TẠI SAO TÔI VIẾT

"NÓI CHUYỆN VỚI TỔ CHỨC

VIỆT NAM CỘNG HÒA FOUNDATION"

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/VNCHFDN/NMQ01.php

27 tháng 5, 2008

nguồn: http://www.chuyenluan.net/2004/200411/0411_21.htm

Tháng 7 năm 2003 vừa qua, một nhóm người được gọi là nhưng "nhân sĩ lớn" thành lập cái gọi là: Việt Nam Cộng Hòa Foundation [VNCHF] rồi cùng nhau đến Civic Center tại thành phố Westminster (California) họp bàn việc "Phát Động Chiến Dịch Yêu Cầu Liên Hiệp Quốc "bắt buộc" CSVN Thi Hành Hiệp Định Ba Lê. Nói là họp bàn, nhưng thực sự họ đã gửi thư thỉnh cầu Liên Hiệp Quốc với chủ tâm mong muốn Hoa Kỳ sử dụng sức mạnh quân sự để cưỡng bách nước Việt Nam phải trở lại tình trạng chia đôi và phục hồi chế độ đạo phiệt Gia-tô trá hình dưới cái lốt Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam như trước ngày 30/4/75.

Mặc dù những người cầm đầu VNCHF là trí thức khoa bảng từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam Việt Nam trước đây, nhưng hình như chẳng có người nào hiểu rõ tư cách pháp lý của miền Nam Việt Nam đối với Thỏa Hiệp Genève 1954 và đối với dân tộc Việt Nam. Hình như họ cũng không có một chút gì là tình yêu thương quê hương và dân tộc, cho nên khi thấy Hoa Kỳ xua quân với những vũ khi tối tân hiện đại xâm chiếm Iraq thì họ tỏ ra vô cùng hồ hởi, viết thư gửi cho Liên Hiệp Quốc với mong ước Hoa Kỳ cũng sẽ đem quân vào Việt Nam giống như Hoa Kỳ đã và đang làm ở Iraq.

Cuộc họp "mưu đồ bán nước" và "lá thư phản quốc" này được ông Tú Gàn ghi lại và nhận xét trong bài "Chúc Thành Công" đăng trong tờ Sàigòn Nhỏ số ra ngày 29 tháng 8 năm 2003. Xin ghi lại đây một phần của bài viết này trong đó có nguyên văn lá thư quái đản này.

"Chiều ngày 20/7/2003, kỷ niệm 49 năm ký Hiệp Định Genève, hội Việt Nam Cộng Hòa Foundation đã tổ chức một buổi hội thảo tại Civic Center của thành phố Westminster (California) để "Phát Động Chiến Dịch Yêu Cầu Liên Hiệp Quốc bắt buộc CSVN Thi Hành Hiệp Định Ba Lê". Người ta thấy có khoảng 100 "nhân sĩ lớn" từ khắp nơi về họp và đọc diễn văn, chẳng hạn như cựu Chủ Tịch Hạ Viện và Thủ Tướng 8 Ngày Nguyễn Bá Cẩn, lãnh tụ Đại Việt Nguyễn Văn Canh, Tướng Lý Tòng Bá, "ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện, v.v..

Trong lời chào mừng khai mạc cuộc hội thảo, [Tiến] sĩ Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch VNCH Foundation, cho biết sở dĩ có cuộc hội thảo này là vì tình hình chiến tranh Iraq có dấu chỉ thuận lợi cho việc đấu tranh cho người Việt không cộng sản, xét lại Hiệp Định Paris và đòi hỏi quốc tế phải có trách nhiệm trong việc để CSBV cưỡng chiếm VNCH vào năm 1975.

