●   Bản rời    

Nhân vụ đảo chính hụt 6/1 ở Hoa Kỳ: Các Chính Biến ở Pháp Biến Cộng Hòa Thành Quân Chủ

Nhân vụ đảo chính hụt 6/1 ở Hoa Kỳ: Các Chính Biến ở Pháp Biến Cộng Hòa Thành Quân Chủ

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ115.php

10-Feb-2021

Biến cố ngày 6-1-2021 ở Tòa Nhà Quốc Hội Hoa Kỳ ở Washington D.C không phải là một cuộc biểu tình thông thường mà là một cuộc phản loạn chống lại một chính quyền dân chủ hợp hiến được đắc cử với 302 phiếu đại cử tri. Cuộc bạo loạn ngăn chận Quốc Hội xác nhận Tổng Thống đắc cử Joe Biden là phản bội với tất cả những nguyên tắc dân chủ về minh bạch, và phi bạo lực.

Biến cố xẩy ra có thể được gọi là cuộc đảo chánh do chính Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump chủ động, xúi giục người ủng hộ ngăn chận Quốc Hội công nhận số phiếu đắc cử của Đảng Dân Chủ (đối lập). Trong số những nhóm cuồng ủng hộ có những người Việt hải ngoại đem cờ VNCH trước 1975 tích cực đến tham dự.

May mắn thay, cuộc đảo chính bất thành.

Bài sau đây tác giả kể lại những chính biến đã đảo ngược chính thể Cộng Hòa trở về chế độ Quân chủ. Phải mất nhiều vất vả, sinh mạng của biết bao người để từ bỏ chế độ quân chủ. Có hai đề mục chính:

1.- Bonaparte Napoléon: Đứa Con Tinh Thần của Văn Hào Voltaire Và Là Con Đẻ Của Cách Mạng Pháp 1789

2.- Nền Đệ II Cộng Hòa Pháp Với Louis Napoléone Bị Biến Thành Đế Quốc Đạo Phiệt Ca-tô.

 

I. Dẫn Nhập

Biến cố xẩy ra ở Tòa Nhà Nhà Quốc Hội Hoa Kỳ ở Washington D.C vào ngàn 6/1/2021 là do người có quyền thế nhất nước Mỹ chủ trương và chủ động, được hàng chục ngàn các ông bà “cuồng Trump” trong đó có hàng ngàn “các bác cờ vàng ba sọc đỏ” làm con thiêu thân lao vào tạo nên biến cố này. Nếu biến cố thành công theo ý muốn của người chủ trương và những người tham dự, ắt hẳn là chế độ dân chủ của Hoa Kỳ được thành lập theo Hiến Pháp Hoa Kỳ 1789 bị khai tử giống như hai trường hợp sau đây.

1.- Chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Pháp được chính thức thành lập ngày 21/9/1792 khi Quốc Ước Hội Nghị tuyên bố chấm dứt chế độ Quân chủ và lập ra nền Cộng Hòa. Sách sử gọi là Đệ I Cộng Hòa Pháp. Chế độ cộng hòa này bị Tướng Bonaparte Napoléon khai tử vào ngày 18/5/1804 khi ông tuyên bố ông là Hoàng Đế của nước Pháp, chính thức đăng quang vào ngày 2/12/1804 xưng là Hoàng Đế Napoléon I.

Chế độ đế chính của ông chấm dứt vào ngày 11/4/1814 khi chính quyền của ông bị Liên Minh Thánh Thứ Sáu do Vatican chủ trương và chủ động đánh bại quân đội của ông vào ngày này. Ông bị đưa lưu đày ở Đảo Elbe ngoài Đại Tây Dương.

Tháng 2 năm 1815, ông trốn khỏi Đảo Elbe trở về Pháp được nhân dân Pháp nhiệt liệt ủng hộ, hăng hái đi theo ông tiến về thủ đô Paris chiếm lại chính quyền. Nhưng rồi Liên Minh Thánh Thứ 7 đem quân tiến vào nước Pháp đánh bại quân đội của ông trong trận đánh Waterloo (ngày nay thuộc nước Bỉ). Ông bị lưu đày ở Đảo ST Helena và qua đời ở đây vào ngày 5/5/1821.

2.- Chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa Pháp Quốc được thành lập vào ngày 20/12/1848 sau khi nhân dân Pháp lật đổ chế độ quân chủ lập hiến của Vua Louis Philippe [11/06/1830 - 24/02/1848] vào tháng 2/1848. Tháng 12 năm đó, tân chính quyền cho tổ chức bầu cử chọn người làm tổng thống cho nền Đệ II Cộng Hòa, ông Louis Napoléon được trúng cử làm tổng thống. Trong thời gian 4 năm nắm giữ chức vụ tổng thống, ông tìm cách cấu kết với Giáo Hội La Mã, với các các phe bảo thủ và phản động, rồi tới ngày 02/12/1852, ông tuyên bố làm hoàng đế của nước Pháp. Chế độ Đệ Nhị Đế Chính Pháp ra đời vào ngày này, và  cũng là ngày nền Đệ II Cộng Hòa Pháp bị khai tử. Sách sử gọi ông là Hoàng Đế Napoléon III.

 

II. Bonaparte Napoléon: Đứa Con Tinh Thần của Văn Hào Voltarie Và Là Con Đẻ Của Cách Mạng Pháp 1789

Hoàng Đế Napoléon I

Xuất thân từ một gia đình nghèo trong giai cấp bình dân (thứ dân), Bonaparte Napoléon sinh ngày 15/8/1769 tại làng Ajaccio ở đảo Corse trong vùng Biển Địa Trung Hải. Năm 15 tuổi (1784) ông được thâu nhận vào học trường sĩ quan tại Paris. Tháng 9/1785, ông tốt nghiệp sĩ quan và được mang cấp bậc thiếu úy.

1. Xuất thân nghèo, gánh chịu những bất công do chế độ đạo phiệt Ca-tô phong kiến

Vào năm này, nước Pháp nằm dưới ách thống trị của chế độ đạo phiệt Ca-tô phong kiến với tất cả những bất công xã hội và tục lệ làm hạ giá con người để phục vụ cho cả Giáo Hội La Mã cùng với bọn vua chúa cũng như hai giai cấp qúy tộc và tăng lữ. Trong khi đó thì đại khối nhân dân bị trị được gọi là “thứ dân” phải gánh chịu đủ mọi thứ thiệt thòi. Chính bản thân ông của Bonaparte Napoléon cũng nằm trong giai cấp thứ dân vừa bị coi như là người nước ngoài (vì đảo Corse vôn là thuộc nước Ý), vừa bị khinh thường vì có một dáng người lùn với thân hình bé nhỏ. Với thực trạng này, ông là người gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất trong hàng ngũ sĩ quan thuộc vào thế hệ của ông. Có thể vì bị khinh thường và gánh chịu những bất công do chế độ đạo phiệt Ca-tô phong kiến gây ra, ông mới thù ghét cái chế độ khốn nạn này và say mê đọc những tác phẩm của các nhà tư tưởng lớn như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), v.v…. Cũng chính vì thế mà ông tự nhận là “Đứa con tinh thần của văn hào Voltaire”, người đã gọi đạo Kitô La Mã là “Cái Tôn Giáo Ác Ôn”.

Khi Cách Mạng bùng nổ vào tháng 7/1789, ông mới xấp xỉ 20 tuổi. Dĩ nhiên, ở vào tuổi này, ông còn quá trẻ để được các cấp chỉ huy trong chính quyền Cách Mạng giao phó cho những chức vụ hay trọng trách trong cuộc chiến chống lại những lực lượng phản động do Giáo Hội La Mã ở hậu trường xúi giục bọn cuồng nô vô tổ quốc ở các vùng Normandie, Bretagne và Vendée nổi lên đánh phá Cách Mạng.

Sau khi Vua Louis XVI bị bắt tại Varennes trên đường bỏ trốn (sang nước Áo) vào ngày 20/6/1791 và nhất là sau khi Liên Minh Thánh Lần Thứ Nhất thành hình (vào năm 1792) đưa đến việc nước Áo và nước Phổ động binh chuẩn bị xuất quân đánh vào nước Pháp (vào ngày 19/8/1792), ông bắt đầu được lần lần thăng cấp (lên lon) và dân dần leo lên bước thang quyền lực:

Tháng 4 năm 1791, ông đuợc thăng lên Trung Úy và được thuyên chuyển đến Trung Đòan 54 Pháo Binh đồn trú tại Valence. Tại đây, ông gia nhập hội những người Jacobins (The Jacobin club). Chẳng bao lâu, ông được bầu làm hội trưởng của hội. Hội này thường có những cuộc tranh luận về đề tài chế độ quân chủ lập hiến. Trong những cuộc tranh luận này, ông thường đưa ra những ý kiến chống đối giới quý tộc, chống đối giới tu sĩ Ca-tô và đặc biệt là chống đối các ông giám mục. Tháng 9/1791, ông được phép rời đơn vị ba tháng trở về Corsica để tranh cử chức vụ chỉ huy đòan vệ binh quốc gia ở đây. Ông đắc cử chức vụ này, nhưng chỉ một thời gian ngắn, chức vụ này lại lọt vào tay một người khác có tên là Paoli. Có lẽ vì chán nản, ông không trở lại trình diện đơn vị cũ và bị ghi là “đào ngũ” kể từ tháng 1 năm 1792.

