Mối Ác Cảm Của Nhân Dân Thế Giới

Đối Với Giáo Hội La Mã

Nguyễn Mạnh Quang

https://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/NMQ_08.php

bản rời | toàn tập | 02 tháng 4, 2010

 

CHƯƠNG 10 (tt)

TÌNH TRẠNG DỐT NÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA TÁC GIẢ BÀI VIẾT HIỆN TƯỢNG CHIA RẼ TÔN GIÁO

Trước đây, trong bài viết “Chuyện dê cỏn buồn sửng của Con Chiên Chu Tất Tiến”, chúng tôi đã trình bày khá rõ ràng về đặc tính hay bản chất Ca-tô của nhóm thiểu số con chiên ngoan đạo người Việt. Một trong những đặc tính ghê tởm này của họ là gán những việc làm không tốt hay bất lương nào đó cho những tác giả có những tác phẩm nói lên sự thật lịch sử có liên hệ đến những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã hay của một chjính quyền đạo phiệt tay sai của giáo hội. Trong bài viết “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử”‘ của ông văn nô họ Chu này, chúng ta lại thấy cái đặc tính này được tác giả sử dụng để chụp lên đầu chúng tôi cái mũ “chia rẽ tôn giáo” với thâm ý khua chiêng gióng trống hỗ trợ cho hành động sỉ vả, phỉ bang và lên án “mối ác cảm đối với đạo Ki-tô ở nhiều nơi trên thế giới ngày càng trở nên mãnh liệt” của Giáo Hoàng Benedict XVI. Sau đó, ông ta lại còn gài thêm một câu nữa với chủ tâm cho rằng Giáo-sư Trần Chúng Ngọc đã viết ẩu về khu rừng tội ác của Giáo Hoàng 23 bằng câu văn dưới đây:

Trần Chung Ngọc chuyên dùng thủ đoạn chen một câu nói láo giữa những dữ kiện sưu tập, thí dụ như đang nói về các diễn tiến phát triển của Công Giáo, bất ngờ chen vào câu: “Giáo Hoàng Gioan 23 là kẻ tàn ác nhất thế kỷ, đã tiêu diệt 10 triệu người Hồi Giáo…”

Đọc câu văn này, ai cũng hiểu rằng ông văn nô cừu non họ Chu có thâm ý cho rằng Giáo Hoàng XXIII là người rất thánh thiện, ấy thế mà Giáo-sư Trần Chung Ngọc lại dám nói là “kẻ tàn ác nhất thế kỷ, đã tiêu diệt 10 triệu người Hồi Giáo…” Điểm đặc biệt là ông ta chỉ tuyên bố khơi khơi, chứ không trích dẫn đoạn văn của Giáo-sư Trần Chung Ngọc nói rằng “Giáo Hoàng Gioan 23 là kẻ tàn ác nhất thế kỷ, đã tiêu diệt 10 triệu người Hồi Giáo…”

Người viết không được đọc đoạn văn của Giáo-sư Trần Chung Ngọc nói về Giáo Hoàng 23 (1410-1415). Đúng ra, sách sử nói rằng ông ta là một tên vô lại và là một đầu đảng cướp biển, rồi được băng đảng của ông ta trong Tòa Thánh Vatican đưa lên làm Giáo Hoàng vào năm 1410. Với một người đã từng là tên trùm hải tặc như vậy, thì tất nhiên phải là kẻ tàn ác ghê gớm lắm. Chính vì cái đặc tính vô lại và tàn ác này mà ông ta mới bị bị Hội Nghị Canstance truất phế cùng với hai tên giáo hoàng lưu manh khác vào năm 1415. Riêng về Giáo Hòang XXIII (1410-1415) này (khác với Giáo Hoàng XXIII (1958-1963), bị giam đến năm 1418 thì được Giáo Hoàng Martin V (1417-1431) phóng thích và chết vào năm 1419.

Sở dĩ ông cừu non họ Chu viết “ẩu” câu văn nặng tính các vu khống trên đây (không trích dẫn đoạn văn của Giáo- sư Trần Chung Ngọc viết) là vì ông ta sinh ra, lớn lên và tiếp nhận sở học qua các trường học dưới quyền kiểm soát của Giáo Hội La Mã với chủ trương đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo bằng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để khi ra đời họ (thanh thiếu nên) sẽ hành xử đúng theo ý muốn của Vatican. Cung cách hành sử đúng theo ý muốn bất chính trên đây của Tòa Thánh Vatican được Giáo Hội La Mã gọi là “sống theo lương tâm công giáo” hay “sống đạo theo đức tin Kitô” và cũng được gọi là “ngoan đạo”.

Theo các nhà sử học, Giáo Hội La Mã rất dị ứng môn lịch sử và dị ứng với khoa học. Vì thế mà tất cả những bài học về quốc sử cũng như về lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã phải được giáo hội gạn lọc và kiểm soát chặt chẽ rồi mới được đưa vào chương trình học. Tình trạng này đã làm cho giáo dân và học sinh theo học các trường đạo và các trường nằm dưới quyền kiểm soát của giáo hội hay dưới quyền kiểm soát của các chính quyền đạo phiệt tay sai của giáo hội chỉ biết lơ mơ về quốc sử và hầu như không biết gì về lịch sử thế giới. Về lịch sử Giáo Hội La Mã,ì họ lại càng không biết gì cả, và nếu có biết được chút gì về “cái tôn giáo ác ôn” này, thì cũng chỉ là biết qua mấy cuốn ngụy thư “Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo” (Sàigòn: Chân Lý, 1972) của Linh-mục Bùi Đức Sinh và “Việt Nam Giáo Sử” (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư, 1965) của Linh-mục Phan Phát Huồn mà thôi, chứ họ không hề bao giờ rớ tới những cuốn như Vicars of Christ (Dublin, Ireland: Poolbeg, 2000) của Peter de Rosa, Deceptions and Myths of the Bible (New York: Bell Publshing Company, 1979) của Lloyd M. Graham, The Bad Popes (New York: Barnes & Nobles Books, 1969 của E. R. Chamberlin, The Vatican Exposed (New York: Prometheus Books, 2003) của Paul L. Williams, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing company) của Loraine Boettner, Babylon Mystery Religion (Riverside, CA: Ralph Woodrow Evangelistic Association, Inc., 1981) của Ralph Woodrow, The Decline and Fall of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981) và Rich Church, Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984) của Malachi Martin., vân vân.

