●   Bản rời    

Đừng Quên Vai Trò của Vatican

Nhân Vụ Đòi Đất của TGM Kiệt,

Đừng Quên Vai Trò của Vatican.

Thiên Lôi

http://sachhiem.net/THLOI/TG/ThienLoi4.php

04 tháng 2, 2008

 

Phòng Constantine ở điện Vatican

 

I) Trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar (Repay to Caesar what belongs to Caesar – Jesus):

Trong vụ đòi đất tòa khâm do TGM Kiệt xúi giục ở Hà nội, ta thường nghe đám giáo gian trong và ngòai nước hay nhắc lại câu “Trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar”. Thói thường thì đám này luôn dùng các câu trong thánh kinh để... nói lạc đề. Ở đây câu này vốn nằm trong sách Matthew 22:15-22, khi hai nhóm dân Do thái ở Jerusalem, một theo La mã như Herodians, một chống như Pharisees đặt câu hỏi với Jesus về việc đóng thuế cho nhà cầm quyền thái thú, cốt gài Jesus vào thế bí (lose-lose situation); và Jesus đã trả lời như trên khi nhìn thấy hình Caesar bên trên đồng tiền.

Thôi thì ở đây ta cũng tạm dùng câu này khi nói đến chuyện chính danh vậy. Từ trước đến nay do sự áp đặt của tập đòan Vatican và thực dân tây phương (VTC-TDTP), cùng với đám giáo gian sau này thống trị miền nam cho đến 1975, danh từ Công giáo (Catholic) đã được áp dụng có hệ thống nhồi sọ. Sự thực thì ở nước ta nó nào phải là ‘công giáo’ như ở tây phương, mà chỉ là đạo của một thiểu số người mà thôi; vì thế người dân phi Ca tô tuyệt đối nên tránh dùng; mà nên gọi đúng theo âm Ca tô được du nhập. Còn Ki tô vốn xuất xứ từ danh từ Hy lạp Khristos lại được gọi là Thiên Chúa; ta cũng nên trả lại âm gốc là Ki tô vậy; bởi đại đa số dân ta không tin có thiên chúa.

Về những vai trò chức sắc ta nên gọi một cách khách quan là Giáo Hòang, Hồng Y, Giám Mục vv..., chớ chẳng nên thêm chữ Đức, ở phía trước hay thánh cha, bởi đám người này chẳng có đạo đức gì để đáng được xưng tụng. Cũng thế, nơi ngụ của Giáo hòang thì nên gọi đúng tên là Vatican chứ không nên gọi Tòa thánh; cuốn sách thường được gọi là Kinh thánh, nên gọi là Kinh Ki tô, chứ chẳng có gì ‘thánh’ trong ấy cả.

Đó mới đúng là “Trả lại cho Caesar những gì thuộc về Caesar”. Nếu ta vẫn tiếp tục dùng các từ ngữ một cách bừa bải, chứng tõ rằng ta chưa gột bỏ được tâm cảnh bị đô hộ như cha ông ta.

 

II) Vai trò gian trá của Vatican:

Dân Việt và ngay cả thế giới thường bị lạc dẫn về vai trò ma đầu của Vatican trong lịch sử cận đại của Việt Nam vì khi bàn đến cái đạo mà nó cưỡng bức áp đặt lên dân ta từ thế kỷ 16 do bọn thừa sai và thực dân mang đến, thì ai cũng bị mơ hồ như kẻ đi trong sương mù bởi không biết đâu là bộ mặt thật của nó vì nó luôn có hai cái mặt nạ để tráo đổi tùy cơ ứng biến, như nền thần học của nó là ‘Thiên chúa và Satan’, mà Thiên chúa cũng chính là Satan; ‘thiên thần và ác quỉ’ mà thiên thần cũng chính là ác quỉ theo cuốn kinh Ki tô của nó.

Khi dụ dỗ lương dân khờ khạo thì nó biểu hiện như một tôn giáo nhân từ, rao giảng công bằng bác ái, miệng thì lúc nào cũng nhân danh Chúa thương yêu cao cả, nhưng Chúa là ai và ở đâu, chỉ là cái bánh vẽ; cùng lúc lại đem của cải danh lợi cướp được ra chiêu dụ kẻ cùng đinh; nhưng khi nắm được quyền lực qua sự cấu kết với thực dân thì nó hiện ra bộ mặt quỉ sứ, tàn ác, tham lam tột độ, không nhân nhượng bao dung với ai, bắt kẻ khác phải ‘cãi đạo hay chết’ để biến họ thành một lũ nô lệ cho bọn giáo sĩ và kẻ xâm lăng, và vơ vét tài sản đất đai không bao giờ thỏa lòng dục vọng. Chính vì có hai mặt tráo trở như thế, tựa như rắn hai đầu, lại kết hợp với thực dân tây phương, nên Vatican trở thành một siêu tổ chức khuynh đảo tối nguy hiễm cho bất cứ một dân tộc chân chất hiền lành nào.

Một cái đạo đã phát sinh từ cuồng vọng đế quốc do La mã dựng lên vào thế kỷ thứ 4, nghĩa là hơn 300 năm sau khi Jesus, kẻ được xem là giáo chủ và bị chính người La mã xử chết trên thập giá do tội phản lọan, giáo thuyết của ông ta được tái chế biến cộng với các cổ thư Do thái thành một công cụ cực kỳ lợi hại dùng để xâm lược các nước khác dễ thành công mà it tốn kém xương máu. Bọn thiết kế ở Rome thời bấy giờ đã tinh ma pha trộn sự mê tín vào sách lược bành trướng quyền lực thế tục; mà giá trị ứng dụng vẫn còn hiệu quả cho đến ngày nay sau gần hai mươi thế kỷ. Rome đã phá bỏ truyền thống đa thần bao dung để đưa Ca tô thành độc thần, độc tôn chỉ vì sau khi Constantine I từ Byzantium (Istanbul ngày nay) đã tiêu diệt được Maxentius ở Rome, không chấp nhận một hòang đế nào khác đồng trị.

Từ đó ‘mở mang nước chúa’ có nghĩa là nới rộng lãnh thổ cho đế quốc, hết La mã thì nay là các thế lực tây phương. Con chiên của các nước nhược tiểu được nhồi sọ rằng chết cho Chúa (tức là hình nộm của Vatican) là ‘thánh tử đạo’ để được lên thiên đàng … mù, hơn là chết cho vua chúa trong việc bảo vệ tổ quốc mà chỉ được ra nghĩa địa. Chuyện có vẻ tầm thường này lại cám dỗ được đám cùng đinh hơn là triết thuyết xa vời.