Mùa Xuân năm 1792, 50 ngàn quân Áo và 29 ngàn quân Phổ trong Liên Minh Thánh Áo - Phổ -Anh Vatican tấn công vào nước Pháp. Tổ quốc Pháp lâm nguy. Tháng 4/1792, chính quyền Cách Mạng tuyên chiến với nước Áo và phải động viên toàn dân để đối phó với cả thù trong (tu sĩ, giáo dân Da-tô và phe đảng phong kiến phản động mà phần lớn là những thành phần thuộc giai cấp quý tộc và những phần tử bảo hoàng) và giặc ngoài là liên Minh Thánh Áo - Phổ- Anh - Vatican. Nhờ vậy, tội “đào ngũ” của ông được ân xá, ông được gọi trở lại quân ngũ và được thăng lên cấp đại úy để cùng toàn thể nhân dân Pháp chống giặc xâm lăng. Tuy nhiên, mãi đến tháng 6/1793, ông mới tới trình diện Trung Đòan của ông lúc bấy giờ đang trú đóng tại Nice.

Trong thời gian này, ông viết bài “Souper de Baucare”, trong đó ông biện minh rằng tất cả những người Cách Mạng theo chủ thuyết Cộng Hòa (ôn hòa) cần phải dùng những biện pháp mạnh như những người trong phái Jacobins (cấp tiến cực đoan). Vào thời điểm này, phe cấp tiến đã hoàn toàn thắng thế và không còn ai nghĩ đến việc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến nữa.  Vì thế mà quan điểm chính trị trong bài viết trên đây của ông được nhiều người tán thưởng.

Cuối tháng 8/1793, quân đội Cách Mạng chiếm lại Marseilles (từ trong tay quân Anh và phe bảo hoàng), nhưng lại ngừng lại trước khi tiến đến Toulons. Lúc đó, ông đang nắm quyền chỉ huy trung đoàn pháo binh và bị thương. Sau đó, ông được trao cho chức vụ ủy viên quân sự (the commissioner to the army) trong chính quyền thời Quốc Ước Hội Nghị (20/9/1792 - 2/11/1795), và tháng 9/1793, ông được thăng lên cấp thiếu tá. Tháng 10/1793, ông lại được thăng lên cấp thiếu tướng (Adjudant général), rồi ngày 22 tháng 12 năm đó, ông được thăng lên cấp trung tướng (brigadier général). Lúc đó ông mới có 24 tuổi.

Sau thời gian Khủng Bố Đỏ, cuộc chiến càng trở nên gay go và quyết liệt. Trong khi đó, Giáo Hội La Mã vẫn kiên trì tiếp tục vận động các thế lực phản động phong kiến thành lập Liên Minh Thánh Anh - Áo - Vatican (lần thứ hai) để tiêu diệt Cách Mạng Pháp. Ngày 25/6/1795 một chiếc tầu Anh đưa 3.500 quân thập ác Ca-tô phản động Pháp đổ bộ vào Bretagne (một giáo khu cuồng tín giống như giáo khu Ca-tô ở Việt Nam trong thời 1858-1954), chiếm đóng vùng này làm căn cứ, tạo thế lực hậu thuẫn cho các phe phái bảo hoàng phản động đang hoạt động hợp pháp trên sân khấu chính trị đặt tổng hành dinh ở điện Tuileries. Nước Pháp rơi vào tình trạng hỗn loạn. Giáo Hội La Mã vẫn không ngừng vận động nước Áo động binh chuẩn bị tấn công nước Pháp. Tình trạng này kéo dài cho đến cuối năm 1797. Cuối cùng, chính quyền cách mạng phải quyết định ra lệnh cho Tướng Bonaparte đem quân vây điện Tuileries, bắt hết phe đảng này dưới quyền lãnh đạo của Barthelémy và trục xuất hết bọn tu-sĩ Da-tô và quý tộc:

Tình thế trở nên nguy ngập do sự tràn lấn của phái bảo hoàng. Nên ngày 11/9 (1797), đa số ủy viên trung ương trong Chấp Chính Ban, cầm đầu bởi Barras, quyết định dùng võ lực tiêu diệt phái bảo hoàng. Barras lại cầu cứu quân đội. Lúc đó, Bonaparte đã trở về Ba Lê và (được giao cho) phụ trách việc diệt trừ phái bảo hoàng. Trong đêm ấy, Bonaparte sai tướng Augereau mang 32 ngàn binh sĩ vây điện Tuileries. Barthelémy cùng phái bảo hoàng đều bị bắt. Phần lợn bị lưu đày, một số bị giết. Đồng thời, Chấp Chính Ban ra lệnh đóng của các báo chí bảo hoàng, cũng như trục xuất qúy tộc cùng tu sĩ.” [Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàigòn: Quan Điểm, 1964), tr. 116-117.] 

Trong khi đó, tại mặt trận phía đông và phía nam, quân Áo cũng ráo riết chuẩn bị tấn công vào nước Pháp. Tướng Bonaparte lại được chỉ định đem quân tấn công thẳng vào nước Áo và thuộc quốc của Áo trên bán đảo Ý Đại Lợi. Quân Pháp đại thắng quân Áo, buộc vua nước Áo, Giáo Hoàng Pius VI (1775-1799), vua xứ Sardaigne và vua xứ Naples phải ký Hiệp Ước Campo - Formio vào ngày 17/10/1797 với điều kiện của nước Pháp đưa ra. Campo Formio là một địa danh nằm trong nước Ý ngày nay.

Thỏa Hiệp Formio chưa ráo mực, mấy tháng sau Vatican lại vận động thành lập liên minh thánh khác, Anh - Vatican (lần thứ 3) tấn công vào nước Pháp. gây nên trận chiến giữa một bên là nước Pháp và một bên là Liên Minh Anh – Vatican. Trận chiến này không những xẩy ra trên đất Pháp mà còn xẩy ra những trận đánh ác liệt ở trên mặt biển và ở Ai Cập (Bắc Phi). Năm 1799, khoảng 350 ngàn quân Anh tràn vào đất Pháp. Trong khi đó thì những phần tử phản động và bảo hoàng cũng cấu kết với giáo dân Ca-tô (khác với giáo dân Tin Lành) luôn luôn rình rập và tìm đủ mọi cách đánh phá Cách Mạng. Nguy hiểm hơn nữa là giáo dân ở các vùng Bretagne, Normandie, và Vendée dưới quyền điều khỉển của bọn tu sĩ áo đen lại nổi lên đánh phá để tiếp tay cho quân xâm lăng Liên Minh Thánh Áo - Phổ - Anh - Vatican đang tấn công mạnh vào nước Pháp.  Tình trạng càng kéo dài thì nước Pháp càng nát bét như tương. Tổ quốc Pháp lâm nguy. Chính quyền Cách Mạng Pháp càng ở vào thế chông chênh như trứng để trên đầu đẳng.

2. Chính quyền Cách Mạng tìm người hùng

Đứng trước tình thế này, các bậc trí giả hằng tâm lo cho vận mệnh nước thấy rằng nước Pháp cần phải có một chính quyền mạnh để ổn định tình thế cũng như bảo vệ và phát huy thành quả Cách Mạng. Họ quyết định đưa người con tinh thần của văn hào Voltaire lên làm người hùng để thi hành sứ mạng lịch sử này. Quyết định là như vậy, nhưng mãi tới mùa thu năm 1799, nhà cách mạng cựu tu sĩ Emmanuel-Joseph Sieyès và cũng là nhân vật số 1 (đang nắm chức vụ quan trọng trong chính quyền Chấp Chính Viện) mới hoàn thành được một kế họach này. Đây là kế hoạch đảo chánh với chủ trương thay thế chế độ Chấp Chính Viện bằng một chính quyền mạnh theo chế độ được gọi là “Tổng Tài” (Consulate” và khẩn thiết mời ông đang hành quân ở ngoài khơi Ai Cập trở về chỉ huy cuộc đảo chánh này. Nếu thành công, ông sẽ được đưa lên nắm giữ chức vụ quốc trưởng với danh xưng là “đệ nhất tổng tài” (first consul) để lãnh đạo tân chế độ.

Ngày ông về được tổ chức vô cùng long trọng. Tin tức loan ra làm cho nhân dân Pháp hết sức vui mừng và ngày ông về cũng là ngay vui của nhân dân Pháp. Tại kinh thành Paris, trên khắp các nẻo đường, hàng hàng lớp lớp người lũ lượt kéo nhau đi hân hoan chào đón ông về. Cái hình ảnh ngày vui của nhân dân Pháp được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

Ông trở về ngày 9 tháng 10 năm 1799 và lúc đó, dư luận đã coi ông như người của tình thế. Nước Pháp bị ngoại xâm đe dọa, nên dân chúng mong mỏi một cứu tinh. Về vấn đề quốc nội, dân chúng cũng mong có một người nào có đủ uy quyền và bản lĩnh để tái lập sự an ổn và an ninh. Về phía chính quyền, Sieyès đương muốn liên minh với một tay gươm có tài ba và uy thế. Nói tóm lại, Bonaparte đã trở về đúng lúc. Sau 47 ngày lênh đênh trên mặt biển, sự may mắn đã khiến cho chiếc tàu lẻ loi đã lọt được vòng vây của hải quân Anh. Ông lên bộ ở hải cảng Fréjus. Suốt dọc đường, dân chúng hoan hô nhiệt liệt, các cửa sổ đều kết hoa, các nhà thờ đều rung chuông. Tin tức đã tới Ba Lê trước. Thành phố Ba Lê chăng đèn đón Bonaparte. Phường nhạc quân đội diễn hành các phố. Tại các rạp hát, khán giả và diễn viên đều đứng lên hát bài Marseillaise (quốc ca Pháp). Do niềm chờ đợi hân hoan đó, Bonaparte đã bước lên đài vinh quang…” (Nghiêm Xuân Hồng, Sđ d., tr. 119.)

