Họ và Chúng Ta

Nguyễn Mạnh Quang 

http://sachhiem.net/NMQ/HOVATA/NMQhvt-5.php

| bản in |¿ trở ra mục lục | 29Dec08

bài trước \ bài sau

PHẦN V

CHUYỆN "CƯỚI VỢ CHO HÀ BÁ" VÀ GIÁO HỘI LA MÃ

Nhìn vào toàn bộ câu chuyện “Cưới Vợ Cho Hà Bá”, chúng ta thấy trong câu chuyện này có nhiều điều cốt lõi giống y hệt như những điều cốt lõi trong Giáo Hội La Mã hay Nhà Thờ Vatican.

Giống nhau ở những điều nào?

Xin thưa: Ít nhất là có ba điều giống nhau:

Thứ nhất, cả Giáo Hội La Mã cũng như bọn thày cũng và bọn đồng cốt ở ven sông Chương Hà đều dùng danh nghĩa của một ông thần tưởng tưởng để làm cơ sở hay nền tảng cho nghiệp vụ buôn bán thần thánh.

Thứ hai, cả Giáo Hội La Mã cũng như bọn thày cũng và bọn đồng cốt ở ven sông Chương Hà đều cùng bịa đặt ra chuyện hoang đường xoay quanh vị thần tưởng tượng để phát triển cái nghiệp vụ kinh doanh này. Chỉ khác có một điều là Giáo Hội La Mã bịa đặt ra hàng ngàn chuyện hoang đường rồi sắp xếp thành một hệ thống và gọi là hệ thống tín lý Ki-tô và kéo dài tới thời Đại Lý Trí (1687-1789) [có thể là trước đó] mới bị các đại tư tưởng gia và vĩ nhân của nhân loại thộp cổ lôi ra ánh sáng công luận. Còn bọn thày cúng và đồng cốt ở trên ven khúc sông Chương Hà vừa mới đặt ra được có một chuyện hoang đường độc nhất gọi là Cưới Vợ cho Hà Bá thì đã bị thộp cổ.

Thứ ba, cả Giáo Hội La Mã cũng như bọn thày cũng và bọn đồng cốt ở ven sông Chương Hà đều cấu kết với cường quyền để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin và phải triệt để tuân hành cái/những chuyện hoang đường quái đản do họ bịa đặt ra để moi tiền thiên hạ và củng cố quyền lực.

Tóm lại, toàn bộ tập thể Nhà Thờ Vatican cũng như bọn thày cúng và đồng cốt trong câu chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá đều là một lũ lưu manh mượn danh thần thánh và dùng danh xưng tôn giáo để lường gạt, lừa bịp người đời và giết hại dân lành.

MỘT CÁI NHÌN RÕ HƠN VỀ

CHÂN TƯỚNG NHÀ THỜ VATICAN

Để giúp cho độc giả có cái nhìn rõ hơn về chân tướng của Giáo Hội La Mã hay Nhà Thờ Vatican, người viết xin đưa ra mấy nhận xét như sau:

Về tín lý [TS Nguyễn Học Tập gọi là "chủ đề" (doctrina)]: Trong câu chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá, bọn thày cúng và đồng cốt chỉ mới bịa đặt đựợc có một tín lý duy nhất là chuyện ông thần há bá ở khúc sông Chương Hà, rồi đòi hỏi nhân dân trong vùng mỗi năm phải cưới cho ông thần này một cô vợ trẻ đẹp, và mới chỉ cấu kết được với mấy tên hào phú tại một địa phương nhỏ hẹp để cưỡng bách nhân dân trong vùng nhỏ hẹp này mà thôi.

Trong khi đó, về phía Giáo Hội La Mã, “chủ đề” (doctrina) khởi đầu là một số tín lý láo khoét về ông Chúa Bố Jehovah sáng tạo ra vũ trụ trong vòng sáu ngày và lấy đất sét nặn ra thằng người đất Adam, rồi lại véo cái xương sườn của thằng Adam mà nặn ra con mụ Eva. Sau đó, dựa vào câu chuyện láo khoét này, các nhà thần học người Do Thái (sư tổ của các nhà thần học của Nhà Thờ Vatican) khai triển ra hàng rừng tín lý láo khoét khác và được hệ thống hóa thành hệ thống thần học Ki-tô. Mỗi một tín lý trong hệ thống thần học Ki-tô là một thủ đọan phỉnh gạt, lừa bip tín đồ và nhân dân dưới quyền để hoặc là củng cố quyền lực hoặc là móc túi tín đồ và nhân dân.

Từ đầu thế kỷ 4 cho đến ngày nay, Nhà Thờ Vatican nhận thấy rằng mỗi lần bịa đặt thêm ra một tín lý láo khoét như vậy, thì họ lại có thể lợi dụng để tạo ra thêm khá nhiều quyền lực và thu vơ về khá nhiều tiền bạc. Chẳng hạn như cái tín lý quái đản có tên là Nơi Luyện Ngục (Purgatory) được bịa đặt ra vào năm 600 trong thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604) đã giúp Nhà Thờ có thể tạo ra thêm khá nhiều quyền lực, bốc hốt và thu vơ về hàng núi bạc. Sự kiện này được người trong chăn Nhà Thờ là học giả Charlie Nguyễn ghi lại với nguyên văn như sau:

"Kinh Cầu Hồn và Ngày Lễ Các Linh Hồn xuất hiện do sự phát minh ra Lò Luyện Ngục của Giáo Hòang Gregory the Great (590-604) vào năm 600.

Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước chỉ nói tới Thiên Đàng và Hỏa Ngục, chứ không hề nói tới một nơi thứ ba để tạm giam giữ các linh hồn. Vào năm 600, Giáo Hoàng Gregory I (590-604) công bố giáo lý mới là một nơi thứ ba giam giữ các linh hồn để thanh tẩy hết mọi tội nhẹ trước khi vào Thiên Đàng, nơi đó Giáo Hoàng gọi là Nơi Luyện Ngục (Purgatory). Năm 1459, Công Đồng Florence (Pháp) đã biến phát minh này thành tín điều hiện hành buộc tín đồ phải tin (an actual dogma). Nhờ có tín điều này, Giáo Hội Công Giáo đã trở thành giáo hội giầu nhất thế giới do tiền của giáo dân nộp cho cha cố nhà thờ để xin lễ cầu hồn cho các thân nhân quá cố. Ngòai ra, trong thời Trung Cổ, Vatican còn tổ chức nhiều đại lý ở khắp nơi để rao bán ơn đại xá của Tòa Thánh (indulgence sales) đã thu về cho Rome những nguồn tài sản kếch sù gồm đủ thứ vàng bạc nữ trang và báu vật. Nhờ vào những nguồn lợi lớn lao này, giáo hoàng và tu sĩ cao cấp ở Vatican đã có một lối sống hết sức xa hoa tội lỗi. Chính điều này là động lực trực tiếp thúc đẩy Martin Luther từ bỏ Công Giáo lập ra đạo Tin Lành. Ông nói: Những kẻ bán ơn tha tội là những kẻ phạm tội lớn nhất (Those who sold indulgence to sinners were great sinner themselves).

Việc thu tiền lễ cầu hồn là một thủ đọan làm tiền trắng trợn của bọn cha cố lưu manh. Tại Ái Nhĩ Lan là nước toàn tòng Công Giáo có câu ca dao nổi tiếng như sau: "High money high Mass; low money, low Mass; no money, no Mass." (Nhiều tiền lễ lớn, ít tiền lễ nhỏ, không tiền không lễ). Thành thử chỉ những linh hồn có thân nhân giầu có mới hy vọng được vào nước Thiên Đàng của Chúa mà thôi. Trải qua nhiều thế kỷ bị bọn cường quyền cấu kết với bọn tu sĩ lưu manh áp lực, bóc lột và lừa bịp, đám dân nghèo ở Âu Châu vào đầu thế kỷ 19 đã lên tiếng đòi hỏi Giáo Hội phải tổ chức một ngày lễ cầu hồn miễn phí chung cho những người thiếu may mắn vì không có thân nhân bỏ tiền ra xin lễ. Họ gọi những linh hồn này là những linh hồn bị bỏ quên trong Nơi Luyện Ngục (The forgotten souls in Purgatory). Năm 1856, Vatican đã đáp ứng lời yêu cầu của đám dân nghèo bằng cách lập ra ngày Lễ Các Linh Hồn (All Souls Day) vào ngày 2 tháng 11 hàng năm, tương tự như lễ cúng các cô hồn vào ngày rằm tháng 7 của ta.. Vì vậy, một số các bài kinh cầu hồn đã được sáng tác để đáp ứng nhu cầu này. Quả thật sự phát minh (bịa đặt) ra Nơi Luyện Ngục của Giáo Hoàng Gregory I (590-604), tiếp theo là các lễ cầu hồn, đã biến Núi Sọ (Golgotha) của Chúa thành Núi Vàng (Golconda) của Giáo Hội Công Giáo La Mã."[117]

Sự kiện chỉ bịa đặt ra có một tín lý Nơi Luyện Ngục mà Nhà Thờ Vatican đã hốt được nhiều tiền của như vậy giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hai vấn đề:

Thứ nhất, chỉ có những hạng người cực kỳ ngu xuẩn mới tin và tuân hành cái tín lý vô cùng láo khoét như vậy. Hơn ai hết, tập đoàn lãnh đạo Nhà Thờ Vatican cũng biết như vậy. Do đó, họ mới cương quyết phải thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ để biến tín đồ và nhân dân dưới quyền để thành những người siêu ngu xuẩn. Có như thế thì tất cả tín điều Ki-tô dù có phi lý và láo khoét đến đâu đi nữa, thì những người ngu xuẩn như vậy vẫn tin như thường, và nhờ thế mà Nhà Thờ Vatican mới có thể tồn tại và càng có thể bốc hốt được nhiều tiền bạc.

Thứ hai, càng về sau, Nhà Thờ Vatican càng đặt ra thêm rất nhiều tín lý láo khoét như vậy để có thể có thêm uy quyền và có thể bốc hốt được thêm nhiều tiền bạc. Cũng vì thế mà chúng ta thấy, càng về sau, con số tín lý Ki-tô càng sinh sôi nẩy nở giống như loài giòi bọ sinh sôi nẩy nở trong những vũng lầy chứa đầy những đồ phế thải từ bộ máy tiêu hóa của các sinh vật có khả năng di chuyển. Bản văn sử dưới đây do một người trong chăn Nhà Thờ là học giả Charlie Nguyễn ghi lại cho chúng ta thấy rõ sự thật này:

“Theo báo Newsweek ra ngày 26/8/1997 thì trong 19 thế kỷ qua, Vatican loan báo Đức Mẹ hiện ra chỉ có vài lần. Nhưng trong thế kỷ 20, Vatican cho biết có tới 400 lần Đức Mẹ hiện ra hầu như tại khắp nơi trên thế giới...”[118] .