Nhân vật chính trong cuộc hội thảo này là ông Nguyễn Bá Cẩn. Ông Cẩn cho biết có nhiều người cho rằng chuyện này đã cũ, hai mươi tám năm qua rồi, nhắc lại chẳng lợi ích gì, nhưng theo ông."lý luận này không đứng vững, lý do là vì vấn đề đặt ra là nghĩa vụ pháp lý của một tổ chức quốc tế tối cao là Liên Hiệp Quốc, chứ vấn đề không phải là dễ hay khó, và lập trường của người yêu nước chúng ta là phải tranh đấu chứ không phải ngồi đó lo âu giùm cho LHQ............ Ông coi việc Mỹ đem quân "giải phóng Iraq" như một dấu hiệu tốt. Sau Iraq sẽ đến phiên Cộng Sản Việt Nam....

Kết thúc buổi hội thảo, những người tham dự đã ký vào Thỉnh Nguyện Thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Thỉnh Nguyện Thư có những lời thỉnh cầu như sau:

"Chúng tôi, những Quân, Dân, Cán, Chính của Nước Việt Nam Cộng Hòa trân trọng yêu cầu Liên Hiệp Quốc và các Nước Thành Viên liên hệ đã ký kết hay chứng kiến Hiệp Định Paris 27/1/1973. Hãy vì lương tâm nhân loại, vì trật tự cho một thế giới mới của thế kỷ 21 mà mạnh dạn can đảm lên tiếng cũng như can thiệp buộc nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp Định 1973 như sau:

Thứ nhất: Phải rút quân toàn bộ về lại phía Bắc vĩ tuyến 17 như Hiệp Định Genève 1954 đã quy định, cũng như giữ đúng vị trí lằn mức phân biệt biên giới lãnh thổ Nam, Bắc Việt Nam chiếu theo Hiệp Định 1973. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà nay là Cộng Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, phải hoàn toàn trả lại tất cả các phần đất bị chiếm giữ của Việt Nam Cộng Hòa cho nhân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Thứ hai: Tôn trọng quyền tự quyết thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân miền Nam, tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do, dân chủ có giám sát quốc tế. Các nước ngoài như Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nay đã đổi tên thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị nào hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam, như đã quy định trong Hiệp Định Paris Chương 3 điều 9.

Thứ ba: Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng hợp tác để tiến tới việc thống nhất đất nước và đồng ý không bên nào cưỡng ép hay thôn tính bên nào như Chương 5 điều 15 trong Hiệp Định đã quy định.

Thứ tư: Việt Nam Cộng Hòa đề nghị một giải pháp dung hòa tránh xung đột và đổ máu đó là: Toàn bộ Việt Nam sẽ đặt dưới sự giám sát và bảo vệ hòa bình của Liên Hiệp Quốc trong thời hạn ít nhất là hai năm trước khi tiến tới một cuộc bầu cử dân chủ trong sạch để nhân dân hai miền Nam, Bắc tự quyết định lấy vận mạng của mình như:

a.- Chọn một thể chế chính trị áp dụng trên đất nước Việt Nam

b.- Chọn người lãnh đạo và có cơ chế điều hành quốc gia có nhiệm kỳ rõ rệt và do dân cử.

Thứ năm: Trong mọi trường hợp, nếu Cộng Sản Hà Nội vẫn cố tình xem thường Liên Hiệp Quốc và các nước đã ký kết cũng như giám sát Hiệp Định Paris 27/1/1973. Cũng như bất hợp tác với Liên Hiệp Quốc trong thiện chí xây dựng hòa bình cho Việt Nam. Chúng tôi, Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa tha thiết kêu gọi sự hỗ trợ của các nước đồng minh, từng tham gia cuộc chiến bảo vệ tự do cho Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Hãy hỗ trợ cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng tôi dưới mọi hình thức, nhằm giải phóng quê hương đã bị Cộng Sản Hà Nội xâm lược một cách trắng trợn."

