Mối Ác Cảm Của Nhân Dân Thế Giới

Đối Với Giáo Hội La Mã

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/NMQ_07.php

bản rời | toàn tập | 02 tháng 4, 2010


CHƯƠNG 10

Phản ứng từ các hàng giáo phẩm đến giáo dân

Nói chung, giới chăn chiên và các giáo dân ngoan đạo Việt Nam luôn luôn có những suy tư, thái độ và hành động La Mã hơn cả La Mã. Một trong những bằng chứng rõ ràng cho sự kiện này là phản ứng của họ về việc Giáo Hoàng John Paul II (1978-2009) xin lỗi nhân dân thế giới trong những năm 1994-2000 và chính ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đã chính thức lên tiếng cáo thú tội ác của Giáo Hội La Mã trong một cuộc đại lế vô cùng trọng thể được tổ chức tại Quảng Trường Peter (Rome) vào sáng ngày Chủ Nhật 12/3/2000. Đứng trước hành động này của Giáo Hoang John Paul II và các vị chức sắc giáo triều Vatican, nhóm thiểu số “con chiên” người Việt tỏ ra trịch thượng và ngạo mạn, cương quyết chống lại việc Giáo Hội La Mã xin lỗi như vậy. Bài viết trích đoạn dưới đây được Sàigòn Nhỏ Số 170 phát hành ngày 17/3/2000 coi như là tiêu biểu cho cái thái độ ngạo mạn đó:

Tại nhà thờ St. Elizabeth, Ohio, anh Holum Lê, 30 tuổi lại phát biểu rằng “Tôi cho là không cần phải xin lỗi gì hết.” Cũng vậy, tại một nhà thờ khác ở Orange County, một tín đồ gốc Á Châu cho rằng ”tại sao phải xin lỗi, chúng ta phải hiểu rằng khung cảnh lịch sử và hậu trường xã hội thời đó khác với bây giờ, cho nên những việc xẩy ra trước đây có lẽ cũng là việc đương nhiên và dân chúng thời đó coi là chuyện dĩ nhiên bình thường trong bối cảnh của nó. Không thể lấy hiện tại mà áp đặt giá trị luân lý vào việc xẩy ra xưa kia được.” [33]

Các nhà giáo dục cho rằng những suy tư, ngôn ngữ và cung cách hành xử của mỗi người đều bị ảnh hưởng bởi hai yêu tố di truyền và môi sinh. Di truyền là những cái “genes” trong cơ thể con người. Tuy rằng rất nhỏ, những “genes” lại là một tập hợp của đủ mọi đặc tính về thể chất, tính nết và thông minh truyền từ đời trước cho các đời sau kế tiếp. Môi sinh là môi trương sinh sống trong đó có gia đình, học đường, bạn bè, xóm làng và xã hội.

Đồng thời, người Pháp cũng có từ kép “Déformation professionelle” (méo mó nghề nghiệp) để nói về cái nhìn sự vật lệch lạc theo lăng kính (góc độ) của ngành chuyên môn của mỗi người. Kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày cho chúng ta thấy rằng cùng trong một tổ chức hay một thế lực, nhưng nếu ở vào vị thế (chức vụ) hay có quyền lực và quyền lợi khác nhau, thì họ cũng có cái nhìn và phản ứng khác nhau đối với cùng một sự kiện. Đây là quy luật tâm lý và xã hội. Quy luật này rất đúng với mọi giới người chuyên nghiệp trong mọi thời đại. Cũng vì thế mà cùng một sự kiện như mối ác cảm đối với đạo Kitô của nhân dân nhiều nơi trên thế giới ngày càng trở nên mãnh liệt mà phản ứng của Hoàng John Paul II (1978-2005) khác với phản ứng của đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI, và phản ứng của cả hai ông giáo hoàng này cũng khác hẳn với phản ứng của giới chăn chiên và cừu non người Việt.

Phần trình bày dưới đây sẽ nói lên những định luật đó:

Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) (vì chức vụ, tư thế hay địa vị xã hội) đã công khai nhìn nhận những mối ác cảm rất mãnh liệt của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã là do chính giáo hội đã gây nên.

Chính Giáo Hội gây nên như thế nào?

Đó là những hành động bất chính bất minh, bịp bợm, lường gạt tín đồ và người đời bằng những tín lý Ki-tô, bằng những bánh vẽ thiên đường, phép mầu, phép lạ, các phép bí tích, sẽ được ban phép lành, sẽ được Chúa trả ơn, v.v… và nhất là bằng những hành động tàn ngược qua những việc (1) phát động chiến tranh tôn giáo, (2) thiết lập các tòa án dị giáo xử lý những nguời thuộc các tôn giáo khác, (3) cấu kết với các cường quyền và đế quốc thực dân xâm lược để củng cố quyền lực và bành trướng ảnh hưởng, (4) thi hành chính sách ngu dân và giáo dục để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình tráng, vừa ngu vừa dốt, để dễ bề cai trị, (5) thi hành chính sách tuyên truyền xảo trá với chủ tâm bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử để đánh lừa người đời và hậu thế, (7) cướp đọat tài nguyên quốc gia, (8) bóc lột nhân dân đến tận xương tận tủy, (9) thu vơ và tích lũy của cải cho đầy túi tham.

Nhận thức được sự thật này, và nhờ biết nhìn xa, trong hơn mười năm cuối cuộc đời, Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) mối lần đi đến bất kỳ quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội, ngài cũng xin lỗi lia lịa, tính ra có tới hơn 100 lần. Đứng trước mối ác cảm (đúng ra là lòng căm) của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã, ngay cả đương kim Giáo Hoàng Bennedict XVI (vì chức vụ và tư thế và địa vị xã hội) cũng phải nhìn nhận, dù là phản ứng của ông khác hẳn với phản ứng của vị tiền nhiệm của ông là Giáo Hoàng John Paul II.

Trong khi Giáo Hoàng John Paul II chỉ thốt lời xin lỗi những quốc gia nạn nhân của đạo Ki-tô của ngài (vì di truyền hay ảnh hưởng của tài nghệ của một chính khách lão luyện trong ngành ngọai giao), thì Giáo Hoàng Benedict XVI lại trút những lời sỉ vả và phỉ báng lên đầu những người có mối ác cảm đối với Giáo Hội La Mã mà không cần biết một số những người đó hoặc là đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La Mã.

Tệ hơn nữa, những con chiên cuồng tín người Việt Nam tỏ thái độ trịch thượng (di truyền và môi sinh) nói rằng không cần phải xin lỗi ai hết như trường hợp ông cừu non Holum Lê đã nói ở trên. Ghê gớm hơn nữa là thủ đoạn của giới văn nô người Việt. Họ tránh né, không dám đả động gì đến lòng căm thù của tuyệt đại khối nhân dân ta và nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mã về những tội ác cực kỳ dã man và vô cùng thâm độc của giáo hội trong gần hai ngàn năm qua. Họ ăn gian lịch sử để khỏa lấp tội ác của giới chăn chiên và cừu non người Việt làm tay sai bán nước cho giặc ngoại xâm từ giữa thế kỳ 19 cho đến ngày nay, đồng thời lại chụp cái mũ “chia rẽ tôn giáo” cho những tác giả viết bài nói lên những rặng túi tội ác kể trên, rồi chuyển sang đề tài khác để đánh lạc hướng người đọc, đánh trống lảng bằng cách hô hào chú tâm vào việc "chống Cộng", làm cho người ta không để ý đến đề tài mà chúng tôi trình bày.

Một trong những bài viết chụp mũ tiêu biểu đúng theo thủ đoạn “tung hỏa mù” này có thể kể đến bài “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử” của con chiên họ Chu mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây.

***

VỀ BÀI VIẾT HIỆN TƯỢNG CHIA RẼ TÔN GIÁO

TRÊN DIỄN ĐÀN ĐIỆN TỬ

Trong bài viết Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử” (xem phụ lục ở dưới), tác giả cừu non họ Chu VU KHỐNG cho tất cả các tác giả có tác phẩm hay bài viết nói lên sự thật về những khu rừng tội ác của Giáo Hội La Mã là “chia rẽ tôn giáo”. Thâm ý của tác giả con chiên họ Chu muốn nói với thiên hạ rằng đạo Ki-tô của ông ta chủ trương hòa đồng và đoàn kết tôn giáo, để lấp liếm những chính sách bất khoan dung bằng bạo lực đối với các tôn giáo và nền văn hóa khác. Sự thực, đây không phải là thủ đoạn hay sáng kiến của ông văn nô cừu non này, mà là một trong những thủ đoạn nằm trong chính sách tuyên truyền và lừa bịp thiên hạ của Tòa Thánh Vatican trong giai đoạn cần chiêu dụ nhiều thế lực để đoạt mục đích chính trị. Cũng vì thế mà từ khoảng đầu thập niên 1980 cho đến ngay nay, qua các cơ quan truyền thông bằng tiếng Việt do các ông bà “cừu non” người Việt ở hải ngoại kiểm soát, thường kêu gọi liên tôn để "tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và tự do dân chủ" cho nhân dân Việt Nam.

