TÔI ĐỌC “SỨ ĐIỆP HÒA BÌNH”

Của Giáo Hoàng Benedict XVI

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN106.php

13 tháng 1, 2011

Gần đây tôi có đọc bài Vài Cảm Nghĩ Về “Sứ Điệp” Của Giáo Hoàng Bênêđictô XVI” của Gã Học Trò trên trang nhà sachhiem.net. Trong bài, Gã Học Trò chỉ phê bình vài đoạn trong “Sứ Điệp” cho nên tôi muốn biết toàn thể “Sứ Điệp” của Giáo hoàng nó như thế nào. Tôi đã đọc toàn bài bằng tiếng Anh http://psalm46-11.blogspot. com/2011/01/pope-benedict-xvis-message-for-2011.html [MESSAGE OF HIS HOLINESS POPE BENEDICT XVI FOR THE CELEBRATION OF THE WORLD DAY OF PEACE, 1 JANUARY, 2011] và bản dịch sang tiếng Việt, không được chỉnh lắm, của LM Trần Đức Anh.

Đọc xong thì cái bệnh giải hoặc của tôi lại nổi cơn, và tôi không thể không viết lên vài nhận định của tôi về cái gọi là “Sứ Điệp Hòa Bình” này. Với nội dung của bài thì Message dịch là “Thông Điệp” có lẽ đúng hơn, vì “sứ điệp” có tính cách riêng để dùng trong nội bộ Ca-tô Rô-ma Giáo mà thôi.

Phê bình “sứ điệp”, Gã Học Trò đã đưa ra một nhận xét rất đúng:

Đọc xong tôi vẫn cảm thấy không hài lòng về “Sứ điệp” nầy. Không hiểu đây là vấn đề Giáo Hoàng Bênêđictô XVI muốn bảo vệ, bênh vực cho tín đồ của mình ở nhiều nơi trên thế giới được “tự do” hành lễ, thể hiện nghi thức tôn giáo của mình ở nơi mà họ muốn làm, hoặc làm theo lệnh của giáo hội mà không phải bị chánh quyền hay những người có trách nhiệm cấm đoán; hay là Giáo Hoàng muốn nói đến “Sự tự do tôn giáo” để được dẫn đến hòa bình.

Mới đọc qua “Sứ Điệp” người ta tưởng Giáo Hoàng tích cực đóng góp ý kiến, tư tưởng cho nền hòa bình trên thế giới nhân ngày hòa bình thế giới 1/1/2011. Nhưng xem kỹ lại, thì khác hẳn đi: Giáo Hoàng chỉ nói đến phần ngọn mà không hề đề cập đến vấn đề gốc, tức là đề cập đến “Sự tự do tôn giáo” trong khi chính tôn giáo của ông đã “o ép, bắt buộc, nhốt tín đồ vào trong chuồng” với những hình thức kiên cố; và cũng chính giáo hội của ông lừa đảo tín đồ bằng những giáo lý không nằm trong Kinh Thánh mà bao giờ cũng “vin” vào Kinh Thánh để đầu độc trí tuệ, tư tưởng, đức tin của giáo dân bằng những luận điệu tuyên giáo hoang tưởng của thần học mà giáo hội đã nghiên cứu, chuẩn bị kỷ lưỡng cho một “mưu đồ vĩ đại”!

Gã Học Trò chỉ nhận xét một cách tổng quát như trên và qua bài phê bình ngắn cũng đủ cho chúng ta thấy rõ bộ mặt đạo đức giả của giáo hoàng Benedict XVI. Tuy nhiên, tôi nghĩ tôi cần phải khai triển nhận xét trên với nhiều chi tiết hơn để cho vấn đề thêm rõ ràng.

Trước hết, nhận xét tổng quát của tôi về “Sứ Điệp Hòa Bình” của Giáo hoàng Benedict XVI là nội dung rất phản hòa bình, vì tất cả chỉ là một đống những lời mê sảng trịch thượng về Thiên Chúa của ông ta, rất phổ thông trong thời Trung Cổ, thích hợp với các con chiên đầu óc vốn đã mê mẩn sẵn hơn là cho cả thế giới, khoan kể đến một bộ mặt đạo đức giả chưa từng thấy trong một tôn giáo nào. Thời buổi này mà ông ta còn viện dẫn những điều đã không còn giá trị trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, coi chúng như là những chân lý mà toàn thể thế giới phải tin và tuân theo, trong khi thực chất những điều đó chỉ là những niềm tin tôn giáo của người Do Thái trong thời bán khai. Nhưng sự đạo đức giả của ông ta lên đến mức khó tưởng, vì ông ta vẫn rao giảng những điều mà chính ông ta và giới lãnh đạo Ca-tô ở Vatican đã không còn tin. Không những thế ông ta còn vô liêm sỉ đến độ mang bộ mặt thánh thiện lên án những hành động mà chính Giáo hội của ông ta đã phạm trong suốt chiều dài lịch sử của Ca-tô Rô-ma Giáo. Tôi sẽ chứng minh những nhận định này trong phần sau. Nhưng điều này không lạ vì ông ta đã nổi tiếng trên thế giới là một con người hết sức xảo quyệt và đạo đức giả qua vụ bao che các linh mục loạn dâm và rất nhiều vụ khác. Tôi thấy loáng thoáng đâu đó ai viết câu: “Không vô liêm sỉ thì không phải là CG VN”. Tôi nghĩ trong trường hợp này thì có thể thay “CG VN” bằng “Giáo hoàng”. “Sứ Điệp” của Giáo hoàng thì các con chiên, nhất là những con chiên Việt Nam, chỉ có quyền khen hay và ca tụng. Nhưng chúng ta là những người ngoại đạo, vậy chúng ta hãy sử dụng lý trí của con người điểm qua vài đoạn trong “Sứ Điệp”.

Sứ Điệp” của Giáo hoàng Benedict XVI có đầu đề là “Religious Freedom, The Path to Peace” nghĩa là “Tự Do Tôn Giáo, Con Đường Đi Tới Hòa Bình”. Nhưng thế nào là “Tự do tôn giáo”, tự do tôn giáo như thế nào, và tự do tôn giáo cho ai.

Năm 1864, Giáo Hoàng Pius IX lên án quan niệm, rằng mọi người được tự do theo bất cứ tôn giáo nào mà, dưới ánh sáng của lý trí, người đó cho là đúng, là một quan niệm sai lầm. [Điều này có nghĩa là con người chỉ có quyền theo Ca-tô Rô-ma Giáo, mọi tôn giáo khác đều sai lầm. TCN]

[In 1864, Pope Pius IX condemned as an error the belief that "[e]very man is free to embrace and profess that religion which, guided by the light of reason, he shall consider true." (Pope Pius IX. (1864). Allocution "Maxima quidem," June 9, 1862; Damnatio "Multiplices inter," June 10, 1851. In the Syllabus of Errors, http://www.ewtn.com/library/PAPALDOC/ P9SYLL.HTM]

 

“Tự Do Tôn Giáo”

 

Nhưng sự tiến bộ trí thức của nhân loại đã văn minh hóa Ca-tô Rô-ma Giáo, và ngày nay chúng ta có định nghĩa về “tự do tôn giáo” như sau:

http://www.wordiq.com/definition/Freedom_of_religion

Tự do tôn giáo là quyền tự do của cá nhân theo bất cứ tôn giáo nào mà anh ta hay chị ta muốn, hoặc không theo tôn giáo nào hết. Tự do tôn giáo không bao gồm một chương trình đặt kế hoạch để cải đạo. Có nhiều sự khác biệt giữa tự do tôn giáo và tự do thờ phụng. Tự do tôn giáo không cho phép mọi hình thức thờ phụng. [Điều này cho chúng ta thấy những vụ như LM Nguyễn Văn Lý nói bậy trong Tòa với những cử chỉ côn đồ, hay TGM Ngô Quang Kiệt huy động giáo dân gồm cả đàn bà con nít, vác búa kìn và xà beng đi thắp nến cầu nguyện để đòi đất ăn cướp được của Phật Giáo không phải là tự do tôn giáo mà cũng chẳng phải là tự do thờ phụng mà chỉ là chính trị làm loạn.]

[Freedom of religion is the individual's right or freedom to hold whatever religious beliefs he or she wishes, or none at all. Religious freedom does not extent to having a planned programme of conversion. Many differences exist between freedom of religion and freedom of worship. The former does not allow all forms of worship.]

Và bây giờ, chúng ta hãy đọc quan niệm về tự do tôn giáo của Benedict XVI, quan niệm này không khác mấy với quan niệm “tự do tôn giáo” (sic) của Giáo hoàng Pius IX:

Giáo Hoàng (GH): Religious freedom expresses what is unique about the human person, for it allows us to direct our personal and social life to God, in whose light the identity, meaning and purpose of the person are fully understood. To deny or arbitrarily restrict this freedom is to foster a reductive vision of the human person; to eclipse the public role of religion is to create a society which is unjust, inasmuch as it fails to take account of the true nature of the human person; it is to stifle the growth of the authentic and lasting peace of the whole human family.

Linh mục Trần Đức Anh (TĐA) Dịch: Thực vậy, chính trong tự do tôn giáo có biểu lộ đặc tính của con người, nhờ tự do ấy con người có thể xếp đặt đời sống bản thân và xã hội của mình theo Thiên Chúa: dưới ánh sáng của Chúa, con người hiểu được trọn vẹn căn tính, ý nghĩa và cùng đích của mình. Phủ nhận hoặc giới hạn tự do tôn giáo một cách độc đoán có nghĩa là nuôi dưỡng một quan niệm hẹp hòi về con người, làm lu mờ vai trò công cộng của tôn giáo có nghĩa là tạo nên một xã hội bất công, vì không hợp với bản chất đích thực của con người; điều này có nghĩa là làm cho sự khẳng định một nền hòa bình chân chính và lâu bền của toàn thể nhân loại trở thành điều không thể thực hiện được.

Như vậy, tự do tôn giáo theo định nghĩa trên có phải là tự do tôn giáo cho mọi người, mọi tôn giáo trên thế giới không? Hay đó chỉ là tự do tôn giáo của các tôi tớ của Thiên Chúa. Giáo hoàng không nói là “dưới ánh sáng của Thiên Chúa, các tín đồ Ca-tô” mà “con người”, có nghĩa là mọi người trên thế gian. Phải chăng hơn 4 tỷ người trên thế giới không tin, không biết về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo thì không ai hiểu được căn tính, ý nghĩa và mục đích của đời mình hay sao? Định nghĩa hẹp hòi về “tự do tôn giáo” trong câu trên, xét ra rất mâu thuẫn với câu đạo đức giả tiếp theo: “Phủ nhận…” Một giáo hoàng, chủ chăn cả tỷ tín đồ, mà nói lên được một câu kiêu căng vô lối, dựa vào niềm tin đã phá sản của mình, mà cũng nói lên được thì thật là tài.

Nhưng vấn đề chính ở đây là Giáo hoàng nói về Thiên Chúa nhưng không hề cho chúng ta biết Thiên Chúa là cái gì. Là đực, là cái, hay không đực không cái, từ đâu mà ra, trước ở đâu, hiện ở đâu, trong đầu tín đồ hay trên đầu cây soan v…v… Trước khi chúng ta biết rõ về Thiên Chúa thì tất cả những gì nói về Thiên Chúa của Giáo hoàng hay của các tín đồ chỉ là đoán mò theo sự tưởng tượng của mỗi người, hoàn toàn vô giá trị trong lãnh vực học thuật. Mặt khác, trước đây Giáo hội Ca-tô đã đưa ra 23 thuộc tính của Thiên Chúa trong đó có ba thuộc tính rất đặc biệt: Vô hình (invisible), không ai biết (unknown), không ai hiểu được (incomprehensible) và còn nữa, “Không ai hiểu được Chúa Cha, Chúa Con hay Con Ma Thánh” (The Father incomprehensible, the Son incomprehensible, the Holy Ghost incomprehensible). Vì thế, ai muốn nói khơi khơi thế nào về Thiên Chúa cũng được, chẳng có ai đánh thuế, và ai muốn tin thì tin.

