Lịch Sử Về Cái Tên Của Làng An Bằng

(An Đôi Ngày Xưa)

Nguyễn Tấn

http://sachhiem.net/LICHSU/N/NguyenTan.php

8-Apr-2012

Tên làng An Bằng không được bình an cho lắm. Số là thoạt tiên, làng chỉ gồm toàn người lương, chỉ vì có một số ít người gặp phải những lý do không tốt, phải theo đạo Chúa, và từ đó có nhiều mâu thuẩn trong làng. Số người theo đạo Chúa đã gọi tên làng thành An Bường chỉ vì tên đó được phát xuất từ một cố đạo người Tây. Và cũng vì thế, đa số người lương không thích.

Gây cấn nhỏ này cũng đã kéo dài và trở thành một đề tài cần đem ra phân tích. Nhân có hai tài liệu lịch sử nói về làng An Bằng, chúng tôi xin trình bày để xem đâu là vấn đề.

Tài liệu thứ nhất:

Chúng tôi nhận được cuốn lược sử "GIÁO XỨ AN BẰNG"  từ người bạn gởi cho, dày 22 trang (4"x5"1/2) do linh mục J.B. Lê Văn Nghiêm biên soạn dựa vào sổ Rửa Tội của giáo xứ Hà Úc, với sự cung cấp dữ liệu của ông Giuse Lê Hoa (cháu nội ông Giuse Lê Qui) và sự góp sức của ông Giuse Văn Du.

Ông J.B. Lê văn Nghiêm viết. 

Giai Đoạn I

An Bằng là một là sát biển Đông, thuộc xã Vinh An huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên. Cách thành phố Huế về phía Đông khoảng chừng 25km theo đường chim bay.  Làng An Bằng (nguyên là An Bình, vì kỵ huý nên đổi ra là An Bường), được hình thành cách đây khoảng 450 năm do những người từ Thanh Hóa vào lập nghiệp.  Dân làng làm nghề đánh cá biển, toàn là lương dân.

Vào khỏang năm 1872, anh Lê Quy người An Bằng vào cưới vợ người Hà Úc, sinh được bé gái đặt tên Lê Thị Bạo.  Mẹ mất sớm, cha tục huyền, bé Lê thị Bạo được ở với bà ngoại.  Đến tuổi khôn, bé được đến trường sơ tiểu học Hà Úc do cha sở là linh mục Héry (cố Y) thành lập và điều hành.  Được tiếp xúc người công giáo, được ơn Chúa soi sáng và thúc đẩy(1), sau khi tìm hiểu và học giáo lý do linh mục Héry hướng dẫn, cô Lê Thị Bạo dấn bước quyết định: theo Đấng "là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". 

Cô nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội ngày 17-7-1894 tại nhà thờ Hà Úc với thánh hiệu là Matta vừa tròn 21 tuổi. Nhận thấy cô Matta đạo đức, linh mục Héry gởi cô vào tu viện Mến Thánh Gía Phủ Cam Huế để  theo con đường tận hiến.  Nhưng Thánh Mầu của Thiên Chúa cao vượt hẳn sự suy hiểu và cách xếp đặt của con người.  Sau hơn một năm sống trong hiểu và xếp đặt của con người.  Sau hơn một năm sống trong đời tu tập như là sống và học hỏi Lời Chúa Giêsu trong tu viện, như ông Anrê đi theo và sống và sống với Đức Giêsu qua một đêm, đã vội vã về nhà tìm gặp em la simon va nói "chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia" (nghĩa la Đấng kyto) (gai 41). Rồi dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu, Đức Giêsu đổi tên cho Simon la Phêrô (là đá), Cô Matta cũng được ơn soi sáng, về nhà để đem người thân đến giới thiệu với Đấng Cứu Thế.

Qủa vậy, khi về với gia đình, cô Matta đã tuần tự đưa các người thân đến giới thiệu Đức Giêsu.

Thiên Chúa tiếp tục gieo giống và tuần tự gặt hái nhiều thành quả.  Trong giai đoạn đầu tiên nầy, nghĩa là từ năm 1894 đến năm 1898: trong thời khoảng 5 năm, đã có 25 người An Bằng được làm con Chúa trong lòng Mẹ Hội Thánh Công Giáo. 

