Kế Sách Phong Thánh Cho Cố HY Nguyễn Văn Thuận

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ043.php

13-July-2013

 

LTS: Có một độc giả thắc mắc về việc Vatican chuẩn bị phong thánh cho Hồng Y Nguyễn Văn Thuận như sau:

- BBC mới cho đăng 1 bài về việc phong thánh cho hồng y Thuận, trong đó nói rằng "ngài" bị bắt chẳng vì lí do gì. Tôi nghĩ chắc chắn phải có lí do gì "ngài" mới bị tù. Kính mong các tác giả của sachhiem cho bạn đọc biết rõ hơn về trường hợp này.

Chúng tôi gửi thư này cho Giáo Sư Nguyễn Mạnh Quang và được trả lời như sau. (SH)


Tôi nhận được thư nói trên từ tòa soạn sachhiem.net, xin có ý kiến như sau.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi về các bài học lịch sử của các hoạt động của Vatican, thì những vụ phong thánh ở Việt Nam, ở Trung Hoa, và ở nhiều nơi khác đều có mục đích khích lệ những tín đồ hăng say hành động theo chủ đích của họ.

Trong vụ phong thánh ngày 19 tháng 6, 1988, 117 người được phong thánh đều là những tội đồ chống lại tổ quốc Việt Nam. Trong số này gồm có: 11 vị gốc Tây Ban Nha: 6 giám mục và 5 linh mục dòng Đa Minh, 10 vị gốc Pháp: 2 giám mục và 8 linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris, 96 người Việt Nam: 37 linh mục và 59 giáo dân - trong đó có 14 thầy giảng (https://vi.wikipedia.org/wiki/).

Xin mời xem hai Phụ Lục bên dưới để biết tại sao người ta xem họ là những tội đồ đối với dân tộc.

Động cơ để Vatican lên kế hoạch phong thánh cho ông Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng không khác gì trường hợp phong thánh cho 117 người kể trên, có khác chăng là thời điểm và vị thế của đương sự được che giấu dưới những hoạt động tôn giáo.

Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là cháu gọi bằng cậu của anh em gia đình trị nhà Ngô. Xét theo địa vị và tinh thần nô lệ của Nguyễn Văn Thuận, Vatican cho rằng ông đã có giá trị lợi dụng để khích động và thôi thúc tập thể con chiên người Việt trở thành những con thiêu thân, liều chết chống lại chính quyền và nhân dân Việt Nam để giữ vững quyền lực của Giáo Hội tại Việt Nam.

Chúng ta biết rằng Vatican đã phải mất nhiều năm vận động với các chính khách có thế lực trên sân khấu chính trị và chính quyền Hoa Kỳ trong việc

(1) dùng bom nguyên tử để đánh bại quân đội kháng chiến Việt Minh hầu duy trì quyền lực và quyền lợi của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tại Đông Dương, nhưng thất bại,

(2) vi phạm Thỏa Hiệp Geneve 1954 nhằm duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi. Họ đã biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt để cho Hoa Kỳ làm tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á và cũng là để cho Vatican tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa bằng bạo lực.

(3) đưa một con chiên siêu ngoan đạo, siêu cuồng tín, Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền làm tay sai đắc lực cho cả Mỹ và Vatican. Chính quyền con chiên nhà Ngô đã hy vọng là trong vòng 10 năm toàn thể nhân dân miền Nam đều sẽ phải theo đạo Ca-tô (Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân Tập I (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr. 428.)

▹ Trong hơn 9 năm được Hoa Kỳ trao cho nắm quyền nội chính ở miền Nam, anh em nhà Ngô đã dung dưỡng và  bao che cho giới tu sĩ và tập thể con chiên người Việt tư do tung tác,  thao túng chính quyền, coi miền Nam như là của riêng của họ. Những năm Ngô Đình Diệm cầm quyền là thời hoàng kim của tập thể con chiên người Việt. Từ khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tất cả những ưu thế của họ cũng bị sa sút, cho nên họ cố gắng vận động Hoa-kỳ để đưa người của họ lên nắm quyền. Các linh mục Hoàng Quỳnh, Mai ngọc Khuê, trực tiếp chỉ huy giáo dân đi biểu tình. Lực lượng Đoàn kết của Nguyễn Gia Hiến tổ chức những người "Công Giáo" biểu tình chống lại chính quyền Dương Văn Minh, làm áp lực với chính quyền Nguyễn Khánh, và chính quyền Phan Huy Quát đòi phục hồi quyền lực cho dư đảng Cần Lao. Chính lm. Hoàng Quỳnh đã đưa ra khẩu hiệu "Thà mất nước chứ không thà mất Chúa" trong những năm xáo trộn này. Cuối cùng chính phủ Phan Huy Quát phải trao lại quyền cho quân đội vào tháng 5, 1965. Sau khi đưa được con chiên Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống vào năm 1967, họ liền công khai cho ra đời cái gọi là “Tổ Chức Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm”. Đây cũng là một thủ đoạn của Vatican trong sách lược khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lơi, háo danh trong tập thể con chiên người Việt, thúc đẩy họ hăng say chiến đấu để phục hồi quyền lực Vatican tại miền Nam.

▹ Song song với việc cho ra đời cái gọi là Tổ Chức Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm,  Vatican thăng chức giám mục cho Linh-mục Nguyễn Văn Thuận vào năm 1967 để nâng cao uy thế của con bài  trong mưu đồ phục hồi quyền lợi và quyền lực của Giáo Hội tại Việt Nam. Sự kiện này được sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi ghi nhận như sau:

Sự sụp đổ của chế độ và cái chết của ba người cậu ruột đã làm cho ông (Nguyễn Văn Thuận) trở nên cứng rắn, quyết liệt thực hiện khối Thiên Chúa Giáo trở thành một lực lượng sắt thép để nắm lấy chính quyền tại Miền Nam và biến miền Nam thành một người con hiếu thảo của Giáo Hội La Mã hầu một mặt trả mối thù gia tộc và mặt khác thì hoàn tất sách lược của các ông cậu ruột trước kia. Những tổ chức Thiên Chúa Giáo quốc tế còn thương tiếc gia đình họ Ngô còn ngấm ngầm giúp Giám-mục Thuận sớm trở thành nhân vật quan trọng của Giáo Hội Việt Nam để ông có uy thế và phương tiện hoạt động chính trị. Vì thế cho nên dù là một giám mục còn trẻ tuổi, ông vẫn được giao cho trọng trách phụ tá Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình. Ông còn được Thiên Chúa Giáo quốc tế giao chức tổng thủ quỹ Caritas, một tổ chức từ thiện của Hoa Kỳ đặt trụ sở ở Phi Luật Tân. (Thật ra từ thời Diệm đến thời Thiệu, Thiên Chúa Giáo quốc tế, đặc biệt là giáo hội Hoa Kỳ, đã đặt tại rất nhiều cơ quan bề ngoài thì làm việc từ thiện cho dân Việt Nam, nhưng mục đích chính yếu là để mua chuộc dụ dỗ người Việt Nam theo đạo Thiên Chúa”. Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ: 1993), tr.775. 

Quy luật xã hội và lịch sử cho ta thấy rằng quyền hành sinh ra tội ác. Nắm quyền càng lâu và chức vụ càng lớn thì tội ác càng nhiều. Quy luật này rất đúng với bất cứ loại người nào trong bất cứ xã hội nào và bất cứ thời đại nào. Đối với xã hội Ki-tô giáo, thì  quy luật này càng chính xác hơn. Nói như vậy có nghĩa là con chiên Nguyễn Văn Thuận càng được thăng chức "thánh" và càng được giao cho nắm  giữ nhiều quyền hành thì tội ác của ông ta càng nhiều và càng  nặng đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam.

▹ Đó là những tội phản quốc, và tội ác lợi dụng quyền lực để lấn lướt, bốc hốt, chộp giật, vơ vào cho đầy túi tham của Vatican. Nói về tội ác của đứa tôi tớ hèn mọn (các con chiên ngoan được dạy phải xưng như thế đối với Chúa Vatican) Nguyễn văn Thuận trong những năm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:

Để tránh dư luận, Giám-mục Thuận rất ít liên hệ công khai với Thiệu tại Dinh Độc Lập mà chỉ bí mật giao thiệp với Đặng Văn Quang, vốn là người em tinh thần của ông. Tuy nhiên, hành động bí mật của ông cũng không che mắt được Võ Văn Hải, một người rất khinh bỉ và thù ghét nhóm Công Giáo Cần Lao, thù ghét Nguyễn Văn Thiệu và Đặng Văn Quang. Cũng như dưới thời Tổng Thống Diệm mà Hải đã theo dõi Cha Thuận và biết được ông ta cùng với Đặng Văn Quang cầm đầu tổ chức buôn lậu vỏ đạn trọng pháo mà theo Hải thì thương vụ lên tới 800 triệu bạc Việt Nam.”  Đỗ Mậu, sđd., tr 775.

Phần trình bày trên đây cho thấy rằng, trước tháng 4 năm 1975, Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là con bài được Vatican sử dụng để xây dựng lực lượng Ca-tô chống lại tổ quốc và dân tộc ta trong ý đồ bảo vệ quyền lợi và tăng cường quyền lực của Vatican tại Việt Nam. Chính vì thế mà ông Thuận mới bị chính quyền Cách Mạng Việt Nam giam giữ tới 13 năm trời, mãi tới ngày 23/11/1988 mới được phóng thích. Sau đó,  hắn được chính quyền cấp giấy cho đi khỏi nước sang La Mã sống đời làm tôi tớ hèn mọn cho Giáo Hội La Mã.

Cũng từ đó, ông Thuận lại được Vatican  đánh bóng  để làm con bài khơi động và nuôi dưỡng tinh thần phản quốc của tập thể con chiên người Việt cho mục đích xúi giục họ hăng say tham gia các hoạt động chống lại chính quyền và nhân dân ta. Dưới đây là những hành động đánh bóng tên tôi tớ hèn mọn này: (1) bổ nhiệm ông ta  vào chức vụ Phó Chủ  Tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý và Hòa bình trong giáo triều Vatican vào tháng 9/1994, (2) ra lệnh cho Đại Chủng Viện Nôtre Dame ở New Orleans, Louisiana (Hoa Kỳ) cấp văn bằng Tiến Sĩ Danh Dự cho ông ta vào ngày 11/5/1996, (3) bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế cho Hồng y Y. R. Etchegaray nghỉ hưu, và (4) thăng lên chức hồng y vào ngày 21/1/2001. (http://vi.wikipedia.org/wiki/ - Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.)

Sau khi đã đánh bóng cho Thuận,  Vatican liền sai hắn ta đi chu du lặn lội vào các cộng đồng Ca-tô người Việt hải ngoại  ở Âu Châu và  Bắc Mỹ để khích lệ và hô hào bọn con chiện Việt gian hằng say  tích cực tham gia các hoạt động trong mưu đồ phục hồi quyền lực cho Vatican tại Việt Nam. Trong chuyến đi Hoa -kỳ, ông Thuận tuyên bố với cộng đồng con chiên  người Việt ở  Orange County, California vào ngày 15/3/2001 như sau:

Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ.” Vi Anh. “Vatican Làm, Không Nói.” Việt Báo Miền Nam số 305, Thứ Bẩy 14/7/2001: A1.

Ai cũng hiểu rằng khi đưa ra lời tuyên bố như vậy, tên quạ đen này muốn nhắn nhủ với giáo dân rằng:

Yên trí đi, tuy rằng không tuyên bố ồn ào hay công khai, nhưng Vatican đã và đang hành động tiến chiếm Việt Nam giống như trước đây Vatican đã làm ở Đông Âu và Việt Nam trước đây.”