Đọc qua bản văn sử trên đây, người viết lại nhớ đến những ngày vui của dân tộc Việt Nam ta vào những trong mùa thu năm 1945, đặc biệt là những ngày tháng từ ngày 17 tháng 8 năm 1945 đến ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội.

Sau này người viết lại được chứng kiến ngay vui tương tự như vậy vào chiều ngà 1/11/1963 và đặc biệt là ngày 2/11/1963 tại thành phố Sàigon - Chợ Lớn – Gia Định. Những ai đã chứng kiến những ngày vui này của đất nước đều không thể nào quên được.

Là một thành phần trong đại khối nhân bị trị, bị Giáo Hội La Mã, “bọn quạ đen” và giáo dân Da-tô khinh rẻ là “quân tà giáo” và “phường vô đạo”, trong thâm tâm, Bonaparte Napoléon ông lúc nào cũng có khát vọng làm thế nào để cho cá nhân ông và tất cả đại khối nhân dân bị trị không còn bị khinh rẻ như vậy nữa, và nếu có quyền lực trong tay, ông sẽ san bằng hết tất cả những bất công trong xã hội.

Vì khát vọng này, ông đã tỏ ra hết lòng kính mến và khâm phục văn hào Voltaire đã có can đảm hiên ngang gọi đạo Kitô La Mã là “cái tôn giáo ác ôn” và hãnh diện coi nhà văn hào can đảm này là “người cha tinh thần” của ông.

Văn hào Voltaire

Cũng vì khát vọng này, ngay từ khi Cách Mạng vừa mới bùng nổ ông đã hăng hái đi theo Cách Mạng, tự nhận là “đứa con của Cách Mạng”, lên án nặng nề giới quý tộc và tu sĩ Da-tô, rồi viết bài “Souper de Baucare” nhăm cổ võ và lôi cuốn mọi người cùng tham gia Cách Mạng, cùng đem hết tài năng và tâm chí ra xây dựng, bảo vệ và phát huy tinh thần Cách Mạng.

Trải qua bao nhiêu thăng trầm của tổ quốc, ông vẫn kiên quyết trung thành với nước Pháp, với đại khối nhân dân bị trị và triệt để tin tưởng vào tinh thần Cách Mạng. Giờ đây, được đưa lên địa vị có đủ quyền lực trong tay, ông quyết tâm làm tất cả những gì cần phải làm để đạt được mục đích của Cách Mạng, đặc biệt nhất là:

- Phải san bằng những bất công trong xã hội,

- Phải quét sách nhưng tàn tích quan liêu phong kiến với những tục lê quỳ quỳ, lạy lạy, bẩm bẩm, thưa thưa, với những ngôn từ lợm giọng như Đức Ông, “Đức Bà, Đức Cha, Đức Mẹ, Đức Giám Mục, Đứng Hồng Y, Đức Thánh Cha.

- Phải xóa bỏ tất cả những nhập nhằng lẫn lộn giữa luật pháp quốc gia và luật đao cùng với tín lý Ki-tô nặng tính cách bất công, áp bức và bóc lột của chế độ đạo phiệt Ca-tô còn vương lại là các chính quyền tiền nhiệm chưa có hoàn cảnh để thực thi.

Cũng vì thế mà ông cương quyết làm tròn sứ mạng lịch sử của Cách Mạng. Đây là những công trình vô cùng lớn lao của ông đối với nước Pháp cũng như đối với đại khối nhân dân bị trị, và tất cả nhân dân thế giới cũng có vấn nạn Giáo Hội La Mã như nước Pháp. Những công trình này được sách sử ghi lại như sau:

Chế độ tổng tài kéo dài được 5 năm, một thời kỳ mà Naopléon đã thực hiện được một số những cải cách quan trọng trong nước Pháp. Quyền chính được tập trung vào trong tay chính quyền trung ương, hiệu năng và quyền lực của chính quyền cũng được gia tăng. Ông đã ổn định được tình thế và mang lại được trật tự cho đất nước. Tất cả các phần tử bảo hòang cũng như cộng hòa đều sẵn sàng làm việc cho ông.

Trong nhiều phương diện, Napoléon đã hòan thành được công trình cách mạng. Tât cả những đặc quyền còn lại (dành cho hai giai cấp quý tộc) đều bị quét sạch vĩnh viến.  Việc thăng cấp trong chính quyền cũng như ở trong quân đội đều dựa trên khả năng bất kể là nguồn gôc xã hội (giai cấp). Mọi sự thăng tiến đều được “dành cho những người có tài năng”. Việc cải tổ hệ thống thuế khóa trên nguyên tắc đã được đề nghị vào năm 1789, tới năm 1799 trở thành trong thực tế. Nạn lạm phát bị chặn đứng và vấn đề quốc nợ cũng đã được ổn định. Có lẽ việc cải cách nổi tiếng nhất của ông là việc hiện đại hóa luật pháp của nước Pháp trong một lọat với 5 bộ luật, được gọi chung là Bộ Luật Napoléon. Bộ lụật này được ban hành trong toàn lãnh thổ nước Pháp và theo nguyên tắc thì tất cả mọi người dân đều được bình đẳng trước pháp luật.”. [Arnold Schrier & Walter Wallbank, Ibid., pp. 414-415.] (1)

Tâm lý người đời là “được một rồi lại muốn hai, đuợc hai rồi lại muốn ba.” Cái tâm lý này hầu như đã trở thành quy luật. Đệ Nhất Tổng Tài Napoléon cũng không thóat khỏi cái quy luật tâm lý này. Cũng vì thế mà tháng 5 năm 1802, ông cho tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để cho nhân dân Pháp đồng ý cho ông làm Đệ Nhất Tổng Tài trọn đời.  Kết quả đã xẩy ra đúng theo ý muốn của ông.

3. Hoàng Đế Napoleon

Lòng thèm khát quyền lực và danh vọng của con người quả thật là không có đáy. Được nhân dân Pháp tín nhiệm đưa ông lên làm Đệ Nhất Tổng Tài trọn đời, Bonaparte Napoléon cũng vẫn chưa hài lòng. Tham vọng của ông là ông phải là hoàng đế của nước Pháp và nước Pháp phải làm bá chủ Âu Châu. Có sẵn quyền lực trong tay, ngày 28/5/1804, ông tuyên bố lên ngôi hoàng đế và sẽ tổ chức lễ đăng quang vào ngày 2 tháng 12 năm đó.

Ngày ông đăng quang cũng là ngày nền Đệ Nhất Cộng Hòa của nước Pháp cáo chung.

Cuối năm 1804, Liên Minh Thánh lần thứ tư chống Pháp gồm các nước Anh, Nga, Áo, Phổ và Vatican đã tan rã. Tại lục địa Âu Châu, ngoài việc giảm được áp lực ở mặt trận phía Đông và phía Tây Nam, Pháp lại còn kéo được Tây Ban Nha về phe với Pháp. Thế nhưng, Anh quốc vẫn chưa chịu hòa. Trước tình thế này, Hoàng Đế Napoléon quyết định vượt biển tấn công vào lãnh thổ Anh, nhưng bị hải quân Anh đánh bại.

Thấy rằng, nếu chỉ có một mình nước Anh lâm chiến chống Pháp, thì nước Anh không thể đánh bại Pháp. Sau đó, Anh được sự ủng hộ ngầm của Tòa Thánh Vatican và có sự tiếp tay của tín đồ Ca-tô ở ngay trong lòng nước Pháp. Vì thế mà, năm 1805, Vatican cấu kết với nhau cùng vận động liên kết với Áo và Nga thành lập Liên Minh Thánh Thứ năm chuẩn bị tấn công Pháp.

Thấy rằng bị Liên Minh Thánh chuẩn bị tấn công nước Pháp, theo sách lược “tiên hạ thủ vi cường”, ngày 24/7/1805, Napoléon đem quân từ Boulogne đánh thẳng vào nước Áo để làm giảm áp lực mặt trận phía Đông. Được võ trang bằng lòng yêu nước và tinh thần Cách Mạng 1789, quân Pháp tiến đến đâu, thắng tới đó, cứ thế tiến sâu vào lãnh thổ Áo mà không gặp khó khăn gì cả. Ngày 13/11/1805, Quân Pháp tiến tới kinh thành Vienne, thủ đô nước Áo, và ngày 2/12/1805 (Đệ Nhất Chu Niên lễ đăng quang của ông), quân Pháp đại thắng quân Áo tại cứ điểm Austerlitz. Đây là chiến thắng lừng danh nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Nhờ chiến thắng này, ông buộc Áo phải ký nhận Thỏa Hiệp Pressburg, theo đó:

Nước Áo phải:

- Từ bỏ tất cả ảnh hưởng của Áo ở Ý,

- Nhường Vennetia và Dalmalia cho Pháp,

-Công nhận các tiểu quốc Bavaria, Wurttenburg và Baden nằm dưới quyền bảo trợ của Pháp,

Pháp sẽ được quyền tiến hành truất phế vua xứ Naples (trước đó thuộc quyền bảo trợ của Áo) và đưa một người của Pháp lên làm vua xứ này.

Tháng 7/1806 ông thành lập Liên Minh các tiểu quốc trên triền sông Rhine nằm dưới quyền bảo trợ của Pháp.

