đói: Hãy bán đi Vatican (Stop Starvation: Sell The Vatican), Vatican chống dân chủ (The Vatican Is Anti-Democratic) v..v.. có lẽ đã nói lên phần nào thực chất của Vatican. Tất cả những hình ảnh này đều có trong phần cuối của cuốn Vatican: Thú Tội Và Xin Lỗi?, Nhiều tác giả, Giao Điểm, 2000. Tất cả những sự kiện như trên, và đây chỉ là một số tượng trưng, đã chứng tỏ là vấn đề tâm linh và đạo đức không phải là chủ trương của Giáo hội Công giáo La Mã, mà là vấn đề làm sao có thể vơ vét của cải, tích lũy tài sản, và dùng chúng để đẩy mạnh những mục tiêu thế tục, thống trị hoàn cầu mới là chính. Nhưng hiện nay, như trên đã nói, ngoài mặt thì đối với những người không biết rõ nội tình, thế lực của Vatican còn rất mạnh. Nhiều người còn tin vào thế lực giả tạo của Vatican vì với một định chế thần trị, và với sự tuân phục tuyệt đối của đám tín đồ, không ai có thể coi thường Vatican. Nhưng những người này không nhìn kỹ vào nội tình Vatican và nhất là không nhìn vào thực tế trên thế giới. Tuy tín đồ Công giáo hoàn toàn tuân phục Vatican, nhưng ngày nay tôi đố Vatican có thể hô hào khởi sự một cuộc Thánh Chiến như trước, tôi đố Vatican có thể ép buộc mọi tín đồ phải tuân theo luật lệ và những tiêu chuẩn đạo đức mà Vatican chỉ thị. Giáo hội Công giáo ngày nay cũng giống như một cái Cafeteria, trong đó có nhiều món ăn, thực khách vào đó thích món nào thì ăn món đó chứ không bắt buộc phải ăn tất cả mọi món. Về chính trị xã hội, Vatican chỉ có thể khích động tín đồ ở một số địa phương nhỏ và hầu như không thể tạo ra ảnh hưởng gì trên thế giới. Nhưng Vatican có thể sẽ không ngần ngại sử dụng, hi sinh một số tín đồ cuồng tín gây rối ở một số địa phương nhỏ trong những quốc gia đang phát triển để dò đường và đẩy mạnh những âm mưu của mình. Vì thế giới đã tiến bộ, vì trình độ hiểu biết trên thế giới đã tiến nhiều, vì con người đã nhận ra sự không cần thiết đến một Thiên Chúa, cho nên điều không thể tránh được là Vatican đang khủng khoảng, ở trên đà suy thoái, và uy tín của Vatican đã giảm đi nhiều. Qua những xì-căng-đan mà cả thế giới đều biết, nhưng rất ít tín đồ Công Giáo biết, nhất là ở trong những ốc đảo ngu dốt (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh) ở Phi Châu, Nam Mỹ và một vài nơi ở Á Châu, chiếm trên 70% số giáo dân trên thế giới, cộng với sự tiến bộ trí thức của nhân loại, thì Công Giáo đang ở trên đà suy sụp bất khả cứu vãn. Những sự kiện sau đây đã góp phần nào vào sự suy thoái của Công Giáo. Giáo hội đã bắt buộc phải xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội đối với nhân loại qua những lời xin lỗi suông trên bờ môi mép lưỡi. Báo chí thế giới đã phanh phui ra những chuyện động trời trong giáo hội như: Linh mục hiếp dâm các nữ tu (sơ) trên 23 quốc gia và nếu ai mang thai thì cưỡng bách họ phải đi phá thai trong khi giáo lý chính thức của Giáo hội là cấm dùng thuốc ngừa thai hay phá thai; trong một viện mồ côi ở Canada, các “em hiền như ma sơ” mặc y phục xám (gray nuns) đã chọc thủng màng tai của một số trẻ mồ côi để lấy thêm tiền trợ cấp của chính quyền vì số tiền trợ cấp cho các em bị tàn tật thì nhiều hơn là cho các em bình thường; trong một viện mồ côi khác, các sơ đã đổ nước sôi vào tay trẻ mồ côi vì chúng bị để đói nên đi ăn cắp thức ăn của các sơ dùng để nuôi thỏ; vụ nổ ở bên Anh: các em bị cha mẹ bỏ rơi hay nhà quá nghèo khổ, được hứa hẹn mang đi nuôi, cho ăn học tử tế, rút cuộc đã phải vào làm lao động đầu tắt mặt tối trong một xưởng giặt ở nước ngoài của “hội Thánh”, trong mấy tháng trời không thấy ánh sáng mặt trời; và nhất là vụ Vatican bao che trên mấy ngàn linh mục can tội loạn dâm với các trẻ phụ tế và nữ tín đồ v..v.. Ngoài ra, ở phương trời Âu Mỹ, như chúng ta đã biết, Linh mục, nữ tu, và giáo dân bỏ đạo hàng loạt; nhiều