Thành tích phản bội dân tộc của ông Thuận này còn được tăng cường bằng những lời nói láo trong cuốn  Chứng Nhân Hy Vọng  (Garden Grove, CA: Công Đoàn Đức Mẹ La Vang,  2000) như sau:

“Tôi đã nghĩ tới các cuộc bách hại trong 350 năm tại Việt Nam, đã cống hiến cho Giáo Hội bao nhiêu vị tử đạo không được biết tới: khoảng 150,000 vị.” (TGM F.X. Nguyễn Văn Thuận, Chứng Nhân Hy Vọng (Garden Grobe, CA: Công Đoan Đức Mẹ La Vang, 2000), tr 169) [1]

Lời  tuyên bố láo khoét thiếu chứng cớ như trên là đầu mối khiến cho cô Nguyễn Thúy Loan tìm hiểu thêm cuốn sách này rồi phản bác như sau:

“Trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng (California, 2000) có một số bài giảng hay, trong đó có nhiều điều bịa đặt, thiếu sử liệu và thiếu logic. Trang 169, GM Nguyễn Văn Thuận kể rằng “Ông cố nội tôi khi mới 15 tuổi mỗi ngày đã phải đi bộ 30 cây số để tiếp tế cho cha một tí cơm và ít muối.”

Một người mạnh khỏe đi bộ giờ đầu là 5 cây số, giờ kế tiếp chỉ còn 4 cây số. Còn trẻ em 15 tuổi đi bộ trung bình 3 cây số một giờ. Với ba chục cây số, ông cố nội của Giám-mục Nguyễn Văn Thuận (lúc đó mới có 15 tuổi)  phải đi bộ mất 10 giờ đi và 10 giờ về. Tổng cộng là 20 giờ, còn 4 giờ, chú bé ngủ, ăn… Và mỗi ngày đều như vậy thì làm sao chú bé 15 tuổi có thể sống được? Viết thiếu logic chứng tỏ câu chuyện không có thực.

Cũng trang 169 đó, GM Nguyễn Văn Thuận cho biết trong 350 năm tại Việt Nam giáo dân tử đạo là 150 ngàn người (trang 169). Facts? (SH- đâu là dữ kiện?) Từ lúc tiến vào Việt Nam đến lúc Pháp cai trị toàn nước vào khoảng năm 1880 dân số Việt Nam bao nhiêu? Tổng số con chiên bao nhiêu mà tử đạo đến 150 ngàn người! Và phong thánh chỉ có 117 người có bất công không? Trang 170, GM Nguyễn Văn Thuận viết: “Phía ông ngoại tôi còn thê thảm hơn nữa. Vào năm 1885, giáo dân toàn giáo xứ bị thiêu sống trong nhà thờ…”

Ông ngoại tôi tức là Ngô Đình Khả (?), tỉnh Quảng Bình vào năm 1885 tức là triều vua Đồng Khánh là một ông vua Việt gian, Pháp cho lên làm vua. Trong cơ mật viện thì có Linh-mục Nguyễn Hoằng và cựu giáo sinh Pétrus Trương Vĩnh Ký bám sát ông vua này, (với tình trạng như vây) thì làm gì có chuyện giáo dân bị sát hại kiểu đó? Sách sử cho thấy chỉ có thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức mới có việc cấm đạo. Còn thời Đồng Khánh thì guồng máy cai trị của Pháp đã tỏa khắp Đông Dương, làm gì có việc giáo dân toàn xứ bị thiêu sống? Thưa Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, cháu phải nhận lỗi hỗn hào để phê bình rằng ngài nói không có chứng cớ, facts đâu? Cuốn sách Chứng Nhân Hy Vọng của ngài có vô số điều bịa đặt, rất hại cho uy tín của ngài. Trên đây cháu nhận xét chỉ có hai trang trong sách của ngài.”  Mười tác giả, Bản Chất Các Phản Ứng Về Bài Giảng Của H.T. Nhất Hạnh (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr 149-150..

Vì những sai lầm  nói trên có liên hệ đến những sự thật lịch sử của nước nhà, chúng tôi mới nêu lên đây để rộng đường dư luận. Thiết nghĩ rằng khi làm thơ, viết chuyện hoang đường giả tưởng, thì muốn nói nhăng nói cuội gì cũng được, không ai rồi hơi bắt bẻ cả. Thế nhưng, khi viết hay tuyên bố những gì liên hệ đến lịch sử, nhất là những vấn đề chính trị thì phải có kiến thức chuyên môn về lịch sử, “nói phải có sách, mách phải có chứng”, thì mới có giá trị.”

Nguồn: Mười tác giả, Bản Chất Các Phản Ứng Về Bài Giảng Của H.T. Nhất Hạnh (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr 149-150, http://sachhiem.net/NMQ/KNV/PhanII4.php.

Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ  khu rừng tội ác (1) chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam, (2) thành tích nói láo và (3)  Vatican đã tô hồng chuốt lục Nguyễn Văn Thuận theo  sách lược khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực trong lòng tập thể  con chiên người Việt khiến cho họ hăng say và tích cực lao đầu  tham gia những hoạt động chống lại chính quyền dân tộc ta để nắm lại quyền lực ở Việt Nam.

Cũng nên biết là truyền thống của Giáo Hội La Mã là không những khai thác hay lợi dụng những con mồi lúc còn sống phải đóng  góp cho giáo hội bằng tiền bạc hay vật chất và sức lao động, mà khi chết rồi, giáo hội vẫn còn tiếp tục bóc lột họ bằng tập tục “dâng lễ ” vào những khi tang, hôn, cúng giỗ, vân vân. Ngoài ra, Giáo Hội còn có nhiều thủ đoạn gian manh xảo trá khác như:

1.- Việc cho ra đời cái gọi là tổ chức Phục Hưng Tình Thần Ngô Đình Diệm vào năm 1967 trong thời con chiên Nguyền Văn Thiệu được Vatican và Mỹ đưa lên cầm quyền  ở miền Nam Việt Nam.

2.- Việc sử dụng các văn, thi, sử và  nhạc nô người Việt để biên soạn những tác phẩm  có nội dung  vừa bóp mép lịch sử để chạy tội cho Giáo Hội La Mã và những con chiên ngoan đạo đã liên tục chống lại tổ quốc và dân tộc ta từ hậu bán thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Thí dụ, họ tôn vinh Ngô Đình Diệm, một bạo chúa vừa là phản thần tam đại Việt gian (đã bị quân dân miền Nam đập chết ở Sàigòn vào lúc gần 7 giờ sáng ngày 2/11/1963) bằng cách liên tục gọi hắn là một “chí sĩ yêu nước, một vị anh hùng dân tộc đã chết vì dân”. Họ bất kể gia tộc tam đại Việt gian này đã giết hại đến hơn 300 ngàn nạn nhân trong những năm 1954-1963 và đã bi sách sử ghi nhận là một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại. Nilgel Cawthorne, Tyrants History’ 100 Most Evil Despots & Dictators (London::Arcturus, 2004), p. 167-168.

