Họ và Chúng Ta

Nguyễn Mạnh Quang 

http://sachhiem.net/NMQ/HOVATA/NMQhvt-6.php

| bản in |¿ trở ra mục lục | 29Dec08

bài trước \

PHẦN VI

TÂT CẢ CÁC THẾ LỰC CẤU KẾT VỚI NHÀ THỜ VATICAN ĐỀU THẢM BẠI

Các Phần II, III, IV và V trên đây cho chúng ta thấy rõ một vấn đề nghiêm trọng: Nhà Thờ Vatican quả thật là đại thảm họa cho nhân loại. Vì lẽ này mà ở đâu có Nhà Thờ Vatican là ở đó có phong trào nhân dân vùng lên làm cách mạng để khử diệt cái thảm họa này. Vì Giáo Hội La Mã có chủ trương là luôn luôn cấu kết các bạo quyền Âu Châu và các đế quốc thực dân xâm lược Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Pháp và siêu cường Hoa Kỳ để củng cố, mở rộng và duy trì quyền lực, cho nên hầu như toàn thể nhân dân Âu Châu và toàn thể nhân dân các thuộc địa của các đế quốc Âu Mỹ trên đây đều trở thành nạn nhân khốn khổ của Nhà Thờ. Dân tộc nào càng trở thành nạn nhân của Nhà Thờ lâu năm hơn thì dân tộc đó càng ghê tởm và càng thù ghét Nhà Thờ hơn. Nói chung, hầu như tất cả các dân tộc trên thế giới đều khinh bỉ, đều ghê tởm, đều thù ghét Nhà Thờ Vatican đến tận xương tận tủy và đều muốn diệt tận gốc, trốc tận rễ "cái giáo hội khốn nạn" này, nếu không thì cũng tránh xa như tránh hủi. Đây là sự thật lịch sử và sự thật này được sách sử ghi lại rõ ràng như vậy. Sách Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? viết:

“Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng! v.v. Trọng tội của Giáo Hội không phải là nguồn phúc lộc bình an dưới thế! Ngược lại, và riêng Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần Ma quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam là dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoại đạo theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo.. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đình Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma vào năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim (John Paul II) ngồi dự thính.”[129]

Trong bài tham luận “Ít Nhiều Nhận Định Về Thiên Chúa Giáo”, bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ viết:

Tuy nhiên, tôi lại hơi thắc mắc là tại sao Giáo Hội Công Giáo luôn luôn long trọng truyên bố Cựu Ước chính là lời Chúa?

Cái thắc mắc khác của tôi, là một Giáo Hội đầy ơn Chúa, đầy chân lý và tình thương như vậy, khi thực sự cai trị Âu Châu, lại làm cho Âu Châu run sợ vì tàn ác. Linh-mục Công Giáo Edward A. Synan, tác giả quyển The Popes and The Jesus in the Middle Ages cũng đã phải thành khẩn công nhận rằng khi Âu Châu được đặt dưới quyền thống trị của giáo hoàng thời Trung Cổ đã không biết chuyện bình đẳng và công bằng, luật pháp thì dã man từ ý hướng đến hình phạt và đã chĩa mũi giùi vào dân chúng Do Thái tội nghiệp.

Tôi lại càng thêm phục Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) đã coi dân tộc Do Thái ngang hành với “BÒ”, với “SÚC VẬT”, và Ngài còn cho thế là lịch sự tử tế, vì theo Ngài, tiên tri Isaiah đã coi dân Do Thái thua bò, thua giống vật nữa.

Nếu Nostradamus, Marx, Einstein (các vị này đều là người Do Thái) mà đọc được những lời này của Giáo Hoàng III, chắc chắn phải khiếp vía, vì không biết Ngài thông minh đến mức nào, mà dám coi người Do Thái như bò, như súc vật.

Khi đã coi rẻ Do Thái đến như vậy, đã coi đạo Do Thái tầm thường đến như vậy, thì việc tịch thu các sách Talmud – thánh thư của Do Thái giáo - chất lên nhiều xe, đem ra đốt giữa thành phố Paris vào năm 1242 theo lệnh của vua thánh Louis [Louis IX known as Saint Louis 1214-1270. King of France (1226-1270)] và được chúc phúc tán đồng của Giáo Hoàng Gregory IX (1227-1241) là một chuyện rất tầm thường đối với Công Giáo, vì thánh thư Do Thái đồn bại như vậy, giữ nó làm cái gì.

Có một điều khó hiều là những thế kỷ từ 11 đến 15 huy hoàng như vậy, đối với nguời Do Thái lại là 4 thế kỷ kinh hoàng. Chẳng những thế, ngay người Âu Châu cũng đã vô ơn, đã đầy thiên kiến khi đánh giá những thể kỳ Trung Cổ (476-1453) đầy ánh sáng Thiên Quốc và Phúc Âm là “Thời Đại Hắc Ám” (The Dark Ages). Và khi phong trào khảo cứu lại nền văn minh Hi Lạp nẩy sinh ra, họ đã dám gọi đó là “Thời Kỳ Phục Hưng (thế kỷ 14-16); và khi phong trào đề cao Lý Trí con người được khởi xứng, họ lại dám gọi đó là “Thời Kỳ Khai Sáng” (Enlightenment) (thế kỷ 18). Thực là nhảm nhí vô cùng.

Chúng ta cũng không thể nói rằng Giáo Hội chỉ nghiêm ngặt, tàn ác đối với Do Thái Giáo và các giáo phái khác mà thôi. Ngay đối với con chiên bổn đạo mình, Công Giáo cũng đã dùng máu lửa, sắt thép để giữ gìn cho đoàn chiên được ngoan ngoãn, thuần thành: Năm 1229, Công Đồng Toulouse cấm không cho giáo dân giữ Kinh Thánh, ngọai trừ những Thánh Vịnh (Psalms), và những đoạn đã có trong Kinh Nhật Tụng của linh mục, và cấm chỉ các bản dịch ra thổ âm của mỗi nước. Giáo Hội cho rằng đó là cách ngăn chặn các bè rối từ gốc rễ.

Tôi mới đầu không hiểu tại sao Giáo Hội cấm, không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất là bằng quốc ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của KinhThánh, những chỗ thêm, chốt bớt vào Kinh Thánh. Và quả nhiên từ khi Luther dịch Kinh Thánh ra Đức ngữ, dần dà người ta dịch Kinh Thánh ra các thứ tiếng hoàn cầu, rồi đem bán rẻ hoặc tặng không cho mọi người đọc. Kết quả là ngày nay người ta bới móc ra rằng Kinh Thánh có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau;…” [130]

Nhân dân thế giới khinh bỉ, căm phẫn và thù ghét Nhà Thờ Vatican là như vậy. Cho nên, bất kỳ cá nhân hay thế lực nào cấu kết với Nhà Thờ Vatican trong mưu đồ củng cố quyền lực, thì cá nhân hay thế lực đó sẽ bị nhân dân khinh bỉ, ghê tởm và thù ghét đến cùng độ của thù ghét, và nếu không lánh xa như lánh hủi, thì cũng tìm phương kế hủy diệt. Kinh nghiệm lịch sử nhân lọai từ thời Trung Cồ cho đến ngay nay cho thấy rằng, bất kỳ thế lực nào cấu kết với nhà Thờ Vatican cũng đều bị hủy diệt hay sụp đổ không bằng cách này thì cũng bằng cách khác. Một sự thật hiển nhiên mà ai cũng biết là chế độ quân chủ chuyên chính hay độc tài và các thế lực phong kiến phản động là những thế lực luôn luôn cấu kết với Nhà Thờ Vatican, cho nên tất cả các thế lực này đều bị nhân dân khắp mọi nơi trên thế giới khinh bỉ, thù ghét, và cố gắng tìm đủ mọi cách để đập tan nó, nếu không thì cũng lánh xa giống như lánh hủi, hoặc là tấy chay hay cô lập, khiến cho thế lực đó phải tàn lụi. Theo sự tìm hiểu của người viết, dưới đây là một số trường hợp ở vào tình trạng này:

Trường hợp 1.- Trước hết là Đế Quốc La Mã bắt đầu cấu kết với nhà Thờ Vatican vào giữa thập niên 310. Vì bị nhân dân trong đế quốc khinh bỉ, căm thù, sẵn sàng đi theo bất kỳ thế lực thù địch nào để chống lại. Cũng vì thế mà đế quốc này sụp đổ vào năm 476. Kể từ đó Đế Quốc La Mã tiêu tan và ngay chính quốc La Mã cũng bị phân hóa ra làm nhiều tiểu quốc và cho mãi đến năm 1870 mới được thống nhất thành nước Ý như ngày nay.

Trường hợp 2.- Bồ Đào Nha cấu kết với Nhà Thờ Vatican từ giữa thế kỷ 15 để trở thành một đế quốc thực dân xâm lược, có nhiều thuộc địa ở Châu Phi, ở Châu Mỹ La-tinh (Ba Tây) và Macao ở Á Châu, nhưng rồi chẳng bao lâu bị Tây Ban Nha lấn át, rồi suy yếu thành một tiểu nhược quốc ở Âu Châu.

Trường hợp 3.- Trong thế kỷ 15, Tây Ban Nha cấu kết với Nhà Thờ Vatican, sử dụng các Tòa Án Xử Dị Giáo (Inquisitions), bách hại những người thuộc các tôn giáo khác (Do Thái giáo và Hồi Giáo chính quốc), rồi trở thành đế quốc thực dân xâm lược, có nhiều thuộc địa ở Châu Mỹ La-tinh và ở Phi Luật Tân, nghiễm nhiên trở thành một đế quốc hùng mạnh nhất trên thế giới vào đầu thế kỷ 16. Nhưng chẳng bao lâu, vào năm 1558, Hạm Đội Armada của Tây Ban Nha bị Hải Quân Anh đánh bại tại Biển Manche (English Channel). Kể từ đó Tây Ban Nha mất hết thế mạnh, rồi mất luôn các thuộc địa tại Mỹ Châu La-tinh, tại Phi Luật Tân. Rồi tới thế kỷ 19, quốc gia này trở thành một trong ba nước Âu Châu nghèo nhất, chậm tiến nhất và lạc hậu nhất so với các nước khác ở Bắc Âu, Tây Âu và Đông Âu. Ba nước nghèo, chậm tiến và lạc hậu này ở Âu Châu là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý Đại Lợi.

Trường hợp 4.- Tại Pháp chính quyền triều đại Bourbons cấu kết chặt chẽ với Giáo Hội La Mã để cho Nhà Thờ Vatican lộng hành, tác oai tác quái, cướp đoạt nguyền quốc gia, cưỡng bách nhân dân phải đóng góp cho nhà thờ bằng hàng trăm hình thức khác nhau trong đó có thuế thập phân. Sách Cách Mạng và Hành Động viết:

"Còn như đối với quý tộc và tu sĩ, lẽ dĩ nhiên là người nông dân phải chịu bao nhiêu thứ bóc lột. Muốn xay lúa mì cũng phải thuế, muốn nướng bánh mì cũng phải thuế, muốn hái nho làm rượu cũng phải thuế, muốn qua cầu qua đò cũng phải thuế, muốn cất một ngôi nhà cũng phải thuế! Người nông dân đóng thuế cho vua rồi, không lẽ còn phải nai lưng ra đóng thuế cho chúa nữa? Do đó, họ dần dần nhận thấy những quyền hành của chúa là vô lý, và phôi thai những hoài vọng giải phóng.” [131]

"Chúng ta, bọn tu sĩ nghèo nàn sống giữa bọn con chiên đói rách, số phận chúng ta thực không hơn gì những hòn đá dùng để xây cất những căn nhà thờ cũ nát của chúng ta. Đã thế, chúng ta còn chịu sự áp bức của bề trên nữa! Đã có lần, một kẻ trong chúng ta chỉ chặt một khúc cây trong rừng để làm chiếc gậy chống đi đường, mà kẻ đó cũng đã bị các bề trên lôi ra trước tòa án để xét xử!"… Thảm hại hơn nữa, chợt bắt gặp chiếc xe song mã hay tứ mã của một vị giám mục hay hồng y nào đó, vị linh mục chỉ còn đủ thì giờ cúi gập người xuống chào rồi nhảy tót vào bụi rậm bên đường để tránh những vết bùn do bánh xe làm văng ra tung tóe. Do những căm hờn bất mãn đó, nên về sau, khi xẩy ra cách mạng, ta sẽ thấy tầng lớp linh mục nghèo nàn dần dần tách ra khỏi khối giám mục và hồng y để sát cánh cùng với thứ dân đòi thay đổi chế độ cũ.”[132]

Sách Living World History viết:

"Giáo Hội đã trở nên vô cùng giầu có. Lợi tức hàng năm của Giáo Hội còn nhiều hơn cả lợi tức của tất cả các nhà cầm quyền thế tục (Âu Châu) gom lại. Giáo Hội thường xuyên tiếp nhận những khối tài sản lớn lao về đất đai (của các thế lực chính trị hay của các nhà giầu có dâng cúng). Ngoài ra, Giáo Hội còn thu thuế 10 phần trăm lợi tức của mỗi người dân bắt buộc phải đóng cho Giáo Hội." ("The Church had also grown immensely wealthy, its income exceeding that of all the important lay rulers put together. It was constant recipient of large gifts of land in addition to the tithe, or tenth part of income, that each member was required to pay to the Church.”)[133]

Sự giầu có của Giáo Hội La Mã tại Âu Châu cũng được học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi lại trong bức tâm thư của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh gửi các linh mục Việt Nam vào tháng 5/1999 với nguyên văn như sau:

“Giáo Hội tự định nghĩa mình là “Một Mầu Nhiệm”, tự gọi mình là “Hiền Thê của Thiên Chúa Làm Người”...Nhưng tài sản của Giáo Hội trước thời cải cách Luther – Erasmus, tại Đức là 1/5 cả nước, tại Pháp là 1/7 cả nước, tại Tây Ban Nha là 1/6 cả nước, tại Ý là 1/4 cả nước... Đó là quyền lực của mammon (mamona) mà Đức Giêsu Kitô giảng dạy trong Tin Mừng: “Người là tôi tớ cho mamon (của cải) vào nước Trời khó hơn lạc đà chui qua lỗ chôn kim”, thế mà “hiền thê của Đức Kitô” liên tiếp trong mười mấy thế kỷ giầu nhất thiên hạ Đông Tây.” Phan Đình Diệm, “Tâm Thư Chia sẻ Cảm Nghiệm Với Các Linh Mục Trong và Ngoài Nước Việt Nam.” Tanvien@kitohoc.com Ngày 19/9/2000.

Nói đến giầu có của Giáo Hội La Mã là nói đến vai trò tiền bạc trong lề lối sinh hoạt các các vị chức sắc (từ linh mục lên đến giáo hoàng) trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. Vấn đề này được sử gia Helen Ellerbe ghi nhận trong tác phẩm The Dark Side Of Christian History với nguyên văn như sau:

Tiền bạc và thế lực giữ một vai trò quan trọng trong việc leo lên nấc thang quyền lực trong Giáo Hội La Mã và tạo nên cái bản chất nhơ nhớp của Giáo Hội trong thời Trung Cổ. Ít nhất là có tới 40 (bốn mươi) người đã dùng thế lực và tiền bạc lo lót để leo lên chức vụ giáo hoàng. Khi mà ngôi vị giáo hoàng đồi chủ quá nhiều lần như vậy thì tất nhiên có rất nhiều nguồn tin nói về tội ác và những cảnh tượng sát hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực trong những lần ngôi vị gíao hoàng đổi chủ như vậy. Trong một thời gian khoảng một trăm năm, có tới hơn 40 người lên nắm giữ chức vị giáo hoàng. Trong thời gian 12 năm từ 891 đến 903, có không dưới mười người nhẩy lên ngôi giáo hoàng.