Sở dĩ chúng tôi gọi mấy cuốn sách của hai ông Linh-mục Bùi Đức Sinh và Phan Phát Huồn là “ngụy thư” là vì các tác giả này viết theo nguyên tắc mà nhà văn con chiên Nguyễn Ngọc Ngạn đã nói rõ là:

Là một tín đồ ngoan đạo …. thì phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.”[51]

Vì thế mà chúng ta có thể nói tất cả các tác phẩm về lịch sử do các ông quạ đen và cừu non “ngoan đạo” hoặc là “sống theo đức tin Kitô” hay “lương tâm công giáo” đều là “ngụy thư” cả.

Trở lại bài viết của ông cừu non họ Chu, vì dốt nát về lịch sử, cho nên ông ta này mới viết câu văn trên đây mà không biết rằng viết như vậy là ông ta tự phơi bày tình trạng dốt nát về lịch sử của ông ta cho mọi người nhìn thấy.

Vì không học và không đọc lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã, cho nên ông văn nô cừu non này mới không biết rằng trong lịch sử Giáo Hội La Mã có hai Giáo Hoàng John XXIII:

Giáo Hoàng John XXIII thứ nhất (1410-1415) có tên thật là Baldassare Cossa sinh năm 1370 tại Naples (thuộc nước Ý). Ông này vốn là một tên vô lại này, đã từng là tên trùm của một băng đảng lính đánh thuê (ex- condottiero) và cướp biển (ex- pirate). [52]

Giáo Hoàng John XXIII thứ hai (1958-1963) có tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli sinh tại Sotto Il Monte, gần Bergamo (cũng thuộc nước Ý). Ông này lên ngôi vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 và qua đời vào ngày 3 tháng 6 năm 1963. Thiết tưởng những người Việt Nam quan tâm đến lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại đều biết danh tính của ông giáo hoàng này. Khác với Giáo Hoàng John XXIII thứ nhất, ông này rất khôn khéo. Theo các nhà sử học, trong số 264 giáo hoàng trong lịch sử Giáo Hội La Mã, chỉ có Giáo Hoàng John XXIII thứ hai (1958-1963) này và Giáo Hoàng Paul VI (1963-1978) là người có tư cách và khôn khéo. Nói như thế có nghĩa là khi chưa được đưa lên ngài vàng, hai vi giáo hoàng này không có những đặc tính xấu xa ghê tởm giống như các ông qụa đen người Việt mà Giáo-sư con chiên Nguyễn Văn Trung đã ghi nhận là “cao ngạo, khép kín, quan liêu, độc tài độc đoán”, “kỳ thị ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh”, “chơi nhau thay vì chơi với nhau” và “coi giáo dân như cỏ rác.” [53]

Cũng có thể là vì truyền thống của Giáo Hội La Mã là “Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại” Bùi Hoàng Thư. “Bạn Đọc Góp Ý.” Văn Nghệ Tiền Phong số 548, tháng 11 năm 1998: Tr. 44-45 ("Một sử gia có lương tri, hãy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối răn dạy con cháu: "Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại." và “Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.” Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr.320.), các trường đạo đã giấu nhẹm ông Giáo Hoàng John XXII (1400-1415) vô lại cựu hải tặc này, chỉ để cho tín đồ biết rằng trong lịch sử, Giáo Hội chỉ có một Giáo Hoàng XXIII (1958-1963) mà thôi. Vì thế mà ông văn nô cừu non họ Chu này mới viết câu văn trên đây mà không biết rằng Giáo-sư Trần Chung Ngọc đã nói đúng sự thật. Rõ ràng ông văn nô con chiên họ Chu chỉ là một thứ “ong non ngứa nọc”!

Nói về tội ác của Giáo Hoàng John XXIII thứ nhất (1400-1415), sách Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (nơi trang 121) viết như sau:

"Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415) trong thời Ly Giáo, [khác với Giáo Hoàng John XXIII (1958-1963)] xuất hiện trước Công Đồng với một bản cáo trạng về việc làm của ông ta. Ông đã bị tố cáo bởi 37 nhân chứng, trong số đó phần lớn là các vị giám mục và linh mục đều xác nhận ông ta đã phạm tội thông dâm với gái chưa chồng, gian dâm, loạn luân, đồng tình luyến ái, mại thánh, trộm cắp và giết người! Điều đó cũng được một số đông nhân chứng xác nhận rằng: Ông ta đã dụ dỗ, cưỡng dâm 300 nữ tu. Viên thư ký riêng của Giáo Hoàng John (XXIII) tên là Niem nói rằng Giáo Hoàng đã giữ một khuê phòng tại Boulogne ở đó có khoảng 200 cô gái đã là nạn nhân của tính dâm dục của ông ta." (Pope John XXIII, having appeared before the Council to give an account of his conduct, he was proved by thirty-seven witnesses, the great part of whom were bishops and priests of having been guilty of fornication, adultery, incest, sodomy, simony, theft, and murder. It was proved also by a legion of witnesses, that he had seduced and violated 300 nuns. His own secretary, Niem, said that he had at Boulogne, kept a harem, where not less than 200 girls had been the victims of his lubricity."[54]

