 |
28-Jul-2012 |
Dư luận lúc bấy giờ, nhất là trong tầng lớp trí thức, phản ứng mạnh mẽ. Lịch sử Việt Nam dưới nhiều triều đại, dù có khi đạo Phật đạo Khổng được cả nước, từ vua quan đến sĩ phu đến dân chúng, sùng bái, nhưng các tôn giáo nầy vẫn chưa bao giờ được gọi là quốc giáo hay đạo của chính quyền. Nay đề cao một tôn giáo (đã thiểu số lại từng làm tay sai cho ngoại bang) lên làm quốc giáo là đi trái với truyền thống dân tộc một cách trắng trợn, nên hai chữ “Công giáo” đã trở thành đề tài phê bình và phiếm luận, công khai có mà âm thầm cũng nhiều, trên mặt báo trong nhiều tháng. Người dân đòi hỏi chính phủ phải tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị để tránh sự lũng đoạn chính quyền về sau.
Trong đời sống
hàng ngày, Chữ nghĩa và Từ ngữ được dùng để chuyên chở ý tưởng, nhưng
có bao giờ chúng ta bất chợt nghĩ đến “nghĩa thật” hoặc xuất xứ của
những từ ngữ thường dùng trên đầu môi chót lưỡi không ?
.JPG)
Cuộc rước một Tổng Giám Mục người Pháp trước một
thánh đường.
Ảnh https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/5813368551/ (SH minh họa)
Đôi khi, chính từ những ý thắc mắc bâng quơ đó mà bạn sẽ ngạc nhiên khi tìm thấy
thật nhiều suy nghĩ về cuộc đời, về thế thái nhân tình, về con người và đôi khi
những bài học kỳ thú về lịch sử nữa …
Ví dụ như để gọi một giáo phái thờ Chúa có trụ sở ở La Mã, người ngoại quốc chỉ
đơn giả gọi “Catholics”, mà tiếng Việt mình thì thật nhiêu khê: đạo Thiên
Chúa, đạo Chúa, đạo Cơ Đốc, đạo Gia Tô, Ki-tô giáo, và gần đây là … Công giáo.
Trong những danh từ riêng đó, hai chữ “công giáo” đứng trơ trọi một mình
về mặt ý nghĩa bởi vì những danh từ Thiên Chúa, Cơ Đốc, Gia Tô, Ki-tô đều từ tên
vị giáo chủ là Chúa mà ra, nhưng còn “công giáo” là gì? Danh từ công giáo
đã có trong từ ngữ Việt Nam từ bao thế kỷ như những danh từ Hán-Việt khác, từ
“công giáo” có lẽ đã du nhập vào tiếng Việt từ những ngày đầu tiên khi văn minh
Trung Hoa theo bước đoàn quân viễn chinh Tàu sang đô hộ quận Giao Chỉ vào thế
kỷ thứ nhất, thứ nhì.
Chữ “Công” trong Việt ngữ có hai nghĩa khác biệt:
1- “Công” nghĩa là sự làm việc, sức làm việc, những gì động
đến tay chân. Đây là nghĩa mà những tiếng ghép như “công lao”, “công
sức”, “công kênh”, “công binh”, “công cuộc”, “công nhân”, …
2- “Công” còn có nghĩa thứ nhì là chung đều cho tất cả mọi
người, chung cho mọi người do nhà nước ban hành và điều khiển [1] như
trong “công quyền”, “công cọng”, “công bình”, “công cụ”, …
Chữ “Công” trong danh từ Công giáo mang nghĩa thứ nhì ở trên và “công
giáo” được định nghĩa là “tôn giáo được thừa nhận là đạo chính
thức” (theo Tự Điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn, 1960).
“Chính thức” đây có nghĩa được chính quyền thừa nhận. Việt Nam
Tự Điển của Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức thì định nghĩa một cách
rõ ràng hơn:
Công giáo: (a) Tôn giáo được nhà nước nhìn nhận là tôn giáo chính
thức của nước ấy, (b) Đạo Gia-Tô ở Việt Nam. [2] [3]
Như vậy, “công giáo” có hai nghĩa: (i) Đạo chính thức của cả nước,
và (ii) Đạo Chúa hay đạo Gia-tô.
Nghĩa trước (i) đã có trong từ ngữ Việt Nam từ bao thế kỷ qua, còn
nghĩa sau (ii) thì được du nhập từ thời nào ? [4]
Từ ngữ đến và đi trong đời sống khác với con người hay cát bụi.