3.- Việc phong thánh cho 117 tên tội đồ chống lại tổ quốc và dân tộc ta (trong hai thế kỷ 18 và 19), đã  bị chính quyền ta thời đó tóm cổ và xử tử) đuợc chính thức ban hành và tổ chức rầm rộ vào ngày 19/6/1988 .

Tóm lại, việc  Giáo Hội La Mã phong thánh cho cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng không ngoài sách lược xảo quyệt “khích động,  nuôi dưỡng lòng hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực trong lòng con chiên để thôi thúc họ hăng say tích cực  tham gia vào những hoạt động chống lại chính quyền và dân tộc ta  để gia tăng quyền lực và quyền  lợi của cái “tôn giáo ác ôn” này tại Việt Nam.

 


Phụ Lục I.

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GƯƠM

Linh Mục Trần Tam Tỉnh

Phụ Lục: PHONG THÁNH

Trích đoạn:

... Việc thờ kính các Thánh trong tôn giáo là điều bình thường, việc phong thánh ở các nước xưa nay cũng là bình thường, không những không gây những xáo trộn tâm lý - xã hội lớn, mà còn đem lại niềm tự hào nỗi vui mừng và nguồn cổ vũ đối với người có đạo, được sự chấp thuận, tán thành, có khi cùng vui mừng với nhân dân cả nước.

Nhưng việc phong thánh lần này của Tòa thánh Vatican đối với nước ta là một việc làm không bình thường. Do nội dung và hình thức của nó, do cách tiến hành cũng như hậu quả của nó, việc làm này đã gây nên một tình hình nghiêm trọng, không lợi gì cho đạo mà gây khó xử cho giáo sĩ và giáo dân trong nước, xuyên tạc lịch sử dân tộc, xúc phạm tình cảm của những người ngoài đạo, ành hưởng xấu đến đoàn kết toàn dân, làm thương tổn mối quan hệ đang tiến triển thuận lợi giữa Nhà nước và Giáo hội, gây trở ngại cho lòng mong muốn có quan hệ thiện chí và hữu nghị giữa Việt Nam và Vatican....

Mời đọc toàn bài ở: http://sachhiem.net/TONGIAO/TTTINH/TTT_43.php

 

Phụ Lục II.

Về 117 Người Được Đế Quốc Xâm Lược Vatican Phong Thánh

Nguyễn Mạnh Quang

Trích và bổ túc bài đă đăng trên http://nhandanvietnam.wordpress.com/2012

Trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 cũng như trong các chương trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng Giáo Hội La Mã chỉ là một danh xưng bề ngoài của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican, rằng từ năm 1533 đế quốc này đã cho những tay gián điệp thuợng thặng đến Việt Nam thâu thập các dữ kiện tình báo chiến lược về tình hình Việt Nam rồi báo cáo về Tòa Thánh Vatican. Đồng thời, họ tìm đủ mọi cách móc nối và dụ dỗ những người dân cùng khổ, những thành phần có những thành tích bất hảo hay bất mãn với chính quyền đương thời và những phần tử cặn bã của xã hội vào màng lưới gián điệp trong đạo quân thứ 5 nằm hờ, chờ giờ hành động.

Một phần trong các hoạt động tình báo của họ là làm đảo lộn cương thường và phá rối nền trị an của Việt Nam bằng cách phỉ báng và chế giễu các lễ nghi tín ngưỡng và tập tục cổ truyền của dân tộc, miệt thị các vị thánh tổ của đạo Phật, đạo Khổng bằng những ngôn từ của những phường “đá cá lăn dưa” như gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta”, gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh”. Xem sách Phép Giảng Tám Ngày (Roma: Thánh Bộ Truyền Giáo Roma, 1651, trang 94 - 132), xúi giục giáo dân bất tuân lệnh chính quyền đương thời rằng: “người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực nhà Vua và luật pháp nước họ”, rằng “ Đức Giáo Hoàng ở Rome mới là vị vua tối cao duy nhất của họ”, rằng “họ chỉ tuân phục quyền lực Tòa Thánh Vatican”.

Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc”.

Từ một một phương trời xa lạ đến Việt Nam, khác với người dân về đủ mọi phương diện mà không biết câu ngạn ngữ trên đây mà lại hành xử hỗn xược, ngược ngạo như vậy thì quả thật họ là những người ngu xuẩn đến cùng mức của ngu xuẩn. Hành xử ngu xuẩn như vậy thì làm sao tránh được những chuyện đáng tiếc xẩy ra đối với họ. Giả thử vào thời đó cũng có một nhà Nho hay một ông sư đến nước Ý, nước Pháp, nước Tây Ban Nha hay nước Bồ Đào Nha cũng làm tất cả những gì mà các ông điệp viên (truyền giáo) của Tòa Thánh La Mã đã làm ở Việt Nam, thí dụ như có một nhà Nho hay ông sư nào đó cũng đem các tập tục cổ truyền và lễ nghi về đạo Gia Tô ra phỉ báng và chế diễu, cũng đem vị thánh tổ của đạo Gia Tô là Chúa Jesus ra gọi là “thằng hay dối người ta” và bảo rằng “chẳng phải Chúa, chẳng phải thánh, chẳng phải hiền”, cũng xúi giục người dân ở các nước này rằng “đừng thừa nhận quyền lực của Đức Giáo Hoàng” rằng “Đức vua của triều đình Nguyễn ở Việt Nam mới là vị vua tối cao của họ”, rằng “họ chỉ tuân phục quyền lực của triều đình Huế tại Việt Nam mà thôi”, thì quý vị có nghĩ rằng nhà Nho hay ông sư này vẫn không bị chính quyền sở tại làm khó dễ gì cả hay là họ đã bị tóm cổ đưa ra các tòa án dị giáo của Giáo Hội La Mã để xử về tội báng bổ thần thánh và phá rối trị an, rồi đem trói vào cột và thiêu sống cho đến chết giống như Giáo Hội đã xử và thiêu sống các ông John Huss (1369-1415 ), Savonarola Girolamo (1452-1498), Giordano Bruno (1548-1600) và 11 triệu (*) nạn nhân khác cùng một số phận như các nhà trí thức trên đây mà không được may mắn bị quản thúc tại gia cho đến ngày tàn hơi thở như nhà thiên văn học Galileo Galilei (1564-1642).