Chúng ta hãy đọc tiếp câu “Phủ nhận hoặc giới hạn tự do tôn giáo một cách độc đoán có nghĩa là nuôi dưỡng một quan niệm hẹp hòi về con người, làm lu mờ vai trò công cộng của tôn giáo có nghĩa là tạo nên một xã hội bất công, vì không hợp với bản chất đích thực của con người; điều này có nghĩa là làm cho sự khẳng định một nền hòa bình chân chính và lâu bền của toàn thể nhân loại trở thành điều không thể thực hiện được” và tự hỏi: tôn giáo nào đã phủ nhận hoặc giới hạn tự do tôn giáo của người khác? Giáo hoàng đã quên đi cái lịch sử ô nhục đẫm máu của Giáo hội với sách lược phủ nhận tự do tôn giáo của người khác đạo hay sao? Giáo hoàng đã quên đi những cuộc Thập Tự Chinh, những Tòa Án Xử Dị Giáo, những vụ săn lùng phù thủy, tra tấn rồi mang họ đi thiêu sống của Giáo hội, những sách lược cưỡng bách người Do Thái và những người khác đạo ở những thuộc địa mà Ca-tô Giáo có ưu thế vì dựa vào thế lực của thực dân.

Tranh vẽ trong các sách lịch sử về Giáo Hội - Các hình phạt của Giáo Hội La Mã đối với những người bị cho là Dị giáo -

Nhưng rõ ràng là Giáo hoàng chỉ muốn nói đến sự phủ nhận cái thứ “tự do tôn giáo” độc tôn của Giáo hoàng chứ không phải là bất cứ “tự do tôn giáo” nào khác. Trước sự chống đối của thế giới về những chuyện đồi bại xẩy ra trong Giáo hội Ca-tô, Giáo hoàng đã mang chiêu bài hòa bình ra để đòi hỏi “tự do tôn giáo” cho Ca-tô Giáo, nghĩa là để cho Giáo hội muốn làm gì thì làm, từ bao che những vụ linh mục loạn dâm đến vụ rửa tiền của nhà băng Vatican. Và chúng ta không nên quên là ngày 5 tháng 9, 2000, Joseph Ratzinger, với sự chấp thuận của John Paul II, đã tung ra bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” trong đó có hai điểm trịch thượng đối với mọi tôn giáo khác như sau, ngụ ý phủ nhận các tôn giáo khác:

1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự giải thoát, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)

2. “Giáo hội Ca-tô Rô-ma là phương tiện duy nhất đem đến sự giải thoát cho toàn thể nhân loại (The Roman Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity)

Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần học Ca-tô nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, đã đưa ra một nhận định về bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” là “một sự pha trộn của tính chất lạc hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican” (A mixture of medieval backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate]. Vậy mà ngày nay ông ta còn dám mở miệng để nói lên một câu làm như ông ta là người hết mực đạo đức, lên án sự phủ nhận tự do tôn giáo của người khác.

Ánh Sáng Của Thiên Chúa Là Thế Nào?

GH Benedict nói đến “ánh sáng của Thiên Chúa”: “Dưới ánh sáng của Thiên Chúa, con người hiểu được trọn vẹn căn tính, ý nghĩa và cùng đích của mình” ??. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu ánh sáng của Thiên Chúa là như thế nào. Lịch sử đã chứng tỏ rằng, dưới ánh sáng của Thiên Chúa và theo cái thứ tự do tôn giáo trên, Giáo hội Ca-tô Rô-ma đã gây nên bao thảm họa cho thế giới cho đến khi không thể che dấu được nữa thì Giáo hoàng John Paul II, ngày 12/3/200 tại thánh đường Phê-rô, Vatican, đã phải chính thức cáo thú cùng thế giới 7 núi tội ác của Ca-tô Rô-ma Giáo đối với nhân loại. Benedict XVI không biết đến vụ này hay sao, và ông ta sống trong thời đại nào vậy. Nhưng vấn đề là Thiên Chúa của ông ta là Thiên Chúa như thế nào?

Đã có nhiều công cuộc nghiên cứu về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như được viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, và cũng đã có nhiều danh nhân trên thế giới đưa ra những nhận định về Thiên Chúa này.

Sau đây là vài nhận định điển hình về Thiên Chúa của một số danh nhân trên thế giới:

1) Tổng Thống Thomas Jefferson của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đã nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo như sau: “Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là một con quỷ có ba đầu: độc ác, ưa trả thù, và đồng bóng… Chúng ta chỉ cần nhìn vào những người nói rằng họ phục vụ ông ta. Họ đều thuộc hai loại người: điên khùng và đạo đức giả [The Christian god is a three headed monster: cruel, vengeful and capricious.. One only needs to look at the caliber of people who say they serve him. They are always of two classes: fools and hypocrites] ,”

2) James A. Haught: Qua luận lý, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một Thiên Chúa ở trên trời với lòng “quá thương yêu thế gian” không đứng vững. Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra mọi thứ hiện hữu thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (Alzheimer), và hội chứng Down (khuyết tật tinh thần). Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai. Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy. Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ. (1)

3) Giám mục John Shelby Spong: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. [John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 24: A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

4) Nhưng đặc biệt hơn cả là khi đọc Richard Dawkins trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, tôi thấy tác giả đưa ra tới 16 nhận định chính xác về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo mà chúng ta có thể chứng minh đó là sự thật viết trong cuốn Thánh Kinh. Mở đầu Chương 2, trang 51, về “Giả Thuyết Về Thiên Chúa” [The God Hypothesis], tác giả Richard Dawkins viết:

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường. (2)

Vậy, dưới ánh sáng của một Thiên Chúa như trên, chỉ có con chiên mới “hiểu được trọn vẹn căn tính, ý nghĩa và cùng đích của mình”, căn tính của những kẻ cuồng tín mù lòa tin bướng tin càn, và ý nghĩa cùng đích của mình là sau khi chết được sống cuộc sống đời đời trên một thiên đường mù cùng Chúa. Và chúng ta cũng đã biết, chính là do cái căn tính và ý nghĩa cùng mục đích trên mà các tôi tớ Chúa đã gây nên bao thảm họa cho nhân loại như lịch sử đã ghi rõ, chứ con người đúng nghĩa là một con người thì làm sao có thể theo cái loại ánh sáng của một Thiên Chúa mà bản tính gồm những thứ mà chúng ta ghê tởm và xa lánh thật xa, càng xa càng tốt.

Lẽ dĩ nhiên, Giáo hoàng cũng như các con chiên của ông ta có quyền tin vào một Thiên Chúa như vậy, và không ai có quyền đụng đến niềm tin đó, với điều kiện là niềm tin đó không gây hại cho bất cứ khác và không xâm phạm đến niềm tin tôn giáo của những người khác. Nhưng lịch sử Ca-tô Rô-ma Giáo đã chứng tỏ là chủ trương của Giáo hội là xâm lăng văn hóa và xâm lăng tôn giáo trên khắp thế giới, bất cứ ở nơi nào mà Ca-tô Giáo có thể thi hành chủ trương này.

Đây chính là sách lược của Ca-tô Giáo Rô-ma nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, và sách lược này chưa hề thay đổi. Tiến sĩ Madalyn O’Hair, chủ tịch hội những người vô thần ở Mỹ đã nhận định:

Madalyn Murray O'Hair

1919-1995

“Điều răn đầu tiên của Thiên Chúa các người là “không được thờ thần nào khác”. Những tín đồ Ki-tô Giáo không thể sống với những ý tưởng khác. Họ bắt buộc phải đi cải đạo mọi người vào những hệ thống tín ngưỡng của họ. Bất cứ một người nào còn ở ngoài tín ngưỡng này cũng là một sự đe dọa đối với những người ở trong hệ thống tín ngưỡng vì người đó, ở ngoài hệ thống, cũng minh họa là Thiên Chúa của các người đã thất bại để kéo ít nhất là một người vào với ông ta. Do đó, ông ta không phải là một đấng toàn năng, toàn trí, cái gì cũng thấy, cái gì cũng biết, cái gì cũng hiểu, nhất mực nhân từ. Nếu ông ta thực là như vậy, ông ta có thể kéo mọi người đến với ông ta. [Ngày nay, không phải chỉ có một, mà trên 4 tỷ người ở ngoài hệ thống tín ngưỡng của Ki-tô Giáo. Điều này chứng tỏ sự thất bại to lớn ngoài sức tưởng tượng của Thiên Chúa là một sự kiện không ai có thể phủ bác. TCN]

Những người bị mắc trong cái bẫy [của Ki-tô Giáo] không thể nào hiểu nổi là nhiều người khác lại không có những hệ thống tín ngưỡng như vậy và không sống trong các lồng tâm linh [như những con chim bị nhốt trong lồng]. Điều mà các người toan tính làm là, theo định nghĩa, kéo chúng tôi vào sự điên rồ của các người. Sự suy nghĩ của các người bị thắt nghẽn đến độ các người không thể nào hiểu nổi thế nào là một “đầu óc tự do”, nghĩa là, một đầu óc không bị buộc chặt bởi xiềng xích tôn giáo.” (3)

Sau đây chúng ta hãy đọc tiếp ít lời mê sảng của Giáo hoàng Benedict XVI:

GH: The right to religious freedom is rooted in the very dignity of the human person,[2] whose transcendent nature must not be ignored or overlooked. God created man and woman in his own image and likeness (cf. Gen 1:27). For this reason each person is endowed with the sacred right to a full life, also from a spiritual standpoint. Without the acknowledgement of his spiritual being, without openness to the transcendent, the human person withdraws within himself, fails to find answers to the heart’s deepest questions about life’s meaning, fails to appropriate lasting ethical values and principles, and fails even to experience authentic freedom and to build a just society.[3]

LM. Trần Đức Anh (TĐA) dịch: Quyền tự do tôn giáo có căn cội trong chính phẩm giá con người (2), và không thể làm ngơ không biết tới hoặc lơ là bản tính siêu việt của con người. Thiên Chúa đã dựng nên con người nam nữ theo hình ảnh giống Ngài (Xc St 1,27). Vì thế, mỗi người đều có quyền thánh thiêng là có một cuộc sống toàn vẹn về phương diện tinh thần. Nếu không nhìn nhận bản chất tinh thần của mình, không cởi mở đối với siêu việt, thì con người sẽ co cụm vào mình, không tìm được những câu trả lời cho những vấn nạn của tâm hồn mình về ý nghĩa cuộc sống và không thủ đắc được những giá trị và nguyên tắc luân lý lâu bền. Họ cũng không cảm nghiệm được tự do chân thực cũng như không phát triển một xã hội công chính.