Con người có khai sinh để biết lúc nào chào đời, đất đá có thể dùng
phóng xạ đồng vị C14 để đo được số tuổi chính xác, nhưng còn từ ngữ
thì sao ? Với ngôn ngữ thì không thể định được ngày nào thì một danh
từ ra đời, tuy nhiên để biết một danh từ ra đời hoặc trở nên thông
dụng trong thời đại nào thì không phải là chuyện khó !
Nhiều từ ngữ được sáng tạo nhưng không bao giờ “ra đời” hay “thành
hình”, nghĩa là đi vào ngôn ngữ của quần chúng, mà ngược lại chỉ
quanh đi quẩn lại trong một nhóm người, rồi chết đi theo thời gian
!
Một từ ngữ chỉ được “thành hình” khi từ ngữ đó được dùng trong báo
chí, trên tin tức hàng ngày, được nhắc nhở đi đi lại lại nhiều lần
để dần dần thấm vào tiềm thức của người nghe và một ngày nào đó bước
vào ngôn ngữ thường nhật mà chính người nói cũng không hay biết.
Những danh từ như nhà “ga” (xe lửa), “xà phòng”, mái tóc “phi dê”
(tóc uốn), phi đạo, hỏa xa, … không thể nào có trước thời Pháp thuộc
được, bởi vì những vật đó không thể nào có mặt trước khi Pháp xâm
chiếm Việt Nam. Và dĩ nhiên là đọc trong cổ văn Việt Nam trước thế
kỷ 18 sẽ không bao giờ tìm thấy tăm hơi những chữ đó cả..
Vì vậy, một trong những cách để các nhà ngôn ngữ học khi tra cứu
nguồn gốc một chữ nào đó là tra cứu trong văn chương, trong tự điển,
sách báo, tài liệu lịch sử và cả trong nền văn học truyền khẩu dân
gian … để khẳng định được sự ra đời của một từ ngữ.
Chữ “công giáo” cũng không đi ngoài thông lệ đó !
Sách báo Việt Nam trước thập niên 60 khi đề cập đến Catholics
thì dùng chữ Thiên Chúa giáo, đạo Gia-Tô, đạo Ki-Tô hay đạo Cơ Đốc.
Viết về đạo Catholics, cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của
Đào Duy Anh (1938), ghi rằng: “Từ thế kỷ 16, 17, Cơ Đốc giáo do
các giáo sĩ Bồ-Đào-Nha và Pháp Lan Tây truyền sang thì ở nước ta
lại có thêm một thứ tôn giáo mới theo nghi thức La-Mã giáo hội …” [5]
Toàn bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim (viết khoảng 1950)
không hề dùng chữ “công giáo”. Những danh từ công giáo cũng vắng
bóng trong những tác phẩm văn học viết trước thập niên 50. [6]
Như vậy, qua sự tìm hiểu đặt trên căn bản thời gian sử dụng ngôn
ngữ nói trên, ta có thể kết luận rằng hai chữ “công giáo” được
bắt đầu dùng để chỉ đạo Catholics (Cơ Đốc, Gia Tô, Thiên Chúa, …) vào
cuối thập niên 50 hoặc đầu thập niên 60.
Tại sao lại “Công giáo” mà không là Cơ Đốc giáo hay Thiên Chúa giáo
…? Trong hơn bốn ngàn năm lịch sử, có hàng chục đạo truyền vào và
luân lưu ở Việt Nam, nhưng không hề có hai chữ “Lương” hay “Giáo”,
phải đợi đến thế kỷ 16, 17, khi đạo Cơ Đốc truyền vào thì
hai từ ngữ đó mới được phát sinh ra để phân biệt người trong đạo
(Cơ Đốc) và kẻ … ngoại đạo !
