bản in |
¿ trở ra mục lục
| 21 tháng 12, 2009 |
PHẦN III
◎◎◎
CHƯƠNG 18
CÁC NƯỚC Ý, ĐỨC, NGA,
TIỆP KHẮC VÀ BA LAN CHỐNG VATICAN
Chương sách này nói về
phong trào chống lại Nhà Thờ Vatican của nhân dân các nước Ý, Đức Nga, Tiệp Khắc
và Ba Lan. Như đã ghi trong tựa đề của chương sách này, trước hết, xin nói về
phong trào chống Vatican của nhân dân Ý.
1.- DÂN TỘC Ý CHIẾN ĐẤU
CHỐNG NHÀ THỜ VATICAN
Nói đến phong trào nhân dân
Ý chống Vatican, thiết thưởng cũng phải nên nói đến tình trạng chính trị nước Ý
trước khi được thống nhất vào năm 1870. Vào đầu thập niên 1830, nước Ý còn bao
gồm nhiều tiểu quốc riêng rẽ. Một số nằm dưới quyền thống trị của Vatican và một
số nằm dưới quyền thống trị của các ông hoàng tay sai của Pháp, hay tay sai của
Áo, hoặc là tay sai của Vatican. Tính từ Nam lên Bắc, những tiểu quốc đó là tiểu
quốc Lưỡng Sicilies, các tiểu quốc của Giáo Hội gọi là Papal States (nằm dưới
quyền trực trị của Giáo Hòang), Tuscany, Modena, Parma, Lombardy và Venetia
(nằm trong trong Đế Quốc Áo) và vương quốc Sardina bao trùm đảo Sardina cùng với
hai vùng Savoy và Piedmont ở trong đất liền.
Một phần vì địa thế núi non
lởm chởm làm trở ngại cho việc thống nhất đất nước, một phần khác khá quan trọng
là do yếu tố lịch sử. Từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ vào nửa cuối thế kỷ thứ 5, bán
đảo Ý Đại Lợi đã trở thành một miếng mồi béo bở cho các thế lực Âu Châu tranh
giành ảnh hường và muốn làm chủ nhân ông bán đảo này. Nước Ý không những đã
không có đất đai phì nhiêu thuận lợi cho nông nghiệp mà còn thiếu cả những tài
nguyên và nguyên liệu cần thiết cho việc mở mang kỹ nghệ. Hai yếu tố này là
những nguyên nhân gây khó khăn cho nước Ý trở thành một quốc gia hùng mạnh để có
thể chống lại các cường lân xâm chiếm. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố lòng
tham lam và lòng ích kỷ của nhóm thiểu số quý tộc và tu sĩ Da-tô. Hai nhóm
thiểu số ăn hại sống bám xã hội này sợ rằng nếu thống nhất đất nước thì quyền
lực chính trị sẽ thuộc về phe nhóm khác và họ sẽ là những người thua thiệt, mất
hết cả quyền lực chính trị và địa vị ăn trên ngồi trước đã có sẵn của họ. Vì
thế, họ luôn luôn khư khư ôm lấy quan niệm:
Triều đình riêng một góc
trời,
Thiếu gì cô quả, thiếu gì
bá vương. (Nguyễn Du)
Những yếu tố trên đây đã
khiến cho nước Ý vào đầu thập niên 1870 vẫn còn ở trong tình trạng của một tập
hợp hổ lốn với nhiều tiểu quốc, hỗn quân hỗn quan giống như tình trạng các tiểu
quốc Đức trước khi được thống nhất thành Liên Bang Bắc Đức (North German
Confederation) vào năm 1867 dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc lão thành Otto
Leopold Von Bismarck (1815-1898), nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc
và Việt Nam trong thời Thập Nhị Sứ Quân (945-967) , nhưng còn tồi tệ và khốn nạn
hơn nước Trung Hoa trong thời Đông Châu Liệt Quốc và Việt Nam trong thời Thập
Nhị Sứ Quân.
Như đã nói ở trên, từ thế
kỷ 4 cho đến thế kỷ 19, các nước Nam Âu, trong đó có nước Ý, vẫn còn nằm dưới
quyền thống trị của Nhà Thờ Vatican. Vì thế mà các tiểu quốc Ý dù là dưới quyền
cai trị trực tiếp như các “papal states” hay nằm dưới quyền thống trị của Áo
quốc hoặc là nằm dưới chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Ca-tô thì cũng có
Nhà Thờ Vatican ở hậu trường sân khấu chính trị giống như ở miền Nam Việt Nam
trong những năm 1954-1975. Nhờ vậy mà Giáo Hội có thể chiếm đoạt tới 25% diện
tích ruộng trồng trọt của người dân. (Xin xem lại Chương 13 ở trên.) Tình trạng
này đã khiến cho nước Ý nghèo khổ, lạc hậu, chậm tiến và trình độ dân trí rất là
thấp kém nếu so với các nước Âu Châu khác ở Bắc Âu, Tây Âu và Đông Âu. Sự kiện
này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:
"Sự trái ngược giữa các
nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ
ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên
đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có
và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng
được mang tước hiệu đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và
bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống
và trình độ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và
Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết
đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển
đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành cũng đã thức thời và sẵn sàng từ
bỏ nó để làm lợi cho đất nước. Các nhà chính khách và vua chúa ở các quốc gia
Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự
suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành."
Nguyên văn: "The contrast between the impoverished southern European
countries and the flourishing northern European states at this time was a
glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its
way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was
prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas
trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern
and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be
struck by the contrast in economic welll-being, standard of living, and general
education of the people. The northern and the central nations, predominantly
Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibit down south.
Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were
ready to take advantage of it. The statesmen and kings in southern Europe held
Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference them and
their Protestant counterparts.” Malachi Martin, Rich
Church Poor Church (New York: G.P. Putnam's Sons, 1984), pp 155-156.
Vì cho rằng chế độ giáo
hoàng phải chịu trách nhiệm về sự nghèo đói, chậm tiến và lạc hậu của đất nước
họ, cho nên nhân dân Ý căm thù Giáo Hội La Mã và giới tu sĩ Ca-tô hơn gấp bội
phần nếu so với lòng căm thù của nhân dân Pháp đối với Nhà Thờ Vatican. Cũng vì
thế mà nhà ái quốc Ý Giuseppe Garibaldi (1807-1882) mới tuyên bố:
"Linh mục là hiện thân
của sự gian trá". (The priest is the personification of falsehood). Vatican là
con dao găm đâm vào tim nước Ý.” (The Vatican is a dagger in the heart of
Italy.) "Giáo Hội Ca Tô là nàng hầu của sự chuyên chế và là kẻ thù trung kiên
của tự do." (The Catholic Church is the handmaid of tyranny and the steady
enemy of liberty.” Trần Chung Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA:
Giao Điểm, 2000), tr. 300.