Trong thời Trung Cổ, Giáo Hội tích lũy tài sản một cách quá đáng. Giáo Hội chiếm hữu những tài sản của những người chết không có người thừa kế và được miễn thuế. Vì thế mà khối tài sản về ruộng đất của Giáo Hội lên tới ¼ hay 1/3 của toàn thể ruộng đất ở Tây Âu. Thêm vào những khoản tài sản này, các ông giám mục còn là những lãnh chúa ruộng đất trong vùng quản nhiệm giống như các ông công tước hay nam tước và cũng thi hành nghĩa vụ cung cấp binh lính vào khi bọn vua chúa địa phương cần đến. Ngoài ra, Giáo Hội làm tiền (1) bằng cách tiếp nhận những khoản tiền do các nhà cầm quyền trong đế quốc đóng góp, (2) bằng cách tịch thu tài sản theo những phán quyết của tòa án, (3) bằng cách bán giấy xá tội cho tín đồ, (4) bằng cách bán những chức vụ trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội, và (5) nhiều khi Giáo Hội dùng cả bạo lực để chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân dưới quyền.”

Nguyên văn: “Money and power played a critical role in man ’s ascent to through the Church hierarchy and contributed to the disreputable nature of the medieval Church. At least forty different Popes are known to have bought their way into the papacy. Allegations of murder and crime within the Church abounded as the papacy so frequently changed hands. In a particular one hundred year period, more than forty Popes came to office. In the twelve years period from from 891 to 903 alone no less than ten different Popes held power.

The Church amassed inordinate wealth during the Dark Ages. Patrimonial properties, the church held lands that there were free and clear of taxes or military obligation to the king, made up between one-quarter and one third of western Europe. In addition to the patrimony, bishops often held territories in feudal tenure, obliging them like any count or baron to provide the king with soldiers when called. The Church made money by collecting revenues from imperial rulers, by confiscating as a result of court judgment, by selling remission of sins (called “indulgences”), by selling ecclesiastical offices (called “simony”), and sometimes by simply taking land by forces.”) Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History (Windermere, FL: Morningstar and Lark, 1995), pp. 50-51.

Khối lượng ruộng đất và tài nguyên trong một quốc gia thường là cố định và hữu hạn. Khi mà càng nhiều ruộng đất và tài nguyên bị Nhà Thờ chiếm đọat thì số còn lại càng ít để phân phối cho nhân dân trong nước. Nói cho rõ hơn, Nhà Thờ Vatican càng trở nên giầu có thì nhân dân càng trở nên nghèo khổ. Càng nghèo khổ thì nhân dân càng cảm thấy tủi nhục và bất mãn đối với chính sách tham tàn và bạo ngược của Nhà Thờ. Cũng vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy nhân dân Pháp căm hờn và thù ghét Nhà Thờ Vatican đến tận xương tận tủy. Vấn đề này đã được trình bày trong Phần IV ở trên. Cuối cùng, họ đã phải vùng lên làm Cách Mạng vào ngày 14/7/1789, lôi cổ cả hai vợ chồng Vua Louis XVI trừng trị và đưa lên đọan đầu đài, rồi trừng trị luôn cả Nhà Thờ Vatican. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong phần nhận xét về đoạn văn số 21, Phần III ở trên.

Trường hợp 5.- Đầu thế kỷ 19, dựa vào chiến thắng của Liên Minh Thánh Phổ - Áo – Nga – Anh – Vatican đánh bại Hoàng Đế Napoléon tại trận Waterloo vào tháng 6/1815, Louis XVIII (1814-1824) và Charles X (1824-1830) được liên minh thù địch này của nước Pháp đưa lên cầm quyền. Là tín đồ Ca-tô cuồng tín, cho nên hai ông vua này đều cấu kết chặt chẽ với Nhà Thờ Vatican và đều thi hành chính sách khủng bố để trả thù những người trước kia đã tham gia hay ủng hộ Cách Mạng 1789, truy lùng bà con thân nhân ruột thịt của các nhà lãnh đạo cách mạng và của Hoàng Đế Napoléon I. Chính sách này đã gây nên những cuộc tắm máu vô cùng khủng khiếp mà sách sử gọi là “thời kỳ khủng bố trắng”. Nhân tiện đây, người viết xin ghi lại dưới đây mấy bản văn sử nói về giai đọan lịch sử đau thương này của nước Pháp để cho độc giả dễ dàng nhìn ra bàn tay máu cực kỳ ghê tởm của Nhà Thờ Vatican trong hai triều đại đạo phiệt Ca-tô khốn này. Sử gia Pierre Goubert viết về "Khủng Bố Trắng" trong cuốn The Course of French History như sau:

"Vua Louis XVIII bắt buộc phải để cho bão tố nổi lên theo chiều hướng của nó. Trong các tỉnh ở miền Nam và miền Tây, nạn "Khủng Bố Trắng" mới hoành hành nhắm vào những người đã mua những tài sản bị tịch thu trong thời Cách Mạng, nhắm vào những người trước kia theo Cách Mạng, và nhắm vào những người ủng hộ Hòang Đế Napoléon I. Nhiều người bị hăm dọa hay bị gây sự, bị chọc phá. Nhiều người khác bị ám sát, trong đó có gia đình Mameluks ở Marseilles, Tướng Ramel ở Toulouse, Tướng Lagarde ở Nimes, và những tín độ Tin Lành, những nạn nhân trong đợt khủng bố mới của tín đồ Gia-tô của Giáo Hội La Mã. Một số tội đồ có liên hệ đến những việc làm khủng bố này. Hy vọng để trấn an nhân dân và kiểm sóat được tình hình, chính quyền hành động. Mười tám (18) vị tướng lãnh trong thời Hoàng Đế Napóelon bị gọi ra trước Hội Đồng Chiến Tranh: Việc hành hình (Tướng) La Bédoyère và (Thống Tướng) Ney gây nên xáo động. Sau khi thanh trừng trong quân đội, chính quyền cho quân lính trong đạo quân vệ binh của Hòang Đế Napoléon giải ngũ và giảm lương của nhỉều sĩ quan xuống một nửa, rồi đưa những người thuộc giới quý tộc vào thay thế. Trong số những người qúy tộc này, có nhiều người đã phục vụ trong quân đội của kẻ thù chống lại nước Pháp. Cái gọi là đạo luật ân xá có hiệu quả đầy biệt xứ gia đình Bonaparte (gia đình Hòang Đế Napoléon), những người mang tội giết vua và những nghi can mới. Trong chính quyền cũng như trong các cơ chế khác của nước Pháp đêu bị thanh lọc. Những nhân vật có uy tín lớn như Carnot, Davis, Lakanal và Monge đều bị bãi chức. Vì đã có nhiều đạo luật chống "kêu gọi xúi giục" được ban hành, và những người bị coi là "những kẻ gây rối" bị bắt đưa ra xử trước tòa án đặc biệt với quyền tuyên phán chung thẩm (không có kháng án). Đội lính phụ trách việc hành hình làm liên tục cho đến tháng 7 năm 1816: Ở Lyon đội lính này đã hành hình Tướng Mouton Duvernet. Dĩ nhiên, báo chí cũng bị "bịt miệng" bằng những điều khoản như đặt tiền bảo đảm an ninh, kiểm duyệt, đóng dấu của chính quyền và sự chấp thuận trước (rồi mới được phát hành.)"

"Louis XVIII was obliged to let the storm run its course. In the western and southern provinces a new White Terror raged against the owners of national properties, former revolutionaries and the followers of Napoleon. Many were threatened or molested, others were assassinated, among them Mameluks at Marseilles, Generals Ramel and Lagarde at Toulouse and Nimes, and Protestants who suffered new persecution at the hands of papists. A number of common criminals were involved in this reaction. Hoping to calm and control it, the government took charge. Eighteen Bonapartist generals were called up before the Council of War: The execution Bédoyère and Ney caused a sensation. After having purged the army, retired the grumblers (veterans of Napoleon' s old guard), and put numerous officers half-pay, the government installed nobles in their places. Many of them had fought against the French in the enemy armies. A so-called amnesty law had the effect of banning the Bonaparte family, the regicides, and the new "suspects." Official administration and even the Institute de France were swept clean. Distinguished men as Carnot, Davis, Lakanal and Monge were removed. Thanks to various laws against "seditious cries", the "troublesome ones" were brought before special tribunal from whose judgments there was no appeal. The firing squads were in operation until July 1816: at Lyon, they claimed the life of General Mounton Duvernet. Of course the press was muzzled by requirements for financial surety, official stamps, censorship, and prior approval. The political police distinguished themselves by their activity...." [134]

Câu văn Đội lính phụ trách việc hành hình làm liên tục cho đến tháng 7 năm 1816” cho chúng ta thấy chính quyền đạo phiệt Ca-tô của tên bạo chúa Louis XVIII đã ráo riết liên tục thi hành nhiệm vụ hành hình những nạn nhân bị tòa án của bạo quyền này ròng rã cả gần 3 năm trời và sau này còn tiếp tục dài dài cho đến hạ tuần tháng 7 năm 1830. Cũng trong cuốn sách này, trong một trang sách khác, tác giả viết:

"Trong thời gian hai ông Villele và Polignac giữ chức vụ thủ tướng chính phủ, những mối oán thù chất chứa trong lòng từ trước thì bây giờ được giới qúi tộc và Giáo Hội tha hồ phóng tay rửa hận. Bất cứ chuyện gì họ cũng nhớ đến để trả thù và rất khó cho họ thông cảm cho bất kỳ một chuyên gì. Họ mua chuộc, đút lót trong các thủ tục tiến hành bầu cử để loại bỏ những người thuộc thành phần tư sản (ra khỏi danh sách ứng cử viên); họ gia tăng gấp bội ngân khoản ngành cảnh sát để ngăn cản tự do báo chí và tự do tư tưởng. Họ bổ nhậm một ông giám mục làm viện trưởng viên đại học để lọai bỏ các tư tưởng tiến bộ. Họ tài trợ cho những chiến dịch ồn ào gọi là "sứ mệnh" để tu bổ và đi trồng cây chữ thập (thánh giá) khắp trong toàn quốc, mà có một số vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Họ dám ban hành một đạo luật trừng phạt những người bị kết tôi là "phạm thượng" hay "xúc phạm thần thánh" với những hình phạt hết sức là tàn ác dành cho những người nào bị cho là làm rối lọan hay phá vỡ các cuộc lễ lạc tôn giáo hay báng bổ thần thánh, dù rằng đạo luật này khó có thể thi hành được. Và cuối cùng, vào năm 1825, họ cho thông qua hàng tỉ bạc (tiền Pháp) để bồi thường 3 phần trăm trái phiếu cho những người trốn đi sống lưu vong ở nước ngoài trong thời Cách Mạng (1789-1815). Đạo luật này nhằm để làm cho những người đã mua tài sản do chính quyền Cách Mạng bán cho phải khiếp sợ và cũng là để sỉ nhục những nạn nhân này. Họ còn bàn luận đến việc phục hồi chế độ quyền trưởng nam mà chưa bao giờ được áp dụng ở nước Pháp. Đồng thời, họ còn gửi một đoàn quân đến Tây Ban Nha để tái lập đế quyền cho tên bạo chúa Ferdinand VI sau khi hắn ta đã bị lực lương tự do tại Caditz đe dọa (truất phế hay khử diệt)...."

(Under the governments of Villele and Polignac, the delayed rancor of aristocracy and Church were unleashed. They had forgotten nothing and understood hardly anything. They tampered with electoral procedures to exclude the bourgeois; they multiplied the financial and police obstacles freedom of the press and expression. They appointed bishop to head the state university in order drive out lively minds; the sponsored loud campaigns called "missions" of reparation and planted crosses all over the countryside, some still visible today. They dared to promulgate a law against "sacrilege" that fixed harsh penalties for anyone who disrupted religious ceremonies or profaned "sacred vessels." although it proved impossible to enforce. And finally they passed the "billion for the exiles" in 1825, a simple indemnity of modest 3 percent bonds for those who had been "despoiled" by the Revolution. This act scandalized and terrified the former owner of national properties. There was also discussion of reestablishing the right of primogeniture, which had never applied generally throughout France. At the same time an expedition blessed by the absolute monarchs of Europe went to Spain to restore the despot Ferdinand VII to his throne after he had been threatened by a liberal rebellion at Caditz.") [135]

Trong đọan văn trên đây, có câu văn: “Họ tài trợ cho những chiến dịch ồn ào gọi là "sứ mệnh" để tu bổ và đi trồng cây chữ thập (thánh giá) khắp trong toàn quốc, mà có một số vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay.” Chúng ta thấy tình trạng này giống y hệt như ở Việt Nam ngày nay. Trong vụ tên Giám-mục Ngô Quang Kiệt xúi giục giáo dân tụ tập gây bạo lọan tại tòa nhà công sở số 142 Phố Khâm Thiên, Hà Nội trong những ngày từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008, cũng như tại Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng từ ngày 15/8 đến ngày 22/9/2008 và vụ dựng tượng Bà Maria ở xã An Bằng (Huế) hiên nay đều có chủ đích không khác gì chủ đích và hành động mà Nhà Thờ Vatican đã theo đuổi và làm ở Pháp trong thời hai tên bạo chúa Ca-tô Louis XVIII và Charles X như đã nói ở trên. Hình như Nhà Thờ Vatican tại Việt Nam cũng đang tiến hành những chiến dịch như vậy ở những nơi nào mà họ đã mua chuộc được nhà cầm quyền địa phương.

Tình trạng Nhà Thờ Vatican lấn lướt cắm thập ác và dựng tượng bà già xề Maria ở nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ nhiều năm nay khiến cho người viết nhớ đến câu nói của sử gia Loraine Boettner về Nhà Thờ Vatican trong cuốn Roman Catholicism như sau:

Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã là con cọp.)” [136]

Đất nước Việt Nam là của chung của dân tộc Việt Nam, chứ không phải là của riêng ai. Cho nên bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng phải có bổn phận gìn giữ và bảo vệ. Tuy nhiên, trách nhiệm quan trọng nhất trong vấn đề này vẫn là nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay. Mong rằng nhà cầm quyền Việt Nam lưu tâm đến vấn đề này.

Thiết nghĩ rằng, ôn cố tri tân. Đối với Nhà Thờ Vatican, chúng ta cần phải áp dụng sách lược “phòng bệnh hơn là chữa bệnh”, nghĩa là phải làm thế nào để cho Nhà Thờ Vatican chỉ có thể là con cừu đúng với cái bản chất “con chiên” của nó. Xin đừng để nó biến thành con cáo để rồi nó trở thành con mãnh hỗ cắn xé tổ quốc và nhân dân ta, như trong quá khứ nó đã từng cắn xé nhân dân Âu Châu trong thời Trung Cổ, cắn xé nhân dân các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ ở khắp mọi nơi trên thế giới, cắn xé nhân dân Croatia trong những năm 1941-1945, cắn xé Đông Dương trong những năm 1862-1954, cắn xé nhân dân miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, và cắn xé nhân dân Rwanda trong năm 1994.