nhà thờ, trường học Công giáo phải đóng cửa và rao bán, số giáo dân đi lễ nhà thờ và đóng tiền cho nhà thờ giảm sút nhanh, khiến cho Giáo hội phải đi kiếm những vùng đất mới để cắm cây thánh giá và vơ vét tiền bạc, của cải. Vùng đất mới này không gì khác là Á Châu, vùng đất chưa bị ô nhiễm nhiều bởi Công giáo. Đó là tại sao Vatican cố gắng để có liên lạc ngoại giao với Trung Quốc, Việt Nam v..v.. Nhưng yếu tố quyết định sự suy thoái của Ca-Tô Giáo La Mã không phải là những chuyện nhơ bẩn trên, vì tín đồ rất ít biết đến những sự thật trong nội tình Công Giáo, mà chính là sự tiến bộ và những khám phá của khoa học về vũ trụ và con người. Khoa học đã bắt buộc Giáo hoàng John Paul II phải lên tiếng, nhưng đa số tín đồ trong các ốc đảo không bao giờ nghe thấy, công nhận thuyết Big Bang (nguồn gốc vũ trụ), thuyết Tiến Hóa (nguồn gốc con người), và phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường (nơi linh hồn những người được Giê-su cứu rỗi tái nhập với thân xác và sống đời đời) và Hỏa Ngục (nơi Giê-su dùng ngọn lửa vĩnh hằng để thiêu đốt những người không tin ông ta). Như vậy, các tín lý của Giáo hội bày đặt ra trước đây, vừa để khuyến dụ vừa để hù dọa những đầu óc yếu kém, như “Tội tổ tông”, “Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại”, “Giê-su sinh ra từ một Nữ Đồng Trinh”, “Maria đồng trinh suốt đời”, “Giê-su sống lại”, “Rửa Tội”, “Ai tin Giê-su thì được cứu rỗi”, “quan niệm về Thiên Đường, Hỏa Ngục”, và sự hoang đường của các “bí tích” v..v.. đã không còn một chút giá trị nào trong thế giới những người hiểu biết nữa. Cho nên tình trạng suy thoái của Công Giáo trên khắp thế giới, nhất là ở phương trời Âu Mỹ, nơi đây người dân thường xuyên được cập nhật hóa những thông tin về khoa học, xã hội, tôn giáo v..v.., là một hiện tượng đã khá rõ rệt, và đã có nhiều nghiên cứu thống kê về tình trạng này. Vì vậy, Vatican đang cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cải đạo Á Châu, nhiều nơi ở trên lục địa này người dân còn nghèo khổ, còn bị áp bức, ít hiểu biết, nên rất dễ ăn vào cái bả của Công Giáo. Thực chất thì như vậy, nhưng Giáo hội có đủ phương tiện truyền thông để lái dư luận, để tiếp tục nhốt tín đồ trong vòng ngu dốt, đồng thời tiếp tục phô trương quyền lực giả tạo để thủ lợi. Sức mạnh của Vatican dựa trên một giáo hội có một tổ chức toàn trị rất chặt chẽ, có một số tín đồ đông đảo nhất, nằm vùng trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, và sẵn sàng nhắm mắt nghe theo lệnh của Vatican xuyên qua các “bề trên” như các tổng giám mục, giám mục, linh mục địa phương. Trong cuốn The Vatican Empire, Nino Lo Bello viết, trang 167: “Các chiến thuật của Vatican đều dựa trên một niềm tin là, Giáo hội sẽ dễ dàng hơn trong việc duy trì sức mạnh ở những nơi mà sự nghèo khổ và ngu dốt được nuôi dưỡng.” (Vatican strategies are based on a belief that it is easier for the Church to maintain its strength where poverty, misery, and ignorance breed) Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy Công Giáo càng ngày càng mất ảnh hưởng ở phương trời Âu Mỹ, nơi đây đời sống kinh tế của người dân cao, và trình độ hiểu biết của người dân cũng cao. Hiểu rõ thực chất của Công-Giáo La Mã trên thế giới ngày nay và thấy rõ âm mưu bành trướng của Vatican trong những vùng đất mới ở Á Đông, tôi hi vọng khối Phật Giáo ở bên nhà, với tinh thần vô úy, hãy lên tiếng, đặt vấn đề trước Nhà Nước, góp ý cùng Nhà Nước, và cùng Nhà Nước nghiên cứu những vấn nạn liên quan đến những diễn biến ngoại giao giữa Nhà Nước và Vatican. Hơn bao giờ hết, Nhà Nước Việt Nam cần phải hết sức thận trọng, đắn đo từng bước khi dấn thân vào con đường “đánh đu với tinh”, và phải hoạch định một đường lối sáng suốt thích hợp để đối phó với âm mưu và sách lược của Vatican.