Vào ngày 20/9/1870, nhà ái
quốc Giuseppe Garibaldi đem quân Cách Mạng bao vây và nã đại pháo vào Tòa Thánh
Vatican, buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều
kiện. Sự kiện này được sử gia Malachi Martin ghi lại như sau:
"Ngày 19 tháng 8 năm
1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận
đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá
Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối
cùng, và nước Pháp, "người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã" kể từ năm 1871 đến năm
1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày
19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở
ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau
(20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc
9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ St. Peter.
Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía
trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi
Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện
tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480 ngàn
mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ
St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau,
ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết một lá thư ngắn ngủi
cho người cháu:
Cháu yêu quý: Tất cả đã hết
rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta
và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con."
Nguyên văn:"On
August 19, 1870, the protecting French troops withrew definitely. With the
battle of Sedan on September 2, the empire of Napoléon III came to an end. The
papacy had lost its last defender, and France, the "eldest duaghter of the
Church" was to have an astounding 99 goverments between 1871 and 1940.
Immediately the Italian nationalist troops march on Rome. They encamped around
the old Leonine walls of Rome on September 19. The following day, after some
three hours of artillery barrage and sporadic hand-to-hand fighting, the pope
ordered the white flag to be raised above the dome of St. Peter at 9:30 A.M. Ten
minutes later, all firing had ceased. The Italian troops entered the city and
took possession of it all, leaving Vatican Hill untouched. The papal State had
ceased to exist. Its 16,000 square miles were now reduced to 480,000 square
meters on and around Vatican Hill where St. Peter's it adjoining buildings, and
the Vatican gardens were clustered. The next day, September 21, Pius IX
(1846-1878) wrote a short note to his nephew:
Dear Nephew: All is over.
Without liberty, it is impossible to govern the Church. Pray for me, all of you.
I bless you. Pius P. IX."
[Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p.
170].
2.- DÂN TỘC ĐỨC CHIẾN ĐẤU
CHỐNG VATICAN
Tại Đức, nhân dân quốc gia
này cũng thù ghét Nhà Thờ Vatican không kém gì nhân dân Anh, nhân dân Pháp và
nhân dân Ý. Trong Chương 16 ở trên, chúng tôi đã trình bày là vào năm 1077, Vua
Henry IV (1050-1106) đã chống lại việc Giáo Hoàng Gregory VII
(1073-1085) ban hành bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều (gọi là nguyên
tắc) bằng cách tự ý bổ nhậm các giám mục trong lãnh thổ đế quốc của ông
mà không cần biết đến điều 3 của bản tuyên cáo này định rằng, “chỉ có Giáo
Hoàng mới có quyền bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục.” Tiếc rằng, vì trình
độ dân trí lúc người dân Đức lúc bấy giờ còn thấp kém, thế lực bọn lãnh chúa
phản động phong kiến trong nước Đức liên kết với Nhà Thờ chống lại ông mãnh
liệt. Vì thế mà ông thất bại và đành phải mặc áo xám hối, đi chân trần đứng ở
giữa trời tuyết trong ba ngày ở Canova để tạ lỗi với Giáo Hoàng Gregory VII
(1073-1085). Xin xem lại Chương 16 ở trên. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ
người Đức đã có tinh thần chống lại Nhà Thờ Vatican từ cuối thế kỷ 11. Tuy là
cuộc chống đối này của Hòang Đế Henry IV thất bại, nhưng tinh thần chống
Vatican vẫn chứa chất và sôi sục trong lòng người dân Đức giống như hỏa diệm
sơn, chỉ chờ khi có hoàn cảnh thuận tiện là bùng lên thành bão lửa thiêu rụi hết
tất cả hệ thống quyền lực chuyên chính tàn ngược của Nhà Thờ Vatican. Cũng vì
thế mà khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) đứng lên phất cờ chống lại Giáo
Hội La Mã vào tháng 10 năm 1517, thì cả chính quyền và nhân dân Đức đều đồng
lòng hăng hái ủng hộ và tích cực đi theo ông. Nhờ vậy mà cuộc nổi dậy của
Linh-mục Martin Luther đã thành công rực rỡ và gây nên cả một phong trào Tin
Lành rộng lớn (chống lại Nhà Thờ Vatican) bao trùm cả Trung Âu, Bắc Âu, Tây Âu
và tạo điều kiện thuận lợi cho quốc đảo Anh cũng nổi lên chống lại Giáo Hội,
thành lập Anh Giáo tách rời khởi Tòa Thánh Vatican. Xin xem lại Chương 15 ở
trên.
Vì khinh bỉ và thù ghét Nhà
Thờ Vatican, cho nên vua Frederik the Great (1712-1786) của nước Phổ (cũng là
nước Đức) mới tuyên bố:
“Mọi nhà thần học đều giống
nhau. Mục đích của họ luôn luôn là đặt bạo quyền lên trên tâm thức con người. Do
đó họ khủng bố mọi người chúng ta dám táo bạo phanh phui sự thật.” (Theologians
are all alike. Their aim is always to wield despotic authority over men’s
consciences. They therefore persecute all of us who have the termerity to unveil
the truth.)”
Trần Chung Ngọc, Sđd., tr. 290.
Nhà xã hội học August Bebel
(1840-1913) người Đức tuyên bố:
“Ki-tô giáo là kẻ thù
của tự do và văn minh. Nó trói buộc nhân loại trong xiềng xích.“ (Christianity
is the enemy of liberty and civilization. It has kept mankind in chains.)
Trần Chung Ngọc, Sđd., 299.
Triết gia Frederich
Nietzche (1844-1900) người Đức nói:
“Thượng Đế đã chết.
Chúng ta không nên đến nhà thờ nếu chúng ta muốn hít thở không khí trong lành.”
(God is dead. One should not go the church if one wants to breathe pure air.”
Trần Chung Ngọc, Sđd., 297.
Giống như nhân dân hai nước
Pháp và Ý, nhân dân Đức cũng bị Vatican thống trị bằng những chính sách chuyên
chính cực kỳ bạo ngược và bị bóc lột hết sức dã man. Tại quốc gia này, con số
ruộng đất bị Vatican cưỡng chiếm lên tới 20% trên tổng số ruộng đất trong toàn
lãnh thổ. Cũng giống như nhân dân Pháp và nhân dân Ý, nhân dân Đức cũng khinh
bỉ, căm phẫn và thù ghét Nhà Thờ Vatican và bọn tu sĩ Ca-tô đến tận xương tận
tủy. Vì vậy mà khi Linh-mục Martin Luther (1483-1546) vừa mới công bố bản cáo
trạng liệt kê 95 tội danh của Vatican, dán tại cửa chính của một ngôi nhà thờ
trong thành phố Wittenberg thì được toàn thể nhân dân Đức hân hoan sung sướng và
triệt để ủng hộ. Họ reo mừng giống như nhân Pháp tại Kinh Thành Paris trong ngày
14/7/1789 ngay sau giờ phá ngục Bastille, và giống như nhân dân Việt Nam ta
trong ngày 19/8/1945. Chính vì lòng dân Đức sôi sục như vậy, cho nên năm 1521,
khi Giáo Hoàng Leo X (1513-1521) quyết định trừng phạt ông (Linh-mục Martin
Luther) bằng lệnh rút phép thông công và ra lệnh cho chính quyền địa phương tại
Đức phải bắt ông trao cho Tòa Án Dị Giáo để trị tội, thì cả chính quyền và nhân
Đức đều thách thức, bất tuân lệnh của giáo hoàng, và tổ chức quân đội chuẩn bị
đương đầu đối phó với thế lực phản động và phong kiến địa phương cấu kết Nhà Thờ
Vatican chuyên sống nhờ vào bọn cuồng tín “thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa”. Cũng may là vào lúc này, cũng như tại Âu Châu, người dân Đức đã được mởi
rộng tầm mắt, đã nhìn thấy rõ bộ mặt thật của Nhà Thờ Vatican và bọn quạ trắng,
quạ đỏ, quạ tím và quạ đen, cho nên, ngọai trừ một nhóm thiểu số, hầu như toàn
thể nhân dân Đức đều đồng lòng đoàn kết đứng sau Linh-mục Martin Luther và các
nhà cầm quyền Đức. Nhờ vậy mà họ đã đại thắng trong cuộc chiến chống lại Nhà Thờ
Vatican.
