NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, TRƯƠNG VĨNH KÝ và A. DE RHODES

Bài Phỏng Vấn Ông Bùi Kha của đài BBC LUÂN ĐÔN,

ÔNG NGUYỄN GIANG thực hiện ngày 22.10.2002

http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha02a_NTT.php

| bản in | ¿ toàn bộ NTT | 10 tháng 1, 2008

VÀI LỜI MỞ ĐẦU

Mấy năm gần đây, một số người viết sử có quan niệm là lịch sử cần phải được thấy là chứ không phải là lịch sử cho thấy là. Từ ý nghĩ đó nên năm 1992, Trung Tâm Hán Nôm thuộc viện Khoa Học Xã Hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, có nhiều bài tham luận trong số 47 bài, viết với chiều hướng lịch sử cần phải được thấy là, in trong tập kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ Với Vấn Đề Canh Tân Đất Nước. Và ông Chương Thâu, giáo sư viện Sử-học Hà Nội, trong bài viết Từ Một Câu Chữ Của Alexandre de Rhodes Đến Các Dẫn Dụng Khác Nhau đăng ở Nguyệt San Công Giáo tại Việt Nam và cũng được in lại trong Nguyệt San Hiệp Nhấtsố 43, Giáo Phận Orange County, California, Hoa Kỳ tháng 7. 1996. Qua bài viết này, chúng ta thấy ông Chương Thâu đồng ý với Linh Mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên trong việc cố tình dịch cụm từ plusieusr soldats là mấy chiến sĩ. Đã thế, còn chú thích đó là chiến sĩ Phúc Âm tức là các nhà truyền giáo, chứ không phải lính chiến, tức là mấy người cầm súng đánh giặc. Đúng ra, thì chữ quelque mới có nghĩa là mấy hay một vài, còn chữ plusieurs có nghĩa là nhiều. Và chữ soldats có nghĩa là binh lính hay lính chiến, còn chữ missionnaires mới có nghĩa là lính thừa sai hay là các nhà truyền giáo. Sở dĩ hai ông Chương Thâu và Linh Mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch ép giá như vậy là để che đậy cái tội vận động thực dân Pháp vào đánh chiếm nước ta của Linh Mục A. de Rhodes và cũng để vận động chính phủ Việt-Nam làm tượng đài kỷ niệm tại Hà-Nội và đặt tên đường tại thành phố Hồ Chí Minh để vinh danh kẻ tội đồ của dân tộc Việt thay vì lên án kẻ đội lốt tôn giáo nầy. Nhận thấy cách đặt vấn đề, viết sai lầm có hậu ý và vô trách nhiệm đến thế nên tôi đã viết bài để biện chính với tựa đề Góp Ý Với Giáo Sư Chương Thâu Về Vai Trò Của Linh-Mục A. De Rhodes và Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ, đăng trong tạp chí Giao Điểm số 24, 1996 tại Hoa Kỳ, và cũng được nhiều người photocopy phổ biến rộng rãi trong giới giáo chức và sinh viên tại Việt-Nam.

Về sau, có người đề nghị tôi viết về Nguyễn TrườngTộ, nhưng tôi không có sử liệu. Rất may có người bạn ở Việt Nam gởi cho cuốn Nguyễn Trường Tộ Con Người và Di Thảo của Linh Mục Trương Bá Cần, tiến sĩ sử học tại Pháp. Đọc hết 58 bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ trong cuốn của Linh Mục Trương Bá Cần, tôi cảm thấy hết sức ngạc nhiên và lạ lùng là không biết tại sao tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ như vậy mà từ trước đến giờ hầu như ai cũng ca tụng ông ta. Vì thế tôi bắt đầu nghiên cứu để viết về nhân vật nầy.

Tôi gọi giáo sư Trần Chung Ngọc để viết chung, và sau mấy tháng làm việc (dĩ nhiên là bán thời gian) chúng tôi hoàn thành cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo, Giao Điểm xuất bản 1998. Bài viết của tôi gồm có 190 trang, cọng với bài viết của giáo sư Trần Chung Ngọc 70 trang. Sách dày 260 trang. Mấy tháng sau, ông Nguyễn Xuân Phong viết bài ca tụng cuốn sách này. Bẳng đi một thời gian khá lâu, tháng 3 năm 2001 tại Việt Nam, ông Hoàng Thanh Đạm viết cuốn Nguyễn Trường Tộ Thời Thế & Tư Duy Cách Tân. Tác giả dành một chương gồm 24 trang để phê bình sách của chúng tôi. Vì phê bình sai lầm và viết cẩu thả vô trách nhiệm, nên tôi và giáo sư Trần Chung Ngọc viết bài biện chính. Tháng 4 năm 2002, chúng tôi hoàn thành cuốn sách mới với tựa đề là Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước? Vài tháng sau khi xuất bản, một số độc giả đề nghị đổi thành Nguyễn Trường Tộ Một Sự Lừa Dối Hào Nhoáng cho đúng với tâm chất của ông. Sách được mang về Việt Nam do những người về thăm quê.

Tháng 7 - 8, cuốn Nguyễn Trường Tộ Một Sự Lừa Dối Hào Nhoángvà cuốn Petrus Trương Vĩnh Ký Nhìn Từ Những Khía Cạnh và Nhận Thức Khác Nhau được in không có giấy phép tại Việt Nam. Cũng khỏang đầu tháng 8 năm 2002, tờ Sài-Gòn Giải-Phóng đăng bài Hai Cuốn Sách Lạ của ông Dạ Sinh. Trong đó tác giả không hề đề cập đến nội dung của hai cuốn sách mà chỉ cáo buộc rằng người in vi phạm luật xuất bản vì không có giấy phép, in số lượng lớn, gửi bán ở các tiệm sách tư, gửi đi các công sở và ngay cả bán dạo trên đường phố.

Gần 6 giờ sáng thứ Ba ngày 22. 10. 2002, ông Nguyễn Giang, đài BBC Luân Đôn, gọi điện thoại và để lại lời nhắn trong máy trả lời (answering machine) của tôi. Ông muốn nói chuyện với tôi về cuốn sách Nguyễn Tường Tộ, sau đây là lời nhắn của ông Nguyễn Giang:


Ông Nguyễn Giang - BBC Việt ngữ

Đó có phải là ông Bùi Kha không, tôi là Nguyễn Giang, ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn muốn được nói chuyện với ông về cuốn sách Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước hay không đó. Số điện thoại của tôi ở Luân-Đôn là 0044 vào nước Anh , sau đó là 207 -557-2303. Rất chờ tin của ông. Cám ơn. (Đúng ra phải là 01144, BK).

Mười phút sau, tôi gọi điện thoại trả lời ông Nguyễn Giang và cuộc phỏng vấn được tiến hành từ đó. Tôi được phỏng vấn đột ngột, chưa chuẩn bị tinh thần trước và hơn nữa là giọng nói của người Quảng-Trị chắc sẽ làm cho thính giả có vài đoạn khó hiểu. Được phỏng vấn bất ngờ nên có một số vấn đề lúc trả lời, cá nhân tôi cũng cảm thấy chưa được thỏa mãn. Dưới đây, qua mạng lưới âm thanh Internet, chúng tôi ghi lại cuộc phỏng vấn của ông Nguyễn Giang đài BBC Luân-Đôn:

1.

BBC: Thưa quí vị thính giả, Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử Việt-nam được công nhận rộng rãi trong và ngoài nước (qua nhiều thế hệ)* như là một người suốt đời kêu gọi canh tân xứ sở khi nhà nước phong kiến Việt-Nam triều Nguyễn đối mặt với cuộc xâm lăng của người Pháp trong thế kỷ thứ 19. Nhưng trong một cuốn sách ra năm nay ông Bùi Kha và ông Trần Chung Ngọc tại Hoa Kỳ đã cho rằng Nguyễn Trường Tộ không yêu nước như nhiều người vẫn tưởng. Trong cuộc phỏng vấn hằng tuần hôm nay mời quí vị nghe cuộc trò chuyện của Nguyễn Giang với ông Bùi Kha.

BBC: Trong chương trình phỏng vấn hàng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần này do Nguyễn Giang phụ trách, tôi xin mời quí vị cùng nói chuyện với ông Bùi Kha là một trong hai tác giả cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước và dấu hỏi rất lớn ở đằng sau. Ông Bùi Kha và ông Trần Chung Ngọc là những trí thức Việt Nam tham gia nhóm Giao Điểm có tư tưởng cổ vũ cho Phật Học tại Hoa Kỳ. Câu hỏi đầu tiên đến với ông Bùi Kha là rất nhiều nhà nghiên cứu Việt-Nam ở nước ngoài cũng như trong nước tại Việt-Nam hiện nay người ta đều ca tụng Nguyễn Trường Tộ và phê phán nhà Nguyễn là có tư tưởng cổ hủ không thực hiện các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch v.v. và Phạm Phú Thứ để cải cách đất nước vì thế Việt Nam mới mất nước, nhưng tại sao ông lại cho rằng Nguyễn Trường Tộ không yêu nước?

Bùi Kha: Thưa anh, không phải chúng tôi cho Nguyễn Trường Tộ không yêu nước, nhưng trong lịch sử và trong sử liệu mà chúng tôi có là những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ rất mâu thuẩn. Đọc trong đó kỹ lưỡng chúng ta sẽ thấy rằng ông Nguyễn Trường Tộ nói canh tân cái nầy hay cái khác, nhưng thực ra là chiêu bài củ cà rốt để che đậy hậu ý của ông là nhằm giúp Pháp trong vấn đề đô hộ Việt Nam. Nói rõ hơn, nếu đọc phớt qua thì thấy Nguyễn Trường Tộ đề nghị canh tân cái này, cải cách thứ khác và dùng chữ canh tân để đánh lừa dư luận nhưng hậu ý của ông là chỉ muốn giúp đỡ cho Pháp mà thôi. Nếu ai đọc kỹ lưỡng về Nguyễn Trường Tộ thì sẽ thấy tất cả 58 bản điều trần, tôi gọi là bản chiêu dụ, Nguyễn Trường Tộ nhắm vào hai mục đích chính. Thứ nhất là làm thế nào, vận động thế nào để tất cả quân và dân Việt Nam (nên hòa và hợp tác) đừng bao giờ dùng vũ lực đối với thực dân Pháp. Thứ hai là qua những mánh lưới chính trị lươn lẹo, ông đề nghị người này người khác vào trong vấn đề canh tân đất nước, vào làm việc trong các trại tế bần, nhưng đó là vỏ bọc bên ngoài, còn thực chất là ông ta chỉ muốn (gài người vào) để giúp Pháp mà thôi.

BBC: Vâng, nhưng ông nghĩ thế nào chẳng hạn như liên tục trong 8 năm liền từ 1863-1871, Nguyễn Tường Tộ gửi lên triều đình Huế 58 bản điều-trần chẳng hạn, có bản điều trần viết rằng, theo cuốn Tư Tưởng Canh Tân Đất Nước Dưới Triều Nguyễn xuất bản tại Việt Nam trong thời gian qua, ông viết rằng nước chưa giàu sao không đặt kế hoạch để giàu, binh chưa mạnh sao không lo cho võ bị để mạnh v.v. tức là ông cũng nhắc đến cái chuyện là tăng cường võ bị hay là như Việt-Nam nói bây giờ tức là tăng cường cái nội lực để chống lại âm mưu xâm chiếm của thực dân Pháp thời đó, thì tại sao ông cho rằng cái quan điểm chẳng hạn như nâng cao võ bị của Việt-Nam , nâng cao giáo dục cho dân chúng lại là một âm mưu nào đó?

BÙI KHA: Thưa ông, ông ta nói nâng cao giáo dục hay canh tân đất nước, ông ta chỉ nói vậy mà thôi, chứ ông không hề có chủ tâm như vậy. Nếu đọc những bản điều trần khác thì thấy chúng mâu thuẩn. Vì năm 1863 (trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận) ông đã nói rằng việc Pháp đánh chiếm Việt-Nam là do Thượng-Đế an bài như vậy rồi chúng ta không thể cưỡng được, và nếu chống lại họ thì cũng giống như châu chấu lay trụ đá mà thôi. Và ông khuyên nên cho quân lính nghỉ ngơi. Khi đề nghị cho quân lính nghỉ ngơi (để người Pháp giữ bờ cỏi cho mình như trong rừng có hổ báo thì chồn cáo không giám bén mảng đến) thì canh tân võ bị như thế nào và canh tân để làm gì? Trong (đề nghị) canh tân võ bị ông cũng không có cái sáng kiến nào cả, ông cóp nhặt ý trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp, chứ ngoài ra cũng không có một phương pháp nào khả dĩ theo đường lối võ bị mới để canh tân xứ sở, để làm cho dân giàu nước mạnh. Trong lúc đề nghị dân giàu nước mạnh, ông cũng chỉ xử dụng danh từ suông vậy mà thôi, chứ ngoài ra cũng không có chương trình kế họach nào hết. Thí dụ như ngay việc đề nghị mở trường kỹ thuật ở Huế, ông và ông Giám-mục Gauthier được vua Tự Đức nhờ đi Pháp mua dụng cụ máy móc đem về và mời thầy giáo về để mở trường kỹ thuật. Nhưng 4 ông thầy giáo được mang về, 3 ông (linh-mục) thì không có kiến thức, còn ông Ca-Xanh đòi lương quá cao không thể dùng được. Thành ra những điều ông Nguyễn Trường Tộ nói một đường nhưng làm một ngả, cái hậu ý của ông đàng sau đó là khác.

BBC: Đó là những suy diễn của quí vị chứ còn ngay trong những bản điều trần chẳng hạn ông đề nghị chất đá cho nhiều để dành khi hữu sự hay là chế tạo các loại vũ khí mới lạ mới đối phó được với giặc chẳng hạn, rồi quân sự thông thường các chiến tập công khai để dân chúng học tập v.v. Hay những đề nghị xây dựng công sự bằng gạch đá v. v. thì những cái đó là rõ ràng để bảo vệ đất nước chứ hả?