Lạ thật, thời buổi này mà Giáo hoàng còn dám nhắc đến một câu hoàn toàn vô giá trị trong Thánh Kinh: “God created man and woman in his own image and likeness (cf. Gen 1:27")” [Thiên Chúa đã dựng nên con người nam nữ theo hình ảnh giống Ngài]. Nên nhớ, ông ta, khi còn là hồng y Ratzinger, là cánh tay phải của giáo hoàng John Paul II và đứng đầu thánh bộ của đức tin, vậy ông ta phải biết là, trước những khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là:

Thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thiên Chúa, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. (4)

Vậy là giáo hoàng John Paul II đánh trống xuôi, nay giáo hoàng Benedict XVI thổi kèn ngược. Chẳng phải là ông ta mê sảng mà nêu ra một câu trong Cựu Ước như vậy, mà là với căn tính xảo quyệt ông ta đã đưa ra những điều chính mình không còn tin để nuôi dưỡng sự mê tín trong đám tín đồ thấp kém, chứ đối với người ngoài và cả người trong đạo của ông ta cũng chẳng ai có đầu óc còn tin vào huyền thoại trên. Cho nên tất cả những gì ông ta viết sau câu trên chỉ là những lời truyền đạo huênh hoang để lừa dối đám con chiên. Thật vậy, nếu Thiên Chúa không hề tạo dựng nên con người thì câu tiếp theo: “Vì thế, mỗi người đều có quyền thánh thiêng là có một cuộc sống toàn vẹn về phương diện tinh thần” và những câu tiếp theo cũng trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Mặt khác, đọc huyền thoại sáng tạo trong Thánh Kinh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã tạo nên Adam và Eve trần truồng, mù, và ngu dốt.. Chỉ sau khi ăn trái cấm mới mở mắt ra, biết rằng mình trần truồng, và mới biết phân biệt phải trái. Vậy con người có hình ảnh và giống Thiên Chúa nguyên thủy chỉ là đôi vợ chồng sẩm không có quần áo mặc. Thú vị thay, chúng ta có hai trong số nhiều nhận định về Thiên Chúa của ông ta như sau:

Victor Hugo (1802-1885), Văn hào Pháp: Khi anh bảo tôi rằng Thiên Chúa của anh đã tạo ra anh theo hình ảnh của ông ấy, tôi trả lời rằng hắn ta phải thật là xấu xa (When you tell me that your deity made you in his own image, I reply that he must have been very ugly.)

Đây! Hình ảnh của Thiên Chúa

 

Robert Anton Wilson (1932-…), Triết Gia Mỹ, “Cuốn Thánh Kinh bảo chúng ta là giống như Gót [vì được Gót tạo ra theo hình ảnh của ông ta], rồi từ trang này đến trang khác, mô tả Gót như là một tên sát nhân hàng loạt. [The Bible tells us to be like God, and then on page after page it describes God as a mass murderer]

Mặt khác, hình ảnh Thiên Chúa mặt mũi ra sao? Ai có thể tả tôi nghe nào? Giống như những người bị bệnh AIDS ở Phi Châu? Giống như một quái thai, hai em bé dính liền nhau và chỉ có một trái tim, trong một gia đình theo Ca-Tô giáo ở bên Anh? Giống như một người bị hội chứng Down? Giống như Hitler? Giáo hoàng Borgia? v..v..

Hitler Praying

Hitler after praying in church

Tình Yêu Thiên Chúa?

Chúng ta hãy đọc tiếp những lời truyền đạo đã lỗi thời trong thông điệp về tự do tôn giáo của Benedict XVI:

GH: Sacred Scripture, in harmony with our own experience, reveals the profound value of human dignity: “When I look at your heavens, the work of your fingers, the moon and the stars which you have established, what is man that you are mindful of him, and the son of man, that you care for him? Yet you have made him little less than God, and crowned him with glory and honour. You have given him dominion over the works of your hands; you have put all things under his feet” (Ps 8:3-6).

Contemplating the sublime reality of human nature, we can experience the same amazement felt by the Psalmist. Our nature appears as openness to the Mystery, a capacity to ask deep questions about ourselves and the origin of the universe, and a profound echo of the supreme Love of God, the beginning and end of all things, of every person and people.[4]

TĐA: Kinh Thánh, cùng với chính kinh nghiệm của chúng ta, cho thấy giá trị sâu xa của phẩm giá con người: ”Khi con nhìn trời cao, công trình do tay Chúa dựng nên, mặt trăng và các vì sao Chúa mà đã tạo dựng, thì con người có là chi mà Chúa nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Quả thực, Chúa đã dựng nên con người chỉ kém thần linh, ban vinh quang và danh dự cho họ. Chúa cho con người quyền làm chủ trên các công trình tay Chúa dựng nên, Chúa đặt mọi sự dưới chân con người” (Tv 8,4-7).

Đứng trước thực tại cao cả của bản tính con người, chúng ta có thể cảm nghiệm cùng thái độ ngưỡng mộ như tác giả thánh vịnh. Thực tại ấy được biểu mộ như một sự cởi mở đối với Mầu Nhệm, như khả năng tự hỏi sâu thẳm về chính mình và về nguồn gốc của vũ trụ, như một âm vang sâu xa về Tình Yêu tột đỉnh của Thiên Chúa, Đấng là nguyên thủy và là cùng đích của vạn vật, của mọi người và mọi dân tộc (4).

Con người Benedict XVI không bao giờ biết ngượng. Một Thiên Chúa với những thuộc tính như trên thì có giá trị gì đối với con người? Những lời huênh hoang vô lối như trên chỉ có thể nói trong nội bộ Ca-tô Rô-ma Giáo chứ không thể nói trên một thông điệp cho cả thế giới. Ông ấy chủ trương hòa bình hay chiến tranh khi ông ta mê sảng nói về “Tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa” và Thiên Chúa là Đấng nguyên thủy và là cùng đích của vạn vật, của mọi người và mọi dân tộc? Đây chỉ là những sáo ngữ khoa trương trống rỗng (empty words) mà không hề nói rõ “Tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa” là tình yêu như thế nào, và cũng không hề giải thích là ông ta dựa vào đâu mà cho rằng Thiên Chúa là Đấng nguyên thủy và là cùng đích của vạn vật, của mọi người và mọi dân tộc? trong khi chỉ có một tỷ lệ nhỏ con người trên thế giới là biết đến Thiên Chúa một cách hết sức mơ hồ, thuộc loại mù lòa tin bướng tin càn.

Nhưng nếu chúng ta đọc Thánh Kinh thì chúng ta sẽ thấy rõ “Tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa” là như thế nào. Trong Thánh Kinh Thiên Chúa đã giết bao nhiêu người vô tội, gồm cả già, trẻ, lớn, bé. Không có ai biết rõ vì có những vụ mà số nạn nhân không thể biết được, thí dụ như trong nạn Hồng Thủy, hay trong các tai họa mà Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập v..v…. Nhưng có một người có đủ kiên nhẫn để đếm số nạn nhân có thể đếm được trong Cựu Ước. Và ông ta đã đăng trên trang nhà: http://dwindlinginunbelief.blogspot.com/2009/01/who-has-killed-more-satan-or-god.html dưới đầu đề “Ai giết nhiều hơn, Thiên Chúa hay Satan?” (Who has killed more, Satan or God?). Kết quả thật là bất ngờ, con số mà ông ta đếm được là, Thiên Chúa giết tất cả là 2,301,417 (2 triệu 300 lẻ 1 ngàn và 417 người) trong khi Satan chỉ giết có 10 người và được Thiên Chúa chấp thuận trong một cuộc thách thức với Satan trong vụ gia đình ông Job. Sau đó ông ta còn lập một bảng ước tính (estimate) các vụ giết người của Thiên Chúa hay theo lệnh của Thiên Chúa và con số ước tính là Thiên Chúa giết tất cả khoảng 33 triệu người (33 million).

Nói đến “tình yêu tột đỉnh” của một cái gì vô hình, không ai biết, không ai hiểu [invisible, unknown, incomprehensible], những thuộc tính mà giáo hội Ca-tô đã gán cho Thiên Chúa của Do Thái, được giáo hội đôn lên làm Thiên Chúa của cả nhân loại, trong khi hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết đến và cũng chẳng cần biết đến Thiên Chúa đó là cái gì, thì chẳng qua là nói qua sự hoang tưởng trong đầu óc của một người đã bị tê liệt mù mịt như là sau một cơn “phi yến thu lâm” ([thuốc] phiện thú lắm). Người Ki Tô nghe thấy chim hót, nhìn thấy mùa thu lá vàng v…v… và mình có công việc tốt, thân thể khỏe mạnh, nghĩ rằng đó là tình yêu Thiên Chúa dành cho mình. Họ chẳng quan tâm đến vấn đề “tình yêu Thiên Chúa” ở đâu trong những thiên tai, sóng thần bão lụt, trong những đứa bé gầy ốm gần chết đói ở Phi Châu, hay những quái thai sinh ra trong các nước tân tiến như Anh, Mỹ v…v… Và khi bất hạnh đến với họ thì họ được bề trên giải thích đó là “ý định của Thiên Chúa” để thử thách đức tin của họ, hay đó là “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa (wondrous plan of God) như Giáo hoàng John Paul II đã giải thích những cảnh khổ ở trong thế giới thứ ba, hay đó là “kế hoạch của Thiên Chúa” để bà Teresa có cơ hội làm việc thiện, hầu việc Chúa, như chính bà ta tự nhận, hay mạ lỵ đầu óc con người bằng giải thích mà không phải là giải thích: “Mọi việc làm của Thiên Chúa đều có ý định mà đầu óc con người của chúng ta không thể nào hiểu.”

Chúa đã dựng lên trăng, sao ?

Hơn nữa, thời buổi này mà Giáo hoàng còn nói lên những điều như Chúa đã dựng lên trăng, sao v…v… trong khi ông ta đã biết rõ là chính giáo hoàng John Paul II đã chấp nhận thuyết Big Bang, ngay khi cả thuyết này chưa được kiểm chứng rốt ráo.

Thật vậy, từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116). Chúng ta nên để ý, căn bản thuyết Big Bang đã được công nhận là đúng dù năm 1981, thuyết Big Bang chưa được hoàn chỉnh cho đến khi dò ra được bức xạ nền [background radiation] trong vũ trụ vào năm 1992, và rồi những vân (ripples) trong bức xạ nền v..v…nhưng Giáo hoàng cũng đã phải công nhận vũ trụ này sinh ra từ một Big Bang.

Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Thiên Chúa Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thiên Chúa. Sau Big Bang khoảng 8 tỷ năm mới có mặt trời và sau đó, cách đây khoảng 4.5 tỷ năm mới có trái đất là một hành tinh quay xung quanh mặt trời, rồi sau đó mới có mặt trăng là một vệ tinh của trái đất. Mấy điều sơ đẳng về khoa vũ trụ học như vậy mà ông giáo hoàng cũng không chịu cập nhật hóa kiến thức của mình, vẫn mê sảng nói về Chúa tạo dựng ra trăng sao. Nhưng có thật là ông ta mê sảng không? Tôi không tin như vậy. Đây chỉ là sách lược “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, lừa bịp đầu óc của đám con chiên thấp kém ở dưới để duy trì quyền lực.. Rõ ràng là như vậy.

Theo tin từ Vatican City, trong ngày mà Kinh Thánh viết rằng ba vua đi theo một ngôi sao đến nơi Giê-su sinh ta đời, Giáo hoàng Benedict XVI nói: Đằng sau những lý thuyết khoa học phức tạp như thuyết Big Bang là đầu óc của Thiên Chúa và các tín đồ Ki Tô phải từ bỏ ý tưởng là vũ trụ ngẫu nhiên mà có [VATICAN CITY — God's mind was behind complex scientific theories such as the Big Bang, and Christians should reject the idea that the universe came into being by accident, Pope Benedict said Thursday, on the day Christians mark the Epiphany, the day the Bible says the three kings reached the site where Jesus was born by following a star.]