Ngay sau đó, có rất nhiều
nhà trí thức Đức trong đó có nhà thần học Philipp Melanchthon (1497-1560) nhập
cuộc tiếp tay Linh-mục Martin Luther soạn thảo một hệ thống tín lý Ki-tô mới
thay thế hệ thống tín lý Ki-tô La Mã (Ca-tô). Hệ thống tín lý mới này thường
được gọi là đạo Tin Lành Luther (Lutheran Protestantism). Hệ phái Tin Lành này
không những được nhân dân Đức (vốn là tín đồ Ca-tô của Vatican) nồng nhiệt đón
mừng và tin theo, mà còn được một số lớn người dân tại các nước Trung Âu, Đông
Âu, Bắc Âu và Tây Âu cũng từ bỏ Nhà Thờ Vatican, đi theo đạo Tin Lành này.
Kể từ đó, ngoài trừ một số
rất nhỏ, tuyệt đại đa số nhân dân Đức và nhân dân các quốc gia Trung Âu, Đông
Âu, Bắc Âu và Tây Âu không những dứt khoát từ bỏ cái giáo hội mà học giả Henri
Guillemin gọi là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (L’ Église Malheureuse), mà còn cương
quyết liều thân chống nó đến cùng để bảo vệ cái quyền làm người của họ. Cũng vì
thế vào đầu thế kỷ 17, khi Vatican ở hậu trường xúi giục chính quyền đạo phiệt
Ca-tô ở Pháp do Hồng Y Richelieu nắm quyền thủ tướng với toàn quyền chuyên chính
trong thời Vua Louis XIII (1610-1643) và Hồng Y Mazarin gốc Ý, nối tiếp Hồng Y
Richelieu nắm quyền thủ tướng trong thời Vua Louis XIV (1643-1715) phát động các
cuộc chiến nhằm tiêu diệt các ông hoàng có thế lực theo đạo Tin Lành, đặc biệt
là ở Đức, thì họ tình nguyện đầu quân và liều chết chiến đấu dưới quyền các ông
hoàng Tin Lành. Vì vậy mà cuộc chiến này giằng co kéo dài tới 30 năm trời
(1618-1648). Mãi tới khi các thế lực Ki-tô cả hai phe lâm chiến đều mệt mỏi và
tài chánh kiệt quệ, không còn khả năng tiếp tục chiến đấu nữa, thì các cuộc
chiến này mới chấm dứt bằng Hòa Ước Westphalia. Các nhà viết sử đều ghi nhận
rằng cuộc chiến này đã mang lại chiến thắng cho các quốc gia chống lại Vatican
vì rằng những khoản tài sản khổng lồ của Giáo Hội la Mã (Nhà Thờ Vatican) tại
các quốc gia này bị phe Tin Lành chiếm đoạt. Nói cho rõ hơn, kể từ đó các quốc
gia Âu Châu hoàn toàn làm chủ tất cả các tài sản của quốc gia họ đã bị Giáo Hội
chiếm đoạt . Ngay cả các quốc gia còn nằm dưới ách thống trị của Vatican như
nước Pháp (vào lúc đó) cũng có thể vùng lên chống lại Vatican vào bất cứ thời
điểm nào để đòi lại các khoản tài sản của Vatican ở trong lãnh thổ Pháp. Sự kiện
này được sách Living World History viết như sau:
“Hòa Ước Westphalia giải
quyết được quyền làm chủ tài sản của Giáo Hội La Mã bằng cách nói rõ người nào
đã làm chủ các khoản tài sản vào năm 1624 dù là Tin Lành hay Ca-tô thì sẽ được
quyền tiếp tục làm chủ những khoản tài sản đó. Hòa ước này cũng ban đặc quyền
cho hệ phái Tin Lành Calvin những đặc quyền giống như những đặc quyền mà Hòa Ước
Augsburg trước kia đã ban cho hệ phái Tin Lành Luther. Một trong những ý nghĩa
vĩ đại nhất của Hòa Ước Westphalia là các quốc gia đã đạt được chiến thắng
giành được quyền độc lập đối với các thế lực như Giáo Hội La Mã và Đế Quốc Thần
Thánh La Mã mưu đồ áp đặt quyền lực bao trùm lên các quốc gia của họ (tức ở
ngoài biên giới của hai thế lực này.” Nguyên văn: “The Peace of
Westphalia settled the question of ownership of Church property by specifying
that those who held the land in 1624, whether Protestant or Catholic, would
retain ownship. The Peace also granted the same privileges to Calvinism as had
been given to Lutheranism in the Peace of Augsburg. Of greatest significance
Westphalia symbolized the victory of individual nations over more far-reaching
organizations – such as the Church and the Holy Roman Empire – that attempted to
transcend national boundaries.” Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Sđd., p.
324.
3.- DÂN TỘC NGA DÙNG BIỆN
PHÁP MẠNH
ĐỐI PHÓ VỚI VATICAN
Cũng như nhân dân các nước
Anh, Pháp Ý và Đức, nhân dân Nga cũng vô cùng căm phẫn và thù ghét Nhà Thờ
Vatican và bọn giáo sĩ của cái tôn giáo quái đản này. Văn hào Leo Tolstoy
(1828-1910) người Nga nói:
“Tôi tin chắc rằng giáo
lý của Giáo Hội Mã (Ca-tô) là một sự nói láo xảo quyệt và xấu xa theo lý thuyết,
và là sự pha trộn của sự mê tín thô thiển nhất và trò ma thuật về phương diện
thực hành. Đúng vậy, tôi không thể chấp nhận một thuyết không hiểu nổi là thuyết
Ba Ngôi và huyền thoại về sự sa ngã của con người, vì chúng vô lý trong thời đại
của chúng ta. ” Nguyên văn: “I am convinced that the teaching of the
church is in theory a crafty and evil lie, and in practice a concoction of gross
superstition and witchcraft. It is true, I deny an incomprehensible Trinity. And
the fable regarding the fall of man. Which is abusrd in our day.” Trần Chung
Ngọc, Đức Tin Công Giáo (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 295.
