●   Bản rời    

Xét Lại Vụ Đánh Cuộc Của Pascal - 2 Hoài nghi Thánh Kinh, cách sống của giáo sĩ, và quyền thống trị của Giáo Hội.

Xét Lại Vụ Đánh Cuộc Của Pascal - 2

(dẫn nhập vào văn hóa & tôn giáo thời Phục Hưng)

Trần Trọng Sỹ

http://sachhiem.net/TTS/VH/TranTrongSy_vh7a.php

24-Jul-2019

...Để chứng tỏ việc truyền bá kinh Thánh là một sự kiện mà Giáo Hội không bao giờ muốn, ta có thể thấy phản ứng của Giáo Hoàng Phanxicô nhân dịp in lại cuốn Thánh kinh ở Đức trong nằm trong chương trình sưu tập Youcat (Giáo Lý của Giáo Hội Ca-to-lic cho Thanh Niên) ngày 21 tháng 10 năm 2015, ngài tuyên bố rằng kinh Thánh là cuốn sách nguy hiểm đến nỗi trong nhiều quốc gia, người ta đã xem việc sở hữu nó tương đương với việc tàng trữ lựu đạn giết người trong tủ đựng quần áo,

(tiếp Kỳ 1:)

- II – Chủ Nghĩa Hoài Nghi

A – Hoài nghi về Thượng Đế và thế giới do ngài tạo dựng

(Kỳ 2:)

B – Hoài nghi Thánh Kinh và cách sống của giáo sĩ


Johannes Gutenberg

Sự phát minh ra máy in (Johannes Gutenberg, khoảng 1440 - 1450) là một cuộc cách mạng văn hóa ở Âu châu.

Trước khi có máy in, kinh Thánh chỉ là những bản chép tay bằng La Tinh, bằng tiếng Hy Lạp hoặc Hebrew rất ít được truyền bá trong dân chúng. Duy các tu sĩ mới có thẩm quyền đọc kinh Thánh, và họ toàn quyền diễn dịch kinh theo sở học, sự hiểu biết, và ý muốn của từng giáo sĩ. Sự hiểu biết về Thánh kinh trong thời đại này có thể là tấm giấy thông hành vào địa vị xã hội và quyền lực, tuy nhiên Giáo Hội chưa bao giờ muốn lưu truyền cuốn kinh Thánh ra ngoài quần chúng, tất cả mọi diễn giải kinh Thánh đều phải qua bàn tay kiểm duyệt khắt khe của Giáo Hội.

Công Đồng Toulouse, năm 1229, cấm người thế tục sở hữu kinh Cựu Ước hay kinh Tân Ước. Và ngoài ra còn cấm phiên dịch.

Công Đồng Tarragona năm 1234 đưa ra công bố cấm sở hữu kinh Thánh cả Cựu Ước lẫn Tân Ước bằng tiếng La Tinh, nếu ai có cuốn nào thì phải giao nộp cho giám mục sở tại trong vòng 8 ngày, ai trái lệnh sẽ bị thiêu sống...

Đại Công Đồng Toàn Cầu tại Constance năm 1451, tuyên án giáo sư John Wyclifffe của đại học Oxford là đã dịch kinh Phúc Âm ra tiếng Anh để mọi người được nghiền ngẫm từng câu nói của Chúa Kytô. Dịch phẩm được đưa ra sau khi chết, nên tổng giám mục Arundel của giáo Phận Canterbury lên án là 'dị giáo' và bị tuyên phạt phải bêu thây, rồi đem đốt thành tro trước công chúng, xong đem tro quăng xuống sông Swift.

Năm 1536, William Tyndale, dù biết bị cấm đoán, vẫn dịch kinh Thánh sang Anh ngữ, nên bị thiêu sống. Theo William Tyndale thì Giáo Hội cấm truyền bá kinh Thánh vì muốn được toàn quyền diễn giảng để nâng cao vị thế  và quyền lực của mình.

(Decree of the Council of Toulouse (1229 C.E.): “We prohibit also that the laity should be permitted to have the books of the Old or New Testament; but we most strictly forbid their having any translation of these books.”

Ruling of the Council of Tarragona of 1234 C.E.: “No one may possess the books of the Old and New Testaments in the Romance language, and if anyone possesses them he must turn them over to the local bishop within eight days after promulgation of this decree, so that they may be burned...”

Proclamations at the Ecumenical Council of Constance in 1415 C.E.: Oxford professor, and theologian John Wycliffe, was the first (1380 C.E.) to translate the New Testament into English to “...helpeth Christian men to study the Gospel in that tongue in which they know best Christ’s sentence.” For this “heresy” Wycliffe was posthumously condemned by Arundel, the archbishop of Canterbury. By the Council’s decree “Wycliffe’s bones were exhumed and publicly burned and the ashes were thrown into the Swift River.”

Fate of William Tyndale in 1536 C.E.: William Tyndale was burned at the stake for translating the Bible into English. According to Tyndale, the Church forbid owning or reading the Bible to control and restrict the teachings and to enhance their own power and importance.]

(https://www.huffingtonpost.com/bernard-starr/why-christians-were-denied-access-to-their-bible-for-1000-years_b_3303545.html)

(Kỳ 1 =>)

- I - Phân Loại Phạm Trù Tư Tưởng Của Pascal

- II – Chủ Nghĩa Hoài Nghi

A - Hoài nghi về Thượng Đế và thế giới do ngài tạo dựng

Kỳ 2:

Gồm các mục:

B – Hoài nghi Thánh Kinh và cách sống của giáo sĩ

C - Hoài nghi về quyền thống trị của Giáo Hội.

C.1 phong trào Nhân Bản Phục Hưng.

C.2 Giả tạo chiếu vua để cướp nước

C.3 Phân định, chia tách giáo quyền và thế quyền, hình thành chủ nghĩa quốc gia

C.4 Sự tan rã thành nhiều giáo hội Kytô độc lập với Rôma

(Kỳ 3 =>)

(Kỳ 4 =>)

 

Lý do có sự cấm đoán kỳ quặc này, xin đọc bài báo ở trên, đại khái vì giáo hội Rôma sợ người ta thấy rõ trong cả hai cuốn kinh hoàn toàn không đề cập đến từ ''Kytô'' (Christ) hay ''Kytô giáo'' (Christianism) mà chỉ nói đến người Do Thái hoặc Do Thái giáo, chứng tỏ rằng, Giêsu vẫn là môn đồ Do Thái giáo, những gì khác là do bịa đặt.

Tôi rất mất công trong việc giới thiệu, phê bình, và đưa nguồn lên bài viết, nhưng nói thực ngay cả việc trích dẫn kinh Thánh, giấy trắng mực đen trước mắt, có khi con chiên còn cho là bịa đặt vu cáo, huống gì viết mà không có nguồn, nên xin các độc giả lượng thứ cho tính nặng nề của những bài viết.

Từ những dữ kiện lịch sử trên, ta có thể thấy, việc truyền bá kinh Thánh là tội chết chứ chẳng phải chuyện đùa. Đây là việc mà ngay kẻ ngoại đạo cũng khó tin, nói gì là con chiên Công Giáo.

Để chứng tỏ việc truyền bá kinh Thánh là một sự kiện mà Giáo Hội không bao giờ muốn, ta có thể thấy phản ứng của Giáo Hoàng Phanxicô nhân dịp in lại cuốn Thánh kinh ở Đức trong nằm trong chương trình sưu tập Youcat (Youth Catechism of the Catholic Church) ngày 21 tháng 10 năm 2015, ngài tuyên bố rằng kinh Thánh là cuốn sách nguy hiểm đến nỗi trong nhiều quốc gia, người ta đã xem việc sở hữu nó tương đương với việc tàng trữ lựu đạn giết người trong tủ đựng quần áo, và ngài trích dẫn câu nói của thánh Gandhi đầy ý nghĩa như sau:

Này các bạn Kytô giáo, các bạn có trong tay một cuốn sách chứa đựng đủ chất nổ để phá nát thành tro bụi toàn bộ văn minh nhân loại. [Vous autres chrétiens, vous avez entre vos mains un livre qui contient suffisamment de dynamite pour réduire en miettes toute la civilisation].

https://www.christiantoday.com/article/pope-francis-says-bible-is-a-highly-dangerous-book-that-he-loves-and-values-above-all-else/68097.htm

Ngoài việc cấm đoán sở hữu kinh thánh, Rô Ma giáo còn có luật kiểm duyệt imprimatur các in ấn thời bấy giờ. Có 3 dấu ấn được giáo hội y chuẩn cho các ấn phẩm vào thời đó bao gồm imprimi potest (peut être imprimé – Có thể in), nihil obstat (rien ne s'y oppose – không gì trở ngại) , và imprimatur (qu'il soit imprimé – hãy in ra).

Trên bìa sách phải có một trong 3 dấu trên thì sách mới được phát hành.

Vào cuối thời Phục Hưng sắp bước qua Kỷ Nguyên Ánh Sáng, có những sách in ra không được chấp thuận theo luật Imprimatur thì sẽ bị Giáo Hội đưa vào danh sách bị cấm đọc L’Index librorum prohibitorum (sách hoặc tác giả bị cấm) như sách của Montaigne, Voltaire, và ngay cả của Blaise Pascal.

Năm 1516, Erasmus ở Rotterdam, Hòa Lan (một trong những khuôn mặt thuộc nhóm Nhân Bản Phục Hưng sẽ được bàn tới sau) in cuốn kinh thánh bằng nguyên ngữ Hy Lạp lần đầu tiên, là một trái bom làm chấn động Giáo Hội. Giới trí thức đã so sánh bản La Tinh và bản Hy Lạp, và họ tìm thấy rất nhiều sai sót từ bản La Tinh. Bản La tinh hay còn được gọi là Kinh Thánh Gutenberg do Jérome dịch ra khoảng năm 400, so từ hai bản Hy Lạp và Hebrew (Do Thái) và được Johanne Gutenberg in ra vào khoảng năm 1454 – 1455 tại Đức. Có 200 ấn bản được in và ngày nay còn lại chừng 50 bản, nhưng chỉ có 21 bản là đầy đủ.

Theo một số học gia, thời đại Phục Hưng không thể tách rời thời đại Cải Cách. Nhờ Phục Hưng mới có Cải Cách, và Cải Cách đã quay ngược làm gia tăng giá trị của Phục Hưng. Bọn trí thức như Martin Luther đã tự nghiên cứu kinh điển thay vì phải luôn dựa vào Giáo Hội để biết kinh nói gì, và khi họ tự nghiên cứu, họ đã tìm thấy nhiều sự khác biệt với giáo điều của Rô Ma.