Chúng ta hãy bỏ qua chuyện ngớ ngẩn thời bán khai là con người có thể đi theo một ngôi sao để đến một nơi đặc biệt thu hẹp trong vài mét vuông, nhưng ý Giáo hoàng muốn nói ở đây là Thiên Chúa của ông ta đã tạo ra lý thuyết phức tạp về Big Bang. Tạo ra như thế nào? Cựu Ước đã viết rõ, Thiên Chúa tạo ra mọi thứ chỉ bằng vài lời phán, thí dụ như: “Có ánh sáng nè” là tự nhiên có ánh sáng hiện ra. Nhưng Big Bang quả thật là phức tạp, và tôi không tin là Giáo hoàng, với đầu óc mê muội về nền thần học đã lỗi thời, ông ta có thể hiểu được thuyết này. Các khoa học gia đã dùng các phương trình của Einstein để đi ngược thời gian xa tới một thời điểm mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh từ khoa học gọi là "dị điểm" (singularity), một thời điểm vào khoảng 0.0001 (một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ (10-4 sec.) sau khi dị điểm bùng nổ, khi đó nhiệt độ của dị điểm là khoảng 1,000,000,000,000 (một ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), nhiệt độ tuyệt đối K cao hơn nhiệt độ bách phân C là 273.16 độ, do đó 0 độ K tương đương với -273.16 độ bách phân C, và tỷ trọng của dị điểm là 100000000000000 (một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối. Để có một ý niệm về các con số trên, nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ vào khoảng 6000 độ, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối.

Giả thử chúng ta chấp nhận là Thiên Chúa phán: “Có big bang nè” và tự nhiên xuất hiện một dị điểm và dị điểm đó nổ bùng thành Big Bang. Nhưng chúng ta lại biết rằng, Thiên Chúa chẳng khác gì người thường mấy, vì người thường chính là hình ảnh và giống như ông ta, và Cựu Ước đã viết rõ là ông ta đi dạo trong vườn Eden nói chuyện với Adam và Eve, hay đi dạo trong trại lính ra lệnh cho binh sĩ đi cầu phải đào lỗ chôn phân vì ông ta không muốn nhìn thấy những vật dơ bẩn mà theo một nghĩa nào đó cũng chính do ông ta tạo ra. Vậy với nhiệt độ của Big Bang như vậy thì ông ta đã trở thành một hạt tro bụi rồi còn đâu nữa mà Thiên Chúa với chả Thiên Chúa. Nhưng thật là kỳ lạ, cái hạt tro bụi Thiên Chúa đó vẫn còn ở trong đầu của Benedict và trong đầu của cả tỷ tín đồ. Như Ingersoll đã nói: Xảo quyệt trên sự không hiểu biết thì vẫn có thể tồn tại.

 

Đạo Đức Giả

 

Chúng ta hãy đọc tiếp, không có gì đạo đức giả hơn là đoạn sau đây của Giáo hoàng:

GH: The exploitation of religious freedom to disguise hidden interests, such as the subversion of the established order, the hoarding of resources or the grip on power of a single group, can cause enormous harm to societies. Fanaticism, fundamentalism and practices contrary to human dignity can never be justified, even less so in the name of religion. The profession of a religion cannot be exploited or imposed by force. States and the various human communities must never forget that religious freedom is the condition for the pursuit of truth, and truth does not impose itself by violence but “by the force of its own truth”.[10] In this sense, religion is apositive driving force for the building of civil and political society.

How can anyone deny the contribution of the world’s great religions to the development of civilization? The sincere search for God has led to greater respect for human dignity. Christian communities, with their patrimony of values and principles, have contributed much to making individuals and peoples aware of their identity and their dignity, the establishment of democratic institutions and the recognition of human rights and their corresponding duties.

TĐA: Sự lợi dụng tự do tôn giáo để che đậy những lợi lộc thầm kín, ví dụ để lật đổ trật tự đã được thiết định, chiếm hữu tài nguyên hoặc duy trì quyền bính từ phía một phe nhóm, có thể tạo nên những tai hại rất lớn cho xã hội. Thái độ cuồng tín, cực đoan, những hành động trái với phẩm giá con người, không bao giờ có thể biện minh được và càng không thể thực hành những điều đó nhân danh tôn giáo. Không thể lợi dụng sự tuyên xưng một tôn giáo và cũng không thể áp đặt sự tuyên xưng ấy bằng võ lực. Vì thế, các quốc gia và các cộng đồng con người không bao giờ được quên rằng tự do tôn giáo là điều kiện để tìm kiếm sự thật và không thể bị áp đặt sự thật bằng bạo lực nhưng bằng ”sức mạnh của chính sự thật” (10). Theo ý nghĩa đó, tôn giáo là sức mạnh tích cực và là động lực thúc đẩy xây dựng xã hội dân sự và chính trị.

Làm sao có thể phủ nhận đóng góp của các tôn giáo lớn trên thế giới cho sự phát huy văn minh? Sự chân thành tìm kiếm Thiên Chúa đã đưa tới sự tôn trọng nhiều hơn đối với phẩm giá con người. Các cộng đồng Kitô, với gia sản các giá trị và nguyên tắc của mình, đã đóng góp nhiều cho sự ý thức về con người và các dân tộc về căn tính và phẩm giá của mình, và cho sự chinh phục của các định chế dân chủ, cũng như cho sự củng cố các quyền con người và những nghĩa vụ tương ứng.

Chúng ta hãy hỏi, “lợi dụng tự do tôn giáo để che đậy những lợi lộc thầm kín, để lật đổ trật tự đã được thiết định, chiếm hữu tài nguyên hoặc duy trì quyền bính từ phía một phe nhóm” là tôn giáo nào đã làm như vậy, có phải là Ca-tô Rô-ma Giáo như lịch sử đã ghi rõ hay không? Kinh nghiệm quốc gia khi Ca-tô Rô-ma Giáo xâm nhập Việt Nam với tất cả các thủ đoạn trên đâu đã có ai quên. Còn nữa, “Thái độ cuồng tín, cực đoan, những hành động trái với phẩm giá con người, lợi dụng sự tuyên xưng tôn giáo để áp đặt sự tuyên xưng ấy bằng võ lực.” là những đặc tính của tín đồ tôn giáo nào? Phải chăng Giáo hoàng chỉ nói đãi bôi trên đầu môi chót lưỡi, để lên án những hành động như vậy, làm như Giáo hội rất là thánh thiện không chấp nhận những điều làm mất phẩm giá con người như vậy, quên rằng chính Giáo hội Ca-tô Rô-ma đã phạm tất cả những điều như vậy và còn kéo dài cho đến ngày nay. Sách lược truyền đạo của Ca-tô Rô-ma Giáo ở khắp nơi trên thế giới, cũng như Tông Huấn “Cải Đạo Á Châu” của Giáo hoàng John Paul II đã cho chúng ta thấy rõ hơn gì hết lá mặt lá trái của Vatican và Giáo hoàng Benedict XVI. Chúng ta hãy đọc một tin trên Internet:

http://www.remnantofgod.org/nl010615.htm

Năm 2001: Giáo Hội Ca-Tô Tuyên Bố - “Hãy Từ Bỏ Đức Tin Hay Là Chết”:

[YEAR 2001: CATHOLIC CHURCH PROCLAIMS- "RENOUNCE YOUR FAITH OR DIE!"]

Các chức quyền ở ba tỉnh nhỏ trong mấy tiểu bang ở Mexico đã ra lệnh cho các tín đồ Ki Tô thuộc hệ phái truyền bá Phúc Âm (một hệ phái Tin Lành) phải cải đạo trở lại truyền thống Ca-tô Giáo hoặc phải chịu những hậu quả -- đe dọa cầm tù, trục xuất, hoặc cắt bỏ những tiện ích công cộng như nước, ống cống, và ngay cả chết. Ở tỉnh San Nicolas, tiểu bang Hidalgo, một tối hậu thư đã trao cho 230 nhà truyền giáo (Tin Lành) phải từ bỏ đức tin của họ hay là bị trục xuất ra khỏi nhà và cộng đồng. (5)

Chúng ta thấy, ở nơi nào mà dân Ca-tô chiếm đa số và nắm quyền ở địa phương thì chuyện đó rất có thể xẩy ra. Ở Việt Nam gần đây cũng đã xẩy ra vụ đốt một chùa ở trong khu Ca-tô. Người ta muốn giữ riêng tín đồ trong những ốc đảo ngu dốt (từ của LM Trần Tam Tĩnh) trong khi tín đồ Ca-tô sống trong các cộng đồng phi Ca-tô không có bất cứ một vấn đề gì.

Giáo hoàng nói:

Làm sao có thể phủ nhận đóng góp của các tôn giáo lớn trên thế giới cho sự phát huy văn minh? Sự chân thành tìm kiếm Thiên Chúa đã đưa tới sự tôn trọng nhiều hơn đối với phẩm giá con người. Các cộng đồng Kitô, với gia sản các giá trị và nguyên tắc của mình, đã đóng góp nhiều cho sự ý thức về con người và các dân tộc về căn tính và phẩm giá của mình, và cho sự chinh phục của các định chế dân chủ, cũng như cho sự củng cố các quyền con người và những nghĩa vụ tương ứng.

Có bao nhiêu sự thật trong đoạn trên? Giáo hội đã nổi tiếng là ngăn chận sự phát huy trên thế giới trong nhiều thế kỷ, giam giữ đầu óc tín đồ trong ngục tù tâm linh: cấm không được đọc Thánh Kinh, cấm không được đọc những tác phẩm mà Giáo hội không chấp thuận v…v... Vậy, tuy Ca-tô Rô-ma Giáo là một tôn giáo lớn nhưng chẳng có đóng góp gì mấy cho sự phát huy văn minh của thế giới. Triết lý, thần học của Giáo hội đã trở thành lỗi thời và bị đào thải, có còn lại chẳng qua chỉ là một số kiến trúc nhà thờ, thánh đường để cho dân du lịch như tôi đến coi chơi, và những bản nhạc chỉ thích hợp với một thiểu thiểu số người trên thế giới.

Helen Ellerbe viết trong cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo (The Dark Side of Christian History), trang 50:

“Giáo hội Ca Tô đã có những tác động tàn phá trên xã hội. Khi Giáo hội nắm được vai trò lãnh đạo, hoạt động trong những ngành y khoa, kỹ thuật, khoa học, giáo dục, lịch sử, nghệ thuật và thương mại đều sụp đổ. Âu Châu đi vào những Thời Đại Đen Tối. Tuy Giáo hội vơ vét được một tài sản to lớn trong những thế kỷ đó, hầu hết những gì định nghĩa cho văn minh đã biến mất.” (6)

Và Robert G. Ingersoll đã nhận định như sau:

"Khi Ca-tô Rô-ma Giáo có được quyền lực thì tôn giáo này phá hủy mọi tượng thần mà nó có thể đặt những bàn tay vô minh của nó lên trên. Nó hủy hoại và xóa bỏ mọi họa phẩm, phá hủy mọi công sự đẹp đẽ, đốt sạch những tác phẩm Hi Lạp và La Tinh, triệt tiêu mọi lịch sử, thơ phú, triết lý và thiêu rụi mọi thư viện mà nó có thể đốt được. Kết quả là, màn đêm Trung Cổ đã phủ lên nhân loại. Nhưng vì tình cờ, vì may mắn, vì bỏ sót, một vài tác phẩm đã thoát được sự ác liệt của cuồng nhiệt tôn giáo, và những tác phẩm này trở thành cái nhân mà quả của nó là nền văn minh của chúng ta ngày nay." (7)

[Màn đêm Trung Cổ còn được biết là màn đêm của sự man rợ và đen tối trí thức (The ages of barbarism and intellectual darkness)]

Để có một nhận định chính xác hơn về mối tương quan giữa nền văn minh Âu Mỹ và KiTô giáo, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của John E. Remsburg trong cuốn "Những lời nhận vơ sai sự thực" ("False Claims", trg. 16-17 ):

"KiTô giáo có liên quan gì tới nền văn minh của dân tộc này? Chắc chắn là không; và nếu không có đám mây thiên kiến trước mắt họ, những tín đồ KiTô sẽ thấy rõ rằng KiTô giáo không tạo nên nền văn minh của chúng ta. Họ sẽ thấy rằng thay vì giáo hội văn minh hóa thế giới, chính cái thế giới duy lý trong nhiều thế kỷ đã từ từ văn minh hóa giáo hội.