Rõ ràng là việc chụp mũ “chia rẽ tôn giáo” lên đầu những tác giả có tác phẩm nói lên những sự thật về những hành động tội ác của Giáo Hội La Mã là một thủ đọan “nhất thạch nhị điểu” (một hòn đá bắn hai con chim – hai chiêu thức phục vụ cho công việc) mà giáo hội hay Tòa Thánh Vatican đã sử dụng nếu không phải từ khi Hội Nghị Nicaea khởi nhóm vào ngày 20/5/325 thì cũng từ khi các Tòa Án Di Giáo (Inquisitions) được chính thức thiết lập vào năm 1232.

a.- Mục tiêu thứ nhất của việc chụp mũ "chia rẽ tôn giáo" này là làm cho độc giả không còn chú ý đến những vụ giáo dân nạn nhân ở các nước như Hoa Kỳ, Ba Tây, Ái Nhĩ Lan, Bỉ, Đức, Hòa Lan, Malta, v.v…đang rầm rộ lên tiếng tố cáo trước công luận: (1) hàng ngàn linh mục can tội đã hiếp dâm họ khi họ còn là trẻ em vị thành niên ở trong các viện mồ côi, trong các trường học trường nội trú, và ngay các trẻ em câm điếc cũng không bị các ngài buông tha, (2) rất nhiều giám mục can tội đồng lõa và bao che cho linh mục tội đồ hiếp dâm này, (3) ngay cả đương kim Giáo Hoàng Benedict XVI (khi còn là Giám-mục Ratzinger ở Munich, Đức cũng can tội đồng lõa và bao che cho các linh mục tội đồ hiếp dâm ở trong giáo phận của ông, ghê gớm hơn nữa là khi được thăng chức hồng Y nắm giữ chức Tổng Trưởng Thánh Bộ Đức Tin tại giáo triều Vatican, ông lại còn ban chỉ thị cho các giám mục tại các địa phương phải giữ bí mật những hồ sơ về những hành động hiếp dâm của các linh mục tội đồ, (4) có hai người Anh đang nhờ luật sự nghiên cứu và lập thủ tục truy tố ông ta ra trước tòa án quốc tế về tội chủ mưu bao che cho các linh mục hiếp dâm các trẻ em, và (6) một tổ chức ở Mỹ cũng đã và đang đòi phải truy tố ông (Giáo Hoàng Benedict XVI) về tội ác ghê tởm trên đây. Rất nhiều bài viết nói về vấn đề này có thể đọc online trên sachhiem.net.

Những bài viết đăng trong giaodiemonline.com và sachhiem.net thật ra chỉ nói về một số nhỏ những vụ án đã công khai đem ra trước công lý. Còn những linh mục đã và đang hành sự hiếp dâm nhưng chưa bị nạn nhân tố cáo trước công luận không có nghĩa là các ngài trong sạch. Tư cách và những hành động tội ác của các ngài cũng đã được chính những người trong giáo hội, cùng mặc áo chùng đen như các ngài hoặc vài con chiên phơi bày trong số những tác phẩm. Tiêu biểu là hai tờ Tận Thế Số Ra Mắt (ra ngày 15/6/2002 và tờ Tận Thế Số 2 (ra ngày 15/7/2002 do Linh Mục Nguyễn Thanh Sơn (P.O Box 8394, Fountain Valley, CA 92728) chủ biên và phát hành. Tuy còn một số tội ác về tình dục của các linh mục chưa bị phanh phui ra trước công luận, nhưng đối với tòa án lương tâm, các ngài vẫn là tên tội đồ hiếp dâm hay là dâm tặc quạ đen.

b.- Mục tiêu thứ hai là làm cho độc giả lầm tưởng rằng những người viết sử chân chính hay có những tác phẩm nói lên sự thật ghê tởm của giáo hội là những người có ác tâm chia rẽ tôn giáo, trong khi đó, thì chính Giáo Hội La Mã mới là thủ phạm vốn đã có chủ chương chia rẽ tôn giáo và các sách lược để thực thi cái chủ trương dã man và phản tiến hóa này từ những năm thập niên đầu thời Trung Cổ. Ở đây chúng tôi xin miễn nói đến cái kế họach và các sách lược này mà ghi lại một bản văn sử lên án Vatican về tội ác chủ trương chia rẽ giữa con người với con người trong cùng một quốc gia và trong cùng một cộng đồng dân tộc:

“Trọng tội của Giáo Hội không phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.” [34]

Thế nhưng, có một điều cực kỳ phi lý và hết sức khôi hài là trong suốt chiều dài lịch sử cũng như qua kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, Giáo Hội La Mã hay các nhà thờ của giáo hội và tín đồ Ca-tô người Việt chưa hề bao giờ tôn trọng quyền tự do tôn giáo của những người thuộc các tôn giáo khác.

Đây: Những phương cách chia rẻ tôn giáo

Giáo hội có một chính sách hẳn hòi là dùng thủ đoạn bắt cóc hạnh phúc lứa đôi của cặp trai gái thương yêu nhau giữa một bên là tín đồ của Giáo Hội La Mã và một bên là người thuộc một tôn giáo khác. Khi một người ở ngoài đạo Ki-tô muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của tôn giáo này, thì người đó bị đòi hòi phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải theo học một lớp giáo lý Ki-tô, phải đến nhà thờ để làm lễ rửa tội theo đạo rồi mới được tiến hành làm lễ thành hôn. Đây là chủ trương và cũng là chính sách từ ngàn xưa của Giáo Hội La Mã.

Rõ ràng là việc tình yêu và hôn nhân của lứa đôi trai gái đã bị Giáo Hội La Mã lợi dụng biến thành một món hàng chào khách để mở rộng ảnh hưởng của “nhà thờ” (Nhà Chúa) giống như những mụ Tú Bà dùng một các cô gái trẻ đẹp để chào khách phục vụ cho việc mở mang kỹ nghệ “nhà thổ” (nhà chứa) của họ. Phương cách mà giáo hội “chào khách” cho “Nhà Chúa” là cố gắng cấy vào đầu óc tín đồ phải đặt điều kiện cho người hôn thê hay hôn phu của chính họ hay của con cháu họ “phải từ bỏ tôn giáo gốc của gia đình để làm lễ rửa tội theo đạo Ca-tô của họ; nếu không bằng lòng thì họ sẽ từ hôn.”

Sự kiện này cũng cho chúng ta thấy rõ là đối với những tín đồ Ca-tô ngoan đạo, tình yêu lứa đôi phải nhường bước trước tình yêu Thiên Chúa hay tình yêu đối với giáo hội. Chính sách này quả thật là vô cùng thâm độc và hết sức dã man vì nó vừa làm mất đi cái nhân tính hồn nhiên cao quý nhất của con người là coi trọng và trân quý tình yêu lứa đôi trai gái, vừa gây ra không biết bao nhiêu thảm trạng tình yêu lứa đôi bị tan vỡ và đã có rất nhiều nạn nhân đành phải liều mình quyên sinh (nếu đương sự con có cái nhân tính trân quý tình yêu lứa đôi trai gái). Cũng vì thế mà bà Bà Ngọc Tuyết Tiên đã phải nghẹn ngào nói ra trong buổi Hội Thảo Liên Tôn Việt Mỹ được tổ chức tại San José, California vào ngày 15/10/1994. Bà nói:

Tôi rất đau buồn suốt mấy chục năm qua khi thấy những mối tình duyên bất thành giữa nhiều đôi trẻ, phần lớn do cha mẹ Thiên Chúa Giáo quá khắt khe buộc dâu, rể theo các đạo khác phải đi nhà thờ rửa tội, xưng tội; đã có nhiều trường hợp đôi bạn trẻ phải ly di hoặc quyền sinh.” [35]

Tôn giáo mà lợi dụng vào tình yêu lứa đôi trai gái hay hôn nhân của tín đồ để cưỡng bách người ta phải theo đạo để làm nô lệ cho đạo thì có khác gì các mụ tú bà lợi dụng con gái đẹp làm món hàng chiêu khách để lùa những con mồi vào cái ổ điếm của chúng để móc túi nạn nhân. Tình trạng này cho chúng ta thấy rõ có sự giống nhau giữa nhà thờ và nhà thổ về những thủ đoan hay mánh mung khai thác nhu cầu sinh lý hay tình yêu lứa đôi hoặc hôn nhân để mở mang xí nghiệp kinh doanh. Quả thật là trong lịch sử loài người, chưa có cái tôn giáo nào lại đê tiện, bỉ ổ và khốn nạn như cái “tôn giáo ác ôn” này!