Áo vừa ngưng chiến, thì tháng 9/1806, Phổ (Prussia) tuyên chiến, nhẩy vào vòng chiến tấn công quân Pháp, nhưng bị thảm bại tại hai trận đánh Jena và Auerstadt vào ngày 14/10 năm đó.

Trong khi đó quân Nga đánh mạnh ở mặt trận Đông Bắc.

Đánh bại được quân Áo và quân Phổ rồi, Hoàng Đế Napoléon I dỗn nỗ lực đối phó với quân Nga. Nhờ vậy, trong trận đánh Friedland từ tháng 2 đến tháng 6/1807, quân Nga gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Sau thảm bại này, Nga Hòang Alexander I (1775-1825), cảm thấy chán nản và muốn ngưng chiến. Chính Nga hoàng phải thân hành đến gặp Hòang Đế Napoléon ở Tilsit để trực tiếp thương nghị hòa bình.

Kết quả là Nga và Pháp cùng ký Thỏa Hiệp Tilsit. Theo thỏa hiệp này, hai nước Pháp và Nga đồng thuận thành lập lãnh địa Warsaw gồm các tỉnh của Ba Lan tách rời ra khỏi nước Phổ, chia vùng ảnh hưởng giữa hai nước Pháp và Nga ở vùng này: Từ biên giới phía Đông nước Phổ trở về hướng Đông thuộc nước Nga, từ biên giới phía Tây nước Phổ trở về hướng Tây thụôc về nước Pháp. Ngoài ra, Nga Hoàng còn hứa miệng là sẽ đem quân tấn công Anh ở Ấn Độ (thuộc Anh).

Như vậy là Liên Minh Thánh Thứ 5 của Vatican tan rã hòan toàn. Đứa con tinh thần của văn hào Voltaire với ngọn đuốc Bình Đẳng, Tự Do và Bác Ác” của Cách Mạng Pháp 1789 đã đại thắng đứa con của niềm tin Kitô với những đặc tính chuyên chính, độc ác, dã man và những hủ tục phong kiến biến con người thành hạng súc sinh. 

Vào thời điệm này, Hoàng Đế Napoléon I đã thanh toán xong các lực lượng thù địch ở trên lục địa Âu Châu. Vấn đề còn lại là Anh quốc.

Áo, Phổ và Nga trong Liên Minh Thánh Thứ 5 đã ký thỏa hiệp hòa bình với Pháp. Nhưng Anh quốc vẫn chưa chịu buông súng ngưng chiến, và vẫn còn liên kết với Tòa Thánh Vatican rình chờ cơ hội vận động các cường quốc Âu Châu tái lập Liên Minh Thánh một lần nữa để tiến vào nước Pháp nhằm hủy diệt công trình Cách Mạng Pháp 1789 và tái lập vương quyền đạo phiệt Ca-tô cho dòng họ Bourbon.

Trong các cường quốc Âu Châu đối đàu với Pháp, Anh quốc là một địch quốc đáng gờm nhất mà Pháp không thể nào tấn công thẳng vào lãnh thổ Anh. Anh quốc thực sự đã trở thành cái gai châm chọc vào da thịt nước Pháp. Vì thế Pháp cần phải bứt cái gai này đi bằng mọi giá, nhưng bứt đuợc cái gai này quả thật là một vấn đề khó khăn!

Muốn tấn công vào nước Anh, Pháp phải chuyển quân vượt qua biển Manche (English Channel), tức là hải quân Pháp phải đủ mạnh để đánh bại được hải quân Anh. Từ khi hải quân Anh đánh bại hải quân Tây Ban Nha ở Biển Manche vào năm 1588, cho đến lúc bấy giờ và cho đến khi Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ vào năm 1914, hải quân Anh vẫn làm bá chủ mặt biển. Việc đánh bại hải quân Anh không phải là dễ.

Năm 1803, Napoléon ra lệnh cho tập trung gần 2 ngàn chiến tầu dọc vùng biển từ Brest tới Antverp và di chuyển đại quân về Boulogne. Song le, muốn băng qua được biển Manche, Pháp phải làm chủ được vùng biển này. Khốn nỗi, hải quân Pháp quá yếu, thua xa hải quân Anh. Pháp cần phải có sự trợ giúp của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, dù cho hải quân Tây Ban Nha phối hợp với hải quân Pháp, Pháp cũng vẫn không thể đánh bại được hải quân Anh. Tháng 12/1804, do sự thúc đẩy của Pháp, Tây Ban Nha tuyên chiến với Anh.

Các chiến tầu của Pháp và của Tây Ban Nha tập trung tại Antilles để nhử hải quân Anh vào vùng biển này. Kế hoạch này bị thảm bại nặng nề. Ngày 21/10/1805, cả hai hạm đội Pháp và Tây Ban Nha đều bị hải quân Anh tiệu diệt hoàn toàn ở ngòai khơi mũi Trafalgar. Thảm bại này đã khiến cho Pháp phải hủy bỏ kế họach đổ bộ vào Anh quốc. Như vậy là hải quân Anh vẫn làm chủ mặt biển và khống chế hải quân Pháp.

Biết rõ hải quân Pháp và Tây Ban Nha không thể nào đánh bại được hải quân Anh, Hoàng Đế Napoléon I không còn nghĩ đến việc đổ bộ vào Anh quốc nữa. Ông nghĩ đến kế hoạch bao vây kinh tế Anh quốc bằng cách thiết lập một hệ thống kiểm soát gắt gao, không cho bất cứ tầu thuyền nào đi vào nước Anh hay từ Anh đi các nơi khác. Ông hy vọng nếu thực hiện được kế hoạch này, không bao lâu Anh quốc sẽ lâm vào tình trạng khủng hỏang kinh tế. Khi đó dân Anh sẽ nổi loạn và buộc chính quyền Anh phải cầu hòa.

Trên lý thuyết, kế hoạch này có thể là hữu hiệu. Nhưng trong thực tế, Pháp không có đủ tầu thuyền để canh chừng và kiểm soát các tầu thuyền ra vào Anh Quốc. Chỉ có một cách có thể thực thi được là ra lệnh kiểm soát chặt chẽ các vùng ven biển bao quanh lục địa Âu Châu, không để cho bất kỳ tầu thuyền nào chuyển chở hàng hóa của Anh quốc ghé vào lục địa Âu Châu. Làm như vậy có nghĩa là ông phải dùng quyền lực ngăn cấm các quốc gia trên lục địa Âu Châu không được giao thương với Anh quốc. Như vậy là việc làm này đã phản lại tinh thần Cách Mạng Pháp 1789 và chính quyền của ông đã trở thành một chính quyền đế quốc đúng nghĩa của một đế quốc. Như thế thì chính nghĩa của ngọn cờ “Bình Đẳng, Tự Do và Bác Ái” không còn nữa dù rằng chính quyền của ông vẫn còn dâng cao ngọn cờ Cách Mạng và đã thực hiện được nhiều mục tiêu do Cách Mạng đề ra.

Điều mà ông không tiên liệu đuợc là kế họach phong tỏa Âu Châu của ông đã gây cho đời sống nhân dân các Âu Châu gặp nhiều khó khăn vì nạn khan hiếm hàng hóa và sản phẩm nhập cảng từ ngòai Âu Châu. Họ bất mãn với Pháp, rồi bất tuân lệnh phong tỏa, và ngấm ngầm liên kết với Anh quốc để chống lại Pháp. Đây là cơ hội tốt cho Tòa Thánh Vatican và Anh quốc xúi giục họ nổi lọạn tiến hành âm mưu tái lập Liên Minh Thánh chống lại nước Pháp. Tại các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Áo có nhiều nhóm khởi binh chống lại Pháp khiến cho Pháp phải nhọc công đánh dẹp.

Thói đời, phù thịnh, chứ không có mấy ai phù suy. Nga Hòang trước khi đã ký Thỏa Hiệp Tilsit vào mùa hè năm 1807 và hứa hẹn với Pháp sẽ đem quân tấn công Anh ở Ấn Độ. Giờ đây, thấy rằng nhân dân Âu Châu bất mãn và có nhiều nơi nổi lọan chống Pháp, Nga Hoàng liền trở mặt và lời hứa với Pháp trước đây không còn được tôn trọng nữa.

Để đối phó với Nga, tháng 9 năm 1808, Napoléon liền triệu tập các tiểu quốc Âu Châu đến họp tại Erfurt (thuộc nước Đức ngày nay) để làm áp lực buộc Nga phải đem quân trợ giúp Pháp trong trường hợp chiến tranh Anh - Pháp bùng nổ. Nga Hoàng vẫn không cam kết gì cả.

THẢM BẠI QUÂN SỰ Ở NGA: Sau Hội Nghi Erfurt, Nga Hoàng lại càng không còn tin tưởng vào Napoléon và cũng không còn muốn nói chuyện với ông nữa. Biết rằng Nga Hòang có ý lảng tránh, không muốn kết thân với Pháp nữa, Napoléon liền nghĩ đến việc dùng sức mạnh quân sự để thị uy với triều đình Nga.

Mùa xuân năm 1812 (lúc này Anh quốc đang bận rộn với cuộc chiến chống Hoa Kỳ ở Bắc Mỹ), Napoléon tập trung quân đội tại Ba Lan chuẩn bị tấn công vào lãnh thổ Nga. Tổng số quân lính lên tới 600 ngàn (có sách nói chỉ có 453 ngàn), trong đó các đạo quân của Phổ và của Áo cũng được huy động chiến đấu bên cạnh quân đội Pháp. Chính ông thân chinh chỉ huy đoàn quân viễn chinh này.

