●   Bản rời    

Tôi Đọc Nguyễn Hoài Vân - Hữu Thần Hay Vô Thần?

Tôi Đọc Nguyễn Hoài Vân

Hữu Thần Hay Vô Thần?

Trần Tiên Long

http://sachhiem.net/TTL/TranTL18.php

15-Apr-2012

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/e/e5/Mosque.jpg

Thỉnh thoảng tôi có cơ hội được đọc một số bài của tác giả Nguyễn Hoài Vân (NHV) do chính tác giả chuyển vào diễn đàn. Qua những gì tác giả trình bày, thật khó mà khẳng định tác giả theo lập trường của hữu thần hay vô thần, bởi phong cách trình bày rất ôn hòa, nhả nhặn và lịch sự, mang vẻ khách quan nơi các bài viết. Tuy nhiên, đọc đến bài Tín Ngưỡng Và Tự Do thì tôi tin tác giả đang biện minh cho một quan điểm hữu thần.

Dĩ nhiên, ai ai cũng có quyền tin hoặc không tin bất cứ điều gì, kể cả làm công việc biện minh. Mặc dù vậy, khi trình bày một quan điểm, chúng ta thường không ít nhiều bị ảnh hưởng bởi thành kiến, cảm tính chủ quan, một điều khó có thể hoàn toàn tránh khỏi. Trong tinh thần trao đổi để làm sáng tỏ sự thật, người viết muốn trưng ra một vài sai lầm trong cách tư duy của tác giả NHV khi ông cố gắng biện minh cho niềm tin tín ngưỡng.

Niềm tin là kết quả của tư duy, đưa đến cách hành xử có ảnh hưởng rộng rãi vào trong xã hội; và tôn giáo, đặc biệt là các tôn giáo thuộc nhóm độc thần giáo, được xây dựng trên các niềm tin. Vì tầm quan trọng của vấn đề, bài viết này còn có mục đích trình bày một lối nhìn khác, có thể cũng là chủ quan như chính tác giả, nên người viết rất mong muốn có được sự góp ý của các đọc giả từ mọi phía.

I. Niềm tin tôn giáo và sự tự do

Trước tiên, tác giả NHV đã đặt vấn đề rất chính xác về sự tự do khi ông viết:

“Khi mang một niềm tin tôn giáo thì người ta phải hạn chế sự tự do suy nghĩ của mình để phù hợp với những tín điều của tôn giáo mà mình tin theo. Một số nhà khoa học có tín ngưỡng, khi bàn về Thượng Đế, đời sống sau khi chết v.v... thường cho rằng họ phải để sang một bên trí tuệ của họ, phải hạn chế nó, để dành chỗ cho niềm tin. Một đứa trẻ khi được giáo dục trong một niềm tin tôn giáo, thì được điều kiện hóa để không nghi ngờ, không cãi lại những gì được truyền dạy, hạn chế sự tự do tò mò tìm hiểu về những gì không thuộc niềm tin ấy. Một người trưởng thành có tín ngưỡng thường chỉ lập lại những tin điều mà họ kế thừa từ gia đình và cộng đồng tôn giáo hay dân tộc của họ, thay vì phát biểu những gì họ tự do suy nghĩ ra. Trong điều kiện ấy, đòi hỏi «tự do tín ngưỡng» có một vẻ gì không ổn!” (Hết trích)

Nhưng tác giả lại khẳng định ngay khi vào đề, rằng đó là một “nhãn quan hời hợt và phiến diện”. Người viết đọc hết bài thì vẫn không tìm thấy được bất cứ một lập luận nào biện minh cho lời khẳng định “nhãn quan hời hợt và phiến diện” này, ngoại trừ sự phân biệt dư thừa của một vài phạm trù trong tôn giáo, vì chỉ ở mức độ, không phải ở bản chất, và chẳng có liên quan gì tới sự tự do.

Có lẽ tác giả đã quan niệm tự do theo nghĩa tuyệt đối nên mới tưởng lầm “người ta có thể cho rằng tín ngưỡng và tự do là hai phạm trù mâu thuẫn”. Nếu bảo mâu thuẫn thì có nghĩa là hai phạm trù không tương hợp với nhau, có cái này thì không thể có cái kia theo tính loại trừ. Nhưng tác giả đã trình bày rất chính xác như đã nêu ở trên là niềm tin tôn giáo đã “hạn chế” sự tự do, chứ đâu có hoàn toàn loại trừ sự tự do. Như vậy, việc đòi hỏi tự do tín ngưỡng theo nghĩa tương đối là một đòi hỏi hợp tình, hợp lý, chẳng có gì để phải gọi là một đòi hỏi “không ổn”.