BÙI KHA: Thưa nếu chỉ trích đoạn đó không thôi thì thấy một số ý kiến của ông như có vẻ đúng. Thực tế ông nói như vậy nhưng không làm như vậy. Thí dụ như ban nảy tôi đưa thí dụ là khi mở trường Kỹ Thuật ở Huế ông mời 4 ông giáo sư về, rồi viết tờ trình lên vua Tự Đức rằng ông nầy có kiến thức nầy, ông kia có kiến thức kia, ông nọ có kiến thức nọ. Nhưng theo tài liệu của Bộ Truyền Giáo thì 3 ông (linh-mục) mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị trong danh sách thì chỉ có bằng cử-nhân văn chương mà thôi chứ không có kiến thức về khoa học. Ông nói thì có vẻ hợp lý nhưng cái hợp lý đó với hậu ý khác. Như khi ông đề nghị mỗi tỉnh mở một viện dục anh và trại tế bần để giúp đỡ những người nghèo khổ, giúp đỡ những em mồ côi là những đề nghị đúng và hay. Nhưng lúc ông có dụng ý để Giám Mục tình báo Gauthier bổ nhiệm mỗi tỉnh một ông linh mục hay giám mục để coi sóc các trại đó là những đề nghị tai hại. Vì như Giám-mục Puginier đã cho biết Nếu không có giáo-sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng giống như cua bị bẻ gãy hết càng. Do đó, việc Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở viện dục anh và trại tế-bần là có hậu ý để tạo một mạng lưới gián điệp (gồm linh mục và giám mục) bủa khắp cả nước Việt-nam. Đó cũng là hành động giúp CUA (Pháp) có thêm càng để dễ thôn tính nước ta. Cho nên điều mà ông nói mới nghe thì có vẻ như hợp lý nhưng thực hành thì hoàn toàn sai và tai hại.

BBC: Quí vị đang nghe trên mục phỏng vấn hằng tuần của ban Việt-Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha từ Hoa-Kỳ, một người có quan điểm phê phán Nguyễn Trường Tộ, và tiếp tục nói chuyện với ông và xin hỏi ông là ông có nói Nguyễn Trường Tộ thực ra là có cái ý xấu tức là phục vụ người Pháp, nhưng thử hỏi rằng nếu trong cái giả sử là như vậy thì phải chăng là tất cả các bản điều trần của ông đều sai trái và không có một ý tưởng gì mới cho canh tân Việt Nam, và một mặt khác thì phải chăng chúng ta nên hiểu rằng Nguyễn Trường Tộ chỉ là người đưa lên những đề nghị cho triều đình nhà Nguyễn thời đó, chứ ông ta đâu phải là người có toàn quyền thực hiện?

BÙI KHA: Có phần đúng như vậy thưa anh, như trong bài viết cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước? Và trước đây, 1998, tôi có viết với ông Trần Chung Ngọc cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo, chúng tôi cũng có nhắc lại rằng một số (rất ít) bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ nếu áp dụng thì có thể thực hiện được, rất tốt. Thí dụ như cải cách võ bị, khi ông nói rằng lính đi đánh giặc nhưng không đủ lương thực, tiền lương không đủ để ăn làm sao đánh giặc được. Trong lúc các ông tướng, sau khi đánh giặc về, họ lo ăn chơi không chăm sóc binh lính làm sao lính có thể hy sinh tánh mạng đối với đất nước được. Và nhà vua không trọng đãi họ, làm sao họ có thể hy sinh tánh mạng để bảo vệ tổ quốc? Nói như vậy thì đúng. Và trong bài đề nghị Cải Cách Phong Tục Nguyễn Trường Tộ rất đúng. Nhưng chỉ có một vài bài và vài đề nghị nhỏ như vậy mà thôi, chứ còn toàn bộ 58 bản Điều-trần ông nói thế nầy nhưng với dụng tâm khác mà chúng tôi có vạch rõ trong sách.

Ba thí dụ sau đây tôi có trình bày lúc trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Giang, nhưng có lẽ vì thời lượng của đài có giới hạn nên không thấy có 3 dẫn chứng nầy trong các lần phát thanh về Việt Nam. Tôi xin nêu ra đây để làm rõ thêm tâm chất của Nguyễn Trường Tộ.

Thí dụ 1: Năm 1867 Đô-Đốc La Grandière lạm dụng uy quyền chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ mà không được sự đồng ý của chính phủ ông. Vua Tự Đức dự định cử phái bộ đi thương lượng thẳng với chính phủ Pháp để đòi lại, thì Nguyễn Trường Tộ, ngày 7.4.1868, viết kiến nghị gởi lên triều đình khuyên nên Bải Bỏ Việc Cử Phái Bộ Đi Pháp nên tính kế lâu dài, dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao-thiệp...Mấy cụm từ nên tính kế lâu dài, dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp ai cũng tưởng ông có lòng đối với đất nước, nhưng thực ra là sợ Pháp có thể trả lại 3 tỉnh vừa chiếm, và cũng để gỡ rối cho La Grandiere đang có thể bị chính phủ ông trừng trị vì chiếm 3 tỉnh miền Tây mà không được chính phủ ông đồng thuận trước.

Thí dụ 2: Tháng 9 năm 1870 Pháp thua Phổ, chính phủ bị giải tán, vua Louis Bonaparte bị tù. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để Việt-Nam dùng vũ lực đuổi thực dân Pháp về nước, thì Nguyễn Trường Tộ viết bài Kế Hoạch Thu Hồi Sáu Tỉnh trong đó ông khuyên nên dùng phương pháp ngọai giao thay vì vũ lực để đòi lại các tỉnh đã bị Pháp chiếm.

Thí dụ 3: Nhưng có lẽ vì thấy phi lý nên 8 ngày sau (9. 2. 1871) ông viết bài Bổ Túc Kế Hoạch Đánh Úp Gia-Định. Vì tự ái dân tộc và nhục vì bị trị nên lúc nghe mấy chữ Kế Hoạch Đánh Úp dân Việt Nam ai cũng mừng cũng hãnh diện và cứ thế mà biết bao người qua nhiều thế hệ đã ca tụng ông ta. Nhưng Nguyễn Trường Tộ chỉ dùng cụm từ Kế Hoạch Đánh Úp nghe cho đã lỗ tai vậy thôi chứ ông không có ý đánh, mà với hậu ý khác. Vì nếu đánh bây giờ thì sợ Pháp bị thua nên ông khuyên phải 2 năm sau. Lịch sử cho thấy nếu đánh ngay thì Việt Nam thắng còn 2 năm sau chắc chắn thua. Tâm chất dối trá của Nguyễn Trường Tộ hầu hết là như thế cả; nói một đường làm một nẻo và tùy theo tình hình quân sự của Pháp mà viết kiến nghị, có hậu ý, gởi cho triều-đình vua Tự Đức.

BBC: Và giả thử xin được hỏi ông Bùi Kha một câu có tính chất hoàn toàn lý thuyết là giả thử như triều đình nhà Nguyễn hay và những người lãnh đạo thời đó ở Việt Nam bắt chước Nhật Bản thực hiện toàn bộ những điều trần của Nguyễn Trường Tộ thì đất nước Việt Nam sẽ đi đến đâu?

BÙI KHA: Nếu Việt Nam thực hiện cải cách như Nhật Bản (không phải như NTT*) thì tôi nghĩ rằng nước Việt Nam sẽ khá giàu mạnh, nhưng có điều chắc chắn rằng ông Gauthier là thầy của Nguyễn Trường Tộ và ông Nguyễn Trường Tộ giao dịch sống chung với ông gián điệp tình báo nầy trên 10 năm như tôi đã chứng minh bằng các tài liệu mật trong sách. Ôâng Gauthier lại là người muốn biến đổi xứ Bắc-Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ và sau đó sẽ biến Việt Nam thành một nước chư hầu nhỏ của Pháp. Cho nên nếu Việt Nam canh tân thì chính ông Nguyễn Trường Tộ và ông Gauthier là hai người sẽ đứng ra cản ngăn và phá phách trước tiên, và không bao giờ có thể canh tân được. Nêu ra điều đó chúng ta cần thấy thêm rằng sau ngày 1.9.1858 ông Nguyễn Trường Tộ với Giám Mục tình báo Gauthier và 6 người khác ra tại cữa Mành Sơn Đà-Nẵng và tại đó có các linh mục giám-mục người Pháp có mặt sẵn, Giám-mục Pellerin, người đứng đầu phái bộ, đã cổ động tất cả những người có mặt làm reo Để Pháp đánh Huế cho chóng dứt điểm. Trong những người làm reo đó có ông Nguyễn Trường Tộ. Về sau ông Nguyễn Trường Tộ sợ nên trốn đi Hồng Kông. Từ Hồng Kông, năm 1861 Nguyễn Trường Tộ về lại Sài-gòn, theo lời yêu cầu của ông Charner, để mở rộng vùng chiếm đóng. Cho nên có thể nói rằng nếu Việt Nam thời nhà Nguyễn bắt chước Nhật Bản để canh tân thì chính Nguyễn Trường Tộ và Gauthier là những người sẽ phá phách trước tiên.

BBC: Không, nhưng giả sử ta bỏ ông Nguyễn Trường Tộ sang một bên, nhưng theo cái quan điểm của những nhà gọi là có tư tưởng canh tân thời đó kể cả Phạm Phú Thứ sau chuyến đi gọi là Sứ Đi Tây hay là của Nguyễn Lộ Trạch về sau nầy, giả sử không nói đến các nhân vật đó nhưng nếu triều-đình nhà Nguyễn thực hiện tất cả chính sách canh tân đó thì liệu Việt-Nam có thể trở thành giàu mạnh và không bị lệ thuộc nước Pháp không?

BÙI KHA: Tôi nghĩ nếu Việt-Nam làm như vậy thì có lệ thuộc nước Pháp cũng có thể thoát ra khỏi được nếu giàu mạnh như Nhật-Bản. Nhưng rất tiếc, triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ cũng bị thù trong giặc ngoài. Trong nước thì có các giáo sĩ và giáo-dân chỗ nầy chỗ khác họ đã chống lại triều đình rồi. Cho nên cũng khó lòng canh tân giả sử triều đình có chương trình để canh tân, vì những con nội trùng trong đất nước khó lòng dẹp yên. Nhưng lúc đó tôi thấy rằng triều đình nhà Nguyễn về phương diện tư tưởng canh tân xứ sở thì các vua quan, nhất là vua Tự Đức, có lòng đối với đất nước, nhưng cũng chưa có chương trình khả dĩ có thể gọi là canh tân, chưa có phương pháp gì cả. Có thể nói là mơ hồ, chỉ lo để chống ngoại xâm và bảo vệ dòng tộc nhiều hơn là có một chương trình canh tân, nếu thật sự có canh tân thì đất nước Việt Nam sẽ khá.

BBC: Nhưng mà nếu giả sử là chẳng hạn như nhìn lại một số, đây chúng ta đang nói chuyện với nhau trong cuộc phỏng vấn hằng tuần hôm nay của đài BBC Luân Đôn, tất cả chúng ta nói chuyện chỉ là giả thuyết và giả tưởng ở chỗ là sự việc xẩy ra là nước Việt Nam sau thời Tự Đức thì mất nước và bị nước Pháp đô hộ nhiều năm và sau đó thì trải qua hai ba cuộc chiến khủng khiếp của thế kỷ 20 và đến bây giờ thì đất nước cũng đang ở một giai đoạn đòi hỏi phải canh tân, thì bài học từ thời Tự-Đức mà ông và các cọng sự của ông nghiên cứu trong lúc phê phán Nguyễn Trường Tộ thì cái bài học rút ra cho thời Tự Đức đó là gì?

BÙI KHA: Bài học rút ra cho thời Tự Đức là luôn luôn nhà cầm quyền phải nhìn cái hướng đi lên của thế giới và sự phát triển của các nước đã đi qua để xét lại đất nước mình có những điều nào còn tụt hậu, điều nào vẫn còn kém thì mình phải cố gắng phát triển nền kinh tế của nước nhà. Rất buồn, thực tế hiện thời nạn tham nhũng đã đục khoét đất nước Việt-Nam hết sức nguy hiểm như anh thấy. Nạn Năm Cam, tôi nghĩ rằng vốn liếng của ông ta nhiều lắm là 4 đến 5 chục triệu đô la nhưng ông có thể mua đến thứ trưởng, tổng giám đốc, mua nhân viên các bộ, các ngành. Nếu nạn tham nhũng ở Việt Nam không được trừng trị đích đáng và chấm dứt, thì có thể người nước ngoài họ bỏ ra vài trăm triệu đô la là có thể mua hết. Đó là điều nguy hiểm, tôi nghĩ rằng Việt-Nam trong lúc đang trên đà canh tân đổi mới để làm cho dân giàu nước mạnh thì một trong những vấn nạn ưu tiên là chính phủ Việt-Nam cần trừng trị đích đáng thành phần hối lộ tham nhũng.

BBC: Quí vị đang nghe trên mục phỏng vấn hằng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha. Trở lại với cái thời Tự-Đức giả sử như các ông vua triều Nguyễn hồi đó vất bỏ cái ý thức hệ Nho Giáo mà nhiều người chính ngay ở trong nước đã gọi là cỗ hủ, tức là vất bỏ cái gánh nặng ý thức hệ đó để tự mình Tây Phương hóa đi hay là mình giống Nhật Bản nghĩa là tự mình hiện đại hóa thì phải chăng mình có cái cơ hội nào đó dù phải trả một cái giá nhất định về mặt bản sắc nhưng mà vẫn có thể trở thành một cường quốc trong khu vực?

BÙI KHA: Thưa anh, tôi đồng ý quan điểm của anh như thế. Vì nếu Việt Nam bỏ đi những cái cổ hủ của Nho Giáo, dĩ nhiên trong giáo lý của Nho Giáo, trong ý thức hệ của Nho-Giáo cũng có một số vấn đề đúng chúng ta nên giữ lại. Còn những điều sai như tinh thần trọng nam khinh nữ chẳng hạn, hay thí dụ như vua bảo thần chết thì thần phải chết. Đó là quan niệm xưa, sai lầm. Nếu bỏ những cái cỗ hủ và bắt chước những điều tốt đẹp của Tây Phương thì Việt Nam sẽ khá. Như Nhật Bản, họ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều của Nho Giáo, nhưng họ biết gạn lọc, lấy cái hay cái tốt, bỏ cái dở và theo phương pháp Âu hoá của Tây Phương, dựa trên khoa học kỹ thuật để canh tân xứ sở, tôi nghĩ Việt-Nam mặc dầu có đổi cái giá nào đó, nhưng sau cái giá đó mình có thể vượt lên, có thể tự cường và không bị ảnh hưởng, không bị ngoại quốc khống chế hoặc áp đặt những chính sách của họ lên trên đất nước mình.