Trong thế kỷ 20, Đức Mẹ hiện ra tới 400 lần tại nhiều quốc gia. Như vậy Đức Mẹ phải biết đủ các thứ tiếng trên thế giới! Tại La Vang vào năm 1798, dưới thời vua Cảnh Thịnh, hàng trăm giáo dân Huế và Quảng Trị đã vào đây lánh nạn cấm đạo trong khu rừng “Lá Vằng” này. Đức Mẹ chỉ hiện ra để nói vài điều chứ không có một chương trình nào cụ thể để cứu trợ. Đức Mẹ hứa: “Từ nay về sau, bất cứ ai đến khẩn cầu Mẹ tại nơi đây sẽ được Mẹ ban ơn phù trợ.” Chắc ý của Mẹ là muốn La Vang sẽ trở thành trung tâm hành hương lớn tương tự như Trung Tầm Hành Hương của Dòng Tu Đồng Công tại Missouri? Tôi tin rằng Đức Mẹ nói với giáo dân tại La Vang vào năm 1798 bằng tiếng Việt, không cần phải thông dịch từ tiếng Aramic (ngôn ngữ Đức Mẹ và ông Joseph sử dụng ở Do Thái vào thời đó - NMQ) sang Việt ngữ. Có lẽ tiếng nói của Người hơi nặng theo giọng Huế hay Quảng Trị!

Vatican, Xưởng Sản Xuất Phép Lạ.- Sư lạm phát phép lạ của Vatican đi kèm theo tín điều “Giáo Hoàng không thể sai lầm” làm cho các giáo phái Kitô khác như Anh Giáo, Tin Lành và Chính Thống Giáo đâm ra hoảng sợ vì nó có thể tạo ra sự sụp đổ của Công Giáo La Mã và kéo theo sự sụp đổ của toàn thể Ki-tô giáo..

“Sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt vào năm 1945, Vatican thấy các quốc gia rục rịch thành lập tổ Chúc Liên Hiệp Quốc nên phịa ra vụ Đức Mẹ hiện ra tại Amsterdam (Hòa Lan) với cô gái tên là Ida Peederman. Đức Me tự xưng với cô gái bằng danh hiệu “Đức Mẹ của Mọi Quốc Gia” (Lady of All Nations). Điều đáng chú ý nhất là trong lần hiện ra này, Đức Mẹ chỉ thị cho cô Ida Peederman phải thỉnh cầu với Giáo Hoàng Pio XII (1939-1958) công bố một số tín điều cuối cùng về Đức Mẹ là Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc. (The Dogma of Co-Redemptrix). Vào năm 1950, Giáo Hoàng XII đã công bố tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” để xác nhận việc Đức Mẹ hiện ra là NGƯỜI THẬT nguyên vẹn hồn xác như cách đây 2000 năm. Từ đó đến nay, chỉ trong vòng 50 năm, số lần Đức Mẹ hiện ra gấp nhiều lần tổng số từ năm 1950 trở về trước cộng lại. Nổi tiếng nhất là những lần Đức Mẹ hiện ra ở Rwanda (châu Phi) vào năm 1981 và 1989.

Vụ Đức Mẹ hiện ra cùng 6 em nhỏ Medjugoje (Bosnia) vào năm 1981, Đức Mẹ xưng danh là “Nữ Vương Hòa Bình” (Queen of Peace) và từ năm 1981 đến nay (1997) có tới 20 triệu tín đồ đến đây hành hương. Cũng từ năm 1950 đến nay. trong thế giới Công Giáo phát sinh ra hàng trăm tờ báo lá cải chuyên viết đủ thứ về Đức Mẹ, tương tự như tờ “Trái Tim Đức Mẹ” và hàng ngàn bản tin như “Bản Tin Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ” của Dòng Đồng Công Missouri.

Chưa có thế kỷ nào việc tôn thờ Đức Mẹ Maria lại ồn ào náo nhiệt cho bằng thế kỷ 20! Mọi nơi trên thế giới đều có cha cố hay giáo dân báo cáo là có thấy Đức Mẹ hiện ra. Mấy năm trước đây, tại Phoenix và Cleveland (Hoa Kỳ) cũng ồn lên về việc Đức Mẹ hiện ra ở vùng này. Việc hành hương thăm viếng các nơi có tin đồn Đức Mẹ hiện ra đã biến thành một kỹ nghệ hốt bạc của các tu sĩ và nhà thờ Công Giáo. Việc phát hành các băng video về hình ảnh Đức Mẹ khóc, tượng Đức Mẹ chảy máu, hình Đức Mẹ chiếu trên mây hoặc trên các tấm kiếng của buiding (cao ốc), trên nóc nhà thờ, v.v..., tất cả được tung ra thị trường đều nhằm làm thỏa mãn tính hiếu kỳ và lòng say mê phép lạ của tín đồ Công Giáo. Theo nhận xét của nhiều ký giả đã theo dõi sự kiện này thì Đức Mẹ hiện ra ngày càng trở thành một bà vợ hấp dẫn hơn xưa của Đức Chúa Thánh Thần (The Holy Spirit’s more interesting spouse). Sau năm 1945, Giáo Hoàng Pio XII muốn công bố tín điều cuối cùng về Đức Mẹ nên đã tung ra tin Đức Mẹ hiện ra với cô Ida Peederman và ra lệnh phải thỉnh cầu giáo hoàng công bố tín điều “Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc”. Và đây cũng là lý do tại sao có việc Linh-mục Trần Đình Thủ lập dòng Đồng Công tại Bùi Chu vào cuối thập niên 1940.[119]