Trở lại chuyện nước Pháp trong thời bạo chúa Charles IX nắm quyền, khuyển cùng tắc phệ. Con chó bị dồn vào đường cùng nó còn biết tự vệ và cắn lại những kẻ mưu toan hại nó. Huống chi là con người! Nhân dân Pháp cũng vậy. Những hành động bạo ngược và dã man quá đáng của Giáo Hội, của bọn tu sĩ tay sai, của bọn quý tộc và của triều đình dòng họ Bourbons đã làm cho nhân dân Pháp không thể nào tiếp tục chịu đựng được nữa! Họ phải vùng dậy khử diệt cái liên minh quyền lực giữa Nhà Thờ Vatican và chế độ đạo phiệt Ca-tô của tên bạo chúa Charles X, rồi phế bỏ luôn cả vương quyền của dòng họ Bourbons. Sự kiện này được các nhà viết sử ghi lại như sau:

"Charles X lên ngôi vào khi vua Louis XVIII qua đời vào năm 1824. Tháng 5 năm 1825, nhà vua chịu phép sức dầu thánh ở Reims. Sự kiện này báo hiệu cho biết nhà vua muốn đem vương quyền trở lại cái tư thế của ngày xưa, đặc biệt hơn nữa, nhà vua lại công khai liên minh với Giáo Hội. Chẳng bao lâu vua Charles X biểu lộ rõ ràng ý muốn theo đuổi chính sách phản động, vì rằng con người ông ta không đủ khả năng thủ vai một ông vua trong một chế độ quân chủ lập hiến..

Khi mà vương triều của ông ta phải ba lần thay đổi chính phủ (nội các) thì Charles X dần dần mất lòng dân. Trong khi những đợt người lưu vong đầu tiên ở ngọai quốc về nước được bồi hoàn những đất đai của họ bị quốc hữu hóa (trong thời Cách Mạng) thì những người tư sản sở hữu chủ các trái phiếu phải è cổ ra chịu trận, những chức vụ quan trọng trong chính quyền được trao cho các tu sĩ Gia-tô nắm giữ. Ngòai ra, chính quyền còn ban hành nhiều đạo luật nhằm để trừng trị những người bị cáo là đã "xúc phạm thần thánh" với án tử hình dành cho những người bị tố cáo là đã phạm tội này. Các đảng viên Đảng Tự do và giới tư sản càng trở nên bất mãn hơn khi đạo quân Vệ Binh Quốc Gia bị giải tán vào năm 1827.

Chính phủ thứ hai dù là ôn hòa hơn, nhưng cũng chỉ kéo dài được từ tháng 1 năm 1828 cho đến tháng 8 năm 1829 thì các đảng viên Đảng Tự Do liên kết với phe cực hữu để lật đổ chính phủ này (bằng lá phiêu bất tín nhiệm theo chế độ đại nghị). Không còn kiên nhẫn được nữa, Charles X bất cần đến dư luận quần chúng, ông đưa ra một nhân vật cực kỳ phản động, hết lòng trung thành và tận tụy với Tòa Thánh Vatican là Polignac lên làm thủ tướng thành lập tân nội các. Hành động thách đố này làm cho nhân dân khắp nơi trong nước đều kinh hòang lo sợ và bùng lên thành phong trào chống đối. Đứng trước tình trạng này, Vua Charles X không những đã không cảnh tỉnh, mà còn làm tới, càng trở nên ngoan cố và đẩy tình thế đến chỗ bùng lên thành cách mạng vào tháng 7 năm 1830.

Polignac không tin tưởng vào Quốc Hội. Tháng 3 năm 1830, khi các thành phần thuộc Đảng Tự Do phản đối nội các Polgnac, Vua Charles X liền giải tán Quốc Hội và tổ chức bầu lại quốc hội vào tháng 5. Kết quả kỳ bầu cử kỳ này cũng bất thuân lợi cho nhà vua. Thấy vậy, ngày 26 tháng 7, nhà vua cho ban hành 4 sắc luật theo đó chính quyền sẽ phải dùng những biện pháp mạnh để đàn áp các phong trào chống đối. Hành động này đã giúp cho phe cấp tiến một djp may để đẩy mạnh những họat động làm cho cách mạng bùng nổ. Không chuẩn bị để đối phó với tình hình biến đổi bất ngờ như vậy, Charles X phải bỏ Paris, co giò chạy trốn đến Versailles (cách Paris khỏang chừng 21 cây số), rồi lại bỏ Versailles chạy đến thị trấn Rambouillet (cách Paris khỏang 50 cây số về phía Tây Nam), ở đây nhà vua mới được biết là không có cách nào có thể chống lại phong trào nổi lọan được nữa."

"Upon Louis XVIII's death in 1824, Charles became king as Charles X. In May 1825 he was anointed at Reims, an event that signaled the return of monarchy's old position and, more specifically, the open alliance between the monarch and the Church. It soon became apparent that Charles would pursue his policy of reaction, for he was tempermentally incapable of playing the part of a constitutional king as Louis XVIII had done.

Charles's popularity waned as his reign passed through three unpopular ministries. During the first of these émigrés were compensated for their nationalized lands, largely at the expense of the bourgeois holders of government bonds; greater power was granted to members of the clergy and the death penalty was imposed for certain "sacrilegious" acts. Liberals and bourgeois were further alienated when in 1827 the National Guard was disbanded.

The second government, though more moderate, lasted only from January 1828 to August 1829, when liberals joined with the extreme right to defeat it. Losing patience and ignoring public opinion, Charles X called upon an extreme clericalist reactionary, the highly unpopular Prince Jules de Polignac, to form a government. A formidable agitation sprang up which, making the king only more obstinate, culminated in July Revolution of 1830.

Polignac did not have the confidence of Chamber. In March 1830, when liberal members objected to the Polignac ministry, Charles dissolved the Chamber. The May elections returned majority unfavorable to the king. On July 26, he issued four ordinances which, through their repressive measures, provoked revolution by the Paris radicals. Unprepared for such outbreak, Charles fled first to Versailles and then to Rambouillet." [137]

Trên đây chỉ là mấy đọan văn sử nói về bàn tay của Nhà Thờ Vatican trong chế độ đạo phiệt Ca-tô của triều đình dòng họ Bourbons ở Pháp trong thời hai tên bạo chua Louis XVIII (1814-1824) và Charles X (1824-1830) hay là sự cấu kết giữa hai tên bạo chúa này với Nhà Thờ Vatican. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ với nhiều chi tiết hơn nơi Chương 4 trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) của tác giả Nguyễn Mạnh Quang. Cuốn sách này cũng sẽ được đua lên sachhiem.net trong một ngày gần đây.

Trường hợp 6.- Đầu thập niên 1850, Tổng Thống Louis Napoléon (1808-1873) ở vào tuổi xấp xỉ ngũ tuần, được Nhà Thờ Vatican sắp xếp cho thành hôn với công nương Eugénie Marie de Montijo de Guzman (1826-1920) vừa trẻ vừa xinh đẹp như nàng tiên, khiến cho ông tổng thống vừa già (đã gần đến tuổi ngũ thập) vừa xấu trai mê mẩn để rồi vướng vào cái tròng Ca-tô (Catholic loop) và biến chính quyền thành một triều đại của một hoàng đế (Hoàng Đế Napoléon III), biến nước Pháp thành một đế quốc thực dân xâm lược, và khai tử chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa Pháp. Sau đó mấy năm, với bàn tay phù thủy của Nhà Thờ Vatican, chính quyền này của nước Pháp cấu kết với Vatican, đem quân tấn chiếm Đông Dương làm thuộc địa. Không biết có phải trời cao có mắt hay là “ác giả ác báo”. Chẳng bao lâu, vào năm 1870, chính Hoàng Đế Napoléon III bị thảm bại và bị quân Phổ bắt sống khi đang chỉ huy quân Pháp chống quân Phổ tại trận Sedan vào ngày 2/9/1870. Biến cố này đưa đến chế độ đế chính của triều đại Napoléon III sụp đổ và khai sinh ra nền Đệ III Cộng Hòa Pháp.

Trường hợp 7.- Từ trước thế kỷ 19, các thế lực phong kiến phản động tại Ý cấu kết với Nhà Thờ Vatican, với các thế lực phong kiến phản động tại Pháp và tại Áo để duy trì tình trạng nước Ý phân hóa thành nhiều tiểu quốc: Nhà Thờ Vatican chiếm một số tiểu quốc, nước Áo chiếm một số tiểu quốc, và nước Pháp chiếm một số tiểu quốc. Nước Pháp phải gửi một đạo quân đến đồn trú tại kinh thành Rome để bảo vệ Tòa Thánh Vatican. Những hành động này là phản lại nguyện vọng khao khát thống nhất đất nước của nhân dân Ý, làm cho họ vô cùng phẫn uất và hết sức căm thù tất cả các thế lực phản động thống trị trên đây. Họ chỉ chờ khi có cơ hội thuận tiện là vùng lên đánh đuổi quân xâm lăng Áo và Pháp, đập tan cái tập đoàn đầu não Nhà Thờ Vatican để đem lại thống nhất đất nước cho dân tộc họ.

Thời cơ thuận tiện này là trong cuộc chiến giữa Phổ và Áo bùng nổ vào năm 1866 và kéo dài gần hai năm trời. Nước Áo bị nước Phổ đánh bại và trở nên suy yếu. Rồi chiến tranh Pháp - Phổ bùng nổ vào ngày 19/7/1870. Tháng 8/1870, vì phải đương đầu với quân Phổ, Hoàng Đế Napoléon III phải ra lệnh rút đạo quân trú đóng tại Kinh Thành Rome về Pháp để tiếp sức cho mặt trận tại vùng biến giới Pháp - Phổ. Nhân cơ hội này, quân đội Cách Mạng Ý dưới quyền lãnh đạo nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi (1807-1882) đem quân đồng loạt tấn công các tiểu quốc thuộc Áo, thuôc Pháp, bao vây và nã súng vào Tòa Thánh Vatican buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải đầu hàng vô điều kiện để thâu hồi những tiểu quốc bị Vatican chiếm đóng. Vấn đề này đã được trnh bày đầy đủ trong phần nhận xét về đọan văn số 21, Phần III ở trên.

Trường hợp 8.- Cuối thập niên 1850, nước Pháp cấu kết với Nhà Thờ Vatican thành lập Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đem quân tấn chiếm và thống trị Đông Dương. Cuối cùng chính quốc Pháp bị Đức Quốc Xã trong Phe Trục tấn công và chiếm đóng toàn bộ nước Pháp vào tháng 6 năm 1940, và chính quyền của Liên Minh Pháp – Vatican tại Đông Dương cũng bị Quân Nhật trong Phe Trục lật đổ vào đêm ngày 9/3/1945.

Trường hợp 9.- Trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, chế độ Phát Xít Ý của nhà độc tài Benito Mussolini (1883-1945) và chế độ Đức Quốc Xã của nhà độc tài Adolf Hitler (1889-1945) cùng cấu kết với Nhà Thờ Vatican tàn sát sáu triệu người Do Thái, gây nên cuộc chiến thảm khốc nhất trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là triệt để ủng hộ phe Ca-tô dưới quyền chỉ huy của tín đồ Ca-tô cuồng tín Francisco Franco (1892-1975) đánh bại chính quyền Cách Mạng Tây Ban Nha trong những năm 1936-1939 khiến cho nhân dân quốc gia này phải rên siết dưới ách thống trị của tên bạo chúa này cho đến năm 1975. Đồng thời, vào năm 1941, chính quyền Phát Xít Ý và chính quyền Đức Quốc Xã cũng cấu kết với Nhà Thờ Vatican trong việc đưa tên cuồng tín Ca-tô Ante Pavelich lên cầm quyền ở Croatia để thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô ở đây. Trong những năm chế độ đạo phiệt Ca-tô này tồn tại (1941-1945), có tới gần 8 trăm ngàn (800,000) người dân bị tàn sát. Cuối cùng cả hai chế độ Phát Xít Ý và Đức Quốc Xã đểu bị hủy diệt, cả hai nhà độc tài Benito Mussolini và Adolf Hitler đều chết thảm. Ngày 28/4/1945, Benito Mussolini bỏ trốn đến Milan bị nhân dân Ý tóm cổ và đập chết, rồi đem xác treo ngược tòng teng trên một cái trụ tại một trạm xăng để cho nhân dân nhìn thấy rõ và cũng là để xác nhận cái chết cả tên bạo chúa này.[138] Ngày 1/5/1945, Hitler phải tự tử.

Trường hợp 10.- Mùa thu năm 1946, nước Pháp lại cấu kết với Nhà Thờ Vatican, đưa tên cựu Linh-muc Thierry d’ Argenlieu lên năm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương đem quân sang tái chiếm Đông Dương, rồi đưa tên phế đế Bảo Đại trở lại ngai vàng và thành lập chính phủ bù nhìn, ngụy trang là “chính quyền Quốc Gia” với dã tâm dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Ca-tô cai trị đại khối nhân dân Việt Nam thuộc tam gíao cổ truyền. Nhưng rồi, cuối cùng Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican bị thảm bại tại tập đoàn cứ điểm tại Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954. Biến cố này khiến cho Pháp phải thương thuyết nghiêm chỉnh với chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Hội Nghị Genève, công nhân chủ quyền Độc Lập của các quốc gia Đông Dương và rút quân về nước. Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican chính thức không còn nữa.

Trường hợp 11.- Đầu thập niên, Hoa Kỳ cấu kết với Vatican, thành lập Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican, đưa tên phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm về cầm quyền ở Việt Nam trong mưu đồ duy trì Việt Nam mãi mãi ở trong tình trạng chia đôi, biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng và để mặc cho Nhà Thờ Vatican lo việc nội chính. Vì thế mà Nhà Thờ Vatican và chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây nên hàng rừng tội ác trời không dung, đất không tha. Rút cục, quân dân miền Nam vùng lên đạp đổ bạo quyền của nhà Ngô, và cả ba anh em Ngô Đình Dịêm phải đền tội trước quân dân miền Nam, người thì bị đập chết, kẻ thì bị xử bắn. Cuối cùng, tới cuối tháng 4/1975, Hoa Kỳ cúng phải cuốn cờ bỏ miền Nam mà chạy. Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican cũng bị khai tử kể từ đó. Bọn đầu não của Nhà Thờ Vatican tại miền Nam Việt Nam cũng phải cuốn gói ra đi trong nhục nhã.

Trường hợp 12.- Tại Hoa Kỳ, từ đầu thập niên 1950, các chính quyền của Đảng Cộng Hòa cố tình quên đi ý nguyện của nhân dân Hoa Kỳ đã được thể hiện ra qua điều khỏan “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Điều khoản này đã được ghi rõ ràng trong Tu Chính Hiến Số 1 và đã có hiệu lực từ năm 1791. Không biết nguyên nhân nào, từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt vào năm 1945 cho đến nay, chúng ta thấy Đảng Cộng Hòa đã liên tục cấu kết chặt chẽ với Nhà Thờ, với thế lực bảo thủ và với thế lực đại tư bản để tranh thủ thắng lợi nhất thời trong việc đối đầu với khối Cộng Sản do Liên Sô lãnh đạo và tranh thắng với chính đảng đối lập là Đảng Dân Chủ ở trong nước. Dưới đây là những năm chính quyền của Đảng Cộng Hòa cấu kết với Nhà Thờ trong mưu đồ thỏa mãn quyền lợi nhất thời:

A.- Chính quyền Cộng Hòa thời Tổng Thống Eisenhower (20/1/1953-20/1/1961) cấu kết với Nhà Thờ Vatican đưa tên phản thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền để thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô và biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng. Việc làm phản tỉến hóa trên đây đã xô đẩy toàn thể nhân dân miiền Nam Việt Nam vảo tình cảnh phải gánh chịu không biết bao nhiêu thảm họa đau thương do cái chế độ đạo phiệt khốn nạn này gây ra như đã nói rõ trong phần nhận xét về đọan văn số 10 và phần nhận xét về đọan văn số 33, Phần III (Nhận Xét Về Bài Viết Cần Thẩm Định Giá Trị Ông Ngô Đình Diệm và Chệ Độ Đệ Nhất Cộng Hòa” của ông Tôn Thất Thiện ở trên. Hậu quả là:

a.- Tên phàn thần tam đại Việt gian Ngô Đình Diệm bị sách sử lên án và ghi nhận là một trong số 100 tên bạo Chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.

b.- Cả ba anh em tên bạo chúa này đều bị quân nhân miền Nam lôi cổ ra đập chết và bắn chết.

c.- Trong kỳ bầu cử vào tháng 11/1960, nhân dân Hoa Kỳ bất tín nhiệm Đảng Cộng Hòa và đưa Đảng Dân Chủ lên cầm quyền với sứ mạng là khử diệt cái chế độ bạo ngược của tên bạo Chúa họ Ngô này và làm giảm thiểu ảnh hưởng của Nhà Thờ Vatican tại miền Nam Việt Nam.