Nói đến ‘thực dân tây phương’ là vì như ta đã thấy qua suốt lịch sử thành hình, đám cầm đầu Vatican vẫn là người do bọn da trắng đặt để vào ngôi vị để luôn thiết kế những chính sách xâm lăng và bảo vệ quyền lợi cho bọn tây phương và đổi lại họ được bao che an tòan giữa lục địa châu Âu. Ta cứ nhìn thấy những quốc gia nhược tiểu bị Ca tô hóa đã trở thành những con bò sữa bị vắt đến kịệt sức như vùng trung, nam Mỹ, Phi châu, Jamaica, Haiti, Phi luật tân vv …, thì thấy một khi đã được ân sủng của Chúa Vatican thì dân chúng luôn sống trong cảnh nghèo đói, ngu dốt như thế nào …

Không một tôn giáo nào trên thế giới vừa muốn có vị trí như một giáo hội lại thêm vị trí của một quốc gia. Chẳng qua vì Vatican đã cấu kết với bọn thực dân tây phương trong một lịch sử lâu dài nên giữa họ đã có những qui ước với nhau, nay chúng bắt các nước khác cũng phải làm theo như thế.

Vatican dùng mặt tôn giáo để gây dựng cơ sở, và mặt chính trị để khống chế đối phương. Vì thế trong chính trường thống trị thế giới, mặt nào nó cũng ở thế thượng phong làm các đối lực luôn bị đặt vào thế lúng túng khi phải giải quyết tranh chấp. Nếu thắng được Vatican thì liền bị bọn tây phương kết án ‘đàn áp tôn giáo’; nếu thua thì liền bị tiêu diệt không nương tay, đình chùa miếu mạo, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống sẽ bị xóa sạch để chỉ còn ‘văn minh Ki tô’.

Với những kinh nghiệm xây dựng trên máu và nước mắt của bao nạn nhân uổng tử qua lịch sử truyền giáo dã man ấy; với nhiều mánh khóe nham hiểm, với tài lực vật lực dồi dào, Ca-tô La-mã với tập đòan giáo sĩ đầy mưu ma chước quỉ, đã lột xác thành một đại tổ hợp ‘xã hội đen’ khét tiếng, cấu kết kinh tài và chia chác với các thế lực tây phương trong việc khống chế thế giới. Ngay cả Giáo Hội Ki tô Chính thống hay Tin Lành thờ cùng một Chúa còn phải ‘bỏ của chạy lấy người’ khi phải đối đầu với nó nữa kia là ai khác.

Nền thần học của Ca tô La mã vốn là một giáo thuyết đầy mê tín huyền hoặc, hòan tòan vô nghĩa và chẳng có giá trị gì với nền khoa học ngày nay, mà Vatican bắt con chiên chỉ nhắm mắt tin mà không được thắc mắc như câu ‘phúc cho những ai không thấy mà tin’ thường được giới chăn chiên rao giảng. Nhưng nó vẫn còn cần thiết để ru ngủ đa số dân chúng với dân trí còn thấp kém. Vì thế trọng điểm khi bàn về Ca tô La mã giáo không phải ở nền thần học, mà nên nhắm vào cái tổ chức chính trị thế tục của Vatican và cái Giáo Hội tòan cầu cùng với lịch sử xâm lược đẩm máu của nó.

Càng tìm hiểu và biết rõ được vai trò của tổ chức đầy tội ác Vatican này đối với dân tộc Việt Nam, không người yêu nước nào, trừ bọn con chiên đã bán linh hồn cho quỉ, mà lại không sôi máu muốn vạch trần.

 

III. Giáo gian Việt theo Ca tô có lợi gì?

Có nhiều trí thức phi Ca tô thường thắc mắc chỗ này, bởi vì họ quá đặt nặng việc nghiên cứu vào nền thần học đầy mê tín của Ki tô mà bỏ qua khía cạnh thực dụng quyến rũ trong đời sống vật chất. Tóm gọn lại, những hứa hẹn của Ca tô là sẽ mang lại vinh hoa phú quí cho đám con chiên trong xứ sở mà nó muốn xâm chiếm, nếu biết vâng lời đám thừa sai và thực dân giúp chúng đô hộ được đất nước. Sách lược “đạo lẫn đời” này thực quá nham hiễm. Khi bọn thừa sai đến chuẩn bị xâm lược một xứ lạ, chúng chỉ có hai bàn tay và cuốn kinh; khi chiếm được đất nước người với sự phản bội của đám tân tòng thì chúng lại đem của cải, đất đai, địa vị cướp bóc được chia lại cho lũ tay sai.

Qua lịch sử, ta đều thấy cái đạo này ban đầu luôn nhắm đến giới cùng đinh thất học ở xứ ta; rồi dần lật đổ giới cầm quyền cũ khó sai bảo bằng đám con chiên mới được đổi đời. Một khi đã đạt được điều mong muốn thì hẳn nhiên con chiên phải trung thành với Vatican đến cùng dù phải tử đạo. Ngay cả bọn được mang danh “trí thức công giáo”, thụ đắc được một nền học vấn văn minh, vẫn luôn có ‘điểm mù tôn giáo’. Chẳng phải họ cuồng tín hay ngu đần không thấy những điều phi lý lừa mị trong nền thần học Ki tô, nhưng họ vốn là bọn hèn nhát sợ đánh mất những đặc ân đặc lợi, những quyền cao chức lớn trong đời thường do Vatican ban cho, và cảm thấy an tòan trong các ‘xóm đạo’ do bọn chủ chăn khéo tổ chức.  

Thử hỏi có mấy con chiên hay chủ chăn nghiên cứu tường tận cuốn kinh Ki tô; hay họ chỉ cần thuộc lòng dăm ba bài kinh cầu và vài bài giảng đã được nhồi sọ đủ để kiếm cơm?