Chính ngay cái bản chất của KiTô giáo đã loại bỏ cái khả năng tiến bộ như là một nguyên lý tự hữu của tôn giáo này; và bất cứ có sự tiến bộ nào, ở trong hay ở ngoài giáo hội, đều do những nguyên nhân mà giáo hội không kiểm soát được. Giáo hội tự cho là nắm giữ chân lý, chân lý toàn diện, chỉ là chân lý. Mọi đề nghị thay đổi, mọi khám phá mới, đối với giáo hội là sai sự thực, và, do đó, giáo hội chống đối. Giả thử giáo hội thành một đế quốc trên toàn thế giới, mọi tiến bộ sẽ phải ngưng ngay lập tức. Những Huxley và Haeckels của chúng ta sẽ bị diệt trừ thẳng cánh, ngọn đuốc Lý Trí sẽ bị tắt ngấm, và cái lòng tin mù quáng sẽ là sự chỉ đạo duy nhất của chúng ta. Giáo hội đã cho ta những bằng chứng quyết định về sự thực này. Trong nhiều thế kỷ, quyền lực của giáo hội ở Âu Châu là cao nhất, nhưng ngay cả những văn sĩ KiTô cũng phải gọi những thế kỷ đó là thời đại đen tối.

Chỉ khi chủ thuyết duy lý khai sinh, khi khoa học bắt đầu phát triển, và KiTô giáo bắt đầu suy thoái, nền văn minh hiện đại mới ló dạng. Lecky nói rằng: "Trong hơn 3 thế kỷ, sự suy thoái của những ảnh hưởng thần học là một trong những dấu hiệu không thể chối cãi để đo sự tiến bộ của chúng ta." Carlyle nói rằng: "Kiến thức càng tăng, lòng tin càng giảm." Strauss nói rằng: "Thời Trung Cổ tín ngưỡng tôn giáo thì tỷ lệ thuận với sự ngu tối và man rợ. Tôn giáo và văn minh không ở cùng vị thế mà trái ngược đối với nhau, cho nên với sự văn minh tiến bộ, Ki Tô giáo phải lui." (8)

Để rọi thêm một tia sáng vào cái gọi là văn minh KiTô, chúng ta hãy đọc tiếp đoạn sau đây của (Lloyd M. Graham Deceptions & Myths of the Bible, The Citadel Press Book, New York, 1995., trg. 448-449) về trí tuệ của các Thánh Kitô trong việc "mở mang đầu óc" và "văn minh hóa" con người:

"Bất cứ người nào bị thống trị bởi tư tưởng tôn giáo đều bị đặt dưới ảnh hưởng của cái năng lực lý luận sai lầm. Đó chính là những nhà lập giáo KiTô lầm lẫn. Ngày nay chúng ta vinh danh những kẻ không xứng đáng về lòng dũng cảm của họ mà không ý thức được cái tội ác mà họ đã phạm phải -- sự phá hủy hoàn toàn khoa học và triết lý cổ xưa. Điều này đưa đến 1500 năm đen tối, trong thời gian này dân KiTô không biết ngay cả quả đất tròn.

Trong thời đại đen tối, sự tối tăm có tính cách toàn diện - một ảnh hưởng khó hiểu của cái gọi là "ánh sáng của thế giới." (Ca-Tô giáo vẫn tự cho là ánh sáng của thế giới, do sự soi sáng của ánh sáng Thiên Chúa; TCN)

Bây giờ chúng ta hãy so sánh những khoa học gia Hi Lạp (Tác giả muốn nói đến Pythagoras (thuyết trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời, thế kỷ - 6 (6 thế kỷ trước thời đại này)), Aristarchus (thuyết mặt trời là trung tâm vũ trụ, thế kỷ -3, mà 19 thế kỷ sau Copernicus khám phá ra), Eratosthenes (đo chu vi trái đất, thế kỷ -3), Hipparchus (kinh tuyến và vĩ tuyến, thế kỷ -2), Democritus và Leucippus (thuyết nguyên tử của vật chất, thế kỷ 5) với các Thánh Ca-Tô. Đối với vài khoa học gia còn sống sót người ta nói như sau: "cái tên điên này muốn đảo ngược cả hệ thống thiên văn, nhưng Thánh kinh thiêng liêng dạy chúng ta rằng Joshua ra lệnh cho mặt trời đứng yên lại chứ không phải là trái đất." - và 1300 năm sau một giáo hoàng cũng ra sắc lệnh với cùng ý như vậy. Một luận cứ nổi tiếng khác là "trong ngày phán xét những người ở phía bên kia của trái đất không thể thấy được Chúa từ trên không xuống." Về sự chuyển động của trái đất, Thánh Augustine (cha đẻ của nền thần học GiaTô và được GiaTô giáo tôn sùng coi như là có trí tuệ siêu việt) nói như sau: "Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam" (Như vậy là Thánh kinh không biết tới dân Việt Nam và lẽ dĩ nhiên không làm gì có chuyện cứu rỗi dân Việt Nam. TCN) Và linh mục Incholer nói như sau: "Quan miệm về sự chuyển động của trái đất là quan niệm tồi tệ nhất, nguy hại nhất, xúc phạm nhất trong những quan niệm dị giáo; sự bất động của trái đất là điều thiêng liêng gấp ba lần." Và Lactantius kết luận: "Không thể có chuyện con người tin một cách vô lý đến độ cho rằng mùa màng và cây cỏ ở phía bên kia của trái đất lại mọc chổng đầu xuống và con người lại có chân cao hơn đầu." Làm sao chúng ta có thể áp dụng những lời trên vào con người đã thốt ra những lời đó. Ngày nay, chúng ta biết họ sai lầm về khoa học, nhưng chúng ta vẫn không biết họ sai lầm về thần học." (9)

Vậy Ca-tô Rô-ma Giáo đã đóng góp gì cho sự phát huy văn minh? Cấu trúc của Giáo hội Ca-tô là một hệ thống giai cấp thống trị, mọi cấp dưới đều phải tuân phục vâng lời cấp trên, con chiên vâng lời linh mục, linh mục vâng lời giám mục, và cứ như thế lên đến giáo hoàng, vậy thì ý niệm về dân chủ và nhân quyền nằm ở đâu trong Giáo hội. Tuy vậy mà ngày nay chúng ta vẫn thấy đám con chiên trí thức Việt Nam lên tiếng ca tụng là Ca-tô Rô-ma Giáo là nguồn gốc của văn minh, tự do và nhân quyền trên thế giới, và dù Giáo hội đã phạm 7 núi tội ác như trên, Giáo hội vẫn là “thánh thiện”.

 

Chân Lý Tuyệt Đối: Chúa Giêsu Là Đường!

 

Chúng ta hãy đọc tiếp một đoạn trong thông điệp của Giáo hoàng:

GH: For the Church, dialogue between the followers of the different religions represents an important means of cooperating with all religious communities for the common good. The Church herself rejects nothing of what is true and holy in the various religions. “She has a high regard for those ways of life and conduct, precepts and doctrines which, although differing in many ways from her own teaching, nevertheless often reflect a ray of that truth which enlightens all men and women”.[13]

The path to take is not the way of relativism or religious syncretism. The Church, in fact, “proclaims, and is in duty bound to proclaim without fail, Christ who is the way, the truth and the life (Jn 14:6); in Christ, in whom God reconciled all things to himself, people find the fullness of the religious life”.[14] Yet this in no way excludes dialogue and the common pursuit of truth in different areas of life, since, as Saint Thomas Aquinas would say, “every truth, whoever utters it, comes from the Holy Spirit”. [15]

TĐA: Đối với Giáo Hội, việc đối thoại giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau là một phương thế quan trọng để cộng tác với tất cả các cộng đoàn tôn giáo hầu mưu công ích. Giáo Hội cũng không loại bỏ những gì là chân thật và thánh thiêng trong các tôn giáo khác. ”Giáo Hội chân thành tôn trọng những lối sống và hành động, các giới luật và đạo lý ấy, dù chúng khác biệt trong nhiều điểm với những gì Giáo Hội tuyên xưng và đề nghị, nhưng nhiều khi chúng cũng phản ảnh một tia sáng chân lý soi chiếu cho tất cả mọi người” .

Con đường như thế không phải là con đường duy tương đối hoặc tổng hợp tôn giáo. Thực vậy, Giáo Hội ”loan báo và bó buộc phải loan báo, Đức Kitô là ”đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), nơi Người con người phải tìm được sự viên mãn của đời sống tôn giáo và trong Người Thiên Chúa đã hòa giải với mính tất cả mọi sự” (14). Điều này không loại bỏ đối thoại và sự cùng nhau tìm kiếm sự thật trong các lãnh vực sinh tử, như một câu nói thường được thánh Tômasô Aquinô sử dụng, ”Mọi chân lý, bất kỳ do ai nói lên, đều đến từ Thánh Linh”.

Trong thế giới văn minh tiến bộ ngày nay, với trí tuệ của con người tiến hóa và phát triển qua nhiều thời đại, với những tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, đầu óc con người đã mở mang trên mọi địa hạt, không một tôn giáo nào có thể cho là mình nắm giữ chân lý tuyệt đối, cho nên đối thoại tôn giáo trong tinh thần hiểu biết và chấp nhận sự khác biệt tôn giáo trong một thế giới đa tôn giáo là điều tất yếu để có thể tạo hòa bình giữa các tôn giáo. Nhưng câu trịch thượng trên: “Giáo Hội ”loan báo và bó buộc phải loan báo, Đức Kitô là ”đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), nơi Người con người phải tìm được sự viên mãn của đời sống tôn giáo và trong Người Thiên Chúa đã hòa giải với mính tất cả mọi sự” (14). Điều này không loại bỏ đối thoại và sự cùng nhau tìm kiếm sự thật trong các lãnh vực sinh tử, như một câu nói thường được thánh Tômasô Aquinô sử dụng, ”Mọi chân lý, bất kỳ do ai nói lên, đều đến từ Thánh Linh”” trên thực tế đã loại bỏ mọi đối thoại. Hơn nữa, một khi đã cho rằng mọi chân lý đều đến từ con ma thánh (Holy ghost) mà nhiệm vụ duy nhất của con ma này mà các tín đồ gọi là “thánh linh” là cắm trên đầu ông Joseph một cặp sừng thánh. Nhưng vấn đề ở đây là tại sao người ngoại đạo chúng tôi phải tin cái câu nói mê sảng của Thomas Aquinas, kiến thức của Thomas Aquinas thì có giá trị gì đối với người ngoại đạo? Chúng ta nên nhớ rằng Luận Cứ Vũ Trụ hay Nguyên Nhân Đầu Tiên (Cosmological Argument) của Thomas Aquinas để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa đã bị các học giả dứt khoát bác bỏ vì những mâu thuẫn tự tại.