B.- Trong thời Tổng Thống Reagan (20/1/1981–20/1/1989) và thời Tổng Thống Bush (bố) (21/1/1989–20/1/1983), chính quyền cấu kết với Nhà Thờ Vatican để lật đổ các chính quyền Cộng Sản ở Ba Lan và nhiều chính quyền Cộng Sản khác ở Đông Âu. Dù là mang lại thành quả như ý muốn của Đảng Cộng Hòa, thì việc cấu kết với Nhà Thờ Vatican cũng làm cho nhân dân Mỹ ghê sợ và tìm cách lánh xa Đảng Cộng Hòa. Cũng vì thế mà trong kỳ bầu cử vào tháng 11/1992, nhân dân Hoa Kỳ bất tín nhiệm Đảng Cộng Hòa và đưa Đảng Dân Chủ lên cầm quyền với hy vọng điều khỏan “tôn giáo tách rời khỏi chính quyền” được triệt để tôn trọng.

C.- Trong thời Tổng Thống Bush (con) (20/1/2001-20/1/2009), chính quyền Cộng Hòa lại cấu kết với phe Nhà Thờ Vatican, với toàn bộ phe bảo thủ và với phe tư bản, dùng quyền lực Nhà Nước để đáp ứng đòi hỏi của các phe này bằng cách vận động Quốc Hội ban hành những quyết định có lợi cho họ và bằng cách ban hành những lụât lệ hành chánh trong phạm vi quyền hạn để thỏa mãn những yêu sách của họ. Cũng vì thế mà chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy trong những năm tại chức, Tổng Thống Bush (con) đã làm nhiều việc thất nhân tâm. Đó là:

Thứ nhất là việc đem quân tấn công Iraq nói là “thánh chiến” và bất chấp cả việc Liên Hiệp Quốc không tán thành. Nhiều người cho rằng việc làm này của Tổng Thống Bush con là để đáp ứng sự đòi hỏi của giới tư bản dầu lửa (muốn nắm quyền kiểm soát dầu lửa của Iraq) và đáp ứng đòi hỏi của Nhà Thờ vì rằng chính Tống Thống Bush đã thốt ra từ ngữ “thánh chiến” (crusade) trong lời tuyên bố khi cho xuất quân tấn công Iraq vào tháng 3 năm 2003. Hậu quả là:

1.- Thế giới Hồi giáo vốn đã thù ghét Mỹ và thù ghét các nước theo đạo Ki-tô lại càng trở nên thù ghét Mỹ và các nước theo đạo Ki-tô nhiều hơn.

2.- Nước Nga giật mình lo sợ vì thái độ cũng như những hành động trịch thượng và hiếu chiến của Hoa Kỳ. Họ quay ra tăng cường ngân sách quốc phòng, dồn nỗ lực vào việc nghiên cứu để cải tiến vũ khí hạch nhân và hỏa tiễn. Tình trạng này khiến cho chiến tranh lạnh hầu như là đã lờ mờ tái phát.

3.- Trung Hoa cũng giật mình và cũng có tâm trạng như nước Nga, cũng phản ứng như nước Nga, cũng tăng cường ngân sách quốc phòng, cũng đẩy mạnh kế họach cải tiến vũ khí và hệ thống phòng thủ như nước Nga, và họ cho tăng cường đóng tầu ngầm.

4.- Uy tín của Hoa Kỳ đối với quốc tế xuống giốc thảm thương và nhân dân thế giới mất cảm tình đối với nước Mỹ và người Mỹ.

5.- Phung phí nhiều tỉ Mỹ kim vào cuộc chiến không cần thiết. Tình trạng này khiến cho chính quyền của Tổng Thống Bush không những đã tiêu phí hết sạch số tiền thặng dư của chính quyền tiền nhiệm thời Tổng Thống Clinton với dự tính nếu cứ theo như thời Tổng Thống Clinton thì số tiền thăng dư sẽ lên tới 5.6 ức (5,600 tỉ) trong thập niên tiếp theo đó, mà còn làm cho ngân quỹ quốc gia thiếu hụt vượt kỷ lục. Riêng tài khóa 30/9/2007-30/7/2008, số tiền thiếu hụt lên tới 454.8 tỉ Mỹ kim:

Số tiền thâm thủng trong ngân sách của chính quyền liên bang đã lên tới 454 tỉ 8 triệu khi mà thị trường nhà ở bị suy sụp và những nỗ lực cứu vãn nên kinh tế khiến cho ngân quỹ liên bang thiếu hụt lên đến mức cao nhất trong lịch sử.

Ngày Thứ Ba (14/10/2008) chính quyền Tổng Thống Bush nói rằng số tiền thiếu hụt trong tài khóa chấm dứt vào ngày 30/9/2008 lớn hơn gấp hai lần 161.5 tỉ của tài khóa 2007 và vượt kỷ lục trước kia vào năm 2004 là 413 tỉ. Các kinh tế gia tiên đoán năm tới còn tệ hơn nhiều nữa….Một số các nhà chuyên môn phân tích về kinh tế cho rằng số tiền thâm thủng trong năm tới có thể lên đến trên 700 tỉ, để lại trách nhiệm cho vị tổng thống kế nhiệm phải đương đầu với một thử thách hết sức là ghê gớm.

Đảng Dân Chủ cho rằng ngân sách quốc gia lâm vào tình trạng thiếu hụt như vậy là do chính sách kinh tế của chính quyền của Tổng Thống Bush gây ra. Họ cũng lưu ý rằng khi ông Bush nhậm chức vào tháng 1/2001, ngân quỹ quốc gia thặng dư và với dự tính nếu cứ theo như thời Tổng Thống Clinton thì số tiền thăng dư sẽ lên tới 5.6 ức (5,600 tỉ).

Ông Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách tại Hạ Viện là Dân Biểu John Spratt (Dân Chủ, Tiểu Bang Soth Carolina) nói rằng “Trong tám năm của chính quyền Tổng Thống Bush có tới 5 năm thâm thủng lớn nhất trong lịch sử. Món nợ này sẽ truyền lại cho con cháu chúng ta phải gánh chịu.”

(“The federal budget deficit has soared to $454.8 billion as housing collapsed and efforts to combat the economic slowdown pushed the tide of government red ink to the highest level in history.

The Bush administration said Tuesday (Oct. 14/2008) that the deficit for the budget year that ended Sept. 30 was more than double the 161.5 billion recorded in 2007. It surpassed the previous record of 413 billion set in 2004. Economists predicted a far worse number next year.

Some of analysts believe that next year’s deficit could easily top $700 billion, giving the next president a formidable challenge.

Democrats said the administration’s economic policies were responsible for the growing deficit. They noted that when Bush took office in 2001, the budget was in surplus with projections that total surpluses over the next decade would reach $5.6 trillion…

“The eight years of this administration will include the five biggest budget deficits in history, “said House Budget Committee Chairman John Spratt, D.S.C. “The resulting debt will be passed to our children and grandchildren.”Martin Crutsinger (The Associated Press). “U.S. deficit for year sets record at $454.8 billion.”[139]

6.- Hơn 4000 quân nhân Mỹ bị thiệt mạng, nhiều chục ngàn quân nhân khác bị tàn phế vì thương tật, hàng trịệu lương dân Iraq bị sát hại và bị thương tật, không biết bao nhiêu nhà cửa và các công trình kiến trúc của nước Iraq bị tàn phá, không biết bao nhiêu di sản văn hóa vị thiêu hủy. Quan trọng nhất là một thư viện trung ương ở kinh thành Baghdad của Iraq chứa đựng không biết bao nhiêu tài liệu sử vô cùng quý giá bị cướp phá và thủ tiêu (giống như những trường hợp hàng triệu tài liệu sử bị Nhà Thờ Vatican cướp phá và bị thủ tiêu trong các cuộc chiến thập tự trong thời Trung Cổ ở Âu Châu và Cận Đông, ở Mỹ Châu trong thế kỷ 16 và ở Việt Nam trong thế kỷ 19 (Chùa Bảo Thiên ở Hà Nôi, Chùa Lá Vằng ở Quảng Trị và nhiều thứ khác.)

7.- Kinh tế và tài chánh bị suy thoái ghê gớm.

7a.- Nhiều nhà ngân hàng bị phá sản.

7b.- Cổ phần đầu tư tụt giá thảm thương và thị trường chứng khóan lâm vào tình trạng khủng hỏang trầm trọng.

7c.- Thị trường nhà cửa bị xuống dốc thảm thương.

7d.- Giá dầu xăng tăng vọt từ trên 2 Mỹ kim 1 gallon lên trên 4 Mỹ kim (100%).

7e..- Giá cả chuyển vận hàng hóa cũng tăng theo với giá dầu xăng.

7f.- Đời sống trở nên mắc mỏ (ăn uống, nhà ở, di chuyển) cũng tăng theo.

7g.-Tiền dành dụm của người về hưu bị hao hụt vì lạm phát và giá sinh họat lên cao.

7h.- Con số người thất nghiệp lên cao nhất trong 26 năm qua.

7i.- Uy tín Đảng Cộng Hòa, Phe Bảo Thủ và Nhà Thờ, xuống thấp hơn bao giờ hết (vi đảng Cộng Hòa là hiện thân cho phe bảo thủ và liên kết chặt chẽ với Nhà Thờ).

7j.- Tổng Thống Bush trở thành một vị tổng thống unpopular (thất dân tâm) nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Con số được người dân Mỹ mến thương hay ủng hộ ông xuống tới 27%, và 75% dân chúng Hoa Kỳ nói rằng việc ông Bush rời khỏi chính quyền là niềm vui sướng của họ. Sự kiện này được bản tin về cuộc thăm dò dư luận quần chúng trong mấy ngày 19 đến ngày 21 tháng 12/2008 của hãng CNN/ Opinion Reasearch Corp được tờ The News Tribune tại thành phố Tacoma (Washington) ghi nhận rõ ràng như sau:

Con số này là con số chót trong một loạt con số thăm dò. Theo viện Gallup thì có 29 phần trăm dân chúng chấp thuận việc làm của Tổng Thống Bush. Theo kết quả cuộc thăm dò trong những ngày 19-21/12/2008 của hãng CNN/ Opinion Reasearch Corpy đưa ra trong ngày Thứ Sáu (26/12/2008), thì chỉ có 27 phần trăm dân chúng chấp nhận những việc làm của ông Bush, và 75 phần trăm dân chúng nói rằng việc ông rời khỏi chính quyền là niềm sung sướng của họ.” (“The number was the latest in a serie. Bush’s Gallup job approval rating was 29 persent, and a CNN/ Opinion Reasearch Corp survey taken Dec. 19-21 and released Friday put the figure at 27 percent. Seventy five percent sai they’re glad that Bush is leaving.”) David Lightman. “Obama clobbers Bush for most-admired title.”[140] .

Trước ông, đã có một vị tổng thống chỉ được có 37%, người viết không nhớ rõ là vị tổng thống nào.

7k.- Buồn hơn nữa cho ông, ngày Chủ Nhật 14/12/2008, khi đang ngồi trên bàn trong một cuộc họp báo nhân dịp ông đến thăm bất ngờ tại Kinh Thành Baghdad, ông bị một ông nhà báo người Iraq ném giầy xúyt trúng vào mặt ông, liên tiếp như vậy tới hai lần. Sự kiện này được tất cả các cơ quan truyền thông truyền hình, truyền thanh và báo chí khắp mọi nơi trên thế giới đều loan truyền. Bài báo có tựa đề là “Flying shoes set Mideast abuzz” (Những chiếc giầy bay làm cho cả Trung Đông vang động) đăng trong trang nhất và trang sau tờ The News Tribune ngày Thứ Ba 16/12/2008 trong đó có một đọan như sau:

Khi Tổng Thống Bush đang nói, thì al-Zeidi (một phóng viên nhà báo) cách đó 12 bộ (gần bốn thước) đứng thẳng lên, dơ cánh tay phải ném chiếc giầy thẳng vào đầu tổng thống và la lớn bẳng tiếng Á Rập: “Đây là một món quả của người dân Iraq; đây là cái hôn tiễn biệt mày, thằng chó.” Tổng Thống Bush đã tránh né khéo léo, và chiếc giầy đã không trúng mục tiêu. Mấy giây sau, người phóng viên nhà báo này lại ném chiếc giầy khác vào tổng thống với một sức mạnh toàn lực và la lớn: “Đây là môt món quà của những người góa phụ, của những trẻ em mồ côi và của những người bị sát hại ở Iraq.” Lần này, chiiếc giầy bay qua đầu tổng thống.”

(“As Bush was speaking, al-Zeidi rose abruptly from 12 feet away, reared his right arm and fired a shoe at the president’s head while shouting in Arabic: “This is a gift from the Iraqis; this is the farewell kiss, you dog. Bush deftly ducked and the shoe narrowly missed him. A few second later, the journalist tossed his other shoe, again with the great force, this time shouting, “This is from the widows, the orphans and those who were killed in Iraq!”. Again the shoe sailed over the president’s head.”) [141]

Những việc làm thất nhân tâm trên đây đã khiến cho nhân dân Hoa Kỳ vô cùng bức xúc và hết sức bất mãn đối với cả cá nhân Tổng Thống Bush cũng như đối với chính quyền của ông và đối với Đảng Cộng Hòa. Sự kiện này được thể hiện qua kết quả cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội trong tháng 11/2008. Kết quả của kỳ bầu cử này vừa là một bằng chứng rõ ràng nhất cho sự tụt giốc của Đảng Cộng Hòa mà không ai có thể phủ bác được. Dưới đây là một bản văn nói về nỗi bức xúc và lòng bất mãn của người dân đối với chính quyền của Tổng Thống Bush và Đảng Cộng Hòa đăng trong tờ The News Tribune (Tacoma, Washington) ngày 3/12/2008) với nguyên văn như:

Tham khảo bài xã luận “Lời yêu cầu rời khỏi Iraq? Sung sướng được chấp nhận” (đăng ngày 19/11/2008).

Bài xã luận nói rằng người Iraq yêu cầu quân đội Mỹ rút lui khỏi Iraq là một bằng chứng cho sự thành công của sứ mệnh Hoa Kỳ: “Rằng Iraq đã đạt đuợc tới mức này trong việc đối đầu với tình trạng hết sức chênh lệch, là một sự chiến thắng của quân đội Hoa Kỳ..

Là một công dân và cũng là một cựu chiến binh, trách nhiệm của tôi là nói lên tiếng nói chống lại sự bóp méo sự thật một cách trắng trợn này. Việc xâm lăng nước Iraq là bất hợp pháp và chỉ có thể biện minh bằng những lời nói láo. Về phương diện đạo lý và lương tâm, cuộc chiến này đã làm cho nhân dân thế giới mất cảm tình và nguời Hoa Kỳ cảm thấy nhực nhã, trong đó có tôi.

Cuộc chiến này đã làm cho một triệu lương dân Iraq bị thiệt mạng, làm cho hơn 3 triệu người mất nơi ăn chốn ở, đã tàn phá xã hội Iraq và đã đưa ra những phương cách tra tấn nạn nhân (một cách hết sức dã man) như là một chính sách chính thức của Hoa Kỳ. Người Iraq nổi lọan để chống lại những hành động tàn ác này có phải là chính đáng không?