Chính vì tình trạng dốt nát, không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã, cho nên ông văn nô cừu non họ Chu mới để lòi cái dốt vĩ đại về lịch sử của ông ta cho thiên hạ biết khi ông ta viết câu văn trên đây với dã tâm cho là Giáo-sư Ngọc đã nói láo hay vu khống cho thằng vô lại cựu hải tặc Baldassare Cossa được triều đình Vatican đưa lên làm Đức Thánh Cha của “Hội Thánh duy nhất thánh thiện công giáo và tông truyền” của ông ta.

Không dám đọc lịch sử vì sợ sự thật: Trong phần chót của bài viết, đoạn văn 16, ông văn nô cừu non này viết:

“Phương pháp hay nhất vẫn là “xóa bỏ” và “ngăn chặn” các thư rác rưởi ấy, không mở ra, không đọc, cho dù đọc qua một kẻ trung gian chuyển tiếp đến…”

Các nhà sử học thường nói rằng Giáo Hội La Mã rất sợ những sự thật lịch sử. Chính vì vậy mà tại các quốc gia nằm dưới ách thống trị trực tiếp của Vatican như các “Papal states” ở nước Ý Đại Lợi trước ngày 19/9/1870 hay gián tiếp qua các chế độ đạo phiệt Ca-tô tại các quốc gia địa phương (Âu Châu trong thời Trung Cổ, Châu Mỹ La-tinh, Phi Luật Tân cùng nhiều nơi khác ở Phi Châu từ đầu thế kỷ 16 cho đến cuối thế kỷ 20 và cho đến ngày nay, Croatia trong những năm 1941-1945, Đông Dương trong những năm 1885-1945 và miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975), môn quốc sử, lịch sử thế giới và các tài liệu về lịch sử Giáo Hội La Mã đều bị kiểm soát gắt gao. Đoạn văn sử dưới đây do Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận cho chúng ta thấy rõ một phần nào sự thật này:

Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới.”[55]

Vì kị hay “dị ứng” môn lịch sử, cho nên Giáo Hội mới cấm, không cho đưa môn lịch sử thế giới vào trong chương trình học ở học đường. Bằng chứng bất khả phủ bác cho sự kiện này là chuyện bộ lịch sử thế giới do hai ông Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn được phát hành vào đầu niên học 1955-1956 ở miền Nam Việt Nam ”bị cấm bán và bị tịch thu”. Đồng thời, tác giả Nguyễn Hiến Lê bị “mạt sát là đầu óc đầy rác ruởi” và bị “mật vụ của chính quyền đến rình rập ” ở ngay tại nơi cư trú. Lý do là vì trong bộ sách này, các tác giả “có nhắc qua đến thuyết (tiến hóa) của nhà bác học Darwin về nguồn gốc loài người” và trong phần nói về Thời Trung Cổ “có ghi lại sự bê bối của một vài giáo hoàng.”

Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ là tất cả giới tu sĩ và các ông cừu non người Việt nói riêng, và tất cả những người Việt Nam theo học các bậc tiểu và trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 chỉ biết lơ mơ về quốc sử và lịch sử thế giới. Về lịch sử Giáo Hội La Mã, thì họ lại càng mù tịt, không biết gì cả. Tất cả những gì họ biết về quốc sử cũng như về lịch sử thế giới chỉ là những bài viết đã được đãi lọc, uốn nắn, diễn dịch, và bóp méo sao cho có lợi cho Giáo Hội La Mã mà thôi, nghĩa là những bài học lịch sử phải được diễn dịch và uốn nắn sao cho phù hợp với những chuyện hoang đường láo khóet trong kinh thánh Ki-tô và cũng là để lấp liếm hay bưng bít những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua cũng như để che giấu khu rừng tội ác của bọn tu sĩ và cừu non người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay. Vì lẽ này mà trình độ hiểu biết về lịch sử của họ kể như là “một con số không vĩ đại” (un grand zero tout rond). Một em bé người Việt sinh đẻ ở Hoa Kỳ mới học xong lớp 10 bậc trung học đã nói rằng kiến thức tổng quát của thân phụ em ở vào “tình trạng bất quân bình” dù rằng ông ấy vốn là một giáo viên dạy toán trong nhiều năm ở các trường trung học ở miền Nam Việt Nam và ở Hoa Kỳ.

Đã nhiều lần, chúng tôi đã từng nói những trẻ em mồ côi cha mẹ từ khi tuổi còn quá nhỏ và sống lang thang ở ngoài xã hội thường không biết gia phả hay nguồn gốc gia đình của chúng. Ta gọi chúng là những đứa con hoang trong xã hội. Tương tự như vậy, những người không được học quốc sử thì không hiểu biết gì về nguồn gốc và những bước thăng trầm của dân tộc và đất nước của họ. Vì thế mà họ rất dễ dàng trở thành những quân vong bản và phản quốc. Ta gọi những người này là những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc. Cùng một lẽ này, những người không hiểu biết gì về lịch sử thế giới thì không biết gì về nguồn gốc loài người, không biết gì về những chặng đường tiến hóa của nhân lọai, không biết gì về những hành động ngang ngược của Giáo Hội La Mã chống lại những phát minh khoa học, chống lại các học thuyết tiến bộ cao đẹp của nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua. Những người ở vào trường hợp này không khác gì là những đứa con hoang trong cộng đồng nhân lọai. Chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã được các chính quyền đạo phiệt Ca-tô tại các quốc gia địa phương (trong đó có miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975) triệt để thi hành có mục đích làm cho người dân dưới quyền trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng quốc gia và cũng là những đứa con hoang trong cộng đồng nhân loại.