Cơ quan tuyên truyền chính yếu của dòng Đồng Công là Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ. P.O. Box 836, Carthage – MO 64836, phone (417) 358-8296. Cũng theo báo này thì từ xưa đến nay, Đức Mẹ đã hiện ra ở khắp nơi trên thế giới hơn 30 ngàn (30,000) lần. Mỗi lần hiện ra đều có những phép lạ khác nhau và mặc sắc phục khác nhau.” [120]

Giống như vịệc bịa đặt ra chuyện Đức Mẹ hiện ra là để moi tiền tín đồ và bọn người ngu dốt nhưng lại có máu tham lợi háo danh luôn luôn mong ước sẽ có phép lạ giúp cho họ được thỏa mãn nhưng tham vong bất chính về vật chất hay được thăng quan tiến chức, thì việc phong thánh cho những tên tội đồ bị nhân dân các quốc gia nạn nhân trừng trị bằng những bản án tử hình vì tội chống lại tổ quốc của họ cũng là một thủ đọan lưu manh của Nhà Thờ Vatican để moi tiền những hạng người ngu dốt này. Bản văn sử dưới đây cho chúng thấy rõ sự kiện này:

"Bốn năm trước, Giáo Hoàng Leo X (1513-1521) thương thuyết với ông Hoàng Albert và đạt được thỏa hiệp rất tinh vi và phức tạp, nhưng cả hai bên đều có lợi. Theo thỏa hiệp này, Ông Hoàng Albert được kiêm nhiệm ba chức giám mục cai quản ba giáo khu Mainze, Magdeburg và Halberstag. Thực ra, đây là một việc làm bất chính và bất hợp pháp, vì một người cai quản cả ba giáo khu là vi phạm giáo luật và là một trọng tôi. Nhưng Giáo Hoàng Leo X cho phép làm như vậy để ông nhận được một khoản tiền 21 ngàn ducats về việc ban cấp cho ông Hoàng Albert được cai quản cả ba giáo khu này, và một khoản tiền khác nữa là 20 ngàn ducats về việc để cho ông Hoàng Albert được tiếp tục cai quản ba giáo khu này một cách bất hợp pháp. Dĩ nhiên là ông Hoàng Albert đã cho Giáo Hoàng Leo X biết là ông ta không có tiền, nhưng có thể vay số tiền này của nhà ngân hàng Jacob Fugger. Giáo Hoàng Leo phải cho phép ông Hoàng Albert bán một món hàng đặc biệt là giấy xá tội trong cả ba giáo khu để ông lấy tiền trả nợ cho nhà ngân hành Fuggers. Giá bán giấy xá tội từ một nửa tiền vàng florin (cho người rất nghèo) tới 3 (ba) tiền vàng florins (cho các ông thày tu khất thực), 5 (năm) tiền vàng florins (cho các ông tiến sĩ hay bác sĩ) và cao hơn nữa tới 25 tiền vàng florins cho những người trong giới quý tộc và hoàng gia.

Để làm cho tư thế của ông có thêm uy tín như là một nguồn tình thương yêu đối với linh hồn tín đồ đang chịu đau khổ trong Nơi Luyện Tội, ông Hoàng Albert phải có một cái gì đặc biệt. Đó là công trình sưu tầm các thánh tích của ông. (Dĩ nhiên, tất cả là đồ giả): một nạm cỏ khô (nói là) lấy từ mang cỏ đêm Giáng Sinh đầu tiên khi Chúa hài đồng mới chào đời, bốn (4) sợi tóc14 miếng vải quần áo của Đức Bà Đồng Trinh, một (1) sợi râu của ông Jesus, một cái đinh lấy từ cây thánh giá đóng ghim ông Jesus lúc bị hành hình, và khoảng 19, 093 mảnh xương các thánh và những người tử đạo. Bất kỳ người nào - từ ông hoàng cho đến những người bần cùng -, nếu trả tiền vào cửa đề sùng kính những thánh tích này thì có thể làm giảm thời gian bị giam cầm ở trong Nơi Luyện Ngục của những linh hồn những người thân thương từ 1,902,202 năm và 270 ngày...."

["Four years ago, Leo negotiated a vey delicate, intricate, but mutually profitable agreement with Albert, prince-archbishop of three dioceses, Mainze, Magdeburg, and Halberstag. Actually, it was illegal, a felony violation of church law, to hold three dioceses at one time. But Leo permitted it - for a consideration: 21,000 ducats for being granted the dioceses; 20,000 ducats for being allowed to keep them illegally. Albert, of course, told Leo he was penniless, but he borrowed the money from the Jacob Fugger banking house. Leo allowed Albert to sell a special inventory of indulgences in all three dioceses, in order to pay back the Fuggers. Price of indulgences went from half a gold florins (for the very poor), to three gold florins (for mendicans), five gold florins (for doctors), and so on to twenty-five gold florins for nobility and royalty."