Đồng thời, cuộc chiến này cũng trực tiếp làm thiệt hại cho Hoa Kỳ. Tốn phí cho cuộc chiến này lên đến hơn 3 tỉ Mỹ kim. Cùng với những cái chết thảm thương của quân lính chúng ta, còn có ít nhất là hơn 30 ngàn quân nhân bị thương, trong đó có tới 20 phần trăm bị thương trầm trọng ở não bộ. Và cuộc chiến này còn khiến cho có thêm nhiều quân khủng bố nhắm vào người Mỹ.

Hơn nữa, cái “sứ mạng” Hoa Kỳ kiểm soát dầu lửa ở Iraq qua việc thiết lập các căn cứ quân sự vĩnh viễn và tòa đại sứ lớn nhất chưa từng có đã không bao giờ hoàn thành. Tổng Thống Bush đã phải thừa nhận sự thất bại này.”

(“Re: An invitation to leave Iraq? Gladly accepted” (editorial 11/19 (2008).

The editorial states that the Iraqi demand for the withdrawal of American troops is a testimony to the success of the mission: “That Iraq has gotten this far, in the face of of such deadly odds, is a triumph of American arms.”

As a citizen and a veteran, it is my responsibility to speak out against this gross distortion. The invasion of Iraq was illigal and was justified by lies. It caused moral outrage around the world and shame among many Americans, including myself.

It also caused a million innocent civilian deaths, the displacement of 3 million more, the devastation of Iraq society and helped introduced torture as an official American policy. Wasn’t the Iraqi insurrection a legitimate response to this brutality?

The war also directly hurt America. The economic cost of the war could exceed $3 trillion. Along with the tragic deaths of our soldiers, there were at least 30,000 wounded, 20 percent with serious brain injuries. And the conflict helped create more anti-American terrorists .

Furthermore, the “mission” – American control of Iraqi oil through establishment of permanent bases and the largest embassy ever – was never accomplished. President Bush has had to accept failure.”[142]

Thứ hai là việc chính quyền ban hành quyết định cho các gia đình ngoan đạo gửi con em theo học các trường học của Nhà Thờ được khấu trừ tiền học phí vào lợi tức hàng niên khi tính thuế. (Trước kia không được như vậy, vì đã có các trường công lập rồi.) Hệ quả của việc làm này là:

1.- Nhà Thờ có thêm lợi nhuận để tiếp tục thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ đúng theo ý muốn cúa nhà thờ. Nhà Thờ vừa được thâu học phí của học sinh có ghi tên theo học, vừa được lính tiền của chính quyền chi phì cho học sinh tính theo sĩ số. Vào niên khóa 2007-2008, số tiền chính quyề chi phí cho mỗi học sinh ở bậc tiểu và trung học lên đến hơn 5 ngàn Mỹ kim.

2.- Tiền chi phí giáo dục cho học sinh tại các trường công lập bị cắt giảm theo sĩ số nghỉ học vì đã ghi danh trong các trường đạo. Tình trạng này khiến cho những khỏan tiền chi cho các trường công lập (qua các school districts) bị giảm thiểu đi nhiều. Một sự thiệt thòi lớn lao cho các em học sinh trường công lập.(Như vậy là gây bất mãn trong nhân dân).

Thứ ba, vận động quốc hội giảm thuế cho giới đại tư bản. Hậu quả là:

1.- Những người giầu có trở nên giầu có hơn.(Làm hài lòng những người giầu có.)

2.- Giới trung lưu phải è cổ đóng thuế nhiều hơn để bù đắp vào chỗ thiếu hụt thâm thủng gây ra do việc giảm thuế cho giới người giầu có. Như vậy là làm cho giới trung lưu bất mãn. Giới này chiếm tới trên 60% dân số.

3.- Các chương trình giúp đỡ cho những người nghèo, những người già cả và những người tàn tật bị cắt giảm. (Làm cho giới người nghèo và người già bất mãn.)

Thứ tư, chính quyền tìm cách cho nghỉ ngang xương tới 8 ông tòa liên bang bị các phe bảo thủ và nhất là Nhà Thờ không ưa để thay thế bằng những người của họ. Sự kiện này được Wikipedia, the free encyclopedia ghi nhận như sau:

Ngày 7/12/2007, Bộ Tư Pháp cho biết việc cho nghỉ việc 7 vị thẩm phán tòa án liên bang được cứu xét sau khi Tổng Thống Bush đã quyết định họ phải từ chức. Một người nữa là ông Bud Cumminns cũng đã được thống báo trước đó là sẽ bị cho nghỉ việc vào tháng 6/2006 và ông này cũng đã tuyên bố sẽ từ chức vào ngày 15/12/2006. Việc từ chức của ông có hiệu lực vào ngày 20/12/2006.” ( “On December 7 2006, seven United States Attorneys were notified by United States Department of Justice that they were being dismissed, after the George W. Bush Administration to seek made the determination to seek their resignations. One more Bud Cumminns, who had been informed of his dismissal in June 2006, announced his resignations on December 15, 2006, effective on December, 20 2006…”)[143]

Việc làm này bị đưa ra Quốc Hội điều tra. Ủy Ban Tư Pháp tại Thượng Viện đã tìm ra đủ bằng chứng cho thấy rằng hành động cho các ông tòa Liên Bang trên đây nghỉ việc ngang xương như vậy là không có cơ sở pháp lý. Hậu quả là ông Tổng Trưởng Tư Pháp Alberto Gonzales (gốc Mễ, tín đồ Ca-tô) buộc phải đệ đơn xin từ chức vào ngày 17/9/2007.

Trên đây là tất cả những hành động thất nhân tâm của chính quyền Tổng Thống Bush (con) nói riêng và của Đảng Cộng Hòa nói chung. Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy sở dĩ chính quyền Cộng Hòa của Tổng Thống Bush (con) có những hành động thất nhân tâm như vậy là vì chính quyền này đã liên kết với các thế lực giầu có và Nhà Thờ (cũng là bảo thủ).

Ai cũng biết rằng từ ngàn xưa Nhà Thờ và phe bảo thủ luôn luôn có chủ trương chống lại chiều hướng tiến bộ của nhân lọai, muốn lôi kéo nhân lọai sống lại cái thời phong kiến độc tài chuyên chính ở Âu Châu trước thời Cách Mạng Pháp 1789. Cho nên ngày nay, cái chủ trương này của Nhà Thờ và phe bảo thủ vẫn còn nguyên vẹn như xua, không có gì thay đồi. Dĩ nhiên là nhânh dân bất kỳ quốc hia nào cũng chống lại mãnh liệt cai chủ trương phong kiến, phản động, phản tiến hóa và lạc hậu này. Cũng vì thế mà bất kỳ thế lực nào cấu kết với Nhà Thờ và phe bảo thủ với mưu đồ làm sống lại cái chủ trường ghê tởm này, dù là dưới hình thức nào, cũng bị nhân dân thù ghét, ghê tởm và tránh xa như tránh hủi.

Trong 8 năm qua (2000-2008), chính quyền Tổng Thống Bush (con) của Đảng Cộng Hòa đã liên kết chặt chẽ với các phe Nhà Thờ, phe bảo thủ và phe tư bản. Cũng vì cấu kết với các phe này, chính quyền Cộing Hòa của Tổng Thống Bush (con) đã làm nhiều điều đi ngược với lòng dân như trên đã trình bày ở trên. Vì thế, nhân dân Hoa Kỳ vô cùng bức xúc, cực kỳ bất mãn với Tổng Thống Bush (con) và Đảng Cộng Hòa. Chính vì thế mà Tổng Thống Bush (con) mới trở thành vị tổng thống thất nhân tâm nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ và đại khối nhân dân thuộc giới trung lưu và dân nghèo mới mất hết niềm tin đối với Đảng Cộng Hòa. Vì lẽ này mà trong kỳ bầu cử tháng 11/2008 vừa qua, Đảng Cộng Hòa bị thất bại thảm thương nhất, chưa từng thấy trong lịch sử bầu cử Hoa Kỳ, và ứng cử viên Tổng Thống của Đảng Dân Chủ (mặc dù là người da đen) đã chiến thắng vô cùng hiển hách với số phiếu cử tri đòan nhiều gấp 2 lần ruỡi so với số phiếu cử trị đoàn của ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa, và số phiếu nhân dân dồn cho ứng cử viên Đảng Dân Chủ nhiều hơn ứng cứ viên của Đảng Cộng Hòa hơn 8 triệu phiếu.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bầu cử tổng thống Hòa Kỳ, một người da đen được Đảng Dân Chủ tuyển chọn làm ứng cử ra tranh chức tổng thống với ứng cử viên người da trắng của Đảng Cộng Hòa và lại thắng cử vẻ vang và hiển hách như vậy. Điều này làm cho chúng ta suy nghĩ:

1.-Phải chăng những hành động cấu kết với Nhà Thờ đã khiến cho nhân dân Hoa Kỳ hết sức thù ghét Đảng Cộng Hòa cho nên chính đảng này mới phải gánh chịu thảm bại đau thương như vậy?

2.- Phải chăng vì Đảng Cộng Hòa vì đã cấu kết khắng khít với Nhà Thờ cho nên tuyệt đại đa số nhân dân Hoa Kỳ là dân Da Trắng dù là vẫn còn mang nặng tinh thần kỳ thị chủng tộc, nhưng họ phải quyết định thà rằng bỏ phiếu bầu cho một ứng cử viên người Da Đen còn hơn là bầu cho một ứng cử viên Da Trắng để rồi phải gánh chịu cái thảm họa khốn khổ của Nhà Thờ mà nhân lọai đã phải dẫy dụa cả hàng ngàn năm qua mới thóat ra khỏi?

Tái Ông Thất Mã. Trong cái rủi nẩy sinh ra cái may. Cũng vì những hành động cấu kết với Nhà Thờ và phe Bảo Thủ một cách trắng trợn như đã nói ở trên, cho nên mới bừng tỉnh dậy và quyết định rằng, "Thà có một ông Tổng Thống người Da Đen còn hơn là có một ông Tông Thống người Da Trắng của Đảng Cộng Hòa có chủ trương cấu kết chặt chẽ với Nhà Thờ." Sự kiện này cho chúng ta thấy rẳng bức tuờng kỳ thị chủng tộc nằm ở trong lòng của tuyệt đại đa số ngườii dân Hoa Kỳ đã bị chính họ phá vỡ để đưa một ứng cử viên người Da Đen lên nắm giữ vai trò lãnh đạo đất nước và nắm quyền chỉ huy tối cao của một đạo quân hùng mạnh nhất trên thế giới trong thời đại tin học này. Điều này chứng tỏ rằng, người dân Hoa Kỳ cũng khinh bì, căm phẫn và thù ghét Nhà Thờ không thua gì người Âu Châu, người Trung Đông và các dân tộc thuộc địa của các đế quốc thực dân xâm lược Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp ở các lục địa Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Sự kiện toàn thể nhân dân thế giới khinh bì, căm phẫn và thù ghét Nhà Thờ Vatican được ghi lại rõ rang trong sách sử. Sách "Vatican Thú Tội và xin Lỗi?” viết:

Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng! v.v… .” Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? ( Garden Grove , CA : Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.

Sở dĩ nhân dân thế giới thù ghét Nhà Thờ Vatican như vậy là vì Giáo Hội La Mã luôn luôn theo đuổi chủ trương "tôn giáo chỉ đạo chính quyền" và chính sách bất khoan dung cực kỳ bạo ngược, cực kỳ dã man đối với nhân dân dưới quyền, đặc biệt là đối với các thành phần thuộc các tôn giáo và văn hóa khác. Vấn đề này đã được trình bày tương đối đầy đủ trong Điều 12 trong Phần II ở trện. Nói đến chính sách bạo ngược đối với nhân dân, người viết nhớ lại trong sách Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện Hà Chính Mãnh Ư Hổ. Chuyện như sau:

/

"Đức Khổng Tử sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bàn khóc ở ngòai đồng, nghe thê thảm lắm. Ngài nói rằng:""Người đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang." Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng:

"Ở đây có lắm hổ, Chồng tôi đã chết vì hổ. Bây giờ con tội cũng lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ!"

Thày Tử Cống bảo: The sao không bỏ chỗ này đi chỗ khác?

Người đàn bà nói. Tuy vậy, nhưng ở đây, chính sách quan tren không đến nỗi hà khắc, tàn bạo như các nơi khác."

Thày Tử Cống đêm câu chuyện thưa lại với Đức Khổng Tử. Đức khổng Tử nói: "Các người nhớ đây: Chính sáchhà khắc khốc hại hơn là hổ!" Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc & Tử An Trần Lê Nhân, Cổ Học Tinh Hoa - Quyển Thư Nhất (Glendale, CA: Nhà Xuất Bản Tinh Hoa Miền Nam, 1980?), tr. 165-166.

Câu chuyện Hà Chính Mãnh Như Hổ trên đây, cho chúng ta thấy người đàn bà nước Tề nói riêng và ngườ dân bị trị nói chung, sợ chính quyền hà khắc đến nỗi người ta thà sống chung với cọp còn hơn là sống dưới ách thống trị của một chính quyền hà khắc. Tương tự như vậy, từ đầu thế kỷ 16, nhân dân Âu Châu ngày xưa thà bỏ Âu Châu sang Mỹ Châu lập nghiệp ở xứ là quê người còn hơn là ở lại với quê hương đất tổ ở Âu Châu nằm dưới ách thống trị của Nhà Thờ Vatican. Sự kiện này đã được sách sử ghi lại rõ ràng . Trong bài viết Bài Học Chiến Tranh Việt Nam Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ, tác giả Lương Minh Sơn viết:

"Đối với Hoa Kỳ, mặc dù là đất nước được gây dựng trên nền tảng luân lý và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa, tổ tiên người Hoa Kỳ đã từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Tòa Thánh La Mã trong thời kỳ "Inquisition". Thành thử Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời mọi sự liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải chỉ vì trình độ ý thức chính trị cao, mà còn là những kinh nghiệm đau đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đã cấm bang giao với Cộng Sản Trung Quốc trong 23 năm, với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm, thì Hoa Kỳ cũng đã từng cấm bang giao với Vatican trong 117 năm (18867-1964)." Lê Hưu Dản, Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sử 1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr. 28.

Với kinh nghiệm này của tổ tiên và 8 năm kinh nghiệm của chính bản thân họ với chính quyền Cộng Hòa của Tổng Thống Bush (con) cấu kết với Nhà Thờ trong mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử, lọai bỏ các ông tòa Liên Bang có những đức tính cao quý như công minh, liêm chánh, vô tư để thay thế bằng những ông Tòa có quan điểm bảo thủ của phe Nhà Thờ hầu chuẩn bị cái thế tư pháp vào khi cần phải phân xử những vụ án tương tự như Vụ Án Con Khỉ (sẽ được trình bày trong một tiết mục ở sau trong Phần VI này), nhân dân Hoa Kỳ mới quyết định phải phá vỡ bức tường thành kỳ thị chủng tộc đã có từ ngày mới lập quốc, để thà có một ông Tổng Thống người Da Đen còn hơn là phải sống thêm ít nhất là 4 năm nữa với một ông tổng thống Da Trắng của Đảng Cộng Hòa luôn luôn cấu kết với cái thế lực mà văn hào Voltaire gọi là "cái tôn giáo ác ôn" và học giả Henri Guillemin gọi là "Cái Giáo Hội Khốn Nạn"..

Trên đây là cái nhìn của người viết về Giáo Hội La Mã. Nếu các nhà trí thức Ca-tô có căn bản về sử học thấy rằng không đúng hay sai trái chỗ nào, xin lên tiếng chỉ giáo và gửi về sachhiem.net để phổ biến cho mọi người cùng đọc và nhận xét. Người viết cũng mong quý độc giả trong đạo Ca-tô cũng như quý vị thuôc các tôn giáo khác hay không thuộc tôn giáo nào lên tiếng góp ý và gửi bài về sachhiem.net để phổ biến cho rộng đường dư luận.