(*) chú thích bổ túc ngày 16 July 2013: Lẽ ra phải hơn 68 triệu. Chỉ riêng ở Tây Ban Nha và các thuộc địa của đế quốc này, con số nạn nhân đã lên tới 68 triệu. Tài liệu: sách SmokeScreens (Chino, CA: Chick Publications, 1983, trang 35) của tác giả Jack T. Chick.

Muốn biết rõ Giáo Hội La Mã sẽ có thái độ và hành động ra sao nếu có một nhà Nho hay một nhà sư đến nước Ý hay Tây Ban vào thế kỳ thứ 17 và cũng hành động như ông Linh-mục Alexander de Rhodes đã hành động ở Việt Nam vào thời kỳ này, chúng ta hãy theo dõi đoạn văn dưới đây do Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết trong cuốn Công Giáo Chính Sử, nguyên văn như sau:

“Thật ra, những cuộc Thánh Chiến của Gia Tô La Mã Giáo (Công Giáo) không chỉ có mục đích giết dân Ả Rập mà còn giết những người Do Thái và giết luôn cả những người Ki Tô giáo khác không có cùng quan niệm tôn giáo với Gia Tô, như chúng ta đã thấy trong cuộc Thánh Chiến Albigense mô tả ở trên. Các cuộc Thánh Chiến của Gia Tô Giáo đã nhận chìm Âu Châu trong vòng chiến tranh tàn sát suốt hai thế kỷ 11 và 12, dài gần 200 năm. Nhưng, ngoài sách lược tiêu diệt văn hóa nhân loại và các cuộc Thánh Chiến, lịch sử Gia Tô La Mã Giáo còn một vết nhơ vĩ đại khác, đó là những Tòa Án xử những người Dị Giáo (khác đạo) hay những người mà Giáo Hội kết tội là lạc đạo, nghĩa là không công nhận quyền lực của Giáo Hoàng và của hàng giáo phẩm, những người Do Thái và cả những người theo Ki Tô Giáo nhưng không cùng tín ngưỡng với Gia Tô Giáo. Những tòa án xử dị giáo này kéo dài hơn 500 năm và đã làm cho trên 11 triệu người chết vì tra tấn bởi những hình cụ khủng khiếp nhất, phát minh bởi những tín đồ Gia Tô, và thiêu sống v.v… (Zindler, p. 183: The Roman Catholic Church killed over 11 million people in the course of the Inquisition)” (1).
Trở lại chuyện 117 ông thánh của Giáo Hội La Mã, Tòa Thánh và những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican cho rằng các ông này là những thánh tử đạo, bị sát hại trong thời kỳ các chính quyền Tây Sơn và nhà Nguyễn cấm đạo. Người viết xin đặt vấn đề là: “Trong khi ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã không cho người dân nằm trong vòng kiểm soát của Giáo Hội được quyền tự do tín ngưỡng và Giáo Hội sát hại tới 11 triệu người thuộc các tín ngưỡng khác mà Giáo Hội lại cho người đến nước chúng tôi đòi quyền tự do truyền đạo Gia Tô và quyền tự do theo đạo Gia Tô ở Việt Nam được hay sao?”

Nếu các nhà truyền giáo chỉ lo việc truyền giáo và những người Việt Nam thích theo đạo Gia Tô chỉ lo việc thờ phượng Chúa Jesus mà không có mưu đồ cướp nước với những hành động phá rối trị an, xúi giục giáo dân bất tuân thượng lệnh và nổi loạn lật đổ chính quyền để đưa người tín hữu Gia Tô lên nắm quyền hay thiết lập một vương quốc Giáo Tô thì chắc chắn là không có ai đụng đến một sợi tóc của họ, dù rằng họ đã có những hành động lỗ mãng, vô giáo dục, xấc xược ngược ngạo gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta” và gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh”.

Thực ra, các ông truyền giáo và những người Việt Nam theo đạo Gia Tô thời đó đã hành xử một cách vô cùng hỗn xược, ngược ngạo, bất chấp cả luật pháp của chính quyền đương thời, bất chấp cả lương tâm, bất chấp cả lẽ phải, bất chấp cả tình người, và chỉ muốn quấy phá làm cho nước Việt Nam rơi vào tình trạng hỗn loạn bằng cách xúi giáo dân không tuân lệnh nhà vua mà chỉ biết tuân lệnh Giáo Hoàng ở La Mã (như đã nói ở trên) và cứ tiếp tục quấy phá để thừa nước đục thả câu. Sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897) viết:

“Hơn nữa, các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực Nhà Vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các “con chiên”: Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ phải tuân phục quyền lực của tòa thánh Vatican. Vậy, đây không còn phải là vấn đề truyền giáo nữa, mà đơn giản là một mưu đồ làm cho chính quyền của xứ sở này bị mất ổn định. Vì thế, hành động của Nhà Vua, đối với trách nhiệm làm vua của ông hoàn toàn đứng đắn khi ông chống lại các hoạt động của một giáo sĩ Kitô.” (2)

Sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 (Tập 1) viết về những tác phong và hành động bán nước của một số người Việt Nam theo đạo Gia-tô và những việc làm chống lại tổ quốc Việt Nam của các tay tổ gián điệp của Vatican như sau:

“Nhờ các giáo sĩ Kitô tiềm phục trong nước làm nội ứng, Pháp tuyển mộ được nhiều cộng sự viên bản xứ đắc lực và trung thành từ buổi đầu trong việc chinh phục cũng như bình định” [trang 91]. “Ngòai ra Rigault còn nhận được tin quân Nguyễn sẽ tấn công , với 500 tù nhân mở đường. Loại tin mật báo này phần lớn do Giám-mục Pellerin cung cấp” [trang 96-97]. “Từ tháng 11/1858, Pellerin nhiều lần thúc dục Rigault đưa quân ra đánh Huế… Điều Rigault mong đợi và từng được Pellerin cùng các giáo sĩ nhiều lần hứa hẹn – tức giáo dân Kitô sẽ nổi loạn đón tiếp những nhà giải phóng tạo thành thế nội công ngoại kích..” [trang 97-98].

