TẬP THƠ ĐƯỜNG “THUẬN NGHỊCH ĐỘC”

 CỦA TIẾN SỸ ĐẶNG VĂN PHÚ

Trần Vân Hạc

05 tháng 4, 2010

 Tiến sỹ hóa học Đặng Văn Phú là một nhà cảm xạ bậc thầy, một lương y cao cấp, lương y chuyên sâu tài hoa và thật bất ngờ khi biết ông còn là một nhà thơ. Tập thơ: “Trăng ngàn” - nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2009 là tập mới nhất của ông. Đặc biệt đây là tập thơ Đường, theo lối “thuận nghịch độc”. Đây là thể thơ vô cùng độc đáo, vì mỗi bài có thể đọc ngược, xuôi thành nhiều bài, có bài của tiến sỹ Đặng Văn Phú có thể đọc thành 20 bài. Khó là vậy nên từ xưa, người làm một vài bài thì nhiều, nhưng cả tập 50 bài thì chưa từng có, khiến ai duyên may có tập thơ này đều thực sự thích thú và khâm phục.

Ông tiến sỹ yêu thơ này đã từng in chung 17 tập thơ và có bài trên 30 thi san các loại. Tập thơ “Trăng ngàn” là tập thơ “thuận nghịch độc” đầu tay, nhưng đã để lại trong lòng người đọc một ấn tượng khó phai. Ông đang chuẩn bị cho in tiếp tập “Vườn đào” cũng theo thể “thuận nghịch độc”.

50 bài thơ của tiến sỹ Đặng Văn Phú, mỗi bài đều không chỉ là một bài thơ, mà hơn thế đấy là một kỳ công tuyệt tác của trí tuệ, cảm xúc và sáng tạo được cộng hưởng, thăng hoa như trong “Người đa tài” của Đức Anh:

“Đa tài hiếm có ở nhân gian

Trí não thông minh đến tuyệt trần”.

Đề tài phong phú: nhiều mảng cuộc sống được phản ánh một cách trung thực và hồn nhiên. Nguồn xúc cảm dồi dào phát khởi từ một trái tim yêu đời, yêu thiên nhiên, tha thiết với cuộc sống. Bằng nhiều tìm tòi sáng tạo trong thể hiện nghệ thuật với những hình ảnh và biện pháp tu từ độc đáo, kỳ công trong việc đãi vàng trong muôn tấn quặng chữ, tác giả vẫn giữ được cái chất hàn lâm của thơ Đường mà vẫn đậm đà hương vị Việt, tạo ra một không gian đa chiều, khơi nguồn cảm xúc thẩm mỹ cho người đọc… Đó là cảm nhận đầu tiên của người viết bài này khi đọc xong tập “Trăng ngàn” của tiến sỹ Đặng Văn Phú.

Cảm xúc chủ đạo của tập thơ là tình yêu cháy bỏng với quê hương đất nước, tình yêu gia đình dạt dào nồng thắm, tấm lòng của một lương y như từ mẫu, những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời… Đề tài không mới, nhưng sự tìm tòi trong cách thể hiện đã đem lại một hơi thở, một diện mạo đặc biệt cho những mệnh đề tưởng chừng muôn thuở ấy. Đó là một thứ giống như một phép đảo thế nhiệm mầu của ngôn từ, đưa người đọc đi từ bất ngờ này tới sự thú vị khác. Bởi vậy đọc thơ ông trong trò chơi trí tuệ cao cấp, sang trọng ấy không dễ, ý tại ngôn ngoại, nhưng khi hiểu, đã đồng cảm được thì thật là thú vị, lôi cuốn đến say lòng.

 Đây là cảnh nên thơ ở bài “Trăng ngàn”:

“Sương mây quyện lẫn núi ngàn xa

Gió nhẹ, trăng lùa chim hót ca

Hương thỏang đâu đây mùi chín quả

Sắc loang nơi ấy vị ngon trà…”.

Cái tài của ông là sự biết điều tiết cảm xúc và thể hiện rất giản dị, nhưng không kém phần thơ mộng và các bạn thử đọc ngược mấy câu ấy thôi, chắc sẽ không khỏi ngạc nhiên trước thi tứ mới đầy bất ngờ.

Trong tập thơ của ông mỗi bài đều long lanh một thứ ánh sáng diệu kỳ, có những bài người đọc không thể không thưởng thức với nhiều góc độ khác nhau, bởi  cũng như thưởng lãm một viên kim cương, người ta không thể chỉ đứng ở một góc độ. Đấy là những bài: Hoa sen, Hưng Đạo Vương, Suối, Chợ Hoa, Viếng mộ liệt sỹ…Dù là thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt…thì với tay nghề cao như của người thợ kim hoàn tài hoa, ông đã tạo nên những công trình tuyệt diệu bằng ngôn ngữ. Ông vẫn tuân theo qui định ngặt nghèo của thơ Đường, nhưng với tài năng và sự sáng tạo của mình,  mỗi bài, mỗi câu, mỗi ý cứ dư ba trong lòng người đọc những gợn sóng đến vô cùng.