Tiếp đến, tác giả cho rằng việc “tin hay không tin là một sự chọn lựa, đòi hỏi tự do”. Đây đúng là một nhận xét chính xác, nhưng lại quá đơn giản đối với thực tế của cuộc đời. Trong thực tế, như trên đã trình bày, tự do đã bị hạn chế rất nhiều do hoàn cảnh chung quanh và sự giáo dục nhồi sọ ngay từ khi con người vừa mới lọt lòng mẹ. Không thể dễ dàng, đối với một con người có trí tuệ bình thường, có thể vượt qua mọi ảnh hưởng áp đặt này để có thể sử dụng sự tự do.

Hơn nữa, niềm tin tôn giáo, được Thiên Chúa Giáo (TCG) gọi là đức tin, là một tặng phẩm của Thiên Chúa, không phải cho hết mọi người, nhưng chỉ dành riêng cho những người được Chúa chọn và thương yêu cách riêng. Và theo thuyết Tiền Định (predestination) của Tin Lành, thiên đàng chỉ dành riêng cho những kẻ tin vào Thiên Chúa, những kẻ có đức tin được Chúa sắp đặt trước khi sinh ra đời. Vậy thì sự tự do nằm ở chỗ nào, đó là chưa kể đến những áp lực nặng nề mà TCG đặt trên đầu những kẻ được xem như là dị giáo qua các biện pháp bạo hành, tù tội, ngược đãi, thủ tiêu, xử trảm, thiêu sống, triệt hạ… trong suốt chiều dài lịch sử của tôn giáo này? Ngày nay, có lẽ bó cũi và thanh gươm không còn nằm trong tay của những nhà biện giải cho TCG, nhưng những thủ đoạn và mánh mung muốn áp đặt niềm tin tôn giáo của họ trong xã hội vẫn thường xảy ra hằng ngày ở trong mọi lĩnh vực. Nếu hiểu rằng tự do tín ngưỡng là bao gồm cả tự do không tin thì việc đòi hỏi sự tự do trong tình huống xã hội như vậy là một đòi hỏi cần thiết và cấp bách, chẳng có điều gì để gọi là “không ổn”.

Thực ra, không phải ai ai muốn tin là cũng có thể tự do tin. Tin hay không chẳng phải là một quyết định của ý chí tự do, nhưng đó chỉ là trạng thái của trí tuệ về một vấn đề nào đó. Trạng thái chấp nhận này chỉ đến với chúng ta qua lý luận hợp lý hay khi có các chứng cớ khách quan hỗ trợ. Lý trí nhận thấy điều gì vô lý thì tự động làm mình không tin. Người ta không thể tin tưởng hết lòng những điều vô lý chỉ vì mối lợi như mối lợi mà Blaise Pascal đã đem ra để nhử thiên hạ. Người tin vào điều vô lý thực ra hắn chỉ hy vọng và ao ước điều hắn tin là đúng, do động cơ mối lợi, chứ chẳng phải hắn đang tin tưởng thực sự. Niềm hy vọng và ao ước của hắn không làm điều hắn tin chân thật hơn. Hắn có thể đi nhà thờ, lần chuỗi Mân côi, đọc kinh Tin kính, tuyên xưng đức tin, đặt tay lên Kinh thánh để thề v.v… nhưng những thứ đó không làm niềm tin của hắn mạnh mẽ hơn nếu hắn đã không tin. Trong trường hợp đó, một dụng cụ điện tử, như máy ghi âm lập đi lập lại vô hạn lời kinh, thì chắc chắn tốt và có giá trị hơn người đọc kinh. Bertrand Russell cho rằng chính sự sợ hãi hình phạt hỏa ngục và lòng ham muốn phần thưởng thiên đàng ảo tưởng là động cơ cho các niềm tin TCG.