Khác với lịch sử truyền đạo của Cơ Đốc giáo, lịch sử truyền đạo
của một giáo phái khác cũng tôn thờ cùng một ông Chúa là đạo Tin
Lành lại chẳng mang tai tiếng hay tạo ngộ nhận gì trong lịch sử
chống ngoại xâm của Việt Nam. Đạo Tin Lành được truyền vào Việt
Nam khoảng năm 1911 do những giáo sĩ Mỹ.[7] Nhưng
quần chúng Việt Nam lại không thấy bóng hình Thực dân Pháp lấp
ló đàng sau hình ảnh của những giáo sĩ ngoại quốc (cũng da trắng)
nầy. Mà cũng chẳng ai, kể cả vua quan, đàn áp hay ngại ngùng với
việc truyền đạo Tin Lành cả. Tín đồ Tin Lành cũng chẳng bao giờ phân
biệt mình là Lương hay Giáo, bởi vì “Giáo” là chỉ những người theo
đạo Gia Tô, còn Lương thì chỉ hết tất cả những người còn lại. Vậy
thì nếu có phân biệt Lương và Giáo thì tín đồ Tin Lành cũng thuộc
vào loại … “Lương” rồi..
Sau gần 100 năm truyền đạo Tin Lành mà chẳng thấy con chiên hay Mục
sư nào “tử vì đạo” Tin Lành cả. Chỉ vì một lý do đơn giản
là các Mục sư Tin Lành không bao giờ dính dáng đến chính trị, hoặc mượn
tay nhà cầm quyền để rao giảng lời Chúa dạy cả.
Cùng đi rao giảng lời Chúa dạy mà một bên đến với nhiều “ngộ nhận”
(hay “chính” nhận ?), còn một bên đến thật êm đềm và được đồng bào
Việt Nam đón nhận vào đại thể văn hóa của dân tộc !
Ý tưởng biến Thiên Chúa giáo thành “tôn giáo của chính quyền” đã
manh nha từ thời Pháp thuộc trong chính phủ và giới tăng lữ của nhà
nước bảo hộ Pháp và trong cả những linh mục bản xứ đã quên mình
là người Việt Nam. Vào những năm thánh cuối cùng của chế độ Thực
dân, chữ “công giáo” được vài cha phổ biến một cách hạn hẹp trong
giáo đồ. Nhà văn Nguyễn Vỹ, trong cuốn bút ký chính trị “Tuấn,
Chàng Trai Nước Việt” (trang 132) đã nhận xét rằng: “…Nhưng
uy quyền của Pháp đang mạnh, thế lực Thiên Chúa giáo mà thực dân
Pháp coi như công giáo và che chở, kính nể, đang bành trướng khắp
nơi …” [Xin lưu ý hai chữ “Thiên Chúa giáo” và “công giáo” được dùng
chung trong một mệnh đề với 2 nghĩa khác nhau. Điều nầy
có nghĩa là cho đến khi ông Nguyễn Vỹ viết tác phẩm nầy, “Công giáo” chưa phải
là tên của đạo Catholic] .
Lòng các cha thì ao ước “bành trướng khắp nơi” như vậy, nhưng tình
hình chính trị lúc đó đã không cho những người linh mục nầy biến
Thiên Chúa giáo thành một thứ quốc giáo hay “công” giáo. Giác mộng
nầy phải đợi đến mấy mươi năm sau, khi người em ruột của
vị Giám mục nhiều tham vọng Ngô Đình Thục là ông Ngô Đình Diệm lên
nắm quyền ở miền Nam !
Ai cũng biết dùng chữ “Công giáo” trong ngôn ngữ Việt Nam thì có
ít nhất ba điều không ỗn:
■ Để gọi một tôn giáo, người Việt (hay đa số
mọi quốc gia trên thế giới) dùng tên người sáng lập ra tôn giáo hay
triết lý của tôn giáo đó mà gọi như Phật giáo (Buddha, Buddhism), Khổng giáo
(Confucius, Confucianism), Lão giáo (Lao Tsu, Taoism); hoặc lấy tên của
dân tộc, sắc dân đã khai sinh ra tôn giáo đó để đặt tên như Ấn giáo (India,
Hinduism), Hồi giáo (Muslim, Islam), Do Thái giáo (Jews, Judaism), Anh giáo
(English, Anglican), v.v…Và cũng theo nguyên tắc đó mà người Việt (hay đa số
mọi quốc gia trên thế giới) đã gọi đạo Catholics là đạo Gia-Tô (Giêsu,
Jesus), hay Cơ Đốc (Christ), hoặc đạo Chúa..
Trước thập niên 50, người Việt đã không gọi Catholics là “Công”
giáo vì không có một vị giáo chủ sáng lập nào tên là … “Công” hay
một dân tộc nào tên là “Công” cả. Chữ “Công giáo” chỉ xuất hiện,
như đã chứng minh bằng một số văn bản ở trên, từ khi có chế độ
Ngô Đình Diệm.