Khi quân Pháp tiến vào lãnh thổ Nga, quân Nga lảng tránh, từ từ rút lui và triệt để thi hành sách lược tiêu thổ kháng chiến. Hầu hết các trục lộ giao thông chính đều có đắp ụ cản đường và có hào giao thông chiến đấu. Tất cả mọi dinh thự và nhà cửa nào có thể dùng làm nơi trú quân và các cầu đường đều bị phá hủy. Tất cả mùa màng trong vùng quân Pháp tiến đến đều bị thiêu rụi.  Đâu đâu cũng hiện lên cảnh vườn không nhà trống tan hoang và tro tàn gạch vụn. Tình trạng này khiến cho quân Pháp không thể tiến mau được.

Mãi tới đầu tháng 9/1812, Quân Pháp mới tiến đến Porodino, một địa điểm ở gần Mạc Tư Khoa (Moscow). Tại đây, quân Pháp gặp phải sức chống cự mãnh liệt của đạo quân Nga dưới quyền chỉ huy của Tướng Mikhail Kutuzov. Trận đánh kéo dài từ ngày 7/9 đến trung tuần tháng 9/1812, quân Pháp mới tiến được vào Mạc Tư Khoa. Ngay khi vừa tiến sâu vào trong thì biển lửa nổi lên tàn phá cả thành phố. (Lúc bấy giờ thủ đô của nước Nga là Petersburg, chứ không phải là Moscow. Sau này chính quyền Cách Mạng 1917 đổi tên kinh thành Peterburg là Thành Phố Leningrad và chọn Moscow làm thủ đô.)

Napoléon đã không tiên liệu được những khó khăn do chiến lược tiêu thổ kháng chiến của quân Nga gây ra cho đoàn quân viễn chính trên một nửa triệu quân đang ở cách xa hậu tuyến quê nhà gần cả ngàn cây số. Mùa đông năm đó lại về sớm hơn thường lệ khiến cho hơn nửa triệu quân Pháp đang ở trong tình trạng khốn khổ lại càng trở nên khốn khổ hơn gấp bội phần. Vô kế khả thi, Napoléon phải hạ lệnh rút quân về Pháp.

Cuộc lui quân này thật là vô cùng khó khăn. Thảm bại đau thương nhất là khi phải vượt qua sông Berezina. Lúc đó vào tháng 11/1812, nước sông trở nên băng giá đã làm cho quân lính tê cóng, rồi ngã gục và bỏ thây ở dọc đường. Giữa khi ở trong tình trạng khốn đốn như vậy, đòan quân chiến bại này lại còn bị quân Nga truy kích. Tất cả đã làm cho hơn một nửa triệu quân oai hùng hiên ngang khi lên đường tiến công vào nước Nga, thì giờ đây không còn tới 10 ngàn quân lếch thếch lê thê trở về trong thiểu não đau thương.

Cuộc lui quân thảm bại này còn gây ra nhiều hậu quả giây chuyền vô cùng tai hại. Thói đời, giậu đổ bìm leo. Lợi dụng thảm trạng này, nhân dân Âu Châu nằm dưới ách thống trị của Pháp nổi lên đòi tự trị. Dân chúng tại các thành phố Đức tràn ra biểu tình chống Pháp. Đạo quân Phổ trong đoàn quân viễn chinh Pháp bỏ trốn, rồi quay súng chống lại quân Pháp. Trong khi đó, chính quyền Áo ra lệnh rút quân ra khỏi đại quân Pháp, rồi cũng quay lại chống quân Pháp. Nhân dân trên bán đảo Ý Đại Lợi cũng nổi lên chống Pháp.

Họa vô đơn chí. Đang khi vừa bị thảm bại tại Nga, vừa bị quân đội Phổ và quân đội Áo quay súng chống lại, vừa bị nhân dân các nước Âu Châu dưới quyền nổi lọan đòi tự trị, thì những thành phần phản động (vốn được chế độ đạo phiệt Ca-tô trước kia ưu đãi) cũng nhân cơ hội này nổi lên khuấy động và xúi giục nhân dân chống lại chính quyền của ông. Ngày 13/10/1812, một phản tướng ở Paris mưu toan đảo chánh bằng cách loan tin thất thiệt rằng ông đã thiệt mạng tại Nga. Có lẽ vì lý do này mà ông phải vội vã rút đi trước đại quân của ông để hối hả về Pháp. Về tới Paris ngày 18/12/1812, ông liền cho tăng cường kiểm sóat dân chúng và tìm biện pháp tăng quân.

Nước Pháp bấy giờ ở vào thế tứ bề thọ địch, đơn phương chống lại Liên Minh Thánh Thứ năm Anh - Nga - Áo - Phổ - Vatican vừa được tái sinh (có thể gọi là Liên Minh Thánh thứ sáu) và gần như toàn thể Âu Châu  liên kết thành một khối chống lại ông. Điều đáng buồn là ngay cả nhân dân Pháp bây giờ cũng không còn hăng say can đảm như những năm trong thời 1789-1804.

Dù là ở trong tình cảnh khó khăn như vậy, tháng 3/1813, ông vẫn có thể điều quân đánh bại được liên quân Nga – Phổ tại Lutzen và Pautzen. Tuy là thắng trận, nhưng quân Pháp cũng bị tổn thất nặng. Vì thế mà quân Pháp vốn đã suy yếu lại càng trở nên suy yếu.

Thấy Pháp càng ngày càng suy yếu, ngày 10/8/1813, Áo tuyên chiến với Pháp. Thấy Áo tuyên chiến với Pháp, các đạo binh của các tiểu quốc Đức còn nằm trong quân đội Pháp tìm cách rời bỏ hàng ngũ Pháp chạy sang hàng ngũ quân Phổ. Tình trạng này khiến cho Liên Minh Thánh Anh – Nga - Phổ - Áo - Vatican ngày càng thếm mạnh hơn. Cũng vì thế mà trận đánh tại Leipzig vào những ngày 16-19/10/1813, quân Pháp bị đại bại. Quân đội Pháp vốn đã suy yếu lại càng trở nên suy yếu hơn nữa.

Có lẽ vì không đủ quân phòng thủ ở chính quốc, tháng 6/1813, Napoléon ra lệnh rút quân Pháp đang trú đóng ở Tây Ban Nha về Pháp. Lợi dụng cơ hội này, tháng 10/1813, quân Anh đổ bộ vào Tây Ban Nha rồi từ đó tiến lên chọc thủng phòng tuyến quân Pháp đang trấn đóng ở phía Bắc vùng núi Pyrenées. Trong khi đó, quân Áo tấn công mạnh ở Ý, vượt sông Adige, tiến chiếm Romagna. Trước sức tấn công mạnh và thắng lợi của quân Áo, chính quyền vương quốc Naples vốn thân thiết với ông, quay ra phản lại ông, và thương thuyết với Áo.

4. Hoàng Đế Napléon I Thoái Vị

Tháng 1/1814, quân Liên Minh Thánh Anh – Nga – Áo - Phổ - Vatican từ các ngả phía Nam, phía Đông tấn công vào lãnh thổ Pháp. Theo sau đoàn quân xâm lăng Liên Minh Thánh này, có những tên Pháp gian gồm những thành phần bảo hòang, phản động và bọn người cuồng nô vô tổ quốc “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” đi theo. Tình trạng này giống y như bọn Việt gian và tín đồ Ca-tô người Việt đi theo đoàn quân xâm lăng Liên Minh Thánh  Pháp - Vatican trong thời 1858-1884 và thời Kháng Chiến 1945-1954 ở Việt Nam ta.

Bọn Pháp gian này đưa ra khẩu hiệu “Chống Napoléon chứ không chống nước Pháp” (giống như bọn Việt gian thập ác đưa ra khẩu hiệu “Chống Việt Minh Cộng Sản, chứ không chống nước Việt Nam.”) Khẩu hiệu này có tác dụng làm cho một số người Pháp xa rời ông. Trong khi đó, Quốc Hội Pháp, trước kia vẫn ngoan ngoãn trung thành với ông, vào lúc này lại trở mặt, lên tiếng đòi hòa bình và đòi tự do chính trị.

Tháng 3/1814, các nước trong Liên Minh Thánh Anh – Nga – Áo - Phổ - Vatican đồng ký thỏa hiệp cam kết cùng nhau chến đấu cho đến ngày lật đổ được Napoléon, không quốc gia nào được thương thuyết riêng với chính quyền Pháp. Ngày 10/3/1814, quân Liên Minh Thánh tiến gần tới kinh thành Paris. Lúc đó, Napoléon đang thân chinh điều quân tiến về phía Đông để đánh bọc hậu địch quân. Lợi dụng lúc ông không có mặt ở Paris, phe bảo hoàng và phe phản Cách Mạng nhẩy ra hoạt động mạnh. Họ thành lập chính phủ lâm thời và đưa nguyên Ngoại Trưởng Charles-Maurice de Talleyrand-Perigord lên làm tổng thống lâm thời để chuẩn bị phục hồi chế độ đạo phiệt Ca-tô và vương quyền của dòng họ Bourbons bằng cách đưa người em của vua Louis XVI lên ngai vàng.

Khi về tới Fontainbleau, Hoàng Đế Napoléon I được tin chính phủ lâm thời Taylleyrand đã đầu hàng Liên Minh Thánh rồi. Đứng trước tình thế tuyệt vong này, khồng biết làm gì hơn, ông đành phải nghe theo lời khuyên của mấy cận thần, ngày 6 tháng 4 năm 1814, ông tuyên bố thoái vị.