Vài Đề Nghị Với Nhà Nước Việt Nam
Trước khi đi vào những đề nghị với Nhà Nước Việt Nam tôi nghĩ cũng cần ôn lại chút ít những hệ lụy mà Công Giáo La Mã đã mang đến cho Việt Nam. Sau đây là vài sự kiện: 1). Trở lại lịch sử, Công Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ 1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Công giáo mới khuyến dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi), không có khả năng phân biệt chánh tà, chân giả cho nên rất dễ bị lùa vào trong vòng mê tín của Công Giáo. Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858. Sau khi tích cực giúp quân xâm lăng Pháp để đưa Việt Nam vào vòng đô hộ, Công Giáo ở Việt Nam dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm mưa làm gió trên đất nước Việt Nam. Nhưng dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng với 9 năm miền Nam dưới chế độ độc tài, gia đình trị, Công giáo trị của Ngô Đình Diệm, số tín đồ Công giáo trên tỷ lệ dân số luôn luôn chỉ ở mức 7 phần trăm hay ít hơn. Điều này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô.
2). Bản chất của Giáo hội Công giáo Việt Nam chỉ là một mớ tín đồ hạng hai. Công giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Tòng). Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và xúc phạm đến nền văn hóa của Việt Nam tới đâu. Lịch sử cho thấy quyền lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam. Chừng nào mà tinh thần nô lệ này còn tồn tại, thì chừng đó người dân Việt Nam vẫn còn phải lưu tâm đề phòng lịch sử tái diễn. Tinh thần nô lệ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần yêu nước, yêu độc lập của người dân Việt Nam, đã được chứng minh qua bao cuộc đánh đuổi quân ngoại xâm. Ai có thể tin rằng người dân Việt Nam đã quên đi vai trò của giáo hội Công giáo La Mã tại Việt Nam trong việc đưa nước Việt Nam vào vòng nô lệ của Pháp? 3). Bản chất của Công Giáo và cả Tin Lành là lợi dụng sự cuồng tín của tín đồ, tạo thành một lực lượng xã hội, để khi có cơ hội và quyền thế thì sẽ khuynh loát chính quyền, đàn áp và áp bức tín đồ của các tôn giáo khác. Bản chất cuồng tín này, nếu ở vị thế nắm quyền hành thì sự tác hại của nó đối với khối dân chúng không đồng tín ngưỡng không biết lên tới mức độ nào. Kinh nghiệm lịch sử ở những nơi mà Công giáo là chủ lực tinh thần trong thời Trung Cổ, và trong thời cận đại ở Tây Ban Nha dưới quyền của nhà độc tài Công giáo Franco, ở Croatia dưới quyền của tên Công giáo Ante Pavelic và những linh mục khát máu dòng Phan-xi-cô, và ở Nam Việt Nam dưới chế độ Công giáo Ngô Đình Diệm là một tấm gương cảnh tỉnh những người còn mơ mộng là "tôn giáo nào cũng tốt cả". Ngày nay, không ai còn coi Ki Tô Giáo là một lực lượng tôn giáo thuần túy mà trái lại chỉ là những định chế coi nặng vấn đề quyền lợi chính trị và kinh tế. 4) Sách lược truyền giáo của Công giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Chúng ta chỉ nhìn vào những cảnh tín đồ đổ xô đến quỳ cầu nguyện ở bất cứ nơi nào có tin bà Mary hoặc khóc, khoặc chảy nước mắt, hoặc có cái hình trong có vẻ giống bà Mary (chẳng ai biết mặt mũi bà ta ra sao) do vết nước rỉ dưới gầm cầu, hoặc trên một miếng Pizza, trên một vựa thóc, trên sàn nhà v..v.. là có thể sự thành công của Giáo hội Công giáo về phương diện này như thế nào. 5) Kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Công giáo còn ghi rõ trong sử sách. Ở đây, sách lược truyền giáo có tính cách hoang đường bịp bợm để mê hoặc những người ngu dốt như của Alexandre de Rhodes trong cuốn Hành trình Truyền Giáo của đạo Công giáo đã đưa tới những cảnh bất hòa trong những gia đình nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đình, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Công giáo, từ bỏ không còn tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đình. Công giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đã chứng tỏ. Gần đây, Công giáo còn đưa ra sách lược nham hiểm: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài đầu môi chót lưỡi như “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, trong khi bản chất độc tôn cuồng tín về “Chúa KiTô là đấng trung gian duy nhất”, nô lệ Vatican vẫn không thay đổi.