BBC: Xin hỏi ông một câu có liên quan đến sở thích hay những cái tại sao ông lại quan tâm nghiên cứu nhân vật Nguyễn Trường Tộ ?

BÙI KHA: Thưa, trước đó tôi có viết bài để góp ý với giáo-sư Chương Thâu về Alexandre de Rhodes và chữ quốc ngữ. Bài viết đó được rất nhiều độc giả thích cách đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu của tôi về chữ quốc ngữ và Linh-mục A. de Rhodes (Rốt). Sau đó có nhiều người đề nghị tôi viết về Nguyễn Trường Tộ. Tôi kiếm tài liệu để viết, và nếu tôi không lầm thì năm 1992, Trung tâm Hán-Nôm thuộc viện Khoa-Học Xã-Hội tại thành phố Hồ Chí Minh có tổ chức hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, qui tụ khoảng 5 hoặc 6 trăm người (nếu tôi không lầm con số). Một tập kỷ yếu được ra đời từ cuộc hội thảo gồm có 47 bài. Trong đó gần như hoàn toàn đều ca tụng Nguyễn Trường Tộ. Có người đề nghị tôi viết về Nguyễn Trường Tộ nhưng tôi không thể viết được. Vì nếu ca tụng thì tôi không thể ca tụng hơn người khác, mà nếu phản bác thì tôi không có sử liệu. Nhưng về sau một người bạn ở Việt Nam mua cho tôi cuốn Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo tác giả là tiến sĩ sử học Linh-mục Trương Bá Cần. Lúc đọc hết 58 bản Điều-trần của Nguyễn Trường Tộ in trong sách đó, tôi thấy hết sức mâu thuẩn và ngạc nhiên là không biết tại sao từ trước đến giờ ai cũng ca tụng ông ta. Từ đó tôi tò mò nghiên cứu và viết về Nguyễn Trường Tộ trong mấy tháng trời xong cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo in năm 1998 (như đã nói ở trên). Năm rồi có ông Hoàng Thanh Đạm viết phê bình cuốn sách của chúng tôi. Vì thế, chúng tôi nghiên cứu thêm để trả lời ông Hoàng Thanh Đạm cuốn sách mà anh đang có trong tay và phỏng vấn chúng tôi ngày hôm nay. Đó là lý do mà chúng tôi muốn rằng một số các nhân vật tại Việt-Nam được vinh danh hoặc bị chôn vùi cần được xét lại. Vì bây giờ nhiều tài liệu mật được mở cho quần chúng xem thì chúng ta cần nghiên cứu trở lại để vấn đề vinh danh hay hạ nhục người nào cho được công bằng. Đó là lý do mà chúng tôi muốn làm, và thấy rằng những cuốn sử Việt-Nam nên chỉnh đốn lại nhiều lắm nhất là những cuốn sử viết về thời Pháp thuộc.

BBC: Đó là ông Bùi Kha trả lời phỏng vấn của Nguyễn Giang. Tuần tới mời quí vị nghe Nguyễn Giang hỏi ông về những nhân vật như Alexandre de Rhodes hay Trương Vĩnh Ký mà ông (Bùi Kha) cho là cần được làm rõ ràng hơn trong việc vinh danh hay lên án.

Trên đây là phần đầu của cuộc phỏng vấn được phát thanh về Việt-Nam lúc 6 giờ 30 tối thứ Bảy, ngày 26.10.2002. Phần thứ hai được phát thanh về Việt-Nam cũng vào giờ nầy tối thứ Bảy, ngày 2. 11. 2002.

2.

BBC: Thưa quí vị, phần 2 và cũng là phần cuối của cuộc trò chuyện với ông Bùi Kha từ Hoa Kỳ đồng tác giả một cuốn sách phê phán Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Giang, ban Việt-Ngữ đài BBC Luân-Đôn, hỏi vì sao ông không chấp nhận chuyện một số nhân vật lịch sử như Nguyễn Trường Tộ, và Trương Vĩnh Ký được vinh danh trong nước. Mời quí vị đón nghe.

BBC: Một trong những quan điểm hiện nay rất phổ biến tại Việt-Nam là có rất nhiều cuốn sách cũng như những nhân vật như Trương Vĩnh Ký cũng được trong nước người ta nhìn nhận lại, vậy thì ông và nhóm những người cọng sự của ông nghĩ thế nào về những nhân vật đã từng làm việc cho Pháp nhưng vẫn có những đóng góp cho văn hóa Việt-Nam trong việc canh tân ngôn ngữ cũng như khoa học kỹ thuật ?

BÙI KHA: Thưa anh, những người họ làm vịêc cho Pháp hay cho ngoại quốc nhưng nếu có đầu óc canh tân xứ sở như là phát triển văn hoá dân tộc thì cần được ca tụng cả. Khi anh nhắc đến tên Trương Vĩnh Ký thì tôi nhớ có viết bài về ông ta. Về tư tưởng chính trị của Trương Vĩnh Ký thì hầu như đến lúc nầy không ai dám bàn cãi nữa. Vì ông là người phản quốc theo Pháp rồi chẳng cần nói thêm. Nhưng về phương diện văn hóa, có người châm chế cho Trương Vĩnh Ký và nói rằng ông có soạn thảo, dịch thuật và biên chép trên 100 đầu sách, và những sách đó là giúp ích cho nền văn hoá nước nhà thì tôi nghĩ vấn đề đó cần được đặt lại. Vì trong những bài viết và thư mà Trương Vĩnh Ký gởi cho Pháp có một bức thư nói như thế nầy: Tất cả những tác phẩm mà tôi biên soạn từ trước đến giờ, tôi không đi ra ngoài mục đích chính yếu đã được đặt ra. Mục đích đó là nhằm biến đổi và đồng hoá dân tộc An-nam. Cho nên những cuốn sách như biên soạn tự điển, dịch truyện Kiều hoặc những cuốn sách khác của Trương Vĩnh Ký không nhằm để nâng cao dân trí người Việt-Nam nhưng nhằm để đồng hoá dân tộc ta. Do đó, lúc nói rằng Trương Vĩnh Ký có công với nền văn hóa Việt-Nam hoặc có công với dân Việt-Nam thì vấn đề nên được đặt lại. Vì mục đích những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký là như ông ta đã nói. Còn khi chúng ta dùng những tác phẩm đó để mở mang và phát triển văn hóa thì cũng giống như lúc có tên tướng cướp vào nhà. Nó dùng khí giới để đồng hóa và dụ dỗ những người trong đó. Nhưng có người trong nhà đã xử dụng loại khí giới của nó để đánh đuổi tên tướng cướp ra. Thì thử hỏi ai là kẻ có công và người nào là có tội?* Do đó, tôi nghĩ rằng lịch sử cần nên xem xét lại cho được công bằng. Nhất là hiện nay các thư khố và văn khố được giải mật của Pháp và của Vatican, nhà nước Việt Nam, nhất là Viện Sử Học, nên có những công trình đi nghiên cứu và photocopy đem về tất cả những tư liệu viết về Việt Nam, lọc lại những cái nào dùng được, xét những cuốn sử nào từ trước đến nay viết sai lầm, và người nào trong lịch sử được vinh danh nhầm cần đặt lại, và người nào không được vinh danh hoặc đánh giá sai hoặc hạ nhục họ cần được phục hồi danh dự. Tôi nghĩ như thế lịch sử mới được công bằng. Vấn đề ông Trương Vĩnh Ký, ông Nguyễn Trường Tộ, ông (Linh-mục) Trần Lục cần phải được đặt lại cả.

BBC: Vậy thì ông nghĩ thế nào về những nhân vật ở nước ngoài như là Alexandre de Rhodes mà bây giờ trong nước người ta còn thậm chí dựng tượng đài nho nhỏ ở thư viện (Hà-Nội) để vinh danh cho việc ông đóng góp vào việc phát triển chữ quốc ngữ. Chữ quốc ngữ mặc dầu ai cũng biết rằng ông là một nhân vật Công Giáo vào Việt Nam với mục tiêu là đồng hóa dân Việt-Nam ? (Câu hỏi nầy được lấy từ Internet âm thanh có hơi khác so với câu hỏi nguyên thủy, BK).

BÙI KHA: Về ông Alexandre de Rhodes thì anh nên hiểu rõ như thế nầy: có nhiều người từ trước đến giờ viết về Alexandre de Rhodes (Đờ Rốt) thường gán cho rằng ông là người đầu tiên sáng chế chữ quốc ngữ. Nhưng thực sự chính ông Rốt không nói điều đó. Trong cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La, lời nói đầu, Rốt viết rất rõ là tôi đã học chữ Việt với người dân bản xứ và học với các ông cha trong hội dòng đi trước tôi. Điều đó cho thấy rằng ông Rốt không phải là người sáng chế chữ quốc ngữ, mà ông được học từ người dân bản xứ và các ông cha trong các hội dòng. Ông còn nói rằng cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La mà quí vị đang cầm trong tay là do ông Amaral làm cuốn Tự-Điển Việt-Bồ và ông Barbosa làm cuốn Tự-Điển Bồ-Việt còn tôi chỉ thêm phần La-Tinh vào mà thôi. Cho nên gán cho ông Rốt là người sáng chế chữ quốc ngữ và là tác giả cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La là hoàn toàn sai lầm.

Việc thứ hai là chúng tôi thấy rằng chính phủ Việt-Nam tái vinh danh bằng cách đặt tên đường và làm tượng đài kỷ niệm ông Rốt là hoàn toàn sai lầm. Vì trong cuốn Hành-Trình Và Truyền Giáo ông Rốt nói rất rõ: Tôi nghĩ nước Pháp là nước ngoan đạo sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh lính để chinh phục cõi Phương-Đông và tại đó tôi sẽ kiếm được nhiều ông cha trong các nhà thờ mới. Với ý nghĩ đó tôi hôn chân giáo hoàng trước lúc rời La-Mã đi Pháp. Và khi đi ngang qua Lyon, ông viết rằng Tôi nghiệm thấy có Thiên Chúa quan phòng và tôi nghĩ làm thế nào để đưa tôi lọt vào Triều-đình Pháp. Tôi rất may mắn là gặp được Giám-mục Henry de Maupa, ngài cũng là Tuyên-uý của đức hoàng hậu, ngài đã giúp cho tôi rất nhiều trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy. Cho nên ông Rốt về phương diện tư tưởng chính trị thì chính ông đã vào trong triều-đình vua Louis thứ 14 để vận động Pháp đánh chiếm Việt Nam. Nhưng lúc đó Pháp chưa sẵn sàng, và 200 năm sau thì kế hoạch, ý kiến của ông Rốt đã được Pháp thực hiện tại Việt-Nam vào năm 1858, lúc đánh Đà-Nẵng lần đầu tiên. Cho nên việc đặt tên đường cho ông Rốt tại thành phố Hồ Chí Minh và làm tượng đài kỷ niệm ngoài Hà-Nội là điều nhục quốc thể, nếu người ngoại quốc đến mà thấy như vậy, nhất là người Pháp. Dân Việt-Nam có 4 ngàn năm văn hiến, giờ đây một kẻ tội đồ của dân tộc lại được vinh danh. Tôi nghĩ nhà nước Việt-nam, nhất là Bộ Văn Hóa, Bộ Giáo-Dục cần nghiên cứu trở lại nhân vật Alexandre de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ và Trương Vĩnh Ký để lịch sử cho được công bằng.

BBC: Qúy vị đang nghe trên mục phỏng vấn hàng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha. Xin thưa với ông Bùi Kha là cái quan điểm phê phán những người nào có một chút dính đến Phương Tây, hay thậm chí theo Phương-Tây theo thực dân Pháp rõ ràng, hay thực sự giúp đỡ Pháp vào đánh chiếm Việt-Nam, quan điểm phê phán nặng nề mà không nhìn thấy những đóng góp của họ thì phải chăng đó là cái quan điểm tại miền Bắc Việt Nam vào các thập niên 60 & 70 khi mà phong trào giải phóng dân tộc đang lên cao, chứ bây giờ các nhà văn hóa đang nhìn lại những điểm đóng góp của họ. Ai cũng biết ông Rốt không phải là một người dân tộc chủ nghĩa cho Việt Nam mà còn có khi ngược lại những đóng góp của ông, đúng là ông không phải là người sáng tạo ra chữ quốc ngữ, nhưng ông là người phổ biến và có công cải biên nâng nó lên thành một tầng khác thì tại sao không dám dũng cảm mà nhận những gì mà người ta đem đến cho mình ?

BÙI KHA: Thưa anh nói như vậy là đúng. Do đó chúng tôi mới nói rằng Bộ Văn Hóa và Viện Sử Học Việt Nam nên nghiên cứu lại là một đề nghị đúng. Nếu nói rằng ông Rốt có công trong vấn đề phát triển chữ quốc ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh thì đúng nhưng cho rằng ông là người sáng chế chữ quốc ngữ là sai, và cái tội của ông là vận động Pháp đánh chiếm Việt-Nam. Do đó trong cuốn sách chúng tôi có nói rõ nên liệt kê những cái nào có công thì vinh danh, và cái nào có tội thì nên nói rõ. Chứ ông (Linh-Mục) Rốt trên phương diện đóng góp vào việc phát triển chữ quốc ngữ ông có công. Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói rõ rằng ông có cái tội là vận động Pháp vào đánh chiếm Việt-Nam.*

BBC: Xin tiếp tục hỏi ông một câu là trong tất cả các bài viết của ông và các cọng sự phần nhiều tôi để ý thấy một cái giòng quan điểm phê phán Công Giáo, phê phán Thiên Chúa Giáo La Mã cũng như Tòa Thánh hay là phê phán những cái gọi là âm mưu Phương Tây vào Việt Nam từ trước đến nay. Điều đó có đúng không hả?