Một bằng chứng khác nữa là chuyện mới xẩy ra vào tháng 8 năm 2001, Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005) không những đã cưỡng bách Giám-mục Emmanuel Milingo 71 tuổi, nguyên gốc là người nước Zambia (Châu Phi) phải bỏ rơi bà vợ mới cưới thân yêu là Maria Sung 43 tuổi, một y sĩ người Nam Hàn, mà còn đòi ông giám mục này phải cắt đứt mối liện hệ với giáo phái Ki-tô Tin Lành của mục sư Moon. Sự kiện này được tờ The News Tribune (Tacoma) ra ngày 12/8/2005 loan tin như sau:

Tòa Thánh Vatican đe dọa sẽ phạt vạ tuyệt thông ông Milingo nếu ông không bỏ rơi người vợ cúa ông vào ngày 20/8; ra lệnh cho ông phải cắt đứt mối liện hệ với giáo phái của mục sư Moon, phải công khai hứa sống đời độc thân, “phải biểu lộ lòng tuân phục đối với Giáo Hòang.” [36]

Tất cả những tội ác chia rẽ tôn giáo của Giáo Hội La Mã đều được sách sử ghi lại đầy đủ. Sách Vatican Thú Tội và Nhận Lỗi ghi lại như sau:

Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng! v.v…” [37]

Những điều trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ là chủ trương của Giáo Hội La Mã phải luôn luôn triệt để thi hành chính sách bất khoan dung đối với các tôn giáo hay nền văn hóa khác bằng bạo lực và bằng bất cứ phương tiện nào khác. Lịch sử cho thấy rõ giáo hội không những chia rẽ và khinh miệt các tôn giáo khác, mà còn có chủ trương“diệt tận gốc, trốc tận rễ” tất cả các di sản văn hóa và các công trình kiến trúc văn minh của họ một cách cực kỳ dã man. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày đầy đủ trong Chương 8 (Mục III, Phần II) sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

Tội ác chia rẽ tôn giáo và bách hại các tôn giáo khác của Giáo Hội La Mã rõ rệt rành rành như vậy. Ấy thế mà bộ máy tuyên truyền của giáo triều Vatican, đặc biệt nhất là giới chăn chiên và văn nô cừu non người Việt lại luôn luôn lớn giọng bô bô tuyên bố rằng họ tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo của người Việt Nam ở Việt Nam!  Đúng là “vừa ăn cướp vừa la làng”! Thử hỏi, trong lịch sử loài người, có tôn giáo nào vô liêm sỉ và khốn nạn như Giáo Hội La Mã không?

"Nhất sự bất tín, vạn sự bất tín." Hành động vu khống nói láo cực kỳ trơ trẽn trên đây của họ đã khiến cho người viết sinh nghi ngờ rồi sưu tầm những tài liệu về những việc làm trong quá khứ của Giáo Hội La Mã để tìm hiểu cái đặc tính nói láo này đã được Vatican ươm trồng như thế nào trong đạo Ki-tô và tình trạng sinh sôi nẩy nở của nó trong xã hội cừu non người Việt ra làm sao. Kết quả cho thấy rằng, tài nghệ cũng như mức độ và thủ đoạn lưu manh, lươn lẹo, nói láo, ăn không nói có của giới chăn chiên và cừu non người Việt quả thật là siêu việt hơn cả các nhà lãnh đạo chóp bu của Giáo Hội La Mã. Đúng là con hơn cha, nhà có phúc. Câu nói để đời “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm” của một linh mục người Việt đã được Giáo-sư “cừu non” Nguyễn Văn Trung kể lại trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” đăng nơi các trang 115-125 trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa Tuyển Tập 2 (Spring, TX: TXB, 1998) của Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo đã nói lên sự thật ô nhục và vô liêm sỉ này.

Dù rằng giáo dân cuồng tín người Việt dùng đủ cả trăm phương ngàn kế để lấp liếm nhửng rặng núi tội ác của Giáo Hội chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và chống lại dân tộc Việt Nam ít nhất từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay, thì đạo Kitô vẫn là cái “ tôn giáo ác ôn”, “đạo bịp”, “đạo máu”, Giáo Hội La Mã là cái “giáo hội khốn nạn”, và các con chiên ngoan đạo người Việt cũng vẫn là những quân phản quốc “đã rước đàn voi Vatican, voi Pháp và voi Mỹ về giày mả tổ Việt Nam.”

Một trong những tội ác của giới chăn chiên và cừu non người Việt là đã cúi đầu tuân lệnh Giáo Hội La Mã trong việc tịch thu và cấm lưu hành bộ sách lịch sử thế giới do hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang biên soạn. Bộ sách lịch sử này được phát hành vào đầu niên học 1955-1956, nhưng bị chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành vào mùa thu năm 1955 ("Sau một linh mục ở Trung yêu cầu Bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ đó vì trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài Giáo hoàng"). Không những thế, tác giả Nguyễn Hiên Lê còn bị sỉ vả là “đầu óc đầy rác ruởi chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người”, rồi mật vụ của chính quyền được phái đến tận nơi cư trú của tác giả Nguyễn Hiến Lê để rình rập dò xét.[39]

Sở dĩ bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, “giữ đạo, chứ không giữ nước” là vì hầu hết bản thân của chúng đều mang dòng máu (di truyền) của hạng người đê tiện hoặc là “đi đạo lấy gạo mà ăn” (tham lợi), hoặc là “theo đạo đạo để tạo danh đời” (háo danh và thèm khát quyền lực.) Lịch sử cũng như trong cuộc sống hàng ngày cho thấy rằng những người mang dòng máu ghê tởm như vậy đều có thể làm những chuyện đại nghich bất đạo, trời không dung đất không tha. Vấn đề này đã được người viết trình bày đầy đủ và khá rõ ràng trong Chương 6 và Chương 12 (sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam).

Lôi kéo Phật Giáo vào cuộc

Ngoài việc sử dụng thủ đoạn lưu manh tránh né không dám nhìn nhận sự thật về mối ác cảm của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới đối với đạo Ki-tô càng ngày càng mãnh liệt ở nhiều nơi trên thế giới, ông văn nô cừu non họ Chu còn sử dụng một thủ đoạn lưu manh khác nữa là lôi kéo Phật Giáo vào cuộc, với thâm ý là làm cho thiên hạ lầm tưởng rằng “Phật Giáo cũng bị nhân dân thế giới thù ghét như đạo Ki-tô”. (Lưu manh chẳng một mình tôi/Ở ngay đâu đó có đôi ba người). Thế nhưng, ông ta chỉ nêu lên danh tính của một vài nhà sư đã bị chính các con chiên người Việt và bọn lưu manh xu thời đồng minh với chúng chửi bới, rủa xả và hạ nhục, rồi bây giờ ông ta lại quay ra đổ lỗi cho người khác. Trong toàn bộ bài viêt “Hiện Tượng Chia Rẽ Tôn Giáo Trên Diễn Đàn Điện Tử”, ông ta không đưa ra được bằng cớ nào để chứng minh rằng thực sự là nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới có mối ác cảm đối với đạo Phật và cũng không chứng minh được rằng đạo Phật đã có những hành động tôi ác nào như Giáo Hội La Mã từ đã làm thế kỷ 4 cho đến ngày nay.

Nhưng... Phật Giáo Có Bao Giờ?

Làm những việc như Giáo Hội La Mã đã:

1.- Bịa đặt ra những điều lấn lướt như (a) Giáo Hội La Mã là Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền, (b) giáo hoàng không lầm lẫn, (c) không ai có quyền phán xét giáo hoàng, (d) giáo hoàng có quyền truất ngôi vua của các nước nằm trong quyền kiểm soát của Giáo Hội, (e) giáo hoàng có quyền ra lệnh hay xúi giục nhân dân các quốc gia nổi loạn chống chính quyền nếu chính quyền đó không chịu thần phục Giáo Hội (Điều 27 trong bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" được ban hành vào năm 1075 trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085).

2.- Liên tục theo đuổi chính sách thần quyền chỉ đạo thế quyền và chính sách bất khoan dung đối với các tôn giáo hay nền văn hóa khác bằng bạo lực. Xem Chương 13, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam.

3.- Hủy diệt tất cả những di sản văn hóa và tất cả các công trình kiến trúc văn minh thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác. Vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng trong Chương 8 (Mục III, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

4.- Liên tục theo đuổi chính sách cấu kết với các cường quyền địa phương và các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ để củng cố quyền lực và mở rộng vùng ảnh hưởng. Vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng trong Chương 6 (Mục III, Phần II) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

5.- Phát động các cuộc chiến đem quân đi tàn sát các dân tộc thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác để dễ dàng thi hành chủ trương tiêu hủy diệt tất cả các di sản văn hóa và các công trình kiến trúc văn minh của họ. Vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng trong Chương 4 (Mục II, Phần I) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

6.- Thiết lập các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitons). Các tòa án này có nhiệm vụ truy lùng, bắt giam và xử tử những người nằm dưới quyền kiểm soát của Giáo Hội bị nghi ngờ là không tuyệt đối tin tưởng vào tín lý Ki-tô hay không tuyệt đối trung thành với Giáo Hội. Xem lại Chương 3 ở trên và Chương 4 (Mục II, Phần I) trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

7.- Khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của con người rồi dùng bánh vẽ (lời hứa hão huyền (như: “sẽ được cho lên thiên đường”, “sẽ được ban cho hồng ân Thiên Chúa”, “sẽ được Chúa đền ơn”, “sẽ được ban phép lành”, v.v…) hay những lợi lộc vật chất, danh vọng, chức vụ và địa vị ở trong chính quyền cũng như ở trong đạo và ở ngoài xã hội để làm miếng mồi câu nhử những phường tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lợi chạy theo bắt mồi rồi theo đạo để làm tay sai cho nhà thờ.