Còn đối với dân phi Ca tô trong miền nam (củ) và hải ngọai; trong thời kỳ bọn Ca tô tòan trị miền nam thì người dân sống trong vòng kiểm sóat nên bắt buộc phải sống theo guồng máy, làm tròn nghĩa vụ công dân để tiến thân, dù thích hay không thích chế độ. Dần dần rồi dính líu it nhiều vào chế độ trở thành quân cán chính; nếu muốn được thăng quan tiến chức nhanh thì cãi đạo thành tân tòng; nên quyền lợi cũng phải gắn bó theo. Khi thất trận thì ở thời đại nào cũng thế, thân phận dĩ nhiên phải bị phe thắng trận đối xử tệ bạc; vì thế mà khi có cơ hội cùng chạy theo bọn cầm đầu Ca tô ra hải ngọai mang theo mối thù hận cá nhân. Thực ra đa số người dân ra đi vào thập niên sau 1975 chỉ vì gặp phải cơ hội hiếm có ngàn năm một thuở; các xứ tây phương vì muốn bù đắp mặc cảm tội lỗi đã mở rộng cửa đón nhận dân tị nạn; nên họ kéo nhau tìm một đời sống tốt đẹp hơn cho con cái ở các xứ tây phương chứ chẳng vì lý do chính chị chính em gì ráo. Ngày nay dân các nước đang phát triển vẫn còn tiếp tục muốn di dân đến các giàu và ổn định tây phương để có đời sống khả quan hơn. Đó là luật nhân duyên sinh tồn tương tác.

Khi đã thành lập các cộng đồng di dân Việt ở hải ngọai thì bọn Ca tô trong tập đòan cai trị cũ nhờ có bàn tay nối dài của Vatican nên dần dần nắm các vai chủ động trong các sinh họat cộng đồng thu nhỏ. Vì thế mọi ý kiến lập trường chính trị đều phải rập khuôn với đường lối ‘chống cộng điên cuồng’ do Vatican điều khiển; nhiều đòan thể khác thiếu tổ chức muốn sống được yên thân đều phải theo tâm lý bầy đòan trong bức xúc. Theo đó thì các dịch vụ kinh tế, báo chí truyền thông vv... đều đồng ca theo một bài nếu muốn yên thân, không bị quấy nhiễu. Do đó đã xuất hiện nhiều tên phi Ca tô họat đầu ăn theo biến chiêu bài chống cộng thành cần câu cơm an nhàn trong các cộng đồng nhỏ bé ở xứ người; có những kẻ chỉ biết sống nhờ vào việc làm báo chợ chuyên cắt dán, ngậm miệng ăn tiền quảng cáo qua ngày tiếp tay đến nỗi lương tri đã bị thui chột tự bao giờ, dù ngay cả niềm tin tôn giáo của mình bị xúc phạm. Quyền lợi vật chất đã làm mờ mắt và lấn át cả tâm linh là chuyện thường tình.

Cũng vậy, thành phần lãnh đạo của GHPGVNTN-HN từ bao lâu nay cũng bị bọn hoạt đầu chính trị ăn ‘phân’ của VTC-TDTP dẫn dắt vào mê lộ ‘chống cộng’; làm cho bao ý nghĩa, bao hy sinh của Phật giáo đồ trong công cuộc đấu tranh dẫn đến việc lật đổ chế độ Ca tô độc tài Ngô Đình Diệm bỗng thành vô nghĩa. Không rõ các cao tăng trong GHPGVNTN-HN đành lòng sống nhục nhã tuân phục sự chỉ đạo của bọn Ca tô vì sự an tòan của mình trong các cộng đồng hải ngọai hay noi gương Bồ tát Địa Tạng Vương tìm vào những địa ngục trần gian mà hóa độ chúng sinh? Cho dù là do duyên cớ gì cũng đã gián tiếp thú nhận việc đấu tranh đòi tự do tôn giáo trong các năm 1960s là một sai lầm? Chính các ngài đã đânh mất hào quang của mình.

Các ngài dẫn dắt Phật tử hải ngọai chạy theo bọn thiểu số Ca tô vong bản để chống cộng và chống luôn quyền lợi của đại đa số đồng bào, 85 triệu người, cho đến ngày nào mới thôi? Đã hơn 32 năm rồi, chỉ tòan là ‘chống bằng mồm’, mà chế độ và đất nước càng ngày càng vững mạnh; đó nào phải là ước nguyện của Phật giáo đồ? Đức Phật khi còn tại thế đã gặp bao chướng duyên mà Ngài vẫn hóa độ không hề phân biệt cho kẻ ác, làm rạng rỡ giáo pháp từ bi, giải thóat. Ai được lợi trong trò chơi ‘chống cộng kéo dài’ liên tục đi từ thất bại này đến thất bại khác, và đi vào ngỏ cụt?

Cũng vì những sách lược chống cộng ngông cuồng và càng ngày càng tráo trở thô bĩ của bọn giáo gian Ca tô, lộ rõ sự chỉ đạo từ xa nhằm củng cố quyền lợi của VTC-TDTP mà hy sinh sự phú cường của dân tộc nên đã làm cho đại đa số dân Việt di tản sáng mắt dần lánh xa.

Gần đây khi một bộ phận của hàng giáo phẩm của GHPGVNTN-HN thức tỉnh, bọn giáo gian thấy không còn khống chế được tổ chức này nữa, liền phát động một phong trào bôi nhọ các cao tăng ly khai với lời lẽ vô giáo dục, vốn là bản chất đã được Vatican dạy bấy lâu. Đó vẫn là nghiệp chướng nhân quả các ngài phải gánh chịu.

Đồng bào phi Ca tô phải nhận biết rằng, dù chính quyền hiện tại trong nước có mắc phải những sai lầm trong các chính sách trước đây, nó vẫn mười lần tốt đẹp hơn các chế độ Ca tô tay sai ngọai bang. Ta phải biết quý trọng nền độc lập thực sự do chính nhân dân ta đổ máu hy sinh lâu dài mới có được, trong đó đa số là Phật giáo đồ. Người Việt cai trị người Việt là điều mơ ước chân chính của nhân dân, bởi các sai lầm còn có thể sữa đổi được. Mất nước vào tay ngọai bang là mất tất cả, ngay cả phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống mà mình muốn lưu truyền. Tập đòan VTC-TDTP luôn mong muốn Việt Nam trở thành một Phi Luật Tân thứ hai, nhờ vậy mở được bàn đạp vào đất Trung Hoa với gần 2 tỷ dân. Hãy giác ngộ, bừng tỉnh dạy, đừng còn mơ ngủ nữa.