“Truớc tình trạng tiến thoái lưỡng nan, các giáo sĩ lại đưa ra hai giải pháp mới. Pellerin khuyên Rigault vào chiếm Gia-định làm bàn đạp, chờ ngày đánh Huế. Retord và các giáo sĩ Espania thì thúc dục kéo ngay ra Bắc Kỳ, thiết lập một vương quốc Kitô độc lập ở miền này. Vì “thanh kiếm thập tự quân, lưỡi gươm của Charlemagne và Thánh Louis, đã trở nên quá nặng trên tay con cái Voltaire,” Rigault sinh ra bực dọc, chỉ trích Pellerin nhiều lần. Rigault cũng không ngớt than phiền về thái độ lộng hành của Pellerin trong những báo cáo về Paris” (trang 98).

“Những cuộc nổi loạn liên miên của các cộng đồng giáo dân Ki-tô, tiêu biểu bằng tổ chức hải tặc Tạ Văn Phụng (Lê Duy Minh), với khẩu hiệu thiết lập một vương quốc Kitô, …” [trang 191). “Tham vọng đã âm ỉ, nung nấu từ lâu của các giáo sĩ Kitô: hoặc chiếm đóng toàn cõi Đại Nam, lật đổ Tự Đức, hoặc tách biệt Bắc Kỳ thành một vương quốc tự trị” [trang 192].

“Vua (Tự Đức) bị cô lập dần trong hoàng thành với mối lo sợ khôn nguôi về tham tâm của Pháp. Trong khi đó, tinh thần thập tự quân của các giáo sĩ Kitô ngày một lên cao. Các giáo sĩ tìm đủ cách khiêu khích hầu tạo cơ hội cho Pháp động binh. Năm 1875, chẳng hạn, Giám-mục Gauthier và Croc đòi triều đình bồi thường thiệt hại lên tới 2,146,613 lạng bạc. Với sự yểm trợ của Rheinart, Gauthier và Croc còn mưu chiếm cả ruộng đất của các làng xã bỏ hoang để trừ bớt số tiền thiệt hại tên. Nhiều nơi, giáo sĩ công khai xúi dân làm loạn. Geoffroy ở Bình Định chỉ là một thí dụ. Tại Ninh Bình, các giáo sĩ còn lộng hành hơn nữa, cho thủ hạ quấy nhiễu, ngăn chặn cả công văn” [trang 251-252] (3).

Ở Âu Châu, người ta không hề nổi loạn chống lại chính quyền mà Giáo Hội cũng lôi cổ người ta ra tòa xử người ta về tội khác tín ngưỡng, và các tòa án của Giáo Hội đã giết hại đến hơn 11 triệu người. Ấy thế mà ở Việt Nam, Giáo Hội lại đòi phải có quyền tự do truyền đạo.

Được đằng chân, lân đằng đầu, khi được phép tự do truyền đạo rồi tới khi có một số tín hữu tin theo thì Giáo Hội lại xúi giục giáo dân không tuân hành tập tục và luật pháp của chính quyền Việt Nam, mà chỉ biết tuân lệnh Giáo Hoàng ở La Mã và xúi giục giáo dân nổi loạn, lật đổ chính quyền để thiết lập một vương quốc Gia-tô giáo. Quý vị thử nghĩ xem còn có hành động nào hỗn xược, ngược ngạo hơn những hành động này không?

Quốc hữu quốc pháp, gia hữu gia quy”. Ở đâu thì cũng phải có quan trị quan nhậm. Con người ở bất kỳ quốc gia nào ở trên trái đất này cũng đều hiểu rằng “Nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc”. Đến nước người ta mà không tuân hành tục lệ của nước người ta đã là một điều trái tai gai mắt, không thể chấp nhận được. Không những thế, họ lại còn không tuân hành luật pháp quốc gia nước người ta nữa. Tệ hơn nữa, họ lại còn xúi giục dân chúng nổi loạn nhằm cướp chính quyền để thiết lập một chính quyền chuyên chính độc tôn tôn giáo thì xin hỏi, những người đó có phải là những quân thổ phỉ, những phường giặc cướp, kẻ thù của dân tộc Việt Nam hay không? “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”.

Là người dân của một nước, sống trong mảnh đất mà ông cha tổ tiên từ bao nhiêu đời kế tiếp nhau hy sinh không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và xương máu mới tạo dựng nên được, đã không ra công bồi đắp cho đất nước ngày một khá hơn thì thôi, ấy thế mà chỉ vì bất mãn nhất thời hay sống trong cảnh cùng khổ mà ngu xuẩn đến độ đi nghe lời xúi giục của người ngoài, nhẫn tâm “rước voi về giầy mả tổ”, phá nát cơ đồ của tổ tiên để lại, thì những hạng người đó có phải là những quân Việt gian, mãi quốc cầu vinh hay không? Những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican hãy suy cho kỹ, nghĩ cho cùng để xem 117 người được Giáo Hội La Mã phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 có phải là những quân “thổ phỉ” và những phường “cõng rằn về cắn gà nhà” hay không?

Chúng tôi muốn trình bày với những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican một điều như thế này: Các ông cho rằng 117 người trên đây đã được Giáo Hội La Mã của các ông phong thánh thì họ là thánh. Đó là quyền tự do của các ông. Nhưng đối với đại khối dân tộc Việt Nam, ai cũng tin rằng 117 ông thánh này là tội đồ của dân tộc Việt Nam, dù người đó là người Việt Nam hay người ngoại quốc.