Nhờ phiên bản song ngữ của Eramus và sự phát minh máy in Gutenburg đã giúp nhóm trí thức Cải Cách can đảm dịch kinh thánh từ nguyên ngữ Hy Lạp và Hebrew (tiếng Do Thái) thay vì bị gò bó vào bản La Tinh (Valgate Latin hay còn gọi là Gutenberg bible). Và thế là Martin Luther dịch ra tiếng Đức, William Tyndale dịch sang tiếng Anh, Pierre Robert Olivétan dịch sang tiếng Pháp, Jacob van Liesveldtin so sánh và dựa vào bản tiếng Đức của Luther để dịch sang tiếng Hòa Lan... William Tyndale bị Giáo Hội Anh lên án, chạy trốn sang Đức, ông vẫn kiên trì dịch và in bản kinh Anh ngữ, có lúc ông trở về Anh, ông phê bình sự ly dị kịch liệt, trong đó có vua, thế là bị truy đuổi, cuối cùng cũng bị bắt tại Bỉ và bị đem thiêu sống. Pierre Robert Olivétan thì cứ mỗi bản dịch có một tên khác nhau, và ông ẩn thân rất kỹ nên chả ai biết ông là ai, mãi sau ông trốn sang Thụy Sỹ từ đó mới yên thân. Còn Jacob van Liesveldtin cũng bị lên án kịch liệt và cũng bị giết chết, theo Harry Freedman trong cuốn ''The murderous history of bible traslations: power, conflict and the quest for meaning'' (lịch sử đẫm máu của các bản dịch thánh kinh: quyền lực, chống đối và sự tìm cầu ý nghĩa).

Thời kỳ Phục Hưng cũng có thể đánh dấu là thời kỳ hùng bá của Giáo Hội La Mã sau 40 năm chia rẽ Giáo Hội do bị ảnh hưởng chính trị từ Pháp đã khiến Giáo Hội có 2 giáo Hoàng, một giáo hoàng ở Rome và một ờ Avignon miền nam Pháp, có khi có đến 3 giáo hoàng, khiến Giáo Hội xâu xé và suy yếu trầm trọng. Nhưng sau khi Công Đồng Constance Âu châu bầu giáo hoàng Martin V (1417-1431) lên ngôi và ngự ở Rome, thì Giáo Hội cũng bắt đầu phục sinh-Renaissance.

Giáo Hoàng Martin V (1417-1431)

Nối tiếp sau giáo hoàng Martin V thì Giáo Hội La Mã xây cung điện theo thể thức vua chúa. Giáo hoàng Sixtus IV là người nổi tiếng xây dựng ngôi thánh đường Sistine, và nội thành nơi các tu sĩ cấp cao của La Mã cư ngụ được xây dựng đẹp hơn, khang trang hơn, trở thành Giáo Triều Phục Hưng. Các dinh thự  xây dựng mang tính chính trị, chúng hoành tráng đưa thông điệp đến thế giới với hàm ý quyền lực của các giáo hoàng là bất khả xâm phạm. Giáo hội rất giàu, vung tiền để tập trung các nghệ sĩ tài hoa nhất, các điêu khắc gia danh tiếng nhất, các kiến trúc sư bực thầy nhất của Ý hay Âu châu để biến thủ phủ Công Giáo thành thành phố vĩnh hằng (eternal city) trên trần thế. Giáo hoàng Julius II thuê họa sĩ  Michelange vẽ nguyên mái trần ngôi thánh đường Sistine. Giáo hoàng Leo X thì bao thầu họa sư Raphael mà ngày nay các bức họa của ông tràn ngập Vatican. Có thể nói nếu không có sự chi tiêu rộng rãi của các giáo hoàng xem tiền như giấy vụn, thì các nghành nghệ thuật về kiến trúc, điêu khắc và hội họa cũng như âm nhạc không có được bước nhảy vọt cho ta những tác phẩm vô giá như hiện nay.

Thời kỳ hùng mạnh của Giáo Hội cũng là điểm để Kytô giáo xuống dốc.

Các giáo hoàng quan tâm đến lợi ích cá nhân và lợi ích của gia đình mình hơn là lo cho Giáo Hội và tín đồ. Các Giáo hoàng thường thể hiện sự ưu ái lớn đối với cháu trai của họ. Nhiều người cháu của Giáo hoàng trở nên rất quyền lực ở La Mã trong cả giáo hội lẫn chính trị. Chẳng hạn, Giáo hoàng Calixtus đưa cháu trai nắm giữ chức vụ cao ở giáo triều (Curia) và cuối cùng đứa cháu trở thành Giáo hoàng Alexander VI. Sự thiên vị của Giáo hoàng đối với các cháu trai đã làm phát sinh một từ ngữ mới trong thể chế giáo triều, đó là thuật ngữ nepotism gia đình trị. Giáo hoàng thường là một con người đầy trần tục vào giai đoạn này, như Léon X chi tiêu xa hoa, sống rất phung phí thượng lưu, và Julius II được biết đến với cái tên "Giáo Hoàng Chiến Binh" vì tính ham thích chiến tranh của ông.

Với sự giàu có rộng lớn của Giáo Hội, vào cuối thế kỷ mười lăm, nhiều Giáo hoàng có cuộc sống tai tiếng, như Alexander VI, có nhiều nhân tình và nhiều con.

Giáo Hoàng Léo X - Giáo Hoàng Julius II - Giáo Hoàng Alexander VI

Tham nhũng trong Giáo triều La Mã không có gì mới.

Trong Thời Đại Đen Tối (Dark Age), tham nhũng và hủ hóa còn trầm trọng hơn cả thời kỳ Phục Hưng, nhưng sự điều hành giáo hội với phong cách phong lưu đàng điếm của các Giáo Hoàng thời Phục Hưng đã tạo cho các trào lưu tự do thế tục được cơ hội nẩy mầm và phát triển. Các nghệ sĩ, hoạ sĩ, triết gia đã bắt đầu giảm bớt sự kính nể Giáo Hoàng, họ không còn sợ Giáo hoàng và Giáo hội, và họ tự do ngôn luận gần như vô hạn. Sự trở về với các giá trị xưa cổ được phục hưng, dù các giá trị ấy không mang màu sắc Kitô giáo mà không sợ Nhà Thờ lên án. Machiavel hoặc các nghệ sĩ như Léonard de Vinci dám bày tỏ sự quan tâm của họ đối với thế giới cổ điển hoặc đối với thế giới tự nhiên mà không còn sợ hãi bị gán vào tội phi tôn giáo. Trong các thời đại trước, Toà án dị giáo sẽ điều tra các tác phẩm và tư tưởng của họ. Trong thời Phục hưng, Toà án dị giáo gần như không hoạt động, nhờ sự thiếu quan tâm của các Giáo hoàng trong việc thi hành giáo điều.

Léonard de Vinci (1452-1519)

Tuy nhiên, thời kỳ vàng son này của Giáo triều kết thúc vào năm 1527, khi quân đội nổi loạn của Hoàng đế Đức Charles V bao vây và cướp phá La Mã, giết chết hàng ngàn người và khiến phần lớn thành phố bị hủy hoại. 'Bao tải thành Rome' năm 1527, một thành ngữ từ để diễn tả sự dã man tàn bạo, thay vì trả lương cho lính, vua Charles cho phép lính đi cướp bóc hãm hiếp bất kỳ cái gì có thể được trong thành Rome, không ngoại trừ các nơi thờ tự của Công Giáo, mà trong đám đi đánh thuê có rất nhiều người theo Tin Lành của Martin Luther, vốn rất thù hận Công Giáo La Mã (lộn ngược hai con số sau, năm 1572, ba vạn người Tin Lành bị thảm sát tại Paris ngày Saint Barthélémy).

Ngày thảm sát tại St Bartholomew năm 1572, do họa sĩ Francois Dubois vẽ lại

Sau vụ cướp bóc này, kể như thời vàng son của Giáo Triều Công Giáo thời Phục hưng và cả văn học nghệ thuật của Phục hưng cũng chấm dứt. Giáo Triều La Mã lại bắt đầu kiểm soát gắt gao các tư tưởng cũng như rà soát răn đe lại mọi hướng đi theo đúng tín lý và truyền thống khi bắt đầu lấy lại được ưu thế.

C - Hoài nghi về quyền thống trị của Giáo Hội.

Có bốn mốc giới để đánh dấu sự hoài nghi về quyền thống trị của giáo hội Rô Ma trong thời kỳ này, đó là sự khai sinh phong trào Nhân Bản Phục Hưng (Renaissance Humanism), sự khám phá ra văn bản hiến quốc của Constantin cho giáo hoàng St. Sylvester là giả tạo, sự phân định giáo quyền và thế quyền, sự tan rã thành nhiều giáo hội Kytô độc lập với Rôma.

C.1 phong trào Nhân Bản Phục Hưng:

Từ Renaissance Humanism là một thuật ngữ dành cho sự phục hồi các giá trị cổ điển của văn hóa Hy Lạp và La Mã bị chôn vùi và bị cấm đoán suốt thiên niên kỷ kể từ khi Công Giáo Rô Mã thống trị. Để nhấn mạnh sự phân biệt giữa Renaissance Humanism và Humanism của thế giới ngày nay, wikipedia có vài dòng như sau: The term humanism is contemporary to that period, while Renaissance humanism is a retronym used to distinguish it from later humanist developments. Phong trào này khai sinh ở Ý và nhanh chóng lan tràn sang các nước Âu châu trong 3 thế kỷ, 14, 15 và 16.

Renaissance Humanism phục hồi những tinh hoa của nhân loại trước văn minh Kytô hay còn gọi là studia humanitatis bao gồm những bộ môn như ngữ pháp, phương cách thuyết phục, lịch sử, thi ca và triết học đạo đức.


Petrarch - ảnh vẽ của Bargilla

Nhóm bốn người tiên phong cho phong trào này là Petrarch, Giovanni Boccaccio, Coluccio Salutati và Poggio Bracciolini. Họ là những trí thức rất say mê khảo cổ. Petrarch (tiếng Ý là Francesco Petrarca) được xem là cha đẻ của Nhân Bản Phục Hưng, ông là luật gia, là nhà thơ, cha đẻ thơ trữ tình đưa tâm tư tình cảm riêng vào văn chương, cũng là người rất thân cận với giáo hoàng, khi giáo triều dời sang Avignon bên Pháp, gia đình ông đã dọn theo, nên khi còn trẻ, ông theo học luật tại đại học Montpellier ở phía nam nước Pháp.