Đó chính là lý do tại sao TCG hay quanh co bàn về niềm hy vọng thay vì bàn thẳng vào niềm tin, thứ mà họ rất kính trọng và thăng hoa gọi đó là một nhân đức lớn. Hiểu được điều này sẽ làm chúng ta không còn ngạc nhiên và thắc mắc tại sao vẫn thường hay xảy ra những vụ xì căng đan lớn của những giáo sĩ quyền cao chức trọng. Chỉ tại bởi họ chẳng bao giờ thực sự tin vào những điều vô lý mà họ đang rao truyền. Hoặc chẳng hạn, khi giáo hội đang rao giảng về lòng thương yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người, nhất là đối với những người được Chúa lựa chọn và yêu thương cách riêng, thì Đức Giáo Hoàng, người mà mọi tín hữu phải xưng gọi là Đức Thánh Cha, lại phải luôn luôn di chuyển với một đội bảo vệ hùng hậu, ngồi trên xe có gắn kính chống đạn. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Đó có phải là sự thể hiện niềm tin không lay chuyển vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, hay là sự thể hiện niềm tin vào khả năng của loài người, điển hình là các sản phẩm do con người chế tạo?

Những phân biệt của tác giả NHV có vẻ xem ra rất dư thừa, chẳng hạn như việc phân biệt giữa biết và hiểu thì chỉ nằm ở mức độ, không phải là sự phân biệt cần thiết về bản chất, đáng bàn.

Trong bản chất, biết và hiểu thì hoàn toàn giống nhau. Bởi thế, người ta vẫn tự đặt ra những câu hỏi, chẳng hạn như thế nào mới là biết? Biết đến đâu? Biết rõ ràng ngọn ngành, nguồn gốc chưa? Biết điều gì? Biết tại sao? Biết thế nào? Tuyệt đối không có một lằn ranh nào để phân biệt về mức độ giữa biết và hiểu. Cái thí dụ về việc thấy một hòn đá đặt trên bàn mà tác giả trưng ra để phân biệt giữa biết và hiểu không có gì là thuyết phục. Những câu hỏi đặt ra để gán cho “hiểu” cũng có thể để gán cho “biết”. Chẳng qua, đó chỉ là sự phân biệt về mức độ mà tác giả muốn chủ quan nhắm tới theo kiểu trà dư tửu hậu.

Phần còn lại, tác giả bàn về sự phủ định làm tăng giá trị niềm tin, rồi đi đến phi hữu phi vô, làm độc giả nhận ra có sự nhập nhằng đồng hóa giữa việc tin và không tin để rồi gán cho cả hai có cùng một giá trị như nhau.

Đúng hơn, hai sự việc thực ra chỉ là một, bởi việc này chỉ là cái bóng của việc kia. Chẳng hạn, bóng tối không phải là một thực thể, bởi đó chỉ là sự thiếu ánh sáng. Chỗ nào không có ánh sáng thì phải có bóng tối. Người ta không thể đem bóng tối để làm tối chỗ có ánh sáng. Cũng vậy, tin là một thái độ tích cực, xác định một quan điểm và lập trường về một điều gì đó; trong khi không tin thì không cần phải tích cực xác định. Chỉ là vấn đề có hoặc không. Nếu đã có thì không còn là không. Cái này có thì không còn có lý do cho cái kia. Đó là lý do tại sao chẳng có nhà vô thần nào phí công làm công việc chứng minh Thượng Đế không hiện hữu, một điều phủ định. Chẳng qua, những gì họ làm chỉ là trưng ra những ngụy biện và phi lý trong các lập luận của những nhà hữu thần hiện đang biện minh cho những điều họ tin, cho mục đích giảm bớt tình trạng độc quyền buôn thần bán thánh. Lập luận của những nhà biện giải cho TCG rằng bởi vì không ai có thể chứng minh không có Thượng Đế nên phải kết luận Thượng Đế hiện hữu là một lập luận đầy tính ngụy biện vì dựa trên gánh nặng trưng bằng chứng không đúng bên.

II. Niềm tin tôn giáo và sự mê tín

Tác giả NHV không bàn về sự mê tín, nhưng ngược lại, ông rất thiết tha biện minh tích cực cho niềm tin tôn giáo. Đó cũng là lối hành xử chung của những nhà biện giải cho TCG, bởi chẳng ai muốn nghĩ rằng niềm tin của mình là thứ mê tín dị đoan.