8.- Kêu gọi tín đồ hãy hăng hái tiếp tay quân thù ngoại nhâp (liên kết với Vatican) chống lại tổ quốc và dân tộc để củng cố và mở rộng quyền lực cho Giáo Hội La Mã. Lời kêu gọi này được ngụy trang là “Đứng lên bảo vệ đức tin và bảo vệ nhà thờ.”[40]

9.- Phóng tay cướp đọat ruộng đất cùng nhiều tài nguyên khác của đất nước, bóc lột nhân dân dưới quyền một cách tận tình và hết sức tinh vi để tích lũy cho đầy túi tham. Vấn đề này đã được trình bày khá đầy đủ trong Chương 13, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam. Chương sách này có thể đọc online trên sáchhiem.net.

10.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để biến tín đồ và nhân dân dưới quyền thành những người vừa dốt nát, vừa ngu xuẩn: Dốt nát vì chính sách này không cho học sinh học (a) tòan bộ các bài học lịch sử thế giới, (b) tòan bộ quốc sử, và (c) lịch sử Giáo Hội La Mã, mà chỉ cho học sinh học một số bài đã được kiểm soát chặt chẽ để cho học sinh không biết gì về những bước tiến của nhân loại từ thời hồng hoang cho đến ngày nay và không biết gì những rặng núi tội ác do Giáo Hội gây nên trong gần hai ngàn năm qua. Ngu xuẩn vì trong các môn sử hay khoa học xã hội, không cho sử dụng phương pháp đối thọai, không tập cho học sinh nêu lên thắc mắc để cho cả lớp cùng thảo luận cùng góp ý, mà bắt học sinh phải học thuộc lòng những bài học đã soạn sẵn và học sinh không được thắc mắc gì cả. Cái lối dạy học như vậy làm cho các tế bào lý trí trong não bộ của học sinh bị thui chột, khiến cho các em không còn khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật, tức là không còn khả năng tìm hiểu để biết được những thủ đoạn phỉnh gạt lừa bịp và tính cách gian tham độc ác trong những tín lý Kitô, trong giáo luật và trong những lời dạy của giáo hội hay Tòa Thánh Vatican. Theo Giáo-sư Lý Chánh Trung, chính sách ngu dân này được giáo hội gọi là “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo”:

Giáo Hội cần có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.”[41]

11.- Biến thành thiếu niên thành loại người vong bản, phản dân tộc và phản quốc.

Bằng chứng rõ ràng nhất cho những điều nêu lên ở trên là những lời dạy công khai hay ngấm ngầm của những người truyền giáo và nhà thờ là:

“Niềm tin tôn giáo không cần đến lý trí. Phúc cho ai không thấy mà tin. Vâng lời quý hơn của lễ.

Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải thì có thể bê cả trái núi quăng xuống biển.

Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican. Phải triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên.

Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa. Nếu các Cha có làm gì sai trái, thì đã có Chúa phán xét. Là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha. Bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu các Cha, tức là bàn tán, nói hành nói tỏi hay nói xấu Chúa và sẽ bị Chúa trừng phạt đày xuống gỏa ngục đời đời.

Chỉ công nhận quyền lực của Tòa Thánh Vatican, chỉ công nhận các chính quyền Liên Minh với Tòa Thánh Vatican và các chính quyền bù nhìn làm tay sai cho Vatican hay các thế lực liên minh với Vatican.

Phải giữ đạo, chứ không giữ nước. Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.“

“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.” [42]

“Đừng thừa nhận chính quyền nào không chịu thần phục Tòa Thánh Vatican. Giáo hoàng ở trong Tòa Thánh Vatican mới là vị vua tối cao nhất của họ. Chỉ phải tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican mà thôi.” [43]

Không những không thế, mà trái lại

Những điều nêu lên trên đây cho chúng ta thấy rằng những lời dạy của Giáo Hội La Mã quả thật là lưu manh, thâm độc và dã man, tất cả đều hoàn toàn trái ngược với tính cách vô tư vô vị lợi trong những lời dạy của nhà Phật. Những lời dạy của nhà Phật có mục đích giúp cho học viên vận dụng lý trí để tìm hiểu sự vật. Dưới đây là một số trong những lời dạy vô tư này của nhà Phật:

“1.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

2.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

3.- Chớ vội tin vào điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

4.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay trong sách vở.

5.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

6.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình

7.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

8.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với định kiến của mình.

9.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

10.- Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình truyền thuyết.”[44]

So sánh những lời dạy tín đồ của Giáo Hội La Mã với những lời dạy Phật giáo đồ của nhà Phật, chúng ta mới thấy rõ bộ mặt thật lưu manh, thâm độc và dã man của đạo Ki-tô la Mã.

Quái thư

Giáo hội sử dụng cuốn “quái thư” (mà họ gọi là thánh kinh) gồm toàn những chuyện hoang đường, loạn luân, loạn dâm, phi luân, phi nhân, tàn ngược, gian tham, nặng lòng ganh ghét, đô kị, tị để “làm cẩm nang” chỉ đạo và sử dụng những lời day dỗ tín đồ đầy tính chất lưu manh (như nói ở trên) để rèn luyện tín đồ và để biến thành nếp sống văn hóa trong xã hội Ki-tô. Vì nếp sống văn hóa khốn nạn như vậy, cho nên họ (tu sĩ và tín đồ Ca-tô mới mất hết cái tính thiện bẩm sinh của con người và mất hết nhân tính. Vì thế mà họ công khai nói ra những lời phản quốc như “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, phi luân như “Nếu bố tôi là dị giáo, tôi sẽ chụm củi thiếu sống ông ta luôn” (Lời tuyên bố của Giáo Hoàng Paul IV (1555-1559).[45]

Nguyên nhân khiến cho họ trở thành những hạng người phản quốc, bất hiếu, phi luân và phi nhân như vậy là vị họ coi thánh kinh là “cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người” như ông văn nô con chiên Nguyễn Văn Chức đã viết ra thành văn bản công khai bổ biết cho bàn dân thiên hạ đều biết với nguyên văn như sau:

Riêng về phía Thiên Chúa Giáo, quyển Kinh Thánh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam.” [46]

Thánh kinh dạy họ như thế nào?

Sách Matthew (Tân Ước) ghi lại lời phán của Chúa Jesus với nguyên văn như sau:

34.-Một Nguyên Nhân Chia rẽ. (A Cause of Division)- Chớ tưởng rằng ta đến đây để đem sư bình an cho thế gian; ta đến đây không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo.(Do not think that I have come to bring peace upon the earth. I have come to bring not peace but the sword.) 35.- Ta đến đây để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng;(For I have to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter–in- law against her mother-in-law). 36.- và sẽ có kẻ thù nghịch là chính những người trong nhà mình (and one’s enemies will be those of his householdd 37.- Điều kiện là môn đệ (Condition of Discipleship): Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta, ai yêu con trai hay con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta. (Whoever loves father or mother more than me is not worthy of me, and whoever loves son and daughter more than me is not worthy of me.” (10: 34-37).

Không ai có thể phủ nhận được lời phán dạy trên đây của ông Jesus là những lời dạy phi luân, bất nhân, bất hiếu và bất nghĩa. Thiết tưởng rằng chỉ có những hạng người súc sinh mới sống theo cái lời dạy quái đản này. Ấy thế mà ông con chiên trí thức Nguyễn Văn Chức, cựu luật sư, cựu thượng nghị sĩ trong chính quyền miền Nam Việt Nam, lại cho là “cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam.”

Vì coi là “cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người”, cho nên giới tu sĩ và con chiên người Việt mới hợm hĩnh tự phong là người công giáo Việt Nam, mới phát ngôn rằng “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và hành động phản quốc như họ đã hành động trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 (khi Nguyễn Phúc Ánh kết thân với Giám-mục Bá Đa Lộc) cho đến ngày 30/4/1975 và cho đến ngày nay họ vẫn còn tiếp tục hành động như vậy ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Ở trong nước, họ xúi gịuc giáo dân mang theo kìm búa và xà beng đến tu tập bất hợp pháp tại những nơi bất hợp để gây bạo lọan (mà họ gọi là “hiệp thông cầu nguyện”) bằng cách dựng tượng bà già xề nạ dòng Maria (đã có 7 hay 8 người con mà họ gọi là Đức Mẹ Đồng Trinh) và thập giá bừa bãi ở những nơi mà họ định chiếm đọat cho nước Chúa Vatican của họ. Chuyện này đã xảy ra liên tục khởi đầu từ (1) vụ Linh-mục Nguyễn Văn Lý cầm đầu đám con chiên trong họ đạo Nguyệt Biều gây bạo lọan vào năm 2001, rồi các vụ khác tiếp theo như các vụ (2) vụ tại 42 Phố Nhà Chung Hà Nội (từ ngày 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2009), (3) vụ tại 178 Đường Nguyễn Lương Bằng (từ ngày 18/8/2008 đến ngày30/8/2008), (4) vụ An Bằng, Huế (từ đầu năm 2008 cho đến tháng 1/2009), (5) Vụ Nhà Thờ Tam Tòa, Hà Tĩnh (từ ngày 22/7/2009 kéo dài trong nhiều ngày), (6) Vụ Loan Lý, thuộc giáo phận Huế (14/9/2009 kéo dài trong nhiều ngày), (7) Vụ Đồng Chiêm, thuộc giáo phận Hà Nôi (từ ngày 6/1/2010 kéo dài trong nhiều ngày), (8) vụ Cồn Dầu , Đà Nẵng (xẩy ra từ đầu tháng 5/5/2010). Trong tương lai, không biết sẽ còn xẩy ra ở đâu nữa.