Hầu hết lãnh tụ phong trào này đều là chức sắc quyền thế hoặc quý tộc giàu có, như hồng y Basilios Bessarion, một người bỏ Chính Thống giáo Hy Lạp cải sang Catô Rô Ma, ông có một kho kiến thức về Hy Lạp học, và nhân phong trào Nhân Bản nở rộ, ông cũng thuận nước đẩy thuyền, làm hồi sinh hết sức có thể học thuật La Hy, và phong trào này rất thành công, nó cứu vãn được cho nhân loại hai kho tàng quý báu, hai nền văn minh đa thần rất súc tích cả về phẩm lẫn lượng, từ y học, văn học, thi ca, triết học, chính trị học đến khoa học, đến nỗi có thể nói không ngoa rằng, văn hóa La Hy mà không có Nhân Bản Phục Hưng, thì gần như là điểu bất khả. Với tiền bạc và thế lực từ vua chúa đến tăng lữ, họ quy tụ được một thư khố toàn cổ thư và phục hưng lại. Phong trào này lại được củng cố với sự gia nhập của 3 giáo hoàng: Pius II, Sixtus IV và Léo X nhờ thế họ có thể cổ xúy làm phát triển Tư tưởng và học thuật tách rời Thiên Chúa, quy chiếu nhiều hơn vào con người, như văn học, nghệ thuật, thi ca, hội họa và kiến trúc. Các phần trên tôi đã nói nhiều về sự xa hoa của các giáo hoàng trong thời kỳ này, và do tính cách nghệ sĩ của các giáo hoàng, mà nghệ sĩ rất thường đi đôi với hưởng thụ vật chất, thân cận với các nghệ nhân, sự gần gũi thân mật đã làm bớt đi sự kính nể giữa tín đồ đối với vị đại diện Chúa, do vậy mà có sự phản tỉnh của một số trí thức như Léonard de Vinci hoặc Machiavel như đã đề cập.

Mặc dù tư tưởng nhân bản ngày nay có khác với Nhân Bản Phục Hưng, nhưng xét cho cùng, thời kỳ Phục Hưng đã tạo cơ hội cho các giá trị nhân sinh được phát triển, và hầu hết các khuôn mặt lãnh tụ phong trào đều là người thân cận với Giáo hội. Ít ai biết được từ Dark Ages, khái niệm về một thời đại lịch sử đen tối nhất của nhân loại là phát xuất từ suy tư của Francesco Petrarca. Wikipedia viết về sự kiện này như sau:

Petrarch viết rằng có hai thời kỳ lịch sử: Thời kỳ cổ điển của Hy Lạp và La Mã, theo sau là một thời đại của bóng tối mà chính ông tự thấy mình sống trong đó. Vào khoảng năm 1343, trong phần kết luận của tập anh hùng ca Phi Châu do ông viết, ông đã ghi như sau: "Số phận tôi là phải sống giữa những trận phong ba của phức tạp và mơ hồ. Nhưng có lẽ với các bạn, như là tôi hy vọng và ước mong, các bạn sẽ sống lâu hơn sau tôi, sẽ theo sau có một thời đại hoàn hảo hơn. Giấc ngủ trong quên lãng này sẽ không kéo dài đến vô tận...".

[Petrarch wrote that history had two periods: the classic period of Greeks and Romans, followed by a time of darkness in which he saw himself living. In around 1343, in the conclusion of his epic Africa , he wrote: "My fate is to live among varied and confusing storms. But for you perhaps, if as I hope and wish you will live long after me, there will follow a better age. This sleep of forgetfulness will not last forever..."]

(https://en.wikipedia.org/wiki/Dark_Ages_(historiography)

Ngày nay, rất nhiều tín đồ Công Giáo Việt Nam tìm đủ cách để phản biện rằng từ này được kẻ xấu chế ra nhằm mục đích bôi nhọ giáo hội, nhưng họ lại không hề biết rằng, kẻ tiên phong chỉ vào thời đại này và mệnh danh đó là thời kỳ đen tối không ai khác hơn chính là một trí thức thân cận của giáo triều Rô Ma.

Như vậy, vô tình hay cố ý, Nhân Bản Phục Hưng đã dắt Giáo Hội ra khỏi sự cấm đoán các thư tịch của ngoại giáo, cho phép phục hồi các giá trị nhân bản khác với Kytô vốn được xem là dị giáo, xích lại gần với đời sống riêng tư và thầm kín của con người hơn. Sử gia Jaccob Burckhardt người Thụy Sĩ đã nói về thời kỳ này như sau:

Giai đoạn từ thế kỷ thứ mười bốn đến thế kỷ thứ mười bảy đã tạo ra nhiều thuận lợi cho sự giải phóng cá nhân. Các quốc thị ở phía bắc Ý đã tiếp xúc với các phong tục khác nhau ở phía Đông, đã dần dần cho phép sự biểu lộ về hương vị ăn uống cũng như trang phục. Các tác phẩm của Dante, và đặc biệt là các học thuyết của Petrarch và những người theo chủ nghĩa nhân bản như Machiavelli, đã nhấn mạnh những đức tính của tự do trí tuệ và biểu hiện cá nhân. Trong các bài tiểu luận của Montaigne, những quan điểm cá nhân về cuộc sống đã được đón nhận một cách thuyết phục và hùng hồn nhất trong lịch sử văn học và triết học.

[The period from the fourteenth century to the seventeenth worked in favor of the general emancipation of the individual. The city-states of northern Italy had come into contact with the diverse customs of the East, and gradually permitted expression in matters of taste and dress. The writings of Dante, and particularly the doctrines of Petrarch and humanists like Machiavelli, emphasized the virtues of intellectual freedom and individual expression. In the essays of Montaigne the individualistic view of life received perhaps the most persuasive and eloquent statement in the history of literature and philosophy.]

Điều Jaccob Burckhardt nhận định đã được triển khai khá minh bạch ở các phần trên.

Nói chung, từ thế kỷ thứ VIII thì Giáo Hội Rôma đã có một quốc gia riêng của mình trên chính lãnh thổ khởi nguyên của đế quốc La Mã, do giáo hoàng trực tiếp cai trị, có quốc dân và quân đội riêng, được gọi là Quốc Thổ của Giáo Hoàng (Papal States). Trung tâm quyền lực của La Mã hoàn tòan sụp đổ vào tay của Giáo Triều Công Giáo, nước Ý bị chia vùng thành những thị trấn nhỏ và chả giữ một vai trò quyền lực quan trọng nào, nên cả Anh lẫn Pháp đều muốn trung tâm Âu Châu phải được xích lại gần họ hơn, và với sức ép của hai nước, một giáo hoàng người Pháp đã được bầu lên, tức là giáo hoàng Clément V, ông đã chọn Avignon miền Nam nước Pháp làm giáo đô từ năm 1305 đến năm 1377 trải qua 7 đời giáo hoàng. Công giáo trong ba phần tư thế kỷ này đã chia rẽ và phân hóa trầm trọng, có khi cùng lúc có hai giáo hoàng, một tại Avignon và một tại Rôma, có khi đến ba giáo hoàng khi Alexandre V và Gioan XXIII được bầu lên ở Pise (Ý). Phải nói thời kỳ Phục Hưng với sự dời đô về lại Rôma là thời kỳ vàng son nhất của chế độ Giáo Hoàng tại Âu Châu cho đến khi Charle V tiến quân vào tàn phá (1527).

C.2 Giả tạo chiếu vua để cướp nước:

Khi người Tây phương bàn về chiếu thư hiến quốc của Đại Đế Constantine cho giáo hoàng Công Giáo, họ chỉ nói rất nhẹ nhàng đây là một tài liệu giả có lẽ được ngụy tạo vào thế kỷ thứ VIII, nhưng được Giáo Hoàng Leo IX (1049-1054) sử dụng để hợp thức hoá quyền lực của Giáo Hội thay thế cho Đế Quốc La Mã ở phía tây, khi có sự cạnh tranh với giáo hội Đông Phương Chính Thống giáo.

Đại Đế Constantine - Giáo Hoàng Leo IX

Trên website Bách Khoa Toàn Thư Thế Giới, âm mưu cướp nước này được ghi nhận nhẹ nhàng như sau:

(Chiếu thư) được ban hành bởi Hoàng đế La Mã Constantine I vào thế kỷ thứ IV, Văn bản hiến quốc của Constantine đã trao cho Giáo hoàng Sylvester I và những người tiếp nối ông, với tư cách thừa kế của Thánh Phêrô, thống trị thành phố Rôma, Ý Đại Lợi, và toàn bộ Đế chế La Mã phương Tây, còn Constantine sẽ chỉ giữ lại đế quyền trong Đế chế Đông La Mã, từ thủ đô mới của ông ở Constantinople. Trên cơ sở tài liệu này, giáo hoàng và các đại diện của mình đã tuyên cáo thẩm quyền bổ nhiệm và trao vương miện, (điều này) cho thấy rằng tất cả quyền lực thế tục phải được Giáo hội hợp pháp hóa.

Nhà nhân bản người Ý Lorenzo Valla đã chứng minh vào năm 1440, rằng chiếu thư hiến quốc này là giả mạo bằng cách phân tích ngôn ngữ của nó, và cho thấy một số cụm từ nhất định là lỗi thời và ngày tháng của tài liệu không phù hợp với nội dung của tài liệu. Tuy nhiên, Vatican đã liệt tác phẩm của Valla vào danh sách bị cấm và ngoan cố duy trì tính xác thực của tài liệu. Nó được tiếp tục được sử dụng như là chính thống cho đến khi Baronius trong cuốn "Annales Ecèreiastici" (xuất bản 1588-1607) thừa nhận rằng "Hiến Quốc" là một sự giả mạo, và cuối cùng nhà thờ thừa nhận sự bất hợp pháp của nó.

[Purportedly issued by the fourth century Roman Emperor Constantine I, the Donation of Constantine granted Pope Sylvester I and his successors, as inheritors of Saint Peter, dominion over the city of Rome, Italy, and the entire Western Roman Empire, while Constantine would retain imperial authority in the Eastern Roman Empire from his new capital of Constantinople. On the basis of this document the Pope and his representatives claimed the authority to appoint and crown kings suggesting that all temporal authority had to be legitimized by the Church.

