Những Quyển Sách Phê Bình
Thiên Chúa Giáo La Mã
Vô Danh Sưu Tầm
https://sachhiem.net/TONGIAO/tgV/VoDanh.php
07 tháng 10, 2007

Nhìn rõ vấn đề tôn giáo trong xã hội, học giả
Paul Blanshard đã viết
như sau trong cuốn Nền Tự Do Của Mỹ và Quyền Lực Ca-Tô American ( Freedom
and Catholic Power), trang 4, như sau:
"Anh không bao
giờ nên chỉ trích tôn giáo của người khác" , cái giáo lý nghe có
vẻ vô hại đó, phát xuất từ những tình cảm cao quý, nhưng thật là nguy hại cho
lối sống dân chủ. Nó không để ý đến bổn phận phải bênh vực sự thật trong mọi
ngành tư duy của mọi công dân tốt. Nó không xét đến sự kiện là phần lớn cái
mà con người gọi là tôn giáo cũng là chính trị, lành mạnh xã hội và kinh tế.
Giữ yên lặng về "tôn giáo của người khác" có thể đưa đến nền y tế hạng hai, nền
giáo dục thấp kém, và chính quyền phản dân chủ."

Học giả Paul Blanshard
(You should
never criticize another man's religion", that innocent-sounding doctrine, born
of the noblest sentiments, is full of danger to the democratic way of life. It
ignores the duty of every good citizen to stand for the truth in every field of
thought. It fails to take account of the fact that a large part of what men call
religion is also politics, social hygiene and economics. Silence about "another
man's religion" may mean acquiescence in second-rate medicine, inferior
education and anti democratic government.)
NHỮNG LỜI CHÂU NGỌC
VỀ THÁNH KINH.

Robert G. Ingersoll
https://www.positiveatheism.org/hist/lewis/lewing03.htm
https://www.infidels.org/library/historical/robert_ingersoll/
https://en.wikipedia.org/wiki/Robert_G._Ingersoll
Tác giả:
Robert G. Ingersoll,
danh nhân Hoa Kỳ: Đại Tá, Chưởng Lý bang Illinois, Nhà Tư Tưởng Tự Do, Nhà Nhân
Bản. Nhận định :
Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách để cho già cũng như trẻ đáng đọc. Nó
chứa những trang sách mà không một ông mục sư nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng
dân Chúa bất kể là phần thưởng dành cho ông ta là cái gì. Có những chương mà
không một người cha nào muốn đọc cho con nghe. Có những câu chuyện không thể kể;
và sẽ có ngày cả nhân loại sẽ phân vân là sao mà một cuốn sách như vậy lại có
thể gọi là được Thiên Chúa mạc khải.
Chúng ta thường xuyên được bảo rằng Thánh Kinh là nền tảng của sự khiêm tốn và
đạo đức; trong khi thật ra thì những trang sách trong đó chẳng có gì là khiêm
tốn và đạo đức [Xin dọc những lời tự nhận rất huênh hoang và những lời vô đạo
đức của Giê-su trong Tân Ước.], mà nếu một mục sư đọc chúng trên bục giảng thì
ngay lập tức ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn nạn dơ dáy (unclean wretch). Mọi phụ
nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà thờ, và nếu nam giới có ở lại thì chỉ với mục đích
là nghiêm khắc trừng phạt ông mục sư đó (chastising that minister).