Qua những tài liệu vừa trình bày ở trên, tôi hi vọng Nhà Nước Việt Nam đã có thể nắm được phần nào về bộ mặt thật của Công giáo La Mã cũng như về thực lực của Vatican trên thế giới hiện nay. Không nên tin rằng Vatican có thể giúp Việt Nam trên chính trường quốc tế, nhất là đối với Mỹ. Vì thực sự Vatican chỉ có tiếng chứ không có miếng. Tiếng nói của Vatican chỉ để cho tín đồ nghe và ca tụng, ngoài ra thế giới chẳng có ai thèm để ý tới. Tại sao? Tại vì chính lịch sử của Công giáo La Mã, vì những tệ nạn trong nội bộ Giáo hội Công giáo, những vụ xì-căng-đan mang tai tiếng liên tiếp xảy ra đã cho thế giới thấy rõ bản chất của Vatican trái ngược với những lời nhân nghĩa, đạo đức phát ra từ Vatican. Phần lớn những vụ phanh phui trong Công giáo lại do Mỹ, vì chính nước Mỹ cũng không ưa gì Vatican. Vụ Linh mục loạn dâm nổ ở Boston trước đây, vụ kiện Vatican và dòng tu Phan-Xi-Cô gần đây về tội chứa chấp tài sản chiếm hữu bất lương ở Croatia của chính quyền Công giáo Pavelic trong kỳ Đệ Nhị Thế Chiến cũng như tội Vatican rửa tiền bẩn thành tiền sạch, và nhiều báo chí Mỹ đã viết về Benedict XVI với danh hiệu “The Nazi Pope” làm cho Vatican đau đầu lên tiếng cải chính và than phiền v..v.. đã chứng tỏ là Mỹ đối với Vatican như thế nào. Thế lực của Vatican nằm trong đám tín đồ thấp kém cuồng tín chứ không ở trong chính trường quốc tế. Với những sự kiện như trên, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều gì? 1. Thực chất Giáo hội Công giáo La Mã không phải là một tôn giáo lo phần tâm linh và đạo đức của tín đồ mà nặng về chính trị thế tục thủ lợi. Sức mạnh của Công giáo nằm trong đống tài sản khổng lồ của Vatican và nằm trong tuyệt đại đa số tín đồ được nuôi dưỡng trong vòng ngu dốt, nhưng đây chỉ là sức mạnh của một định chế thần trị, thu hẹp trong nội bộ giáo hội, không có ảnh hưởng gì đến ngoài thế giới.. 2. Thực lực thực sự của Vatican không như người ta thường tưởng. Giáo hoàng John Paul II đã phải xin lỗi Phật Giáo vì viết bậy về Phật Giáo trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng. Trong vụ phong Thánh cho các Hán gian ở Trung Quốc, Trung Quốc vừa mới lên tiếng phản đối, Vatican đã phải vội vàng xin lỗi. 3. Vatican đang suy thoái ở phương trời Âu Mỹ và đang có kế hoạch cải đạo Á Châu để kiếm tín đồ và từ đó thu lợi vật chất. Hai quốc gia Vatican nhắm tới hiện nay là Trung Quốc với hơn một tỷ dân, và Việt Nam trong đó đã có sẵn 7% giáo dân nằm vùng sẵn sàng hành động theo kế hoạch của Vatican. 4. Vatican luôn luôn chủ trương không đội trời chung với Cộng Sản và luôn luôn mưu đồ để phá đổ Cộng Sản với mọi thủ đoạn, kể cả các thủ đoạn nhân nhượng, khép mình, và ve vuốt. Lời lên án chủ thuyết Cộng Sản của Benedict XVI gần đây là một dấu hiệu chiến lược, khuyến khích các tín đồ địa phương ở Trung Quốc và Việt Nam hãy “được đàng chân thì lân đàng đầu.” 5. Một khi Công giáo nắm được chính quyền rồi thì các lực lượng phi Công giáo sẽ khốn khổ với Công giáo, khoan kể đến Cộng Sản sẽ đương nhiên bị diệt tận gốc. 6. Với tài sản hiện nay của Vatican, Vatican có thể bỏ ra vài trăm triệu hay cả tỷ đô la không khó khăn gì để chiêu dụ qua những hứa hẹn viện trợ, giúp đỡ giáo dục, mở trường học v..v.. Nhưng mưu đồ chính của Vatican là mở rộng các vòi bạch tuộc để nắm giữ quần chúng và chính quyền. Báo chí Mỹ cho biết Giáo hội Công giáo đã bỏ ra từ 2 đến 3 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân bị các linh mục loạn dâm, và cũng đã bỏ ra nhất nhiều tiền để mua sự im lặng của giới truyền thông đồng thời tuyên truyền cho bộ mặt “thánh thiện” của Công giáo. 7. Cách hữu hiệu nhất để chống lại những âm mưu của Vatican là mở mang dân trí. Những tài liệu nghiên cứu về lịch sử và những hoạt động buôn thần bán thánh của Vatican phải được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. 