Dĩ nhiên, thành phần nòng cốt của VNCHF là tín đồ "ngoan đạo" của Giáo Hội La Mã như Nguyền Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý Tòng Bá, Bùi Đình Đạm, Lâm Quang Thi. Những người này có vẻ như không hiểu rằng: "Phục Hồi Việt Nam Cộng Hòa" hay là "trở lại chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm" hoặc "chế độ quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu, có nghĩa là tái lập tình trạng chia đôi đất nước ta và tái lập quyền lực của Giáo Hôi La Mã tại Việt Nam ở phần đất này. Như vậy là những người có mưu đồ này rơi vào tình trạng phạm tội phản quốc với ba tội danh:

1.-Mưu đồ tái lập tình trạng chia cắt lãnh thổ đất nước mà tổ tiên tã đã dày công tranh đấu hy sinh không biết bao nhiêu là xuơng máu, mồ hôi và nước mắt cả mấy ngàn năm mới có được mảnh giang sơn gấm vóc như ngày nay.

2.- Mưu đồ phục hồi quyền lực cho Đế Quốc Vatican, kẻ thù nguy hiêm nhất, thâm độc nhất và ghê tởm nhất của nhân lọai nói chung, và của dân tộc Việt Nam nói riêng. Đây là tôi ác "cõng rắn cắn gà nhà".

3.- Mưu đồ tạo cơ hội cho Giáo Hội La Mã và tín đồ Gia-tô người Việt trả thù những người Việt Nam thuộc tam giáo cổ truyền, trả thù tất cả những người Việt Nam có liên hệ đến Phong Trào Việt Minh mà những người Việt Nam trung thành với Giáo Hội La Mã thường gọi là Việt Cộng.

Nói cho rõ hơn, thế lực đang mưu đồ phục hồi VNCHF hiện nay là một thế lực đã từng có những thành tích nối dài từ đời cha ông của họ như sau:

1- Cấu kết với Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ đầu thập niên 1780 khi viện quân Xiêm La (Thái Lan) cho Nguyễn Ánh dưới quyền chỉ huy của hai Tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương bị đánh cho tan tành không còn một manh giáp tại Rạch Gầm và Xòai Mút gần Mỹ Tho.

2- Bắt người tra tấn, giết người, mổ bụng, phanh ngực nạn nhân, lấy gan đem nướng, lấy mật hòa rượu rồi ngồi nhậu hả hê với nhau.

3- Tàn sát hơn 300 ngàn người trong các tỉnh thuộc Liên Khu V trong những năm 1954-1963.

Sau chiến công Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam, Pháp rơi tình trạng "ốc không mang nổi mình ốc" bằng lòng nói chuyện nghiêm chỉnh với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève, nhìn nhận quyền độc lập của dân tộc ta và rút quân ra khỏi Việt Nam. Thế nhưng, Giáo Hội La Mã vẫn cố đấm ăn xôi, quyết bám chặt Việt Nam như đỉa đói, lợi dụng chiến lược "be bờ" của Mỹ để thi hành sách lược "cáo đội lốt hùm" biến miền Nam thành một vương quốc Ki-tô giáo. Vì nhu cầu chiến lược "be bờ" ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ lục địa Trung Hoa, Hoa Kỳ đã hứng lấy tàn dư của liên minh Pháp-Vatican làm công cụ chiến lược và bỏ tiền ra cho Đế Quốc Vatican độc quyền bao thầu quản lý công việc nội trị của miền Nam cho đến năm 1975.

Những người trong tổ chức VNCHF có chủ tâm muốn phục hồi miền Nam Việt Nam tức là muốn phục hồi chế độ đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội La Mã tại miền Nam Việt Nam với hy vọng là phục hồi quyền lực cho Giáo Hội La Mã và cũng là phục hồi quyền lực cho chính bản thân họ. Đây là một việc làm mưu đồ "cõng con rắn độc Vatican về cắn gà nhà Việt Nam". Việc làm này giống như các trường hợp:

1.- Nguyến Phúc Ánh giao Hoàng Tử Cảnh (mới 4 tuổi) cho Giám-mục Bá Đa Lộc vào năm 1784 sang Pháp xin viện binh đánh nhà Tây Sơn;