NẠN NHÂN BỊ ĐỐT
Có phải tốt
hơn là hãy chấp nhận Thánh Kinh được viết bởi những người man rợ trong một thời
đại man rợ, thô thiển không? Có phải đúng hơn là có những tên Do Thái ngu đần
nào đó đã viết lên những lời tầm thường đó. Những Ki Tô hữu bảo tôi rằng chính
Thiên Chúa là tác giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn (vile and stupid) này.
[Và ngày nay, Mục sư Nguyễn Hữu Ninh vẫn dạy các tín đồ Tin Lành rằng Thiên Chúa
là tác giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn này.]
Sự kiện là, những điều hay trong một cuốn sách không chứng minh được là cuốn
sách đó đã được Thiên Chúa mạc khải (hay “hà hơi” theo mục sư Nguyễn Hữu Ninh),
nhưng những điều xấu xa và sai lầm trong đó đích thực đã chứng minh rằng đó
không phải là một cuốn sách đã được mạc khải.
Vấn đề thực sự không phải là cuốn Thánh Kinh có được mạc khải hay không, mà là
nó có đúng hay không. Nếu nó đúng, nó không cần phải được mạc khải. Nếu nó đúng
thì không có gì khác biệt là nó đã được viết bởi một người hay một ông thần; và
nếu nó không đúng thì không thể bảo nó là do sự mạc khải của thần mà viết lên.
Một bản cửu chương (multiplication table) thì cũng có ích, cũng đúng như là một
thần đã xếp đặt những con số trong đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng, không cần
phải đề cao nó là do sự mạc khải của thần.
Thật ra thì, chân lý không cần phải được mạc
khải. Không có gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự giả mạo hay sai lầm [nghĩa là muốn sự giả
mạo trở thành chân thật, sự sai lầm trở thành đúng bằng cách khoác cho nó bộ áo
“do Thiên Chúa mạc khải”. ]. Ở đâu mà sự thật chấm dứt, ở đâu mà xác suất
(probability) ngưng lại, thì ở đó sự mạc khải (hay “hà hơi”) bắt đầu. Một sự
kiện không bao giờ đi cùng với một phép lạ. Chân lý không bao giờ cần đến sự
trợ giúp của phép lạ.
Sự mạc khải của cuốn Thánh Kinh tùy thuộc sự cả tin của người đọc. Đã có một
thời, những điều viết trong đó về địa chất, về thiên văn, lịch sử thiên nhiên,
đều được cho là do sự mạc khải của thần và do đó không thể sai lầm; thời đại đó
đã qua. Đã có một thời, những quan niệm về luân lý đạo đức trong đó đã làm hài
lòng những con người nắm quyền thống trị tư tưởng của nhân loại; thời đại đó đã
qua.

Có một
người thông minh nào trên thế giới ngày nay còn có thể tin được câu chuyện vườn
Eden? Nếu bạn thấy người nào còn tin như vậy, hãy gõ lên trán anh ta, bạn sẽ
nghe thấy một tiếng vang [vì đầu óc hắn ta rỗng tuếch. ]. Có một người thông
minh nào mà ngày nay còn có thể tin là Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất
sét, và người đàn bà từ một cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái
vườn, và đặt một cái cây ở giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt cái
cây đó hay sao, nếu ông ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây đó? Có còn
người nào ngày nay còn có thể tin vào chuyện con rắn (xúi Adam và Eve ăn trái
cấm)? Tôi thật thương hại bất cứ ai, trong thế kỷ 19 này, còn tin vào những
chuyện trẻ con như vậy.
Tại sao Adam và Eve bất tuân điều cấm của Thiên Chúa? Tại sao họ bị cám dỗ? Bởi
ai? Bởi quỷ (hiện thân thành con rắn). Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta tạo ra
quỷ để làm gì? Tại sao ông ta không nói cho Adam và Eve biết về con rắn? Tại sao
ông ta không canh chừng con quỷ mà lại đi canh chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta
không gây ra nạn hồng thủy trước, và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra
Adam và Eve?