Tự bao giờ, “đối thoại” chỉ có trên đầu môi chót lưỡi của Ca-tô Rô-ma Giáo chứ Giáo hội chưa bao giờ thực tâm đối thoại với bất cứ tôn giáo nào khác. Chúng ta hẳn còn nhớ, ngay từ Công Đồng Vatican II, Giám Mục Emile de Smedt, phát ngôn viên của ủy ban soạn về đề mục tự do tôn giáo, đã đưa ra khuyến cáo về chính sách “đối thoại”, “tự do tôn giáo”, “hòa hợp tôn giáo” chỉ có trên mặt văn tự của Vatican trước Công đồng linh mục ngày 19 tháng 11 năm 1963 như sau:

"Nhiều người phi-Ca-Tô đã nuôi sự thù ghét đối với giáo hội, hay ít ra cũng nghi ngờ đó là một loại chủ thuyết Machiavelli (nghĩa là chỉ cần đạt được mục đích bất kể đạo đức. TCN), vì đối với họ chúng ta có vẻ như là khi ở thế thiểu số trong quốc gia nào thì chúng ta đòi hỏi phải được tự do tôn giáo nhưng cùng lúc lại từ chối hay tước bỏ cùng sự tự do tôn giáo đó của họ nếu chúng ta ở thế đa số.

Tại sao lại nói đến đối thoại với các người Ki-Tô khác, với người Do Thái, với tất cả những người phi-Ki-Tô (non-Christians) khi thực ra về lý thuyết cũng như thực hành, giáo hội Ca Tô Rô Ma không tôn trọng tự do của những người phi-Ca-Tô.

Bất cứ kế hoạch hòa hợp tôn giáo nào của giáo hội Ca Tô cũng sẽ hoàn toàn vô hiệu quả và hoàn toàn vô nghĩa trừ phi giáo hội tuyên bố rõ ràng và với thẩm quyền rằng giáo hội sẽ tôn trọng sự tự do của các tín ngưỡng khác, dù rằng giáo hội có quyền hành hay cơ hội có thể làm khác, và rằng giáo hội phải dựa trên căn bản tự do tôn giáo, lên án sự bất khoan dung, bách hại và kỳ thị ." (10)

Avro Manhattan viết trong cuốn "The Vatican's Holocaust", xuất bản năm 1986, như sau:

"Giáo hội Ca-Tô đột nhiên tham gia hợp tác tôn giáo là một sách lược cổ điển để làm cho người ta quên đi cái bản chất bất khoan dung vẫn tồn tại trong giáo hội.

Chúng ta phải nhớ rằng nếu các tòa án xử dị giáo đã được bãi bỏ từ giữa thế kỷ trước thì cái Văn Phòng Thánh, nguồn cảm hứng và công cụ của các tòa hình án mới chỉ được "dẹp bỏ" mới ít lâu naỵ Thực ra, Văn phòng này còn đang hoạt động dưới một cái tên hoa mỹ ở giữa những bức tường kín đáo trong Vatican. (Cơ quan truyền bá đức tin, đứng đầu chính là Ratzinger (Congregation for the Propagation of Faith). TCN)

Một trong những nhiệm vụ chính của văn phòng này là làm sao cho cái lò sát sinh ở Croatia và cái chế độ Ca-tô độc tài ở Việt Nam được quên đi, và trở thành một mẩu ghi chú của lịch sử xa xôi.

Sách lược này đã thành công một phần...Không như những trại tập trung kinh khủng của Hitler và Stalin, các trại tập trung ở Croatia và cảnh Phật tử tự thiêu ở Việt Nam, một hình thức phản đối sự can thiệp khủng bố tôn giáo của Vatican, đã trở thành những cấm kỵ trong diễn đàn truyền thông thế giới. (Bây giờ chúng ta đã hiểu tại sao ở ngoại quốc có cả một chiến dịch phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm cũng như xuyên tạc và bôi nhọ các cuộc tự thiêu chống Diệm của Phật Giáo)

Những đoan quyết căn bản của Ca-Tô chưa bao giờ thay đổi tí nào. Cho đến nay cũng như tự bao giờ, sự chấp chặt của Giáo hội Ca-Tô trên tính chất duy nhất của giáo hội vẫn còn chắc như đá hoa cương. Cũng chính vì những chấp chặt này mà đã xảy ra tòa án xử dị giáo, Croatia và chế độ độc tài Ca-Tô ở Việt Nam.

Nếu quá khứ là một dấu hiệu về những việc xảy ra trong tương lai thì, khi nắm được cơ hội và ở trong một bối cảnh chính trị thích nghi, những tòa án xử dị giáo mới, những Croatia mới và Việt Nam mới sẽ lại được tạo ra hoài hoài. Khi nào, ở đâu và như thế nào, chỉ có tương lai mới trả lời được." (11)

Tín đồ Ca-Tô muốn tin sao là quyền của họ. Nhưng sự thật luôn luôn vẫn là sự thật. Sự thật là những lời tự tôn của Giê-su như “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống” không có một giá trị nào và một căn bản thuyết phục nào, ít ra là đối với đa số người dân trên thế giới, nhất là trong giới trí thức. Con đường của Chúa Giê-su là con đường dẫn con chiên vào chuồng chiên: “John 3: 16,18: Tin ta thì được lên thiên đường, không tin ta thì xuống hỏa ngục” . Sự thật của Giê-su là sự thật như thế nào, sự thật đó nói về gì, có kiểm chứng được hay không, và đã có ai biết đến sự thật đó, hay chỉ là nhắm mắt mà tin? Và Sự Sống của Giê-su là chỉ sống sau khi đã chết, ở một nơi không ai biết, không ai thấy, do đó chỉ có trong niềm hoang tưởng hay ảo vọng của một thiểu số trên thế giới.

Chúng ta cũng còn nhớ trước đây khi còn là hồng y Ratzinger, Giáo hoàng Benedict XVI đã phán một câu rất hạ cấp, có thể nói là vô giáo dục về Phật Giáo. Chúng ta cũng thấy tư cách của một số tín đồ Ca-tô Việt Nam trên Internet rập theo khuôn của “đức thánh cha”. Người Ca-tô, từ trên xuống dưới, thường bảo vệ những sự xấu xa ô nhục trong đạo mình bằng cách xuyên tạc, dùng những ngôn từ hạ cấp, thiếu văn hóa để hạ thấp các tôn giáo khác, tưởng rằng như vậy thì có thể xóa bỏ được những sự đồi bại trong tôn giáo của mình và do đó đạo mình trở nên thánh thiêng hơn.

 

Thế giới cần đến Thiên Chúa?

 

Tôi chẳng muốn phê bình thêm nữa vì không muốn phí thêm thì giờ quý báu của tôi. Nhưng vì Giáo hoàng phán: “The world needs God “ [Thế giới cần đến Thiên Chúa] vì “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” (John 3:16), với “tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa” cho nên trước khi chấm dứt, tôi muốn trích dẫn từ Thánh Kinh vài điều để chúng ta thấy Thiên Chúa đã thương yêu thế gian như thế nào và đặt một dấu hỏi “tại sao “Thế giới”, thế giới nào, lại cần đến một Thiên Chúa như vậy”, và sau cùng, một nhận định tuyệt vời về Thiên Chúa của một vĩ nhân: Robert G. Ingersoll.

Tất cả những câu sau đây đều lấy trong cuốn gọi là “Kinh Thánh” của Ki Tô Giáo:

Xuất Hành 13:15: Thiên Chúa giết mọi đứa con đầu lòng trên đất Ai cập, con đầu lòng của người cũng như con đầu lòng của các súc vật. [Why?]

Xuất Hành 12: 29: Vào nửa đêm Thiên Chúa giết chết mọi đứa con đầu lòng trên đất Ai Cập, từ đứa con đầu lòng của Vua Ai Cập (Pharaoh) cho đến các con đầu lòng của các tù nhân trong ngục tối, và luôn cả những đứa con đầu lòng của súc vật. [Why?]

Xuất Hành 20: 5 và Phục Truyền 5:9: Ta, Thiên Chúa của các ngươi, là một Thiên Chúa ghen tuông đố kỵ, sẽ trừng phạt tới ba bốn thế hệ sau của những kẻ nào ghét Ta (nghĩa là những người đi thờ phụng Thần khác hay hình ảnh khác)

Isaiah 14: 21: Hãy sẵn sàng để giết những đứa con vì tội của cha chúng.

Jeremiah 11:14: Vậy ngươi (Jeremiah) chớ cầu nguyện thay cho dân này (dân Giu-đa); chớ vì chúng nó mà lên tiếng cầu nguyện; vì khi chúng nó cầu nguyện Ta khi bị hoạn nạn Ta sẽ không nghe chúng. [Điều này: “Ta sẽ không nghe chúng” thật đã rõ ràng ở Tòa Khâm Sứ và Thái Hà, và những nơi Ca-tô Giáo Việt Nam làm loạn, vì Thiên Chúa không hề biết đến dân Việt, và trong chương trình “cứu rỗi” của Giê-su không hề có người Việt như Tân Ước đã viết rõ]

Phục Truyền 28:15-24: Nếu ngươi không nghe theo lời phán của Thiên Chúa ngươi, không làm theo các lời răn và luật pháp của Ngài thì mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình ngươi.

Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoại đồng ruộng, cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả…bông trái của đất ruộng ngươi, luôn với những con bò con, chiên con của ngươi đều bị rủa sả.

Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào.. Thiên Chúa sẽ giáng xuống ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến khi ngươi bị hủy diệt.. Ngài sẽ khiến cho ôn dịch theo đuổi ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt khỏi trái đất… Ngài sẽ giáng bịnh lao, bịnh nóng lạnh, bịnh phù, hạn hán, binh đao và sâu bọ trong đồng lúa cho đến khi ngươi chết. Thay vì mưa, Ngài sẽ khiến cát bụi từ trên trời sa xuống trên đất ngươi cho đến khi ngươi bị hủy diệt.

Phục Truyền 28: 27: Thiên Chúa sẽ giáng cho ngươi ghẻ chốc của xứ Ai Cập, trĩ lậu, ghẻ ngứa và lác, mà ngươi không thể chữa lành..

Phục Truyền 28:53: Ngươi sẽ ăn hoa quả của thân thể mình, tức là ăn thịt con trai và con gái mình, mà Thiên Chúa ban cho ngươi.

Jeremiah 11:22 : Này, Ta sẽ phạt chúng nó; những người trai tráng sẽ chết bởi gươm đao, con trai con gái của chúng sẽ chết bởi đói kém.

Leviticus 26:28-29: Ta sẽ nổi giận, phạt tội các ngươi nặng gấp 7 lần. Và các người sẽ ăn thịt con trai và con gái các ngươi. [And ye shall eat the flesh of your sons, and the flesh of your daughters shall ye eat.]

Thi Thiên 68: 21-23: Thiên Chúa sẽ dẫm nát đầu kẻ thù của ông ta.. Và chân các người sẽ ngập máu kẻ thù.

Isaiah 34: 6-8: Lưỡi gươm của Chúa dính đầy máu… Đất đai của chúng sẽ ngập máu… Vì đó là ngày trả thù của Thiên Chúa.

Deutoronomy 13:15: Các ngươi phải dùng kiếm tận diệt tất cả dân chúng trong thành (vì họ đi thờ thần khác), phá hủy hoàn toàn tất cả những gì trong đó, và cả mọi súc vật trong đó.

1 Samuel 15: 2-3: Ta sẽ trừng phạt dân Amalek và phá hủy tất cả những gì chúng có và giết hết không chừa ai: đàn ông, đàn bà, con trẻ, con nít mới sinh, bò, cừu, lạc đà và lừa của chúng.

Phục Truyền 22: 23-24: Luật của Thiên Chúa: Nếu một người đàn ông thông dâm với một gái trinh đã đính hôn làm vợ người khác, phải mang cả hai ra cổng thành và ném đá cho chết. [Tân Ước viết: Trinh nữ Mary đã đính hôn làm vợ của Joseph, nhưng con Ma Thánh, cũng là Thiên Chúa, cũng là Giê-su, đã thông dâm với Maria để sinh ra Giê-su, vậy mà chẳng có ai mang họ ra cổng thành để ném đá cho chết.]