"To enhance his position as a source of mercy for the faithful suffering in Purgatory, Prince Albert had something special, his collection of relics (all of course, fraudulent): a wisp of straw from the manger where the baby Jesus lay on the first Christmas night, four hairs from the Virgin's head, fourteen pieces of her clothing, a strand of Christ's bears, a nail from Christ's cross, a little over 19,093 sacred bone parts of saints and matyrs. For venerating all this and a payment, anyone - prince or pauper - could shorten the stay of any close friend of relative in Purgatory by 1,902,202 years and 270 days. “ [121]

Vì thánh tích có thể sử dụng để moi tiền như trên, cho nên càng về sau Nhà Thờ Vatican phong thánh càng nhiều hơn cho những tên tội đồ bị các dân tộc nạn nhân của Giáo Hội La Mã xử tử vì tội đã chống lại đất nước của họ. Điển hình sự kiện này là triều đại Giáo Hòang John Paul II (1978-2005). Các nhà viết sử ghi nhận rằng con số những thằng tội đồ đã bị xử tử vì chống lại nhân loại để phục vụ cho Giáo Hội được ông giáo hoàng này phong thánh chiếm kỷ lục trong lịch sử của Nhà Thờ Vatican. Việc phong thánh như vậy đã khiến cho ngày cả một vị chức sắc trong Giáo Hội cũng phải than trời là “Vatican đã trở thành một xưởng chế tạo thánh”. Sự kiện này được sách Công Giáo Chính Sử ghi nhận như sau:

“Có lẽ chúng ta cũng biết rằng việc phong thánh bừa bãi của Giáo Hoàng John Paul II đã gây nhiều phản ứng bất lợi cho chính Giáo Hội, đến nỗi Hồng Y Silvio Oddi cũng phải than phiền là “Vatican đã trở thành một “Xưởng chế tạo thánh.” (The Vatican has become a saint factory.) Điều hiển nhiên là 117 vị được phong thánh ở Việt Nam cũng không nằm ngoài kế hoạch chế tạo Thánh cho những mục đích chính trị của Vatican.” [122]

B.- Về nhân sự và tổ chức [TS Nguyễn Học Tập gọi là “chủ thể" (persona)]: Trong câu chuyện Hà Bá Cưới Vợ, chúng ta thấy “chủ thể” (tổ chức và nhân sự) là một nhóm nhỏ chỉ gồm có mấy tên thày cúng và thày trò của mụ đồng cốt. Trong khi đó, “chủ thể” (tổ chức và nhân sự) của Nhà Thờ Vatican là cả một hệ thống tổ chức thành một bộ máy cai trị của một đế quốc thực dân xâm lược hết sức tinh vi và vô cùng rộng lớn với trên dưới nửa triệu thày cúng. Các ông thày cúng này được Nhà Thờ Vatican trao cho đảm nhiệm rất nhiều vai trò và được tôn vinh là những người “mang chức thánh” với chức vụ cùng đẳng cấp của họ. Nói về bộ máy cai trị, Nói về bộ máy cai trị của Nhà Thờ Vatican, cựu giáo-sĩ Malachi Martin viết trong cuốn Rich Church, Poor Church như sau:

"Bộ máy cai trị của Giáo Hội La Mã thường được gọi là Tòa Thánh Vatican. Gọi như vậy là không đúng với sự thật và chỉ là một cách gọi vắn tắt của danh xưng "Quốc Gia Thành Phố Vatican". Giáo Hoàng là nhà lãnh đạo nắm quyền chuyên chế tuyệt đối của quốc gia này. Là một quốc gia có đầy đủ chủ quyền, Vatican có lãnh thổ, cảnh sát, các tòa án, nhà tù, hệ thống thuế khóa, sở bưu chính và con niêm, sở đúc tiền, báo chí, văn phòng báo chí, sở cứu hỏa, sở an ninh, công chức, hệ thống ngân hàng, đại sứ và ngọai giao đoàn. Tuy nhiên, vì bị bao quanh bởi kinh thành La Mã cho nên các dịch vụ trong quốc gia này được phối hợp với các dịch vụ của kinh thành La Mã."

Bộ máy cai trị của Vatican là cơ quan hành pháp nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của giáo hoàng và được coi như là cánh tay mặt của ông. Cơ quan hành pháp này có hai chức năng: Chức năng thứ nhất là quản lý các công việc chính quyền trong Quốc Gia Vatican và chức năng thứ hai là trông coi tất cả các việc tôn giáo cùng mọi công viêc đời của toàn thể Giáo Hội. Bộ máy cai trị của Vatican còn được gọi là giáo triều hay triều đình Vatican và được tổ chức thành các bộ, phòng, sở, văn phòng và ủy ban giống như các cơ quan chính quyền thế tục.