The Italian humanist Lorenzo Valla proved in 1440, that the Donation was a fake by analyzing its language, and showing that certain phrases were anachronistic and that the purported date of the document was inconsistent with the content of the document itself. However, the Vatican placed Valla's work on the list of prohibited books, and defended the document's authenticity. It continued to be used as genuine until Baronius in his "Annales Ecclesiastici" (published 1588-1607) admitted that the "Donation" was a forgery, and eventually the church conceded its illegitimacy. (http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Church_and_State)]

Nếu ta nói Giáo Hội Công Giáo âm mưu cướp nước La Mã thì nghe nó to tát quá, e rằng có người sẽ bị sốc mà bất tỉnh, hãy thử liên tưởng đến một chuyện có tầm vóc nhỏ, tựa như ta thu nhỏ trái đất thành quả địa cầu bằng nhựa trên bàn học, để người đọc thấy gần gũi hơn, cứ thử bịa ra một câu chuyện tương tợ với nội dung hoàn toàn được tôn trọng như sau đây xem sao:

Ông Bill Gate, một trong những tỷ phú hàng đầu của Hoa Kỳ, nhân một hôm đến New York chơi, thấy có một anh đầu đường xó chợ homeless dơ dáy nằm ngủ ở vỉa hè, mặt mày hắn nhìn cũng không tệ, ông ngắm nghía xem tướng, ồ! thằng này cho nó học vài tháng, dạy nó làm quản gia nhà mình, một công hai chuyện, vừa giúp được kẻ nghèo khó, vừa có người trung tín giữ nhà cho mình. Thế là ông kêu thằng du thủ về nhà, cho học một khóa kế toán, học cách ăn ở giao tiếp trong giới quyền quý sang giàu, mục đích là huấn luyện thằng du thủ vô gia cư thành người quản gia trung tín. Và ông đã đoán không sai, nó tỏ ra rất trung thành, có nhiều thông minh sáng tạo, rất đắc lực giúp ông trong việc quản lý nhà cửa của cải. Khi ông chết, ông nghĩ rằng con cháu ông sẽ vẫn tiếp tục dùng người quản gia này như ông, nào ngờ, đến đời cháu ông, thằng này bỗng đâu đưa ra một tờ di chúc ghi rõ rằng ông hiến tặng cho nó một nửa gia tài sản nghiệp của mấy trăm năm tổ tiên nhà ông và chính ông đem cả cuộc đời để bồi đắp tạo dựng! Con cháu nhìn nét bút của ông, không ai dám tranh cãi, đành chia cho tên quản gia này nửa phần gia tài. Có ngờ đâu, đây là một di chúc mà tự thằng du thủ du thực, vốn bản chất vong ân bội nghĩa đươc sinh ra và lớn lên trong dòng máu lưu manh, đã giả mạo làm ra!

Sau khi nghiền ngẫm câu chuyện này, bạn trả quả địa cầu nhỏ bé trên bàn học lại cái kích cỡ thực của nó, thì bạn có thể hình dung được sự kinh hiếp khi tôi lần đầu tiên đọc được vụ chiếu thư giả mạo này!

Đây đúng là một âm mưu gian manh cướp nước, một sự việc mà chỉ có thể xảy ra nơi người thế tục, không ai dám nghĩ rằng Giáo Hội của Chúa, tự nhận là Thánh Thiện, Duy Nhất, Công Giáo và Tông Truyền, lại có thể làm ra được chuyện bất khả tư nghì như thế! (khả tư nghì - không thể suy nghĩ và bàn luận – lời thường thấy trong kinh Phật, để khen tặng điều gì mà trí óc con người không đủ sức hình dung ra được)

Lịch sử nước ta cũng có chuyện Trần Thủ Độ bắt Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, là một âm mưu gian manh được Thủ Độ toan tính rất lâu chứ không phải ngẫu hứng trong vài ngày hay vài tháng. Tuy nhiên, Thủ Độ không giả mạo điều gì, ông dùng quyền lực của mình để tạo sức ép bắt Nhà Lý chuyển ngôi cho Nhà Trần. Tôi bắt vua trao ngôi báu, đối với đạo lý của Nho gia , thì đây là bất trung; nhưng vợ nhường ngôi cho chồng, đối với truyền thống Nho gia tam tòng tứ đức, thì không có gì sai trái, vì xuất giá phải tòng phu.

Trần Thủ Độ biết trước ông sẽ bị lịch sử lên án, tuy nhiên, vẫn có sự châm chế một khi họ Lý đã suy vi, trong khi họ Trần lại đang thịnh. Kịp đến khi Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo đánh tan 3 lần xâm lược của quân Mông Cổ, thì tấm lòng và tầm nhìn của Trần Thủ Độ hoàn toàn được ái mộ và  những hoen ố được giảm khinh.

Tôi cũng cố gắng tìm một giải thích hợp lý để bào chữa cho hành động cướp nước của Giáo Hội Rôma, nhưng không thể tìm ra lý cớ nào. Trong hơn nghìn năm thống trị của Cây Thập Ác ở Âu châu, tín đồ Công Giáo đã bị lợi dụng và lạm sát trên đủ mọi lãnh vực hay tình huống, hoàn toàn không giống nhà Trần đã lưu danh vàng trong tâm khảm người Việt, đến nỗi Hưng Đạo Vương được tôn lên làm Đức Thánh Trần, và Trần Nhân Tông được kính mộ là Phật Hoàng. Để đánh giá Công Giáo Rôma có là một di sản lớn cho Âu Châu nói riêng, hay cho thế giới nói chung hay không, tôi xin được tóm gọn trong nhận xét của nam tước De Ponnat như sau:

Công giáo La Mã được sinh ra trong máu, đắm mình trong máu, giải khát bằng máu và với chữ  bằng máu mà lịch sử thực của nó được viết ra.

("Roman Catholicism was born in blood, has wallowed in blood, and has quenched its thirst in blood, and it is in letters of blood that its true history is written."

"Le catholicisme romain est né dans les sang, s’est vautré dans le sang, s’est abreuvé dans le sang, et c’est en caractères de sang qu’est écrite sa véritable histoire." )

     C.3  Phân định, chia tách giáo quyền và thế quyền, hình thành chủ nghĩa quốc gia:

Cũng ngay trong thời kỳ Phục Hưng, sự phân định giáo quyền và thế quyền được đặt ra.

Vào năm 1435, Lorenzo Valla đến Naples để phò tá nhà cầm quyền tương lai của xứ này, đó là vua Alfonso Aragon. Vào thời kỳ này thì nhà vua bị bế tắc vì giáo hoàng Eugenius IV cũng đòi chủ quyền trên lãnh thổ Naples, và do đó, Valla đã cống hiến Alfonso về sự thực vụ giả mạo Hiến Thư của Constantine I, ông phân tích và chứng minh rằng đó là đồ chế biến của thế kỷ thứ VIII, nghĩa là bức chúc thư được ngụy tạo cách lúc Constantine còn sinh tiền đế 4 thế kỷ sau!

Sử gia Jerry Brotton của đại học Queen Mary tại Luân Đôn viết trong cuốn The renaissance, a very short introduction (Một giới thiệu ngắn gọn về Thời Đại Phục Hưng) đã viết như sau:

Sự khéo léo trong phân tích văn bản của Valla đã phù hợp với cuộc tấn công dữ dội của ông đối với Giáo hội La Mã và tập đoàn điều hành cơ cấu này, (bao gồm) những kẻ, hoặc là không biết rằng Hiến Thư Constantine là giả mạo và ngụy tạo, hoặc là chính họ đã chế biến ra nó. Ông đã tố cáo tập đoàn này là "làm mất sự tôn nghiêm của Kitô giáo, làm xáo trộn mọi thứ với những vụ giết người, thảm họa và tội ác". Valla đã chế giễu tiếng Latin không chính xác và lỗi thời của bản Hiến Thư, trước khi đặt ra câu hỏi đầy tính hùng biện như 'chúng ta có thể biện minh cho nguyên tắc quyền lực của giáo hoàng khi mà chúng ta cũng nhận ra đó là nguyên nhân của những tội đại ác và những khuôn mặt quỷ kinh khiếp với nhiều dị dạng như thế không?' Lời tố cáo vừa hùng hồn vừa trang nhã này được kết luận bằng sự tấn công ngay vào những tham vọng mang tính đế quốc của giáo hoàng, 'để ông ta có thể thu hồi lại các phần khác của Hiến thư, tiền bị đánh cắp một cách gian manh từ những người tốt được ông ta tiêu xài một cách gian manh hơn'. Vua Alfonso rất hài lòng với việc Valla đã biến tấm Hiến Thư thành tờ giấy vô giá trị và đã sử dụng một cách thành công các lập luận này trong các cố gắng cơ bản giành lại sự an toàn cho vương quốc Naples của ông mặc kệ mọi mưu tính phản đối của giáo hoàng.

(The deftness of Valla’s textual analysis was matched by his scathing attack upon the Roman Church and its pontiffs, who had either ‘not known that the Donation of Constantine is spurious and forged, or else they forged it’. He accused them of ‘dishonouring the Christian religion, confounding everything with murders, disasters and crimes’. Valla ridiculed the inaccurate and anachronistic Latin of the Donation, before again posing the rhetorical question ‘can we justify the principle of papal power when we perceive it to be the cause of such great crimes and of such great and varied evils?’ This rhetorically elegant invective concluded with an attack upon the imperial pretensions of the pope, who, ‘so that he may recover the other parts of the Donation, money wickedly stolen from good people he spends more wickedly’. Alfonso was delighted with Valla’s demolition of the Donation and used its arguments in his ultimately successful attempt to secure the kingdom of Naples despite concerted papal opposition.)

https://erenow.net/postclassical/the-renaissance-a-very-short-introduction/4.php

Đọc đoạn văn sử trên, ta nhận ra điều gì?

Đó là Công giáo luôn âm mưu cướp nước, cướp đất, giành dân.