La Bua

Vật hamsa bằng đất, treo trên tường, được tin có năng lực bảo vệ người trong nhà

Chúng ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng những người có niềm tin tôn giáo không phải ai ai cũng là những người có tính mê tín dị đoan. Nhưng có gì khác biệt giữa một niềm tin tôn giáo và sự mê tín, ngoài sự việc niềm tin tôn giáo thì được hỗ trợ và cổ động tuyên truyền bởi một tổ chức có thế lực, trong khi niềm tin được cho là mê tín dị đoan thì không? Ít nhất, chúng ta có thể nhận ra ngay được một số điểm tương đồng căn bản sau đây giữa một niềm tin tôn giáo và sự mê tín.

Trước hết, cả hai không phải là vấn đề thuộc vật chất. Đối tượng của các niềm tin tôn giáo và sự mê tín là những thứ không phải vật chất. Người tin thì gọi đó là vấn đề siêu nhiên, thuộc lĩnh vực tâm linh; còn người không tin thì cho đó là vấn đề tự nhiên do ảo tưởng, tùy thuộc vào trí óc tưởng tượng của con người. Đứng trước một hiện tượng chưa có sự giải thích, một bên thì tin có một hay nhiều tác nhân thiêng liêng là tác giả; còn bên khác thì cho rằng mọi hiện tượng đều có nguyên nhân tự nhiên, chưa biết giải thích không có nghĩa là sẽ chẳng bao giờ biết giải thích.

Thứ đến, cả hai niềm tin và sự mê tín đều phát xuất từ lòng ham muốn giải thích các hiện tượng. Chúng có cùng một nguồn gốc là ý muốn gán cho các hiện tượng một ý nghĩa, dĩ nhiên là chủ quan. Từ những ý nghĩa gán ghép này, các nhà biện giải cho TCG đã tùy tiện hướng dẫn xã hội theo những gì họ muốn. Người ta thường đem Kinh thánh để cổ vũ cho hòa bình; nhưng người ta cũng đã từng đem Kinh thánh để cổ vũ cho chiến tranh. Chính niềm tin, cho dù là niềm tin tôn giáo hay niềm tin mê tín, đã là căn nguyên các hành động và lề lối cư xử của con người trong xã hội. Người mê tín dị đoan vì tin rằng nếu ra ngõ mà gặp phải một con mèo đen thì đó là điềm xui cho hết một ngày, nên họ sẽ kiêng cử, không làm những việc quan trọng trong suốt ngày hôm đó. Người có niềm tin tôn giáo thì tin rằng ngày sabbat là ngày của Chúa nên họ dành ngày đó để thờ phượng ngài. Đó chính là kết quả của niềm tin và sự mê tín, cùng xuất phát từ ý muốn giải thích các hiện tượng. Người ta sẽ đề ra những điều cần phải làm hoặc tránh, không nên làm, dựa trên các niềm tin và sự mê tín. Như vậy, niềm tin và sự mê tín đều phát sinh do lòng ham muốn của con người muốn gán một ý nghĩa cho hiện tượng.

Tóm lại, nếu niềm tin và sự mê tín có nhiều nét căn bản giống nhau thì điều còn lại là phải cứu xét để phân biệt những niềm tin nào có lợi hay có hại cho con người và xã hội. Điều rõ rệt là có quá nhiều tôn giáo với những niềm tin khác nhau, có khi còn mâu thuẫn lẫn nhau, kể từ khi có lịch sử loài người. Chắc chắn không thể tất cả những điều mâu thuẫn cùng đúng. Niềm tin nào dù xấu hay tốt cũng vẫn là một niềm tin khi chưa có sự kiểm chứng, và nhiều khi chúng còn hiển nhiên đối nghịch với các sự kiện khách quan có thể quan sát được. Một niềm tin bên này dãy núi Pyrenees là một chân lý, còn bên kia có thể là một điều mê tín. Yếu tố tôn giáo không làm niềm tin này xác thực hơn niềm tin kia để tránh cái tiếng mê tín dị đoan. Tôn giáo không phải là cái dù che chở để biện minh cho tất cả mọi niềm tin.

Như vậy, tự do tín ngưỡng hay tự do mê tín thì thực chất cũng chỉ là một, có khác chăng là cái tên gọi. Điều cần thiết là chúng ta không nên vơ đũa cả nắm, nhưng phải phân biệt những niềm tin sai lầm, xấu, ác, có hại, với những niềm tin vô thưởng vô phạt.