■ Ngày nay, thế hệ trẻ Việt Nam sẽ liên tưởng rằng công giáo là
công bình, công minh, bác ái. Điều nầy thật là buồn cười vì những người có
căn bản Hán Việt đều hiểu rằng trong danh từ kép công bình thì chữ Bình
là chính nghĩa, chữ Công chỉ là bổ nghĩa (liên hệ đến chính quyền).
Cũng vậy, trong danh từ kép công minh thì từ Minh (sáng suốt) là chính,
cũng như bác ái đến từ chữ Ái (là yêu). Do đó, nếu chữ công giáo là
công bình, công minh thì tại sao lại không dùng nghĩa chính (bình, minh), gọi
đạo nầy là Bình giáo hay Minh giáo, mà lại dùng chữ bổ nghĩa
(công) để gọi là Công giáo ?
■ Ngoài ra, hai chữ Giáo và Đạo trong tiếng Việt được
dùng để gọi một tôn giáo như ta vẫn gọi Khổng giáo là đạo Khổng, Hồi giáo là
đạo Hồi, Phật giáo là đạo Phật, v.v… Như vậy, từ nay, gọi Công giáo là … đạo
Công chắc cũng không sai !
Những người đề xướng ra danh từ “Công giáo” chắc có thừa thông minh
để hiểu những nghịch lý, sai lầm và bất cập nầy
nhưng vẫn miễn cưỡng hoặc ngoan cố làm vì quyết định đổi từ “Cơ-Đốc
giáo” sang được chữ “Công giáo” là bước đầu trong tham vọng biến
lời Chúa dạy thành lời của Cesar, biến tổng thống Ngô Đình Diệm
thành vua Constantin (vị hoàng đế đã quốc giáo hóa đạo Giê-su
cho đế quốc La Mã).
Song song với việc đổi tên đạo, đảng Cần Lao của Công giáo cũng
được khai sinh để hổ trợ cho chính quyền. Cơ sở đảng Cần Lao từ trung
ương đến địa phương đều nằm dưới quyền lãnh đạo hoặc cố vấn của
các Giám mục, các Linh mục. Đảng Cần Lao độc quyền chống Cọng
và độc quyền trị nước nên các đảng quốc gia khác như Việt Nam
Quốc Dân đảng, Duy Dân, Đại Việt, Dân Xã, … đều bị đán áp vì việc
“chống Cọng” đã có Cần Lao lo rồi.
[Từ cuối thập niên 50’] Đảng viên Cần Lao hầu hết phải là người
có đạo Công giáo. Những chức vụ quan trọng trong bộ máy công quyền
phải do đảng viên Cần Lao nắm giữ. Ở nhiều địa phương, nhất là ở
miền Trung, tân đảng viên Cần Lao khi gia nhập đảng phải đọc lời
thề có câu: “…Thề tiêu diệt Phật giáo Ma quỷ và các đảng phái
Quốc gia…” (theo tạp chí Thức Tỉnh của ký giả lão thành
Tô Văn số 115, 116, Los Angeles). Sau khi chế độ Diệm bị lật đổ,
đảng Cần Lao mà một thời hét ra lữa với những đoàn mật vụ hung hiễm,
đã hoàn toàn tan rã vì quyền lợi của những người gia nhập đảng không
còn nữa. Sau năm 1975, tại hải ngoại, một nhóm tàn dư đảng viên
cũ cố làm sống lại đảng nầy bằng cách bóp méo lịch sử, nhưng
nỗ lực nầy chỉ tạo thêm phản ứng bất lợi cho họ mà thôi.
Ngày hôm nay, nếu có ai hỏi về hai chữ “công giáo”, các
cha sẽ giảng nghĩa khác đi[8] vì
các cha không còn thế lực chính quyền nữa. Nhưng ở thời Ngô Đình
Diệm, dùng chữ Công giáo thay cho Cơ-Đốc giáo, các cha muốn cho quần
chúng Việt Nam biết rằng tôn giáo nầy được chính quyền hổ trợ
như một quốc giáo. Đó là các thông điệp vừa ngầm vừa tỏ gửi đến
cho giới trí thức Việt Nam thời đó. Cái lợi thứ hai về truyền đạo
là đối với người dân ít học, thấp cổ bé miệng, thì hai tiếng “công
giáo” kèm với hình ảnh của đảng Cần Lao đã tạo cho người đi giảng
lời Chúa một thứ quyền lực đe dọa của nhà nước. Lời Linh mục
phán là lời của “công” quyền, lệnh của các Cha là chính sách của
quốc gia.