 

IV) Ôn lại nguyên nhân đất nước bị thực dân Pháp đô hộ:

Năm 1858, cố đạo Pellerin xúi giục đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm Đà Nẵng, bảo đã có sẳn hơn 40 vạn giáo gian chờ chực nổi dậy yểm trợ. Nhưng đánh mãi không thắng nên năm 1859 quân Pháp chuyển vào nam đánh chếm thành Gia Định, với sự trợ giúp của cố đạo Lefèbvre và bọn giáo gian trong giáo phận nam kỳ.  

Sau khi lính thực dân Pháp do Francis Garnier cầm đầu đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất năm 1873, và tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuẩn tiết; chúng từng bước đã ép triều đình Vua Tự Đức ký hòa ước Giáp tuất (1874) nhục nhã nhường nốt ba tỉnh còn lại là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên của Lục Tỉnh cho Pháp mà trước đó qua ‘hòa ước’ 1862, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường đã lọt vào tay chúng rồi.

Năm 1881, lính Pháp do Henri Rivière điều khiển đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, và tổng đốc Hòang Diệu hy sinh; dẫn đến hòa ước Fournier 1884, chúng hòan tòan cai trị bắc bộ. Một điều trùng hợp kỳ lạ là hai tên sĩ quan Francis Garnier và Henri Rivière không lâu sau khi chiến thắng đều bị quân ta phục kích giết chết tại Cầu Giấy.

Thừa cơ, tên cố đạo Gauthier (có tên Việt là Ngô Gia Hậu) và giáo gian Nguyễn Trường Tộ liền xúi giục các đội thân binh xóm đạo võ trang với vũ khí của Pháp tiếp viện, đánh phá và tàn sát các làng lương ở Nghệ an và Hà tỉnh; đưa đến các phong trào Văn thân nổi lên đề kháng trả thù.

Sau khi vua Tự Đức băng hà vào năm 1883, Việt Nam hoàn toàn mất chủ quyền. Năm 1884 với hòa ước Patenôtre, Pháp đặt nền bảo hộ. Đến thời vua Hàm Nghi, chúng đưa ra những đòi hỏi xấc xược và triều đình ta phải phản ứng nhưng bất thành nên dẫn tới ngày ‘Kinh đô thất thủ’ vào đêm 4 rạng 5 tháng 7 năm 1885 (tức đêm 22 rạng 23 tháng 5, năm Ất Dậu).

Khi vua Hàm Nghi lánh ra ở Quảng Bình làm hịch cần vương truyền đi các nơi kêu gọi đồng bào khởi nghĩa chống Pháp đã dẫn đến Phong trào Cần Vương. Nhưng đáng tiếc là trước những vũ khí tân kỳ của quân cướp nước cộng với những âm mưu khuynh đảo của đám cố đạo và sự tiếp tay của bọn giáo gian, phong trào bị dẹp tan vào năm 1893 cùng với cái chết của nhà chí sĩ Phan Đình Phùng và biết bao đồng bào sĩ phu yêu nước khác.

Trong giai đọan này lich sử cũng đã ghi lại những tội ác dã man của bọn tân tòng giáo gian: tên tay sai Hoàng Cao Khải đã ra lệnh khai quật mồ mả tổ tiên của cụ Phan Đình Phùng khi không thuyết phục được cụ ra hàng Tây. Khi căn cứ Vụ Quang, Hà Tĩnh của nghĩa quân bị hạ thì chính Nguyễn Thân và bộ hạ là Ngô Đình Khả cho đào mồ của cụ Phùng, lấy xác đem đốt lấy tro trộn với thuốc súng mà bắn xuống sông Lam Giang.

Tiếp theo đã có biết bao bậc tiền bối quyết tìm đường cứu nước, từng bôn ba ra hải ngọai cầu cứu ngọai nhân như Quốc dân đảng của Tàu đến Đông du ở Nhật vv... Tất cả đều thất bại. Ví sao? Vì gặp phải tòan bọn yêu ma giả nhân giả nghĩa, mà nằm đằng sau vẫn có bóng ma Vatican cản trở, nên vì quyền lợi của nước mình mà cấu kết với thực dân bán đứng các nhà ái quốc. Duy chỉ đến khi có đảng Cộng sản lãnh đạo và được sự trợ giúp của khối Cộng sản quốc tế thì cơ hội giải phóng đất nước mới lớn mạnh được. Đấy mới là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” ngàn năm một thuở.

Vậy chúng ta có bổn phận phải thường xuyên ghi nhớ và nhắc nhở cho con cháu biết rõ mấy điểm chính trong Việt Nam vong quốc sử để không bao giờ quên tội ác của bọn Vatican và giáo gian tay sai đã làm dân tộc ta chịu bao đau khổ nhục nhã dưới chế độ thực dân và nô lệ giáo phiệt Ca tô trong 100 năm. Nền độc lập quí giá hiện nay của Việt nam không thể đảo ngược được.

Khi nói đến quân Pháp khiêu khích đánh phá Đà Nẵng, phải nhớ tên cố đạo Pellerin và tên giáo gian tay sai Tạ Văn Phụng; nói đến Phong trào Văn Thân (1874-1884) thì nhớ đến cố đạo Gauthier và tên giáo gian Nguyễn Trường Tộ; nói đến Phong trào Cần Vương (1885-1893) thì nghĩ đến cố đạo Puginier và hai tên giáo gian Nguyễn Thân và Trần Lục; nói đến mất thành Gia Đinh thì nhớ đến cố đạo Lefèbvre và bọn giáo gian trong giáo xứ nam kỳ vv... Mọi điều khốn nạn đã xảy ra cho tổ quốc Việt Nam đều có bàn tay nhuộm máu của bọn cố đạo Vatican và bè lũ giáo gian tay sai. Nay chúng vẫn chưa chịu để cho đất nước ta yên hưởng thái bình.

Mãi đến năm 1975 đất nước ta mới được hòan tòan giải phóng ra khỏi vòng đô hộ của bọn VTC-TDTP. Bọn giáo gian đau khổ giùm cho quan thầy nên gọi ngày 30 tháng 4 là ‘ngày mất nước’.