2.- Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Hoa vào năm 1788 xin nhà Thanh đem quân vào Việt Nam để phục hồi vương quyền cho ông ta;

3.- Petrus Key Trương Vĩnh Ký viết thư khẩn khoản quan đại Pháp đem quân tiến đánh Việt Nam để giúp cho giáo dân Gia-tô chống lại tổ quốc. Nguyên văn lá thư của ông Việt gian Gia-tô Trương Vĩnh Ký được ghi lại trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn Tập 1 của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu như sau:

"Petrus Key, tức Trương Vĩnh Ký sau này, cũng cùng một nhận xét. Tháng 3/1859, Pétrus Key viết cho Grand chef et vous tous, très honorables officiers de la flotte francaise": Ayez pitié de nous;. Ayez pitié de nous. Vous êtes nos libérateurs et la main des enemis nous a touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous savons auusi que qui trop embrasse mal étreint." Et cependant nos souffrances nous pousssent à invoquer votre puissance et à vous exposer du fond du coeur tout ce que je viens de soumettre à votre prudence et à votre sagesse.". Thư tháng 3/1859 Petrus Key gửi Grand Chef; SHM (Vincenné)."

Qua lá thư trên đây, chúng ta thấy vai trò của tổ chức VNCHF đã làm một việc giống như bọn tín đồ Gia-tô Trương Vĩnh Ký, Trần Lục, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, v.v... đã làm trong thế kỷ 19 để củng cố quyển lực của Giáo Hội tai Việt Nam .

Quý vị còn nhớ vào những năm 1999-2001, tín đồ Gia-tô của nước Indonesia ở trong hòn đảo East Timor đã tìm đủ mọi cách kể cả việc cầu cứu Liên Hiệp Quốc và nhiều cường quốc khác để tách rời hòn đảo này ra khỏi nước Indonesia với dã tâm biến hòn đào này thành một quốc đảo theo đạo Gia-tô phụ thuộc vào Giáo Hội La Mã hay không?

Đem việc làm của những tín đồ Gia-tô trong tổ chức VNCHF so sánh với việc làm của tín đồ Gia-tô Indonésia tách rời hòn đảo East Timor, chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã thì họ bất cần đến sự tồn vong của đất nước và quyền lợi của dân tộc.

Trong Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, quyển 2 Chương 16, có đăng một phần của bài thơ Nỗi Lòng của người viết gồm mấy đoạn dưới đây:

Tôi viết đây không phải vì ghét đạo,

Mà ghét phường mượn đạo để lừa dân,

Mượn nhà thờ để làm chuyện bất nhân,

Nhân danh đạo làm những điều bất nghĩa.

Lũ chúng nó quân bất nhân bất nghĩa,

Chuyên môn dùng danh nghĩa thánh thần,

Bày đủ trò huyễn hoặc để lừa dân,

Người viết sử phải lột trần sự thật.

Tôi viết đây với tấm lòng chân thật,

Viết ra bằng kinh nghiệm của bản thân,

Bằng cuộc đời tìm hiểu sử nhiều năm,

Viết sự thật lẽ thường hay bị ghét.

Ghét hay yêu sá gì tôi cứ viết,

Viết cho đời mau sớm tỉnh cơn mê,

Cho quân gian không còn lối đi về,

Không còn chuyện nhập nhằng đời với đạo.

Không còn chuyện lũ buôn thần bán thánh,

Ẩn mình trong những lớp áo tu hành,

Hầu dễ dàng làm những chuyện lưu manh

Dưới danh nghĩa một danh xưng tôn giáo.

Không còn chuyên mượn danh xưng tôn giáo,

Chuyên lừa dân bằng danh nghĩa thánh thần,

Làm những điều bất nghĩa và bất nhân,

Gươm lịch sử không tha phường gian ác.