Việc đổi tên của một Giáo hội đã được hợp thức hóa và quy mô hóa
với sự hậu thuẫn của chính quyền thời đó. Hệ thống tuyên truyền và
hệ thống hành chánh của nền Đệ Nhất Cọng hòa được vận dụng tối đa
để chính thức hóa danh xưng mới nầy. Hai chữ “Công giáo” xuất
hiện trên công văn của chính phủ, trên sách báo, nhắc đi nhắc lại
nhiều lần trên các đài phát thanh với mục đích thấm dần vào đầu trí
thức và quần chúng Nam Việt Nam.
Dư luận lúc bấy giờ, nhất là trong tầng lớp trí thức, phản ứng mạnh
mẽ. Lịch sử Việt Nam dưới nhiều triều đại, dù có khi đạo Phật đạo
Khổng được cả nước, từ vua quan đến sĩ phu đến dân chúng, sùng bái,
nhưng các tôn giáo nầy vẫn chưa bao giờ được gọi là quốc giáo hay
đạo của chính quyền. Nay đề cao một tôn giáo (đã thiểu số lại
từng làm tay sai cho ngoại bang) lên làm quốc giáo là đi trái
với truyền thống dân tộc một cách trắng trợn, nên hai chữ “Công giáo”
đã trở thành đề tài phê bình và phiếm luận, công khai có mà âm thầm
cũng nhiều, trên mặt báo trong nhiều tháng. Người dân đòi hỏi chính
phủ phải tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị để tránh sự lũng đoạn
chính quyền về sau.
Nhưng một khi mà ông chính phủ cổ thì đeo thánh giá, còn tay thì
cầm cán cân CÔNG lý, giữ CÔNG quyền, nắm CÔNG cụ bạo lực (mật vụ,
công an, cảnh sát, đảng Cần Lao, Lực lượng Đặc biệt, Đoàn Công tác
Miền Trung, Chín Hầm, P42) trong tay, bảo rằng tôn giáo này là “CÔNG
giáo” thì cả nước dù có bất đồng ý kiến cũng phải chịu cảnh “con
kiến mà kiện củ khoai” !
Bất chấp dư luận báo chí và nguyện vọng của quần chúng, chế
độ Ngô Đình Diệm và Đảng Cần Lao Công giáo đã cấu kết với Giáo
hội Catholic Việt Nam “cả vú lấp miệng em” để áp đặt hai
chữ “Công giáo” quái đản và ngược ngạo vào ngôn ngữ Việt
Nam.
Để phản đối điều nầy, những người có ý thức được vấn đề chính danh
vẫn dùng danh từ riêng “Thiên Chúa giáo” hay “Cơ Đốc giáo” thay vì
“Công giáo” khi nói hoặc viết. Điều nầy thể hiện rõ rang nhất ngay
trong những sách giáo khoa xuất bản sau ngày chế độ Diệm bị lật đổ.
Đến ngày hôm nay, nhiều người vẫn không quen dùng hai chữ “Công giáo”
khi nói hoặc viết, mà vẫn dùng chữ đạo Gia Tô, Cơ Đốc, Ki-Tô, hoặc
đạo Thiên Chúa. [9]
Ngày nay, hai chữ Công giáo đã mất đi ý nghĩa nguyên thủy mà những
người Thiên Chúa giáo Việt Nam với trái tim La Mã đã áp đặt lên
dân tộc Việt Nam. Chữ Công giáo trở thành một danh từ riêng
như bao danh từ riêng khác. Nhưng những danh từ riêng trong tiếng
Việt đều có nghĩa riêng đặc thù của nó, còn hai chữ “công giáo”
nữa riêng nữa chung, mập mờ vừa công vừa tư, thì có ý nghĩa gì
? Có thể gượng gạo mà giải thích cho các thế hệ trẻ mãi chăng ?
Trình độ dân trí của người Việt Nam cũng được nâng cao, khó có thể
mà tròng tréo che mắt họ bằng danh từ hoa mỹ nữa. Trào lưu Dân chủ
và Nhân bản đang lên cao trên thế giới, liệu những người đầy mặc
cảm mang “tội tổ tông” có thể thực hiện được giấc mộng dâng đất
nước nầy cho Chúa Trời (và Đức Mẹ) qua bàn tay của Giáo hoàng
La Mã không ?