Đế Quốc La Mã trong thời cực thịnh thống trị
phần lớn lãnh thổ Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải tức là bao gồm cả
phần lớn lãnh thổ của Nga Âu. Vào năm 324, Hoàng Đế Constantine (280-337) chia
lãnh thổ đế quốc này ra làm Đế Quốc Tây Phương với thủ đô hành chánh là Rome và
Đế Quốc Đông Phương với thủ đô hành chánh là Constantinople (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ
ngày nay), thì lãnh thổ Nga Âu nằm trong Đế Quốc Phương Đông. [Vào thời điểm
này, nước Nga chưa ra đời. Mãi đến thế kỷ 9, Nga mới lập quốc.] Cũng từ đây Đạo
Ca-tô La Mã (Roman Catholicism) do Hoàng Đế Constantine biến chế từ đạo Ki-tô
Do Thái (Jewish Christianity) dần phân hóa thành hai hệ phái Ki-tô giáo La Mã
(Roman Christianity) và Chính Thống Giáo (Orthodox). Người dân Nga thuộc về hệ
phái Chính Thống Giáo. Năm 1054, Chính Thống Giáo ly khai với Vatican và trở
thành thù địch với Nhà Thờ Vatican. Dĩ nhiên là dân tộc Nga cũng coi đạo Ki-tô
La Mã (Ca-tô hay công giáo) là thù địch.
41 năm sau, tức là vào năm 1095, Giáo Hoàng
Urban II (1088-1099) phát động chiến tranh thập tự đem quân thập ác sang vùng
Palestine tàn sát tín đồ Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo một cách cực
kỳ man rợ. Trong cuộc chiến này, người dân Nga ở trong vùng lâm chiến cũng trở
thành nạn nhân khốn khổ của những đoàn quân thập ác tham chiến. Kể từ đó, mối
thù của tín đồ Chính Thống Giáo trong đó có người Nga đối với Vatican và đạo
Ca-tô càng trở nên sâu nặng hơn.
Năm 1917, Cánh Mạng Nga thành công. Vatican
coi nước Nga và nhân dân Nga như là kẻ tử thù. Kể từ đó Vatican luôn luôn đưa
ra chiêu bài diệt trừ Cộng Sản và chống Cộng Sản đến cùng. Sự thực, chiêu bài
này chỉ là bức bình phong che đậy cho dã tâm hủy diệt Chính Thống Giáo giống như
Vatican muốn hủy diệt Do Thái Giáo và các hệ phái Tin Lành ở Âu Châu.
Năm 1933, tín đồ Ca-tô Adolf Hitler
(1889-1945) lên cầm quyền thiết lập chế độ Đức Quốc Xã, thì Vatican cấu kết với
chế độ bạo ngược này, đưa tên bạo chúa Francisco Franco (1892-1975) lên cầm
quyền thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô (1936-1975) tiêu diệt phong trào Cách
Mạng Tây Ban Nha vào năm 1936, rồi lại đưa tên bạo chúa Ante Pavelich lên thiết
lập chế độ phiệt Ca-tô ở Croatia trong những năm 1941-1975, tích cực ủng hộ Đức
Quốc Xã tấn công nước Nga và ngầm đi với Phe Trục chống lại Phe Đồng Minh Anh,
Mỹ, Nga, Pháp và Trung Hoa. Tại Á Châu Vatican có con bài Cường Để, Ngô Đình
Diệm, Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân (con trai Ngô Đình Khôi) đi với Nhật.
Với bản chất và những thủ đoạn quỷ quyệt lá
mặt lá trái cùng những hành động độc ác và tàn ngược như vậy của Nhà Thờ
Vatican, tất nhiên là người dân Nga đời đời nhớ mãi những hành động tội ác tàn
sát tín đồ Chính Thống Giáo (trong đó có rất nhiều dân Nga) trong những cuộc
thập chiến trong thời Trung Cổ cũng như trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945).
Cũng vì thế mà tháng 7/1997, nước Nga chính thức thông qua một đạo luật, không
cho phép Đạo Da-tô và đạo Tin Lành họat động hay truyền đạo ở quốc gia này. Sự
kiện này được sách Vatican Thú Tội và Xin Lỗi ghi nhận như sau:
"Trước buổi chợ chiều ấy, Giáo Hoàng Phao
Lồ II hiện nay, kêu gọi các linh mục, giám mục của ông, dốc lòng truyền bá Ki-tô
giáo trong các quốc gia Á Châu. Điều đó có nghĩa là đem tai họa khủng khiếp đến
cho Á Châu trong thiên niên kỷ thứ 3 này, như Giáo Hội Ca-tô La Mã đã đem tai
họa cho Âu Châu trong thiên niên kỷ thứ nhất, cho Mỹ Châu trong thiên niên kỷ
thứ 2, nay đến lượt Á Châu. Để ngăn chặn hiểm họa ấy, quốc hội Nga tháng 7 năm
1997 thông qua một đạo luật cho phép tất cả các tôn giáo được tự do truyền đạo
tại Nga, ngọai trừ đạo Tin Lành và Thiên Chúa Giáo La Mã. Nhiều quốc gia khác ở
Á Châu như Ấn Độ, Indonesia, Trung Hoa, v.v... cũng đang có những phản ứng quyết
liệt trước âm mưu muốn nhuộm đen Á Châu của Ki-tô giáo." (Nhiều tác giả,
Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 10 .
Vấn đề này cũng được cụ Trần Văn Kha nói rõ
trong cuốn Đức Tin Và Lý Trí - Thông Điệp Thứ 13 của Giáo Hoàng John Paul II:
"Ở Nga: Tin của "The
Register" số ra ngày Thứ Bảy 20/ 9/1997 cho biết: "Đạo luật đã chấp nhận "Chính
Thống Giáo" là tôn giáo chính, kính trọng các tôn giáo khác, như Hồi Giáo, Phật
Giáo và Do Thái Giáo. Đạo luật tạo ra một hàng rào ngăn cản đối với những giáo
phái toàn trị (Gia-tô, Tin Lành) và hạn chế sự hoạt động của những nhà truyền
giáo ngoại quốc. Các nhà phản đối cho rằng Chính Thống Giáo cũng ủng hộ đạo
luật này như là một cách để ngăn cấm những người Ki-tô khác như Da-tô và Tin
Lành, không cho họ được tự do họat động ở Nga." Vào ngày Thứ
Sáu 19/9/1997, các nhà làm luật ở Hạ Viện đã bỏ phiếu chấp thuận (đạo luật trên
đây) với 358 phiếu thuận và 6 phiếu chống." Nguyên văn: "The bill
enshrines Russia's Orthodox Church as the country's preeminent religion, but
also pledges repect for religions such as Islam, Buddhism and Judaism. It
creates a barrier for totalitarian sects and limits the activity of foreign
missionaries. But critics say the Orthodox Church also is backing the measure
as a way to prevent other Christians, such as Catholics and Protestants, from
operating freely in Russia. On Friday, September 19, 1997, lawmakers in the
lower house, or Duma, voted 356-6 in favor of the bill." Trần Văn Kha, Đức
Tin và Lý Trí – Thông Điệp Thứ 13 của Giáo Hoàng John Paul II (Westminster,
CA: Văn Nghệ 1999), tr. 257-58.