Âm mưu gian manh cướp nước để thống trị không nằm trong toàn thể Kytô giáo, mà chỉ đặc biệt xuất hiện trong bản chất của Công Giáo La Mã. Ta thấy điều này rõ nét qua cách hành đạo của Chánh Thống giáo và Anh Giáo, hai tôn giáo này không chủ trương truyền đạo, họ thỏa mãn với số tín đồ trong phạm vi quốc gia hay vùng miền truyền thống của họ. Khi đế quốc Anh đi chiếm thuộc địa, họ không để lại các di hại nguy hiểm về tôn giáo nhằm gây chia rẽ nội bộ các dân tộc bản địa để luôn có một thế lực sẵn sàng lật đổ chính quyền như trong các thuộc địa mà các đế quốc Công giáo để lại. Đây là điểm mà khi còn trẻ đọc sách của Hoàng Văn Chí, tôi đã ghi nhớ, nhưng không hiểu nguyên nhân. Riêng Tin Lành thì khác, tôn giáo này thường trực bị Công giáo tàn sát ở Âu Châu, nên tự biết là nếu không phát triển, thì sẽ bị thua lép, sẽ bị Công giáo tiêu diệt bằng máu, nên chính sách của Tin Lành ngày nay cũng mưu toan chiếm đất giành dân để có thể tự vệ trước sức mạnh của Công giáo, và vì vậy mà các quốc gia nhược tiểu đều trở nên là bầy muỗi khi hai con trâu bò này tìm cách húc nhau mặc dù mặt ngoài của cả hai luôn ca tụng hòa bình.

Một chi tiết rất nhỏ, nhưng cần ghi ở đây, rằng Lorenzo Valla trước đó được giáo hoàng Martin V mời làm thư ký Tòa Thánh, nên có thể nói, sự hiểu biết của ông về lịch sử, về những bí ẩn trong đời sống của tu sĩ Công giáo, sự thu nhập vào ngân khố..., khó ai có thể tường tận hơn ông, ngay cả các hồng y và chính giáo hoàng.

Tư tưởng phân chia quyền lực được manh nha ngay trong các học thuyết của Phản Thệ khi Martin Luther nói về một đất Chúa với hai thể chế - God is the ruler of the whole world and that he rules in two ways. - Chúa là nhà cai trị của toàn thể nhân loại nhưng ngài điều hành theo hai cách. Đây là khởi đầu của một nhà nước thế tục không lệ thuộc vào quyền lực của tôn giáo. Tuy nhiên tư tưởng của Phản Thệ rất lờ mờ không thể dứt bỏ được quyền hạn của tu sĩ trên đời sống dân sự ngay cả cho đến ngày nay.

Nhân tiện ta cũng nên mở một dấu ngoặc để bàn về khái niệm nhà nước thế tục manh nha trong tư tưởng của Luther, hay nói cách bác học hơn, là nói về sự phân định ranh giới giữa thế quyền và giáo quyền, cũng là một khoe khoang mà tác giả Nguyễn Gia Kiểng trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn đã tán dương là sáng kiến vĩ đại của văn hóa Tây Phương. Tôi đưa ra hai hình ảnh để biện minh với ông Nguyễn Gia Kiểng về đề tài này như sau: khi nhà Nguyễn cho giết đạo tại VN, thì người Công giáo gán cho Phật giáo cái mũ đã giết đạo Chúa, vì trong tư tưởng của tín đồ CG, nhà Nguyễn hay Phật giáo chỉ là một. Khi vua chúa Tây Phương gửi hạm đội sang xâm lăng các nước nhỏ bé như VN, thì người VN cũng xem Công giáo và quân xâm lăng chỉ là một. Dưới cặp mắt của người đọc sử, ta có thể nói, nhà Nguyễn chả liên hệ gì đến Phật giáo, nhà Nguyễn bảo vệ ngai vàng của dòng họ Nguyễn Phúc, và từ khi Gia Long lên ngôi, nhờ sự giúp đỡ rất tích cực của Giám mục Gia Tô Pigneau de Béhaine, đến khi Bảo Đại trao ấn kiếm cho Hồ Chí Minh, hay chỉ định Ngô Đình Diệm làm thủ tướng, và mãi cho đến ngày nay, Phật giáo chưa hề được vua quan trọng dụng. Ta có thể nói các quan lớn của Nguyễn Triều hoặc là Nho giáo, hoặc là Công giáo, như Cha Cả cố vấn Bá Đa Lộc được tôn vinh là Giám Mục Thượng Sư từng được ban hàm Bi Nhu Quận Công (悲柔郡公), rồi nào là Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Ngô Đình Khả, Pétrus Ký, thậm chí có luôn cả người Pháp làm quan cho vua Gia Long tên là Jean-Baptiste Chaigneau với tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, còn bên Nho thì có Lê Văn Duyệt, Nguyễn Tri Phương, Trịnh Hoài Đức, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Trần Tiễn Thành... hoàn toàn chả có ông sư nào được vua mời làm cố vấn. Như vậy, khái niệm phân định giữa thế quyền và giáo quyền, trong căn bản xã hội và lịch sử Việt Nam từ lập quốc cho đến Nguyễn Triều, hoàn toàn vắng mặt. Nhưng khi người Công giáo bị giết thì tín đồ Công giáo, được giáo dục và tuyên truyền, đổ hết tội lên đầu nhà Phật. Cũng dưới cặp mắt của người đọc sử, ta thấy các đoàn tàu thám hiểm của người Tây, người Bồ, luôn có cây thánh giá đi theo, tới đâu thì thánh giá cắm ở đó. Các vụ chiếm cứ thuộc địa đất đai, cướp bóc và bắt nô lệ, được Giáo hoàng khuyến khích và cho phép theo các sắc lệnh từ tòa thánh ban ra. Ta có thể kể ra 2 sắc lệnh trong rất nhiều sắc lệnh ngang ngược và phi nhân bản như sắc lệnh Dum Diversas năm 1452 của giáo hoàng Nicolas V cho phép truy lùng, chiếm đoạt, bắt vợ con của các xứ bị chiếm đóng, bắt làm nô lệ hoặc sở hữu ngay cả vua chúa bản xứ khi bị thống trị, sắc lệnh Romanus Pontifex năm 1455 cho phép hoàng tử Le Navigateur của Bồ Đào Nha tha hồ bắt nô lệ, và đặc biệt sắc lệnh Inter Caetera được Alexendre VI chia hai thế giới là cái sắc lệnh bất lương (xin lỗi) nhất lịch sử nhân loại. Nếu ông Nguyễn Gia Kiểng có lương tri của một con người, ông phải biết nỗi đau toàn bộ châu lục Mỹ bị chiếm, toàn bộ thổ dân Mỹ bị tàn sát, toàn bộ văn hóa Mỹ châu bị xóa sạch, đều là nhờ ân phước của cây thánh giá. Ở VN cũng vậy, sự xâm lăng của Pháp thành công đến hết 80% là nhờ công lao phản quốc, làm tay sai, làm gián điệp của người Công giáo đối với mẫu quốc Pháp; không có đám này, với một nước Pháp xa xôi đi về mất cả vài tháng, quân Pháp làm sao chịu đựng nổi các cuộc kháng chiến của người VN? Tôi không cần nhắc đến câu nói cua gãy càng của giám mục Pugnier để chứng minh, mà chỉ cần phân tích một cách khoa học tình hình chính trị và quân sự thế giới thời bấy giờ là đủ. Ông Kiểng bị giáo dục của Công giáo nhồi nhét, mới cảm thấy rằng, từ một thể chế lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị tiến tới một thể chế thế tục không có bàn tay của giới giáo sĩ điều động ở phía sau, là một bước nhảy vĩ đại ở Âu Châu; thì đối với người Á Đông, nhất là người VN, điều này cứ tự nhiên như cá bơi trong nước, chả cần một sự tiến bộ văn minh nào cả.

Âu châu mất hơn 1000 năm để biết tách rời tôn giáo khỏi chính trị, thì tại VN, chưa hề cần mất một giây nhỏ nào!

Ông vua đau khổ nhất của Pháp bị lấn cấn giữa đan xen chính trị và tôn giáo vào thời Phục Hưng là Henri III của xứ Navarre, cũng đồng thời là Henri IV của Pháp (1553-1610). Cuộc đời ông chiến tranh liên miên, tất cả mọi cuộc chiến đều có căn nguồn từ thù hận trong chính hàng ngũ Kytô giáo. Công giáo và Tin Lành đều nhân danh Chúa và muốn thống trị thế giới, cả hai đều mở miệng là Phúc Âm, là cứu rỗi, là nhân ái thương xót, nhưng họ uống máu nhau không nhăn mặt trong lịch sử. Henri sinh ra với cuộc hôn nhân mua bán chính trị giữa cha Công giáo (Antoine de Bourbon) và mẹ Tin Lành (Jeanne d'Albret), bản thân ông suýt chết trong vụ thảm sát người Tin Lành vào ngày lễ thánh Barthélémy vào năm 1572 với tổng số tín đồ Tin Lành là nạn nhân bất kể già trẻ trai gái lớn bé có thể lên đến 30,000 người. Tám cuộc chiến tranh tôn giáo (guerres de religion) trong nửa hậu bán thế kỷ XVI tại Pháp, làm hao tốn tiền của và sinh mạng của hằng trăm nghìn người chung quy đều gần như từ cây thánh giá mà phát sinh, nên lịch sử đã không ngần ngại gọi đó là chiến tranh tôn giáo, đều xảy ra trong thời Phục Hưng này. Vua Henry IV phải thay đổi giữa Công Giáo và Tin Lành gần chục lần, và cuối cùng, vì muốn đất nước ổn định, ông bắt buộc phải tuyên bố bỏ đạo Tin Lành vĩnh viễn vào năm 1593 tại đại thánh đường St Denis. Có thể nói chưa vị hoàng đế nào chịu áp lực 12 lần mưu sát như Henri IV. Tai hại của việc tôn giáo chen chân vào chính trị cho đến thế kỷ XXI vẫn là một nguyên nhân làm đổ máu không biết bao nạn nhân.

Một sự kiện khác cũng đánh dấu sự phân định thế quyền và đồng thời biểu lộ sự mất tín nhiệm của Giáo Hội La Mã tại Âu châu trong đời đại Phục Hưng, đó chính là việc vua Henry VIII không công nhận ảnh hưởng của giáo hoàng tại Vương Quốc Anh vào năm 1534, vì La Mã không chấp nhận cho ông ly dị. Ông tự lập ra Anh giáo, vua hoặc nữ hoàng Anh ngồi ở vị trí  vừa là quốc chủ, vừa là giáo chủ, tách khỏi sự kiểm soát của La Mã từ đó.