Động lực nào đã khiến cho chính quyền Tổng Thống Bush bãi chức các ông tòa Liên Bang môt cách hết sức phi lý như vậy?

Thiết tưởng mọi người chúng ta đều thắc mắc TẠI SAO chính quyền của Tổng Thống Bush lại có hành động thay thế những ông tòa (liên bang) cấp tiến bằng những người của phe bảo thủ (đúng hơn là của Nhà Thờ)?

Để có thể hiểu rõ vấn đề khúc mắc này, trước hết chúng ta cũng nên biết mấy điều sau đây:

1.- Chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ có chủ trương thi hành chính sách giáo dục tự do, khai phóng và đại chúng.

2.- Việc làm luật về giáo dục, việc làm chương trình giáo dục, việc tuyển mộ giáo chức, tuyền mộ nhân viên nhà trường và quản trị nhân viên trong ngành giáo dục được giáo phó cho các nha học chánh (school districts) trong các tiểu bang, nhưng các luật về giáo dục không được trái với Hiến Pháp Hoa Kỳ đã qui định.

3.- Tại các nha học chánh, việc chọn môn học và biên sọan chương trình học được giao phó cho các tiểu ban chuyên môn đặc trách, nhưng phải được sự chấp thuận của hội đồng giáo dục của Nha Học Chánh (Board of School District).

4.- Hội đồng giáo dục của các nha học chánh địa phương thường thường gồm khoảng 5 người do các phu huynh học sinh tuyển chọn từng nhiệm kỳ (từ hai đến 3 năm tùy theo từng địa phương) qua một cuộc bầu cử.

Đã từ lâu, không biết từ bao giờ, các chương trình giáo dục của các nha học chánh tại các địa phương đều dạy thuyết tiến hóa (theory of evolution hay evolutionism) của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882). Rồi từ năm 1960, lại có luật cấm, không cho các trường công lập được dạy các tín lý Thiên Chúa Giáo. (Nếu dạy tín lý Ki-tô là vi hiến vì đi ngược với tinh thần của Tu Chính Hiến số 1.)

Ai cũng biết rằng thuyết Tiến Hóa làm vô hiệu hóa thuyết sáng tạo (creationism), cái xương sống của hệ thống tín lý Ki-tô. Vì thế mà Nhà Thờ rất bức bội và hết sức tức giận. Do đó, họ tìm cách chống lại việc cấm dạy giáo lý Thiên Chúa Giáo và chống luôn cả việc dạy thuyết tiến hóa.

Họ chống lại bằng cách nào?

Xin thưa, họ chống lại bằng nhiều cách, và phương cách chống cũng tùy theo hoàn cảnh hay tình hình chính trị hoặc thế đứng của Nhà Thờ Vatican trong xã hội hay đối với chính quyền (là con cừu, con cáo hay con cọp). Dưới đây là mấy phương cách khác nhau mà Nhà Thờ Vatican đã sử dụng để đã đạt được mục này của họ:

A.- Tại Hoa Kỳ (Nhà Thờ Vatican vừa là con cừu và cũng là con cáo):

Một mặt, họ tìm cách sửa đổi cái vỏ bề ngoài của thuyết sáng tạo hay thuyết tạo dựng (creationism) thành một thuyết mới có danh xưng là Thiết Kế Thông Minh (Theory of Intelligent Design) (Bình mới rượu cũ). Mặt khác, họ vận động các nhà làm luật tại các tiểu bang và nhân viên trong hội đồng giáo dục tại các nha học chánh địa phương để loại bỏ thuyết tiến hóa ra khỏi chương trình học và thay thế vào đó bằng thuyết Thiết Kế Thông Minh. Thủ đọan này đã giúp cho họ thành công ở một vài tiểu bang, nhưng bị một số đông phụ huynh, giáo chức dạy môn khoa học, các hội khoa học chống lại và nộp đơn kiện các tiểu bang đã cho phép dạy thuyết Thiết Kế Thông Minh hay đã cấm, không cho dạy thuyết tiến hóa. Tất cả các vụ kiện như vậy đều phải được đưa lên tòa án Liên Bang phân xử. Nếu các ông tòa Liên Bang là người của phe Nhà Thờ, thì cán cân công lý sẽ nghiêng về phe Nhà Thờ. Nếu các ông tòa Liên Bang không phải là người của Nhà Thờ, thì kết quả của các vụ án này sẽ tùy thuộc vào sự sáng suốt và vô tư của các ông tòa. Vì thế phe Nhà Thờ (cũng là phe bảo thủ) cần phải có các ông tòa Liên Bang là người của họ.

Trong quá khứ đã xẩy ra nhiều vụ kiện như vậy. Tình trạng này được Bác-sĩ Nguyễn Văn Thọ ghi lại bằng một bản văn khá đầy đủ với nguyên văn như sau:

Ở Mỹ này, nhiều người theo Thiên Chúa Giáo cũng đã nhìn thấy cái nguy cơ. Họ cho rằng Darwin với thuyết Tiến Hóa đã làm giảm thiểu quang huy của Chúa trong sự tạo dựng, đã muốn “hạ bệ Thiên Chúa”, và đã hàm ngụ rằng trong vòng 2000 năm nay, những người theo Thiên Chúa Giáo đã bị lừa bịp bởi một lời nói láo vĩ đại.

Những người triệt để theo truyền thống cũ (fundamentalists) thuộc giáo phái Tin Lành, trong nhiều tiểu bang đã đứng ra bài xích khoa học và thuyết Tiến Hóa. Họ đã dùng ảnh hưởng của họ để bắt nhiều tiểu bang tìm cách ngăn chặn cấm đoán không cho dạy thuyết Tiến Hóa trong các trường trung tiểu học công cộng. Họ biết rằng nước Mỹ cấm, không cho dạy đạo giáo trong các trường từ năm 1960 trở đi. Họ kêu gọi những học giả, những nhà khoa bảng thành lập những hội nghiên cứu Thuyết Tạo Dựng theo khoa học. Những hội mệnh danh là Tạo Dựng Khoa Học đó có thể liệt kê như sau:

The American Scientific Affliation (ASA), thành lập năm 1941, gồm 3000 hội viên.

The Creation Research Society (CRS), thành lập năm 1963, ở Ann Arbor, Michigan. Có khoảng 500 họat động hội viên. Điều kiện nhập hội tối thiểu phải có bằng Cao Học về một bộ môn khoa học nào đó, và phải tin rằng Kinh Thánh hoàn toàn đúng, không hề sai lầm; chuyện Chúa tạo dựng nên muôn loài là có thực như Kinh Thánh đã ghi chép; Hồng Thủy toàn cầu là chuyện có thực.

The Creation Science Research Center (CSRC), có địa chỉ liên lạc với khỏang 210 ngàn người. Trong năm 1970, thường tổ chức những cuộc du ngọan thăm viếng núi Ararat, đi tìm lại chiếc tàu Noe. Giá tiền là $1,397 đi từ Nữu Ước.

The Institute for Creation Research (ICR) thành lập năm 1970, có đại bản doanh ở San Diego. Hội này họat động rất hăng say. Đã xuất bản 55 cuốn sách; đã có một nguyệt san là Acts and Facts gửi cho 60 ngàn độc giả. Họ cũng đã tổ chức nhiều chuyện thám hiểm núi Ararat vào những năm 1972, 73, 74, 75, nhưng hoặc thất bại, hoặc bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ ngăn chặn. Họ cho rằng đã có đủ bằng chứng để biết Tàu Noe có dung tích 567 toa xe lửa và có thể chứa khỏang 50 ngàn con vật.

The Genesis School of Graduate Studies ở Gainville, Florida.

The Bible Science Association

Scientific Creationism Association of Southern New Jersey.

The Creation Research Science Education Foundation Inc. ở Ohio.

The Triangle Association for Scientific Creationism in the Research Triangle, ở gần Raleigh, North Carolina.

The Missouri Asociation for Creation.

The Evolution Protest Movement (EPM), 1932, ở Anh.

The Newton Scientific Organisation, 1973, ở Anh, v.v..

Tuy thất bại liên tiếp, nhưng trong vòng mấy chục năm nay họ cố vận động đem thuyết Tạo Dựng Khoa Học vào giảng dạy trong các trường song song với thuyết Tiến Hóa. Cho đến bây giờ, tuy còn thất bại, nhưng họ thường xuyên vẫn dùng thế lực để kiểm soát các sách giáo khoa, không cho dạy thuyết Tiến Hóa một cách lộ liễu.

Chính vì vậy mới có vụ án John Thomas Scopes năm 1925 – mà ta vẫn thường gọi là “vụ án con khỉ.” – Tòa đã tuyên án phạt Scopes 100 ngàn Mỹ kimđã vi phạm luật tiểu bang Tennessee cấm giảng thuyết Tiến Hóa trong học đường.

Từ năm 1921 đến năm 1929, họ cũng đã vận động được 37 tiểu bang ban hành những luật chống dạy thuyết Tiến Hóa. Ví dụ như luật Mississipi (1926), Arkansas (1928), Texas (1929). Tuy nhiên, Tòa Án Liên Bang bao giờ cũng chủ trương Nhà Nước tách rời khỏi Giáo Hội, vì thế không cho giảng dạy tôn giáo trong các trường và đã phán các luật tiểu bang cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường trung tiểu học tòan quốc Mỹ là vi hiến.

Về phía khoa học, tức là về phía những người có trách nhiệm sọan thảo chương trình giảng huấn, ta có những cơ quan như sau:

National Science Foundation (NSF).

Biological Sciences Study (BSCS).

Man: A Course of Study (MACOS).

Education Development Center (EDC).

The American Institute of Biological Sciences (AIBS).

National Association of Biological Teachers (NABT).

Biological Sciences Curriculum Study (BSCS).

Ngoài ra còn có cơ quan American Civil Liberty Union bảo vệ tự cho người dân Hoa Kỳ.

Các chương trình học, các sách giáo khoa được sọan thảo theo tinh thần khoa học, và đều dựa trên thuyết Tiến Hóa. Đôi bên thường xuyên chống đối lẫn nhau. Phe Tiến Hóa nhân danh Khoa Học. Phe Tạo Dựng cũng đội lốt Khoa Học, cũng nhân danh Khoa Học như ai.

Tháng 2/1981, cơ quan American Civil Liberty Union kiện lên tòa án Liên Bang xin hủy luật 590 của tiểu bang Arkansas đã cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường. Tòa án Liên Bang Arkansas tuyên bố luật 590 là vi hiến.

Tháng 8/1892, William Willoughby (phái thủ cựu) kiện National Science Foundation, bắt cơ quan này cũng phải viện trợ cho chương trình Tạo Dựng, cũng y như đã viện trợ cho chương trình xuất bản sách của Biological Science Study (BSCS). Tòa án Liên Bang Washington miễn tố, vì lẽ các sách BSCS là sách “phần đời”. Phe Fundamentalists (bảo thủ) kháng cáo, cũng thua luôn.

Năm 1978, Liên Đòan Các Giáo Chức Giảng Dạy Sinh Lý Học (NABT) kiện tiểu bang Tennessee về đạo luật cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường học. Năm 1980, tòa Liên Bang xử luật đó là vi hiến.

Phái Tạo Dựng lại kiện Hội Đồng Giáo Dục California vì đã vi phạm quyền tự dio tín ngưỡng của con cái họ. Họ dắt con, dắt cái họ ra tòa, để các em khai là đã được giảng dạy rằng chúng là dòng dõi khỉ. Phía Hội Đồng Giáo Dục đã mời được những nhà khoa học thượng thăng ra để bênh vực và để biện minh cho thuyết Tiến Hóa. Quan Tòa lúc ấy là Irving Pertluss khuyến cáo Hội Đồng Giáo Dục không nên quá cứng rắn giáo điều, và nên tế nhị khi trình bày về nguồn gốc con người trong các sách giáo khoa. Phe Tạo Dựng coi đó là một thắng lợi của họ.

Mới hay, cho đến nay, sự tranh chấp giữa khoa học và tôn giáo vẫn còn rất gay cấn. Chính quyền Liên Bang thì luôn luôn chủ trương tôn giáo tách rời chính trị, tách rời học đường, và sẽ không bao giờ cho phép giảng dạy những gì xa gần có liên quan đên vấn đề tôn giáo trong các học đường. Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu nổi được tại sao những người mang tiếng là có những bằng cấp khoa học cao như vậy, cho đến này vẫn tin là chuyện Hồng Thủy toàn cầu. Một người bình thường nào đó cũng sẽ nhận ra rằng đó chỉ là một vụ lụt lớn trong vùng Sumeria (thuộc Tiểu Á mà thôi.)[144]

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ Nhà Thờ Vatican đã sử dụng đủ mưu mô, mọi phương cách để ngăn chặn, không cho học đường giảng dạy thuyết hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882). Trong một nước dân chủ tự do như ở Hoa Kỳ, nơi mà các quyền tự do tư tuởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến Pháp và luật pháp triệt để bảo vệ, và chính sách giáo dục tự do khai phóng và đại chúng đã trở thành quốc sách mà Nhà Thờ vẫn còn có những hành động ghê gớm như vậy.

B.- Tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 (Nhà Thờ là con cọp):

Tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, Nhà Thờ Vatican thực sự đã trở thành con cọp vì rằng ở đây, người lãnh đạo và chính quyền hoàn toàn do Liên Minh Mỹ - Vatican dựng nên và các vấn đề nội chính đều do Nhà Thờ Vatican chỉ đạo. Chính quyền có bổn phận phải tuân hành lệnh truyền của Nhà Thờ.. Vì vậy mà Nhà Thờ mới có thể gần như trực tiếp cấm không cho giảng lý thuyết này ở trong học đường và cũng không được phổ biến trong nhân dân. Đây là sự thật và sự thật này được tác giả bộ lịch sử thế giới là cụ Nguyễn Hiến Lê kể lại với nguyên văn như sau:

"Đầu niên khóa 1954-55 trong chương trình Trung Học Đệ Nhất Cấp có thêm môn Lịch- sử Thế-giới dạy trong 4 năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi phải chép "cua" (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ; ông viết hai cuốn giữa cho lớp đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in; năm 1955 in xong trước kỳ tựu trường tháng chín. Bộ (Lịch-sử Thế-giới) đó khá chạy, sau tôi nhường cho nhà Khai Trí tái bản.

Một chuyện đáng ghi là vì bộ (sử) đó mà năm 1956 tôi bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát (tôi) là "đầu óc đầy rác rưởi" chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là người Công Giáo.

Sau đó lại có một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ (lịch sử thế giới) đó vì trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài ông Giáo-hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cấp cử nhân tiếp xúc với tôi. Ông này nhã-nhặn khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như đọc bộ sử Pháp của Michelet; rồi nói rằng sách của tôi được bộ Thông Tin cho phép in, lại nạp bản rồi, thì không có lý gì tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông cáo cho các trường đừng dùng thôi: cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông ta. Ông ta lại hỏi lớp mẫu giáo của tôi đã được phép của bộ chưa. Tôi đáp: Đơn nộp cả năm rồi, giấy tờ đủ cả, tôi đã nhắc Sở Giáo Dục thành phố, mà người ta cứ làm thinh, không cho phép mà cũng không cấm. Ông ta chỉ gật đầu. Hồi đó bộ Lịch Sử Thế Giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó, trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết. Tôi không tái bản. Công Giáo thời đó lên chân như vậy. Nghe nói một ông tỉnh trưởng ở miền Tây không dám cho hội Phật Giáo cất chùa trong thị xã và bảo: "Công Giáo cất nhà thờ, bây giờ Phật Giáo cũng xin cất chùa, bộ các người muốn kình với Công Giáo hả?"