Phục truyền 23: 2-3: Một người con hoang (như Giê-su, theo nhận định của Giám mục John Shelby Spong và Linh mục John P. Meier và nhiều học giả khác) không được vào cộng đồng dân Chúa. Con cháu người này đến 10 đời sau cũng không được vào cộng đồng dân Chúa. Người Am-môn, người Mô-áp không được vào cộng đồng dân Chúa. Con cháu chúng đến 10 đời sau cũng không bao giờ được vào cộng đồng dân Chúa (even to the tenth generation none of his descendants shall enter the congregation of the Lord forever). [Xin nhớ, dân Chúa là dân Do Thái chứ chẳng phải là dân tộc nào khác, kể cả Việt Nam]

Lê-vi 26: 22: Ta sẽ sai các ác thú đến giữa các ngươi để xé nát con cái các ngươi và giết hết súc vật của các ngươi.

Lê-vi 26: 29: Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái các ngươi [You shall eat the flesh of your sons, and you shall eat the flesh of your daughters]

2 Samuel 12: 15-18: Và Thiên Chúa làm cho đứa con của David, sinh ra bởi vợ của Uriah, đau nặng…Và bảy ngày sau đứa bé chết.

Ezekiel 5: 10: Vậy những người cha sẽ ăn thịt các con trai của mình, các con trai sẽ ăn thịt những người cha của mình [Therefore fathers shal eat their sons, and sons shall eat their fathers]

Jeremiah 19: 9: Ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt các con trai, con gái của mình …

Lê-vi 20: 9: Đứa con nào rủa cha hay mẹ mình thì phải mang ra giết đi.

Lê-Vi 21: 9: Nếu con gái của thầy tế lễ làm nghề mãi dâm, xúc phạm cha mình, người con gái ấy phải mang đi thiêu sống.

Phục truyền 13: 6-10: Nếu anh em ngươi, con trai hay con gái ngươi, vợ ngươi hay bạn ngươi, khuyến dụ ngươi đi thờ các thần khác, thần của các nước lân bang hay xa xôi.., thì ngươi phải giết nó đi, trước hết là đích thân tay ngươi phải ném đá để cho nó chết, rồi sau mới đến tay của dân chúng. [Nếu luật này cũng được áp dụng đối với các tôn giáo khác thì mọi nhà truyền giáo Ki Tô, từ Alexandre de Rhodes cho tới Puginier v..v…, và các nhà truyền đạo Tin Lành trên thế giới đều phải bị ném đá cho chết đi. Nhưng mừng thay, chẳng có đạo nào ở Á Đông lại ác ôn như đạo Thiên Chúa]

Psalm 137: 9: Phúc cho kẻ nào đem những con trẻ của ngươi đập vào đá cho chết [Happy shall he who takes and dashes your little ones against the rock]

Dân Số 11: 33: Nhưng khi miếng thịt còn giữa hai hàm răng, trước khi kịp nhai, thì cơn thịnh nộ của Thiên Chúa nổi lên đối với dân tộc đó, và Thiên Chúa giáng cho dân tộc đó bệnh dịch thật lớn. (and the Lord struck the people with a very great plague)

Dân Số 21: 6: Do đó Thiên Chúa sai rắn lửa đến dân tộc đó và nhiều người bị rắn cắn chết

2 Samuel 24: 15: Vậy, Thiên Chúa cho bệnh dịch hoành hành khắp nước Israel, Từ Dan cho đến Beersheba, từ sáng cho đến thời gian ấn định, có đến 70,000 người chết.

Ezekiel 5: 17: Ta sẽ đem nạn đói và thú dữ đến cho các ngươi, chúng sẽ cắn xé các ngươi. Bệnh dịch và chiến tranh sẽ tàn phá các ngươi, ta sẽ mang gươm giáo đến giết các ngươi.

Qua những trích dẫn trên từ chính cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, và đó chỉ là một số nhỏ điển hình, chúng ta thấy rõ, những câu khoa trương về Thiên Chúa như “Thế giới cần đến Thiên Chúa” hay “Tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa” chỉ là những lời lừa bịp đám tín đồ ngu dốt, chưa bao giờ đọc đến Thánh Kinh. Thật vậy, tôi không tin rằng Giáo hoàng Benedict XVI lại chưa bao giờ đọc Thánh Kinh. Nhưng tại sao ông ta không thấy những câu trên và vẫn rao giảng cho tín đồ những điều hoàn toàn trái ngược với những gì viết trong cuốn Thánh Kinh? Chúng ta hỏi để mà hỏi chứ chúng ta đã biết rõ là ông ta và giới chăn chiên thuộc hạ của ông ta đều rất cần đến một Thiên Chúa mà họ dựng lên và gán cho những thuộc tính không hề có như vậy để mê hoặc những đầu óc yếu kém, tạo quyền lực thế tục cho họ. Nói khác đi, họ đều là những kẻ buôn thần bán thánh vô liêm sỉ. Và nay chúng ta đã có thể trả lời dứt khoát cho câu hỏi: “Tại sao “thế giới” lại cần đến một Thiên Chúa như vậy”?, và câu trả lời là: “Ai muốn cần đến một Thiên Chúa như vậy thì cứ việc cần, còn thế giới đầu óc lành mạnh của chúng tôi thì tuyệt đối không bao giờ cần đến một Thiên Chúa như vậy, và chúng tôi sẽ cố gắng làm “hết lòng, hết sức và hết linh hồn” để trục cái ông Thiên Chúa ác ôn này ra khỏi đầu óc yếu kém của những người không biết là mình đã bị lừa bịp và thuần hóa để phải cần đến một Thiên Chúa như vậy.”

Để thay cho phần kết luận, tôi xin trích dẫn một vài đoạn của Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ mà cho tới ngày nay, chưa có ai sánh kịp.

“Thiên chúa thì có ích gì cho con người?

Không phải là câu trả lời khi cho rằng có một thiên chúa nào đó tạo nên thế giới, lập ra một số luật, rồi quay đi làm việc khác, để cho những con cái của mình yếu ớt, ngu dốt và không được giúp đỡ, vật lộn với đời sống. Không phải là một giải pháp khi tuyên bố rằng cái ông thiên chúa này sẽ mang hạnh phúc đến cho một số ít, hoặc ngay cả cho tất cả những thuộc hạ của ông ta. trong một thế giới nào khác...

Thế giới có đầy những sự bất toàn.

Phải chăng là một thiên chúa vô cùng thông thái, thánh thiện và toàn năng, có ý định sản xuất ra con người, lại bắt đầu từ những dạng sống thấp nhất; với những cơ thể sinh vật đơn giản nhất mà người ta có thể tưởng tượng được, và rồi trong những thời kỳ lâu dài không thể đo được, tiến triển chậm đến nỗi không thể nhận ra được, từ lúc ban đầu thô thiển cho đến khi tiến hóa thành con người? [Tác giả đã mô tả phần nào nguồn gốc của con người theo quá trình tiến hóa. TCN]

Phải chăng vô số những thời đại đã bị phí phạm để sản xuất ra những dạng sống nguy hiểm, sau đó lại bỏ đi? [Tác giả muốn nói nhiều chủng loại sinh vật đã được sinh ra rồi lại bị tiêu diệt, biến mất trên thế gian, dựa trên những sự kiện trong môn cổ sinh vật học. TCN]

Có thể nào sự thông minh của con người thấy được chút ít khôn ngoan nào (của Thiên chúa) trong việc phủ đầy trái đất với những con vật gớm ghiếc, chỉ sống trên sự đau đớn và những cảm xúc đau đớn của những con vật khác? Ai là người có thể ghi ơn lòng nhân từ (của Thiên chúa) đã dựng lên một thế giới mà súc vật ăn thịt lẫn nhau (có con người trong này), mỗi một cái miệng là một lò sát sinh, mỗi một dạ dầy là một nấm mồ? Có thể thấy được chăng sự thông minh và lòng thương yêu vô cùng (của Thiên chúa) trong sự tàn sát ở khắp nơi và không bao giờ chấm dứt?

Chúng ta nghĩ thế nào về một người cha, muốn ban cho con cái mình một nông trại, nhưng trước khi trao quyền sở hữu nông trại cho chúng, ông ta đã trồng trên đó hàng ngàn loại cây độc địa; chất trong đó những con thú dữ tợn, những loài bò sát độc hại; đặt một số sình lầy ở bên để nuôi dưỡng bệnh sốt rét; xếp đặt vật chất sao cho thỉnh thoảng đất lại mở ra để nuốt chửng một số con cái thân yêu của ông ta; và ngoài ra, còn lập lên những núi lửa gần bên để bất cứ lúc nào cũng có thể làm con cái của ông ta ngập trong những dòng sông lửa? Giả thử ông cha này đã bỏ mặc không nói cho các con mình biết là loại cây nào độc; là những rắn rết thì độc địa; không nói gì về động đất, giữ núi lửa là một điều bí mật; chúng ta phải gọi ông ta là một thiên thần hay là một tên ác ôn?

Và đấy chính là những gì mà Thiên chúa (của Ki-tô giáo) đã làm.

Và chúng ta được kêu gọi để thờ phụng (và hết lòng, hết sức, hết linh hồn thương yêu. CTN) một Thiên chúa như vậy; phải quỳ xuống để mà ca tụng ông ta là tốt, là nhân từ, là công chính, là đầy lòng thương yêu. Chúng ta được đòi hỏi là phải dập tắt tình cảm cao quý của chúng ta, phải trà đạp dưới chân tất cả những điều ngọt ngào từ ái trong tim của chúng ta. Vì chúng ta từ chối không tự phủ nhận – từ chối không trở thành những người nói láo – chúng ta bị tố cáo, ghét bỏ, vu khống, và khai trừ trong đời sống này, và cũng cùng cái ông Thiên chúa này đe dọa sẽ hành hạ chúng ta trong ngọn lửa vĩnh hằng lúc chết để cho ông ta hung hăng vồ lấy những linh hồn của chúng ta.

Cứ để cho họ (những người Ki-tô) ghét, cứ để cho Thiên chúa đe dọa – Chúng ta sẽ giáo dục họ, và chúng ta sẽ khinh miệt và coi thường bất chấp Thiên chúa.

Khi mà con người còn thờ phụng một tên bạo chúa ở trên trời thì trên trái đất này chẳng còn mấy tự do.

Chúng ta không muốn được tha thứ, nhưng chúng ta muốn những người Ki-tô Giáo phải xử sự làm sao để chúng ta không phải tha thứ cho họ. [Ki-tô Giáo, Ca-tô cũng như Tin Lành, đều đã xưng thú tội lỗi đối với nhân loại và xin được tha thứ. TCN]

Những nhà thần học đã chết không biết gì hơn những nhà thần học còn đang sống. Không có gì cần phải nói thêm nữa. Về thế giới này chúng ta chỉ biết chút ít. – về thế giới khác, chúng ta không biết gì hết.

Những thượng phụ của chúng ta lý luận bằng những hình cụ tra tấn. Họ tin vào lô-gic của những ngọn lửa và lưỡi gươm. Họ ghét lý trí. Họ khinh khi tư tưởng – Họ sợ tự do.

Sống cho Thiên Chúa đã làm cho thế giới ngập đầy máu lửa. Có một lối sống khác. Hãy sống cho con người, cho thế giới này. Hãy phát triển trí óc và văn minh hóa tấm lòng. Hãy khẳng định những điều kiện của hạnh phúc và rồi sống theo đó. Hãy làm tất cả những gì có thể làm được để triệt hạ sự ngu si, nghèo khổ và tội ác. Hãy cố làm hết sức để phục vụ nhu cầu chính đáng của thân xác, để thỏa mãn cái đói của trí óc, để khẳng định những bí mật của thiên nhiên.