BÙI KHA: Thưa anh gán cho chúng tôi rằng phê phán Công Giáo, hay có người nói nặng hơn đó là công kích hay nói xấu Công Giáo, nói xấu Vatican. Chúng tôi nghĩ nói như vậy hơi quá đáng. Chúng tôi chỉ viết theo lịch sử mà thôi. Nếu như Vatican hay Công Giáo có những điều tốt thì chúng tôi cũng nói tốt, có những điều xấu chúng tôi cũng nói đó là xấu. Thật sự, người Công Giáo Việt Nam nhất là con chiên Việt Nam họ rất tội nghiệp. Họ nguyên là người Việt Nam yêu nước, là người chất phát thật thà, là những người đạo đức. Nhưng lúc trở thành con chiên, trở thành tín đồ của Vatican rồi thì họ có khuynh hướng chống lại đất nước mà điều đó chính các đô đốc người Pháp cũng nói rõ: Khi một người trong một vùng hay một làng nào đó trở thành người Công-giáo thì họ từ chối không chịu đóng thuế cho triều đình, họ chống lại không theo pháp luật của nhà nước...

BBC: Trước khi đi vào... xin lỗi ông là ngắt lời ông, trước khi đi vào chuyện đó thì xin trở lại cái giai đoạn khi mà Công Giáo đi vào Việt Nam tại sao không nhìn vấn đề những người Việt Nam nghèo khổ, những người thậm chí một số trong giới quí tộc trong phủ chúa Trịnh có những bà chúa nọ khác có những người đi theo Công-Giáo phải chăng tại sao chúng ta không nhìn, các ông không nhìn theo quan điểm tự do tín ngưỡng thí dụ họ muốn thờ ai đấy là quyền của họ, tại sao lại bắt họ phục vụ cho một cái triều đình nhiều khi tham nhũng thối nát thậm chí đàn áp họ, tại sao họ không được quyền theo người Pháp?

BÙI KHA: Tôi nghĩ câu hỏi của anh như vậy có cái đúng, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Như anh vừa nói có một số bà chúa, một số công chúa, một số hoàng tộc theo đạo, nhưng khi theo đạo rồi họ chỉ theo đạo và vẫn phụng sự tổ quốc và giữ gìn phong tục và nếp sống tốt đẹp của Việt Nam thì không sao cả, nhưng đã có một số người, nhiều người, khi theo đạo rồi họ bỏ vấn đề thờ cúng tổ tiên, họ sấp lưng đối với triều đình, sấp lưng đối với quốc gia. Đó mới có chuyện xẩy ra. Anh hẳn cũng đã thấy, có một số tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, khi người trở thành tín đồ các tôn giáo nầy họ không sấp lưng đối với tổ quốc của họ, họ không chống lại triều đình. Cho nên có thể nói rằng cái lỗi là ở phía khi mà người Việt Nam trở thành tín đồ Công-Giáo, họ có cái tư tưởng coi trọng Vatican hơn là chính tổ quốc của mình. Chính điều đó, chính điểm đó cần phải được đặt thành vấn đề, cần phải phải được bàn thảo.

BBC: Trong giai đoạn đất nước có nhiều cái biến chuyển, tại sao ông lại yêu cầu những người chẳng hạn như Công Giáo hay những người thuộc tôn giáo khác phải đặt quyền lợi của một triều đình, mà triều đình đó rõ ràng là hủ bại, rõ ràng là thất bại trong chuyện canh tân đất nước. Ở cái giai đoạn đó tại sao họ không được quyền hướng đến Vatican, hướng đến Paris, hay những người sau nầy hướng đến Mạc-tư-khoa là quyền của họ tại sao họ lại phải theo quan điểm rất là hạn hẹp tức là phải ủng hộ triều đình nhà Nguyễn hồi đó?

BÙI KHA: Trước tiên, nếu đặt vấn đề như vậy thì mình phải hiểu rằng cái chính sách của ngoại quốc đối với đất nước mình nó nguy hiểm hơn hay tốt đẹp hơn chính sách của triều-đình đối với đất nước. Đó là chuyện thứ nhất. Hai chuyện đó rất rõ. Tôi muốn nhấn mạnh lại là chính sách của ngoại bang hay nói rõ hơn đó là chính sách của Pháp thời bấy giờ, nếu đô hộ Việt-Nam thì tôi nghĩ chính sách của Pháp tai hại hơn là chính sách của triều đình nhà Nguyễn đối với đất nước Việt Nam, trên mặt đối với tổ quốc là chuyện thứ nhất. Vấn đề thứ hai là thay vì phụ lực hay ủng hộ người Pháp để đô hộ Việt Nam, người Công-Giáo nên chống thẳng với triều đình, nói điều nầy là cổ hủ điều kia cần phải cải cách, nếu người Công Giáo làm như vậy thì họ là kẻ có công đối với đất nước. Anh cũng như tôi, tất cả những người Việt Nam nếu ai có lòng yêu nước thì đều không thể chấp nhận hành động của kẻ chạy theo giặc.

BBC: Và thưa ông là ông Nguyễn Trường Tộ hồi đó với tư cách là một người công giáo mà bây giờ trong nước gọi là công giáo yêu nước. Chính ông đã đưa lên 58 bản điều trần nhưng mà triều đình thực hiện được một ít hay không thực hiện được bao nhiêu là do hoàn cảnh mà chính các nhà nghiên cứu trong nước đều biết rằng thời đó Việt Nam có muốn thực hiện cải tổ cũng hơi khó vì Pháp và những nước Phương Tây khác họ không cho phép, họ tìm cách phá. Những người Công Giáo như vậy, đưa lên những bản điều trần như vậy thì tại sao ông lại phê phán họ?

BÙI KHA: Nếu tách rời một số những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ thì có thể áp dụng được. Nhưng ông Nguyễn Trường Tộ nói như vậy (canh tân) nhưng mục đích của ông là nói chuyện khác. Cho nên trong bản liệt kê Công và Tội của Nguyễn Trường Tộ tôi có liệt kê là ông có công xây được 2 nhà thờ, công chỉ huy đào Thiết Cảng, viết được một số bản điều trần (mà trong đó có vài điều) có thể áp dụng được. Nhưng cái tội của ông là như thế nầy, thế nầy...

1.- Ngày 16. 10. 1858 ông ra cửa Mành-sơn Đà-nẵng để cùng làm áp lực quân Pháp đánh Huế.

2.- Năm 1861 làm thông dịch cho Tổng Hành Dinh của Pháp để mở rộng vòng chiếm đóng tại Sai-Gòn.

3.- Cùng với tên Giám Mục gián điệp Gauthier viết 58 bản chiêu dụ để dối gạt dân Việt Nam và dối gạt triều đình vua Tự Đức nhằm giúp Pháp và Vatican.

4.- Cố ý nhận định sai tình hình để gỡ rối cho Pháp. 5.- Dối trá trong việc mở trường Kỹ Thuật ở Huế. 6.- Âm mưu bày việc đào kênh từ Hải Dương vào Huế để toàn dân nỗi loạn. 

7.- Đề nghị thương hiếu với giáo hoàng để thúc đẩy tiến trình Công Giáo hoá Việt-Nam.

8.- Đề nghị dùng các tên linh-mục Việt gian vào việc canh tân đất nước, và mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ để tên tình báo Gauthier bổ nhiệm các giáo sĩ coi sóc nhằm tạo một cuộc nỗi dậy toàn cõi Việt Nam do các giáo sĩ lãnh đạo. 

9.- Năm 1868, ngăn cản triều đình cử phái bộ đi Pháp đòi lại 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ. 

10.- Thay vì phải đánh gấp lúc thời cơ cho phép vào cuối năm 1870 để đuổi thực dân Pháp về nước, Tộ khuyên nên đợi 2 năm sau. Xin xem thêm cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?.

Do đó chúng tôi rất công minh trong vấn đề. Nói lại là nếu lựa lọc ra một số rất ít các đề nghị của Nguyễn Trường Tộ thì có thể thực hiện được và rất hay. Nhưng rất tiếc hậu ý của Nguyễn Trường Tộ là không phải vấn đề đó. Đây tôi nói hậu ý.

...

BBC: Vừa rồi là trên mục phỏng vấn hằng tuần với Nguyễn Giang và ông Bùi Kha, trước khi kết thúc chương trình, Nguyễn Hoàng xin được điểm lại vài hàng tin chính ...

 

3.

 

Trên đây là hai lần phát thanh về Việt Nam của đài BBC Luân Đôn, ông Nguyễn Giang phỏng vấn ông Bùi Kha. Thứ Sáu, ngày 15.11.2002, ông nguyễn Giang và ông Nguyễn Hoàng trong ban Việt-Ngữ của đài để lại lời nhắn trong máy muốn phỏng vấn tôi về vấn đề dân miền Thượng Đê-Ga tại Việt-nam. Nhưng rất tiếc tôi không có ở nhà. Nhân tiện đây tôi kính lời cảm ơn sự hảo ý của hai ông.

Vì kiếm không có tôi nên đài trích một đọan trong lần phỏng vấn trước (ngày 22. 10. 2002) để phát thanh về Việt nam vào tối Chủ Nhật, ngày 17. 11. 2002. Xin mời quí vị theo dỏi:

BBC: Ông Bùi Kha, một người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ, viết nhiều sách về lịch sử Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của Nguyễn Giang đài BBC, thì có một phần nỗi bật trong cuốn sách của ông nói rằng Phương-Tây xử dụng tôn giáo như là một công cụ có lợi cho họ ?

BÙI KHA: Chúng tôi thấy như vậy, Phương Tây dùng tôn giáo đi trước chính trị đi sau. Đó là điều hết sức rõ. Chính những ông linh mục người Pháp cũng đã nói nếu muốn Việt-Nam trở thành nước Pháp thì trước tiên phải biến đổi người dân Việt Nam trở thành người Công Giáo trước. Điều đó quá rõ, mà chúng tôi viết là chỉ chép lại và sưu tầm những quan điểm và những lời của người ta nói ra chứ không phải là chúng tôi đặt để và gán cho nó như thế.

BBC: Và ông nghĩ thế nào về chẳng hạn như quan điểm của một số người trong nước, trong giới nghiên cứu cũng như là giới truyền thông trong nước nói rằng là sự kiện những người Thượng vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam gọi là người Thượng theo đạo Tin Lành Đê-Ga, họ bị những nhân vật bên ngoài xúi dục thì ông nhìn vấn đề nầy như thế nào? Đây là một vấn đề rất hiện đại, rất đang nóng bỏng ở Việt Nam?

BÙI KHA: Thưa vấn đề nói như vậy là có lý và có phần lớn đúng. Lúc viết về Nguyễn Trường Tộ chúng tôi có dẫn chứng ông Nicholas Tapp* là người nghiên cứu phong tục dân miền Thượng, ông (và số giáo sĩ) đề nghị rằng nếu tất cả dân miền Thượng, dân tộc thiểu số, đổi thành đạo Kitô tức là đổi thành Công Giáo và Tin Lành hết thì họ sẽ vận động cho độc lập tự trị và sẽ giàu có như Mỹ. Khi một người đến đất nước khác (hoặc một nhóm đang sống trong đó) mà muốn biến đổi một thành phần nào trong bộ phận của dân tộc để tạo những quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn thì không ai chấp nhận được. Tôi nghĩ nếu anh Giang hoặc tôi mà điều hành chính phủ thì có lẽ mình cũng không chấp nhận quan điểm đó. Nước bị chia năm xẻ bảy, một quốc gia mà bị biến thành nhiều quốc gia. Cho nên nói vấn đề tự do tôn giáo chúng ta nên tôn trọng, nhưng có lẽ chúng ta không chấp nhận những người nào có âm mưu dùng chiêu bài tôn giáo để làm hại đất nước khác. Đối với hoàn cảnh Việt Nam có một số người như ông Nicholas Tapp (và số giáo-sĩ) mà tôi vừa dẫn chứng là muốn biến những người dân miền Thượng thành quốc gia độc lập tự trị (và hứa hẹn) sẽ giàu có như Mỹ. Phi-luật-tân ở gần Việt-Nam, 80 phần trăm là Công-giáo, có giàu có hơn Việt Nam đâu? Trên 4 triệu cô gái Phi có bằng cử nhân và cao học mà đi làm những nghề không mấy trong sạch và không được xã hội chấp nhận mà họ vẫn làm, (còn Châu Mỹ La-Tinh và Phi Châu hầu như hoàn toàn Công-Giáo và Tin-Lành nhưng là những nước nghèo nhất thế giới. Còn Nhật Bản có 1% Tin Lành, Công Giáo không đáng kể, số còn lại là Phật Giáo và một ít Thần-Đạo là nước giàu thứ nhì trên thế giới. Đoạn nầy sót, không có trong Internet).

BBC: Ông nghĩ thế nào về quan điểm của chính một số các nhân vật trong chính các nhóm người Thượng tại Hoa Kỳ, họ nói rằng người Việt lên chiếm đất của họ và hiện nay họ có quyền tự do tôn giáo, họ có quyền chọn tôn giáo để theo cũng như có quyền chọn những nhân vật nước ngoài, những tổ chức nước ngoài giúp đỡ họ để phát triển cái quyền tự do tôn giáo hay bảo vệ cái bản sắc dân tộc của họ?

BÙI KHA: Tôi nghĩ nếu chính phủ Việt Nam có những điều bất công hoặc lấn át những người dân miền Thượng hoặc chiếm đất của họ, và nếu vấn đề đó có thực, thì chính phủ Việt-Nam nên trả lại đất đai cho dân miền Thượng, điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, là người dân miền Thượng cũng như bất cứ một người dân Việt Nam nào, thời đại nầy là thời đại của tự do, trong đó có tự do tôn giáo. Mình có quyền theo tôn giáo nào mà mình thích, nhưng có điều nên nhớ rằng dẫu theo tôn giáo nào đi nữa thì mình sống trên đất nước nào, ăn cây nào rào cây ấy, mình nên theo tôn giáo vẫn thờ Chúa, vẫn đọc kinh, vẫn sùng kính đạo. Nhưng sống trên đất nước nào thì mình cũng phải có bổn phận của người công dân và làm tốt cho đất nước mà mình đang sinh sống. Còn mình tôn thờ Chúa hay theo tôn giáo nào không thành vấn đề miễn là mình đừng có tinh thần vọng ngoại, đừng có tinh thần như trước đây Chẳng thà mất nước không thà mất Chúa chỉ có vậy mà thôi. Một số người miền Thượng sống tại Hoa Kỳ đưa ra quan điểm nầy hay quan điểm khác tôi nghĩ họ cũng nên xét lại rằng sống trên đất nước Hoa-Kỳ thì họ cũng phải trung thành và tôn trọng luật pháp ở đây.