Không ai chối cãi được Vatican là một đế quốc thực dân xâm lược đã chủ động trong việc đánh chiếm và thống trị toàn cầu mà Việt Nam chỉ là một trong những quốc gia bị Đế Quốc Vatican chiếu cố. Khi cuộc chiến bùng nổ giữa một bên là Việt Nam và một bên là Đế Quốc Vatican có Đế Quốc Pháp là Đồng Minh thì các ông giống như những người dân Nhật mang quốc tịch Hoa Kỳ sống trên đất Mỹ trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Người dân Nhật mang quốc tịch Hoa Kỳ có quyền chọn Hoa Kỳ hay Nhật làm quê huơng đích thực để rồi liều chết chiến đấu cho cái quê hương mà họ đã chọn.

Tương tự như vậy, trong cuộc chiến giữa một bên là Việt Nam và một bên là kẻ thù Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican và Pháp, các ông có quyền chọn Đế Quốc Vatican hay Việt Nam là quê hương đích thực của các ông để rồi liều chết chiến đấu cho cái quê hương mà các ông đã chọn. Các nhà truyền giáo người Âu Châu đến Việt Nam liều chết chiến đấu cho quê hương đích thực của họ là Đế Quốc Vatican, nếu chẳng may họ phải hy sinh vì nhiệm vụ thì đương nhiên sẽ được tổ quốc Vatican ghi ơn và phong thánh. Và các ông, những người Việt Nam mang quốc tịch Vatican, đã từ bỏ tổ quốc Việt Nam và nhận Đế Quốc Vatican là quê hương đích thực của các ông để rồi liều chết chiến đấu cho đế quốc này, nếu chẳng may mà bị chính quyền Việt Nam bắt được và bị hành hình thì tất nhiên các ông là những người đã hy sinh cho Đế Quốc Vatican và cũng được Vatican phong thánh. Phong thánh cho những người làm tay sai tai mắt cho Vatican thì Vatican có mất gì đâu.

Hồng Y Silvio Oddi đã từng nói: “Vatican đã trở thành một cái xưởng chế tạo ra các ông thánh” (The Vatican has become a saint factory)” (4).

Nhưng đối với đại khối dân tộc Việt Nam, những người có tên trong danh sách 117 người được tòa thánh Vatican phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 chỉ là những tên tội đồ của dân tộc, và nếu họ là người Việt Nam thì họ là những phường “cõng rắn về căn gà nhà” giống như Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Trần Lục, v.v…

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Giá trị các ông thánh của Vatican như thế nào, không ai biết rõ hơn là Giáo-sư Lý Chánh Trung, một nhà trí thức đã từng mang quốc tịch Vatican. Ông viết:

“Sau bốn thế kỷ giảng đạo với những phương tiện hùng hậu, những hy sinh lớn lao, phải nhận rằng số người Á Đông theo đạo thật là ít oi… Đó là chỉ nhìn đến số lượng. Nếu nhìn đến phẩm lượng (qualité) thì có lẽ kết quả còn khiêm tốn hơn nữa: Chưa có một giáo hội Á Đông nào sản xuất được một vị thánh, và trình độ đạo đức trung bình của người Công Giáo Á Đông không có gì gọi là “cao” hơn những người không Công Giáo”(5).

Có lẽ vì thế mà sau khi cân nhắc giữa “Tôn Giáo Và Dân Tộc”, Giáo-sư Lý Chánh Trung đã dứt khoát “Tìm Về Dân Tộc” giống như quyết định của các ông Phan Quốc Đông, Nguyễn Chấn, Trương Thiện, Pham Hữu Tạo, Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh, v.v…

Trong khi các ông nhận Đế Quốc Vatican là quê hương đích thực và liều chết chiến đấu cho Vatican thì đại khối dân tộc Việt Nam chúng tôi chỉ có mỗi một nước Việt Nam là quê hương đích thực.

Khi quân thù xâm lược Vatican và Pháp đem quân đến đánh cướp nước Việt Nam thân thương của chúng tôi, chúng tôi phải liều chết chiến đấu để bảo vệ cơ đồ của ông cha để lại, nếu chẳng may phải gục ngã nơi chiến trường thì chúng tôi trở thành anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đế Quốc Vatican, Đế Quốc Pháp và những người nhận Đế quốc Vatican hay Đế Quốc Pháp là nước tổ của họ đã gọi tất cả những anh hùng dân tộc của nước tôi là những quân phiến loạn và những quân tội đồ.

Chính vì thế mà những vị anh hùng của dân tộc Việt Nam chúng tôi như các cụ Nguyễn Trung Trực, Lâm Quang Ky cùng 170 nghĩa quân kháng chiến tại Kiên Giang và ông Mai Xuân Thưởng ở Bình Định đã bị người của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican là Trần Bá Lộc đem quân đánh phá và bắt được, rồi xử tử như một tên tội đồ. Trong hoàn cảnh tương tự như vậy, cụ Phan Đình Phùng cùng các chiến sĩ nghĩa quân tại Vụ Quang đã bị người của Tòa Thánh Vatican là Ngô Đình Khả đánh tan, và đào mả cụ Phan lấy xác, đem đốt thành tro, rồi lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông Lam Giang cho tiêu tan mất xác. Tương tự như hoàn cảnh của cụ Phan Đình Phùng, chiến lũy Ba Đình dưới quyền lãnh đạo của cụ Đinh Công Tráng bị phá tan cũng chỉ vì tên Việt Gian cuồng tín Linh-mục Trần Lục đem 5 ngàn giáo dân đi tiếp viện và làm chỉ điểm cho giặc để tâng công. Sau này, các ông Đội Bình, Đội Cốc và Đội Nhân cũng bị Cố Ân, người của Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican báo cáo với chính quyền bảo hộ Vatican-Pháp bắt đem đi chém chết. Những người yêu nước vào những năm giữa thập niên 1920 bị tên Việt gian Ngô Đình Diệm bắt được đem tra tấn vô cùng man rợ bằng cách cột nạn nhân vào một chiếc ghế có khoét lỗ ở giữa rồi cho đốt đèn cầy (nến) ở dưới làm cháy cả hậu môn của nạn nhân; các ông Đội Cấn và Lương Ngọc Quyền đã liều thân hy sinh thân để chống lại Vatican và Pháp ở Thái Nguyên; Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông bị những người của Giáo Hội La Mã và Pháp bắt và bị đưa lên đoạn đầu đài vào ngày 17 tháng 6 năm 1930. Tất cả những vị anh hùng dân tộc trên đây cùng với những người chống lại chính sách bạo tàn của chế độ độc tôn tôn giáo của anh em nhà Ngô và đảng Cần Lao Công Giáo, tay sai của Đế Quốc Vatican, vào những năm sau tháng 7 năm 1954, trong đó có những người đã tham dự vào cuộc chính biến 11/11/1960 và cuộc Cách Mạng 1/11/1963 đều bị Đế Quốc Vatican và người Việt Nam mang quốc tịch Vatican coi như là một thứ tội đồ nguy hiểm, nguyền rủa họ và mạt sát họ.