Hãy để cho các Thiên Chúa lo cho nhau. Chúng ta hãy sống cho con người. Chúng ta hãy nhớ rằng những người tìm kiếm sự thật thiên nhiên chưa từng bạo hành đồng loại. Những nhà thiên văn học và hóa học chưa từng rèn những xiềng xích, xây những ngục tù tăm tối. Những nhà địa chất học chưa từng phát minh ra những hình cụ tra tấn. Những triết gia chưa từng chứng minh sự thật về những lý thuyết của mình bằng cách thiêu sống con người. [Chúng ta nên nhớ: Bạo hành đồng loại, rèn xiềng xích, xây ngục tù tăm tối, phát minh hình cụ tra tấn, thiêu sống con người... tất cả đều là những sản phẩm đặc thù của Ki-tô Giáo trong lịch sử các tôn giáo nhân loại. TCN] Những người vĩ đại không theo đạo, những tư tưởng gia, [là những người] đã sống cho phúc lợi của con người.” (12)

 


Chú Thích:

1. Haught, James A., 2000 Years of Disbelief: Famous People with the Courage to Doubt, p. 324: Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water. If a divine Maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, AIDs, Alzheimer's disease, and Down's syndrome. He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns. No human would be cruel enough to plan such horrors. If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.

2. The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.

3. The first commandement of your god is “Thou shalt have no other gods before me.” Christians cannot live with other ideas. They are forced to convert all persons to their belief system. Any person outside of it is a threat to all of them inside the belief system because that person, who is outside, illustrates that your god has failed to bring at least one person to him. Therefore, he is not an all-seeing, all-knowing, all-understanding, all-benevolent, all-powerful god. If he were that, he could induce all to come unto him.

It is impossible for those of you who are caught in that trap to understand that others do not have such belief systems and do not live inside mental cages...What you are trying to do is, by definition, include us in your insanity....Your thinking is so strictured that it is impossible for you to understand the concept of a “free mind”, i.e., one without religious enchainment.

4. Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”.

5. MEXICO - (Open Doors, 5/25/2001) -- Local authorities in three small towns in different Mexican states have told evangelical Christians to change their religion to traditional Catholicism or suffer the consequences -- threatening them with jail, expulsion, the removal of public services such as water and drainage, and even death. In San Nicolás, Ixmiquilpan, in the central Mexican state of Hidalgo, a June deadline is fast approaching on an ultimatum given to 230 evangelicals to renounce their faith or be expelled from their homes and community.

6. Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History, p. 50: The [Catholic] Church had devastating impact upon society. As the Church assumed leadership, activity in the fields of medicine, technology, science, education, history, art and commerce all but collapsed. Europe entered the Dark Ages. Although the Church amassed immense wealth during these centuries, most of what defines civilization disappeared.

7. Lewis, Ingersoll: The Magnificent, trg. 125: When Christianity came in power it destroyed every statue it could lay its ignorant hands upon. It defaced and obliterated every painting; it destroyed every beautiful building; it burned the manuscripts, both Greek and Latin; it destroyed all the history, all the poetry, all the philosophy it could find, and reduced to ashes every library that it could reach with its torch. And the result was, that the night of the Middle Ages fell upon the human race. But by accident, by chance, by oversight, a few of the manuscripts escaped the fury of religious zeal; and these manuscripts became the seed, the fruit of which is our civilization today.

8. Now did Christianity have aught to do with the civilization of this people ? Certainly not; and were it not for the cloud of prejudice before his eyes, the Christians would clearly see that it did not produce our civilization. He wvould see that instead of the church having civilized the world, the Rationalistic world has for centuries been slowly civilizing the church.

The very nature of Christianity--I mean orthodox Christianity - precludes the possibility of progression as an inherent principle of itself; and whatever progress has been made, either in the church or outside of it, must be attributed to causes over which she has had no control. The church claims to have the truth, the whole truth, and nothing but the truth. Every proposed change, every new discovery, is to her a perversion of truth, and, hence, she opposes it. Were the church to sweep to universal empire, all progress would at once cease. Our Huxleys and Haeckels would be summarily disposed of, the torch of Reason would be extinguished, and the ignis-fatuus of Faith would become our only guide. Of the truth of this she has herself given conclusive evidence. For centuries her power in Europe was supreme, and even Christian writers denommate these centuries the Dark Ages.

Not until Rationalism was born, not until science commenced her career, and Christianity began to decay, did our modern civilization dawn. "For more than three centuries, " says Lecky, "the decadence of theological influence has been one of the most invariable signs and measures of our progress." Says Carlyle, "Just in the ratio that knowledge increases, faith diminishes." "The Middle Ages were more religious than ours," says Strauss, "in proportion to their ignorance and barbarism. Religion and civilization accordingly occupy, not an equal, but an inverted position regarding each other, so that with the progress of civilization, religion retreats.")

9. Anyone dominated by religious thought is under the influence of a reason-perverting power. Such were Christianity's Confounding Fathers. Today we honor these misbegotten for their courage without realizing the crime they committed--the complete destruction of ancient science and philosophy. This resulted in fifteen hundred years of darkness, in which the Christian people did not even know the earth is round.

In the Dark Ages the 'blackout" was complete--a curious effect for "the light of the world."

Now let us compare Greek scientists with Christian saints. Against some scientists still surviving one had this to say: " this fool wishes to reverse the entire system of astronomy; but sacred scripture tells us that Joshua commanded the sun to stand still and not the earth"--and some thirteen hundred years later a pope issued a bull to the same effect. Another famous argument was that "in the day of judgment men on the other side of a globe could not see the Lord descending through the air." Concerning the earth's motion, St. Augustine had this to say: "It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam." And Father Inchofer: "The opinion of the earth's motion is of all heresies the most abominable, the most pernicious, the most scandalous; the immobility of the earth is thrice sacred." And Lactantius concluded, "It is impossible that men can be so absurd as to believe that the crops and trees on the other side of the earth hang downward and that men have their feet higher than their heads." How peculiarly applicable are these words to those who uttered them. We know now these men were wrong scientifically, but we still do not know they were wrong theologically.)

10. Many non-Catholics harbor an aversion against the Church, or at least suspect it of a kind of Machiacellianism, because we seem to them to demand free exercice of religion when Catholics are in a minority in any nation and at the same time refuse and deny the same religious freedom when Catholics are in the majority.

Why speak about dialogue with other Christians, with Jews, with all non-Christians, if, in theory or in fact, the Roman Catholic Church does not respect the freedom of non-Catholic religions?

Every ecumenical "move" of the Catholic Church will be completely fruitless and devoid of any real meaning unless the Church states clearly and authoritatively that it will respect the liberty of other believers, even if it has the power or the occasion to do otherwise, and that it condemns intolerance, persecution and discrimination on grounds of religious liberty.

11. The Catholic Church's sudden espousing of Ecumenism was a classic device to make people forget that her basic spirit of intolerance is still with her.

It must be remembered that if the Inquisition was banned, against her will, only during the middle of the last century, the Holy Office, its inspirer and instrument was "abolished" only a few years ago. In fact, that it is operating, disguised under a specious name, in the silent walls of the Vatican of today.

One of its main current tasks is to make sure that the Croatian Holocaust and the Catholic dictatorship of Vietnam are forgotten, and become a mere footnote of remote history.

It has partially succeeded...Unlike Hitler's and Stalin's horrigic concentration camps, the Croatian ones and the Buddhist self-immolation in Vietnam, as a protest against the Vatican's religious terroristic interference, have already become taboos to the mass media of the World.

...The Basic Catholic claims have never changed one single iota. The Catholic Church's insistence about her own uniqueness has remained as granitically firm now, as it has always been. These are the same claims which produced the Inquisition, Croatia and the Catholic Dictatorship of Vietnam.

If the past be an indication of the shape of things to come then, given the right opportunities and appropriate political climate, New Inquisition, New Croatias and New Vietnams will be created again and again. When, where and how, only the future will tell)

12. Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, pp. 151-153: Of what use has God been to man?

It is no answer to say that some god created the world, established certain laws, and then turned his attention to other matters, leaving his children weak, ignorant and unaided, to fight the battle of life alone. It is no solution to declare that in some other world this god will render a few, or even all, his subjects happy...

The world is filled with imperfections...

Would an infinite wise, good and powerful god, intending to produce man, commence with the lowest possible forms of life; with the simplest organisms that can be imagined, and during immeasurable periods of time, slowly and almost imperceptibly improve upon the rude beginning, until man was evolved?

Would countless ages thus be wasted in the production of awkward forms, afterwards abandoned?

Can the intelligence of man discover the least wisdom in covering the earth with crawling, creeping horrors, that live upon the agonies and pangs of others?

Who can appreciate the mercy of so making the world that all animals devour animals; so that every mouth is a slaughter-house, and every stomach a tomb?

Is it possible to discover infinite intelligence and love in universal and eternal carnage?

What would we think of a father, who should give a farm to his children, and before giving them possession sholud plant upon it thousands of deadly srubs and vines; should stock it with ferocious beasts, and poisonous reptiles; should take pains to put a few swamps in the neiborhood to breed malaria; should so arrange matters, that the ground would occasionally open and swallow a few of his darlings, and besides all this, should establish a few volcanoes in the immediate vicinity, that might at any moment overwhelm his children with rivers of fire? Suppose that this father neglected to tell his children which of the plants were deadly; that the reptiles were poisonous; failed to say anything about the earthquakes, and kep the volcano business a profound secret; would we pronounce him angel or fiend?

And yet this is exactly what the orthodox god has done...

And we are called upon to worship such a god; to get upon our knees and tell him that he is good, that he is merciful, that he is just, that he is love. We are asked to stifle every noble sentiment of the soul, and to trample under foot all the sweet charities of the heart. Because we refuse to stultify ourselves – refuse to become liars – we are denounced, hated, traduced and ostracized here, and this same god threatens to torment us in eternal fire the moment death aloows him to fiercely clutch our naked helpless souls. Let the people hate, let the god threaten – we will educate them, and we will despise and defy him...

There can be little liberty on earth while men worship a tyrant in heaven.

We do not wish to be forgiven, but we wish Christians to so act that we will not have to forgive them.

The theologians dead, knew no more than the theologians now living. More than this cannot be said. About this world little is known – about another world, nothing.

Our fathers reasoned with instruments of torture. They believed in the logic of fire and sword. They hate reason. They despised thought. They abhorred liberty...

Living for god has filled the world with blood and flame.

There is another way. Let us live for man, for this world. Let us develop the brain and civilize the heart. Let us ascertain the conditions od happiness and live in accordance with them. Let us do what we can for the destruction of ignorance, poverty and crime. Let us do our best to supply the wants of the body, to satisfy the hunger of the mind, to ascertain the secrets of nature. Let the gods take care of themselves. Let us live for man. Let us remember that those who have sought for the truths of nature have never persecuted their fellowmen. The astronomers and chemists have forged no chains, built no dungeons. The geologists have invented no instrument of torture. The philosophers have not demonstrated the truth of their theories by burning their neighbors. The great infidels, the thinkers, have lived for the good of man.

 


Bài liên quan cùng đề tài:

- Vài Cảm Nghĩ Về “Sứ Điệp” Của Giáo Hoàng Bênêđictô XVI (Gã Học Trò)

- Tôi Đọc "Sứ Điệp Hòa Bình" Của GH Benedict XVI (Trần Chung Ngọc)