Trên đây là bài viết từ băng cassette lấy trong Internet âm thanh thu lại 3 buổi phát thanh về Việt Nam của đài BBC Luân-Đôn. Bùi Kha trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Giang theo trí nhớ. Muốn được rõ hơn về ngày tháng và những trích dẫn xin độc giả tìm đọc thêm các cuốn sách về chủ đề nầy:

1.-Alexandre de Rhodes Người Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt-Nam Và Chữ Quốc Ngữ, 9 tác giả, Giao Điễm xuất bản năm 1998 tại Hoa Kỳ.

2.- Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm, Hoa-Kỳ, 1998.

3.- Linh Mục Trần Lục Thực Chất Con Người & Sự Nghiệp, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm 1999.

4.- Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm 2002.

5.- Petrus Trương Vĩnh Ký Nhìn Từ Những Khía Cạnh Và Nhận Thức Khác Nhau, 7 tác giả, Giao-Điểm 2002.

 


 

Phụ lục

 

  • Ca tụng và chống đối cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo của Bùi Kha và Trần Chung Ngọc
  • Nguyễn Trường Tộ: thập thò sau Bức Màn Canh Tân để làm lợi cho ngoại bang (hình lấy trong báo Tuổi Trẻ 2001)
  • Một Khám Phá Bất Ngờ Về Nguyễn Trường Tộ - Nguyễn Xuân Phong

  • Nguyễn Trường Tộ Hôm Qua Và Hôm Nay - Thuý Nga (Báo Tuổi Trẻ)

  • Cuốn sách viết về một con người độc đáo, một người không phải anh hùng, không là văn nhân, không từng đỗ đạt lớn, ông chỉ là một trí tuệ bị lãng quên, nhưng là một trí tuệ sáng ngời, vượt lên trên tầm thời đại VN thế kỷ 19. Một người mà phải đến năm 1908, cụ Phan Bội Châu đã nhìn thấy nơi ông vai trò của một người gieo mầm khai hóa đầu tiên ở nước ta. Một người giáo dân yêu nước mà năm 1946, Hồ Chí Minh đã lấy làm tiếc cho triều đình nhà Nguyễn khi không biết lắng nghe những sớ tấu của ông bàn việc tu chỉnh võ bị và canh tân đất nước. Con người đã chịu nhiều tiếng khen chê khi còn sống và cả khi đã chết ấy một lần nữa lại được hậu thế luận bàn.

    Nguyễn Trường Tộ - thời thế và tư duy cách tân (*) là tâm huyết 20 năm nghiên cứu của nhà sử học Hoàng Thanh Đạm. Từ những vấn đề nghiên cứu Nguyễn Tường Tộ trong lịch sử, tác giả đã có riêng hẳn một phần để hệ thống tư duy cách tân của nhân vật lịch sử này. Qua 58 bản di thảo, tư duy kinh tế - văn hóa - ngoại giao - quân sự - triết học đã được phân tích một cách cặn kẽ. Làm nổi bật những suy tư nóng bỏng về thời thế, những điều trần mới mẻ để dân giàu nước mạnh, những lời xin khuyến khích (cải tạo nhà ở đô thị, khuyến khích việc học tiếng nước ngoài...), những điều xin khen thưởng (cho người chế tạo đồ dùng kiểu mới tiện lợi và rẻ, cho người ra nước ngoài học hỏi giúp nước, cho người lập hội xây cầu cống, đường sá thay cho công việc nhà nước...).

    Mở cửa để giữ nước; Học tập bồi dưỡng nhân tài là con đường rộng lớn đi đến giàu mạnh; Học cái thực tế thì sẽ có thực dụng, học cái vụn vặt thì chỉ được cái vụn vặt; Bỏ phí một người tức là phí một phần của đất nước... đều là những câu chữ không chỉ cần cho hôm qua.

    Trong lời tựa mang tên Một con người của thế giới hiện đại, giáo sư Phan Ngọc nói đến một nhân cách cần thiết cho người VN ở thế kỷ 21. Nhân cách ấy hiểu rõ ý nghĩa của học vấn, học để thay đổi đất nước chứ không phải để làm quan. Nhân cách ấy có một tinh thần phê phán những cổ hủ và lạc hậu, dám nói và dám làm.

    Mượn tiếng tốt để làm việc xấu là người ngu. Chịu tiếng xấu để làm việc tốt là người khôn. Cuộc đời Nguyễn Trường Tộ - sản phẩm của thời thế (1830-1871) đã chịu không ít tiếng xấu như thế khi đi trước thời đại của mình. Nhưng ông vẫn là người khôn trong cách nghĩ của ông.

    THUÝ NGA

    (Báo Tuổi Trẻ 18. 5. 2001)

    Đánh giá lại Nguyễn Trường Tộ là một trong những vấn đế lớn và sôi nỗi hiện nay. Để việc tranh biện được minh bạch và độc giả có sẵn tư liệu đối chiếu giá trị nghiên cứu của ông Hoàng Thanh Đạm và ông Bùi Kha về Nguyễn Trường Tộ, chúng tôi xin được in lại bản phóng ảnh nguyên xi chương sách dưới đây của ông Hòang Thanh Đạm như là một tài liệu dẫn chứng.

    Kính mong tác giả thông cảm.

     

    Ghi Chú: Lúc lay out, nên bỏ bài của ông Hoàng Thanh Đạm dưới đây, thay vào đó là bản phóng anh nguyên xi sẽ cung cấp sau).

     

  • Một cuốn sách ngược dòng công kích NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - HOÀNG THANH ĐẠM

    Cuốn sách này do hai bạn Việt Kiều ở Mỹ là Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc viết với nhan đề Nguyễn Trường Tộ - thực chất con người và di thảo, được nhóm Giao Điểm ở Mỹ xuất bản tháng 4 năm 1998. Sách dày 261 trang, gồm có hai luận văn dài:

    - Luận văn thứ nhất của Nguyễn Kha Nguyễn Trường Tộ trong chiêu bài canh tân (đề ngày 31-1-1998) dài 188 trang.

    - Luận văn thứ hai của Trần Chung Ngọc Nguyễn Trường Tộ từ huyền thoại đến thực chất, dài 70 trang.

    Luận văn của Nguyễn Kha có mở đầu bằng một thái độ tỏ ra khiêm tốn. Anh viết: Có nhiều điều khó khăn cho tôi khi viết về N.T.Tộ (để công kích ông). Khó khăn là do: Từ nhỏ N. Kha đã được thầy học giảng dạy rằng N.T.Tộ là một nhà cách tân lớn nhưng triều đình Tự Đức hẹp hòi, cố chấp, không áp dụng các đề nghị sáng suốt của ông. Thế mà 125 năm qua chưa có ai thanh minh cho triều đình Tự Đức. Hơn thế nữa đã từng có 60 tác giả viết hàng trăm bài ca ngợi nhiều hơn là phê phán N.T. Tộ, trong đó có nhiều tác giả tầm cỡ bậc thầy của anh. Mặt khác N. T.Tộ lại được Linh mục Tiến Sĩ Trương Bá Cần sưu khảo thật đầy đủ, công phu đến tận chi tiết; và gần đây cuộc hội thảo về chủ đề "Nguyễn Trường Tộ - nhà cải cách lớn của dân tộc" do viện khoa học xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức, tập hợp 47 bài "là một công trình nghiên cứu tập thể gồm nhiều vị giáo sư và nhiều học giả lỗi lạc (...) Việc đánh giá cao Nguyễn Trường Tộ được xuất phát từ tinh thần khoa học khách quan, không bị vướng mắc bởi tình cảm tôn giáo (Xem sách N.T.Tộ thực chất con người và di thảo - viết tắt là thực chất, trang 6)

    Tuy thấy rõ khó khăn như trên, nhưng N. Kha vẫn nói: vì gần đây có người yêu cầu anh viết sách (với tinh thần phê phán N.T.Tộ để đối đáp với số đông học giả trong nước đang ca ngợi N.T.Tộ); do đó anh phải đọc hết 58 bản điều trần N.T.Tộ và vận dụng nhiều tài liệu mật của thực dân Pháp và của Giáo hội để tìm ra luận cứ phê phán.

    1. Trọng tâm phê phán của N. Kha và T. C. Ngọc đối với N. T. Tộ tập trung nhất vào vấn đề tôn giáo.

    N. Kha kể rằng khi người ta yêu cầu anh viết sách công kích N.T.Tộ thì ông bạn còn nói thêm rằng: N.T.Tộ là một tên Việt gian vì ông ta là người Gia Tô; nhưng anh quan niệm rằng nghiên cứu một nhân vật hay một sự kiện lịch sử thì nên vượt ra ngoài tình cảm tôn giáo... (Thực chất... tr. 7).

    Tuy anh thanh minh như vậy, nhưng người đọc qua hai bài luận văn trong sách Thực chất... thấy rằng Nguyễn Kha dùng tới 77 trang trong 188 trang của luận văn N.T.Tô. trong chiêu bai canh tân và Trần Chung Ngọc dành 48 trang trong 70 trang của luận văn N.T.Tộ từ huyền thoại đến thực chất để nói về các vần đề tôn giáo nhằm phê phán N.T.Tộ.

    Tất cả những ý kiến phê phán tôn giáo trong sách Thực chất... nhằm ba vấn đề: một là vạch ra những sai lầm về lý thuyết của đạo Gia tô; hai là vạch rõ mưu đồ của các thừa sai Gia tô muốn biến Việt Nam thành nước Chúa, tích cực giúp quân viễn chinh Pháp thôn tính Việt Nam; ba là N.T.Tộ là tín đồ Công giáo, tay chân của Giám mục Gauthier, một tên gián điệp lợi hại của xâm lược Pháp.

    a) Nói về sai lầm lý thuyết kinh thánh, hai tác giả nhấn vào mấy điểm:

    - Kinh thánh nói rằng quả đất và loài người do Thượng đế tạo dựng cách đây từ 6000 đến 10.000 năm. Nhưng khoa học chứng minh rằng quả đất có hàng triệu năm về trước, Thái dương hệ gồm Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất... xuất hiện cách đây 5 tỷ năm. (Tr. Ch. Ngọc nói là 15 tỷ năm) (như trên, trang 48 và 225)

    - Kinh thánh nói nước đá có được nhờ hơi thở của Chúa Trời, Ngài chứa nước trong mây và giăng bủa các tia chớp... (Nt, trang 48)

    - Sách Dân số kỷ (Numbers) kể chuyện Moise cướp được nhiều bò, dê, lừa và 32 ngàn cô gái trinh, chia cho binh lính 50 phần trăm còn Đức Chúa Trời hưởng 50 phần trăm. Chính Chúa Trời chứ không phải ai khác đã trực tiếp ra lệnh phải cướp của, giết người, cưỡng dâm, rồi chính Chúa Trời cũng đòi hưởng gái trinh nữa (N, trên, tr. 5).

    - Kinh thánh nói ai không tôn thờ đức Chúa Trời thì phải giết sạch. Tất cả đất đai đều thuộc về Chúa Kitô. Những kẻ ngoại đạo không có quyền hưởng sở hữu một mảnh đất nào (Nt. Trang 147-149)

    Tr. Ch. Ngọc phân tích: Tại sao một tôn giáo đen tối như đạo Gia tô mà vẫn có thể tồn tại và phát triển, và anh giải thích: Có nhiều nguyên nhân, và một trong những nguyên nhân chính là phương cách đào tạo, trang bị giới giáo sĩ bằng loại kiến thức hạn hẹp, một chiều, nặng về phục tùng để có một địa vị, không dùng để suy luận, và nghệ thuật nắm đầu óc tín đồ bằng mọi cách, kể cả gian dối và độc tài của Giáo hội (Nt. Trang 205). Anh dùng trên 20 trang sách vạch ra nhiều sự kiện, chứng cứ, nhất là chuyện các giáo sĩ Gia tô có đầu óc suy nghĩ độc lập đã phải công phẫn, chống lại Giáo hội (Nt. Trang 189-221) và anh kết luận chính sách truyền đạo của Ca tô Rôma tuyệt đối không có mục đích huấn luyện nhân dân bản xứ thành những người yêu nước (tr.222)

    b) Nói về dã tâm của các thừa sai Gia tô giáo sang Việt Nam, hai tác giả có nhiều dẫn chứng trích từ các tài liệu mật của Giáo hội Gia tô, kể rõ hoạt động, ý đồ từ Alêc-xăng đờ Rốt trong thế kỷ XVIII đến các giám mục thừa sai trong thể kỷ XIX đều nhằm mục đích đồng hóa Việt Nam theo đạo Gia Tô. Để thực hiện mục đích tôn giáo, họ đã kết liên với quân xâm lược Pháp, cung cấp cho chúng bản đồ, tin tức, và được quân viễn chính Pháp che chở, hỏi ý kiến, sử dụng vào việc này việc nọ. Trong các giám mục, Gauthier là người thầy, người đỡ đầu N.T.Tộ từ năm 27 tuổi đến năm cuối đời của ông.

    c) Tất cả các cứ liệu phê phán giáo lý, phê phán các thừa sai Gia tô đều nhằm mục đích vạch tội N.T.Tộ. Dưới con mắt hai anh, N.T.Tộ chẳng qua là đầy tớ của Gauthier, một tên gián điệp lợi hại nhất của quân Pháp. Trần Chung Ngọc viết: Đọc những bản điều trần của N.T.Tộ tôi thấy rằng phần lớn kiến thức của ông là một loại kiến thức đặc thù Gia tô (Tr. 223). Nguyễn Kha viết: N.T.Tộ khéo léo tài tình lồng tư tưởng kinh thánh vào hầu hết di thảo, để một mặt thì hăm dọa rằng tạo vật đã định như vậy, làm sao cưỡng được, mặt khác thì an ủi chấp nhận số phận (tr.100) Anh viết thêm: Tư tưởng Gia tô giáo là chẳng thà mất nước không thà mất Vaticăng. Vì thế chúng ta mới hiểu rõ hậu ý mà N.T.tộ đề nghị Triều đình dùng giám mục vào việc canh tân (...) Tội nghiệp cho vua quan nhà Nguyễn không có cơ quan tình báo gì cả, nuôi ong tay áo, nhận giặc làm con (tr. 129) Lại viết May mà triều đình nhà Nguyễn ngu muội không chịu áp dụng những đề nghị của N.T.Tộ, còn không thì con vi trùng trong thịt sư tử đã ăn hết cả thịt lẫn xương của con sư tử từ lầu rồi. (tr.176)