Nếu tìm đọc những tác phẩm hay những bài viết của các ông quạ đen và cừu non người Việt, hoặc là theo dõi hay để ý đến những cung cách hành xử, những lời nói hoặc lời tuyên bố và hành động của chúng, thì chúng ta sẽ thấy rõ điều này. Những bằng chứng rõ ràng nhất về sự kiện giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số cừu non (con chiên) người Việt không còn biết quốc gia dân tộc là gì nữa là (1) những khẩu hiệu của họ như (a) “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, (b) “Giữ đạo, chứ không giữ nứớc”, (c) “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”, (2 ) Lời tuyên bố của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt rằng “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam. Đi đâu cũng bị soi xét chúng tôi buồn lắm chứ…” (3) việc quạ đen Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) sử dụng những lời lẽ ngược ngạo viết trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 (ngang nhiên coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam), để trả lời bản văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội), (4) những hành động triệt để tuân hành lệnh truyền của Vatican để làm tay sai choi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1850 cho đến ngày 30/4/1975, v.v… Tất cả những bằng chứng này nói lên rõ ràng về tính cách vong bản, phản quốc và tội ác bán nước cho quân cướp ngoại xâm của giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số cừu non người Việt.

Vì mang nặng căn bệnh vong bản, giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số con chiên người Việt mới không biết rằng “pháp có quốc pháp, gia có gia quy”. Quả thật là họ đã trở thành những đứa con hoang trong cộng đồng dân tộc và trong cộng đồng nhân loại.

Với tình trạng bị ảnh hưởng sâu nặng bởi chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã, với thói quen suy tư và hành động nặng tính cách vong bản và phản dân tộc, và với tình trạng không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật, giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số icừu non người Việt chỉ còn biết phát thanh và hành động theo lệnh truyền của các đấng bề trên của họ. Một trong những lệnh truyền này là họ không được phép đọc các tài liệu lịch sử mà Giáo Hội La Mã không cho phép, đúng như Linh-mục Trần Tam Tình đã nói rõ nơi trang 54 trong sách Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978). Vì thế mà họ mới rơi vào tình trạng dốt nát, không biết gì về quốc sử, không biết gì về lịch sử thế giới và cũng không biết cả lịch sử Giáo Hội La Mã. Chính vì thế mà họ mới rơi vào tình trạng không có đủ khả năng tranh luận về các đề tài lịch sử để đưa ra luận cứ có khả năng thuyết phục để phản bác những luận cứ của các tác phẩm của chúng tôi, và họ cũng không thể nào phủ nhận hay chối cãi được những sự thật lịch sử được nêu lên ở trong đó. Vô kế khả thi, họ chỉ còn có cách duy nhất là chạy trốn sự thật và bảo nhau rằng “tam thập lục kế, tẩu vi thương sách” bằng hai đoạn văn dưới đây:

“Một Linh Mục quan niệm một cách đơn giản hơn: “Với những loại thư rác, hạ cấp như vậy, ta chỉ việc xóa bỏ (delete), hoặc ngăn chặn (block, spam) chúng đi thôi. Đọc làm chi mấy cái bài nhảm nhí ấy. Chúng hoàn toàn không có giá trị về văn chương hoặc nghiên cứu khoa học”.

16.- Như thế, phương pháp hay nhất vẫn là “xóa bỏ” và “ngăn chặn” các thư rác rưởi ấy, không mở ra, không đọc, cho dù đọc qua một kẻ trung gian chuyển tiếp đến. Điều này có hai hiệu quả: Không nhức đầu vì những nguyên cớ vô duyên, và tránh được những con virus độc hại do các thư rác chuyển đến, mục đích muốn làm hại máy điện toán của mình. Một khi mà tất cả các thành viên trên diễn đàn đồng loạt vừa “delete” vừa “block, spam” thì các thư rác rưởi ấy sẽ được hành sử theo lời Đức Phật dậy: “món quà nào gửi đi mà không được nhận, sẽ trở lại người gửi.” (Xin xem lại Chương 7 ở trên).

Hai đoạn văn trên đây của ông văn nô cừu non họ Chu khiến cho chúng ta nhớ lại, suốt trong chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 310 cho đến ngày nay, quyền lực Vatican vươn tới đâu, thì ở đó môn lịch sử bị kiểm sóat gắt gao, bị đãi lọc, bị xuyên tạc, bị bóp méo, phải được diễn dịch sao cho phù hợp với những chuyện hoang đường, loạn luân, phi luân, dâm loạn, ngược ngạo, bất nhân, bất nghĩa và dã man đến cùng độ của dã man ở trong thánh kinh cũng như trong lời dạy và trong những hành động của Vatican hay của Giáo Hội La Mã. Nói cho rõ hơn, môn quốc sử và môn sử thế giới gần như bị cấm đoán, không được in ấn và lưu hành, các tài liệu lịch sử về giáo hội lại càng bị cấm đoán nghiêm ngặt hơn. Sự thật này đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh-mục Trần Tam Tỉnh viết:

Ngoại trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người công giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt lên khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ (linh mục quản nhiệm họ đạo) kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đã tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chánh thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến…” [56]

Vì thế mà sau khi đưa được ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 6 năm 1954, thì việc đầu tiên là chính quyền này được lệnh phải kiểm soát chặt chẽ môn học quốc sử, lịch sử thế giới và các tài liệu lịch sử nói về lịch sử thế giới. Cũng vì thế mà bộ lịch sử thế giới do hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn phát hành trong niên học 1955-1956 bị tịch thu và cấm lưu hành, tác giả Nguyễn Hiến Lế bị sỉ vả là “đầu óc đầy rác rưởi” và chính quyền gửi nhân việt mật vụ đến nơi cư trú của tác giả Nguyễn Hiến Lê để rình rập. Tất cả đều do đề nghi của một linh mục mà ra. Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Wesminster,CA: Văn Nghệ, 1986), tr. 99-101.

Phần trinh bày trên đây chứng tỏ là Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican rất sợ lịch sử. Sợ lịch sử tức là sợ không dám biết đến nguồn gốc hay giả phả của đất nước hay không muốn biết đến tổ tiên của chính mình.

Chuyện đền thờ Quốc Tổ Việt Nam ở trong Sở Thú Sàgòn: Thói đời, sợ cái gì thì ghét ghét cay ghét đắng cái đó và không muốn tiếp xúc với nó, rồi quay ra tìm đủ mọi cách để miệt thị và làm hạ giá nó. Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican rất sợ môn lịch sử, tất nhiên là Giáo Hội không thể nào lại không đòi hỏi giới tu sĩ áo đen và con chiên Việt Nam cũng phải sợ lịch sử, tức là sở cả lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã và quốc sử (lịch sử Việt Nam). Vì sở lịch sử, cho nên tất cả mọi thành phần ngoan đạo (cuồng tín) trong đạo Ca-tô, bất kể là tu sĩ hay tín đồ, đều không những không được biết đến nguồn gốc tổ tiên của người Việt Nam, mà còn phải tìm đủ mọi cách để miệt thị và làm hạ giá nguồn gốc loài người và tổ tiên Việt Nam ta. Cũng vì thế mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho thiết lập đền thờ quốc tổ Hùng Vương ở trong Sở Thú Sàigòn với thâm ý ngầm nói rằng quốc tổ của người Việt Nam chúng ta chỉ là một trong những loài thú vật và được nhốt chung với các loài cầm thú ở trong Sở Thú Sàigòn. Thực trạng này đã khiến cho những người dân Việt cảm thấy hết sức đau lòng. Cái tâm lý đau lòng này được Hạc Hải cư sĩ thổ lộ cho chúng ta biết như sau:

Buồn hơn nữa là trước đây người ta đã đưa bàn thờ bát nhang, bài vị các Vua Hùng vào đặt tại Sở Thú Sàigòn để thờ! A-Di-Phật, Thiện Tai Thiện Tai !!! Không lẽ hết chỗ để thờ các vua Hùng rồi sao? (Thảo Cầm Viên chỉ là tiếng văn hoa bóng bẩy người bình dân chỉ nói "Sở thú" mà thôi). Ai lại đưa các Vua Hùng thờ chung với chó, mèo, cọp, khỉ, trăn rắn . . . Đây là một việc làm quá ư là vô văn hóa, có tính chất miệt thị; đúng là phi dân tộc. Cho nên như Cụ Hòanh Linh đã nói: “Hễ đã phi dân tộc thì thế nào cũng phản dân tộc” ! Còn gì đau buồn hơn?[57]

Vấn đề đặt ra là “Ai lại đưa các Vua Hùng thờ chung với chó, mèo, cọp, khỉ, trăn rắn” trên đây được tác giả Lý Thái Xuân trong ban biên tập sáchhiem.net tìm hiểu và giải đáp như sau:

“Ðền do Pháp xây dựng, dùng làm nơi thờ cúng những người Việt Nam đi lính cho Pháp, đã chết trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Lúc đầu, đền có tên là Kỷ Niệm (Temple de Souvenir). Sau năm 1954 (thời chính quyền Ngô Đình Diệm), Pháp rút khỏi Việt Nam, đền được chuyển sang thành đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương.” [58]

Không ai chối cãi được rằng, nhờ dựa và thế lực Vatican ở hậu trương sân khấu chính trị tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, giới tu sĩ áo đen và nhóm thiểu số con chiên (cừu non) người Việt đã đem Quốc Tồ Hùng Vương và các vị anh hùng dân tộc của chúng ta nhốt chung với loài cầm thú ở trong Sở Thú Sàigon. Trong khi đó, thì cách đó không bao xa, ngôi nhà thờ Đức Bà chiếm một vị trí tốt đẹp nhất, sang trọng nhất và ngạo nghễ nhất trong Thành Phố Hồ Chí Minh. Sự khinh rẻ và miệt thị của Vatican và nhóm thiểu số con chiên người Việt đối với Quốc Tổ Hùng Vương và các vị anh hùng của dân tộc ta quả thật là quá trắng trợn và quá lộ liễu, không thể nào tha thứ được!

Mong rằng chính quyền hiện nay cũng như nhân dân Việt Nam lên tiếng về vấn đề này và sớm sớm cho thiết lập một ngồi đền thờ quốc tổ của chúng ta ở một vị trí trang trọng nhất ở ngay sát ngôi nhà thờ Đức Bà và phải càng lớn hơn ngôi nhà thờ này càng tốt để thay thế cho ngôi đền hiện nay ở trong Sở Thú Sàigòn.