Trong khi đó thì đại khối dân tộc Viêt Nam chúng tôi lại coi họ là những vị anh hùng dân tộc như một thứ quốc bảo của đất nước, và đem hết lòng ngưỡng mộ, trân quý và tôn vinh họ. Họ là các vị thánh của dân tộc Việt Nam của chúng tôi.

.....

Ngược lại, chúng tôi cũng gọi tất cả những người anh hùng hay các ông thánh của đế quốc Vatican và Đế Quốc Pháp đã chết trong cuộc chiến xâm lăng và thời kỳ thống trị nước Việt Nam của chúng tôi là những quân thổ phỉ hay những tên tội đồ.

Riêng những người Việt Nam tóc đen, da vàng mũi tẹt, ăn cơm gạo Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam mà lại đứng về phía kẻ thù xâm lược là Đế Quốc Vatican hay Pháp để chống lại tổ quốc Việt Nam, dù sống hay chết, dù cho sau khi chết được Vatican phong thánh đi nữa, thì chúng tôi cũng vẫn gọi họ là những phường “rước voi về giầy mả tổ” như trường hợp Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống và không thể nào thoát khỏi được cái nhìn khinh bỉ và ghê tởm của dân tộc Việt Nam. Bài thơ dưới đây của nhà thơ Lương Nhân (được ông Giuse Phạm Hữu Tạo ghi lại trong bài viết “Hai Mẹ Con”, đăng trong tờ trong Đông Dương Thời sô 73, ngày 1-8-1999, phát hành tại Houston, Texas) nói lên sự thật này:

Người thì xưng cố, kẻ xưng cha,
Gián điệp tay sai hại nước nhà,
Mãi quốc cầu vinh, phường quốc tặc,
Thương luân bại lý, bọn gian tà.
Tội đồ dân tộc tôn vinh “thánh”.
Ác bá dâm tà lãnh chức “cha”.
Tà đạo thực dân chung một Chúa.
Nhân nào quả ấy chẳng còn xa.

Bọn người cuồng nô vô tổ quốc này đã bị đại khối dân tộc Việt Nam ta đời đời nguyền rủa:

Sống chỉ mặt, chết chỉ mồ,
Xương dù chôn nát, mặt mo hãy còn.

Chính vì vậy mà người tín đồ Thiên Chúa La Mã Giuse Phạm Hữu Tạo, sau khi tỉnh ngộ và quyết tâm trở về với dân tộc, đã dõng dạc và thẳng thắn tuyên bố rằng: ”Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm thánh của Đại Công Ty Rôma”, như đã ghi ở trong Chương 9. Ngày xưa, Trần Bình Trọng sợ bị lịch sử lên án và hậu thế khỉnh rẻ là một “ông vua Việt gian”, đã lớn tiếng mắng thẳng vào mặt tên tướng giặc Thóat Hoan rằng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Và ngày nay, sợ rằng hậu thế sẽ đời đời khinh rẻ là “một tên thánh Việt gian”, ông Giuse Phạm Hữu Tạo đã công khai và lớn tiếng nói cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican và những người Thiên La Đắc Lộ biết rằng ông “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm thánh của Tòa Thánh Vatican”.

oOo

Cũng nên biết rằng, dân tộc Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền đạo lý tam giáo cổ truyền, lấy nhân ái, từ bi hỉ xả và đại lượng làm phương châm hành động. Chứng cớ là ông cố đạo Alexandre de Rhodes đến Việt Nam tìm đủ mọi cách để phỉ báng và chế giễu các lễ nghi tín ngưỡng và tập tục cổ truyền của dân tộc, miệt thị các vị thánh tổ của đạo Phật, đạo Khổng bằng những ngôn từ của những phường “đá cá lăn dưa” như gọi Đức Phật Thích Ca là “thằng hay dối người ta”, gọi Đức Khổng Tử là người “chẳng phải hiền, chẳng phải thánh" mà ông ta vẫn không bị một người Việt Nam lôi ra hạch sách hay đánh đập về tội ngu xuẩn, và xấc xược. Chính thái độ của Alexandre De Rhodes mới xứng đáng mang danh là một đứa "đá cá lăn dưa", dốt nát đến nỗi không biết tùy cơ ứng biến theo như châm ngôn “In Rome, we must act as Romans” đã dạy mà lại hỗn láo mang tội báng bổ thần thánh như vậy. Thế mà chính quyền chỉ đuổi cổ ông vì tội làm gián điệp chứ không phải vì ông ta xấc xược với các vị thánh hiền.

[....]

Nguyễn Mạnh Quang

(“Thực Chất của Giáo Hội La Mã”, tập I, chương 10)

____________

Chú thích:

(1) Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1999) tr. 98-99

(2) Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (Saint Raphael, France: tự xuất bản 1994) tr. 17

(3) Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 , Tập I (Houston, Texas: Văn Hóa, 1999)

(4) Trần Chung Ngọc, sđd., tr. 268

(5) Lý Chánh Trung, Tôn Giáo Và Dân Tộc (Saigon: Lửa Thiêng, 1973) tr. 77

___________________

Bài liên quan:

- Xưởng Sản Xuất Thánh (Nguyễn Ri)