Theo Thỏa Hiệp Fontainbleau, Liên Minh Thánh Anh - Nga - Phổ - Áo quyết định:

1). Lưu đày ông ra hải đảo Elba nằm trong Địa Trung Hải và dành hòn đảo này cho ông như là một lãnh địa riêng của ông,

2). Hàng năm, nước Pháp phải trợ cấp cho ông 2 triệu Francs và 400 binh sĩ canh gác,

3). Ông vẫn được giữ tước hiệu hòang đế.

Vố kế khả thi, ông đành phải chấp nhận quyết định này của Liên Minh Thánh, rồi ngỏ lời từ biệt đoàn vệ binh cố cựu của ông trước giờ lên đường đi sống kiếp lưu đày. Trên đường đi, có âm mưu ám hại ông, những may mắn, ông lại thóat hiểm. Ngày 4 tháng 5 năm năm 1814, ông tới đảo Elba. Năm đó, ông vừa đúng 45 tuổi, cái tuổi đầy sinh lực cho cuộc đời họat động chính trị đối với những người ưa thích lao vào chính trường.

5. Napoléon I Trở Về Pháp Và 100 Ngày Phục Hưng Quyền Chính

Tới hải đảo Elba, Naopléon tuyên bố: “từ nay ta muốn sống hòa bình và công chính.” Thế nhưng, một người đầy tham vọng chính trị lại đang ở trong tuổi xuân phơi phới như ông thì làm sao có thể sống an phận lưu đầy trong một hòn đảo nhỏ bé? Và làm sao có thể quên được mối nhục thảm bại đau thương mất hết cả sự nghiệp đế vương?

Một trong những lý do nhân dân Pháp chán nản, không còn thiết tha với ông nữa là do chiến tranh đã kéo dài cả hơn hai mươi trời. Tuy nhiên, không phải vì thế mà đại khối nhân dân Pháp muốn đem con cháu dòng họ Bourbons trở lại ngai vàng để tái lập chế độ đạo phiệt Ca-tô như thời trước tháng 7/1789. Họ vẫn còn say mê với những công trình của Cách Mạng dù rằng Liên Minh Thánh và bọn Pháp gian đã đưa người em của vua Louis XVI lên ngai vàng lấy vương hiệu là Louis XVIII (1814-1824).

Louis XVIII và Charles X

Louis XVIII và bọn chân tay trước kia đã chẳng làm được gì có lợi cho nước Pháp, nay bỗng dưng được người ngọai quốc đưa về nhẩy lên bàn độc. Bọn người này là những kẻ đê tiện, tham lam, thiển cận, không lượng định được hậu quả của những việc làm bất chính và bất nhân của chúng, vàcũng không hiểu rõ lòng dân đối với chúng. Được người ngọai quốc cho lên nắm quyền chính, chúng không lo xây dựng đất nước đã tan hoang vì chiến tranh trong mấy chục năm trời, không lo hàn gắn vết thương dân tộc vẫn còn xưng tấy gây ra bởi giai cấp thống trị cúa thời tiền Cách Mạng và chiến tranh để lại. Trái lại, chúng lại hăng say lao đầu vào làm những việc trả ân, báo oán, tìm cách trả thù những thành phẩn trước kia đã tham gia hay có liên hệ với Cách Mạng. Chúng tìm đủ mọi cách vơ vét cho đầy túi tham. (Những hành động này giống y hệt như những hành động trả thù báo ân báo oán của vua Lế Chiêu Thống và bọn tòng vong ở Thăng Long vào cuối năm 1788 khi vừa mới được Tôn Sĩ Nghĩ đưa về Việt Nam làm tay sai cho nhà Thanh.) Vì vậy mà nhân dân Pháp vốn đã khinh bỉ và căm thù chúng về cái tội phản quốc làm tay sai cho Liên Minh Thánh, giờ đây lại càng khinh bỉ và căm thù chúng nhiều hơn. Vì vậy mà nhân dân Pháp lúc đó vô cùng bất mãn và căm thù chính quyền Louis XVIII và bọn Pháp gian cuồng nô vô tổ quốc. Cũng vì thế mà khắp trong nước Pháp ở đâu cũng có hội kín mưu đồ đạp đổ bạo quyền đạo phiệt Da-tô.

Trong khi đó, chính quyền đạo phiệt Da-tô Louis XVIII lại không gửi tiền trợ cấp cho Hòang Đế Napoléon như đã qui định trong Thỏa Hiệp Fontainbleau. Ở ngòai đảo, Napoléon lâm vào cảnh túng thiếu. Buồn hơn nữa, Hoàng Hậu Marie Louise cũng không dẫn con ra thăm ông. Ông tìm đủ mọi cách để theo dõi tình hỉnh ở trong đất liền. Nhờ vậy, ông hiểu rõ lòng dân đang bất mãn với chính quyền đạo phiệt Da-tô Louis XVIII. Ông cho rằng thời cơ đã đến.

Ngày 1/3/1815, ông cùng toán lính cận vệ đổ bộ vào Cannes, vượt dẫy Alpes, tiến thẳng về kinh thành Paris. Ông đi đến đâu, anh em nông dân và những người trước kia có liên hệ với Cách Mạng tề tựu lũ lượt đi theo ông. Tin ông trở về lục địa như tiếng sét làm rúng động cả triều đình Paris. Vua Louis XVIII sai một đạo binh đi bắt ông. Trước khi đi, viên tướng chỉ huy đạo binh này hùng hổ thề với Louis XVIII rằng sẽ bắt ông cho bằng được, nhưng khi tới Grenoble, gặp ông, viên tướng này lại run sợ rồi đem cả đạo binh xin theo ông.

Ngày 20/3/1815, ông về tới Paris. Louis XVIII và quần thần cùng băng đảng bảo hoàng hoảng hốt bỏ chạy cho thóat thân. Nhân Dân khắp nơi trong nước tràn ra ngập đường reo mừng đón tiếp ông về giống như nhân dân Pháp mừng đón ông từ Ai Cập trở về vào cuối năm 1799. Người ta coi việc trở về của ông như là hiện thân của Cách Mạng, chứ không phải là sự trở về của một ông hoàng đế bại trận năm truớc.

Ngay khi về vừa về tới Paris, ông lo chỉnh bị lại quân đội và hệ thống phòng thủ để đối phó với quân xâm lăng Liên Minh Thánh Anh - Nga - Áo - Phổ - Vatican. Lúc đó, quân đội Liên Minh Thánh cũng đã tiến sát tới biên giới. Ngày 16/6/1815, ông đánh bại đạo quân Phổ ở Ligny. Ngày 18/6, ông đem đại quân sang Bỉ để đối phó với quân Anh ở Waterloo do Tướng Wellington chỉ huy. Trận đánh này vô cùng gay go, cực kỳ ác liệt, và quân Anh gần như bị đánh bại. Bỗng nhiên, đại quân Phổ dưới quyền chỉ huy của Tướng Gebbard Blucher tràn đến đế tăng viện cho quân Anh. Quân Pháp ở vào thế lưỡng đầu thọ địch. Dù rằng tinh thần quân sĩ rất hăng và chiến đấu hết mình, nhưng “mãnh hổ nan địch quần hồ”, ông đành phải bó tay buông súng đầu hàng, làm thân bại tướng, đau lòng nhìn cảnh cờ rũ quân tan.

Người Anh quyết định đưa ông đi lưu đầy ở hải đảo Saint Helena xa xôi ở giữa Đại Tây Dương với chủ tâm là để ông không thể nào trở về đất Pháp được nữa. Ở đây, ông bị người Anh canh chừng nghiêm ngặt và ngược đãi. Tháng 4 năm 1821, biết rằng không còn sống được bao lâu nữa, ông trối trăng với đám cận thần rằng, “Ta muốn sau khi ta chết, tro bụi của thân xác ta sẽ được đem về rắc lên hai bên bờ sông Seine giữa lòng thủ đô của nhân dân Pháp mà ta vô vàn thương mến. Ta sẽ chết trước khi bọn họat đầu chính trị Anh thuê người ám hại ta.”

5 giờ 49 phút sáng ngày 5/5/1821, ông trút hơi thở cuối cùng ở bên cạnh mấy người cận thần thân tín, thọ 52 tuổi. Người ta liệm cho ông bằng bộ đồ quân phục mà trước kia ông vẫn hằng ưa thích nhất.

 

III. Nền Đệ II Cộng Hòa Pháp Với Louis NapoléoneBị Biến Thành Đế Quốc Đạo Phiệt Ca-tô
(1848-1870)

Louis Napoléon sinh ngày 20/4/1808. Ông là cháu gọi Hoàng Đế Napoléon I là chú ruột. Sau thảm bại tại trân đánh Waterloo ở Bỉ vào ngày 18/6/1815, Hoàng Đế Napoléon I bị lưu đày ra đảo Saint Helens, chế độ đạo phiệt Ca-tô được tái lập. Những thành phần tham dự và ủng hộ cuộc Cách Mạng 1789 và chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I đều bị lăng nhục và bị triệt hạ bằng mọi cách như đã nói ở trong Chương 111. Gia đình và thân nhân của Hoàng Đế Napoléon I bị truy lùng ráo riết. Riêng Hoàng Hậu Marie Louise và mấy người con được triều đình nước Áo che chở nên thoát nạn. Lý do là vì bà vốn là công chúa của nước Áo. Lúc đó, Louis Napoléon mới có 8 tuổi cũng phải trốn ra khỏi nước Pháp, chạy sang nước Ý sống lưu vong. 