8. Quần chúng phải được dạy về những hiểm họa của Ki-tô Giáo nói chung, dựa vào những sự kiện lịch sử và dựa vào ngay những điều viết trong cuốn Kinh Thánh của Ki-Tô Giáo. 9. Quần chúng phải được dạy về những khám phá khoa học và những sự kiện khoa học khám phá ra về vũ trụ và nhân sinh. 10. Quần chúng phải được dạy về chủ trương nhân chủ và nhân bản của Tam Giáo. Vậy thì, dựa trên những thông tin ở phần trên, tôi xin đề nghị cùng Nhà Nước Việt Nam hãy sửa soạn kỹ những vấn đề trong việc đi đến bang giao với Vatican. Việc sửa soạn này có hai phần, phần đối nội và phần đối ngoại. 1). Về Phần Đối Nội. Tôi thành thực ước mong chính quyền Việt Nam hãy lưu tâm đến những tiếng nói từ phía Phật Giáo, một chủ lực xây dựng và gìn giữ nước như trong lịch sử Việt Nam đã ghi rõ. Tôi cũng hi vọng Nhà Nước Việt Nam hãy nhìn rõ hiểm họa của Công giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, trên đất nước và đưa ra một chính sách tôn giáo hợp lý, không thiên vị. Đừng bao giờ để rơi vào những cạm bẫy “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết quốc gia” mà ngăn chận chính sách mở mang dân trí. Dân trí mở mang không bao giờ có thể là nguồn gốc của sự chia rẽ hay gây hận thù. Sự hòa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến Âu Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến rộng rãi, là một bằng chứng rõ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang dân trí để cho người dân biết rõ sự thật về tôn giáo trong xã hội. Thật vậy, khoảng 80% dân Mỹ theo Ki Tô Giáo trong đó có khoảng 25% theo Công giáo Rô Ma, hơn 80% dân Pháp rửa tội theo Công giáo v..v.. nhưng những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo: những sự thực về lịch sử những tội ác của Công giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những thần quyền tự phong của giới lãnh đạo Công giáo, cùng những tín điều hoang đường phi lô-gic, phi lý trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời v..v.. của Công giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, về con người lịch sử Giê-su, về những sai lầm trong Thánh Kinh v..v.. đều được tự do phổ biến mà các chính quyền Mỹ, Pháp không sợ làm mất sự “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết dân tộc” trên đất nước của họ, thì thử hỏi tại sao Việt Nam chỉ có 5-7% dân chúng theo Công giáo mà chính quyền lại sợ rằng những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu về tôn giáo lại có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc trên đất nước? Ngăn chận sự mở mang dân trí trong thời buổi này là có tội với dân tộc, với lịch sử. Ngày nay, không một người nào có đầu óc còn nghĩ đến những biện pháp cấm đạo và bách hại những người đi đạo như khi xưa nữa. Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và gìn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Công giáo và Tin Lành, cái hiểm họa đã được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo, ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết ngăn chận sự xâm nhập của các thừa sai truyền đạo vào trong đất nước, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí. Qua con đường này, người dân sẽ biết rõ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, và từ đó sẽ đỡ bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lý của Ki Tô Giáo. Theo nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, chỉ có sự mở mang dân trí và đời sống thoải mái kinh tế mới có thể loại trừ tinh thần độc tôn và những tín điều hoang đường của Công giáo. Loại trừ bằng hiểu biết chứ không phải bằng những biện pháp cứng rắn. Nhưng tại sao phải loại trừ? Vì Vatican đã thành công đào tạo được một đám tín đồ bản xứ cuồng tín nô lệ Vatican. Điều này sẽ gây nên những hành động theo chỉ thị ở ngoài, thường là trái ngược với quyền lợi quốc gia, nếu không muốn nói là phản bội quốc gia như sử sách đã ghi chép. Với sự hiểu biết, các tín đồ sẽ bớt đi những sự mê tín và cuồng tín và có thể nhìn về phía dân tộc nhiều hơn. Điều này đã xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo, bất kể tôn giáo đó là tôn giáo nào, và bất kể chủ đề nghiên cứu là chủ đề nào, của những người có uy tín trong giới trí thức như lãnh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Hi