Ông Phan Đình Diệm, hội truởng hội Giê-su giáo
ghi nhận:
“Luật tôn giáo của viện DUMA (Quốc Hội) nước
Nga năm 1997 chỉ công nhận Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo
là "4 Tôn Giáo cao cấp hạng nhất là Tôn Giáo của Dân Tộc" của toàn nước Nga,
được hưởng tròn đầy tự do và được hưởng nhiều quyền lợi. Tôn Giáo hạng hai là
các "gíao phái ngoại nhập" phi dân tộc, trong đó có Công Giáo Rôma, các giáo
phái Tin Lành, không có tự do và không có quyền lợi gì hết và chịu một hạn chế
gắt gao, bị kiểm sóat nghiêm ngặt mọi hiện hữu, mọi hoạt động, mọi sở hữu phải
đăng ký, những biện pháp dự liệu trong luật tiến gần đến chỗ như là cấm đạo, như
là trục xuất, như là triệt tiêu."
Phan Đình Diệm. "Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo" ngày 5 tháng 8 năm 2003.
pddiem@hotmail.com]
4.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN
CỦA DÂN TỘC TIỆP KHẮC
Cũng như các dân tộc các
quốc gia khác ở Âu Châu, dân tộc Tiệp Khắc cũng từng là nạn nhân khốn khổ của
Vatican từ thời bạo chúa Ca-tô Charlemagne (768-814), cho nên, lòng căm phẫn và
thù ghét của họ đối với Vatican cũng mãnh liệt như bất kỳ dân tộc nào khác ở Âu
Châu. Cũng vì thế mà ngay từ khi Chủ Nghĩa Nhân Bản (Humansm) và Phong Trào
Phục Hưng (The Renaissance) bùng lên tố cáo tội ác của Giáo Hội La Mã vào đầu
thế kỷ 14, thì người dân Tiệp Khắc đã hăng hái tham gia và tích cực hoạt động
trong các phong trào này để chống lại Vatican. Nói về những hoạt động của Phong
Trào Nhân Bản tố cáo tộ ác của Giáo của Giáo Hội La Mã, sách Men and Nations
ghi nhận:
“Theo thời gian, Chủ Nghĩa
Nhân Bản trở nên một trường phái học thuật có một quan niệm nhân sinh mới. Một
trong những đặc tính của quan niệm nhân sinh mới này là tinh thần phê phán. Thí
dụ như một số tư tưởng gia trong phong trào này chỉ trích Giáo Hội La Mã, chống
đối những điều mà họ cho là thói hư, tật xấu, những khuyết điểm trong tổ chức
và trong việc quản trị của Giáo Hội. Những người này vẫn còn giữ vững niềm tin
tôn giáo, nhưng họ không thể chấp nhận quyền lực của Giáo Hội mà không hoài nghi
và thắc mắc.”
Nguyên văn: “As time went on, Humanism became more than a certain type of
scholarship; it also came to mean a new outlook on life. One characteristic of
this outlook was a critical spirit. Some Humanists, for example, criticized the
Church, protesting against what they regarded as defects in its organization and
administration. Men like this remained religious, but they were less inclined
than earlier thinkers to accept Church authority without question.”. Anatole G.
Mazour & John M. Peoples, Men and Nations – A World History (New York:
Harcourt Brace Jovanovich. 1975), p.294.
Nói đến người dân Tiệp hăng
hái hưởng ứng Chủ Nghĩa Nhân Bản và Phong Trào Phục Hưng trong các hoạt động tố
cáo tội ác của Giáo Hội La Mã, là phải nói đến người dân xứ Bohemia (nằm trong
nước Tiệp Khắc) mà nhà lãnh đạo của họ là nhà ái quốc John Huss (1372-1415). Vì
tích cực viết sách nêu lên những sai lầm trong hệ thống thần học Ki-tô và hăng
say tố cáo tội ác của Giáo Hội La Mã, ông bị Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415)
[một trong những bạo chúa Ca-tô ác độc, dâm loạn nhất trong giáo triều Vatican]
âm mưu cùng với tên bạo chúa Ca-tô Sigismund (Hoàng Đế Thần Thánh La Mã) bắt
giam vào cuối tháng 11/1414, rồi đưa ra Tòa Án Dị Giáo của Giáo Hội La Mã tuyên
án tử hình, rồi đưa lên giàn hỏa thiêu vào ngày 6/7/1415. Xin xem Chương 8, sách
Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) của tác giả Nguyễn Mạnh
Quang.
Kể từ đó, lòng căm phẫn và thù ghét Vatican
càng chất chứa trong lòng người dân Tiệp Khắc và họ sẵn sàng vùng lên tru diệt
cái “tôn giáo ác ôn” này. Cũng vì thế mà trong thời Phong Trào Tin Lành Luther
nổi lên ở Đức vào cuối thập niên 1510, nhân dân Tiệp Khắc triệt để ủng hộ và
đứng về phe Tin Lành chống lại Nhà Thờ Vatican. Rồi trong thời Chiến Tranh Lạnh
(1947-1990), thế giới chia ra làm hai phe kình địch giữa một bên là phe Cộng Sản
do Liên Sô chỉ đạo, và một bên là phe Tư Bản do Hoa Kỳ lãnh đạo có Vatican ở
đằng sau, thì nước Tiệp Khắc nằm trong quỹ đạo của Liên Sô (chống lại Nhà Thờ
Vatican). Khi chế độ Cộng Sản ở Liên Sô và Đông Âu sụp đổ, thì người nhân dân
Tiệp khắc cương quyết theo chế độ dân chủ và chống lại Vatican một cách hết sức
mãnh liệt. Bản tin dưới đây do nhật báo "Seattle-Post Intelligencer [Seattle] ra
ngày February 6, 2003" nơi trang A3 cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Một vị dân biểu quốc hội Tiệp Khắc, (quốc gia
này sẽ gia nhập Khối Âu Châu Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên
bố, "Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào của Khối Âu Châu Hợp Nhất
là một ý kiến ngu xuẩn, nó chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có
một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả."
Nguyên văn: "Jan Zahradil, a Czech parlimentarian whose country will
join the EU next year, said mentioning God in any EU charter was "a stupid idea
(that) will only provokes disagreements. There should be no direct link to
religion at all."] [10] 10] [Constant Brand (Associated Press).
""Seattle-Post Intelligencer" [Seattle] February 6, 2003" Page A3].