Người tốt thì làm điều tốt; còn người xấu thì làm điều xấu. Chỉ có tôn giáo mới có khả năng biến người tốt làm điều xấu vì những niềm tin tưởng mù quáng, sai lầm. Họ làm điều xấu mà cứ ngỡ như họ đang làm điều tốt vì danh Thiên Chúa. Nếu đã hiểu như vậy thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng việc phê phán các niềm tin tôn giáo là một việc nên làm, không phải là việc tranh cãi vô bổ.

 

Trần Tiên Long

 


 

TÍN NGƯỠNG VÀ TỰ DO

Nguyễn Hoài Vân

trích : http://nguyenhoaivan.com/

Một cách nhìn phiến diện

Với một nhãn quan hời hợt và phiến diện, người ta có thể cho rằng tín ngưỡng và tự do là hai phạm trù mâu thuẫn. Khi mang một niềm tin tôn giáo thì người ta phải hạn chế sự tự do suy nghĩ của mình để phù hợp với những tín điều của tôn giáo mà mình tin theo. Một số nhà khoa học có tín ngưỡng, khi bàn về Thượng Đế, đời sống sau khi chết v.v... thường cho rằng họ phải để sang một bên trí tuệ của họ, phải hạn chế nó, để dành chỗ cho niềm tin. Một đứa trẻ khi được giáo dục trong một niềm tin tôn giáo, thì được điều kiện hóa để không nghi ngờ, không cãi lại những gì được truyền dạy, hạn chế sự tự do tò mò tìm hiểu về những gì không thuộc niềm tin ấy. Một người trưởng thành có tín ngưỡng thường chỉ lập lại những tin điều mà họ kế thừa từ gia đình và cộng đồng tôn giáo hay dân tộc của họ, thay vì phát biểu những gì họ tự do suy nghĩ ra. Trong điều kiện ấy, đòi hỏi «tự do tín ngưỡng» có một vẻ gì không ổn!

Tin và Nghi

Tuy nhiên, đi sâu vào vấn đề hơn một chút, chúng ta có thể nhận xét rằng: sự tự do của tôi chỉ thực sự hiện hữu khi tôi được tự do tin vào một tín ngưỡng, dù cho đó là một niềm tin mù quáng. Lý do vìtin hay không tin là một sự chọn lựa, đòi hỏi tự do. Khi chọn «tin» vào một giáo điều, thì tôi phải đẩy lùi sự nghi ngờ vào tiềm thức, rồi vận dụng năng lượng tâm thần, cộng với sức mạnh của tập quán, giáo dục ... mà kìm chặt sự nghi ngờ trong đó, không cho nó phát tiết ra ngoài. Niềm tin càng lớn, thì nỗi nghi ngờ cũng càng quan trọng, và năng lượng được dùng để kềm chế nó lại càng cao. «Quản lý» cặp mâu thuẫn nghi ngờ với niềm tin như thế, chính là một hoạt động tâm thần đặt căn bản trên tự do.

Sở dĩ «tin» và «nghi» ràng buộc mật thiết với nhau như vừa nói, là vì chúng ta chỉ «tin» những gì chúng ta có thể nghi ngờ. Tôi không «tin» vào tách trà trước mặt tôi, hay cái ghế tôi đang ngồi trên đó, hay một cộng một bằng hai. Niềm tin chỉ áp dụng cho những gì không kiểm chứng được, những gì có thể được biện minh bằng những lý luận tương đương với những lý luận dùng để phủ định nó. Tức là trong căn bản, tôi tin vào những gì tôi có thể nghi ngờ, như Thiên Chúa, Phật tính, đời sống sau khi chết, luân hồi, hồn, vía v.v...