 

V) Sự ra đời đúng lúc của Chủ nghĩa Cộng sản:

Sau đệ nhị thế chiến, sự lớn mạnh của Liên Xô – một trong những nước ‘đồng minh’ với tây phương chiến thắng được quân Đức Quốc Xã – đã đưa chủ nghĩa Cộng sản lên cao trên vũ đài chính trị thế giới. Nó nhanh chóng trở thành một lực lượng có khả năng đối kháng được những ưu thế của thực dân tây phương thời bấy giờ và đe dọa quyền lợi của chúng và nền văn hóa và tôn giáo do chúng áp đặt, đó là Ca tô La mã qua sự cấu kết của Vatican. Trước đó Vatican đã liên kết chặt chẻ với chính quyền của Hitler vì Đức quá hùng mạnh, và quay mặt làm ngơ, gián tiếp đồng lỏa với chính sách ‘thanh tẩy sắc tộc’ với những lò thiêu người Do thái. Xưa nay đường lối của Vatican đối với các cường quốc châu Âu vẫn là ‘phù thịnh’; ai mạnh thì theo để bảo tòan quyền lợi thế gian.

Những nhà ái quốc ở các nước từng bị thực dân tây phương đô hộ ở Á, Phi và châu Mỹ La tinh, trong đó có Việt Nam bị bọn thực dân Pháp bóc lột tàn bạo; nhận ra sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng sãn như một cứu tinh hằng trông đợi, nên đã ngã theo và vận dụng thành công để đánh đuổi được bọn ngọai xâm, cố đạo và bè lũ tay sai ra khỏi đất nước.

Chủ nghĩa Marx – Engel – Lenin này vốn là do chính dân Ki tô phản tỉnh đã nhìn thấy mặt trái độc ác nham hiễm của Vatican và đạo Ca tô La mã trong việc cấu kết với giới tư bản thực dân tây phương bành trướng thuộc địa, nên dựng lên một chủ nghĩa đối kháng; đồng thời giúp các nước nhỏ giải phóng khỏi ách nô lệ. Do đó mà ta không lạ gì khi tập đòan VTC-TDTP kinh hòang vội vả thiết lập một chính sách “chống cộng điên cuồng” sau khi thấy liên quân Trung cộng và bắc Hàn tràn xuống vĩ tuyến 38 ở Triều tiên, và trận chiến thắng Điện Biên Phủ vang rền thế giới, dẫn đến chiến tranh lạnh trên tòan thế giới. Từ đó mới có việc sắp xếp cho gần một triệu dân Ca tô tay sai thực dân ngòai bắc di cư vào nam sau hiệp ước Genève chia đôi Việt Nam vào năm 1954 và sự thành hình các chế độ giáo phiệt Ca tô trong nam với áp lực của Vatican trên chính trường của Mỹ dưới thời của Pius XII, một Giáo hòang chống cộng cuồng điên, và vì thế trao truyền lại cho đám con chiên Việt cùng tâm cảnh hận thù chống cộng. Mỹ nhảy vào Đông Dương thay thế Pháp đã mất uy thế trên trường quốc tế.

Rồi với bộ máy tuyên truyền nhồi sọ đồ sộ của VTC-TDTP, qua bao thập niên đã tiêm nhiễm vào đầu óc của đám con chiên rồi dân miền nam ngây thơ hình ảnh kinh sợ độc ác của con người và chủ nghĩa Cộng Sản được thêu dệt phóng đại, để dễ lèo lái con đường thống trị của mình.

Cũng nhờ sự đương đầu không nhân nhượng của hai khối tư bản và cộng sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà Đảng Công sản Việt Nam mới khôn khéo vận dụng mọi chính nghĩa về cho mình và được tòan dân, dĩ nhiên đại đa số là phi Ca tô, ủng hộ và hy sinh trong công cuộc giải phóng tổ quốc vào tháng 4 năm 1975. Nếu đất nước vẫn còn dính líu một chút gì với Vatican thì đừng hòng ta có đựợc một nền độc lập trọn vẹn.

Có kẻ trước đây bảo các nước bị thực dân đô hộ khác trong vùng đâu cần phải hy sinh xương máu cũng được thực dân trao trả độc lập cả. Quả là một lối ngụy biện Ca tô mới nghe có vẻ hợp lý; nhưng xét kỷ thì mới thấy nền độc lập được bọn thực dân tây phương trao lại ấy luôn có điều kiện của bọn chủ nhân ông tài phiệt và giáo phiệt đi kèm mà quyền lợi của chúng phải là tiên quyết; nào có phải một nền độc lập thực sự đâu? Tây đã có câu ‘không đổ máu làm sao có vinh quang’.

  Nhưng đáng tiếc là Đảng Cộng Sản và Chính phủ Việt Nam, có lẽ do những áp lực ngầm từ các nước anh em hay bạn bè, đã không đưa cuộc cách mạng đến chỗ tòan thắng triệt để, tựa như chính sách dứt khóat của Trung quốc, để yên hưởng thái bình thực sự, trong vấn đề giải quyết ‘một lần cho xong’ những di lụy của cái giáo hội Ca tô bản xứ và Vatican, nguồn gốc thật sự của sự mất nước vốn đưa đến việc dân ta bị bọn thực dân và cố đạo đô hộ suốt gần 100 năm. Có lẽ chỉ vì chính sách ‘đòan kết tôn giáo’ và muốn lôi kéo thành phần giáo gian Ca tô về phía mình phòng khi hữu sự, nên Đảng CS và Chính phủ Việt Nam tránh né tối đa việc liên hệ bọn họ là kẻ thù của Cách Mạng, và của dân tộc nữa. Bọn này đã thề không đội trời chung với Cộng sản khi Vatican chưa cho phép, dù kẻ thù cũ là Hoa Kỳ đã bình thường hóa ngọai giao. Tại sao Nhà Nước không tuyệt giao hẳn với Vatican và khuyến cáo họ từ nay không được xen vào việc nội trị của Việt Nam.

Cách Mạng là gì? là sự thắng thế của một tập thể mới, đánh đổ và tiêu diệt được tập thể cầm quyền thối nát bốc lột cũ; nhờ đó phá bỏ được những chính sách luật lệ hà khắc bất công mà thiết lập một xã hội mới công bằng và đẹp đẻ hơn. Cách mạng giải phóng đất nước lại còn có tầm mức to lớn hơn gấp bội, cần phải triệt để hơn trong việc triệt tiêu những quyền lực phản động và trừng phạt hay cãi tạo các thành phần đã cấu kết làm tay sai cho ngọai nhân nô lệ hóa nhân dân dù là dưới hình thức tôn giáo.