5.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN
CỦA DÂN TỘC TÂY BAN NHA
Trong các quốc gia nạn nhân
của Giáo Hội La Mã, Tây Ban Nha là nước gánh chịu thống khổ đau thương nhiều
nhất và trong thời gian lâu dài nhất. Dân tộc Pháp được coi như thoát khỏi được
cái ách thống trị bạo tàn của Giáo Hội La Mã kể khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào
ngày 14//7/1789, dù rằng cuộc chiến chống lại Nhà Thờ Vatican còn giằng co cho
đến năm 1905 họ mới thành công ghi vào hiến Pháp điều khoản “tách rời tôn giáo
ra khỏi chính quyền”. Trong khi đó thì nhân dân Tây Ban Nha vẫn còn phải tiếp
tục kéo dài kiếp sống dưới sự kìm kẹp của “cái tôn giáo ác ôn” này tới cả gần
hai thế kỷ nữa. Vì vậy, nhân dân Tây Ban Nha mới căm thù Giáo Hội La Mã và giai
cấp tu sĩ Da-tô sâu đậm hơn tất cả các dân tộc của các quốc gia Âu Châu khác.
Cũng vì thế mà mỗi khi có cơ hội là họ nổi lên tàn sát “bọn quạ đen” không một
chút xót thương. Con số bọn quạ đen của Nhà Thờ Vatican bị nhân dân Tây Ban Nha
đập chết trong thời chiến tranh Cách Mạng vào giữa thập niên 1930 được nêu lên
trong bản tin dưới đây có tựa đề là "Hold on to your faith, Pope tells
Spaniards của ký giả David Sharrock được công bố trong tờ World News May
05, 2003 nói lên lòng ghê tởm và căm thù của đại khối nhân dân Tây Ban Nha đối
với Giáo Hội La Mã như thế nào:
"World News May 05, 03:
Hold on you faith, Pope tells Spaniards" by David Sharrock:
"Hôm qua, khi tuyên bố
phong thánh cho 5 người Tây Ban Nha, Giáo Hòang (John Paul II) kêu gọi người Tây
Ban Nha hãy duy trì truyền thống văn hóa Da-tô (Kitô La Mã). Hàng triệu người
xếp thành hàng chữ thập ở trung tâm kinh thành Madrid. Phần lớn những người này
là người Tây Ban Nha và có cả những người Nam Mỹ và Ba Lan, trải dài ra bốn ngã
tư đường tại Quảng Trường Columbus, nơi đó một cái bàn thờ mầu trằng vĩ đại được
dựng nên để làm lễ phong thánh.
Giáo Hoàng tuyên bố phong
thánh cho 2 nam tu sĩ và 3 nữ tu, cả 5 người này đều là người Tây Ban Nha nổi
tiếng là làm việc cho dân nghèo và đã qua đời trong thế kỷ vừa qua. Những bức
hình vĩ đại của 5 người này treo ở tòa nhà văn phòng trông ra quảng trường.
Giáo Hoàng tuyên bố bằng
tiếng Tây Ban Nha rằng, "Chúng ta ghi danh họ vào trong sách thánh và quyết định
rằng tất cả đều được vinh danh là thánh ở trong Giáo Hội".
Trong 5 năm qua, Giáo Hòang
(John Paul II) đã phong thánh cho 20 người Tây Ban Nha, trong đó, có 11 người tử
đạo bị Phong Trào Cộng Hòa sát hại trong thời Thời Nội Chiến Tây Ban Nha
1936-1939.
"Trong số 5 người được
phong thánh (hôm này) có Cha Pedro Poveda là một trong số 4,184 tu sĩ bị
Phong Trào Cộng Hòa sát hại trong những năm nội chiến. Các ông thánh khác là
Angela de la Cruz (người thành lập đạo nữ binh "The Sisters" of the Company of
the Cross"); Genoveva Torres (người thành lập đạo nữ binh "The Sisters of the
Sacred Heart and the Holy Angels") ; Maravillas de Jesus (thành lập nhiều tu
viện cho Dòng "Bare foot Camelites"); và Jose Maria Rubio, một tu sĩ Dòng Tên.
Tính đến nay, Giáo Hòang
(John Paul II đã phong thánh cho 470 người và phong chân phước cho 1,314 người,
nhiều hơn tổng số thánh và chân phước do tất cả giáo hoàng tiền nhiệm đã tuyên
phong trước đó.
Nguyên văn:
"The Pope urged Spain yesterday to remain to its Roman Catholic culture and
faith when he proclaimed five new Spanish saints
One million people formed a
giant cross at the heart of Madrid as a congregation of mostly Spaniards, but
also South Americans and Poles, spread out along four boulevards intersecting
at Columbus Square, where a huge white altar was built for canonisation Mass.
"We inscribe them in the
book of the saints and establish that in all the Church they be devoutly
honoured among the saints," the Pope said in confident Spanish.
In the five years he has
canonised 20 Spaniards, 11 of them "martyrs" who were killed by republicans
during the Spanish Civil War of 1936-1939.
Among the five who were
proclaimed saints was Father Pedro Poveda, one of 4,184 priests
killed by republicans during the war. The other saints are Angela de la
Cruz, who founded the Sisters of the Comppany of the Cross; Genoveva Torres, who
founded the Sisters of the Sacred Heart and of the Holy Angels; Maravillas de
Jesus, who founded couvents for the Order of Barefoot Carmelittes; and Jose
Rubio, a Jesuit priest...
The Pope has now canonised
some 470 people and beattified 1,314, more than all his predecessors
combined..."[World
News May 05, 2003.]
Một bản tin khác được nhật báo "Seattle-Post
Intelligencer [Seattle] ra ngày February 6, 2003" đăng nơi trang A3 trong đó
có một đoạn với nguyên văn tin sau:
"Ở Tây Ban Nha, nói đến đạo Công Giáo La Mã là
gợi lại hình ảnh nhà độc tài phát xít Francis Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha
nào cũng đều có in hình của ông ta, và quyền lực của ông ta được hỗ trợ "bởi Ân
Sủng của Thượng Đế"... Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố, "Điểm
giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân chủ, chiến đấu cho nhân quyền và
chiến đấu để "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền"
["In Spain, a reference to Catholicism
evokes memories of the facist dictator Francis Franco, who stamped every Spanish
coin with his profile and backed his grip on power "by the Grace of God."... Our
identity is the fight for democracy, for huuman rights, for the separation
between church and state," said Spanish Foreign Minister Ana Palacio.” "10]
[Constant Brand (Associated Press). "Seattle-Post Intelligencer" [Seattle]
February 6, 2003" Page A3].
6.- TINH THẦN CHỐNG VATICAN
CỦA DÂN TỘC BA LAN
Tại Ba Lan, tín đồ Da-tô chiếm tới 95% dân
số. Vì căm giận và thù ghét Giáo Hội đến tận xương tận tủy, cho nên khi có cuộc
bầu cử Tổng Thống Ba Lan được tổ chức vào ngày 19/11/1995, họ lại dồn phiếu cho
ứng cử viên Aleksander Kwasniewski, một cựu đảng viên Cộng Sản, một người vốn có
thành tích chống Giáo Hội; chứ không bầu cho ứng cử viên Da-tô Lech Waslessa
dù là ứng cử viên này được Giáo Hội triệt để ủng hộ. Sự kiện này được tờ Người
Việt Tây Bắc (chủ nhân là một dân Chúa ngoan đạo) số 469, phát hành ngày Thứ Sáu
1 tháng 12 năm 1995 đăng tin như sau:
"Giáo Hội Ba lan theo dõi từng bước sự
thắng cử của Tân Tổng Thống cựu Cộng Sản.- Warsaw, Ba Lan (Reuter).