Mong lắm thay!

SÁCH LƯỢC HÀNH ĐỘNG CỦA VATICAN

ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ LỊCH SỬ

Phần trình bày ở trên cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội La Mã hay Vatican có những sách lược hành động đối với vấn đề lịch sử khác nhau theo thời thế hay hoàn cảnh chính trị của từng địa phương, đại khái là có 3 trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Khi có quyền lực, thì Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican ra lệnh cho giới tu sĩ áo đen nhóm con chiên bản địa dùng quyền lực để hạn chế tối đa các bài học lịch sử, phần còn lại bị giáo hội kiểm sóat chặt chẽ và phải được bóp méo hay diễn dịch theo ý muốn của Vatican. Bóp méo hay diễn dich như thế nào?

Họ diễn dịch sao cho phù hợp (1) với những chuyện hoang đường, loạn luân, dâm loạn, phi luân, ngược ngạo, bất nhân, bất nghĩa và dã man đến cùng độ của dã man ở trong thánh kinh, (2) với những hành động gian manh, bất chính, ngược ngạo, tham tàn và man rợ của Vatican hay Giáo Hội La Mã cũng như của giới tu sĩ áo đen và đám con chiên bản địa trong những cố gắng có chủ tâm để miệt thị, triệt hạ uy tín những nhân vật lịch sử và các anh hùng dân tộc tại các quốc gia địa phương. Sách lược sỉ nhục, làm giảm giá trị và triệt hạ uy tín các vị anh hùng và các chiến công của các vi anh hùng này của dân tộc ta cũng đã được chúng tôi bày khá rõ ràng trong bài viết có nhan đề là sách lược chống lại truyền thống tôn thờ anh hùng dân tộc (trường hợp vua Quang Trung và trường hợp Cụ Hồ Chí Minh). Bài viết này có thể đọc online trên sachhiem.net.

Riêng về đối với truyền thống thờ cúng và tôn vinh quốc tổ và anh hùng dân tộc, thì chúng dùng đủ mọi phuơng cách để gièm pha, hạ giá và sỉ nhục truyền thống này đúng như lời phán trong Cựu Ước, sách Leviticus (26:1) “Các ngươi chớ làm những hình tượng; hoặc hình chạm, hoặc hình đúc, chớ dựng trong xứ mình một hòn đá nào có dạng hình đặng sấp mình trước mặt hình đó vì ta là Jehovah, Chúa Trời của các ngươi.” (You shall not make idols for yourselves, neither a carved image nor a sacred pillar you rear up for yourselves; nor shall you set up an engraved stone in, to bow down to it; for I am the Lord your God.”

Việc chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm cho thiết lập đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở trong Sở Thú Sàigòn với thâm ý coi Quốc Tổ Hùng Vương và các vị anh hùng dân tộc của đất nước ta như loài cầm thú là một trong rất nhiều bằng chứng bất khả phủ bác nói lên sự thật này.

Trường hợp 2: Khi không có quyền lực như ở Việt Nam hiện nay, thì chúng tìm đủ mọi cách chống đối, miệt thị, khủng bố và vu khống đủ mọi thứ xấu xa cho những nhà viết sử có những tác phẩm nói lên những sự thật (1) về những việc làm tội ác mà Giáo Hội La Mã đã chống nhân loại trong gần hai ngàn năm qua, (2) về những khu rừng tội ác phản quốc của giới tu sĩ áo đen và nhóm con chiên người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay. Riêng về những hành động khủng bố của chúng nhắm vào các tác giả người Việt ở Bắc Mỹ có những tác phẩm như nói ở trên đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 13 trong sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam và Chương 13 trong sách Chân Dung Người Việt Quốc Gia. Cả hai chương sách này đều có thể đọc online trên sachhiem.net.

Trường hợp 3: Cũng ở trong hòan cảnh không có quyền lực, NẾU thấy rằng dù đã làm đủ mọi cách đê tiện và hèn hạ như trên để đối phó với các nhà viết sử chân chính mà cũng không làm cho họ chùng bước, thì chúng (giới tụ sĩ áo đen và bọ văn nô cừu non) quay ra bảo nhau rằng tốt hơn hết là “xóa bỏ (delete), hoặc ngăn chặn (block, spam)”, nghĩa là chúng mở chiến dịch bảo nhau “tẩy chay”, nhất định không đọc các tác phẩm lịch sử không được Giáo Hội cho phép đọc, tức là không được đọc các tác phảm lịch sử của các nhà viết sử chân chính. Thái độ và hành động này quả thật không khác gì hành động của con đà điểu chúi đầu và bãi cát khi thấy một cái gì mà nó cảm thấy sợ hãi.

Tuy rằng chúng hô hào và kêu gọi những người đồng đạo của chúng tẩy chay, dứt khoát không đọc những tác phẩm lịch sử nói lên những việc làm tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua cũng như của giứo tu sĩ áo đen và nhóm con chiên người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam ta từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay, nhưng chính chúng cũng đã đọc những tác phẩm của chúng tôi và đọc rất kỹ, đọc đi đọc lại rất nhiều lần với mục đích duy nhất là để tìm xem chúng tôi có nói hay viết sai chỗ nào không để chúng viết những bài phản bác và phổ biến rộng rãi qua các phương tiện truyền thông tiếng Việt ở hải ngoại mà chúng đã khống chế từ đầu thập niên 1980 cho đến ngày nay. Bằng chứng rõ ràng nhất cho vấn đề này là khi viết hai đọan văn trên đây, ông văn nô con chiên (cừu non) họ Chu và ông linh mục mà ông văn nô này nêu lên trong bài viết trên đây tất nhiên là đã đọc các tác phẩm của chúng tôi rất kỹ rồi mới có thể có ý kiến tiêu cực và chống đối chúng tôi mãnh liệt như vậy!