Ở hải ngoại, họ tìm đủ mọi cơ hội để đánh phá chính quyền và dân tộc ta bằng nhiều cách. Điển hình nhất là những hành động lạy lục van xin quốc hội và chính quyền Hoa Kỳ đưa nước Việt Nam vào trong danh sách các quốc gia cần phải được quan tâm (CPC).

Sở dĩ họ có những hành động ngược ngạo, phản quốc, phi luân và phi nhân như vậy là vì họ đã bị chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã làm cho mất hết nhân tính. Mất hết nhân tính có nghĩa là đã trở thành loài súc sinh, đúng như nhà báo Long Ân đã nhận xét mà chúng tôi đã nói trong Chương 9 ở trên.[47]

Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho mối ác cảm của nhân dân thế giới đối với đạo Ki-tô ngày càng trở nên mãnh liệt hơn.

Cũng nên biết là từ nhiều năm nay, qua bọn văn nô cừu non người Việt, Vatican luôn luôn đòi chính quyền Việt Nam cho họ được (1) mở trường học (để cho họ thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ với dã tâm biến thanh thiếu niên thành hạng người mất hết nhân tính như trên), (2) chiếm lại những bất động sản mà Vatican đã cướp đoạt của dân ta trong thời Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican 1862-1954 và trong thời Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican 1954-1975, và (3) độc quyền bổ nhậm giám mục và linh mục ở Việt Nam.

Tu sĩ ngất ngưởng: tôn giáo ngất ngưởng - coi chừng té

Trở lại chuyện ông văn nô cừu non họ Chu lôi kéo mấy ông sư vào trong bài viết của ông ta, thực ra, hiện nay, ở hải ngoại cũng như ở trong nước, cũng có “mấy ông sư không ra sư.” Những ông sư này đã hủ hóa, cũng đua đòi muốn bắt chước các giáo hoàng và các ông tu sĩ của Giáo Hội Lã Mã theo đuổi những lợi lộc, danh vọng và quyền lực để thỏa mãn những dục vọng bất chính hay lòng tham không đáy của người đời ô trọc. Vì thế mà họ cũng có tâm địa bất chính lưu manh như bọn quạ đen trong đạo Ki-tô, cũng tính đường mặc long bào, thích đội mũ ba tầng, tay cầm gậy trượng giống như một hoàng đế, đi đến đâu cũng võng lọng nghênh ngang, ngồi ngất ngưởng trên kiệu cả mười mấy người khênh. Thú thật, cái hình ảnh này của mấy giáo hoàng của đạo Kitô đã làm cho người viết lợm giọng. Học giả dân Chúa Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

Hàng trăm giáo hoàng mặc long bào hoàng đế, đội vương miện ba tầng, cầm gậy vàng, ngồi kiệu 16 người khiêng, lọng hoa tán tía rợp trời, đi giữa rừng gươm giáo sáng ngời, giữa rừng mâu thuẫn lóa mắt. Leo lên tột đỉnh vua trên hết các vua, chúa trên hết các chúa là Thánh Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085). Ông ban hành Tuyên Cáo “Dictatus papae” gồm 27 điều có hiệu lực như luật: “… Chỉ một mình giáo hoàng được dùng huy hiệu hoàng đế. Chỉ một mình giáo hoàng mới được đưa bàn chân cho các vương tử cúi xuống ôm hôn. Chiếu theo luật, chỉ một mình giáo hoàng mới có năng quyền truất ngôi hoàng đế (hiểu là ngôi vua hay các chính quyền không chịu khuất phục Vatican). Chiếu theo luật, chỉ một mình giáo hoàng mới có năng quyền thuyên chuyển các giám mục. Truyền rằng không có một Synod (hội nghị) nào gọi là CHUNG nếu không có giáo hoàng chủ trì. Truyền rằng giáo hoàng không hề bị xét xử bất cứ ai. Các Giáo Hoàng đắc cử sau một cuộc bầu cử đúng luật đều là thánh…” Giáo Hoàng Boniface VIII (1294-1303) bày mưu thần kế quỷ để cướp ngôi, Giáo Hoàng Celestine V (1294) phải từ nhiệm nhường ngôi cho con người đầy tham vọng thế tục này. Boniface VIII (1294-1303) là một trong những giáo hoàng củng cố quyền lực tinh thần và thế tục mạnh bạo nhất. Ông ban hành hắc lệnh “Unam Sanctam” (Giáo Hội duy nhất thánh thiện) phán rằng: “Về tính duy nhất và độc nhất này, Giáo Hội chỉ có một thân thể và một đầu – không có hai đầu như quái vật – là Đức Kitô, đại diện của Đức Kitô là Phêrô, và các đấng kế vị Phêrô … Truyền rằng trong Giáo Hội này và trong quyền lực của Giáo Hộ có hai thanh gươm, một cho giáo quyền và một cho thế quyền. Ông ta mặc áo long bào và phán rằng: ”Ta giống hoàng đế nhiều hơn là giống giáo hoàng “ (as much an emperor as a pope). Tóm lại, có nhiều đoạn lịch sử Giáo Triều Roma na ná như Kinh Xuân Thu của Cụ Khổng, na ná như vài đoạn trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. Còn về nạn quần hồng má đào thao túng quyền lực Giáo Hội trong cung điện giáo hoàng vào cuối thế kỷ IX sang đầu thế kỷ X thì giống y hệt chuyện Đông Châu Liệt Quốc. Trong 16 thế kỷ Giáo Hội Triều Đình, có tất cả 16 giáo hoàng trên ngai vàng bị giết chết, không kể Đức Giáo Hoàng John Paul I (1978) giữa thế kỷ XX này. Trung bình mỗi thế kỷ một Giáo Hoàng mất mạng vì quyền lực của ngai vàng. [48]

Những điều bản văn nói trên đây chỉ là một phần triệu của những việc làm tội ác trời không dung đất không tha của các giáo hoàng và giới tu sĩ trong đạo Kitô. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bầy đầy đủ với rất nhiều chi tiết trong các chương sách từ Chương 4 đến hết Chương 17, Phần II, sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Các chương sách này đều có thể đọc online trên sachhiem.net.

Theo sự hiểu biết của người viết, tôn giáo là biểu tượng cho nhân ái, (tứ hải giai huynh đệ), đại lượng, khoan dung, khiêm cung, hiếu hòa, yêu chuộng hòa bình (dĩ hòa vi quý), phải sống theo lương tâm và theo đạo lý nhân bản “sao cho vừa mắt ta ra mắt người” (kỷ sở bất dục,vật thi ư nhân), phải tách rời khỏi quyền lực và lánh xa nơi cửa quyền, phải không màng tới danh vọng và lợi lộc vật chất.

Với quan niệm về tôn giáo như vậy, cho nên chúng tôi cảm thấy lợm giọng khi biết rằng:

1.- Cung cách hành xử (như đã nói ở trên) của các ông giáo hoàng và của giới tu sĩ Kitô trong đạo Ki-tô La Mã. Bọn người này lúc nào cũng vểnh mặt lên hiện ra cái vẻ câng câng hiêu hiêu tự đắc, tự cho mình là đại diện cho Chúa và là Chúa thứ hai, rồi xưng là cha của tín đồ và hứng chí lên, có nhiều khi các ngài lại xưng cha với cả những người ở ngoài tôn giáo của các ngài. Rõ thật là nỡm! Thật là buồn nôn!

2.- Một nhà sư ở hải ngoại đã có vợ, khi về Vỉêt Nam lại có người đi theo cầm lọng che đầu, trông thật là lợm giọng. Đúng là như nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) đã nói:

Công đức tu hành sư có lọng,

Xu, hào đủng đỉnh mán ngồi xe…

Lợm giọng hơn nữa là nhà sư này lại còn lớn tiếng đòi hỏi chính quyền hiện nay phải đổi tên nước, đổi quốc kỳ và đổi quốc ca của Việt Nam. Đòi như vậy là hủy bỏ và phủ nhận công lao, mô hôi, nước mắt và xương máu của toàn thể nhân dân ta (ngọai trừ nhóm thiểu số “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, “giữ đạo, chứ không giữ nước” và bọn phong kiến phản động) đã hy sinh trong suốt 30 năm trường (1945-1975) trong hai cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican và Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và thống nhất cho đất nước. Hành động ngược ngạo này cũng là phủ nhận luôn cả công lao và sự hy sinh xương máu của hàng triệu người Việt Nam yêu nước trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta từ đầu thập niên 1860 cho đến năm 1945, trong đó có các lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền lãnh đạo của các nhà ái quốc như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Mai Xuân Thường, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Thám, Trần Cao Vân, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Nguyễn Thái Học và biết bao nhiêu nhà ái quốc khác như Phạm Hồng Thái, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can, v. v…

Không biết nhà sư này có biết rằng trong suốt chiều lịch sử từ năm 1945 cho đến ngày nay, nhóm thiểu số “thà mất nước, chứ không thà mất nước”, “giữ đạo, chứ không giữ nước” cũng đã liên tục đòi như vậy không? Nói cho rõ hơn là không biết nhà sư này có biết rằng làm như vậy là ông đã tình nguyện gia nhập vào hàng ngũ của nhóm thiểu số con chiên của Giáo Hội La Mã để chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam như họ đã làm trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến nay không?