    Với những lời phê phán gán ghép suy diễn như trên, hai anh khái quát mưu đồ phản quốc của N.T.Tộ vào một câu rất hiện đại:

    Với giọng văn diêu luyện, sắc sảo, chúng ta thấy N.T.Tộ đã sử dụng hai luận điểm chính để thuyết phục nhân dân Việt nam và nhất là triều đình Tự Đức. Hai luận điểm có tính chiến lược đó có thể đặt tên là củ cà rốt và cục xương (in chữ to). Chiến thuật củ cà rốt là đưa ra miếng mồi béo bở như khai thác hầm mỏ, xử dụng tài nguyên thiên nhiên để làm cho dân giàu nước mạnh. Muốn đạt được mục đích đó thì phải làm gì? Trả lời: phải hợp tác với Pháp, phải cầu khẩn Giáo hoàng La Mã giúp sức(...) Chiến thuật cục xương là đưa ra một số đề nghị không thể thực hiện được như chỉnh trang võ bị, đào kênh từ Hải Dương đến Huế v.v... để qua đó bắt triều đình nhà Nguyễn phải mất thì giờ gặm nhắm cục xương để không thể làm gì khác thêm (N.tr. trang 9-10)

    Các học giả yêu kính N.T.Tộ chắc không quan tâm nhiều về các lý lẽ của N.Kha và Tr.Ch.Ngọc công kích đạo lý Gia tô và chỉ vạch ý đồ xấu của các giám mục Pháp. Trong lịch sử, các tôn giáo khác nhau công kích nhau thậm tệ là chuyện bình thuờng. Có khi họ còn chém giết nhau nữa. Còn như ý đồ xấu của các giám mục Pháp ủng hộ quân viễn chinh Pháp hồi thế kỷ XIX là chuyện có thật. Có điều là hai tác giả không hiểu nổi cái nghịch cảnh của N.T.Tộ:

    Là một giáo dân, sống trong cảnh đạo giáo của mình bị bài xích, giáo hữu và cha cố mình bị triều đình truy bức, mà N.T.Tộ không một lời oán trách triều đình; trái lại ông nhận mình là bề tôi nước Đại Nam; một lòng một dạ bàn với triều đình tìm cách thoát khỏi thế bí trước một kẻ thù đang áp đảo mình về thế và lực.

    N.T.Tộ tin ở đạo giáo của mình, nhưng ông đã vượt ra ngoài sự mê lú, cuồng tín để có được tư duy khoa học. Trong bài tựa sách Đàm thiên luận ông viết: Phàm nhà khoa học thì bụng phải bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ y huyền. Như thế mới suy xét mà tâm đắc được những gì sách vở không thể truyền hết, ý hội được những gì người xưa không thể nói hết (...) Trời tuy cao, đất tuy xa, nhưng đều có sự thực mà không chìm vào hư vô (...) Kẻ cao minh muốn nghiên cứu khoa học phải rộng lòng khảo cứu, dẹp bỏ hết những thành kiến tập quán cũ, không phân biệt giới vực, vận dụng hết thần trí, ôm vũ trụ vào lòng, nhắm mắt lại mà như thấy rõ ràng trước mắt (Xem Trương Bá Cần - sách đã dẫn - tr. 417). Nhà thiên văn học Copernic (1473-1543) từng bị Giáo hội Rôma khép tội vì phát kiến Trái Đất xoay quanh Mặt Trời, thì N.T.Tộ lại ca ngợi: có thể nói khoa học phương Tây đặt đến chỗ tinh vi là do ông mở đầu mà ra (Tr. Bá Cần - sách đã dẫn - trang 418). Ông khuyên những ai có chí với dân tộc hãy nên tìm tòi nghiên cứu trong môn khoa học (thiên văn) này để hiểu được đại cương những bí mật của Trời Đất (Tr. B. Cần, như trên, trang 422).

    N.T.Tộ tuy được giám mục Gôchiê đỡ đầu, nhưng phần lớn các bản điều trần của ông đều là ý kiến độc lập, và các hoạt động của ông cũng độc lập với giám mục. Ông nói rõ với triều đình giám mục có thể giúp việc gì và không thể giúp việc gì. Nhất là khi ông bàn các mưu kế đối phó với quân xâm lược thì ông dặn triều đình không thể cho giám mục biết. Như trường hợp tháng 8 - 1866 N.T.tộ nảy ra sáng kiến liên hệ với một số quan binh Pháp vốn có mâu thuẫn với Tây soái De La Grandière là kẻ đang có âm mưu lập công thôn tính thêm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Ông đề nghị với triều đình để ông cùng với Nguyễn Hoàng gấp rút vào Sài Gòn vận động họ viết thư gửi cho các Đại Học sĩ ở Tây triều gây dư luận ủng hộ ta, cương quyết không can thiệp vào nước ta. Về việc này ông này ông đã dặn triều đình dừng để cho giám mục Gauthier biết. (Xem Tr. B. Cần, sách đã dẫn, trang 189)

    Là một tín đồ công giáo, N.T.Tộ thành tâm nghĩ rằng có thể cùng giám mục vào việc giúp ta canh tân đất nước, như lập trường kỹ thuật, mở viện dục anh. Nhưng thâm tâm ông vẫn không muốn việc đạo giáo Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào các giám mục Tây. Cho nên hồi 1866, khi chuẩn bị sang Pháp lo toan việc chuẩn bị mở trường kỹ thuật, ông đã trao đổi ý kiến riêng với Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ rằng Các giáo sĩ Tây tuy vốn vô tâm với thế sự, nhưng trong đó cũng có một hai người không yên phần lo việc đạo giáo, chỉ mưu đồ lợi riêng, nên ông muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng hãy rút giáo sĩ Pháp về, chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo (...) Như thế không phải là phản đạo mà chính là bảo vệ đạo (Tr.B.Cần, s.đ.d. trang 325).

    2. Theo N. Kha và Tr.C.Ngọc thì tội lớn nhất của N.T.Tộ là tội bán nước.

    Hai anh vận dụng nhiều tài liệu mật trong các báo cáo của tướng soái thực dân xâm lược gửi về Pháp kêu ca nhiều nỗi khó khăn chúng gặp phải do cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam hồi 1858-1862 để xin thêm quân tiếp viện. Với những cứ liệu này N.Kha kết tội N.T.Tộ đề cao sức mạnh quân xâm lược để hù dọa triều đình và nhân dân ta, hòng thuyết phục triều đình hãy sớm đầu hàng quân Pháp (xem Thực chất... - trang 21-25). Anh còn phê phán N.T.Tộ vận dụng học thuyết Kinh Dịch: Khí đất là từ Bắc xuống Nam, mà thủy ở phương Bắc, hỏa ở phương Nam, cho nên thủy trị được hỏa. Còn vận trời là từ tây sang Đông, mà kim ở phương Tây, mộc ở phương Đông, cho nên kim diệt được mộc. Như thế mà suy ra lẽ trời thì Tàu diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương (xem Thực chất... trang 18). Và N.Kha lên án: Theo N.T.Tộ, thuận với đạo trời thì nên dâng Tổ quốc cho Pháp, chống làm chi cho thêm họa (Như trên, trang 28).

    Nói về những sử liệu mật của Ng.Kha có được, chúng ta không vội nghi ngờ độ tin cậy của những câu trích dẫn được dịch ra tiếng Việt lại còn đăng tải cả nguyên văn tiếng Pháp. Nhưng theo phương pháp luận khoa học lịch sử thì không nhất thiết trích dẫn được nhiều sử liệu liệu là phản ánh đúng sự thật lịch sử. Lênin từng nói: Các hiện tượng trong đời sống xã hội là cực kỳ phức tạp, nên người ta luôn luôn có thể tìm được, muốn bao nhiêu cũng có những ví dụ hoặc tài liệu lẻ tẻ để chứng minh cho bất cứ luận điểm nào (Xem Lênin tuyển tập Q. I - nxb Sự Thật 1959, trang 410). Ở đây, muốn kết tội N.T.Tộ, Ng. Kha chỉ trích dẫn những đoạn văn tướng soái Pháp kêu ca khó khăn để xin viện trợ. Nhưng chắc chắn là các báo cáo quân sự của tướng soái Pháp phải nói nhiều về những thắng lợi chúng thu được khi đánh Đà Nẵng, chiếm thành Gia Định, phá chiến lũy Chí Hòa, chiếm các tỉnh lỵ Biên Hòa, Định tường v.v.. với lực lượng quân sự áp đảo của chúng. Vả lại những khó khăn mà tướng soái Pháp nêu lên là ở thời điểm 1858-1862, trong đoạn khởi đầu xâm lược, còn điều mà N.T.Tộ nói trong Thiên hạ đại thế luận về thế áp đảo của Pháp là ở thời điểm 1863, khi mà quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, đào kênh đắp lũy, trù tính kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển (xem Tr.B.Cần, s. đ. đ. Trang 108). Điều mà N.T.Tộ nói về sức mạnh của Pháp, sự yếu kém của ta, tuy lời lẽ có đôi chỗ có thể nói khéo hơn, nhưng đó chính là sự thật tổng quát mà lịch sử đã chứng minh. Lại bàn về quan điểm N.T.Tộ theo Kinh Dịch kim khắc mộc, thủy trị hỏa, có thể cho đó là duy tâm, là một lập luận sai lầm của ông; nhưng khách quan mà xét nghĩa lý kinh dịch thì kim khắc mộc, thủy trị hỏa, Bắc xuống Nam, Tây sang Đông là hiện tượng đã từng có và đang tồn tại.

    Thật ra, trong tập kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tác đất nước, nhiều độc giả trong nước đã nhận thấy điều bất cập của N.T.Tộ là chưa nhìn rõ mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp, muốn thôn tính toàn bộ Việt Nam. Ông cũng chưa nhìn rõ khả năng kháng chiến của ta, chưa nghĩ đến việc phát động toàn dân kháng chiến, và cũng không có thái dộ đúng đắn đối với những cuộc nổi dậy kháng chiến của nhân dân ta lúc bấy giờ. Nhưng mọi người đều thấy rằng N.T.Tộ chỉ bàn chuyện hòa với Pháp là thượng sách chứ không hề nói chuyện đầu hàng. Qua 58 bản di thảo của N.T.Tộ, không hề có một từ, một ý nào khuyên triều đình đầu hàng. Chữ hòa của N.T.Tộ trong Thiên hạ đại thế luận chỉ có nghĩa là tạm hòa, xuất phát từ tình hình thực tế trên chiến trường là sức ta quá yếu so với quân địch. Trong lịch sử chiến tranh, khi kẻ địch đang ở thế áp đảo mà ta phải tạm hòa là điều thông thường, dễ hiểu. Với N.T.Tộ, tạm hòa là để về sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài mới biết lượng sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỷ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động...(Xem Tr. B. Cần, s.đ.đ tr. III).

    Đọc kỹ các bản di thảo, chúng ta chỉ thấy N.T.Tộ lo lắng cho đất nước, ngày đêm tính toán chuyện làm thế nào để triều đình giữ được thế làm chủ , đặt quân Pháp ở thế làm khách mà thương lượng với chúng, có nhượng bộ nhưng là để tìm ra phương sách làm cho dân giàu nước mạnh về sau. Với N.T.Tộ, dân giàu nước mạnh mới là kế sách hàng đầu để giữ nước.

    Qua tất cả các bản điều trần mà N.T.Tộ bàn về thời thế và sách lược đối phó với quân Pháp, chúng ta thấy rõ tinh thần yêu nước của ông có một quá trình biến chuyển ngày càng tích cực:

    a) Năm 1861 N.T.Tộ trao bài 'Hoa từ cho Nguyễn Bá Nghi bàn chuyện tạm hòa, ông chỉ nói ba điều: Một là khéo ngăn chặn, đừng để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra. Hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc họ sơ hở. Ba là để dân thư thái củng cố sức lực - Đến năm 1862, khi Phan Thanh Gản vào Sài Gòn đàm phán, ông trao cho sứ thần họ Phan hai câu thơ: Khói lửa trời Nam rồi sẽ dứt, Phương Tây binh giáp tạm hùng thôi; tỏ ý khuyên đừng sợ hãi trước uy thế quân thù (Tr.B.Cần - sđd, tr. 123)

    b) Tháng 5 - 1863, viết Trần tình khải, ông thanh minh rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược: Đối với những hạng người cho quân Pháp là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà tự diệt uy phong của mình. Đối với hạng người cho chúng là giàu thì tôi mắng nhiếc rằng bọn chúng chỉ là thứ ăn mày đến cửa nhà ai cũng chúc tụng. Tôi lại đem lợi hại của phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Xin cứ hỏi nhữngngười xung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không (...) Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà đã có xác chứng ở bốn bể, dự tính được trong tương lai (Nt. Tr 123).