Vì hậu quả của cuộc cách mạng “dang dở” đó mà ngày nay Việt Nam còn phải đối phó với sự nổi dậy quấy phá của những thành phần Ca tô trong nước khi chúng được ngọai bang, Vatican và bọn Ca tô lưu vong móc nối.

 

VI) Các họat động liên tục chống phá Việt Nam của bọn Ca tô đầy thù hận:

Nhiều người cho sự xuẩn động là từ TGM Ngô Quang Kiệt khởi phát qua lời kêu gọi xúi giục vào mùa giáng sinh năm 2007. Nhưng nếu ai để ý đến những diễn tiến các cuộc khuấy động bất an trong nước kể từ ngày Việt Nam được thống nhất từ 1975 thì thấy ngay nó vẫn là một móc xích trong tòan bộ sách lược từng bước do Vatican chỉ đạo và bọn giáo gian hải ngọai và trong nước thi hành.

Ngay khi di dân Việt vừa đặt chân đến Mỹ là Vatican đã liên tục phát động những tổ chức chính trị bạo động do bọn giáo gian Ca tô cầm đàu, một mặt âm mưu tuyển mộ từ các trại tị nạn và gởi người về phá họai sự ổn định của Việt Nam để ‘phục quốc’ hay ‘giải phóng Việt nam’, mặt khác khống chế đời sống của các cộng động người Việt định cư ở nước ngòai.

Các họat động này đều bị bẽ gẩy bởi các bộ phận tình báo và an ninh trong nước; rồi thời gian hơn 3 thập kỷ đã làm thui chột mọi mưu toan hùng hổ ban đầu. Nào là các nổ lực ngăn cản người Việt gởi tiền về nước giúp đở thân nhân, tẩy chay mọi dịch vụ làm ăn, buôn bán, thăm viếng Việt Nam, chống việc Mỹ bình thường hóa với Việt Nam, chống Việt Nam vào WTO, vào APEC, vào đại hội dồng LHQ vv... luôn viện cớ Việt Nam không có tự do tôn giáo có nghĩa là không trả lại các đất đai cơ ngơi ăn cướp được cho Ca tô, và không chịu quan hệ ngọai giao với Vatican.

Bọn này vốn luôn sống trong ảo tưởng vì bao quanh bởi những giọng điệu tuyên truyền quen thuộc của các bộ phận truyền thông do mình nắm giữ, mà không thấy những thất bại ê chề. Càng chống Việt Nam bao nhiêu thì kiều bào lại làm ngược lại bấy nhiêu. Việt kiều vẫn tiếp tục về quê ào ạt; Việt kiều đóng góp cho đất nước những khỏang tiền lớn, đơn cử năm 2007 thống kê cho thấy họ đã gởi gần 10 tỷ Mỹ kim về nước; Việt Nam càng ngày càng lớn mạnh, kịp thời sữa đổi những chính sách sai lầm trước đây nên uy tín càng được nâng cao trong vùng và trên thế giới; đời sống kinh tế của dân chúng càng thêm phát triển; các nước ngòai luôn đầu tư vào thị trường béo bở của Việt Nam càng ngày càng nhiều...

Thấy rằng các thủ đọan ‘đao to búa lớn’ không thuyết phục được ai nên chúng quay ra màn ‘nhỏ nhẹ’ đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền... thứ mà bọn tây phương thường mĩm chi cười ruồi, càng xúi giục bọn ... da vàng ngu xuẩn. Bài báo mới nhất trên Guardian Unlimited ngày 31 tháng 1, 2008 với tiêu đề ‘Human rights group condemns western hypocrisy’ (Nhóm nhân quyền lên án sự đạo đức giả của tây phương) do Peter Walker viết. Nội dung đại khái là tổ chức Human Rights Watch lên án Mỹ và đồng minh chỉ kết tội vi phạm nhân quyền đối với các nước không thân thiện với mình và làm ngơ những vi phạm trắng trợn của phe ta. Nói cho ra vẻ vô tư chứ HRW cũng chỉ là một cơ quan ngọai vi của các chính phủ tây phương mà thôi. Dĩ nhiên những bản tin như thế này bọn chúng không bao giờ đọc.

Chúng tìm cách móc nối những kẻ bất mãn và háo danh trong nước để làm dê tế thần như ‘kẻ phản khàng chế độ’, ‘người tù lương tâm’, ‘nhà đấu tranh dân chủ’ một thời như Dương Thu Hương, Hà Sĩ Phu, Mai Thế Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Thanh Giang vv..., được nhóm Thông Luận của Nguyễn Gia Kiểng và Trần Thanh Hiệp móc nối, nhưng dần bị bại lộ nên đám này nay trùm chăn... run.

Nên nhớ anh của Nguyễn Gia Kiểng là Nguyễn Gia Hiến, chủ tịch của Lực Lượng Đại Đòan Kết từng xách động giáo gian Hố Nai, Gia Kiệm…..mang gậy gộc, dao búa cùng đám chăn chiên Hòang Quỳnh và từ các xứ đạo nầy nỗi lọan tại Sàigon thập niên 60, với khẩu hiệu thời danh “ Thà mất nước chứ không thà mất Chúa “ và nhất là quyết đòi ghi ba chữ “Đấng Tối Cao” vào dự thảo Hiến Pháp của chế độ Ca tô Nguyễn văn Thiệu.  

Theo thời cuộc, khi Việt Nam vào WTO thì cánh cửa đất nước được mở toang và dĩ nhiên bọn Ca tô lại ồ ạt tràn vào tiếp tay móc nối với bọn nằm vùng để âm mưu những trò nội công ngọai kích. Như ta đã biết liền xảy ra những màn Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài vv... cùng với xách động dân oan khiếu kiện khắp nơi trong những tháng gần đây.

Theo những tin tức trong nước thì trong vòng tháng 11, 2007, lực lượng công an Việt Nam đã bắt giữ 6 người là thành viên tổ chức Việt Tân (mà cốt lỏi đều do nhóm Ca tô cầm đầu) gồm: Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Leon có tên khác là Trương Văn Sỹ, và Lương Ngọc Bang có tên khác là Khunmi Mr Somsak. Ba người này đã bị trục xuất hồi tháng 12. Một nhân vật chủ chốt tên là "ủy viên trung ương" Nguyễn Quốc Quân hiện còn đang bị giử để khai thác. Hai người ở trong nước là: Nguyễn Thế Vũ và Nguyễn Việt Trung tại Phan Thiết.