Thiên nhiên trong “Trăng ngàn” được thể hiện tài tình qua “Tây Hồ”: 

“Vân in gợn sóng nước xanh hồ

Gió nhẹ lay đưa lá liễu bồ”.

Đọc xuôi đã thấy cảnh trời mây non nước Tây Hồ sao mà thơ mộng, nhưng khi đọc ngược:

 “Bồ liễu lá đưa lay nhẹ gió

Hồ xanh nước gợn sóng in vân”,

ta chợt sững sờ trước vẻ đẹp thường ngày của Tây Hồ vừa quen, vừa lạ. Tuy cũng là sóng, gió, trời, mây…nhưng như có hồn, sống động. Còn trong “Rừng sớm”:

“Xa kia sẫm bóng ngút ngàn cây

Sớm phủ sương dăng lãng đãng dày”.

Nếu chỉ cảm nhận rừng cây đầy sức sống, xanh ngút ngàn, sương dăng chỗ dày đặc, nơi lãng đãng đã thấy cái đẹp của thiên nhiên qua tài năng của ông, nhưng khi đọc ngược:

“Dày lãng đãng dăng sương phủ sớm

Cây ngàn ngút bóng xẫm kia xa”,

người đọc chợt mỉm cười thích thú với những hình ảnh mới lạ với một không gian mở. Là người từng phấn đấu, đóng góp không mệt mỏi tài sức của mình trong công cuộc xây dựng đất nước, ông thốt lên từ đáy lòng mình “Mừng Đảng” vững tay chèo lái, làm cho dân giầu , nước mạnh:

 “Mừng Đảng tiếp sang xuân

Lái chèo vững triệu lần

Bừng lên dân tiếp bước

Hưng vượng giàu sang dân”.

Đây là đề tài khó, thường dễ sa vào việc hô khẩu hiệu, với ông, bằng cách thể hiện mộc mạc, chân thành như cảm nhận tất yếu của mọi người dân đất Việt. Những từ: “tiếp”, “bừng”, “hưng vượng”… làm cho bài thơ có hồn. Trong bài: “Bác Hồ với thiếu niên”:

 “Yêu quí chăm lo đến thiếu niên

Gắng công rèn rũa đức tài hiền

Thêu hoa nhiệt huyết niềm mơ ước

Nêu bật non sông đẹp dải liền”.

Tâm  nguyện của Bác gửi gắm, hy vọng vào thế hệ mai sau xây dựng đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu được thể hiện sao giản dị mà tài tình đến nhường vậy. Là một lương y chuyên sâu, ông thấm nhuần và phát huy cái đạo từ ngàn xưa “lương y như từ mẫu”. Nếu như trong sự nghiệp y dược cứu người ông từng chữa cho bao người khỏi bệnh nan y và thường xuyên khám bệnh miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn, thì trong bài “Đông y Việt Nam”:

“Truyền tải đông y Việt Nam ta

Tiếp theo báu quí của ông cha

Hiền tài cứu chữa nhiều thay đổi

Tốt tình chăm lo lắm chạm va…”.

Đây phải chăng là tuyên ngôn, là tiêu chí và cũng là những chiêm nghiệm của một lương y tài cao tâm sáng.

Trong tập “Trăng ngàn”, nhiều bài, nhiều câu, đọc thuận hay ngược đều đáng khâm phục như: Thơ hồn nối nhịp thích và mơ – Mơ và thích nhịp thổi hồn thơ (Sáng tỏa). Suối nước in non vẽ đất trời – Trời đất vẽ non in nước suối (Tụ hội). Nắng vàng hong ấm gió đưa hương – Hương đưa gió ấm hong vàng nắng (Tết đến)… Đặc biệt bài: “Chợ hoa” có thể đọc được thành 20 bài khác nhau, mỗi bài đều đem đến cho người đọc một thi cảm đầy bất ngờ trước vẻ đẹp của hoa, xuân, con người cùng thiên nhiên qua sự sáng tạo tuyệt vời:

“Gần tết chợ hoa đủ loại mầu

Nụ đào nhành cúc quất bày mau

Thân mai gốc sứ khoe hình dáng

Khóm trúc cành cau nối nhịp cầu

Xuân đón bướm vờn vui nhẩy múa

Gió hong chim đuổi thú đan khâu

Hân hoan dạo phố đèn trưng sáng

Giàn nhạc thâu đêm điểm trống chầu”.