Mục đích ban đầu đã mất ! Hai chữ “công giáo” còn lại gì ngoài việc
làm chứng tích cho một thời kỳ đau buồn trong lịch sử ? Còn lại gì
ngoài việc nhắc nhở người nghe chính sách tàn bạo của một chế độ
Ngô Đình Diệm đã bị dân tộc vất vào sọt rác lịch sử ? Còn lại gì
ngoài việc gợi cho những nạn nhân nhớ lại những ngày thánh hãi hùng
mà họ đang cố quên đi ? Và còn lại gì ngoài việc làm hoen ố lời Chúa
dạy – vốn đã bị con người làm hoen ố nhiều rồi – thêm
nữa ?
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
Ngày nào danh từ “Công giáo” vẫn còn thế chổ cho danh từ “Thiên Chúa
giáo” (hay đạo “Catô La Mã”) thì ngày đó Thiên Chúa chỉ có nghĩa
là Công, và các thế hệ tín đồ sau nầy còn phải gánh chịu bia miệng
của cuộc đời do các Cha, trong một phút ngông cuồng và xuẩn
động dưới thời Ngô Đình Diệm, đã gây ra !
Nguyễn Hy Thần
Chú thích:
[1] Việt
Nam Tự Điển do Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Khai Trí phát hành,
1970
[2] Ibid,
trang 217
[3] Hán
Việt Tự Điển của Đào Duy Anh định nghĩa “công giáo là một tôn
giáo được quốc gia chứng nhận”
[4] Few
young Vietnamese grew up in the US think that the word “công giáo”
originated from the English word “catholic” which means “general”
or “universal”. This is of course a single simple-minded ! The
word “catholic” and “Catholic” tatally differ in their English
meanings. Not just because the two words have the same pronunciation,
they can be translated interchangeably.
Besides, if the word “công giáo” is a translation of a foreign word
as claimed, shouldn’t it be from Dutch, Spanish, Portugese or especially
French ? Weren’t those countries where all missionaries coming to
Vietnam originated from ? Why English, a language virtually unpopular
in Vietnam until the late 50’s ?
[5] Việt
Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh, xuất bản năm 1838, trang 122
[6] Một
vài ví dụ như trong “Bảy ngày Trong Đồng Thap Mười” (Nguyễn Hiến Lê,
1954) dùng danh từ “đạo Gia Tô” để chỉ Catholics. Sách báo thời tiền chiến
(Tự Lực Văn Đoàn …) cũng chỉ dùng Thiên Chúa giáo, đạo Cơ Đốc hoặc đạo Gia
Tô. Những cuốn sử khác như Việt Nam Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn
hoặc Việt Nam Chiến Sử (do Phòng Quân Sử VNCH xuấy bản), ngoài chữ Cơ
Đốc giáo hoặc Gia Tô giáo thì thỉnh thoảng có dùng chữ công giáo. Tuy nhiên,
hai cuốn sử nầy được phát hành vào đầu thập niên 1970, là lúc hai chữ “công
giáo” đã ra đời hơn 15 năm rồi.
[7] Việt
Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh, 1938, trang 125.
[8] Bây
giờ, chữ “công” được giải thích là công cọng trong cái nghĩa “hoàn vũ” (universal).
Nhưng điều nầy cũng không ỗn vì hoàn vũ chỉ là một trong ba thuộc tính
của Giáo hội Công giáo (hai thuộc tính kia là Thánh thiện và Duy
nhất), tại sao lại chọn thuộc tính “công/hoàn vũ” mà không chọn hai thuộc
tính kia vốn cũng có ý nghĩa giá trị hơn nhiều ? Vì vậy, giãi thích nầy chỉ
là một lời ngụy biện để lạc dẫn người nghe hầu che dấu một ý đồ tồi tệ trong
quá khứ mà thôi.
[9] Sau
1975, tại hải ngoại, một số người Việt lại dùng nhóm chữ “
Catô La
Mã” để dịch chữ “
Roman Catholic” là danh xưng tiếng Anh
được hầu như cả thế giới dùng phổ quát trong mọi lãnh vực để chỉ tôn
giáo do Vatican lãnh đạo. Có lẽ danh xưng “Catô La Mã” nầy, về mặt
ngữ nghĩa cũng như thực tiễn, là đúng nhất
Nguồn: trích Chu Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1996), trang339 - 346.