Vị đứng đầu Công Giáo Ba Lan, Đức Hồng Y Jozef Glemp, hôm 27/11, tuyên bố
sẽ theo dõi kỹ càng các sự thay đổi chính trị tại Ba Lan, sau khi một cựu đảng
viên Cộng Sản Ba Lan đã vừa đắc cử tổng thống nước này.
Hồng Y J. Glemp tuyên bố trong cuộc
phỏng vấn dành cho cơ quan thông tin Công Giáo (CIA), sau khi ứng cử viên Tổng
Thống cựu đảng viên Cộng Sản Aleksander Kwasniewski thắng thế trước ứng cử viên
Lech Waslessa, cựu lãnh tụ Công Đòan Đòan Kết, tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo, như
sau:
"Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi sẽ không đưa ra bất cứ
đề nghị nào có tính cách cách mạng với tân tổng thống cả. Tôi không nghĩ rằng,
với tư cách đại diện Giáo Hội, chúng tôi sẽ không đảm trách vai trò chính trị
nào trong tân chính phủ, tuy nhiên, chắc chắn chúng tôi sẽ theo dõi kỹ càng mọi
diễn biến xẩy ra trên chính trường," Sự thắng cử với tỷ lệ phiếu mong manh
của ứng cử viên Tổng Thống Kwasniewski trong cuộc bầu cử 19/11 vừa qua bị
coi là một sự thất bại cho Giáo Hội Công Giáo Ba Lan, mà trước năm 1989, vẫn là
hạt nhân chính yếu của phe đối lập để chống lại hệ thống vô thần Cộng Sản, mà
ứng cử viên Kwasniewski từng là một viên chức cao cấp.
Tổng Thống tân cử Kwasniewski tuyên bố, ông
muốn hàn gắn mọi sự dị biệt với Giáo Hội Công Giáo Ba lan, tuy nhiên, điều này
có lẽ không dễ dàng gì. Ngày 26/11, vị lãnh đạo giáo xứ Jasna Gora, từng
được coi là chiến tuyến công giáo của Ba Lan ngay từ thế kỷ 17, để chống lại
quân xâm lăng Thụy Điển, đã nói thẳng ra rằng, Ngài sẽ không cho Kwasniewski
đặt chân lên khu giáo xứ của ông.
Vị lãnh đạo giáo xứ trên, Ngài Szezpan
Kosnik, tuyên bố trước hàng ngàn giáo dân tề tựu tại giáo đường Pauline ở
Czestochowa, nằm ở phía Nam Ba Lan, như sau:
"Các cửa ngỏ của giáo xứ Jasna Gora sẽ được
bít kín chống lại các kẻ thù của lòng tin Chúa, bất kể đến việc họ đã đạt đến
cấp bậc lãnh đạo cao ra sao đi chăng nữa."
Các ủng hộ viên của tân Tổng Thống
Kwasniewski đã lên án sự ủng hộ của Giáo Hội đối với ông Lech Waslessa ngay khi
vận động tranh cử, và cảnh cáo tiếp rằng điều này chỉ có hại cho Giáo Hội mà
thôi." ["Giáo Hội Ba lan theo
dõi từng bước sự thắng cử của Tân Tổng Thống cựu Cộng Sản." Người Việt
Tây Bắc số 469, ngày 1/12/1995 ]
Chúng ta thấy rằng lời tuyên bố trên đây của
ông tu sĩ Da-tô Szezpan Kosnik quả thật là xấc xược, ngược ngạo, mất dạy đúng
như truyền thống của đạo "Da-tô". Lời tuyến bố “Các cửa ngỏ của giáo xứ
Jasna Gora sẽ được bít kín chống lại các kẻ thù của lòng tin Chúa, bất kể đến
việc họ đã đạt đến cấp bậc lãnh đạo cao cấp ra sao đi chăng nữa” chứng tỏ
ông tu sĩ (giám-mục hay linh mục) Szezpan Kosnik đã biến giáo xứ Jasna Gora
thành một quốc gia trong quốc gia Ba Lan. Trong bản văn trên đây, chúng ta
thấy tất cả ngôn từ, cung cách hành xử và việc làm của ông tu sĩ Szezpan Kosnik
giống y hệt như bọn lãnh chúa áo đen ở trên toàn cõi Việt Nam từ năm 1858 cho
đến năm 1954, và ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975, giống như thái độ, hành động
và lời lẽ xấc xược, ngược ngạo, vong bản và mất dạy của Ngô Quang Kiệt, Tổng
Giám Mục giáo phận Hà Nội trong thời gian từ ngày 18/12/2007 cho đến ngày
22/9/2008, và giống như những lời lẽ vong bản và ngang ngược (đặt giáo luật
Ki-tô lên trên luật pháp quốc gia) của Giám-mục Nguyễn Văn Nhơn (rằng, sau khi
xem xét, thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược với giáo luật hiện hành)
trong bản văn thư đề ngảy 23/9/2008 trả lời văn thư của ông Nguyễn Thế Thảo (yêu
cầu xử lý nghiêm minh giám mục Ngô Quang Kiệt, linh-mục Vũ Khởi Phụng, các giáo
sỹ Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Ngọc Nam Phong về tội vi phạm luật pháp trong vụ gây
bạo loạn tại 178 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội trong những ngày 15/8 – 219/2008).
Thái độ xấc xược, ngược ngạo và trịch thượng
của ông tu sĩ Da-tô Szezpan Kosnik đã làm cho nhân dân Ba Lan vốn đã ghê tởm
Vatican lại càng trở nên ghê tởm hơn nữa. Vì thế mà trong cuộc bầu cử được tổ
chức vào khi hết nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng Thống Kwasniewski sắp hết hạn, ứng
cử viện cựu đảng viên Cộng Sản này lại một lần nữa đắc cử với đại đa số phiếu
và ứng của viên của phe bảo thủ thân Giáo Hội La Mã lại bị rớt đài một lần nữa.
Sự kiện này được ông Lưu Vũ ghi lại trong www.danchimviet.com Ngày 24/6/2006
với nguyên văn như sau:
“Cái không thích của một cá nhân không thể
chống lại lòng mong muốn của đa số. Giống hệt ở Ba Lan. Hiến pháp Ba Lan cấm chủ
nghĩa cộng sản hoạt động. Những người cựu cộng sản Ba Lan đã khôn ngoan, lột
xác, từ bỏ ý thức hệ cộng sản chuyển sang khuynh hướng dân chủ - xã hội. Đã hai
nhiệm kỳ (8 năm trong 17 năm nay chuyển hoá chế độ) họ giành được đa số phiếu và
nắm quyền lãnh đạo đất nước, trước sự hằn học, tức tối của các đảng cánh hữu
chia rẽ, mất đoàn kết, tranh giành nhau ngôi thứ. Những con chim đầu đàn của
Công Đoàn Đoàn Kết tranh đấu cho Ba Lan dân chủ phải nhịn nhục chào thua, đành
nuốt quả đắng khôi phục lại lực lượng để giành lại lá phiếu trong kỳ bầu cử tiếp
theo. Làm gì hơn? Chả lẽ anh lại gây bạo động chống lại chính cái mục đích mà
anh đã dấn thân: người dân lựa chọn lãnh đạo bằng lá phiếu.” Lưu Vũ. “Cờ
quạt và nỗi bất hạnh của người Việt.” www.danchimviet.com Ngày 24/6/2006.