Linh mục Héry là chánh xứ Há Úc nhưng phải kiêm nhiệm nhiều nơi, chính vì thế nên từ giữa năm 1898 đến năm 1902 số giáo dân An Bằng không tăng thêm.

Giai Đoạn II

Thiên Chúa khôn ngoan kỳ diệu đã kêu gọi một dòng tộc cách lạ lùng. Số là vào một buổi chợ trong tháng 2 năm 1905, ông Văn Hòa, nguyên là một "thầy pháp" của làng, đang bện dây (làm dây bằng rơm khô với ruột tre và rễ cây dứa cho việc đánh cá).  Ở gần chợ cây "dúi" (cây dứa ở đường ra bờ biển, hiện giờ vẫn còn địa điểm đó), cô Lê Thị Bạo (đã 32 tuổi vẫn chưa lập gia đình) ra bán vải ở chợ.  Thấy cô Bạo vui tính mà chưa có chồng nên ông Văn Hòa (đã 38 tuổi và có 3 người con) chọc ghẹo đùa giỡn (niềm vui dân dã).  Cô Lê Thị Bạo cũng không vừa, lấy mảnh sành ném chơi, ông Văn Hòa cũng lấy mảnh sành ném lại. Chuyện không may xảy ra mảnh sành trúng vào đá nhảy vồng lên trúng vào mặt cô Bạo làm chảy máu.  Ông Văn Hòa quá lo lắng vì biết vô Bạo được cố Mầu ở nhà thờ Hà Úc bảo trợ, nên đưa cô Bạo vào Hà Úc để xin lỗi cố Mầu. Không biết cố nói thế nào, sau đó ông Văn Hòa cùng cả gia đình đều trở lại Đạo Chúa(2).  Toàn thể gia đình được cố Mầu Rửa Tội ngày 6-5-1905 tại nhà thờ Hà Úc cùng với 21 người khác. Trong số nầy có gia đình ông Nguyễn Cúc ở xóm mới (giáp An Mỹ hiện nay) và gia đình Phaolô Ngởi và bà Agata Văn (ông bà ngoại của ông Bênêđitô Nguyễn Xuân).

Vào khoảng tháng 8-1905, số giáo hữu An Bằng lên đến 58 người giáo dân.  Đến giữa năm 1912, khi con số giáo hữu lên đến 92 người.  Trong 10 năm truyền giáo tại An Bằng (1903-1913), cố Mầu đã Rữa Tội được 71 người.  Như vậy sau 17 năm ơn Chúa số giáo dân lên tới 96 người. 

Giai Đoạn III

Tháng 9 năm 1955, linh mục Phaolô Nguyễn Văn Tiên về làm quản xứ, Cha Nguyễn Văn Tiên tận dụng mọi khả năng, nhưng việc quan trọng phải nói hơn cả là ngài đã hết sức lo việc "Truyền giáo", năm 1957 trên 100 người ban Bí Tỉch Rửa Tội.

Sau biến cố thời cuộc 1963 (Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ) một số tân tòng, vì đức tin còn non kém, nên đã không đứng vững, một số khác lại bỏ xứ đi lập nghiệp ở Nha Trang và Đồng Nai. Chính vì vậy mà An Bằng có phần thưa thớt.

 

Tài liệu thứ hai:

VÀI NÉT VỀ LÀNG AN BẰNG

Theo tư liệu lịch sử dân tộc và gia phả họ Nguyễn văn Lĩnh (khai canh). Nguyễn văn Tích

Kết hợp tư liệu văn bản Hán Nôm của làng và tư liệu lịch sử dân tộc, chúng ta có thể bước đầu trình bày quá trình thành lập làng An Bằng như sau đây.