    Như vậy là từ năm 1861 đến 1863 ý niệm về chữ hòa trong đầu óc N.T.Tộ ngày càng rõ nét, hòa có đấu tranh, không hề có ý gì là đầu hàng.

    c) Từ 1864 kế sách tạm hòa của N.T.Tộ được bổ sung phong phú hơn: Tháng 3 năm đó ông được người Anh mời sang nước Anh dự Đại hội cách trí. Ông coi đây là một cơ hội tốt để tố cáo quân Pháp xâm lược, gỡ thế bí cho đất nước. Trong bản điều trần Kế hoạch duy trì hòa ước mới ông viết: Họ dòm ngó đất ta, cầu thành công trong vòng vài mươi năm, thì ta muốn trấn áp họ cũng phải biết xử khéo đừng để cho họ lan rộng ra (...) Muốn thế thì phải tìm được ngoại viện để phá mưu của họ... (Nt. Tr. 131)

    d) Khoảng tháng 6, tháng 7 năm 1864 N.T.tộ viết bài Lục lợi từ nêu lên 6 điều khuyên triều đình vận dụng sách lược ngoại giao với các nước như Anh, Nga v.v... để ngăn chặn, cô lập, ly gián, đề phòng, áp chế, tiến tới đánh lại quân xâm lược Pháp (N. tr. Tr 145 - 149). Đối với ý kiến này của N.T.Tộ, tác giả Ng. Kha cho là vô nghĩa, vì Anh đang có nhiều thuộc địa chưa khai thác hết, cần gì phải xen vào Việt Nam để đổ máu vô ích với Pháp (xem Thực chất tr. 83). Công bằng mà xét, N.T.Tộ đã nói lên sự thật về mâu thuẫn tiềm tàng Anh - Pháp có từ đầu thế kỷ XIX khi Anh cầm tù vua Na-pô-lê-ông Bônapác, và ngay giữa thế kỷ XIX Anh - Pháp vẫn có mâu thuẫn ở thị trường Ấn Độ, và Canada. Lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì thời nào cũng là thông minh. Kiến nghị của N.T.Tộ là đầy thiện chí.

    đ) Đến tháng 10-1866, N.T.Tộ phát hiện tình hình mới: Một mặt xâm lược Pháp đang lúng túng với phong trào kháng chiến ở Cămpuchia do Hoàng thân Xivôtha và Pucămbô phát động nhân dân đánh đuổi vua Nôrôđôm đầu hàng quân Pháp; mặt khác nội bộ bọn quan binh Pháp và bọn quan cai trị người Pháp ở Gia Định có mâu thuẫn; còn bọn người Pháp sang Sài Gòn buôn bán, kinh doanh thì đang thua lỗ: Ở Gia Định mọi việc đều bế tắc (xem Tr. B. Cần sđđ. Tr. 201) Do đó ông phản ảnh ngay với triều đình và bàn đến Khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông (di thảo sôá 20).

    Cũng trong tháng 10 - 1866 N.T.Tộ viết Kế hoạch vận động Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây (di thảo 21). Ông báo cho triều đình biết ý đồ của Tây soái De La Grandière muốn chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Do đó ông bàn với triều đình nên tìm cách liên lạc thẳng với Chính phủ Pháp, khai thác mâu thuẩn giữa nhân dân Pháp, dư luận các nhân sĩ Pháp với bọn thực dân xâm lược Pháp ở Việt Nam, mặt khác tranh thủ đặt quan hệ với Aubaret, một viên quan Pháp có mâu thuẫn với De La Grandière để phá âm mưu bành trướng của Tây soái.

    e) Thế rồi kế hoạch nói trên được thực hiện hay không thực hiện, tháng 6 - 1867 quân Pháp tiến lên chiếm trọn cả ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Thời gian này N.T.Tộ đang có mặt ở Pháp, lo toan việc mời thầy thuê thợ, mua sắm dụng cụ, sách vở để mở trường kỹ thuật cho đất nước. Ông thấy rõ tình thế đã rất nghiêm trọng, nên tháng 11 - 1857 ông bàn với triều đình Xin gấp rút sữa đổi việc võ bị (Tr. B. Cần - sđd. Tr. 230 - 239). Đây là điều kiến nghị thứ nhất trong bản điều trần lớn Bát điều tế cấp, Nếu như trước kia ông chỉ nghĩ đến kế sách ngoại giao để giữ nước, thì giờ đây ông đã nghĩ đến việc tăng cường võ bị, phải lo toan Chế tạo vũ khí mới lạ, phải trích trữ vật liệu v.v... (Nt. Tr. 237)

    g) Sau khi đã mất cả 6 tỉnh Nam Kỳ, triều đình cuống quýt lo toan cử người sang Pháp xin chuộc lại, thì N.T.Tộ, trong di thảo số 36 ngày 7-4-1868, bàn với triều đình nên bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp (Nt. Tr 303), ông khuyên nên tính kế lâu dài dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp, để đợi khi họ có loạn thì mới gây khó cho họ, mà khiến họ không dám muốn làm gì thì làm (Nt. Tr 307).

    h) Thế rồi thời thế chuyển biến: năm 1870 nổ ra chiến tranh Pháp - Phổ. Pháp thua to, vua Pháp Louis Bonaparte bị bắt làm tù binh tháng 9-1870, rồi nổ ra cách mạng Công xã Paris tháng 3-1871. N.T.Tộ thấy rõ đây là một cơ hội rất tốt, phù hợp với điều ông dự đoán cơ hợi khôi phục phải sau 10 năm (N. tr. Tr. 316). Từ tháng 2 đến tháng 5-1871 ông liên tục viết 7 bản điều trần liên quan đến kế sách khôi phục:

    Kế hoạch thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ (di thảo 39) ngày 1-2-1871

    Bổ túc kế hoạch đánh úp thành Gia định (di thảo 40) ngày 9-2-1871

    Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lấy 6 tỉnh (di thảo 42) ngày 5-4-1871

    Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (di thảo 44) ngày 10-4-1871

    Tình hình chính trị nước Pháp với công xã Pari (di thảo 49) tháng 5-1871

    Cần nắm vững tình hình chính trị nước Pháp (di thảo 50) cuối tháng 5-1871

    Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng (di thảo 51) ngày 19-6-1871

    Những kế hoạch N.T.Tộ đề ra trong 7 bản điều trần kể trên cũng vẫn còn có một đôi điều bất cập, nhưng rất chân thành. Ông vẫn chưa bàn đến việc phát động toàn dân kháng chiến, nhưng rõ ràng là ông đã chuyển từ khuynh hướng chủ hòa sang chủ chiến ở mức độ thấp, kết hợp thủ đoạn đánh úp với các hoạt động kinh tế, ngoại giao. Cũng không phải mọi kiến nghị của ông đều hoàn toàn sáng suốt cả. Ví dụ như kế hoạch sai người đi Hồng kông gặp các khách buôn giàu xin họ cho vay tiền để mua một số đại pháo, mà lại hứa với họ ngày sau sẽ cho bán nha phiến trong cả nước không đánh thuế (N.trang 317). Vay tiền mua súng là tốt, nhưng để cho họ bán ma túy tự do lại rất nguy hiểm. Ví dụ như chủ trương đánh úp thành Gia định mà chỉ bàn chuyện khổ nhục kế, dương đông kích tây, phao tin này nọ chứ không biết thúc đẩy các cuộc nổi dậy thực sự của dân chúng để bao vây quân thù trong một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn. Điều sáng suốt này N.T.Tộ chưa có được, cũng như các vị anh hùng chủ chiến đương thời đều chưa có được thật đầy đủ. Chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh dân tộc ta mới có được trí tuệ hoàn chỉnh: toàn dân, toàn diện, trường kỷ kháng chiến.

    Tuy chưa có được sự sáng suốt toàn diện, nhưng cái tâm của N.T.Tộ là luôn luôn lo toan việc khôi phục một cách vô tư, với tinh thần tiếp cận khoa học. Chúng ta có thể phê bình điều hạn chế lịch sử của ông mà không thể phủ nhận lòng yêu nước chân thành, lao tâm khổ tứ của ông.

    1. Đối với các kiến nghị dân giàu nước mạnh của N.T.Tộ thì hai anh Ng.Kha, Tr.Ch.Ngọc cũng có lời kết tội thiếu khách quan:

    a) Khi N.T.Tộ nói đến bốn nguồn lợi của đất nước về biển, về rừng, về đất đai và khoáng sản, thì Ng.Kha phán: Ai mà chẳng biết biển thì có cá, rừng có gỗ, đất trồng được dâu để nuôi tằm... Anh thất vọng vì N.T.Tộ đã không đề ra được một phương pháp cụ thể để có được nhiều cá, nhiều muối, nhiều gỗ quý v.v... (xem thực chất...trang 68).

    Đây chỉ là một lời bắt bẻ vụn vặt. Làm sao trong một bản điều trần Dụ tài tế cấp chỉ mấy trang giấy mà nói được hết phương pháp cụ thể. Ai đã đọc các bản điều trần Khai hoang từ (di thảo số 8) và bàn về chính sách nông nghiệp (di thảo số 53) thì đều thấy rõ kế sách của N.T.Tộ rất cụ thể, phát kiến của ông rất lỗi lạc.

    b) Khi N.T.Tộ bàn về kế sách quân sự thì Ng. Kha đối chiếu các câu văn trong Tôn Ngô binh pháp và phê phán Hầu như N.T.Tộ lấy ý trong sách này, đã vậy ý của N.T.Tộ còn kém xa (thực chất... trang 95). Tr. Ch. Ngọc cũng viết: Những đề nghị của N.T.Tộ về quân sự không có gì đặc biệt, tựu trung chỉ là những hiểu biết sơ đẳng (N.Tr. trang 257)

    Nếu đọc kỹ N.T.Tộ, chúng ta sẽ thấy ông đã trình bày vấn đề quân sự rất xác đáng. Chẳng những vận dụng kiến thức trong các sách binh thư xưa, mà còn bàn nhiều chuyện ngoài binh thư, thiết thực với hoàn cảnh trận địa nước nhà thời bấy giờ. Nguyên một ý lớn của ông khuyên triều đình không nên trọng văn khinh võ đã là một điều sáng tạo lớn. Ông kiến nghị hãy đem các sách binh thư xưa và nay ra xét lại, chỗ nào nghĩa lý không xác đáng, khí giới lỗi thời, kỹ thuật không hiệu quả, địa thế không cho phép, khí hậu không hợp (...) thì bỏ bớt, chỉ lựa lấy những cái hợp với ngày nay, liên quan đến tình thế nước ta, đưa ra thực nghiệm và soạn thành sách đưa ra học tập (Tr.B.Cần, sđd. Trang 233). Ông đề nghị việc xây dựng lực lượng vũ trang phải coi trọng người lính, quan tâm đào tạo cán bộ chỉ huy chuyên nghiệp v.v... Trong lịch sử Việt nam đã từng có ai bàn vấn đề quân sự thấu triệt như N.T.Tộ chưa?

    c) N.T.tộ kiến nghị triều đình quan tâm việc đào kênh nhằm mục đích cho ghe thuyền đi lại, giúp nhân dân đỡ tốn kém (...) dẫn nước tưới ruộng phòng hạn (N.tr.tr. 256). Bàn về địa thế Bắc kỳ, ông khuyên nên đào nhiều kênh trong các tỉnh Hải dương, Hưng Yên, Nam định, Hà nội, Ninh bình v.v... để phân tán thế nước, đề phòng lũ lụt... (N.tr.tr. 263). Ông còn đề ra một sáng kiến lớn, xuất phát từ mối lo nước ta đường biển không an toàn vì nạn cướp biển và thường bị bão.... Nhất là việc vận chuyển lương thực từ Bắc Kỳ vào Kinh đô Huế là rất thiết yếu lại rất tốn kém: Một thạch lương thực đưa được đến kinh đô đã phải hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu, đó là chưa nói đến nhiều vụ bị chìm ghe, bị đánh cướp. Do đó ông đề nghị Xin xem xét kỹ địa thế từ Hải dương đến kinh đô, đào một con kênh lớn có thể lưu thông được cả ghe lớn ghe nhỏ thuyền quan, thuyền dân. (Nt. Tr. 280)

    Kiến nghị táo bạo này bị Ng.Kha phê phán là hết sức không tưởng và tai hại. Anh dẫn chứng về mọi sự tốn kém, không thể làm được vào thời điểm 130 năm trước đây và suy luận thêm: Chưa nói đến tình trạng loạn Chày vôi, chỉ mới đào hào để làm lăng tẩm cho vua mà dân chúng Kinh thành đã nổi loạn thành xây xương lính, hào đào máu dân. Nếu đào kênh như N.T.Tộ chắc chắn dân chúng cả nước sẽ nổi lên chống triều đình (Thực chất... Tr. 109).

    Yêu thì cái gì cũng tốt. Ghét thì cái gì cũng xấu. Đó là chuyện người đời. Trong lịch sử có bao nhiêu sáng kiến táo bạo đã từng bị phê phán. Cũng có loại sáng kiến táo bạo không thực hiện được, nhưng tư tưởng của người đề xuất thì đời sau vẫn ngợi ca. Nếu có được thái độ công bằng, chắc chắn rằng bạn Ng. Kha sẽ thấy rõ N.T.Tộ thực tâm nghĩ đến lợi ích đất nước, và có đủ trình độ để chỉ đạo việc đào kênh, như ông đã hướng dẫn đào Kênh Sắt ở Nghệ An năm 1866. Vả lại cũng cần phân biệt việc Đoàn Trưng phát động khởi nghĩa chống vua Tự Đức làm Khiêm lăng, không đồng dạng với cuộc nổi dậy chống đào kênh mà anh tưởng tượng ra. Xưa nay dân Việt Nam ta có bao giờ chống việc thủy lợi, đào kênh đắp đập lo toan đời sống con người đâu.

    d) N T.Tộ kiến nghị lập viện dục anh và viện tế bần thì Ng. Kha phản bác: Hoặc vô tình, hoặc cố ý, nhà thông thái N.T.Tộ đề nghị mỗi tỉnh lập một nhà nuôi trẻ do giám mục tình bào Gauthier cử ngưởi điều khiển là một kế hoạch vô cùng nguy hiểm, không những tạo thế hợp tác cho các giám mục nước ngoài mà còn trải rộng mạng lưới tình báo khắp toàn quốc cho Pháp và Vatican dễ dàng và nhanh chóng thống trị và đồng hóa dân tộc ta (thực chất... tr. 134). Trần Ch. Ngọc cũng phụ họa: Đặt giáo dục, cứu tế xã hội vào tay các giám mục là những đề nghị nguy hiểm, nếu thi hành thì Việt nam sẽ mất hẳn nền văn hóa đặc thù của mình (N. Tr. Trang 257).