Ở miền Nam từ sau ngày 1/11/1963 cho đến ngày 30/4/1975, và từ nhiều năm sau ngày 30/4/1975, ở Việt Nam cũng như ở hài ngoại, có mấy ông sư cũng đua đòi chạy theo danh lợi và quyền lực. Vì thế mà họ mới ở vào tình trạng lợm giọng không khác gì các ông giáo hoàng và giới tu sĩ áo đen, để rồi hủ hóa, mang nặng lòng tham, sân, si, vướng mắc vào mấy căn bệnh ghê tởm như háo danh, háo sắc, đua đòi chạy theo lối sống trưởng giả học làm sang, thích sử dụng loại xe sang trọng đắt tiền như xe “Mercedes” khiến cho đạo hữu phải xa lìa, v.v… Chinh vì thực trạng này mà ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975 mới nẩy sinh ra mấy câu vè: “Nhất đĩ, nhì cha (linh mục), tam sư, tứ tướng”.

Từ đầu thập niên 1990, có một vài nhà sư đã lớn tuổi mà vẫn còn háo danh. Vì háo danh, cho nên các ngài mới băng xăng, năng nổ tham gia vào các tổ chức do mấy tên lưu manh họat đầu chính trị ở hải ngoai cũng như ở trong nước chủ động, để kiếm một tí danh hão. Chẳng han như ở hải ngọai có một tổ chức gọi là “nhóm Thông Luận” do ông trí thức cừu non Nguyễn Gia Kiểng và mấy người đồng đạo của ông ta thành lập ở Pháp trong thập niên 1980, Nhóm “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" (ở hải ngọai) do ông Võ Văn Ái thành lập vào năm 1993, và ở trong nước có Khối 8406 ra đời vào ngày 8 tháng 4 năm 2006, với chủ trương đánh phá chinh quyền hiện tại, và được ngụy trang bằng chiêu bài là tranh đấu cho tự do dân chủ. Khối 8406 là đảng Ki-tô Giáo vì nó là một đảng chính trị do một số tu sĩ Kitô thành lập và hầu hết những thành viên cúa nó là tu sĩ và tín đồ Kitô.

Đảng này nói là tranh đấu cho tự do tôn giáo và tự do dân chủ, nhưng đó chỉ là chiêu bài giống như khẩu hiệu “khai hóa văn minh” của Giáo Hội La Mã khi hệ phái tôn giáo này cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp đem quân sang đánh chiếm nước ta vào hồi giữa thế kỷ 19. Mục đích chính của nó là phục hồi quyền lực của Vatican để cho Giáo Hội La Mã có thể ở hậu trường sân khấu chính trị nắm quyền chỉ đạo chính quyền giống như ở miền Nam Việt Nam trong nhừng năm 1954-1975. Như vậy là bản chất chính trị của Khối 8406 không khác gì Khối MRP (Mouvement Républicain Populaire) ở Pháp của nhóm ông Ca-tô Georges Bidault Maurice Schumann, Pierre-Henri, Andre Coli, Jean Lecanuet, v.v….ra đời vào giữa thập niên 1940, tồn tại cho đến năm 1967 thì giải tán, và giống như Đảng Cần Lao ở miền Nam Việt Nam của anh em ông Ngô Đình Diệm trong những năm 1954-1963.

Dưới đây là danh tính của một số linh mục trong cái “Khối 8406” ma nớp này:

1.- Linh-mục F.X Lê Văn Cao,Thừa Thiên - Huế,

2.- Linh-mục Giuse Hoàng Cẩn, Thừa Thiên - Huế

3.- Linh-mục G. Nguyễn Văn Chánh, Thừa Thiên - Huế,

4.- Linh-mục Nguyễn Hữu Giải, Thừa Thiên – Huế,

5.- Linh-mục Nguyễn Đức Hiếu, Bắc Ninh,

6.- Linh-mục Gk Nguyễn Văn Hùng, Thừa Thiên – Huế,

7.- Linh-mục G..B. Nguyễn Cao Lộc, Thừa Thiên - Huế,

8.- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Bắc Ninh,

9.- Linh-muc Tađêô Nguyễn Văn Lý, Thừa Thiên - Huế,

10.- Linh-mục G.B. Lê Văn Nghỉêm, Thừa Thiên - Huế,

11.- Linh-mục Đa Minh Phan Phước,Thừa Thiên - Huế),

12.- Linh-mục Giuse Cái Hồng Phượng, Thừa Thiên - Huế,

13.- Linh-mục Augustinô Hồ Văn Quý, Thừa Thiên - Huế,

14.- Linh-muc Giuse Trần Văn Quý, Bùi Chu,

15.- Linh-muc Phaolồ Ngô Thanh Sơn,Thừa Thiên - Huế,

16.- Linh-mục Têphanô Chân Tín (Sàigòn),

17.- Mục-sư HTTL Ngô Hoài Nở, Sàigòn

18.- Mục-sư HTTL Nguyễn Hồng Quang, Sàigòn,

19.- Mục-sư HTTL Phạm Ngọc Thạch, Sàigòn,

20.- Cừu non Luật-sư Nguyễn Văn Đài, Hà Nội,

21.- Cừu non Lê Thị Công Nhân, sinh tại Gò Công, trú quan tại Hà Nôi.[49]

Và nhiều cừu non (con chiên) khác.

Một xứ đạo với trên dưới một ngàn tín đồ hay nhiều hơn có khi tới hơn 10 ngàn tín đồ như xứ đạo Dốc Mơ (Long Khánh) trong những năm 1960-1975 mà chỉ có một linh mục chánh xứ là Linh-mục Trần Đình Vận và một hay hai linh-muc phó xứ. Ấy thế mà trong số 118 thành viên đầu tiên của Khối 4806 có tới 16 linh mục và 3 mục sư. Điều này cho chúng ta thấy rõ vai trò hay bàn tay đạo diễn của Giáo Hội La Mã hay đạo Ki-tô trong cái tổ chức chính trị ma nớp này.

Có người (trong giới quạ đen và cừu non người Việt) nói rằng tổ chức chính trị này là của người dân Việt Nam mà ngẫu nhiên họ là tu sĩ và tín đồKi-tô mà thôi. Xin thưa rằng nói như vây là ngụy biện và nói láo. Hầu hết những thành phần then chốt của tổ chức chính trị ma nớp này là linh mục, mà theo Linh-mục Trịnh Văn Phát, thì linh mục chỉ được làm những gì Giáo Hội chỉ định hay cho phép mà thôi. Dưới đây là nguyên văn của lời linh mục Phát viết:

“Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với giáo hội vì tôi là người của giáo hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời tôi không có tự do chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của giáo hội.” [50]

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Từ lời nói trên đây của Linh-mục Phát, chúng ta có thể kết luận rằng Tòa Thánh Vatican đã chủ mưu và âm thầm ra cho thành lập cái gọi là “Khối 8406”. Nếu Vatican không âm thầm ra lệnh cho các linh mục Việt Nam phải làm như vậy thì làm sao các ông linh mục dám tham gia vào cái tổ chức chính trị ma nớp này?

Nhìn vào gốc gác của các thành phần trong nhóm Thông Luận và Khối 8406, chúng ta thấy rằng:

1.- Hầu hết các thành viên của cả hai tổ chức này đều là tu sĩ và con chiên của đạo Ki-tô.

2.- Họ là những người hoặc là ông cha của họ hoặc là chính họ đã từng cấu kết các thế lực xâm lược Vatican, Pháp hay Mỹ.

3.- Họ vẫn là con chiên ngoan đạo (chưa thức tỉnh như Linh-mục Trần Tam Tình, ông Charlie Nguyến, ông Giuse Phạm Hữu Tạo, v.v… ). Vì thế, họ, luôn luôn tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, chỉ biết sống theo quan niệm trật tự “nhất Chúa, nhì cha, thứ ba chính quyền” và cũng đã từng hô những khẩu hiệu quái đản “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”.

Với những thành phần như vậy, một người có kiến thức trung bình không cần phải học lên đến bậc trung học cũng dư biết cái tổ chức này chỉ là công cụ cho Vatican đánh phá chính quyền và nhân dân ta trong mưu đồ phục hồi quyền lực tại Việt Nam mà thôi!