Ý niệm về quốc gia dân sự (laïque, secular) bắt đầu manh nha trong thời kỳ này. Các suy tư về phân định tôn giáo và chính trị được nẩy mầm tại đây, nhưng phải đợi tới thế kỷ XVII mới được John Locke chính thức phát triển thành một học thuyết xã hội làm nền cho văn minh Âu Mỹ đến tận ngày nay. (Xem phần C.4)

Bối cảnh lịch sử này được  Jerry Brotton viết  trong cùng một tài liệu như sau:

Đến năm 1600, thì châu Âu đã thay đổi vượt quá mọi sự hiểu biết rất mơ hồ có được từ tập hợp các quốc gia nhỏ hoặc các tiểu lãnh địa ít được đề cập đến trong trong thực thể  'Europa' của năm 1400. Các quốc gia và các đế chế đi chinh phục hoàn vũ mới nổi đặt ra những nghị trình chính trị, cùng với sự linh động có được từ các gặp gỡ giữa các tôn giáo và sự giao lưu đông tây đã làm tê cứng các hệ thống niềm tin lập trình của Công giáo, Tin lành và Hồi giáo. Điều này tiên báo sự ra đời một loại định chế mới của nhà nước và sự trỗi dậy đồng thời của chủ nghĩa dân tộc. Các quyền lực đế quốc lớn của châu Âu sẽ tiếp tục tranh giành chủ quyền hầu hết các vùng đất mới được phát hiện trong ba thế kỷ tới. Nhưng di sản của thời kỳ này cũng là một loạt các cuộc xung đột chính trị và tôn giáo dường như không thể giải quyết được ở các khu vực đa dạng như Ireland, Balkan và vùng Cận Đông, mà căn nguyên là do sự va chạm giữa giáo hội với nhà nước lần đầu tiên diễn ra ở thời Phục hưng.

[By 1600, Europe had changed beyond all recognition from the illdefined collection of city states and principalities that made little reference to the entity of ‘Europa’ in 1400. Nation states and emerging global empires set the political agenda, and the fluidity of religious encounters and exchanges between east and west had hardened into the programmatic belief systems of Catholicism, Protestantism, and Islam. This signalled the birth of the modern institution of the state and the concomitant rise of nationalism. The great imperial powers of Europe would go on to claim most of the newly discovered globe over the next three centuries. But the legacy of the period was also a series of seemingly irresolvable religious and political conflicts in regions as diverse as Ireland, the Balkans, and the Middle East, whose origins lay in the collision of church and state that first took place in the Renaissance.]

C.4 Sự tan rã thành nhiều giáo hội Kytô độc lập với Rôma

Cũng cần nhắc nhở rằng, vào thời Trung cổ, năm 1054, Kytô giáo bị chia cắt làm hai, giáo hội Đông Phương Hy Lạp, và giáo hội Tây Phương La Tinh. Sự kiện này khởi đầu bằng những cao ngạo mang tính cá nhân giữa hai nhân vật cao cấp của hai bên, họ ban lệnh dứt phép thông công cho nhau, hồng y Humbert Silva Candida ở Rôma và giáo trưởng Michel Cérulaire ở Constantinople.

Tuy nhiên, sự ly giáo được in đậm nét vào năm 1204 với cuộc thánh chiến thứ tư khi cộng đồng La Tinh đem quân đánh cộng đồng Byzantine tại thành Constantinople và cướp phá không thua vụ Georges V cướp thành Rôma sau này, thù hận vốn có giữa hai bên lại được dịp gia tăng.

Vào năm 1437, giáo hoàng Eugenius IV muốn vận động để thống nhất hai giáo hội Đông Tây. Thế là ngày 6 tháng 7 năm 1439, một thỏa ước thống nhất được ký kết, nó hân hoan ca ngợi bức tường ngăn cách hai giáo hội Đông Tây đã bị phá vỡ, và hoà bình cùng với bản hòa âm đã được tái lập - ‘‘the wall which separated the Eastern Church and the Western Church has been destroyed, and peace and concord have returned’’. Nhưng bài hoan ca không kéo dài lâu, khi trở về đến Constantinople thì hòa ước bị dân chúng tẩy chay và hàng giáo phẩm bức xúc, còn bên phía Rôma xem hòa ước chỉ là tấm giấy trưng bày. Khi quân Byzantine bị đế quốc Ottoman của Hồi giáo tiêu diệt thì quân Rôma cũng chẳng xem đấy có gì quan trọng. Không biết ngày nay Công giáo La Mã có nuối tiếc là đã để Constantinople lọt vào tay Hồi giáo không, nhưng khi nghe tin tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdoğan đòi trưng dụng đại thánh đường Ste Sophie được hoàng đế Justinien xây dựng vào thế kỷ thứ IV làm thánh đường Hồi giáo, thì phản ứng của Công giáo Âu Mỹ không lấy làm hài lòng cho dù đây là việc “nội bộ” của quốc gia cựu đế quốc Ottoman.

Nhưng điểm quan trọng nhất trong thời kỳ này có lẽ là sự phục hưng các giá trị văn hóa phi Kytô khi phái đoàn Byzantine sang La Mã để ký kết thỏa ước, họ đã đem theo những di cảo văn học Hy Lạp thời thượng cổ trong đó có các thủ bản của Platon, Aristote, Plutarque, Euclide, Ptolémée... mà đối với dân phía La Tinh chỉ có thể là chuyện đẹp trong cổ tích. Đây là sự giao lưu văn hóa mà theo tôi là bước nhảy quan trọng nhất làm nền tảng của tiến bộ trong mọi ngành học thuật, đặc biệt là triết học, toán học, thiên văn học cùng với sau này là phong trào lãng mạn của nghệ thuật. Điều này có thể so sánh với ước mơ học thuật thời Tiền Tần của thời kỳ Chiến Quốc bên TQ mà được giao lưu và phục hưng với học thuật Nho giáo sau Đường Tống hoặc Nguyên Minh. Nếu một sự may mắn lịch sử như vậy đã xảy ra thì chưa chắc văn minh TQ đi sau văn minh Tây phương.

Tuy sự chia cắt Công Giáo thành Anh giáo cũng là một mất mát lớn lao của Rôma, nhưng cho đến ngày nay Anh giáo vẫn luôn song song với Vatican trên mọi trận tuyến, không khiến cho Giáo Hội La Mã mất máu trầm trọng như sự chia rẽ giữa Công giáo và Phản Thệ (the Great Schisme), là chiếc cưa làm lung lay đến tận gốc rễ và khiến cho Kytô giáo suy thoái đến mãi ngày nay.

Sự chia cắt này khởi đầu bằng quan điểm thần học khác biệt: Công giáo thì cho rằng chìa khóa Thiên Đàng được Chúa trao cho thánh Phêrô, và các linh mục là các đại diện của Chúa dưới trần, nên thay mặt thánh Phêrô mà trao chìa khóa cho Tín Đồ qua phép thông công. Như vậy, Hội Thánh là cánh cửa duy nhất nếu ai muốn hiệp thông với Thiên Chúa. Martin Luther thì cho rằng, Hội Thánh thực chất chỉ là hội ma quỷ ham hưởng thụ và muốn có quyền bính, nên đối với ông, cách duy nhất để hiệp thông với Thiên Chúa là sống đời sống thánh thiện qua sự thực hành các lời dạy trong kinh Thánh, như vậy theo Tin Lành, kinh Thánh chính là cửa ngỏ hiệp thông với Thiên Chúa.

Có 8 điểm khác biệt giữa Công giáo và Tin Lành (hay Phản Thệ), như sau:

● Không tin vào Giáo hội là Thánh Thiện, Duy Nhất, Công Giáo và Tông Truyền như Công giáo Rôma khoe khoang, cũng không tin quyền ban phát hiệp thông vào Thiên Chúa qua trung gian Giáo Hội.

● Không chấp nhận chuyện xưng tội trước một tu sĩ, họ có thể tự xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa, không cần bị sỉ nhục trước một linh mục Công giáo. (Đọc thèse thứ 7 của M. Luther)

● Không tin vào Bí Tích Thánh Thể là hiện thân của thịt và máu Chúa (consubstantiation), mà chỉ đơn thuần là một sự nhớ tưởng đến Chúa.

● Không tin vào phép rửa tội khi còn bé. Tin Lành cho rằng rửa tội là do tín đồ tự nguyện và thành tâm hối lỗi chứ việc rửa bằng nước là hình thức giả tạo. Tuy nhiên ai cần làm phép này họ không từ chối.

● Không tin rằng bà Maria là trinh nữ, cũng không tin bà Vô Nhiễm Nguyên Tội (Luther cố tình giải thích rằng bà vô nhiễm, nhưng các nhà thần học Tin Lành không chấp nhận), họ cũng không tin bà bay về trời, dù vẫn làm lễ ngày 15 tháng Tám, nhưng họ cầu nguyện với Thiên Chúa chứ không cầu nguyện Maria.

● Không cầu nguyện chư thánh hoặc thờ thần tượng.

● Không tin vào Luyện Ngục, nơi mà Rôma bịa ra từ năm 1133 để hù dọa tín đồ là nếu trả tiền cho Giáo Hội thì thời gian sẽ được giảm đi ở luyện ngục, nơi dành cho ai tin vào Chúa nhưng chưa sạch hết tội lỗi.

● Tu sĩ có quyền lấy vợ thay vì đi hiếp dâm, thông dâm hay mua dâm. Martin Luther sau đó có vợ và sinh 6 con.

Đến thế kỷ XX, thì Tin Lành còn cho phép nữ phái cũng có thể trở thành tu sĩ đại diện cho Chúa, trong khi Rôma tiếp tục không cho phép, mặc dù có nhiều vận động.

Tín ngưỡng Luyện Ngục là một đề tài tranh cãi trong thời kỳ Phục Hưng. Vụ bán vé trực tiếp vào Thiên Đàng không kinh qua Luyện Ngục là tiêu đề chính mà Martin Luther phản đối kịch liệt Giáo Hội. Thực ra  việc buôn bán này phát xuất từ lúc Giáo Hội hô hào các cuộc thánh chiến theo lệnh của các Giáo Hoàng, Giáo hội trả tiền chiến sĩ bằng cách ai chết thì khỏi phải xuống Luyện Ngục, mà đi thẳng lên Thiên Đường, nên quân đội của Rôma rất thiện chiến không sợ chết là vì vậy. (The sale of indulgences was a byproduct of the Crusades in the 12th and 13th centuries. Because they risked dying without the benefit of a priest to perform the appropriate ceremonies, Crusaders were promised immediate salvation if they died while fighting to "liberate" the Christian holy city at Jerusalem).