Cũng theo những bản tin này thì ngày nay vì lực lượng an ninh đã nắm vững tình hình trị an nên lai lịch của tổ chức Việt Tân không còn là điều bí mật nữa. Mọi chi tiết đều đã được đăng tãi công khai. Nguyễn Quốc Quân ngụ tại Elk Grove, California, năm 2005 được bầu làm "ủy viên trung ương Việt Tân", trưởng ban phát triển quốc nội. Quân cũng đảm nhiệm vai trò tổng thư ký "Hội chuyên gia Việt Nam" (tổ chức ngoại vi của Việt Tân). Khi nhập cảnh bất hợp pháp vào Việt Nam, Quân mang giấy thông hành giả với tên Ly Seng.

Tại cơ quan an ninh, Nguyễn Quốc Quân đã khai xâm nhập Việt Nam với nhiệm vụ khảo sát nhằm thiết lập đường dây xâm nhập bất hợp pháp với ý đồ đưa người về nước hoạt động để thực hiện kế hoạch "Đông tiến 07" và cùng đồng bọn tiến hành phát tán truyền đơn có nội dung kêu gọi lật đổ Nhà nước Việt Nam, và các âm mưu khủng bố khác.

Những tiết lộ này chứng tõ nhà cầm quyền Việt Nam biết rất rõ mọi họat động của các nhóm phản động trong và ngòai nước, nên không cần phải giấu nhẹm đi.

VII) Những thất bại của việc giáo dân bị TGM Kiệt xúi giục ‘cầu nguyện đòi lại đất tòa khâm’:

Như đã nói ở trên, bọn giáo gian dưới sự chỉ đạo của Vatican đã tìm mọi cơ hội, mọi cách để chống phá Việt Nam nhưng đều bị vô hiệu hóa. Con cờ cuối buộc phải đem ra dùng là ‘tôn giáo’. Kẻ được giao công tác là TGM Kiệt ở thủ đô Hà Nội, nơi đầu não của Nhà Nước Việt Nam. TGM Kiệt biết rất rõ việc đòi đất tòa khâm chỉ là cái cớ để thử sức giới cầm quyền; chứ mãnh đất ấy vốn chẳng phải của giáo hội mình, và giá trị chẳng là bao so với tài sản còn rất đồ sộ khắp nước. TGM Kiệt nghĩ rằng khuấy động ở thủ đô sẽ được an tòan hơn vì có tai mắt quốc tế, nhà cầm quyền sẽ không dùng bạo lực để trấn áp.

Đến nay hơn một tháng trời cho đám con chiên nằm vạ với sự reo hò cổ vỏ của đám giáo gian hải ngọai, ta đã thấy lộ rõ những thất bại sau đây:

1) Khi TGM Kiệt xách động phá rối trị an, Giáo hội Ca tô có lẻ đã đánh giá nhà cầm quyền Việt Nam quá thấp. Vẫn thái độ kiêu ngạo, đòi hỏi xấc láo, hành xử như bọn thân binh thời thực dân, vì nghĩ có hậu thuẩn của Vatican và bọn giáo gian hải ngọai, xem thường thể diện quốc gia, hiến pháp, luật nước, và chế độ. Rốt lại những trò nằm vạ này không làm thay đổi được chính sách về nhà đất của Nhà nước. Chính phủ đã không hề nhượng bộ những đòi hỏi phi lý. 

2) Nhà cầm quyền Việt nam vốn có quá nhiều kinh nghiệm trong việc đối đầu với những vụ khuấy động phá rối an ninh, đã khôn khéo cô lập đối tượng, báo chí và csc cơ quan truyền thông không hề làm tin lớn, không chế dầu vào lửa để sự việc không có cớ  lan rộng; đến một lúc đám gây rối phải nãn lòng âm thầm cút xéo. Tin mới nhất là tượng bà Maria, thập giá và lều che đã được mang về lại tòa TGM Hà Nội.

3) Sau khi TGM Kiệt xách động thì không ngờ lại gặp phản ứng dữ dội của đại đa số đồng bào phi Ca tô trong và ngòai nước; vô tình dấy lên lòng yêu nước nồng nàn chống ngoại xâm của dân tộc, gợi lại mối căm thù sự nối giáo cho giặc Pháp của tập đòan giáo gian mà làm mất nước, và dân chúng được dịp tìm hiểu thêm về nguồn gốc của đất tòa khâm, vốn là ngôi chùa cổ Báo Thiên của Phật giáo bị Pháp và Ca tô cưởng chiếm.

4) Cũng vì quá tự tín nên kiêu ngạo, xem thường dư luận, bất chấp luật pháp của một đất nước độc lập tự chủ, của tòa TGM Hà nội, nên phản ứng công khai trực diện của đồng bào Phật tử rất là gay gắt, khác xa những lần tế nhị ‘im hơi lặng tiếng’ thường thấy trước đây. Chính phản ứng rộng rãi chống lại việc làm sai trái của TGM Kiệt đã góp phần làm cho cuộc xách động sớm tàn lụi.

5)  Với sự rạn nứt của nhóm Phật giáo GHPGTN; TGM Hà Nội không có sự tiếp tay của ‘liên tôn’ như mong muốn.

6) Tính tóan thời điểm sai: i) Về mặt chính trị thì việc đòi đất xảy ra chưa đầy một tháng sau khi nhà nước bắt giữ một số lớn bọn gây rối lén lút xâm nhập từ nước ngòai; lại trùng vào lúc Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn ngày 20-11-2007 thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam, có chức năng trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam. Việc này tạo nên cho nhân dân một cảm giác nghi ngờ ‘phản quốc’ của giáo dân Hà nội. ii) Về thới tiết, thì gặp mùa đông xứ bắc với mưa phùn giá rét, con chiên không chịu đựng nỗi. iii) Về văn hóa, thì phạm phải điều tối kỵ đối với dân Việt là mùa chuẩn bị đón Tết rất linh thiêng; ai cũng rất bận rộn không màng quan tâm đến các chuyện ‘cầu nguyện đòi đất’ phi lý.

7) Bọn giáo gian hải ngọai đã mừng hụt, nhất là ‘Thông tấn xã Công giáo’, lỡ khoa chuông đánh trống om sòm với các lời lẻ sắt máu căm thù Nhà nước Việt Nam làm cho mọi việc được thổi phồng quá mức trở nên lố bịch ‘đầu voi đuôi chuột’.