Trên nguyên tắc, hầu hết, trong thực tế, các giáo khu đều độc lập đối với Tòa Thánh La Mã về vấn đề tài chánh và quản trị tài chánh. Các ông giám mục đều có đầy đủ quyền hành trong giáo khu của họ. Là những người đại diện của Giáo Hội tại giáo khu của họ, các ông giám mục được tín nhiệm và trao cho quyền kiểm soát mọi tài sản, động sản, bất động sản, v.v... của Giáo Hội. Dĩ nhiên, cứ 5 năm một lần, họ phải thân hành đến Tòa Thánh Vatican để tâu trình về những việc làm trong giáo khu của họ đã tiến hành như thế nào và kết quả ra sao. Họ phải giữ tình giao hảo vời vị sứ thần của Tòa Thánh ở quốc gia của họ. Ở Hoa Kỳ, vị sứ thần của Tòa Thánh Vatican cư ngụ trong thành phố thủ đô Washington. Điều đáng để ý là các ông giám mục là một nhà cai trị trong giáo khu của họ. Hàng năm, mỗi giáo khu phải gửi số tiền khổng lồ gọi là Peter's Pence về Vatican. Đây là loại thu nhập hàng năm trong toàn thể Giáo Hội. Thỉnh thoảng, Tòa Thánh Vatican lại đòi các giáo khu phải đóng góp thêm và còn đưa ra "chỉ tiêu" nữa.... Tuy nhiên, về công việc quán lý nội bộ, Tòa Thánh để cho các giáo khu được tự trị.

Từ năm 1947, các dòng tu và các giáo khu đều sử dụng các cơ quan tài chánh của Tòa Thánh Vatican để đầu tư vào các dịch vụ kinh tài."]

(That clerical bureaucracy is commonly described as "the Vatican." But this is really a misnomer, being a shortened form for the State of Vatican City. The pope is its absolute ruler. As a full sovereign state, it has it own borders, police, judiciary, jails, taxes, stamps, coinage, newspapers, press office, fire department, security services, civil service, banking system, ambassador, and accredited diplomatic corps. However, because it is surrounded by Rome and the State of Italy, its municipal services necessarily work in conjunction with those of Rome."

The bureaucracy of the Vatican is the pope's executive right arm, and under his command, it has a double function: to administer the temporal affairs of the State of Vatican City and to administer the spritual and temporal affairs of the entire church. The Vatican bureaucracy - called Curia - is organized into sections corresponding to the ministries, offices, and services: tribunals, secretariats, and commissions.

In principle and, very largely, in practice, each diocese is independent of Rome in its fiscal and monetary adminstration. Each bishop has complete power in his territory; as the official representative of the Church there, he holds in trust and controls the property of the Church - liquid asset, real restate, and so on. He must, of course, visit the Vatican every five years in order to give an account of how his diocese is doing, and he must maintain friendly relation with the pope's representatives in his country - in the United States this is the pro-Nuncio who lives in Washington. In the final account, the bishop is the business manager of his his diocese. The largest amount of money that goes to the Vatican from the diocese is Peter's Pence, and annual collection made throughout the Church. From time to time, the Vatican will require additional contributions and "quotas."... But between Rome and dioceses, the business connection is not very tight. Each diocese is, in effect, autonomous.

Since 1947, both religious orders as well as diocese have made use of the Vatican' financial agencies in order to obtain the best investment possible for their funds."[123]

Nói chung, hệ thống tổ chức bộ máy cai trị của Giáo Hội La Mã không khác gì hệ thống tổ chức của Đế Quốc La Mã hay bất kỳ một đế quốc thực dân xâm lược nào khác. Hệ thống này được tổ chức với mức độ vô cùng tinh vi, sao cho thích nghi với "chủ trương phù thịnh" dế dàng "xoay sở trở cờ đón gió" của Giáo Hội, hầu có thể thì hành sách lược "cáo đội lốt hùm" và "cuốn theo chiều gió". Nói về đặc tính và thành tích trở cờ đón gió của Giáo Hội La Mã (để có thể dễ dàng cấu kết với các thế lực mới đang lên), ông Charlie Nguyễn viết:

"Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh vọng do sự cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát -xít (Ý) và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế."[124]

Vì quốc gia này tức Nhà Thờ Vatican theo đuổi chủ nghĩa bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại về cả thể xác lẫn tâm linh với chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" để thi hành "chính sách bất khoan dung" đối với các tôn giáo và văn hóa khác qua những chiến dịch "làm sáng danh Chúa" bằng bạo lực, cho nên các nhà viết sử gọi nó là "Đế Quốc Thần Linh" (Spiritual Empire). Việc giáo triều Vatican phát đông các cuộc Thập Tự Chiến khởi đầu vào năm 1096, việc thiết lập các Toà Án Di Giáo khởi đầu vào năm 1232, việc ban hành các thánh lệnh trong thế kỷ XV, tất cả cho chúng thấy rằng Giáo Hội La Mã hay Quốc Gia Vatican không phải chỉ là Đế Quốc Thần Linh thuần túy, mà còn là một đế quốc thực dân xâm lược giống như tất cả các đế quốc thực dân xâm lược khác. Hơn thế nữa, nó còn có những sách lược hành động ở mức độ đại quy mô hơn, tinh vi hơn và có những đặc tính gian tham hơn, quỷ quyệt hơn, bạo ngược hơn, và dã man đến cùng độ của dã man.