Vì chịu ảnh hưởng bới chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã, họ dốt đặc về lịch sử thế giới và cũng dốt đặc cán mai về lịch sử Giáo Hội La Mã và biết tơ lơ mơ về quốc sử. Đặc biệt là họ không biết gì về điều khỏan “tôn giáo tách rời khỏi chính quyền” mà gần như hầu hết các nước theo chế dộ dân chủ ở Âu Châu8 và Bắc Mỹ đều ghi và hiến pháp của họ. Đặc biệt hơn nữa là họ không biết gì về nguyên tắc các nhà tu hành của bất kỳ tôn giáo nào cũng chỉ có giá trị giới hạn ở trong khuôn viên nơi thờ phương của tôn giáo đó. Nguyên tắc này đã được nhân dân thế giới cương quyết thực hiện và triệt để tuân hành kể từ thời Cách Mạng Pháp 1789. Muốn họat động chính trị, thì họ phải cởi bỏ lớp áo tu hành, sống đời thế tục hòa mình với nhân dân và cùng chìm nổi với nhân dân, cùng đóng thuế, cùng làm nghĩa vụ công dân, cùng sống theo tình tự của dân tộc để cùng khóc cười theo mệnh nước, chứ không phải là sống theo quan niệm “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và chỉ biết triệt để vâng lời và tuân thủ những lời dạy bảo mất dạy trên đây của Tòa Thánh Vatican để phục vụ cho quyền lợi của Giáo Hội La Mã.

Điều đáng buồn là ở bên Phật giáo cũng có một vài nhà sư cũng hăm hở học đòi theo mấy ông quạ đen và giáo dân này để trở thành một thứ phản Phật “sư không ra sư”. Trong số  này, có mấy ông háo sắc, đã phá giới, lẹo tẹo với nữ tín đồ và đã lập gia đình rồi mà vẫn còn ham mặc áo nhà sư, tiếp tục mượn nơi của Phật để kiếm kế sinh nhai và để tạo danh đời, làm ô uế cả chốn thiền môn.

Thực ra, ngọai trừ ông sư hổ mang TCL, mấy ông “sư không ra sư” cũng vẫn còn khá hơn các nhà tu hành áo đen mà dân Pháp gọi là “lũ qụa đen” (les corbeaux noirs). Vì dù sao mấy ông sư phản Phật này cũng còn có một chút liêm sỉ, dám làm thì dám nhận lãnh trách nhiệm với người nữ tín đồ mà họ đã lẹo tẹo. Trong khi đó, thì các ông chăn chiên lại chuyên môn chơi cái trò “ăn lường Đ. quỵt”, sờ mó bậy làm tan nát cả đời hoa các trẻ em rước lễ (vị thành niên) và làm tình bậy bạ với nữ tín đồ một cách bữa bãi, phá nát hạnh phúc gia đình của giáo dân (như trường hợp ông quạ đen Trịnh Thế. H. ở Chicago), bừa bãi đến độ bị phơi bày ra trước công luận (như những các ông quạ đen Đào Q. Ch và Nguyễn Hữu D. ở Houston, Texas, quạ đen Cao Đăng M. ở Portland, Oregon, quạ đen Trần Công Ngh. ở California). Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong các Chương 15. 16 và 17 (Mục VI, Phần II) sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Các chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net.

Điều nguy hiểm cho dân tộc Việt Nam là giới qua đen và cừu non người Việt vốn dĩ là những phường vong bản phản quốc và siêu lưu manh mà lại nhẩy ra lập đảng chính trị và lớn tiếng cao rao rằng tranh đấu cho tự do tôn giáo, cho tự do và cho dân chủ ở Việt Nam.

Ôn cố tri tân, lấy quá khứ mà đóan ra tương lai. Trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thế kỷ 18 cho đến tháng 7 năm 1954, giới người quạ đen và nhóm thiểu số cừu non người Việt đã liên tục cấu kết với Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican. Họ được giặc tin cẩn và ưu đãi cho hưởng rất nhiều đặc quyền đặc lợi để có thể làm tay sai đắc lực cho chúng. Rồi trong những năm 1954-1975, họ lại được Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican cho nhẩy lên bàn độc làm mưa làm gió, hét ra lửa mửa ra khói ở miền Nam Việt Nam. Lấy cái quá khứ ô nhục đã từng “rước đàn voi Vatican, đàn voi Pháp và đàn voi Mỹ về giày mà tổ Việt Nam” của nhóm người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” này, chúng ta đã có thể nhìn ra cái dã tâm của chúng trong những việc chúng đang làm hiện nay.

 

[33] Sàigòn Nhỏ số 170, ra ngày 17/3/2000.

[34] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 246.

[35] Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa – Tuyển Tập I (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1994), tr. 223.

[36] Nicole Winfield “Archbishop’s wife pleads with Vatican.” The News Tribune [Tacoma, WA] August 12, 2001: A5.

(Vatican had threatened to excommunicate Milingo if he didn’t leave his wife by August 20, sever his ties with Moon’s movement, publicly promise to remain celibate and “manifest his obedience to the Supreme Pontiff.)

[37] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.

[39] Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Westminster, CA: Văn Nghê, 1986), tr. 99-101.

[40] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr.54.

[41]Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1973), tr 66.

[42] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr 320.

[43] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp, 1995), tr. 17.

[44] Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hàng Ngày (New Delhi, Ấn Độ: Đạo Phật Ngày Nay, 2002), tr. 98-99.

[45] Phan Đình Diệm. “Tuyên Cáo 6 – Ngày 15/6/1999

[46] Chu Văn Trình, Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình Của Giáo Chủ John Paul II (Mt Dora, Florida: TXM, 1994), tr. 10. Lời tuyên bố trên đây trích ra từ bài viết (thuyết trình) của ông Nguyễn Văn Chức có tựa đề là “Nhiệm Vụ Người Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại Đối Với Giáo Hội và Quê Hương”. Bài thuyết trình này được tác giả Nguyễn Văn Chức đọc tại Denver ngày 13/8/1993 và được đăng trong Tạp Chí Ngày Nay (phát hành tại Wichita, Kansas, số 114, tháng 8/1883, trang 17.

[47] Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1975 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.

[48] Phan Đình Diệm. “ Kiến Nghị 5 Về Đông.”, trang 5. Nguồn: tanvien@kitohoc.com Tháng 6/1998.

[49] Danh sách 118 Chiến Sĩ Hòa Bình ghi danh đầu tiên của Khối 8406. Nguồn: http://cacvankiencoban.blogspot.com/2008/03/danhsach118nguoighidangdautienkhoi8406.html.

[50] Trịnh Văn Phát. “Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi.” Liên Lạc Số 2- (Nhóm Úc Châu thực hiện), tháng 7/1995: tr.72.

 

 


Phụ Lục:

http://nguoithathoc1959.multiply.com/journal/item/11111/dcvheaderbanners.swf

HIỆN TƯỢNG CHIA RẼ TÔN GIÁO TRÊN DIỄN ĐÀN ĐIỆN TỬ

- Chu Tất Tiến.

Từ khoảng 2 năm nay, trên diễn đàn thư điện tử bỗng nhiên xuất hiện nhiều bài viết tấn công Phật Giáo và Công Giáo một cách có hệ thống. Với Phật Giáo, có những bài chê trách, chụp mũ, và mạ lị Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, cho Ngài là tay sai Cộng Sản, vì Ngài đã từng là tăng sĩ thuộc phe Ấn Quang. Đại diện cho phe tấn công này là Việt Thường, một người Cộng Sản thứ thiệt ở Luân Đôn. Cùng với những bài viết của Việt Thường, có nhiều bài của một số tác giả khác tấn công ông Võ Văn Ái và chùa Điều Ngự không thương tiếc. Ngược lại, cũng có một số người phê phán thậm tệ các Hòa Thượng Thích Chơn Thành, Thích Nguyên Trí ở Nam California, và các Thầy Thích Minh Tâm ở Pháp, Thầy Thích Như Điển ở Đức và cũng cho những vị này là tay sai Cộng Sản, phá hoại Giáo Hội. Người tích cực nhất trong “chương trình mạ lị này là Nha Sĩ Đàm Bảo Kiếm. Bà đã từng biểu tình mọi nơi, mọi lúc có bóng dáng các vị tu sĩ trên và rủa các vị này là “các thằng trọc già” và hô to: “đả đảo tay sai Cộng Sản!” trước cổng Chùa của quý vị tăng sĩ đang họp .. chống Cộng! (Cũng nhóm lâu la của bà đã từng chỉ tay vào người viết bài này và gào lên: “Đả đảo CTT, tay sai cộng sản vô liêm sỉ!” khi người viết đang tổ chức một buổi hội thảo nói về đề tài “Sự dẫy chết của đảng Cộng Sản Việt Nam”).