vọng với đà tiến triển về kinh tế hiện nay ở Việt Nam, với nhiều tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được nhà nước sáng suốt cho phép phổ biến, Việt Nam có thể giảm bớt hiểm họa Ki Tô trên đất nước. Cần phải đưa cuốn Kinh Thánh ra Quốc Hội phân tích, vạch ra những sự giết chóc độc ác, vô luân, loạn luân, hoang đường mê tín phản khoa học v..v.. trong đó, và làm luật để ngăn cấm cuốn sách không thích hợp với giá trị đạo đức và truyền thống văn hóa của Việt Nam được phổ biến công khai trên toàn cõi Việt Nam.. Đây không phải là vấn đề vi phạm tự do tín ngưỡng mà là vấn đề lành mạnh hóa xã hội, phù hợp với truyền thống văn hóa bao dung, đạo đức, lành mạnh tâm linh của Việt Nam. Cuốn Kinh Thánh có thể được dùng trong phạm vi các nhà thờ Ki-Tô Giáo nhưng không được trình bày lộ liễu nơi công cộng, và nhất là không được mang đi để truyền đạo công khai. Nhà nước có đủ lý lẽ chính đáng và bằng cớ chính xác từ cuốn Kinh Thánh để làm như vậy, và làm công khai trên diễn đàn quốc tế. Việt Nam cần phải ý thức được sự nguy hại của chiêu bài nhập nhằng tự do tôn giáo với tự do truyền đạo để có thể tìm cách đối phó, đưa ra những biện pháp ngăn chận thích nghi, hợp lý. Những biện pháp ngăn chận này phải nằm trong quốc sách và phải được cương quyết thi hành. Tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam sẽ ủng hộ những biện pháp bảo vệ nền văn hóa truyền thống Việt Nam này vì chúng ta ý thức rõ ràng rằng không có một chế độ nô lệ nào độc hại bằng nô lệ văn hóa.
2). Về Phần Đối Ngoại.- Theo ý của chúng tôi thì Giáo hoàng Benedict XVI cần xin lỗi Phật Giáo về những lời rất khiếm nhã đối với Phật Giáo trước đây. Nhưng chỉ xin lỗi Phật Giáo không không đủ, vì Phật Giáo dù sao cũng chỉ là một tôn giáo ở Việt Nam, dù chiếm đa số. Vấn đề ở đây là cả nước Việt Nam đã chịu nhiều khổ nạn vì sự truyền đạo của Công giáo vào Việt Nam. Cho nên, theo ý chúng tôi, Việt Nam đừng bao giờ có thêm những nhượng bộ đối với con cọp giấy Vatican trước khi Vatican chính thức lên tiếng, nhân danh Công giáo La Mã, xin lỗi Việt Nam về những hoạt động của Công giáo tiếp tay với thực dân Pháp để xâm chiếm Việt Nam trước đây, và sau đó Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã toa rập với thực dân Pháp để cướp bóc đất đai, tài sản, chùa chiền của nhân dân Việt Nam, và thành thực sám hối qua những hành động cụ thể như hoàn trả lại cho nhân dân Việt Nam những tài sản đã chiếm hữu, và bồi thường cho Việt Nam những tác hại mà Công giáo đã mang đến Việt Nam. Ngoài ra Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng phải bố cáo rộng rãi, lên tiếng xin lỗi tương tự nhân dân Việt Nam, bỏ đi những lời xúc phạm đến cả nước Việt Nam, đến Phật Giáo, trong Kinh Nhựt Khóa của họ, và hoàn trả những gì đã chiếm hữu của nhân dân Việt Nam từ trước tới nay. Những ý kiến trên của tôi ở trên mà tôi đã từng nêu lên trên trang nhà Giao Điểm trước đây rất phù hợp với những yêu cầu của Tỳ Kheo Thích Chơn Tế trong bức thư bằng tiếng Anh mà Tỳ Kheo gửi cho Giáo hoàng Benedict XVI. Để kết thúc bài viết này, tôi xin phép được liệt kê những điểm yêu cầu của Tỳ Kheo Thích Chơn Tế, gồm có những điểm sau đây: 1- “Xin lỗi dân tộc Việt Nam về những hành động sai lầm của Giáo hội Công giáo La Mã và những tín đồ Công giáotrong hai thế kỷ vừa qua, đặc biệt là trong những thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm. Giáo hòang tiền nhiệm, John Paul II, đã xin lỗi nhiều quốc gia ngoại trừ Việt Nam, tuy rằng những bằng chứng lịch sử về tội ác của Giáo hội Ngài không thể phủ bác” (Apologize to the Vietnamese people for all the erroneous actions generated by the Roman Catholic Church and its followers during the past two centuries, especially during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship. The preceding Pope, John Paul II, has already asked for a public apology from several other nations except Vietnam, even though the historical evidences of the criminality of Your church are irrefutable.)