Vì là một đế quốc thực dân xâm lược có rất nhiều thuộc địa ở rải rác khắp nơi trên thế giới và là cùng chung những thuộc địa của các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ ở khắp các lục địa Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu, cho nên đế quốc này hay Nhà Thờ Vatican cũng phải tổ chức bộ máy cai trị giống như bộ máy cai trị của các đế quốc khác, và phải có một khối nhân sự (cán bộ) vô cùng đông đảo để điều hành bộ máy cai trị khổng lồ này. Nói về khối nhân sự hay cán bộ của Giáo Hội hiện nay, ông Charlie Nguyễn cho biết:

"Giáo Hoàng là đầu não của cả một hệ thống giáo sĩ dông đảo gồm 4000 (4 ngàn) hồng y và giám mục. Đội ngũ quản lý hay cán bộ thừa hành cấp dưới (managers) là các linh mục lên tới tổng số 400.000 (4 trăm ngàn)!"[125] .

Với quyết tâm theo đuổi chủ nghĩa bá quyền thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại cả về thế xác lẫn tâm linh bằng sách lược bám chặt lấy thế quyền, cấu kết với các cường quyền, cấu kết với các đế quốc hay siêu cường để dựa hơi ăn có rồi nhập nhằng diễn trò "cáo đội lốt hùm", Nhà Thờ Vatĩican đã trở thành một đế quốc thực dân xâm lược với chính quốc là "Quốc Gia Vatican" và các thuộc địa ở khắp các lục địa Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu. Các thuộc địa của Giáo Hội chính là các xứ đạo và giáo khu nằm rải rác khắp nơi trên thế giới. Chính những xứ đạo và giáo khu này là những "vốn quý" và cũng là những "phần hùn" để Giáo Hội sử dụng trong việc thuyết phục các đế quốc thực dân xâm lược như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và sau này là siêu cường Hoa Kỳ xuất quân đánh chiếm hay can thiệp vào các vùng mục tiêu mà Giáo Hội chiếu cố.

Vấn đề nhân sự và tổ chức của Nhà Thờ Vatican đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 7, Mục III, Phần II trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này đã được đưa lên sachhiem.net từ tháng 2/2008.

C.- Về sách lược cấu kết với cường quyền: Đọc câu chuyện Cưới Vợ Hà Bá và tìm hiểu lịch sử Giáo Hội La Mã, chúng ta thấy rằng cả bọn thày cúng và đồng cốt trong câu chuyên Hà Bá Cưới Vợ cũng như Nhà Thờ Vatican đều sử dụng kế sách cấu kết với cường quyền để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin theo và tuân hành những chuyện hoang đường láo khét do họ bịa đặt ra, trong đó có việc phải đóng góp tiền bạc cho họ. Trong câu chuyện Cưới Vợ Cho Hà Bá, bọn thày cúng và đồng cốt cũng sử dụng sách lược cấu kết với bọn hào phú địa phương để có quyền lực cưỡng bách nhân dân trong vùng phải tuân thủ những chuyện hoang đường do chúng bịa đặt ra, giống y hệt như bọn Nhà Thờ Vatican đã làm trong gần hai ngàn năm qua; chỉ khác có một điều là Nhà Thờ Vatican sử dụng sách lược này một cách đại quy mô và hết sức tinh vi. Đại quy mô và tinh vi ở chỗ Nhà Thờ Vatican cấu kết với tập đoàn đầu nậu (chính quyền trung ương) của các bạo quyền của từng quốc gia và các đế quốc thực dân xâm lược Âu Mỹ. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

“Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mã đã sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã sử dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang lên.

Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước Pháp, liên kết với Đế Quốc Gia-tô Áo – Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ý và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.

Vì rằng không còn một siêu cường Da-tô nào kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu, Giáo Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tình trạng này khiến cho cả Giáo Hội La Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.”

("The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic hurch has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

In Europe the formula was applied several times in this century. She identified herself at vaious intervals with France, then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War. She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself with their economic, political and war interest.

Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military presence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War.”[126]

Sự kiện này cũng được học giả Charlie Nguyễn nói rõ trong Mục B ở trên. Xin ghi lại đây đọan văn ngắn ngủi này để độc giả không còn nghi ngời về sự kiện lịch sử này:

"Vatican trước đây đã đạt tới đỉnh cao danh vọng do sự cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát -xít (Ý) và chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ý và bọn khủng bố quốc tế."[127]

Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá rõ ràng trong Chương 6, Mục III, Phần II trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Chương sách này đãy đã được lên sáchhiem.net từ tháng 9/2007.

Tiếc rằng một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng như vậy đã bị ông TS Nguyễn Học Tập tránh né, không đề cập tới. Theo sự hiểu biết của người viết, không phải chỉ có ông TS Ca-tô Nguyễn Học Tập tránh né, không nói đến vấn đề này, mà hầu như tất cả các tác giả đồng đạo với ông TS Nguyễn Học Tập cũng đều tránh né như vậy cả. Lý do: Nhà Thờ Vatican đã dạy tín đồ Ca-tô rằng:

“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết. [128]

Tuy nhiên, vẫn có nhiều tác giả người Việt viết sử Việt Nam dù không phải là tin đồ Ca-tô cũng tránh né, không hề đề cập đến những rặng núi tội ác của Nhà Thờ Vatican đã chống lại nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua và đã chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam ta từ giữa thế kỷ 16 đến ngày nay. Người viết không biết có phải vì họ không được học và cũng không đọc lịch sử thế giới, không đọc lịch sử Giáo Hội La Mã, hay vì họ cũng biết rõ chân tướng của “cái tôn giáo ác ôn” này là như vậy, nhưng họ cố tình tránh né giống như ông trường hợp ôngTS Nguyễn Học Tập. Trong số những tác giả này có ông Lê Xuân Khoa tác giả cuốn Việt Nam 1945-1995 (Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), ông Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức tác giả cuốn Những Ngày Cuối Cùng Cúa Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Sạn Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Thân Thị Nhân Đức, 1994), và Hòang Cơ Thụy, tác giả bộ sách Việt Sử Khảo Luận (Paris: Nam Á, 2002) và rất nhiều tác khác. [Riêng về tác giả Hoàng Cơ Thụy, xin đọc trang 891 và 892 cuốn 2 để thấy rõ những lời lẽ của tác giả này biện minh cho Nhà Thờ Vatican.]