Rõ ràng giới tu sĩ áo đen và đám văn nô cừu non muốn nắm độc quyền đọc những tác phẩm của chúng tôi và không muốn để cho những người đồng đạo của chúng đọc. Có như vậy thì chúng mời dễ dàng lừa bịp họ. Hành động bất lương này của chúng khiến cho chúng ta nhớ lại trong những năm 1954-1975, dưới ách thống trị của Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican, người dân miền Nam Việt Nam không được đọc các loại sách như (1) sách sử thế giới, (2) lịch sử Giáo Hội La Mã, (3) quốc sử (trong thời cận và hiện đại), (4) các sách báo nói về lý thuyết Karl Marx (1818-1883) và (5) thuyết hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882), nhưng không ai cấm chúng (giới tu sĩ áo đen và những người có quyền lực trong chính quyền) đọc các sách sử trên đây cũng như các sách báo và tài liệu nói về hai lý thuyết khoa học này. Có thể là cả ông Ngô Đình Nhu, bác-sĩ Trần Kim Tuyến và nhiều khác đã đọc hai lý thuyết khoa học trên đây.

Tương tự như vậy, trước khi ông văn nô cừu non họ Chu này viết bài viết trên đây, nhiều ông văn nô cừu non khác như Nguyễn Văn Chức, Lữ Giang, Nguyễn Kimh Khánh (Phan Thiết) Hoàng Thái Du, Nguyễn Vy Khanh, Lữ Giang, Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, Tiến-sĩ Nguyễn Học Tập, v.v… cũng đã từng đọc các tác phẩm của chúng tôi và cũng đã từng viết những bài viết để phản bác những sự kiện lịch sử được nêu lên trong các tác phẩm của chúng tội. Tiếc rằng những bài viết của họ toàn là những lời lẽ vu vơ với những ngôn từ thiếu văn minh có chủ đích gièm pha và chê bai những tác phẩm của chúng tôi rồi chụp cho chúng tôi những thứ mũ như ông văn nô cừu non họ Chu đã sử dụng trong bài viết “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo…” mà không đưa ra được một luận điệu nào có giá trị thuyết phục để đánh đổ những sự kiện lịch sử được nêu lên trong các tác phẩm của chúng tôi. Điểm đặc biệt là vào tháng 5 năm 2009, bà Bác-sĩ Nguyễn Thị Thanh còn phổ biến lời kêu gọi những người đồng đạo của bà hãy nhân danh một tỉ rưỡi tín đồ Kitô đứng đơn khởi tố Giáo-sư Trần Chung Ngọc và các anh em trong nhóm Giáo Điểm về cái mà bà ta cho rằng chúng tôi đã phỉ báng đạo Ki-tô của bà ta. Hành động này đã khiến cho Giáo-sư Trần Chung Ngọc liền viết bài “Khổ Thân Củ Khoai Tôi” để nói lên nỗi lòng của người viết sử sắp bị ra trước tòa án (không biết là tòa án nào). Bài này được đưa lên sachhiem.net từ ngày 25/5/2009.

Thế rồi, cho đến nay (22/3/2010), đã gần một năm rồi, chúng tôi vẫn không thấy vụ kiện này tiến hành, và cũng không thấy họ nói đến vụ kiện này nữa.

Có thể là họ nhận ra được sự thật là không thể nào dùng biện pháp kiện cáo đề hù dọa chúng tôi được, và cũng không có khả năng viết được những bài viết có giá trị thuyết phục để phản bác những sự kiện lịch sử nói về những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và những khu rừng tội ác của bọn quạ đen và cừu non người Việt chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến nay, thì tốt hơn hết là làm thân con đà điều chúi đầu xuống bài cát để chạy trốn những sự thật lịch sử như ông văn nô cừu non họ Chu đã nói như trên. Chứ cứ tiếp tục lên tiếng sỉ vả và lên án những người tác giả có tác phẩm nói lên những thật lịch sử thì quả thật là thiếu thông minh và thiếu văn hóa.

Rồi trong mấy ngày gần đây, ông Nguyễn Quốc Huy, một con chiên thuộc lọai ngoan đạo ở trong nước, đã vào sachhiem.net đọc những bài viết của chúng tôi và thấy rằng những điều chúng tôi nói về những sự thật về việc làm tội ác cực kỳ dã man Giáo Hội La Mã. Vì mang bản chất của một tín đồ Ca-tô ngoan đạo (cuồng tín), ông Nguyễn Quốc Huy đã không biết rằng chính ôngh bị giáo hội phỉng gạt và lừa bịp, cho nên ông ta hoài nghi và bức xúc điều chúng tôi viết bức xúc về những điều chúng viết mà ông đã đọc được trong sáchhiem.net. Vì vừa hòai nghi vừa bức xúc về những điều chúng tôi viết và tự biết mình không có đủ khả năng kiến thức để làm sáng tỏ mối tỏa mối hoài và cũng như để giải tỏa nỗi lòng bức xúc của ông ta bằng cách viết bài tranh luận với chúng tôi để làm cho ra nhẽ. Ông Huy mới viết một lá thư kêu cứu gửi đến những người mà ông ta cho là thuộc lọai đại trí trưc trong xã hội tu sĩ áo đen bà con chiên người Việt (qua các diễn đàn điện tử như tgphanoi@gmail.com, tinconggiao@gmail.com, chuacuuthe@gmail.com) với hy vọng họ lên tiếng (bằng những bài viết tranh lụân với chúng tôi) để bảo vệ cái giáo hội mà ông đã được dạy dỗ là “hội thánh duy nhất thấh thiện, công giáo và tông truyền”. Dưới đây là nguyên văn bức kêu cứu cúa con chiên Nguyễn Quốc Huy:

“Kính gửi:

Các Đức Giám mục, Linh mục, Quý Thày, các học giả Công giáo và những ai có kiến thức sâu rộng về Kitô giáo!