Tiến sỹ Đặng Văn Phú là người đầu tiên có một tập thơ Đường theo thể “thuận nghịch độc”. Được biết ông sáng tác tập thơ này trong một thời gian không dài, với 22 bài thất ngôn bát cú, 28 bài tứ tuyệt. Đây quả là một kỳ công chưa từng có. Song cũng  do đây là tập thơ đầu tay theo thể loại “khó chơi” này nên  có đôi từ đọc ngược còn chưa sáng nghĩa, nhuần nhị, hoặc còn thô cứng. Đó là điều không tránh khỏi, bởi nói như dân gian: Ngọc nào mà không có vết. Nếu không tỳ vết thì người ta còn phải phấn đấu, gọt rũa để làm gì nữa. Bởi vậy chúng ta đón nhận tập “Trăng ngàn” với một sự khâm phục và trân trọng, sự thành công của tiến sỹ Đặng Văn Phú góp phần làm phong phú thêm thi đàn Đường luật. Và chúng ta đón đợi tập: “Vườn đào” với những thành công mới.

Gấp cuốn sách lại, người đọc gặt hái được biết bao cảm xúc thấm đẫm tình người và tình đời và cảm thấy tâm hồn mình trong sáng hơn, yêu đời hơn, do những thi tứ và cách thể hiện độc đáo đem lại, tôi cứ tự hỏi: Những người làm cuốn sách Kỷ lục Giness Việt Nam đã biết đến tập thơ Đường luật “thuận nghịch độc” của tiến sỹ Đặng Văn Phú hay chưa? Và nếu biết, họ có định đưa vào cuốn sách đó hay không, vì các bạn cứ tìm thử mà xem, từ xưa đến nay đã có nhà thơ nào có hẳn một tập 50 bài theo thể “thuận nghịch độc” như tiến sỹ Đặng Văn Phú?

 

CHỢ HOA:

MỘT BÀI TÁCH ĐƯỢC HAI MƯƠI BÀI:

 

I . ĐỌC XUÔI:

(Một bài đọc xuôi đã có ở trên)

 

2 .  Gần tết chợ hoa đủ loại mầu

Nụ đào nhành cúc quất bày mau

Thân mai gốc sứ khoe hình dáng

Khóm trúc cành cau nối nhịp cầu

 

3 . Xuân đón bướm vờn vui nhảy múa

Gió hong chim đuổi thú đan khâu

Hân hoan dạo phố đèn trưng sáng

Giàn nhạc thâu đêm điểm trống chầu

 

4 . Thân mai gốc sứ khoe hình dáng

Khóm trúc cành cau nối nhịp cầu

Xuân đón bướm vờn vui nhảy múa

Gió hong chim đuổi thú đan khâu

 

5 . Gần tết chợ hoa đủ loại mầu

Nụ đào nhành cúc quất bày mau

Hân hoan dạo phố đèn trưng sáng

Giàn nhạc thâu đêm điểm trống chầu

 

6 . Chợ hoa đủ loại mầu

Nhành cúc quất bày mau

Gốc sứ khoe hình dáng

Cành cau nối nhịp cầu

Bướm vờn vui nhẩy múa

Chim đuổi thú đan khâu

Dạo phố đèn trưng sáng

Thâu đêm điểm trống chầu

 

7 . Chợ hoa đủ loại mầu

Nhành cúc quất bày mau

Gốc sứ khoe hình dáng

Cánh cau nối nhịp cầu

 

8 . Bướm vờn vui nhẩy múa

Chim đuổi thú đan khâu

Dạo phố đèn trưng sáng

Đêm thâu điểm trống chầu

 

9 . Gốc sứ khoe hình dáng

Cành cau nối nhịp cầu

Bướm vờn vui nhẩy múa

Chim đuổi thú đan khâu

 

10 . Chợ hoa đủ loại mầu

Nhành cúc quất bày mau

Dạo phố dèn trưng sáng

Thâu đêm điểm trống chầu

 

 

II. ĐỌC NGƯỢC:

 

11 . Chầu trống điểm đêm thâu dàn nhạc

Sáng trưng đèn phố dạo hoan hân

Khâu đan thú đuổi chim hong gió

Múa nhẩy vui vờn thú đón xuân

Cầu nhịp nối cau nhành cúc khóm

Dáng hình khoe sứ gốc mai thân

Mau bày quất cúc nhành đào nụ

Mầu loại đủ hoa chợ đến gần

 

12 . Chầu trống điểm đêm thâu nhạc giàn

Sáng trưng đèn phố dạo hoan hân

Khâu đan thú đuổi chim hong gió

Múa nhẩy vui vờn bướm đón xuân

 

13 . Cầu nhịp nối cau cành trúc khóm

Dáng hình khoe sứ gốc mai thân

Mau bày quất cúc cành đào nụ

Màu loại đủ hoa chợ tết gần

 

14 . Khâu đan thú đuổi chim hong gió

Múa nhẩy vui vờn bướm đón xuân

Cầu nhịp nối cau cành trúc khóm

Dáng hình khoe sứ gốc mai thân

 