Biết và Hiểu

Tin và nghi còn ràng buộc mật thiết với nhau vì một lý do khác. Chúng ta BIẾT sự vật qua những hiện tượng mà chúng ta cảm nhận được. Tuy nhiên, những điều ấy không cho phép chúng ta HIỂU sự vật. Để hiểu, chúng ta cần diễn dịch các hiện tượng cảm nhận được, qua lăng kính của một số giả thuyết được hệ thống hóa, để chúng trở thành một câu chuyện mạch lạc. Thí dụ tôi bước vào nhà một người bạn và thấy một hòn đá đen đặt trên bàn làm việc của anh ta. Hiện tượng thấy một hòn đá không cho phép tôi hiểu vì sao nó có mặt ở đó. Tôi có thể xây dựng những giả thuyết, những câu chuyện giúp tôi trả lời câu hỏi ấy. Tôi có thể hình dung giả thuyết một ngày ngày nọ, anh ta dạo chơi trên một bãi biển với người yêu. Hòn đá đen ấy là đặc điểm của bãi biển này và anh ta đã giữ nó làm kỷ niệm, để nó trên bàn làm việc để luôn ghi nhớ. Có thể đâu đó, tôi đã nhìn thấy hình ảnh của bãi biển «đá đen» này? Giả thuyết được đặt ra cần được kiểm chứng, hay bị phủ định. Trong một số trường hợp nó không được kiểm chứng, cũng không bị phủ định. Tôi phải chọn một trong hai thái độ: chấp nhận hay phủ nhận. Thiên Chúa, Phật tính, đời sống sau khi chết, luân hồi ... nằm trong các trường hợp này. Chấp nhận hay phủ nhận đều mở ra cho tôi một chân trời suy tư phong phú. Chọn lựa ấy chính là sự tự do của tôi, là nền tảng của nhân tính trong tôi.

S phủ định làm tăng giá trị của Niềm Tin

Chọn lựa sự phủ nhận cũng lại là dồn nén vào trong tiềm thức giả thuyết ngược lại, tức sự chấp nhận. Khi phủ nhận sự hiện hữu của một «nguyên nhân đầu tiên» (primum movens) gọi là Thiên Chúa, thì tôi buộc phải không ngừng xây dựng quan điểm «vô thần» của tôi trên giả thuyết «Thiên Chúa», dù là để phủ nhận nó. Tôi sẽ phải tự nhủ rằng: với mô hình này sẽ tôi không cần đến giả thuyết Thiên Chúa nữa, với cách nhìn kia Thiên Chúa bị loại bỏ v.v... Tức là Thiên Chúa sẽ hiện hữu một cách rất mạnh mẽ trong tư tưởng của tôi. Một khi tuyên dương «Thiên Chúa đã chết», Nietzsche buộc phải luôn luôn thay thế khái niệm Thiên Chúa bằng một khái niệm khác, đồng thời biện minh rằng cái «khái niệm khác» ấy không phải là Thiên Chúa!

Thêm vào đó, sự công bố Thiên Chúa đã chết, tức không hiện hữu, càng đem lại ý nghĩa cho niềm tin vào Thiên Chúa. Như đã nói ở trên, bạn chỉ «tin» khi điều bạn tin có thể không hiện hữu. Sự không hiện hữu ấy càng được tuyên dương mạnh mẽ thì niềm tin của bạn lại càng có ý nghĩa! Nó sẽ càng là một sự chọn lựa dũng cảm, vận dụng toàn thể sự tự do của con người bạn, chứ không chỉ là một tập quán. Augustin nói : "tôi TIN vì điều ấy vô lý" (je crois parce que c'est absurde), chính là ý ấy.

Phi Hữu phi Vô

Trong nhiều trường hợp chúng ta cũng có thể chọn một cách nhìn lý thú là không chấp nhận cũng không phủ định. Một mặt, với ý thức rằng chấp nhận hay phủ định đều dựa trên những lập luận dễ dàng bị bác bỏ, tôi không chọn thái độ nào cả. Mặt khác, tôi ý thức sự hiện hữu của các thành tố cấu thành một niềm tin, những hệ lụy nội tại của chúng, những nguồn cội tâm lý, những lý do thực dụng đã khiến con người ở một thời điểm, trong một số hoàn cảnh, môi trường thiên nhiên, xã hội, lịch sử v.v... đã khởi sinh ra chúng, cho nên tôi không cảm thấy cần thiết phải biện minh hay phủ định chúng. Tôi chỉ «hiểu» và cảm thông với những người đã hình dung và truyền thừa những giả thuyết đã trở thành tín ngưỡng ấy. Sự gắn bó cũng như bài bác chúng, đối với tôi, trở thành vô nghĩa. Ngược lại, những tín ngưỡng kia, vì đã được hình thành từ những lý do thực dụng, hoàn toàn có thể được chọn lựa và sử dụng cho những mục tiêu thực tế, đem lại lợi ích cho người khác, mỗi khi có thể. Thí dụ khi giúp một người sắp qua đời, thái độ thích hợp không phải là thuyết giảng cho họ nghe những tin tưởng của mình về sự chết, về đời sống sau khi chết, về luân hồi, thên đường, hỏa ngục, cõi tịnh độ, hay «chết là hết». Ngược lại, thái độ thích hợp là lắng nghe, để tùy theo niềm tin của người hấp hối mà nương theo đó đem lại bình an cho tâm hồn họ. Niềm tin của riêng mình, vào lúc ấy, hoàn toàn vô ích. Điều quan trong là dòng tư tưởng và cảm xúc của người sắp lìa đời. Làm sao cho nó nhẹ nhàng trôi chảy vào một mặt hồ an tĩnh, bình yên ...