Năm  1517 là năm bộc phát sự chống đối Giáo Hoàng Jules II và sau đó là giáo hoàng Léo X, vì cả hai đều không ngừng chủ trương buôn bán sự tha thứ (indulgence) cho tín đồ, với các tín phiếu này, thì họ hoặc trực tiếp được hưởng nhan Thánh, hoặc được giảm thời gian bị đọa đày trong Luyện Ngục. Giáo hội rất cần tiền để xây cất Đại Thánh Đường Saint-Phêrô. Đây là lời vận động bán tín phiếu được linh mục người Đức John Tetzel rao hàng như sau:

Bạn có nghe thấy tiếng kêu khóc của cha mẹ hoặc người thân quá cố của mình hay không, Hãy thương xót chúng ta, bởi vì chúng ta đang chịu đựng đại hình và thống khổ. Từ đây, các con có thể giải thoát chúng ta với chút ít tiền bố thí...Chúng ta đã sinh ra các con, nuôi nấng các con, chăm sóc và để lại các con những của cải trần thế. Tại sao các con nỡ đối xử với chúng ta tàn nhẫn và để chúng ta phải chịu bị thiêu đốt, trong khi chỉ cần có tí xíu tiền là có thể cứu thoát được chúng ta?

[Don't you hear the voices of your dead parents and other relatives crying out, "Have mercy on us, for we suffer great punishment and pain. From this, you could release us with a few alms . . . We have created you, fed you, cared for you and left you our temporal goods. Why do you treat us so cruelly and leave us to suffer in the flames, when it takes only a little to save us?]

Nếu đem vụ bán vé thiên đàng cùng với câu than khóc oán hờn của "oan gia trái chủ" đuợc ông Linh mục dòng Dominicaine thực hiện để kinh tài cho Giáo hội xây thánh đường Phêrô với vụ thầy Trúc Thái Minh Chùa Ba Vàng, thì thầy Thái Minh chỉ là một tiểu tăng nhỏ bé của riêng Chùa Ba Vàng, không đại diện cho chủ trương của cả giáo hội từ giáo triều này tới giáo triều khác như bên Công giáo Rôma, trải qua hằng mấy trăm năm, và kéo dài cho mãi đến ngày nay, thì như cái hạt cát đem so với quả núi. Ta có thể thưởng thức hai câu thơ trứ danh được gắn vào mồm của linh mục John Tetzel như sau:

Sitôt que sonne votre obole, ngay khi tiếng của vàng bạc vang lên

Du feu brûlant l'âme s'envole, ngọn lửa thiêu đốt linh hồn liền biến mất

Câu này được Martin Luther chống đối mãnh liệ

t trong luận đề thứ 27 của ông, như sau:

Đó là một sự bịa đặt của con người, sự rao giảng rằng ngay khi tiếng bạc gieo vào đáy két, thì linh hồn được giải thoát khỏi Luyện Ngục.

[C'est une invention humaine, de prêcher que sitôt que l'argent résonne dans leur caisse, l'âme s'envole du Purgatoire].

Ngày nay, lúc giáo hoàng Phanxicô sang Brasil, giáo hội cũng phát ra tweeter để bán vé thiên đàng cho ai trực tiếp đến dự, còn nhấn mạnh là sự tham dự qua Internet thì không được vé, hèn chi mà lâu nay tôi luôn có ấn tượng mạnh mỗi khi giáo hoàng đi đâu thì đám đông quần chúng vây quanh ngài hơn cả kiến bu vào cục mỡ, nếu đứng từ trên cao nhìn xuống:

"That includes following Twitter," said a source at the penitentiary, referring to Pope Francis' Twitter account, which has gathered seven million followers. "But you must be following the events live. It is not as if you can get an indulgence by chatting on the internet." (theo tin báo Guardian https://www.theguardian.com/world/2013/jul/16/vatican-indulgences-pope-francis-tweets)

Martin Luther chống lại giáo hội bằng 95 luận đề (thèses) nổi danh theo đó mà người Phản Thệ lập giáo, trong đó ông công kích kịch liệt nhiều sai phạm của giáo hoàng, đặc biệt là sự rót đầy ngân quỹ của giáo hội bằng việc bán giao kèo vào Thiên Đàng (letter of Indulgence). Dù có đến 95 luận đề, nhưng tựu chung không đi xa đề tài Luyện Ngục. Nên lưu ý rằng, ngôn ngữ trong 95 luận đề, tuy là chống Giáo Hội, nhưng chưa hoàn toàn đánh mất sự tôn kính đối vớí giáo hoàng như sau này, vì lúc ấy, Luther chưa nắm chắc được sự an toàn của mình, phải luôn trốn núp và được một số thân hữu bên Đức che chở, đặc biệt là nhà thờ Wittemberg ở vùng Đông Đức, nơi ông phát tán 95 luận đề, hơn nữa, ông chỉ nghĩ rằng ông phản đối để Giáo Hội sửa sai, chứ không có ý lập giáo. Nước Đức là nơi an toàn nhất cho ông vì đa số quý tộc của Đức thường bất mãn với Giáo Hội La Mã, họ bị đối xử bất bình đẳng so với quý tộc Pháp mặc dù tiền đóng góp của họ so với tiền của quý tộc Pháp hoàn toàn không thua kém. Chẳng hạn, các giáo chức của Đức được phái đến từ La Mã, trong khi giáo chức Pháp thì được Giáo Hội chọn tại chỗ mặc dù đã nhiều lần phản ảnh.

Luther bị dứt phép thông công, nhưng nhờ một người quý tộc Đức là Frederic ''nhà hiền triết'' che giấu mới sống sót. Ông ẩn núp trong nhà Fréderic cả năm trời, và nhân cơ hội, ông dịch sách Tân Ước sang Đức ngữ vào năm 1521. Giới quý tộc Đức nghe danh ông, dần dần tạo thành một nhóm ủng hộ ông, cho ông cảm giác an toàn hơn, kịp đến lúc vua Đan Mạch và vua Thụy Điển cũng ra mặt ủng hộ ông thì Martin Luther nghĩ đến việc tách giáo (ly giáo).

Sự tách giáo này rất đẫm máu giữa Tin Lành và Công Giáo Rôma. Ngày nay thì hai bên đã tìm cách dừng lại lời lẽ khiêu khích và thù hận nhau, cả hai bên đều tự biết sức mạnh của nhau, Tin Lành được Hoa Kỳ bảo vệ, và Rôma có sự hậu thuẩn của rất đông tín đồ trên toàn thế giới ngay cả trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Nhưng sau khi Martin Luther tách giáo thì cả vài trăm năm sau, máu vẫn không ngừng chảy giữa hai tôn  giáo cùng một nguồn gốc này.

Có thể kể ra các cuộc chiến đẫm máu xuất phát từ sự tách giáo này mà không cần đi vào chi tiết như sau:

● Cuộc Nổi Loạn Nông Dân ở xảy ra ở Đức năm 1525.

● Vụ tàn sát nhóm Tin Lành Anabaptist ở Münster năm 1536 khi thành phố nhà nước này suy thoái nhường bước cho đạo quân La Mã vào, họ giết người Anabaptist và chặt thây phơi trong những chiếc lồng treo trên các khung Thánh Đường.

● Tám cuộc chiến tranh đẫm máu trong nội bộ nước Pháp trải dài gần 40 năm từ 1562 đến 1598 như đã được nêu ra phía trên khi nói về vua Henri IV với vụ tàn sát ngày lễ thánh Bartholémy tại Paris. Tổng số chết của đôi bên có thể lên đến 4 triệu người theo death toll của wikipedia.

● Cuộc chiến tôn giáo 30 năm giữa hai khối Công giáo Rôma và Phản Thệ tại Âu châu mà số người chết ước tính có thể lên đến 13 triệu người, cũng theo death toll wikipedia.

Nếu thêm vào đây vụ thảm sát người Waldensians ở Piedmont do Công giáo Pháp thực hiện vào năm 1655, thì ta phải kinh khiếp cho sự tàn ác của người Công giáo, họ tàn ác đến nỗi trẻ con bị xé toạc làm hai. Ai muốn xem sự tàn ác này ra sao, xin vào website: http://www.executedtoday.com/2011/04/24/1655-massacre-of-waldensians/

http://www.executedtoday.com/2011/04/24/1655-massacre-of-waldensians/</a>

Mặc dù người Phản Thệ từng là nạn nhân đau khổ của Công giáo Rôma, Martin Luther lại là người tỏ ra rất sắc máu đối với Do Thái giáo, ông từng hô hào tàn sát hoặc thiêu hủy các đền thờ Do Thái giáo, chắc chắn là do đọc kinh Thánh thấy dân Do Thái đòi giết Chúa Kytô, mà theo tôi, có lẽ đã được bí mật sửa đổi sau khi Giáo Hội được Contantine I đưa lên làm quốc giáo.

Sự chia cắt Công giáo làm 3 vào thời Phục Hưng đã khiến cho phần còn lại của nhân loại được rất nhiều ân phúc. Cứ giả thiết là trên toàn thế giới, chỉ có một Kytô giáo do Rôma điều khiển như trước 1054, thì nhân loại còn phải chìm đắm trong biển máu và trong bóng tối (dark ages) cho đến khi nào?

Nếu thật sự những chia cắt đẫm máu này đều do chính Thiên Chúa toan tính, thì nhân loại nên cám ơn ngài.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ XIX, nhiều tác giả trí thức viết về Kytô giáo đều gần như từ trong quả táo do Adam ăn mà sinh ra, không có họ, chúng ta sẽ hoàn toàn không biết gì về Kytô giáo, những vụ tàn sát, các mưu toan gian manh, những dâm loạn, những vụ buôn thần bán thánh, những âm mưu cướp nước, những vụ tàn sát các thổ dân Mỹ châu, các chủ trương tiêu diệt ngoại giáo hay dị giáo...không có những thức giả từ trong cái nôi của Kytô giáo bước ra vạch màn bí mật, thì chúng ta chỉ còn nước nằm im chờ Kytô giáo đến truy sát bằng cách này hay cách khác, bằng viên kẹo bọc đường tẩm thuốc kịch độc, hoặc bằng chính anh em nhà mình được giáo hóa biến thành con chiên rồi trở dáo đòi dâng hiến gia tài của tổ tiên cho Chúa.