Quý vị còn nhớ vào những năm 1999-2001, tín đồ Gia-tô của nước Indonesia ở trong hòn đảo East Timor đã tìm đủ mọi cách kể cả việc cầu cứu Liên Hiệp Quốc và nhiều cường quốc khác để tách rời hòn đảo này ra khỏi nước Indonesia với dã tâm biến hòn đào này thành một quốc đảo theo đạo Gia-tô phụ thuộc vào Giáo Hội La Mã hay không?

Đem việc làm của những tín đồ Gia-tô trong tổ chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation so sánh với việc làm của tín đồ Gia-tô Indonésia tách rời hòn đảo East Timor, chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Gia-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã thì họ bất cần đến sự tồn vong của đất nước và quyền lợi của dân tộc.

Những lời mộc mạc và chân tình, chắc chắn sẽ làm cho quý vị trong tổ chức VNCHF và những người từng được hưởng những đặc quyền đặc lợi ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 không được hài lòng. Trong số này kể cả những côn đồ văn hóa từng "phóng ra" những ngôn ngữ "thiếu văn minh" và "thiếu giáo dục" với người viết như Vân Trình Nguyễn Văn Lượng hay Trương Phú Thứ trên báo Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh, một mật báo viên của Cần Lao trong tòa soạn Ngôn Luận ở Sài Gòn. Đến khi nhà Ngô sụp thì Hồ Anh phản phé nên trong ngày 4/11/1963 đã nỏ mồm nhục mạ chủ cũ bằng cách đăng tải tuyên cáo của các nhà báo Hiếu Chân, Chu Tử lên án họ Ngô là gian trá, bất nhân v.. v... Tệ hơn nữa, còn có cả một nhóm người vốn là tín đồ của "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" đã hè nhau mưu đồ dùng bạo lực để khủng bố cả tinh thần và thể xác người viết vào mùa thu năm 1997 khi Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức buổi hội thảo văn hóa để anh em văn nghệ sĩ người Việt ở Bắc Mỹ nói chuyện tại Seattle vào ngày 20/12/1997.

Biết như vậy, nhưng người viết vẫn phải cương quyết viết lên những gì phải nên viết, ít ra cũng để cho lớp trẻ hôm nay và mai hiểu rõ những bài học lịch sử, hiểu rõ thế nào là con người có văn hóa, hiểu rõ dân tộc của chúng ta là dân tộc Việt Nam, quê hương nước tổ chúng ta là nước Việt Nam, chứ KHÔNG PHẢI là Tòa Thánh Vatican, chúng ta phải tranh đấu cho quyền lợi hiện tại và lâu dài của dân tộc và nước Việt Nam, chứ KHÔNG PHẢI tranh đấu cho Đế Quốc Vatican các bánh vẽ Thiên Đường của Giáo Hội La Mã.

Nếu có gì bất như ý, kính mong quý vị trong tổ chức VNCHF và những người đồng thuyền đồng hội của qúy vị thông cảm và suy nghĩ lại để khỏi mang tội với lịch sử hay để khỏi trở thành "thiên cổ tội nhân".

Tác giả cũng xin cảm tạ người bạn đời, Nguyễn Thị Phúc, và các con, đã nhận hiểu sứ mệnh không thể không gánh vác của người chồng, người cha, nên nhiệt tình và kiên tâm trợ giúp tác giả vượt qua bao trở ngại suốt gần 10 năm qua. Không có sự trợ giúp bất tận về tinh thần này, hẳn tập sách này cũng như các tác phẩm khác khó thể hoàn tất.

Mặc dù đã cố gắng trình bày vấn đề bằng cả tấm lòng vô vị lợi, bằng một cách cân nhắc và kỹ lưỡng, nhưng dù sao "nhân vô thập toàn", chắc chắn công việc này còn nhiều thiếu sót, kính mong các vị cao minh chỉ giáo.

Stê-Pha-Nô NGUYỄN MẠNH QUANG

*Đa Nguyên xuất bản 2004 – Po Box 7434, Tacoma, Wa 98407, USA.

Trang Lịch Sử