Con là Nguyễn Quốc Huy, một giáo dân, vừa rồi tình cờ được biết đến website sachhiem.net, thấy trên đó có nhiều nội dung chống lại Công giáo.

Con đã gửi thư cho họ và họ có hồi đáp lại. Thật tiếc rằng con chỉ có niềm tin vào Chúa mà không có nhiều kiến thức về Thiên chúa và về Giáo hội nên đã tránh không tranh luận với họ. Con kính nhờ các Ngài bằng các cơ sở lịch sử, khoa học, … lên tiếng để bảo vệ đạo, uy tín của Giáo hội và của tín đồ Công giáo.” [59]

Có thể khi viết lá thư kêu cứu này, ông Nguyễn Quốc Huy đã không biết rằng, giới người đại trí thức trong xã hội Ki-tô người Việt đã “quậy” bằng đủ mọi cách nhưng vô phương cứu chữa vì rằng “cái kim giấu kín trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”, “bàn tay không thể nào che kín được mặt trời”. Cũng vì thế mà những thủ đọan và thuật ngữ được bộ máy tuyền truyền trong Thánh Bộ Đức Tin của Vatican sử dụng dù có quỷ quyệt thiên ma bách chiết và siêu việt đến đâu đi nữa cũng không thể nào bưng bít và bóp méo được những sự thật lịch sử về những việc làm tội ác của Vatican chông lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Cuối cùng, họ cũng đành phải buông suôi và quay ra kêu gọi những người đồng đạo của họ bằng đoạn văn chạy làng với luận điệu “ếch ngồi đáy giếng” của nền văn hóa Ca-tô, giống như tác phong của anh chị Cầu Muối Sàigòn của cái thời 1949-1975. Dưới đây là nguyên văn lời kêu gọi của họ:

“Với những loại thư rác, hạ cấp như vậy, ta chỉ việc xóa bỏ (delete), hoặc ngăn chặn (block, spam) chúng đi thôi. Đọc làm chi mấy cái bài nhảm nhí ấy. Chúng hoàn toàn không có giá trị về văn chương hoặc nghiên cứu khoa học”.

Thực ra, lời kêu gọi văn trên đây của một ông linh mục và ông văn nô Chu Tất Tiến đưa ra cũng chẳng mới mẻ gì. Nó chính là sách lược của Giáo Hội La Mã suốt từ khi nó được Hòang Đế Constantine (280-237) cho ra đời vào giữa thập niên 310, đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh trong nơi trong 54 trong cuốn Thập Giáo và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) mà chúng tôi đã trích dẫn ở trên (cũng trong chương sácyh này). Sách lược này cũng đã được chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican triệt để thi hành ở Việt Nam trong những năm 1862-1954 và đặc ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

ôn ông văn nô họ Chu

Trong khi đó, cũng mới đây Giáo Hoàng Benedict XVI lại đi sỉ vả những người có mối ác cảm đối với đạo ki-tô chỉ vì họ là nạn nhân khốn khổ của các tôn giáo ác ôn này. Hành động như vậy, Giáo Hoàng Benedict XVI đã làm cho thiên hạ có cảm tưởng rằng ông ta là người thiếu thông minh, thiếu văn hóa và cũng là chứng tỏ cho mọi người thấy rằng đạo Kitô thực sự là “cái tôn giáo ác ôn” và Giáo Hội La Mã chỉ là “cái Giáo Hội Khốn Nạn”, một thứ “đạo bịp”, “đạo máu”, đúng như văn hào Voltaire, học giả Henri Guillemin và ông Charlie Nguyễn đã ghi nhận. Chính vì cái đặc tính “ác ôn”, “khốn nạn”, “bịp bợm” và “đẫm máu” này của đạo Kitô hay Giáo Hội La Mã mà nhân dân thế giới mới có mối ác cảm mãnh liệt đối với nó và càng ngày càng trở nên mãnh liệt hơn.

 

[51] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 320.

[52] Chamberlin, The Bad Popes (New York: Barnes & Nobles, 1969], p. 158.

[53] Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa (Sproing, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1998), tr 115-116.

[54] Chu Văn Trình, Gia Tô Thực Dân Sử Liệu (Mt. Dora, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực, 1990), tr. 121.

[55] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr. 54.

[56] Trần Tam Tình, Sđd., tr.54.

[57] Hạc Hải Cư Sĩ. “ Về Với Cội Nguồn Dân Tộc – Mộ và Đền Thờ Nạm Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương.” Ngày 21/2/2010. Nguồn: https://sachhiem.net/LICHSU/HacHai.php.

[58] Nguồn: https://www.saigon24h.vn/home.php?left=cnsg&cat_id=437&mid=3&nid=134

[59] Nguồn: https://www.sachhiem.net/EMAILS/SH/Sachhiem24.php