Cũng nên biết là vào những năm này, nước Ý có nhiều tiểu quốc, mỗi tiểu quốc tương đương với một tỉnh, trong đó, có một số tiểu quốc ở miền Trung nằm dưới quyền trục trịp của Tòa Thánh Vatican. Những tiểu quốc này gọi là “papal states” và nằm dưới quyên bảo vệ của nước Áo.

Trong những năm 1830-1831, phong trào Cách Mạng bùng lên ở Ý và nhiều nước Âu Châu khác. Louis Napoléon tham gia Cách Mạng ở miền Trung nước Ý chống lại chính quyền của Vatican ở kinh thành Rome. Cuộc Cách Mạng này bị chính quyền Áo đàn áp. Có nhiều người bị thiệt mạng, và nhiều người bị bắt giam.  Riềng Louis Napoléon thoát nạn vì được vị sĩ quan người Áo chỉ huy quân đội đàn áp cuộc cách mạng này che chở. Có người cho rằng vị sĩ quan này là bà con với thân mẫu của ông. Tuy nhiên, dù là chính quyền Áo liên kết với phe bảo thủ và phản động thẳng tay đàn áp các phong trào nổi dậy, ông cũng vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng chống lại các chính quyền phản động phong kiến Âu Châu. Cuối năm 1836, ông bị chính quyền Pháp của vua Louis Philippe lưu đày sang Thụy Sĩ. Ở đây, ông tiếp tục họat động cách mạng. Vì vậy, năm 1838, ông bị chính quyền Thụy Sĩ trục xuất, ông phải di chuyển sang Anh quốc. Ngày 6 tháng 8 năm 1840, ông cùng 56 đồng chỉ từ Anh dùng thuyền lén trở về Pháp, đổ bộ ở một địa điểm gần Boulogne, những bị bắt và bị xử giam vĩnh viễn tại một lâu đài gọi là “University of Ham”. Trong thời gian bị giam ở đây, ông móc nối và liên lạc với các thành phần cách mạng thiên tả. Năm 1844, ông nhờ họ đăng bài “Hủy diệt cảnh nghèo đói” (Extinction du pauperisme) của ông. Ngày 25/5/1846, ông vượt ngụ trốn sang Anh.

Ngày 21/2/1848, cách mạng bùng nổ ở Paris, vua Louis Philippe tẩu thóat, trốn đi sống lưu vong ở nước ngòai.  Chính phủ lâm thời được thành lập và thi hào Lamartine được đưa lên làm tổng thống. Nhận được tin Cách Mạng bùng nổ ở Paris, Louis Napoléon vội vã trở về Pháp để tham gia Cách Mạng.

Chính trong thời gian này, bản Tuyên Ngôn Cộng Sản (Communist Manifesto) của hai ông Karl Marx (1818-1883) và Frederick Engels (1820-1895) được công bố. Cũng vào thời gian này, phe Xã Hội Cấp Tiến do Louis Blanc lãnh đạo đưa ra kế hoạch cải cách xã hội để làm giảm nhẹ tỉnh cảnh khốn cùng của đại khối dân nghèo thất nghiệp bằng cách thành lập “Công Xưởng Quốc Gia” (National Workshop), theo đó thì các nhà máy kỹ nghệ được thiết lập bằng tiền tài trợ của nhà nước và do anh em công nhân quản lý. Giới tư bản, tư sản và những người ôn hòa không ưa kế hoạch này. Họ đề nghị sửa đồi thành một dự án thâu nhận những người thất nghiệp vào làm những công việc công cộng được trả tiền trợ cấp. Chẳng bao lâu có tới 20% người dân trong kinh thành Paris sống tùy thuộc vào dự án này.  Vì thế mà ngân quỹ quốc gia vốn đã thiếu hụt lại càng trở nên thiếu hụt.

Tháng 5 năm 1848, nước Pháp bầu xong Quốc Hội Lập Hiến. Kết quả có nhiều thành phần tư sản và ôn hòa được bầu vào trong Quốc Hội. Ngày 18/5 Quốc Hội nhóm phiên họp đầu tiên và bắt đầu thay thế chính phủ lâm thời. Việc làm đầu tiên của Quốc Hội là giải tán Công Xưởng Quốc Gia. Việc làm này khiến cho công nhân bị thất nghiệp  nổi lọan chống chính quyền. Kể từ ngày này, Paris ở trong tình trạng hỗn lọan với những cuộc chiến giữa một bên là những công nhân thất nghiệp được đại khối dân nghèo lao động nhiệt tình ủng hộ và một bên là quân lính chính phủ và giai cấp tư sản, những người giầu có cùng với những thành phần phản động và phản cách mạng. (Những thành phần phản động và phản cách mạng là những thành phần quý tộc, tư bản và bọn con chiên Ki-tô còn tuyệt đối trung thành với Vatican.) Cuộc chiến thật là ác liệt, máu đỏ chan hòa, thây người nằm ngổn ngang trên khắp các đường phố Paris. Sự kiện này được sách Living World ghi lại như sau:

Quốc Hội Lập Hiến được bầu theo cuộc tổng tuyển cử chỉ có nam công dân được đi bầu, khởi họp vào tháng 5/1848 và thay thế chính phủ lâm thời. Hầu hết những đại biểu trong Quốc Hội là những người ôn hòa chống lại chủ nghĩa xã hội. Khi họ quyết định hủy bò công xưởng quốc gia thì công nhân nổi loạn chống lại. Suốt 3 ngày trong tháng 6 (1848), cuộc nội chiến ác liệt diễn ra giữa một bên là những người nổi lọan và một bên là quân lính chính quyền ở khắp các đường phố trong kinh thành Paris. Công nhân bị đánh bại và có tới 10 ngàn người bị thiệt mạng. Những “Ngày Tháng Sáu” này để lại mối hận thù cay đắng giữa những người dân nghèo lao động và giai cấp trung lưu ở Pháp.” [Arnold Schrier & Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott, Foresman and Company, 1974), p. 438.] (2)

Cuối cùng rồi đâu cũng vào đó và trật tự được vãn hồi.

Tháng 12 năm đó, tân chính quyền cho tổ chức bàu cử chọn người làm tổng thống cho nền Đệ II Cộng Hòa. Trong kỳ bầu cử này, có 6 ứng cử viên là các ông Louis Naopléon, Tướng Calvaignac, Tướng Changarnier, thi hào Lamartine, ông M. Ledru Rollin và ông M. Raspail.

Louis Napoleon

Trong số 6 ứng cử viên này, Louis Napoléon có nhiều lợi điểm hơn cả. Ông vừa là là cháu gọi Hoàng Đế Napoléon I là chú ruột (vị hoàng đế anh hùng mà nhân dân Pháp kính mến và tôn vinh như là một vị  cứu tinh của dân tộc), vừa có thành tích hoạt động cách mạng chống lại phe bảo thủ và chống lại Giáo Hội La Mã, vừa là con người có thủ đoạn chính trị. Vì thế mà Louis Napoléon thắng cử một cách dễ dàng với kết quả như sau:

Louis Napoleon  5.434.226 votes
Tướng Cavaignac 1.448.107
M. Ledru Rollin      370.119
M. Raspail                       36.900
M. Lamartine         17.900
Tướng Chagarnier               4.790. [J. M. Thompson, Louis Napoleon (New York: The Noonday Press, 1955), p.97.]

Nói về cuộc bầu cử này và con người của Louis Napoléon, sách Living World History viết:

Những ngày Tháng Sáu cùng làm cho Quốc Hội Lập Hiến lo sợ phải sọan thảo hiến pháp với một tổng thống mạnh (có nhiều quyền hành) được tuyển chọn qua một kỳ tổng tuyển cử chỉ có nam công dân mới được tham dự. Cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức vào tháng 12 năm 1848, người cháu của Hòang Đế Napoleon I là ông Hoàng Louis Napoléon đã thắng cử với đại đa số tuyệt đối. Một con người đầy tham vọng bắt đầu một kế họach củng cố quyền lực hết sức thận trọng.” (3)

Như đã nói ở trên, Louis Napoléon là người có thủ đoạn chính trị. Cũng vì thế mà ngay khi vừa được tuyển chọn lên nắm chính quyền chế độ Đệ Nhị Cộng Hoa Pháp Quốc, ông liền tìm cách liên kết với phe bảo thủ và phản động để củng cố thế lực và dần dần biến chính quyền thành một chế độ độc tài vào cuối năm 1851, rồi đến cuối năm 1852, sau khi đã bố trí được tất cả các tên tay sai đắc lực vào nắm giữ tất cả những chức vụ chỉ huy các cơ quan quan trọng trong chính quyền, ông tuyên bố nước Pháp là một đế quốc theo chế độ quân chủ trung ương tập quyền và tự tuyên xưng là “hòang đế”. Sách sử gọi ông là Hoàng Đế Napoléon III. Việc làm này làm cho những thành phần có tinh thần cách mạng cấp tiến chống lại ông. Biết rõ trong tình thế này, Louis Napoléon cần được sự ủng hộ của Giáo Hội La Mã để chống lại phe cấp tiến. Tòa Thánh Vatican liền chụp lấy cơ hội bằng vàng này, tìm cách liên kết với Louis Napoéon để khai thác. Thế là chẳng bao lâu, tháng 1 năm 1853, giáo triều Vatican sắp đặt được một nữ chiên ngoan đạo Eugénie Marie de Montijo de Guzmán hết sức quyến rũ, mới có 27 tuổi (sinh năm 1826) của nước Tây Ban Nha trở thành người bạn chung chăn chung gối với ông hòang đế xấu xí sắp bước vào cái tuổi “tri thiên mệnh”. Như vậy là Giáo Hội La Mã đã bố trí được người của giáo hội trở thành nhân vật thân tín và quan trọng nhất trong thượng tầng chính quyền Pháp và cũng là có ảnh hưởng vô cùng lớn lao trong chính sách đối ngoại của nước Pháp trong thời Hòang Đế Napoléon III:

(Eugénia Maria de Montijo de Guzmán (b. May 5, 1826, Granada, Spain, d. on July 11, 1920 in Madrid), wife of Napoleon III and empress of France (1853-1870), who came to have an important influence on her hudband’s foreign policy.” [“Eugenie.” Encyclopaedia Britannica (Micropaedia Vol. III) Edition 1980, p.990.]