NÓI CHUNG về mức độ ghê tởm và căm phẫn Giáo
Hội La Mã của nhân dân Âu Châu, học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:
"Tại Âu Châu, tiếp theo thời Phục Hưng -
Tái Sinh - là 300 năm "Thời Hậu Kitô Giáo". Và hôm nay, qua bản dự thảo Hiếp
Pháp Âu Châu, Thiên Chúa Giáo đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ, san bằng phẳng, đi
vào lãng quên trong tâm hồn người dân trên lục địa này. Giáo Hoàng Rôma trong
mấy tuần qua liên tiếp than phiền, tháp chuông trơ trọi im tiếng như cây khô mùa
đông. Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Paris đi vào hoang phế, thời oanh liệt nay
còn đâu? "Nền cũ lâu đài bóng tịch dương". Một tôn giáo một thời ngàn năm hùng
mạnh như Đế Quốc La Mã "Ego sum Papa sum Caesar", nay đã thật sự cáo chung."
Phan Đình Diệm. "Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo" ngày 5 tháng 8 năm 2003.
pddiem@hotmail.com]
KẾT LUẬN: Phần trình bày trong các Chương 15,
16 và 18 trên đây cho chúng ta thấy rõ sự ghê tởm và lòng căm thù của nhân dân
Âu Châu đối với Giáo Hội La Mã lúc nào cũng sôi sục, phừng phừng như muốn bùng
lên thành những cơn bão lửa thiêu rụi cả Tòa Thánh Vatican, cơ quan đầu não của
cái thế lực mà văn hào Voltaire gọi là "cái tôn giáo ác ôn".
Sự kiện nhân dân các quốc gia Anh, Pháp, Ý,
Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan và Tây Ban Nha (và các dân tộc Mỹ Châu La-tinh sẽ được
trình bày trong Chương 19 ở sau) đều là dân Chúa, tín đồ của Nhà Thờ Vatican,
mà lại cương quyết vùng lên làm cách mạng, đạp đổ quyền lực của Giáo Hội La Mã
mà họ gọi là “cái tôn giáo ác ôn” và “cái Giáo Hội Khốn Nạn”,
tịch thu hết tất cả tài sản của Nhà Thờ, tước bỏ hết tất cả quyền lực và quyền
lợi giai cấp tu sĩ áo đen (gọi họ là “lũ quạ đen”), tàn sát họ và
những phần tử ngoan cố làm tay sai của Nhà Thờ, tất cả khiến cho chúng ta phải
suy nghĩ là TẠI SAO họ lại căm thù và ghê tởm Nhà Thờ Vatican và các ông tu
sĩ Da-tô của Giáo Hội La Mã như vậy?
Cũng nên biết, từ thế kỷ 4,
tất cả các dân tộc nằm dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã, trong đó có dân tộc
Ý đều bị cưỡng bách phải theo đạo Ki-tô (đổi thành Cattolica tức Catholic vào
năm 340). Như vậy là, cũng như nhân dân Pháp vào năm 1789, khi Cách Mạng Ý bùng
nổ vào tháng 9 năm 1870, toàn thể nhân dân Ý đều là tín đồ của Giáo Hội La Mã,
tất cả những người tham gia Cách Mạng Ý 1870, từ nhà lãnh đạo Garibaldi
(1807-1882) cho đến tất cả những cán bộ cao cấp, tất cả thành phần trong quân
đội cũng như trong các đoàn thể cách mạng và toàn thể nhân dân Ý nhiệt thành ủng
hộ Cách Mạng để triệt hạ quyền lực của Tòa Thánh Vatican khiến cho Giáo Hoàng
Pius IX (1846-1878) phải đầu hàng vô điều kiện đều là tín đồ Công Giáo cả. Đây
là sự thật lịch sử bất khả phủ bác, và sự thật này không phải chỉ xẩy ra ở Ý mà
là xẩy ra ở tất cả các nước như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hòa lan, Ba Lan,
Tiệp Khắc, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua, v.v…
Vấn đề đặt ra là, VÌ LÝ DO
NÀO mà lại xẩy ra tình trạng gần như toàn thể tín đồ của Nhà Thờ Vatican tại các
quốc gia trên đây nhất tề nổi lên làm cách mạng để phế bỏ tín lý nhảm nhí Ki-tô
và triệt hạ quyền lực của Nhà Thờ Vatican?
Đây là những bài học lịch
sử mà người dân Chúa Việt Nam cần phải học hỏi và suy nghĩ để mau mau thức tỉnh,
thóat ra khỏi cơn mê “mơ về nước Chúa” để trở về với cộng đồng dân tộc và thế
giới văn minh của lòai người.
Sự kiện con số tín đồ Da-tô của Giáo Hội La
Mã tại Tây Âu và Châu Mỹ La Tinh lên gần 99% mà họ lại ghê tởm và căm thù
Giáo Hội La Mã cùng bọn tu sĩ Da-tô như vậy đã khiến cho các bậc thức giả phải
suy nghĩ để tìm ra một giải đáp thích đáng cho về vấn đề này.
CHÚ THÍCH
[i]
Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam
(Los Angeles, CA: Hương Quê, 1988), tr 140.
[ii]
Phan Phát Huồn, Việt Nam
Giáo Sử, Quyển I. (Saigon: Cứu Thế Tùng Thư, 1965), tr 299-300.
[iii]
Phan Phát Huồn, Sđd., tr. 355.
[iv]
Vũ Ngự Chiêu, Sđd., tr. 147.
[v].Charlie
Nguyễn. “Hồ Sơ Tội Ác Của Hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội La Mã Việt Nam
trong Lịch Sử Mất Nước Hồi Thế Kỷ 19.” www.giaodiem.com tháng 9/2003.
[vi]
Cao Huy Thuần, Sđd., tr. 63-64.
[vii]
Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Một Số Vấn Đề Lịch Sử Đạo Thiên Chúa
Trong Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam (Thành Phố Hồ Chí Minh: Ban Tôn Giáo,
1988), tr 179-180.
[viii]Quang
Toàn & Nguyễn Hoài, Sđd., trang 19.
[ix]
Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Sđd., tr. 19.
[x]
Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 – Tập B: 1947- 1954 (Houston,
TX: Văn Hóa, 1997), tr. 265-66.
[xi]
Trần Tam Tỉnh, Sđd., trang 81-83.
[xii]
Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công
Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 159.
[xiii]
Chu Văn Trình, Thái Vân, Trần Quang
Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Lọan Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II
(Dora, FL: Văn Sử Địa, 1994), tr 68.