Thập Diện Quan Âm

Thái độ như trên có phải là trốn chạy vấn đề hay không? Theo tôi, đó là một sự tinh tẩy tâm hồn. Những «niềm tin» chỉ đem lại tranh cãi, phiền phức, vẫn đục tâm thức. Để cho tâm hồn thoải mái, không gì bằng chọn xây dựng những suy tư và cảm xúc của mình trên những gì gần với thực tại nhất. Mà không gì gắn liền với thực tại bằng những điều tôi cảm thấy ngay bây giờ và tại đây. Không thực tại nào vững chắc bằng hiện tại. Tôi cảm nhận nó, có thể kiểm chứng và điều chỉnh nó ngay lập tức. Quá khứ là những hiện tượng được truyền đến hiện tại qua lăng kính của trí nhớ, được gò nắn bởi những thảo trình tâm lý phức tạp. «Thực tại» của quá khứ là một «thực tại tâm lý». Giá trị của nó là những gì tâm tôi hiện đang nghĩ và cảm thấy về nó vào lúc này, trong giây phút hiện tại. Tương lai thì là một dự phóng, được xây dựng trên quá khứ và hiện tại, và cũng được gò nắn bởi những thảo trình tâm lý. Giá trị của nó cũng chỉ là những gì tôi cảm thấy về nó trong hiện tại. Tức là những «niềm tin» được truyền đến từ quá khứ, và quy định một dự phóng về tương lai, kể cả tương lai sau khi chết, đều chỉ đáng được bàn đến dưới khía cạnh «tôi nghĩ gì về chúng» vào lúc này. Và dù cho «tôi nghĩ gì về chúng» đi nữa, thì chúng cũng đều đem lại cho tôi những tư lự, nghi vấn, lo lắng, mà tôi không thể có phương cách nào để gạt bỏ đi một cách chắc chắn (vì bản chất của «niềm tin» là không thể phủ nhận hay chứng minh, là gắn liền với nghi ngờ). Như thế, tôi bỏ lỡ mất rất nhiều món quà mà cuộc sống gửi đến cho tôi ngay trong lúc này (trong tiếng Anh "present" cũng có nghĩa là "món quà"). Tôi đã từ chối một hiện tại với nhiều thực tính, để mang vào trong tâm những phiền não trừu tượng khó loại trừ ...

Như thế, tập trung vào hiện tại, lúc này và bây giờ, giảm bớt những ảnh hưởng của quá khứ và những ước vọng cho tương lai, cho phép mỗi người chúng ta cảm nhận cuộc sống một cách rõ ràng hơn, sống một cách đầy đủ hơn, trong mỗi giây phút. Tâm hồn sẽ cởi mở, thoải mái hơn, sẵn sàng đón nhận những quan điểm đối nghịch, mà không cần tin theo cũng như phủ định. Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể, một tâm hồn như thế có khả năng sử dụng bất cứ niềm tin hay tín ngưỡng nào, nếu thấy cần thiết cho sự phúc lợi của người khác.

Họ như những vị thần với nhiều cái đầu để tùy nghi suy tư lý luận theo nhiều cách, và nhiều cánh tay để sẵn sàng trợ giúp tha nhân. Họ cũng chính là những tâm hồn thực sự TỰ DO!

 

Nguyễn Hoài Vân

15 tháng 3 2012