Một hôm bà láng giềng của tôi cho hay: "Ít lâu nay tôi thấy ngày nào cũng có một hai người ngồi ở quán cà phê bên kia đường nhìn về phía nhà thầy và nhà tôi như rình cái gì. Hôm qua một người vào nhà hỏi tôi: "Ông Lê ở nhà bên lúc này đi đâu mà không thấy?" Tôi đáp: "Ông ấy đau, nằm ở trong phòng, chứ đi đâu? Thầy cứ vô mà hỏi. Rồi họ đi". Vậy là mật vụ rình tôi mà tôi không biết. Vì tôi là công chức thời Pháp mà tản cư lâu quá, về lại không hợp tác với chính phủ Diệm, hay vì bộ Lịch Sử Thế Giới mà họ theo dõi như vậy? Có lẽ cả hai.

Hơn một chục năm sau, một giáo sư ở Huế vào thăm tôi, hỏi: "Tại sao hồi đó ông không làm đơn trình bày rằng ông đã dùng sách nào để viết về các ông giáo hoàng thời Trung Cổ đó, rồi xin cho bộ sử của ông được dùng trong các trường?" Tôi đáp: "Không khi nào tôi làm việc xin xỏ đó". Sau ngày 30-4-1975, giáo sư đó lại thăm tôi nữa, bảo: "Tôi phục tư cách của ông từ hồi đó". Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (Westminster, CA: Văn Nghệ,1986), tr. 99-101.

C.- Tại Kenya ngày nay (Nhà Thờ Vatyican là con cáo):

Tại quốc gia này, Nhà Thờ của Vatican không ở thế mạnh như ở miền Nam trong những năm 1954-1975, nhưng lại mạnh hơn ở Hoa Kỳ. Vì thế phương cách của Nhà Thờ cấm không cho phổ biến lý thuyết tiến hóa được thi hành dưới một hình thức đòi hỏi một cách ngược ngạo, chứ không thể ra lệnh cấm như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, và cũng không thể vận động các nhà làm luật để cấm hay đưa nội vụ ra tòa án xử lý như ở Hoa Kỳ. Sự đòi hỏi ngược ngạo này được các cơ quan truyền thông loan truyền như sau:

"Công Giáo Ở Kenya Muốn Chấm Dứt Triển Lãm Về Tiến Hóa Ở Viện Bảo Tàng

Bản tin Nairobi, Kenya (Wednesday, February 07, 2007)– Ở phía sâu trong những hành lang thiếu ánh sáng và đầy bụi bặm của viện bảo tàng quốc gia xứ Kenya người ta cất giữ một trong những di tích cổ xưa nhất của nhân loại trong một cái tủ đơn sơ. Đó là hài cốt của một em bé ở Turkana, một bộ xương đầy đủ nhất của người tiền sử mới tìm được.

Nhưng lần đầu tiên triển lãm Em Bé Turkana vào cuối năm nay sẽ gây nên một cơn giông tố càng ngày càng dữ dội, cơn bão của những nhà khoa học chống lại Phong Trào Truyền Giáo Đạo Ki-tô rất có thế lực và nổi tiếng ở quốc gia này.

Cuộc tranh luận về thuyết tiến hóa chống lại thuyết sáng tạo trước kia chỉ xẩy ra ở Hoa Kỳ thì bây giờ đã lan sang một quốc gia được coi là cái nôi của nhân loại.

Giám-mục Boniface Adoyo nói: “Bản thân tôi không tiến hóa từ Em Bé Turkana hay bất kỳ cái gì tương tự như vậy. Những thứ quan niệm điên rồ như vậy sẽ giết chết đức tin của chúng ta.” Giám-mục Boniface Adoyo là người đứng đầu 35 hệ phái truyền giáo mà ông cho rằng có tới 10 triệu tín đồ.

Ông ta kêu gọi đàn chiên của ông tẩy chay cuộc triển lãm này và ông đã yêu cầu phải đưa toàn bộ những di tích lịch sử này vào một căn phòng ở đằng sau viện bảo tàng và phải ghi lời chú giải rằng thuyết tiến hóa không phải là một sự kiện, mà chỉ là một trong những lý thuyết.

Chống lại ông giám mục này là ông Richard Leakey, một nhà sưu tầm hóa thạch nổi tiếng. Năm 1984, nhóm của ông đã khai quật được nhiều xương người ở Nariokotome trong vùng phía Tây Turkana, một nơi hoang vắng ở xa về phía Bắc nước Kenya.

Ông Leakey, người lập ra nhóm nghiên cứu người tiền sử của viện bảo tàng này, nói với Liên Hiệp Thông Tấn Xã rằng, "Bất kể là ông giám-muc Adoyo thích hay không thích, Em Bé Turkana có một liên hệ xa với ông ta. Ông giám mục được bắt nguồn từ loài vượn, và những xương hóa thạch đã nói lên việc ông tiến hóa như thế nào.”

Trong số 160 ngàn hóa thạch sẽ được đưa ra triển lãm có bộ xương của một lọai kỳ đà để lại trong đá trầm tích trước đây vào khỏang 200 triệu năm, lúc các lục địa của trái đất mới bắt đầu tách rời nhau.

Những xương hóa thạch của loài khủng long và một cái xương của một người thời tối cổ cách đây 7 triệu năm cũng sẽ được triển lãm cùng với những chiếc xương của loài hươu có cổ ngắn và loài voi có ngà ở hàm dưới.

Các nhà khoa học nói rằng các vật hóa thạch là tài liệu khó cạnh tranh và rõ ràng nhất về thuyết tiến hóa và về nguồn gốc con người.

Nhưng nổi bật nhất sẽ là Em Bé Turkana cao 5 bộ 3 phân Anh, chết vào lúc em 12 tuổi. Bộ xương của em bé này tồn tại trong vùng đầm lầy trước khi được tìm thấy.

Bộ xương này sẽ là tụ điểm của cuộc triển vào tháng 7 ở trong Viện Bảo Tàng Quốc Gia của nước Kenya sau khi Liên Hiệp Âu Châu tài trợ 10.5 triệu Mỹ kim để trùng tu viện bảo tàng này. Liên Hiệp Âu Châu nói rằng họ không quan tâm đến các cuộc triển lãm này, rằng viện bảo tàng có quyền tự do triển lãm những gì theo ý muốn của họ.

Tín đồ của thuyết sáng tạo tin tưởng vào "sự thật" ghi trong sách Sáng Thế Ký (Cựu Ước) nói rằng Chúa tạo ra vũ trụ trong 6 ngày. Giám-mục Adoyo tin rằng trái đất này được tạo ra vào thời điểm cách đây 12 ngàn năm, với con người xuất hiện vào khoảng 6 ngàn năm sau đó. Ông ta nói rằng một ngày trong thánh kinh tương đương với một ngàn năm ở trên trái đất.

Liên minh truyền giáo của Giám-mục Adoyo là nhóm tôn giáo độc nhất nói lên mối quan tâm về cuộc triển lãm này

Ông Leakey sợ rằng cuộc tranh luận về ý thức hệ này có thể gây ra một vụ tấn công vào bộ sưu tập vô giá này, một bộ sưu tập do song thân ông là ông bà Louis và Mary Leaky cũng là các nhà cổ sinh học đã tìm được trong thập niên 1920. Họ đã truyền lại cho ông cái truyền thống sưu tầm những vật hóa thạch.

Viện bảo tàng này hàng năm đã lôi cuốn vào khỏang 100 ngàn người khách viếng thăm, sẽ không hờ hỏng.

Em Bé Turkana sẽ được triển lãm trong một phòng riêng, với một phạm vi tiếp cận giới hạn qua những màn ảnh TV ở đằng sau những tấm kính và có nhân viên an ninh canh gác ở cửa vào.

Tiến sĩ Emma Mbua, giám đốc khoa cổ sinh vật học tại viện bảo tàng này nói: “có nhiều chuyện về vấn đề an ninh. Những hóa thạch này không thể thay thế được và chúng tôi không muốn có một cái gì xẩy ra cho những vật này.”

nói thêm, “Bảo hiểm cho những hóa thạch này lên đến hàng triệu Mỹ-kim.”

Tiến sĩ Mbua là một tín đồ Tin Lành, bà hơi ngạc nhiên về cuộc tranh luận nhưng sẵn sàng dung hòa đức tin của bà với những bằng chứng khoa học.

Bà Mbua đã điều hành phòng cổ sinh học này cho tới nay là 5 năm. Bà nói “Thuyết tiến hóa là một sự kiện. Em Bé Turkana là châu báu của chúng tôi. Lần đầu tiên chúng tôi đưa cái vật hóa thạch của chúng tôi ra một phòng có chấn song sắt trưng bày cho mọi ngươi trên thế giới được biết.

Dưới đây là nguyên văn bản tiếng Anh:

NAIROBI, Kenya — Deep in the dusty, unlit corridors of Kenya's national museum, locked away in a plain-looking cabinet, is one of mankind's oldest relics: Turkana Boy, as he is known, the most complete skeleton of a prehistoric human ever found.

But his first public display later this year is at the heart of a growing storm — one pitting scientists against Kenya's powerful and popular evangelical Christian movement.

The debate over evolution vs. creationism — once largely confined to the United States — has arrived in a country known as the cradle of mankind.

Click here to visit FOXNews.com's Evolution & Paleontology Center.

"I did not evolve from Turkana Boy or anything like it," says Bishop Boniface Adoyo, head of Kenya's 35 evangelical denominations, which he claims have 10 million followers. "These sorts of silly views are killing our faith."

He's calling on his flock to boycott the exhibition and has demanded the museum relegate the fossil collection to a back room — along with some kind of notice saying evolution is not a fact but merely one of a number of theories.

Against him is one of the planet's best-known fossil hunters, Richard Leakey, whose team unearthed the bones at Nariokotome in West Turkana, in the desolate, far northern reaches of Kenya in 1984.

"Whether the bishop likes it or not, Turkana Boy is a distant relation of his," Leakey, who founded the museum's prehistory department, told The Associated Press. "The bishop is descended from the apes and these fossils tell how he evolved."

Among the 160,000 fossils due to go on display is an imprint of a lizard left in sedimentary rock, dating back 200 million years, at a time when the Earth's continents were only beginning to separate.

Dinosaur fossils and a bone from an early human ancestor, dating back 7 million years, will also be on show along with the bones of short-necked giraffes and elephants whose tusks protrude from their lower jaws.

They provide the clearest and unrivaled record yet of evolution and the origins of man, say scientists.

But the highlight will be the 5-foot-3 Turkana Boy, who died at age 12 and whose skeleton had been preserved in marshland before its discovery.

It will form the center stage of the exhibition to be launched in July following a $10.5 million renovation of the National Museums of Kenya, financed by the European Union.

The EU says it has no concerns over the displays and that the museum was free to exhibit what it wished.

Followers of creationism believe in the literal truth of the Genesis account in the Bible that God created the world in six days. Bishop Adoyo believes the world was created 12,000 years ago, with man appearing 6,000 years later. He says each biblical day was equivalent to 1,000 Earth years.

Adoyo's evangelical coalition is the only religious group voicing concern about the exhibition.

Leakey fears the ideological spat may provoke an attack on the priceless collection, one largely found during the 1920s by his paleontologist parents, Louis and Mary Leakey, who passed their fossil-hunting traditions on to him.

The museum, which attracts around 100,000 visitors a year, is taking no chances.

Turkana Boy will be displayed in a private room, with limited access and behind a glass screen with 24-hour closed-circuit TV. Security guards will be at the entrance.

"There are issues about the security," said Dr. Emma Mbua, the head of paleontology at the museum. "These fossils are irreplaceable and we wouldn't want anything to happen to them."

Insurance coverage could run into millions of dollars, she added.

Mbua, a Protestant, is a little taken aback at the controversy but has no problems reconciling her own faith to the scientific evidence.

"Evolution is a fact," adds Mbua, who has run the department for the last five years.

"Turkana Boy is our jewel," she said. "For the first time, we will be taking him out of the strong room and showing our heritage to the world." Nguồn: sachhiem Ngày 10/01/2009.

PHẦN VII

KẾT LUẬN

Theo Cựu Ước Kinh (sách Sáng Thế Ký, Chương 3), thì Chúa không muốn cho loài người thông minh và khôn ngoan vì dã tâm của Chúa là cấm, không cho vợ chồng ông tổ Adam - Eva ăn trái cây hiểu biết. (The tree of knowledge of good and evil). Chúa biết rõ nếu ăn trái cây này, thì cặp vợ chồng này "sẽ biết điều thiện và điều ác."

Dã tâm của Chúa là như vậy. Nhưng Chúa lại nói láo đai ý rằng "Nếu các ngươi ăn trái cây này và cũng không được rớ (đụng) tới., Ta sợ rằng các người sẽ chết." (but the fruit of the tree which is in the midst of the garden, God has said, "You shall not eat it, nor shall you touch it, lest you die.") [Genesis 3:3]. Chúia của Nhà Thờ Vatican nói láo như thế đó!

Không biết sao lại có một con rắn ở gần đó biết rõ chuyện này. Điểm đặc biệt là con rắn này hiểu và biết nói tiếng nói của loài người. Siêu hơn nữa nó lại hiểu và biết nói tiếng Do Thái . Chúa hay tác giả thánh kinh lại nói láo nữa!

Phải chăng vì bản chất ngay thẳng thật thà , con rắn này bèn lân la mò tới trò truyện với Eva, rồi nó cho Eva biết rằng Đức Chúa Trời đã nói láo. Nếu không tin lời nó nói, thì cứ ăn thử trái cây đó xem và sẽ thấy là không chết. Sau đó, nó còn nói cho Eva hay rằng Đức Chúa Trời biết rằng nếu ăn trái cây hiểu biết này, thì sẽ mở mắt ra và sẽ biết điều thiện và điều ác. Đó là đại ý của lời 4 và 5 rong Chương 3 sách Sáng Thế Ký.

Eva cắn một miếng trái “cây hiểu biết” ăn thử và thấy ngon quá, Eva liền đưa cho anh chồng Adam cùng ăn. Ăn xong rồi, cả hai vợ chồng cùng mở mắt ra, khi đó mới biết là thân hình của họ lõa lồ: ,

"Rõ ràng trong ngọc trắng ngà.

Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên”.(Nguyễn Du)

Chiều hôm đó, Đức Chúa Trời tới vườn Eden (vườn Địa Đàng). Thấy Chúa đến, cặp vợ chồng Adam-Eva hết sức bối rối, bèn lấy lá sung che kín "những chỗ quí báu nhất" cần phải được che kín. Dù đã cẩn thân che kín "những chỗ đó" rồi, cặp vợ chồng này cũng vẫn không muốn để lộ ra “tấm thân phây phấy nõn nường” cho Chúa nhìn thấy. Họ liền chạy vào một lùm cây ẩn trốn với hy vọng thoát khỏi cặp mắt cú vọ của Chúa. Đến vườn Địa Đàng rồi mà không thấy cặp vợ chồng Adam-Eva đâu cả, Chúa liền cất tiếng gọi. Gọi rồi, chỉ thấy tiếng trả lời mà không nhìn thấy bóng dáng hai người này đâu cả.

(Thật là khôi hài! Nhà Thờ Vatican thường lớn tiếng rao truyền rằng, "Thiên Chúa toàn năng và ở khắp mọi nơi", mà tại sao cặp vợ chồng Adam-Eva núp ở trong một lùm cây, Thiên Chúa cũng vẫn không nhìn thấy? Thiết nghĩ rằng, ngoại trừ những tín đồ Ki-tô ngoan đạo hay sống đạo theo đức tin Ki-tô, còn tất cả những người bình thường đều nhận thấy là những người viết thánh kinh đã để lòi cái đuôi nói láo và ngu dốt ra cho mọi nhìn thấy.