15 . Chầu trống điểm đêm thâu giàn nhạc

Sáng trưng đèn phố dạo hoan hân

Mau bầy quất cúc cành đào nụ

Mầu loại đủ hoa chợ tết gần

 

16 . Điểm đêm thâu nhạc giàn

Đèn phố dạo hoan hân

Thú đuổi chim hong gió

Vui vờn bướm đón xuân

Nối cau cành trúc khóm

Khoe sứ gốc mai thân

Quất cúc nhành đào nụ

 Đủ hoa chợ tết gần

 

17 . Điểm đêm thâu nhạc giàn

Đèn phố dạo hoan hân

Thú đuổi chim hong gió

Vui vờn thú đón xuân

 

18 . Nối cau cành trúc khóm

Khoe sứ gốc mai thân

Quất cúc nhành đào nụ

Đủ hoa chợ tết gần  

 

19 . Thú đuổi chim hong gió

Vui vờn bướm đón xuân

Nối cau cành cúc khóm

Khoe sứ gốc mai thân

 

20 . Điểm đêm thâu giàn nhạc

Đèn phố dạo hoan hân

Quất cúc nhành đào nụ

Đủ hoa chợ tết gần

 

 

 

 

Trần Vân Hạc

Những bài của tác giả:

Chè “Hai không”, “năm cực” Suối Giàng (Trần Vân Hạc)
Chữ Viết Khoa Đẩu Duy Nhất Trên Đá Cổ Sa Pa (Trần Vân Hạc)
Công Trình Chữ Việt Cổ Của Giáo Sư Lê Trọng Khánh (Trần Vân Hạc)
Gửi Người Tạc Tượng Alexandre De Rhodes (Vân Hạc)
Huyền Thoại Tắm Tiên Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hình Tượng Cây Nêu Với Một Số Dân Tộc Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hương Sắc Rừng Xuân Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hội thảo: Kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội (Văn Hạc)
Không gian cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Một hướng tiếp cận mới (Trần Vân Hạc)
Kính gửi Ban biên tập Tuần báo Văn nghệ TPHCM (Trần Vân Hạc & Nguyễn Lê)
Lê Văn Tám: Lửa Bất Diệt (Trần Vân Hạc)
Mùa Xuân Tây Bắc Trong Tôi (Trần Vân Hạc)
Một ngôi chùa cổ rất cần những tấm lòng (Trần Vân Hạc)
Một văn bản chữ cổ của người Pà Thẻn (Trần Vân Hạc)
Nghĩa Trang Mang Tên Một Dòng Sông (Trần Vân Hạc)
Nguyễn Trãi, hợp tuyển thơ của soạn giả Gia Dũng (Vân Hạc)
Người Giữ Hương Chè Shan Tuyết Suối Giàng (Vân Hạc)
Người Lắng Thầm Tìm Con Chữ Việt Cổ (Trần Vân Hạc)
Người phụ nữ Thái hết lòng vì văn hóa dân tộc (Trần Vân Hạc)
Ngọn lửa Lệ Chi Viên (Trần Vân Hạc)
Nhà Sàn Của Người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Nhân Sinh Trong Tiếng Đại Ngàn (Trần Vân Hạc)
Những ngôi chùa trên huyện đảo Trường Sa (Trần Vân Hạc)
Nét Đẹp Tục Chơi Còn Của Người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Núi Rừng Tây Bắc Đón Xuân: Inh Lả Ơi, Xao Nọong Ơi! (Vân Hạc)
Thông báo xuất bản sách chữ Việt cổ (Trần Vân Hạc)
Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu (Trần Vân Hạc)
Triết lý nhân sinh qua các món ăn của người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Trái Tim Của Biển (Trần Vân Hạc)
Trống đồng vang vọng giữa Trường Sa (Trần Vân Hạc)
Tây Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích (Trần Vân Hạc)
Tính hòa đồng của những ngôi chùa cổ Việt Nam (Trần Thi)
Tấm lòng vàng của một nhà khoa học chân chính (Trần Vân Hạc)
Tập Thơ Đường "Thuận Nghịch Độc" Của Tiến Sỹ Đặng Văn Phú (Trần Vân Hạc)
Vui buồn trên đường dâng sách (Trần Vân Hạc)
Vài nét về rừng thiêng của dân tộc Thái (Trần Vân Hạc)
Vài nét về tiến trình của chữ Quốc ngữ (Trần Vân Hạc)
Vàng Son Huyết Lệ (Trần Vân Hạc)
Yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái (Trần Vân Hạc)
Đài Giọt Lệ (Hoàng Đạo Chúc)
Đầu xuân gặp nhà văn Sơn Tùng (Trần Vân Hạc)

Trang Văn Học Xã Hội