2- “Bồi thường thỏa đáng cho những nạn nhân chiến tranh trong những thời kỳ chiếm thuộc địa của Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm vì chính Vatican của Ngài đã dẫn đường mở lối và tích cực ủng hộ cả hai. Một trong những tín đồ của Ngài, Giám mục Pháp Puginier, đã thú nhận dứt khoát là “Nếu không có những linh mục và giáo dân Việt Nam thì người Pháp ở Việt Nam cũng như những con cua đã bị bẻ gãy hết càng.” (Recompense satisfactorily to the war victims during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship since it was Your Vatican who led the way and actively supported both of them. One of your ardent follower, French Catholic priest Puginier, emphatically confessed in a historical document that: “Without the Catholic priests and (Vietnamese) Catholic populace, the French (in Vietnam) will become like a crab with broken legs”.) 3- “Hãy hoàn trả cho dân Việt Nam nhiều đất đai và tài sản mà giáo hội Ca-Tô đã chiếm hữu dựa vào quyền lực của chính quyền thực dân Pháp và chính phủ Ngô Đình Diệm” (Return to the people of Vietnam numerous parcels of land and properties that the Catholic Church exhorted by relying on the power of the French colonial administration and the Ngo Dinh Diem government.) 4- “Hãy hoàn trả cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam những Chùa đã bị chiếm hữu theo chủ trương biến đổi Chùa thành nhà thờ như Chúa Báo Thiên đã trở thành nhà thờ lớn Hà-Nội, Chùa La Vang đã trở thành nhà thờ La Vang, một Chùa rất cổ đã trở thành nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn” (Return to the Vietnamese Buddhist Church various pagodas being exhorted to transform into Catholic cathedrals such as the Bao Thien Stupa which has become the current Main Hanoi Cathedral, the La Vang pagoda which has become the current LaVang Cathedral, a very old pagoda which has become the current Cathedral of Saigon. 5- “Hãy giáo dục giới linh mục Việt Nam và những tín đồ rừ bỏ niềm tin ô nhục “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa, niềm tin đã biến họ trở thành những tay sai của ngoại bang đồng thời phản bội dân tộc và nền văn hóa của chúng tôi” (Educate the Vietnamese Catholic clergy and its followers to renounce the infamous credo “Better to loose the Fatherland than loosing belief in God”. The credo that turned them into lackeys of foreign governments while betraying our people and our culture.) 6- “Hãy ra lệnh cho giới linh mục Việt Nam xưng tội và chấm dứt mọi sách nhiễu tình dục đối với trẻ con và phụ nữ như đã từng xảy ra trong nhiều quốc gia khác” (Order the Vietnamese Catholic clergy to confess and to stop all sexual abuses onto children and women as already happened in many other countries.) 7- Hãy giáo dục những tín đồ Công giáo chấm dứt thái độ sai lầm, theo tín lý và kiêu căng trong niềm tin là những người phi Công giáo thì xấu và những tín ngưỡng cổ truyền, nhân bản của dân tộc chúng tôi là không chính thống” (Educate Catholics to end the wrongful, dogmatic and arrogant attitude in their belief that non-Christians are evil and traditional humanistic faiths of our people are heterodoxy.) 