Tại sao những tín đồ Ki-tô ngoan đạo lại không nhìn thấy cái đuôi nói láo và ngu dốt của tác giả viết thánh kinh trong khi những người khác lại nhìn thấy? Câu trả lời rất đơn giản. Sở dĩ những tín đồ Ki-tô ngoan đạo không nhìn thấy cái đuôi ngu dốt của tác giả viết thánh kinh là vì họ cuồng tín quá hóa ra ngu xuẩn. Họ đã nghe nhăm mắt nghe lời dạy của Nhà Thờ rằng, "Đức tin không cần đên sư can thiếp của lý trí.")

Sợ quá, vợ chồng Adam - Eva mới phải đánh liều lò dò bò ra khỏi lùm cây để trình diện và bị Chúa vặn hỏi. Vì ngay tình, cặp vợ chồng này nói rõ hết tự sự. Không biết cái đức tính "toàn thiện" của Chúa mà Nhà Thờ Vatican thường lớn tiếng rao truyền chạy đi đâu mất. Vì thế Chúa mới hiện nguyên hình một tên bạo Chúa, nổi cơn tam bành lục tặc, quyết định trừng phạt cả hai vợ chồng anh chànhg đất sét này và con rắn bằng những bản án cực kỳ dã man. Sách Sáng Thế Ký ghi lại những bản án dã man này như sau:

3:14.- Đức Chúa Trời nói với con Rắn: “Vì mày đã làm như vậy, mày sẽ bị cấm, không được đến gần (shall be banned from) các loài vật khác, suốt đời mày sẽ phải bò lết bằng bụng, ăn bụi đât và ở trong đất..

3:15.- Chúa Trời nói với người đàn bà (Eve): Tao sẽ làm cho mày và phái nữ, dòng dõi của nữ thù nghịch với nhau. Người chồng mày sẽ giầy đạp lên đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân chồng mày.

3:16.- Đức Chúa Trời nói tiếp với người đàn bà: “Tao sẽ làm cho mày khổ cực bội phần khi thai nghén, đau đớn khi sanh con; ham muốn dục vọng phải xu hướng về người chồng và người chồng mày sẽ là ông chủ của mày.

3:17.- Đức Chúa Trời nói với người đàn ông (Adam): Vì rằng mày đã nghe theo lời vợ mày mà dám ăn “trái cấm” mà ta đã dặn không nên ăn, đất sẽ bị rủa sả vì mày; trọn đời mày phải cực nhọc vật lộn cả ngày với đất mới có ra hoa mầu cho mày ăn (In toil shall you eat its yield all the days of your life).

3:18.- Loài cỏ gai và những cây cúc gai sẽ mọc đầy ở nơi đồng ruộng của mày.

3:19.- Mảy sẽ phải làm việc cực nhọc đến đổ mồ hôi trán mới có miếng ăn cho đến ngày mày trở về với đất vì rằng mày là cát bụi và phải trở về với cát bụi.” [[i]

Những sự kiện trên đây cho chúng ta thấy cái tội của cô vợ Eva là đã xúi giục anh chồng Adam ăn trái cây hiểu biết gọi là tội “ăn trái cấm” và cũng là cái tội “không vâng lời” hay “bất tuân phục” Chúa (tức là không tuân phục Bề Trên). Ngoài những bản án dã man giáng lên đầu con rắn và cặp vợ chồng đất sét Adam - Eva, Thiên Chúa "toàn thiện" và "lòng lành vô cùng" của các hệ phái đạo Ki-tô còn ban cho con cháu của cặp vợ chồng này (lòai người) đời đời một bản án ba vạ hết sức là dã man mà Giáo Hội La Mã gọi là “Tội Tổ Tông”.

Một trong những hành động độc ác và dã man trên đây của ông Thiên Chúa (tín hữu Ki-tô người Việt gọi là Đức Chúa Trời) là "ngăn cấm con người không đươc mở mang kiến thức" qua việc "không cho ăn trái cây hiểu biết." Xin tạm gọi hành động dã man này chủ trương kìm hãm người đời mãi mãi ở trong tình trạng ngu xuẩn. Thông thường, chúng ta gọi chủ trương này là chính sách ngu dân.

Như vậy, chúng ta thấy rõ, trong đạo Ki-tô, chính sách ngu dân bắt nguồn từ trong thánh kinh và được Nhà Thờ Vatican hay Giáo Hội La Mã triệt để tuân hành và tuân hành hết sức nghiêm chỉnh.

Nhà Thờ Vatican đã triệt để thi hành chính sách ngu dân này như thế nào?

Lời giải đáp cho vấn đề này đã được trình bày khá rõ ràng trong Phần II, Điều 27 ở trên. Đại khái là Giáo Hội La Mã vốn có chủ trương giam hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền trong ngục tù nguc dốt bằng cách “nắm độc quyền giáo dục thanh thiếu niên để rèn luyện theo tinh thần công giáo”, nghĩa là thi hành chính sách ngu dân, trong đó có việc tuyệt đối không cho thanh thiếu niên được học và đọc những gì mà Nhà Thờ không cho phép, và chỉ cho họ được học hay đọc những gì Nhà Thờ cho phép. Điều cấm kị đối với Nhà Thờ là môn sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã, thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882), các chủ thuyết chính trị, những khám phá cũng như phát minh mới về khoa học và tất cả những tư tưởng cao đẹp của các đại tư tưởng gia và vĩ nhân trên thế giới, đặc biệt nhất là những đại tư tưởng gia và vĩ nhân từ khi Chủ Nghĩa Nhân Bản (Humanism) ra đời vào đầu thế kỷ 14 trở về sau.

Chính sách giáo dục của Nhà Thờ Vatican phản tiến hóa là như vậy và hoàn tòan trái ngược với chính sách giáo dục tự do khai phóng của các quốc gia trong xã hội cổ truyền theo văn minh Khổng Mạnh ở Đông Phương và quốc gia theo chế độ dân chủ tư do, khái phong ở các nước nằm ngoài vòng kiểm soát của Nhà Thờ Vatican.

Nền tảng của đạo Ki-tô là hệ thống tín lý Ki-tô. Vì tất cả những tín lý này đều mang năng tính cách hoang đường, láo khoét, tham tàn, bạo ngược, dã man, phỉnh gạt, lừa bịp và khủng bố tinh thần người đời, cho nên Nhà Thờ Vatican luôn luôn sợ bóng sợ gió, sợ tất cả những tư tưởng mới về những lý thuyết về nhân sinh, về khoa học xã hội, về nhân quyền, về thể chế chính trị, về những phát minh khoa học cùng những khám phá mới, và đặc biệt nhất là về mộn sử học. Giáo Hội sợ rằng tất cả những thứ này có thể phơi bày ra những đặc tính gian dôi, phỉnh gạt và lừa bịp trong tín lý Ki-tô và trong những lời dạy của Giáo Hội, và phơi bày ra những rặng núi tội ác của Giáo Hội đã chống lại trong gần hai ngàn năm qua. Vì vậy mà những thứ đó (những điều nói ở trên) đã trở thành những thứ cấm kỵ đối với Nhà Thờ Vatican. Đây là sự thực và sự thực này đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ nơi trang 104 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris, Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) mà chúng tôi đã ghi lại trong Phấn II (Điều 27) ở trên.

Vì coi những thứ đó là những điều cấm kỵ, cho nên Nhà Thờ Vatican mới:

A.- Tặng những bản án tử hình xử thiêu cho các nhà trí thức như:

1.- John Huss (1373-1415) vào ngày 6 tháng 7 năm 1415, chỉ vì ông đã công bố tác phẩm nổi tiếng của ông có tựa đề là "De Omi Sanguine Christ Glorificato", trong đó ông chỉ trích kịch liệt hàng ngũ giáo phẩm về những thói hư tật xấu như lòng tham lợi háo danh và tà ý tạo ra những điều thần bí để phỉnh gạt và lừa bịp người đời (He declaimed against forged miracles and ecclessiastical greed).

2.- Savonarola Girolamo (1452-1498) vào ngày 23 tháng 5 năm 1498 chỉ vì ông đã thuyết giảng về việc cần phải cải cách tôn giáo tại thành phố Florence.

3.- Giordano Bruno (1548-1600) vào ngày 8 tháng 2 năm 1600 và xử thiêu vào ngày 19/2/1600 chỉ vì ông đã công bố bài tham luận "De l'infinito universoe mondi" (On the Infinite Universe and Worlds), trong đó ông phê bình thuyết vật lý của Aristotle rất là quy mô và trình bày một lý thuyết khác về vũ trụ theo quan niệm của ông. Thuyết này cho rằng có sự khác biệt và phân nhiệm giữa triết lý và tôn giáo.

4.- Galireo Galilei (1564-1642) bản án bị quản thúc tại gia trọn đời và ông đã bị giam tại gia cho đến ngày ông trút hơi thờ cuối cùng vào ngày 8 tháng 1 năm 1642, chỉ vì ông đã tìm ra phương pháp cải tiến kinh viễn vọng hầu có thể nhìn ra các thiên thể ở trong vũ trụ một cách rõ ràng hơn. Một trong những mục đích của việc phát minh này là để chứng minh rằng mặt trời là một định tinh và trái trái đất là một hành tinh có hình tròn như trái táo tự xoay quanh nói vớ một chu kỳ là 24 giới và chuyên động chạy quanh măt trờ theo một quỹ đạo hình bầu dục với một chu kỳ là 365 ngày và 6 giờ. Đây là một sự thật mà các nhà khoa học đã xác nhận như vậy, Điều ái oăm là sự thật này trái ngược với lời dạy trong thánh kinh Ki-tô và trái ngược với lời dạy của Nhà Thờ Vatican. Vì thế mà Nhà Thờ Vatican mới trừng phạt ông bằng một án như đã nói ở trên. Xin xem Chương 8 sách Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000).

B.- Ngăn chặn và cấm đoán không cho giảng dạy thuyết tiến hóa của nhà bác học Charles Robert Darwin (1809-1882). Bằng cớ là:

1.- Tại miền Nam Việt Nam, năm 1956, cụ Nguyễn Hiến Lê, tác giả bộ lịch sử thế giới, bị một giáo dân ở Cần Thơ sỉ vả là "đầu óc đầy rác rưởi", bộ sách của ông bị một ông linh mục đề nghị với chính quyền tịch thu và cấm lưu hành. Chính quyền đã làm y như lời đề nghị của ông linh mục này. Ngòai ra, chính bản thân ông bị bán bị mật vụ của chính quyền đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm theo dõi, rình rập ở ngay nơi ông cư ngụ.

2.- Ở Hoa Kỳ, có những vụ kiện của Nhà Thờ đòi loại bỏ thuyết tiến hóa ra khỏi chương trình học ở bậc tiểu và trung học và thay thế vào đó bằng thuyết Thiết Kế Thông Minh.

3.- Ơ Kenya, cuộc triển lãm bộ xương của Em Bé Turkana, một chứng tích có liên hệ đến thuyết tiến hóa, bị Nhà Thở Vatican cưỡng bách không được đưa ra trưng bày công khaI cho mọi người đến thưởng lãm, phải đưa vào một căn phòng tại nơi kín đáo ở đằng sau, khuất dạng, ít có người biết đến.

4.- Những tác giả có căn bản về sử học có những ấn phẩm nói về những sự thật lịch sử có liên hệ đến Giáo Hội La Mã hay các chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975 bị các ông văn nô Ca-tô người Việt chửi bới và vu khống đủ điều xấu xa để gièm pha vả sỉ nhục.

C.- Rèn luyện thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo mà thực sự là để biến họ thành;

1.- Những hạng người bị điều kiện hóa, mất hết khả năng sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật.

2.- "Những tên sát nhân cuồng nhiệt", Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978), tr. 104., những con người vô văn hóa, mất hết nhân tính, chỉ còn biết hành động theo lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Nhà Thờ Vatican. Tình trạng này đã khiến cho giáo dân có những suy tư, ngôn từ và hành động hoàn toàn trái ngược với người dân có văn hiến như trong các xã hôi cổ truyền ở Đông Phương hay trong các xã hội tiền tiến dân chủ tư do của thời đại hậu Cách Mạng Pháp 1789. Vấn đế này đã được trình bày khá đầy đủ trong Phần II ở trên.

Bỏ ra ngoài những rặng núi tội ác của Nhà Thờ Vatican chống lại nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, chỉ nói đến những khu rừng tội ác nêu lên trong các mục A, B và C trên đây, chúng ta cũng đã thấy Giáo Hội La Mã quả thật là một tổ chức tội ác cực kỳ thâm độc và hết sức dã man đến cùng độ của dã man. Dã man ở chỗ chủ trương kìm hàm nhân loại trong ngục tù ngu dốt và chống lại tất cả những công cuộc mở mang giáo dục, phát triển khoa học, chống lại mọi phương cách nâng cao dân trí bằng đủ mọi thủ đọan và bằng bất cứ giá nào.

Có thể vì những khu rừng tội ác này của Nhà Thờ Vatican mà học giả Henri Guillemin mới gọi Giáo Hội La Mã là "cái Giáo Hội Khốn Nạn" (Malheureuse l'Église) Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 92., văn hào Voltaire mới gọi là "cái tôn giáo ác ôn", ông Charlie Nguyễn mới goi là "đạo máu" và "đạo bịp" Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm ((Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 228 và 272, và nhà báo Long Ân mới cho rằng Nhà Thờ Vatican đã súc sinh hóa tín đồ:

Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1953 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.

Nguyễn Mạnh Quang

Tháng 12, 2008

Hết

CHÚ THÍCH


[129] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.

[130] Nhiều tác giả,Tại Sao Không Theo Đạo Chúa -Tuyển Tập I (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1994), tr. 41-43.

[131] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Saigon: Quan Điểm, 1964), tr 17-18.

[132] Nghiêm Xuân Hồng, Sđd., tr.15-16.

[133] Arnold Scchrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott , Foresman and Company, 1974), p. 148.

[134] Pierre Goubert, The Course of French History ,Trans. by Maarten Ultee (New York: Franklin Watts, 1988), tr. 368-369.

[135] Ibid., tr. 370-371

[136] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), tr. 424.

[137] Charles X" Encyclopaedia Britannica (Micrpaedia,1980 edition), Tập II, tr. 761.

[138] Theo Wikipedia, the free encyclopedia, thì:

Cuối tháng 4/1945, nhìn thấy rằng sự thất bại toàn bộ sắp xẩy ra, Mussolini định trốn sang Thụy, nhưng nửa đường bị bắt và bị hành hình ở gần Hồ Como bởi các thành viên của Đảng Cộng Sản. Xác của hắn được đem về Milan treo ngược tòng ten trên cái trụ tại một trạm xăng để cho nhân dân nhìn rõ và cũng là để xác nhận cái chết cả tên bạo chúa này.” (“In late April, 1945, with total defeat looming, Mussolini attempted to escape to Switzerland, only to be captured and summarilyexecuted nearLake Como by Communist Italian partisans. His body was taken to Milan where it was hung upside down at a petrol station for public viewing and to provide confirmation of his demise.”)

[139] Martin Crutsinger. "U.S, deficit for year sets record at $454.8 billion." The News Tribune [Tacoma, Washington] 15 October 2008.. Morning: A10.

[140] David Lightman. "Obama clobbers Bush for most admired title." The News Tribune [Tacoma (Washington) 27 December 2008, Morning edition: B8

[141] News Tribune news service. “Flying shoes set Mideat abuzz.” The News Tribune [Tacoma, WA] 16 December, 2008, Morning Edtion: A1-10.

[142] John Bartley. “Editorial distorts situation in Iraq. The News Tribune [Tacoma, WA] December 3, 2008, Morning Edition: B7.

[143] Theo Wikipedia, the free encyclopedia.

[144] Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa - Tuyển Tập I (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo, 1994), tr.21-26.

 

Trang Nguyễn Mạnh Quang