D.- Về việc sử dụng biện pháp mạnh để kiểm soát, kèm chếtrừng trị bọn chủ mưu và hành nghề dịch vụ buôn thần bán thánh: Vì theo nếp sống văn hóa Đông Phương, cho nên, trong câu chuyện Hà Bá Cưới Bá, chúng ta có ông Tây Môn Báo là người của chính quyền nhân danh đạo lý (và cũng là pháp luật bất thành văn) để làm các công việc này.

Trái lại, trong các xã hội bị áp đặt phải sống theo nếp sống văn hóa Ki-tô, chính quyền chỉ là công cụ của Nhà Thờ và phải thi hành tất cả những lệnh truyền của Nhà Thờ. Như vậy là người dân trong xã hội Ki-tô không thể trông cậy vào chính quyền trong việc dùng biện pháp mạnh để kiểm sóat, kèm chế và thẳng tay nghiêm trị nếu Nhà Thờ có những hành động làm nguy hại đến phúc lợi của nhân dân hay lợi dụng lòng mê tín dị đoan của người dân để bốc hốt, thu vơ và tích lũy của cải cho đầy túi tham.

Chính vì tình trạng này mà hầu như tất cả quốc gia nào nằm dưới ách thống trị của Nhà Thờ cũng đều có phong trào nhân dân vùng lên làm cách mang để thực hiện các mục tiêu:

1.- Giành lấy chính quyền từ trong tay Nhà Thờ cho nhân dân.

2.- Đòi lại những gì mà Nhà Thờ và bọn phong kiến phản động (cấu kết với Nhà Thờ) đã cưỡng chiếm của nhân dân.

3.- Tách rời Nhà Thờ ra khỏi chính quyền

4.- Nêu rõ giới hạn họat động của Nhà Thờ bằng việc ban hành một hiến chế dân sự cho Nhà Thờ và giới tu sĩ của Nhà Thờ.

5.- Kiểm soát Nhà Thờ và giới tu sĩ, buộc họ phải tuân hành luật pháp quốc gia và hành xử đúng theo như hiến chế đã ban hành.

6.- Nghiêm trị thẳng tay nếu Nhà Thờ và giới tu sĩ của Nhà Thờ nếu họ vi phạm luật pháp quốc gia hay vi phạm hiến chế đã ban hành.

Đây là những bước tiến của nhân loại và đã được thể hiện ra qua các cuộc cách mạng như: Ở Anh nhà Nước Anh phát khởi từnăm 1531 và kéo dài đến năm 1691 mới dứt khoát thẳng thừng được cái thòng lọng Ca-tô (Catholic loop). Ở Pháp, Cách Mạng bùng nổ vào năm 1789, giằng co và kéo dài tới năm 1905 nhân dân Pháp mới đạt được tất cả 6 mục tiêu của Cách Mạng Pháp 1789 vì rằng mãi tới nằm 1905, Quốc Hội Pháp mới có thể thông qua đạo luật là “tách rời Nhà Thờ ra khỏi chính quyền” mà Nhà Thờ và nhóm thiểu số giáo dân cuồng tín không thể nào cưỡng lại được.

Theo gương nước Anh và nước Pháp, gần như tất cả nhân dân của các quốc gia nằm dưới ách thống trị của Nhà Thờ Vatican đều vùng lên làm Cách Mạng để thực hiện 6 mục tiêu như đã nói trên. Đó là Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1857 và 1917, Cách Mạng Ý 1870, Cách Mạng Nga 1917, Cách Mạng Tây Ban Nha 1936, Cách Mạng Trung Quốc 1949, Cách Mạng Việt Nam 1945, Cách Mạng Cuba 1959, Cách Mạng Nicaragua 1979.

(xin xem tiếp phần 6)

CHÚ THÍCH


[117] Charlie Nguyễn, Sđ d., tr. 256-258

[118] Charlie Nguyễn, Sđ d., tr. 76

[119] Charlie Nguyễn, Sđd, tr. 78-81.

[120] Charlie Nguyễn, Sđd, tr. 299.

[121] Malachi Martin, Sđd., tr 205

[122] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Ggiao Điểm, 1999), tr. 268.

[123] Malachi Martin. Rich Churh, Poor Church (New York: G. P. Putnam's Sons, 1984), p 86-87.

[124] Charlie Nguyễn, Sđd., tr 105-106

[125] Charlie Nguyễn, Sđd., tr .133.

[126] Manhattan, Avro, Vietnam - Why Did We Go? (Chino, CA: Chick Publication, 1984), p. 157.

[127] Xem ghi chú 124 ở trên.

[128] Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đại (Đông Kinh: Tân Văn, 2003), tr. 320.

Trang Nguyễn Mạnh Quang