8- Hãy dạy dỗ giới linh mục và tín đồ Công giáotôn trọng nhân quyền, đặc biệt trong những lãnh vực sau: - Chấm dứt thói bắt buộc những người trong tín ngưỡng khác phải từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ và phải cải đạo để được phép kết hôn với một người Công giáo. - Hãy chấm dứt thói lùa những người sắp chết và/hoặc những người già bệnh tật cải đạo vào Công giáo trong khi họ ở trong tình trạng không sáng suốt hoặc trong khi họ không có thân nhân ở bên. - Hãy chấm dứt những hoạt động từ thiện dùng tiền và thực phẩm/thuốc men để cải đạo những người nghèo và cô nhi vào Công giáo. (Teach the Catholic clergy and followers to respect human rights, especially in the following areas: - To end the practice of coercing peoples of other faith to deny his/her own religious belief and to be converted to Catholicism in order for them to get permission to marry with a Catholic. - To end the practice of luring the dying and/or old aged patient to convert to Catholicism while the patient is in a bewildering state or while the patient is alone without company of relatives. - To end the kind of charity works with money and food/medicine aids to convert the poor and the orphans to baptize them into a Catholic.) 9. “Hãy hủy bỏ ngay sự phong thánh hấp tấp cho 117 người Việt Nam và ngoại quốc chết trong nước tôi trong hai thế kỷ qua. Những bằng chứng và hồ sơ lịch sử đã chứng minh rõ ràng là họ bị kết án tử hình bởi Triều Đình vì họ đã phản bội quốc gia và/hoặc đã có những ho ạt động tình báo cho những lực lượng xâm lăng Pháp. Những bằng chứng cũng đã chứng tỏ rằng họ không phải là những “thánh tử đạo” mà Vatican đã ngụy tạo lên để thúc đẩy những tín đồ Công giáo Việt Nam đi vào con đường phản bội quốc gia để được phong thánh.” (Immediately cancel the unusually urgent and serial canonization by Pope John Paul II of 117 Vietnamese and foreigners who died in my country during the past two centuries. Historical evidences and records clearly proved that they received the official death sentence by the Court because of their betrayal and/or their spying activities for the French invading forces. The evidences also show that they were not “martyrs” as maliciously fabricated by Vatican to incite the Vietnamese Catholic followers to betray their country in order to get canonized.) Chúng tôi khẩn xin quý vị có trách nhiệm ở Việt Nam hãy nghĩ đến tương lai dân tộc để có thể định ra một đường lối ngoại giao thích hợp đối với Vatican một khi quý vị đã nắm được phần nào thực chất của Vatican. Chúng tôi, những người ở hải ngoại tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp những việc xảy ra ở bên nhà nhưng dù sao cũng còn ít hiều gắn bó với dân tộc Việt Nam, quả thực là không an tâm khi thấy có vẻ như cơn sốt quyền lực, tiền tài vật chất đang hành hạ quý vị lên đến cao độ. Ngay những bộ phim ảnh của Việt Nam cũng nói lên rất rõ rệt tình trạng này. Vậy chúng tôi nghĩ đã đến lúc quý vị nên tìm cách làm giảm những cơn sốt này.
Tôi xin quý vị hãy bình tâm suy nghĩ lại, nếu quý vị chạy theo vật chất vô thường, bỏ bê vấn đề tâm linh trau giồi đạo đức, như vậy có đáng không? Có lẽ quý vị chưa bao giờ nghĩ đến chân lý sau đây: “Không lâu đâu, chỉ vài chục năm sau là nhiều, vấn đề không còn là quý vị có bao nhiêu tiền trong chương mục, đi xe loại gì, ở nhà cao rộng như thế nào, ăn uống của ngon vật lạ ra sao v..v.. mà chỉ còn là vấn đề quý vị đã làm gì cho tương lai của con em, tương lai của đất nước và dân tộc.” Nghĩ được như vậy, cơn sốt của quý vị sẽ giảm và giảm rất nhanh.
Mong vậy thay.
Xin mời nghe buổi thảo luận: "Việt Nam Có Nên Bang Giao Với Vatican Hay Không ?" do Việt Nam Ngày Nay Radio thực hiện ngày 15 tháng 2, 2009. Quanh việc Vatican "viếng thăm" Việt Nam" ________________ Cùng đề tài: - Nhận Định Về Văn Kiện “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” (Ngô triệu Lịch)http://sachhiem.net/TONGIAO/tgN/NgoTrieuLich.php - Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Bang Giao Với Vatican (Trần Chung Ngọc) - Từ Tông Huấn Á Châu Của Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II Đến Hịch Xuất Quân Của Vua Quang Trung (Trí Tánh ĐHT) - Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (Nguyễn Mạnh Quang) |