Nguyên vào nửa thế kỷ XV, Nguyễn Hoàng tức chúa Tiên vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558.  Năm 1569, ông lại ra Thanh Hóa chầu vua Lê.  Qua năm 1570, một số lái buôn người thôn An Ba, xã Cừ Hà, huyện Khang Lộc, Phủ Tân Bình (sau đổi Quảng Bình) đi thuyền ra buôn bán xứ Thanh, trong số đó có ba ngài họ Nguyễn, Trần và Hoàng.  Ba vị này đứng ra tình nguyện dùng thuyền trường đà (loại ghe vận tải lớn ngày xưa) chở chúa Tiên trở vào Ái Tử lại làm hướng đạo ngài đi đánh dẹp Mĩ quận công và tham gia trù lập quận công Nguyễn Bạn (tướng nhà Mạc).

Sau khi xong việc, năm 1571, ba ngài đưa vợ con, bạn bè vào miền biển huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong, lập nên làng xóm, đặt tên là phường An Đôi.  Nhờ có công lao phò tá, chúa cho dân phường được miễn thuế má, hàng năm chỉ nạp cá làm lễ phẩm kị giỗ tôn miếu.

Thời chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691), vì kiêng húy bà Tống Thị Đôi (người sinh ra chúa Ngãi), làng phải đổi tên An Bằng, thuộc nội phủ, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong. 

Năm 1835, vua Minh Mạng tiến hành xếp đặt lại các đơn vị hành chánh, thì ấp An Bằng thuộc tổng Kế Mĩ. Ngày nay,  làng An Bằng nằm trong địa phận xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Ngài họ Nguyễn văn Lãnh (Lĩnh) có lăng trước đình làng và có con cháu nối dõi, còn ngài họ Trần và họ hoàng đều không có mộ cũng không có con cháu nối dõi, theo giấy kê khai:

- Vị thứ nhất: Nguyễn quý công, húy Lĩnh (có miếu, có tên, có mộ).

- Vị thứ hai: Trần quý công (thờ chung miếu với Nguyễn quý công, không tên, không mộ).

- Vị thứ ba: Hoàng quý công (thờ chung miếu với Nguyễn qúy công, không tên, không mộ).

 

Nhận xét: 

So sánh hai tài liệu ở trên, ta thấy tài liệu của linh mục J.B. Lê văn Nghiêm không có căn cứ, cũng không nghiên cứu đầy đủ tài liệu khách quan, chỉ viết theo tài liệu của Công giáo, thường là chủ quan. Ông Nghiêm viết: Làng An Bằng (nguyên là An Bình, vì kỵ huý nên đổi ra là An Bường.) Chẳng rõ kỵ húy ai, tài liệu nói rất bâng quơ.

Trong khi đó, theo tài liệu Thời chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691), vì kiêng húy bà Tống Thị Đôi (người sinh ra chúa Ngãi), làng phải đổi tên An Bằng, thuộc nội phủ, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong. 

Tóm lại, không có chuyện An Bình hay An Bường gì cả. Người dân An Bằng không hài lòng khi có người gọi là An Bường.    

 

Chú thích:

(1) Động lực khiến cô Bạo theo đạo không phải là ơn Chúa nào cả, nhưng là vì ảnh hưởng xúi giục do thế lực của chủ nhà có đạo, mà cô Bạo chỉ là người giúp việc. Xin xem bài "Việc Tranh Chấp Đất Của Giáo Xứ An Bằng" http://sachhiem.net/XAHOI/xhL/LeMinhTuu.php của Lê Minh Tựu sẽ rõ.

(2) Muốn hiểu sự thật về mấy chữ "Không biết cố nói thế nào", xin xem bài "Việc Tranh Chấp Đất Của Giáo Xứ An Bằng" http://sachhiem.net/XAHOI/xhL/LeMinhTuu.php của Lê Minh Tựu. Về những chữ "trở lại đạo Chúa" mà linh mục xài, chúng tôi xem là không đúng, gia đình ông Văn Hòa trưóc đây chưa bao giờ theo đạo, lẽ ra nên dùng chữ "theo Đạo Chúa" mới phải.

 

Nguyễn Tấn


■ Các bài liên hệ đến chủ đề:

- Gốc Gác Lang An Bằng (Lê Minh Tựu)

- Lịch Sử Tên Làng An Bằng (Nguyễn Tấn)