Kể từ đây, khối Pháp cừu “ngoan đạo” trong các vùng Bretgne, Normandie và Vendée và ở rải rác nhiều nơi trong toàn quốc trước kia quyết tâm chống lại Cách Mạng 1789 và chống chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I bây giờ quay trở lại triệt để ủng hộ và bảo vệ chính quyền của Tổng Thống Louis Napoléon.

Nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy rằng, sau khi nữ chiên ngoan đạo Eugénie trở thành hoàng hậu của nước Pháp, nghiễm nhiên,  quyền lực của Giáo Hội La Mã ngự trị ở ngay trong hậu trường triều đình Hòang Đế Napoléon III. Vì thế mà những người của Giáo Hội La Mã như Tổng Giám Mục Bonnechose thuộc địa phận Rouen, Bá Tước Brenier, Cintra được đưa vào nắm giữ những vai trò quan trọng trong chính quyền hoặc là chính thức hoặc là chỉ giữ một vài trò “chìm” ở hậu trường.

Tổng Lược Tinh Hình Nước Pháp Từ Cách Mạng1789 Đến Năm 1854: Đọc lịch sử nước Pháp, 8húng ta thấy rằng sau mấy trăm năm tranh đấu và đổ ra không biết bao nhiêu là xương máu, cho mãi tới tháng 7 năm 1789, dân tộc Pháp mới dứt bỏ được chế độ đạo phiệt Da-tô bạo tàn của Giáo Hội La Mã. Những tưởng rằng ngọn đuốc “Tự Do, Bình Đẳng và Bác Ái” đã được Cách Mạng Pháp 1789 thắp lên và dâng cao soi sáng nhân dân thế giới sẽ không bao giờ bị dập tắt. Thế nhưng, Giáo Hội La Mã và thế lực phong kiến và phản động Âu Châu vẫn còn đủ mạnh để đè bẹp các phong trào cánh mạng ở Âu Châu và phục hồi đước chế độ đạo phiệt Ca-tô ở Pháp trải dài qua các vương triều Louis XVIII (1814-1824), Charles X (1824-1830), Louis Philippe (1830-1848) và Napoléon III (1852-1870.) Trong những năm nằm dưới ách thống trị bạo tàn của các vương triều này, nhân dân Pháp lại phải gánh chịu không biết bao nhiêu là đắng cay tủi nhục. Đặc biệt là những năm 1815-1830, những người chiến đấu cho Cách Mạng và ủng hộ Cách Mạng bị trả thù hết sức dã man và được các nhà viết sử gọi là thời kỳ “Khủng Bố Trắng”. Suốt trong thời kỳ này, nhân dân Pháp sống trong kinh hoàng vì luôn luôn ở trong tình trạng bị khủng bố, không biết giờ phút nào bị bọn Pháp cừu cuồng nô vô tổ quốc mệnh danh là “phong trào quần chúng” (ngôn từ đạo Ca-tô) đến kiếm chuyện để hành hạ, gây nên không biết bao nhiêu cảnh đầu rơi máu chảy, và xác người ngổn ngang trên khắp các nẻo đường đất nước. Rồi Cách Mạng 7/1830 bùng nổ, nhưng rồi cũng thoái trào vì bọn phản động thân Vatican toa rập cùng với bọn tư bản và hoạt đầu chính trị biến chính quyền thành bộ máy đàn áp nhân dân và công cụ phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng. Tình trạng này đã khiến cho nhân dân Pháp lại phải một lần nữa đứng lên làm các mạng lật đổ vương quyền của vua Louis Philippe (1830-1848), thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hoà (1848-1851).

Phe Xã Hội của Louis Blanc (1811-1882) thắng thế trong quốc hội đưa đến việc thành lập Công Xưởng Quốc Gia, trợ cấp cho tất cả mọi người thất nghiệp, khiến cho ngân quỹ Pháp thiếu hụt, và chi mấy tháng sau Công Xưởng Quốc Gia bị giải tán. Việc làm này khiến cho anh em công nhân bất mãn và chống lại chính quyền và gây nên những ngày đẫm máu vào đầu tháng 6/1848.

Tình trạng này đã tạo cơ hội bằng vàng cho Louis Napoléon đắc cử tổng thống được tổ chức vào tháng 12/1848. Rồi Cách Mạng 1848 bị phản bội khi Tổng Thống Louis Napoléon quay ra liên kết với phe bảo thủ phản động thân Giáo Hội La Mã làm cuộc đảo chánh vào tháng 12/1851, hủy bỏ Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hóa, biến chính quyền thành một chế độ phiệt Ca-tô, rồi lập nền Đệ Nhị Đế Chính và tự phong là Hoàng Đế (Napoléon III). Phải chờ tới hai thập niên sau, khi chế độ đạo phiệt Ca-tô của Napoléon III bị sụp đổ vào năm 1870, nhân dân Pháp mới chính thức giã từ vĩnh viễn nền quân chủ và tiến hành những biện pháp dứt bỏ luôn được cái ách Ca-tô của Giáo Hội La Mã.

III. Kết Luận

Trở lại cuộc đảo chính hụt ở Tòa nhà Quốc Hội (điện Capitol) ở Hoa kỳ, có rất đông người Việt chống Cộng cực đoan mang "cờ vàng ba sọc đỏ” tham gia xông vào Tòa nhà Quốc Hội cùng với các phe nhóm cực đoan khác.

Họ đều là những người ủng hộ cho Tổng Thống Trump đến độ chà đạp những nguyên tắc dân chủ. Bất kể những sự thật được trưng bày, họ chỉ tin theo những nguồn tin giả liên tục phổ biến từ thế lực của phe Cộng Hòa quá khích ủng hộ Cựu TT Trump. Họ vu cáo rằng cuộc bầu cử gian lận, mặc dù 4 năm qua Đảng Cộng hòa làm chủ đất nước, mặc dù khoảng 60 cái đơn tố cáo đều bị tòa án dẹp bỏ vì không có bằng chứng. Trái lại, có nhiều bằng chứng chính ngài Tổng Thống Trump công khai ép tiểu bang Georgia thay đổi kết quả bầu cử (xem bản tin Thời Sự ngày Jan 5, 2021) và nhiều bằng chứng rất hiển nhiên ngay trong lời ông Trump hô hào ngày 6 tháng 1, 2021 quyết chiến để ngăn chận Quốc Hội công bố phiếu đại cử tri đã bầu cho ông Joe Biden. Về việc này, ông Trump đã bị chính Thượng Nghị Sĩ Mc Connell đại diện phe Cộng Hòa lên tiếng kết án dù chính ông đã bỏ phiếu tha bổng ông Trump ở Quốc Hội mấy ngày trước đây.

Nếu biến cố 6/1 thành công theo ý muốn của người chủ trương và những người tham dự, ắt hẳn là chế độ dân chủ của Hoa Kỳ được thành lập theo Hiến Pháp Hoa Kỳ 1789 bị khai tử, giống như những giai đoạn lịch sử theo sau Cách Mạng Pháp đã lật đổ Chế Độ Cộng Hòa Pháp để thành lập Đế Chính như kể trên.

 

_________

Video:

Từ Đảo Chính Hụt Ngày 6/1/21 Mỹ - Nghĩ Về Các Cuộc Cách Mạng Pháp - Nguy Cơ Cờ Vàng

_________

Chú thích:

(1) Nguyên văn: “The Consulate lasted five years, a period during which Napoleon carried out a number of important reforms in France. He centralized the government and increased its efficiency and power. He offered stability and internal order to all willing to work for him – royalists and repubilcan alike.

In many ways, Napoleon completed the work of revolution. All remaining privileges were swept away once for alll. Promotion and rank, whether in government or in the army, were based on proven ability, regardless of social origin. Careers were “open to talent”. The reformed tax system, which had been introduced in principle in 1789, became a matter of practice after 1799. Inflation was halted and the national debt stabilized. Probably the most famous of Naopleon’s reforms was the modernization of French law in a series of five codes known collectively as the Code Napoleon. They firmly established throughout the land the principle of equality before the law.”) 

(2)  Nguyên văn: “The Constituent Assembly, elected by universal manhood suffrage, met May 1848 and replaced the provisional government. Most members were moderates opposed to socialism. When they decided to abolish the national workshop, the workers again revolted. For three days in June, a savage civil war rage in the streets of Paris as insurgents fought against the troops of the assembly. The workers were defeated, and 10 thousand frenchmen lost their lives. These “June Days” left a legacy of bitter hatred between the workers and the middle class in France.”

(3) “The June Days also frightened the Constituent Assembly into drafting a constitution with a strong president to be elected by universal manhood suffrage. When elections were held in December 1848, the nephew of Napoleon, Prince Louis Napoleon, was elected president by an overwhelming majority. An ambitious man, set about carefully and methodically to build up his own power.” [Arnold Schrier & Walter Wallbank, Ibid., p. 438.]