 

VIII) Hậu quả:

1) Tiêu cực:

a) Uy tín của Giáo hội Ca tô Việt Nam càng bị sút giảm trầm trọng trong nước và trên thế gíới .

b) Sự quan hệ giữa Ca tô và chính quyền trở nên xấu.

c) Mọi sinh họat giả danh từ thiện và doanh nghiệp trong nước của bọn giáo gian hải ngọai sẽ bị theo dõi kỷ càng hơn.

d) Cơ hội tìm kiếm bình thường hóa ngoại giao với Vatican càng trở nên khó khăn. Cũng vì thế mà gần đây, vào ngày 30 tháng Giêng năm 2008, Vatican sai Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh gởi một bức thư cho TGM Kiệt có nội dung xin trích: “xin Đức Cha vui lòng can thiệp, để tránh được những hành động có thể gây mất trật tự chung và giúp tình hình trở lại bình thường. Nhờ đó, trong bầu khí lắng dịu hơn, việc đối thoại với các cấp Chính Quyền sẽ được nối lại, để tìm ra một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề tế nhị này”. Nôm na là ra lệnh cho TGM Kiệt hãy sớm chấm dứt trò chơi với dao đầy nguy hiễm.

Đây cũng là chiến thuật cáo già của Vatican, lùi một bước để tiến ba bước, hay vừa đánh vứa hòa, hay hy sinh con tép để câu con tôm. Đứng đằng xa giựt dây như câu này trong thư kể trên: “Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh hằng ân cần theo dõi sát sao những biến cố xẩy ra trong những ngày này tại Hà Nội, liên quan tới những mối căng thẳng vốn có từ lâu giữa Tổng Giáo Phận của Ngài và các cấp Chính Quyền địa phương về quyền sở hữu và sử dụng tòa nhà kế cận tòa Tổng Giám Mục” đến khi thấy không có kết quả tốt liền kéo dây cương cho ngựa mình khỏi rơi xuống vực.

e) Thông qua những động thái của TGM Kiệt và đám giáo dân biểu tình tại tòa nhà Khâm sứ, bản chất phi dân tộc và phản dân tộc của Ca tô Việt Nam, chỉ bíết tuân lệnh ngọai bang không thèm đếm xỉa gì đến luật pháp quốc gia hay quyền lợi dân tộc; một lần nữa đã bị chính họ tự phơi bày ra trước đồng bào cả nước: Vatican hô “cầu nguyện” thì nhào vào cầu nguyện; khi tiên liệu kết quả xấu liền bảo dẹp cờ dẹp trống thì đám con chiên bản xứ liền dẹp cờ dẹp trống.

2) Tích cực:

a) Cũng nhờ vụ ‘cầu nguyện đòi đất’ này mà đồng bào phi Ca tô trong và ngòai nước có dịp đòan kết bày tõ lập trường yêu nước của mình; qua đó làm sáng tõ thành phần nào vì dân tộc, vì tổ quốc; còn thành phần nào phi dân tộc và phản bội tổ quốc.

b) Đảng Cộng sản và chính quyền có cơ hội nhìn rõ lại ai là bạn ai là thù; từ đó biết phải dựa vào sự ủng hộ của thành phần dân tộc nào để giữ vững nền độc lập và uy quyền nhà nước và sự vẹn tòan lãnh thổ của tổ quốc.

c) Nhà nước Việt Nam nhân cơ hội này nên xác lập lại uy quyền quốc gia; mạnh dạn truy tố những kẻ gây rối trị an ra pháp luật như bất kỳ công dân nào khác, tương tự như Nguyễn Văn Lý; làm gương cho nhân dân để từ đó càng biết thượng tôn luật pháp hơn. Không ai được đứng trên pháp luật! Với sự vững mạnh của chính quyền Việt Nam ngày nay thì chẳng còn sợ sự can thiệp nào của ngọai bang, cho dù cả Vatican nhân danh tôn giáo.

d) Đối với thành phần di dân phi Ca tô hải ngọai, nhất là Phật giáo đồ, thì từ nay nhận ra được chân giả, thấy rõ những lừa gạt của bọn giáo gian Ca tô từ bấy lâu, nên đồng tâm hợp tác với GHPGVN chính thống trong nước để phát huy thêm uy lực của mình. Ca tô bám vào gốc ở Vatican; Phật tử phải bám vào gốc Việt Nam mới trường tồn đươc. “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” như lời Đức Phật dạy để chuẩn bị cho Ngày Lễ Tam Hợp Vesak vào tháng 5 năm 2008 tại thủ đô Hà Nội cho thật đại thành công vì đó là niềm hãnh diện chung cho cả dân tộc. Phải kịp thời đập tan mọi âm mưu phá họai của ngọai đạo dù núp dưới bất kỳ hình thức nào và phương cách nào.

Đối sách hiệu quả nhất ở hải ngọai đối với bọn gíao gian cuồng tín đang nhục mạ các cao tăng là đồng bào kiên quyết tẩy chay kinh tế mọi báo, đài, video văn nghệ vv... do bọn chúng cầm đầu; còn các hàng trí thức thì nên thường xuyên vạch trần và nhắc nhở cho đồng bào biết về những âm mưu nham hiễm của bọn VTC-TDTP đối với đất nước ta.

Ai cũng tin rằng chính Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt Nam sẽ là nhóm người được hưỡng phần thưởng to lớn sau cùng trong ván cờ cân não khi dẹp yên được đám giặc cỏ, cầm đầu bởi TGM Kiệt này, tương tự Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã dẹp yên tên giặc Phụng ngòai bắc năm nào. Khi biết rằng ngay cả Vatican còn phải nhún nhường thì sự chống đối của bọn giáo gian Ca tô trong và ngòai nước càng bị cô lập, và phản ứng của đồng bào hải ngọai sẽ có chuyển biến thuận lợi; nhờ đó mà uy tín của Việt Nam càng vững mạnh trong các cộng đồng Việt hải ngọai, và được ủng hộ rộng rãi hơn. Và nếu thực sự muốn có “Hòanh sơn nhất đái, vạn đại ‘an’ thân” thì dứt khóat tuyệt giao với Vatican để tránh mọi hậu họan.

 

Thiên Lôi

Tháng 2, 2008

Các bài viết cùng đề tài