    Nếu ta nghiên cứu lại toàn văn điều kiến nghị thứ 8 trong Bát điều tế cấp: Lập viện dục anh và trại tế bần thì sẽ thấy nhà đại trí họ Nguyễn đặt vấn đề này trên cơ sở phê phán một tình trạng lạc hậu của đất nước: Hiện nay ở Trung Quốc cũng như nước ta thường kêu gọi quyên góp lập đàn công tế, hoặc đúc tượng Phật, hoặc lập bài vị thần, hoặc đúc chuông, sửa chùa, hoặc hội họp văn chương, hoặc làm đình làm mộ (...) ai quyên góp được nhiều thì bảo là háo thiện. Những việc ấy có gì là háo thiện? Chỉ háo danh mà thôi! Ngoài đường có người đói xin miếng cơm thừa canh cặn mà còn nhẫn tâm không cho. Gần nhà có trẻ mồ côi ngồi khóc bên vách mà nỡ nhắm mắt bỏ đi (...). Tôi thấy hiện nay triều đình xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ, nhưng vì thừa hành không làm hết nhiệm vụ nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người nghèo khổ không được giúp đỡ bao nhiêu (...) Không bằng phương Tây Hội Thánh thâu hết những người nghèo về nuôi, chữa bệnh. Người tàn tật thì có công việc tàn tật, không ai ở không (...) Nhà nước cấm tuyệt không cho ai đi ăn xin, hễ gặp là bắt ngay, sung vào công dịch. Làm được thế người nghèo có nơi nương tựa mà bọn côn đồ bất lương khó đường trốn tránh. Còn việc nuôi trẻ rất khó kiếm người, chỉ có những phụ nữ phương Tây tình nguyện vào ở trong viện với trẻ mới làm được việc và chắc chắn có hiệu quả tốt (...) Nếu triều đình cho rằng việc này nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ có kết quả ngay (Tr.B.cần, sđd, trang 257 - 276).

    Một kiến nghị thực tâm và thiện chí như thế bị anh Ng Kha thêm vào mấy chữ do giám mục tình báo Gauthier cử người điều khiển lập tức biến thành một âm mưu hại nước. Còn anh Ngọc thì sợ mất đặc thù văn hóa dân tộc Phải chăng đặc thù văn hóa Việt nam là không cần chăm sóc người nghèo và trẻ mồ côi? Ngày nay nước ta đang lập ra những làng SOS để chăm sóc các em bé không nơi nương tựa, trong đó có một số bà xơ nữ tu công giáo tham gia, phải chăng đó là điều có hại?

    đ) N.T.Tộ được vua Tự Đức cử sang Pháp thu xếp việc mở trường kỹ thuật, nhưng khi đã được vua cho chọn đất làm trường thì đành bỏ dở. Đọc tiểu sử N.T.Tộ đến đoạn này ai cũng lấy làm mừng, rồi lấy làm tiếc. Tiếc cho ông. Tiếc cho đất nước. Giá mà ngày ấy lập được truờng kỹ thuật thì hay biết mấy!

    Nhưng Ng. Kha viết: Triều đình Tự Đức quá tin tưởng giám mục Gauthier và N.T.Tộ, trái lại hai vị này lừa dối triều đình có hậu ý (...) vì thầy giáo thì không có khả năng, giám mục lại là gián điệp (Thực chất... trang 115 và 117) Anh chứng minh việc thầy giáo không có khả năng là: một ông thi đậu cử nhân văn chương mà nói là biết phép toán học, bản đồ và điện khí, một ông thì mới gia nhập Hội truyền giáo, đi học khóa kiến trúc một năm mà nói là thạo về môn đồ bản và biết làm cột thu lôi... Tất cả những chuyện này Trương Bá Cần đều viết rõ trong tác phẩm N.T.Tộ con người và di thảo, và Ng. Kha đều sử dụng tư liệu của Tr.B.Cần, nhưng anh đã lờ đi đoạn văn quan trọng của Trương Bá Cần: Triều đình Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp. Việc dự án mở trường ở Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong triều đình cũng như ở các tỉnh tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ Pháp (...) Những ngày tháng 4-1868 có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người công giáo (Tr.B.Cần, sđd. Trang 51-53). Rõ ràng việc mở trường ở Huế không thành là do nguyên nhân thời thế chứ không phải do giám mục Gôchiê và N.T.Tộ là người đã cất công đi lo toan việc này trở mặt đánh lừa nhà vua bằng cách chọn thầy dạy học thiếu năng lực. Vả lại có ai cấm một cử nhân văn học mà có thêm hiểu biết về kỹ thuật, một linh mục học về kiến trúc một năm mà có được khả năng dạy vẽ đồ bản và cách làm cột thu lôi. Lời buộc tội của hai bạn Ng. Kha và Tr. Ch. Ngọc thật là gượng ép.

    Đọc hết cuốn sách của hai bạn Việt Kiều ở Mỹ, những người kính yêu Nguyễn Trường Tộ không khỏi liên hệ đến cách nhìn của các nhân vật chủ chiến thời Tự Đức từng để ra khẩu hiệu Bình Tây sát tả, và từng kiến nghị triều đình xử tử N.T.Tộ. Cuốn sách của hai bạn không phải vô tình mà là cố ý chôn vùi một danh nhân đất nước trong khi hầu hết các học giả trong nước đều tôn vinh ông, nhất là trong thời đại ngày nay, yêu cầu đổi mới đất nước đang là một yêu cầu nóng bỏng để đưa dân tộc ta tiến kịp đà văn minh thế giới hiện đại.

    Thật ra T. Ch. Ngọc còn có vài câu vớt vát cho N.T.Tộ như: Không có thể phủ nhận sự hiểu biết của ông N.T.Tộ rộng rãi và tiến bộ hơn sự hiểu biết của người dân và đa số sĩ phu trong nước thời ấy (Thực chất..., trang 196). Qua một số kiến nghị chính xác liên quan đến xã hội và nền giáo dục nước nhà, nếu áp dụng thì cũng có lợi ích trong việc phát triển đất nước, thí dụ như bỏ lối học từ chương, khuyến khích khoa học kỹ thuật, cải thiện nông nghiệp, khai thác tài nguyên v.v... (N.Tr. trang 253)

    Nhưng Tr. Ch. Ngọc khen để rồi chê: Thực chất những hiểu biết của ông có lợi hay có hại cho đất nước, có phải là mới mẻ đặc biệt hay không? (N.Tr. trang 196), và Nhưng đây là những chương trình lâu dài không thể áp dụng để đối phó lật ngược tình trạng sôi bỏng của đất nước thời bấy giờ (N.Tr. trang 253) Còn như số đông học giả trong nước đối với các đề nghị cách tân của N.T.Tộ thì khen thật sự, khen mà khâm phục chứ không phải khen để rồi chê. Khen ở chỗ những kế sách của ông đem ra thực hành trăn năm cũng chưa hết (...) thực ra là ông nói cho chúng ta (...) đó là một lời dự báo (tham luận của Nguyễn Văn Hồng - Xem Kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước trang 181).

    Ngay như Thai Hồng, người phê phán đường lối chính trị của N.T.Tộ một cách sâu sắc nhất trong hội thảo 1991 cũng phải thừa nhận rằng: N.T.Tộ là một nhà yêu nước, người đã đề xuất những cải cách lớn hồi thế kỷ trước. Khát vọng của ông là khát vọng bảo vệ nền độc lập nước nhà, làm cho dân giàu nước mạnh. Khát vọng đó cũng là khát vọng muôn đời của nhân dân, của dân tộc. Ông lại cũng là người đã vượt qua được hoàn cảnh riêng của mình để cùng đi với dân tộc trong bước khó khăn đen tối. Do đó hình tượng của ông là hình tượng của một người có nghị lực phi thường, đã đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho tư tưởng độc lập và thịnh vượng của nước, của dân. Bao nhiêu đó đã khiến ông trở thành người Việt nam đáng kính, đáng trọng, một danh nhân văn hóa Việt nam. (xem kỷ yếu trang 269)

    Theo phương pháp luận khoa lịch sử thì đánh giá một nhân vật lịch sử cần xem xét những tiêu chí khác nhau:

    - Về chính trị, nhân vật đó có đề xuất được một đường lối chính trị phù hợp với yêu cầu lịch sử trong thời đại của mình hay không? có chính kiến gì sáng suốt hơn đời không? Nếu chính kiến của nhân vật lịch sử không phù hợp với thời thế đương đại thì nó có dự báo một điều gì cho tương lai không.

    - Về trí tuệ và văn hóa, nhân vật đó so với người trước và người đương thời có vượt lên cao hơn hay không. Tư tưởng và tác phẩm của người đó có tác dụng nâng cao nền văn hóa chung của đất nước hay của nhân loại không? Nếu đương thời quan điểm văn hóa của nhân vật đó chưa phù hợp thì nó có tác dụng tích cực cho tương lai không?

    - Về nhân cách, nhân vật đó có gì nổi bật, đáng làm gương cho đời? Có đặc điểm gì khác đời đáng coi là một điển hình lịch sử?

    Đối với nhân vật lịch sử Nguyễn Trường Tộ, các học giả trong nước nói chung có cách nhìn đúng đắn.

    Về mặt chính trị, nhiều người nhìn rõ điều bất cập của ông trong tinh thần chủ hòa, cho nên ít người ca ngợi ông về đường lối chính trị. Người ta chỉ có thể xét đến hoàn cảnh thực tại của ông, sống trong lịch lý. Nghịch lý tôn giáo, nghịch lý đất nước, nghịch lý thời đại. N.T.Tộ đã không đề xuất được một đường lối tạm hòa với những suy tư day dứt và một tấm lòng yên nước chân thành.

    Nhưng về mặt văn hóa, trí tuệ và nhân cách thì không ai phủ nhận N.T.Tộ đã đề lại một ấn tượng rất đẹp, ấn tượng của một trí tuệ vượt lên trên tầm thời đại của đất nước Việt nam giữa thế kỷ XIX. Ấn tượng về một tám lòng ái quốc trung quân. Sống trong cảnh bị nghi ngờ, bị gạt bỏ mà không một lời oán trách, lại còn lo toan cho đất nước vươn lên giàu mạnh để đối phó với quân thù xâm lược. Tư tưởng cách tân xã hội, phê bình xã hội của ông được đánh giá cao như mở đầu một giòng chảy tư tưởng canh tân cho đất nước.

    Có thể nói rằng thái độ bài xích của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc đối với N.T.Tộ là có thể hiểu được nhưng thực sự có thiên lệch, hoặc là quá nghiêm khắc, khi hai anh đứng trên một lập trường chủ chiến có phần cực đoan, tuyệt đối không chấp nhận bất cứ phương sách chủ hòa nào.

    Học giả Chương Thâu thường nhắc lại tinh thần mạn đàm giữa nhà hiền triết Cao Xuân Huy với Giáo sư Trần Văn Giàu hồi những năm 1960. Cả hai vị đều nhận định về một nghịch lý của thời Tự Đức trước cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp: Thời ấy chủ chiến là đúng, nhưng các anh hùng chủ chiến nói chung đều nằm trong hệ tư tưởng Khổng giáo đã trở nên lạc hậu, bảo thủ, không tiếp thu nổi cái mới, không có được một đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, không biết nhìn bao quát thời thế trong toàn thế giới. Thời ấy chủ hòa là hữu khuynh. Trong những người chủ hòa không ít tư tưởng đầu hàng, tự ti dân tộc, nhưng lại có được một nhân vật chủ hòa mang tư tưởng canh tân hợp với bước tiến của thời đại. Đó là Nguyễn Trường Tộ. Vì thế mà N.T.Tộ tuy thất bại trước thời cuộc nhưng các kế hoạch canh tân của ông là sáng suốt, còn lưu lại cho đời sau và được đời sau chiêm ngưỡng. Còn các nho sĩ chủ chiến như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn v.v... tuy thất bại nhưng tấm gương yêu nước, quyết chiến của các vị đó để lại ấn tượng sâu xa trong sự tôn vinh của nhân dân đương thời và đời sau.

    Một cách nhìn như vậy có thể coi là công bằng, chính xác, hợp với phương pháp luận khoa học lịch sử.

    Số đông học giả trong nước ngày nay tin rằng thái độ tôn vinh đối với N.T.Tộ là đúng đắn. Chẳng những ngày nay chúng ta tôn vinh danh nhân văn hóa N.T.Tộ trong không khí đổi mới tư duy, trong thời đại của nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ; mà hơn nửa thế kỷ trước, chính Phan Bội Châu, người căm thù giặc Pháp hơn ai hết vẫn ca ngợi N.T.Tộ là người trồng mầm văn hóa đầu tiên ở nước ta (xem Việt nam quốc sử khảo - nxb KHXH 1982, tr. 214). Và cả Hồ Chủ Tịch nữa, trong những ngày chuẩn bị ráo riết chống xâm lược Pháp đầu năm 1946, Bác vẫn nhắc đến những đề nghị canh tân của N.T.Tộ và tiếc cho triều đình Tự Đức không biết tiếp thu. Trong con mắt của Bác, N.T.Tộ làmột điển hình giáo dân kính chúa và yêu nước.

    Viết những dòng này sau khi đọc kỹ cuốn sách của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc, chúng tôi bâng khuâng chưa rõ hai bạn mạt sát N.T.Tộ đến mức đó để làm gì? Phải chăng là để biểu thị mình có cách nhìn khác đời, khác với khuynh hướng chung của thời đại, để thành người nổi tiếng như anh chàng Erostrate đốt đền thờ thần Artemis ở Hy lạp 556 năm trước Công nguyên? Hay là hai bạn ra sức công kích N.T.Tộ để thỏa mãn yêu cầu của người đặt bài đang rất khó chịu vì những lời ca ngợi, đòi hỏi đổi mới? Hay là các bạn có một nhu cầu nội tâm thể hiện mối hận của những con em Phật tử ở miền Nam trước đây đã chịu nhiều đau thương dưới thời Ngô đình Diệm, một chính quyền Công giáo rất kỳ thị với Phật giáo.

    Điều khác nhau giữa số đông học giả trong nước với hai bạn là ở cái tâm, ở cách nhìn, ở thái độ đối với vấn đề văn hóa và cách tân. Giữa thời đại ngày nay, thời đại của hòa hợp dân tộc, đất nước vươn lên, một thái độ coi trọng trí tuệ, coi trọng nhân tài, một thái độ dung hòa, khoan dung, tiếp cận giữa các quan điểm đối lập là nên có, nên giữ, để cùng nhìn về tương lai, cùng vun đắp một cái gì chung cho văn hóa đất nước và văn hóa nhân lọai.