Phía Công giáo thì bị tố nặng hơn vì có rất nhiều các bài viết mạ lị từ Vatican đến Chúa Giê Su và Mẹ Maria, bôi lọ các Đấng mà người Công Giáo tôn thờ bằng những danh từ tục tĩu, hạ cấp khủng khiếp. Các tác giả Lelytran, tyvn, hòa bình, tony nguyen, bernard chang, đức thánh ông nội bernard chang, duyen dang trinh, aladin quatloiphong. donle… đã gia tăng cường độ và nội dung các cuộc tấn công từ các câu viết mang tính diễu cợt đến mức lôi các Đấng Thánh ra mà bôi lọ như “Phao Lô là một tên nói láo” và Đức Mẹ là “Đ.M. Maria”. Kinh khủng hơn nữa, ba nhân vật với bí danh “KBC 30475” với địa chỉ vivu48@yahoo.com. Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó , “lưỡi lê” với địa chỉ: luudanset72@yahoo.com. Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó , và “nội ông” với địa chỉ: anticomto@yahoo.com. Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó thì viết vô cùng tục tĩu như “thằng Giê su, một tên Do Thái cà chớn, chỉ cần một cái cọc chôn cái giá thôi, cần chi mà đòi đất Tam Tòa” và: “Muốn lột quần con mụ Maria ra mà coi c. của tên Giê su thì làm ở nhà thờ ấy”, hoặc: “Nội Ông bận họp để dạy cho bọn tả đạo Ca To phản quốc…đi gây rối loạn trong vụ đòi đất Thái Hà, đất Tam Tòa để dâng cho Vatican” …

Trên các bài viết hạ cấp ấy, có những bài mang dáng vẻ khoa học được viết liên tục bởi Trần Chung Ngọc và Nguyễn Mạnh Quang, hai cây viết đã từng gửi bài lên báo Công An đề nghị trừng trị Công Giáo gây rối xã hội, và được các báo Cộng Sản biểu dương. Các địa chỉ “sach hiem” và “giao điểm” là những nơi chứa hàng triệu con chữ chửi bới loại cao cấp này. Trần Chung Ngọc chuyên dùng thủ đoạn chen một câu nói láo giữa những dữ kiện sưu tập, thí dụ như đang nói về các diễn tiến phát triển của Công Giáo, bất ngờ chen vào câu: “Giáo Hoàng Gioan 23 là kẻ tàn ác nhất thế kỷ, đã tiêu diệt 10 triệu người Hồi Giáo…”

Bảo Quốc Kiếm và một vài tay dấu mặt khác, viết có vẻ lịch sự nhưng phê bình nặng nề danh xưng Công Giáo và lên mặt dậy đời, yêu cầu dân Công Giáo đổi danh xưng về tôn giáo của mình.

Gần đây, bất ngờ lại có người mang tên “thích quảng ba” cũng tham gia mặt trận tấn công Công Giáo bằng cách chuyển các bài viết chửi bới đến khắp các diễn đàn. (Không biết có phải là Thượng Tọa Thích Quảng Ba hay là một kẻ muốn hại Thượng Tọa?).

Điều đau lòng là một số đạo hữu, tín đồ nóng tính, khi đọc những lời mạ lị tôn giáo mình thì lập tức lên tiếng phản bác, mới đầu thì tranh luận, sau nổi cọc, cũng văng tục, khiến cho trận chiến ngôn từ nóng bỏng lên. Một số trí thức tôn giáo, khi nhận thấy trận chiến quá căng thẳng, e ngại một kết quả xấu, cũng miễn cưỡng nhập cuộc. Dần dần, cuộc chiến tôn giáo lan rộng, từ Mỹ sang Úc, Canada, rồi đi khắp nơi trên thế giới.

Trước những việc chia rẽ và mạ lị tôn giáo này, người viết bài này đã tham khảo một số sách vở cũng như hỏi ý kiến của một số vị lãnh đạo tôn giáo và ghi nhận được những ý kiến như sau:

-Một Hòa Thượng, cộng sự viên của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, còn ở Việt Nam khẳng định là “tất cả những chuyện nhơ nhớp đó đều được Cộng Sản giật dây. Chúng muốn chia rẽ các tôn giáo, không cho tôn giáo đoàn kết với nhau, vì nếu tôn giáo mà một lòng đoàn kết thì chế độ Cộng Sản sẽ sụp đổ.”

-Một Hòa Thượng thuộc Hội Đồng Liên Tôn Hoa Kỳ cũng xác định là “Cộng Sản không muốn tôi và anh liên kết với nhau. Chúng muốn anh chán tôi, tôi chê anh, thế là mỗi người một nơi, không ai nói chuyện với ai nữa. Kết quả là Cộng Sản rảnh tay đàn áp nhân dân trong nước mà không ai lên tiếng nữa.”

-Tiến Sĩ Dương Ngọc Dũng, tốt nghiệp Đại Học Harvard về Phật Học, Giáo Sư Phật Học tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam và nhiều trung tâm Phật Giáo ở Việt Nam, đã vạch ra những điều tệ hại của Trần Chung Ngọc như sau: “Sau khi chửi bới Đức Giáo Hoàng và toàn thể lịch sử Thiên Chúa Giáo một cách lẫn lộn, không phân biệt, trích dẫn sách vở một cách tùy tiện, cẩu thả, nhóm Giao Điểm mà Trần Chung Ngọc đại diện lại khẳng định: Đây là một cuộc thảo luận trí thức nghiêm chỉnh!”

Ông viết: “Nói chung, tất cả các cây bút trong nhóm Giao Điểm (kể cả giáo sư Minh Chi ở trong nước) đều thống nhất ở một mặt căn bản: Thiên Chúa Giáo, từ thực hành đến lý thuyết đều đáng phỉ nhổ. Thánh Kinh thì toàn chuyện bá láp, cón linh mục thì lo hiếp dâm trẻ em, và Phật Giáo thì hoàn toàn tốt đẹp ở cả hai mặt.” Ông phê bình Trần Chung Ngọc: “Không có hiểu biết về hiện tượng tôn giáo, làm sao Trần chung Ngọc phân biệt được thế nào là một hiện tượng tôn giáo thực sự hay chỉ là một nhận thức?”. Ông thẳng thắn nhận định về khả năng của Trần Chung Ngọc khi mạ lị Công Giáo: “Trần Chung Ngọc vừa nói dốt vừa nói ngang”, và chi tiết hơn: “Không hiểu văn hóa Do Thái thời cổ, không hiểu bối cảnh ra đời của Kinh Thánh, không hiểu thao tác sử dụng ngôn ngữ của môi trường Palestine, không hiểu ý đồ của những tác giả truyền bá Phúc Âm, làm sao có thể tự cho rằng mình đã hiểu Kinh Thánh một cách tương đối chấp nhận được? Đâu phải chỉ căn cứ vào các tác giả nguyền rủa chửi bới Thiên Chúa Giáo là chúng ta có thể kết án tôn giáo này được?”

-Một Linh Mục quan niệm một cách đơn giản hơn: “Với những loại thư rác, hạ cấp như vậy, ta chỉ việc xóa bỏ (delete), hoặc ngăn chặn (block, spam) chúng đi thôi. Đọc làm chi mấy cái bài nhảm nhí ấy. Chúng hoàn toàn không có giá trị về văn chương hoặc nghiên cứu khoa học”.

Cá nhân người viết bài này, thì tin rằng, bên cạnh những tay sai Cộng Sản, những tên muốn tâng công với chế độ để mong kiếm chút cháo, còn vài kẻ có bản tích thích “nổ”, thích khoe mớ hiểu biết ít ỏi của mình cùng với một số ham gây chuyện, thấy chỗ nào có tranh luận thì nhẩy vào để “ăn có”, cũng như kên kên khi ngửi thấy máu, thấy mùi hôi tanh thì bay đến. Để dẹp tan những âm mưu ác hiểm muốn chia rẽ tôn giáo ấy, theo thiển ý, phải nhớ lời Đức Thế Tôn đã dậy chúng sinh, mà không nên đối đầu với những lời nói đầy ác nghiệp như thế:

Chớ nên dùng ác ngữ, Nói quấy, bị nói lại, Khổ thay lời hung dữ, vì quả ác đáo đầu Như chuông bể không ngân Thường an nhiên tịch lặng Bậc liễu ngộ Niết bàn Tâm không sầu không hận

Đồng thời, cũng nhớ đến lời cầu nguyện của Thánh Gandhi:

“Lạy Chuá,

Xin cho con dám nói lên sự thật truớc kẻ mạnh và đừng nói dối để đuợc kẻ yếu tán thuởng…

Xin giúp con nhận biết đuợc khiá cạnh khác cuả sự việc, và đừng để con kết tội những kẻ đối nghịch với con là phản bội, vì họ không chia xẻ quan điểm cuả con.

Xin dậy cho con biết yêu thuơng kẻ khác như yêu thuơng chính bản thân mình.

Và dậy con phán đoán chính bản thân mình như phán đoán kẻ khác.”

Như thế, phương pháp hay nhất vẫn là “xóa bỏ” và “ngăn chặn” các thư rác rưởi ấy, không mở ra, không đọc, cho dù đọc qua một kẻ trung gian chuyển tiếp đến. Điều này có hai hiệu quả: Không nhức đầu vì những nguyên cớ vô duyên, và tránh được những con virus độc hại do các thư rác chuyển đến, mục đích muốn làm hại máy điện toán của mình. Một khi mà tất cả các thành viên trên diễn đàn đồng loạt vừa “delete” vừa “block, spam” thì các thư rác rưởi ấy sẽ được hành sử theo lời Đức Phật dậy: “món quà nào gửi đi mà không được nhận, sẽ trở lại người gửi”. Kính chúc quý vị trên diễn đàn điện tử Bình An và Hạnh Phúc.

Bắc Kỳ Di Cư Chu Tất Tiến.

Ngày 29 tháng 1 năm 2010