Quá trình hình thành và suy yếu của Kytô giáo trải qua gần hai thiên niên kỷ. Các cuộc thánh chiến hao tốn xương máu của giáo dân xảy ra trong thời Trung Cổ. Thời kỳ giàu có và hùng mạnh nhất của Công giáo La Mã chính là thời đại Phục Hưng, tại đây, các tòa án dị giáo được thành lập để giết người mà Giáo Hội cho là "dị giáo", giáo hoàng chia hai thế giới ban cho hai vương quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, truy sát và giết tận giết tuyệt các phù thủy, buôn bán nô lệ từ Phi châu hoặc từ Mỹ châu gửi về, xây dựng các cung điện huy hoàng tráng lệ tại Vatican, đời sống của giới tu sĩ và quý tộc Âu châu liên hệ nhau rất mật thiết vì hai bên cần nhau để bóc lột dân đen. Người dân không theo Chúa thì bị lên án tử hình, toàn thể Âu châu chỉ có một tôn giáo duy nhất nên ngay từ đầu, 4 thuộc từ Thánh Thiện, Duy Nhất, Công Giáo và Tông Truyền ít nhất có 3 điều rất chính xác: Công giáo, tức hoàn vũ giáo, mang ý nghĩa thống trị, trái đất là của Thiên Chúa. Duy nhất, là không một tôn giáo nào khác đạt kỷ lục về sự tàn sát kinh khiếp như Kytô giáo. Tông truyền, là đời này qua đời nọ, nhờ ăn thịt và uống máu Chúa theo bí tích thánh thể, họ truyền giống Chúa rất tinh vi, và không tín đồ nào không nghĩ đến việc xóa bỏ các tôn giáo khác để cho nước Chúa ngày càng nới rộng biên cương. Điều này ngay trong kinh nguyện, kinh nhật khóa của họ tại VN, họ không che giấu việc gọi đạo Phật là bụt thần tà đạo, điều này được huấn luyện trong phương thức nhắm vào mục vụ cải đạo người Lương, như sau:

Rất nhiều linh mục và giáo dân luôn thành kiến rằng: đạo của người lương giáo là đạo thờ bụt thần ma quỷ. Thật là một lầm lỡ lớn. Không biết gì về đạo người ta, mà dám phê bình như vậy. Đạo người ta bắt nguồn từ thế kỷ 5 trước Chúa Kitô giáng trần, đạo đó hướng dẫn người ta làm lành lánh dữ tu thân tích đức. Đạo đó, nếu hiểu theo tinh thần Công đồng Vatican 2 thì những nguyên tắc của đạo cũng được Thiên Chúa mặc khải cho người sáng lập đạo hình thành, để hướng dẫn người ta nên tốt. Có thể nói đạo đó ở Á Châu bắt nguồn từ trước Công Nguyên chuẩn bị cho người sau này biết lắng nghe lời Chúa Giêsu Con Thiên Chúa giáng trần một cách hữu hiệu hơn. (http://www.vanhoaviet.info/truyengiao.htm).

Nghĩa là Phật được Chúa sai ra đời (mạc khải cho) để dọn đường cho người Châu Á sẽ theo Chúa Kytô trong tương lai! Không gì trịch thượng và thiếu lễ độ (tối thiểu) bằng! Muốn lí luận với hạng này, chúng ta nên vào hàng thịt hàng cá ở chợ Sài Gòn mời vài vị cao thủ, chứ các tu sĩ Phật giáo không thể mặt dày mồm năm miệng bảy tranh cãi với họ.

(xem tiếp Phần 3 =>)

 

Trần Trọng Sỹ (Paris 2019)

Trang Tôn giáo




Đó đây


2019-10-17 - Ls Hoàng Duy Hùng từ Mỹ tâm tình với Thiếu tướng QĐNDVN Lê Mã Lương -

2019-10-16 - Việt Nam nêu quan ngại Trung Quốc vi phạm chủ quyền trước ASEAN - Việt Nam nhấn mạnh hành vi của Trung Quốc đã và đang ảnh hưởng tiêu cực tới hoà bình và an ninh ở khu vực, không tạo bối cảnh thuận lợi cho tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), trong khi tình hình hiện nay cho thấy tính cấp thiết của COC nhằm ngăn các vụ việc tương tự trong tương lai.

2019-10-16 - Xoay quanh chuyện LML chê lãnh đạo Bộ Quốc phòng (584) -

2019-10-16 - Rào cản của việc luận tội TT Trump đã bị gãy đổ - ...và hôm thứ ba, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao, George Kent, đã làm chứng trong gần 10 giờ về tập phim mặc dù các luật sư của chính quyền Trump đã cố gắng chặn ông, theo một nguồn tin điều tra luận tội.

2019-10-15 - Tiến sĩ, ông lấy tư cách gì miệt thị chư tăng? - Trả lời phỏng vấn trên tintaynguyen.com của tác giả Hoài Thanh, trong bài Đi tu mà có 300 tỷ là không biện luận được, ông tiến sĩ Tôn giáo học Dương Ngọc Dũng không ngớt lời miệt thị chư Tăng, đây là hành động khiếm nhã, với cách trả lời thiếu chính kiến và đầy ác ý, có thể gây ảnh hưởng tín tâm của cộng đồng Phật tử sơ cơ

2019-10-15 - Đoàn Đại biểu Quân sự cấp cao Việt Nam thăm EU và ký Hiệp định FPA - Trong chuyến thăm EU từ 14-19/10, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch sẽ ký Hiệp định giữa Việt Nam và EU về thiết lập khuôn khổ tham gia của Việt Nam vào các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU. Chuyến thăm cũng thể hiện tinh thần chủ động, có trách niệm của Việt Nam trong việc thúc đẩy nỗ lực chung nhằm mang lại hòa bình cho khu vực và trên thế giới

2019-10-14 - Đề tài 32: Đề Nghị Nhớ Ơn Cha Đẻ Mạng Facebook thay vì Alexandre De Rhodes -

2019-10-13 - Rudy Giuliani bị điều tra về các liên kết đến việc triệu hồi Marie Yovanovitch, Đại sứ Hoa Kỳ ở Ukraine - CNN và Bloomberg đã báo cáo hôm thứ Năm rằng các công tố viên liên bang cũng đang kiểm tra các giao dịch tài chính của Giuliani với các cộng sự Igor Fruman và Lev Parnas, những người đã bị bắt hôm thứ Năm với cáo buộc họ đã bí mật chuyển tiền Nga cho các nhóm ủng hộ Trump và các ứng cử viên GOP khác.

2019-10-13 - Các điệp viên Nga mở Champagne ăn mừng sau khi Trump thắng cử 2016, nói rằng họ đã "Làm cho nước Mỹ vĩ đại" - Ủy Ban Tình Báo Thượng viện Mỹ (đảng đa sô, Cộng Hòa) vừa mới ra báo cáo chứng thực kết quả điều tra của ông Mueller, rằng "Cơ Quan Nghiên Cứu Mạng (Internet Research Agency) của Nga đã hoạt động để làm hại bà Clinton và giúp ông Trump lên làm tổng thống năm 2016". (theo huffpost, October 8, 2019)

2019-10-13 - Thi sĩ Du Tử Lê - Ai nhớ ngàn năm một ngón tay - Và thơ ông đã vui trở lại. Năm 2014, thi phẩm “Giỏ hoa thời mới lớn” của ông được xuất bản trong nước. Nó khởi đầu cho hàng loạt tác phẩm khác được ông dành riêng xuất bản tại quê nhà.



▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 >>>




Thư, ý kiến ngắn
● 2019-10-17 - Nhòm ra đồng lúa lòng đầy xót xa - Thơ nhà nông: Biên Phạm -

● 2019-10-16 - Đọc những nội dung phản ứng ông Dương Ngọc Dũng miệt thị Tăng già Phật giáo - Trần Quang Diệu -

● 2019-10-16 - Tin ngắn khẩn gửi Thủ Tướng - về vụ Đà Nẵng có đề án đặt tên đường Alexandre De Rhodes - FB Lâm Phú Châu -

● 2019-10-10 - Như vậy là quá rõ, chữ Việt không do Đắc Lộ phát minh - Giác Hạnh -

● 2019-10-07 - Chữ Việt - Vai trò của Alexandre De Rhodes chỉ là công cụ, chứ chẳng có gì đáng tôn vinh - Huy Thái -

● 2019-10-07 - Nhờ những tài liệu của Sách Hiếm, chúng tôi thế hệ trẻ đủ tài liệu để tranh luận - Đức Nguyễn -

● 2019-10-06 - Óc châm biếm của dân Nữu Ước - Hình quảng cáo "luật sư khùng" trong các toa tàu điện ngầm ở New York - Mike Wilson -

● 2019-09-28 - Khi chống không nổi trước những Sự Thật bất khả phủ bác, thì phải công nhận, nhưng lại lươn lẹo - FB Dung Nguyen -

● 2019-09-26 - Con Giun Xéo Mãi Cũng Oằn ! - Mike Wilson -

● 2019-09-26 - Loạn Ngôn Trong Các Chức Vị Của Giáo Hội Ca-Tô La Mã - FB Lâm Phú Châu -

● 2019-09-14 - Trung Thu - Niềm vui vỡ òa từ chương trình tràn qua tâm mình : Ký Ức Vui Vẻ - Mùa 2 - Mike Wilson -

● 2019-09-14 - Cựu Thẩm Phán, nhà báo Lữ Giang-Tú Gàn đã an nghỉ trong Chúa - Diễn đàn thư tín -

● 2019-09-13 - Tin lề trái về LM Trần Đình Long - Tin Thêm 34 Việt Kiều Mỹ, Úc... Đòi Thưa Cha Long - Cộng Đồng FB -

● 2019-09-08 - Ý Kiến Khác Về Việc Cô Ni, Tăng Chú (Chú Tiểu) tới Nhà Thờ - Giác Hạnh -

● 2019-09-07 - Đề phòng kẻ gian lợi dụng tuyên truyền phản cảm làm nhục đạo Phật - FB Phú Lâm Châu -

● 2019-09-06 - Cảnh báo - Nhân vụ Giáo Điểm Tin Mừng Bị Dẹp - FB Lâm Châu -

● 2019-09-03 - Xem quân sử "Trừng trị bóng ma trên đỉnh Trường Sơn" - Việt Dân -

● 2019-08-31 - Cởi Áo Cà Sa Khoác Chiến Bào: Đại Đức => Đại Tá Đinh Thế Hinh - Thi Nguyen & Bạn -

● 2019-08-30 - Xem video clip "Bằng chứng về Siêu Điệp Viên Nguyễn Văn Thiệu của Cộng Sản - Cựu tổng thống VNCH" - Phạm Uyên Bác -

● 2019-08-29 - Người ta gọi người không theo chúa là bên Lương, vậy bên theo Chúa là ... - sylvia le -


▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 >>>