Cảnh tra tấn người dị
giáo
Vậy mà,
những người tự cho là mình thông minh – giáo sư đại học và viện trưởng các học
viện [Ki Tô] danh tiếng – đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là một
sự kiện lịch sử tuyệt đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng chờ xung quanh
cái vườn Eden – biết rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo nên Adam và Eve với mục đích
duy nhất là điều xảy ra sẽ phải xảy ra, rồi sao nữa? Bắt tất cả chúng ta phải
chịu trách nhiệm, và chúng ta không hề có mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của
những người chưa được sinh ra. Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi
muốn có cơ hội để bỏ phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn Eden),
và biết mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp nhận”. Tuy vậy,
trách nhiệm vẫn về phần tôi.
Chúng ta được Thánh Kinh và Giáo hội dạy, vì sự “sa ngã” này của Adam và Eve,
“tội lỗi và cái chết đã đi vào nhân loại”. Theo như vậy thì, ngay sau khi Adam
và Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày đặt ra những phương pháp để tiêu diệt
sự sống của các con cái của ông ta. Ông ta đã “sáng tạo” ra mọi bệnh tật – nóng
sốt, ho hắng và cảm cúm – tất cả những sự đau đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm
của bệnh dịch hạch, bệnh sốt rét và những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít
vào những tên sát nhân mà chúng ta không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người
sống thọ, Thiên Chúa phát minh ra động đất và núi lửa, bão tố và sấm sét; và các
vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá nhỏ đến nỗi mắt không nhìn thấy được.. Tất
cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời ông ta.

Với lòng tốt
vô tận (infinite goodness), Thiên Chúa phát minh ra bệnh nhức xương và đau khớp
xương, chứng khó tiêu (dyspepsia), ung thư và chứng đau thần kinh, và vẫn còn
tiếp tục phát minh ra những chứng bệnh mới. Như vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm
cho các bà mẹ phải đau đớn (khi sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của ông ta, sự
chết sẽ đến với mọi người. Ông ta nguyền rủa cả thế giới. (He cursed the world).
Nhưng tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu cho sự trả thù của một ông Thiên
Chúa chí thiện (Good God). Quý vị có thể nói đến một cách không rõ ràng, nhưng
không bao giờ có thể quan niệm nổi những sự khủng khiếp vô cùng tận của cái giáo
lý gọi là “Sự sa ngã của con người”. (the infinite horrors of the doctrine
called “The fall of man”).
Theo Thánh Kinh thì Thiên Chúa đã chọn lựa dân tộc Do Thái để loan báo một sự
kiện vĩ đại: rằng ông ta là ông Thần duy nhất trên thế gian. Để đạt được mục
đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt Môi-se (Moses) – từ trên mây xuống
núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và làm hàng ngàn phép lạ để giáo dục và giữ
dân Do Thái. Ông ta rẽ nước biển ngay trước mắt họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ
trên trời xuống để nuôi họ. Ông ta làm cho nước phọt ra từ tảng đá để cho họ
uống cho đỡ khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị tiêu diệt một cách rất lạ lùng;
và trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích thân cai trị dân Do Thái. Tuy
nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người trong dân của ông ta lại vẫn
cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là tin vào ông ta.

Cái ông
Thiên Chúa này, với tất cả quyền năng và sự sáng suốt, lại không thể thuyết phục
được một số dân du mục man rợ rằng ông ta thì mạnh hơn là các hình tượng của dân
Ai Cập. Ông Thiên Chúa này không muốn cho dân Do Thái của ông ta có đầu óc suy
tư và óc tìm hiểu. Đối với những người có đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở
đâu mà ông Thiên Chúa này trị vì, sự tự do trí thức không được biết đến. Ông ta
chỉ trông cậy vào bạo lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng gươm giáo và ngọn
lửa thiêu đốt; ông ta xử sự như một điệp viên (spy), một phán quan của tòa án xử
dị giáo (inquisitor), một quan tòa (judge), và một đao phủ (executioner).

DỤNG CỤ TRA TẤN :
CHIẾC GHẾ ĐINH
Khi
tôi đọc lịch sử của dân tộc Do Thái, từ nô lệ đến chết chóc, với những bạo chúa
v..v.., tôi phải thú nhận là tôi thật thương xót họ. Họ bị gian lận, lừa dối và
đối đãi rất tệ hại. Cái ông Thiên Chúa của họ rất dễ nổi nóng, vô lý, tàn ác,
hận thù và bất lương. (Their God was quick-tempered, unreasonable, cruel,
revengeful and dishonest). Ông ta luôn luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời.
Ông ta phí thì giờ về những chi tiết nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại những việc
ông ta làm. Tôi không thể quan niệm được một cá tính nào đáng ghét hơn là cá
tính của cái ông Thiên Chúa của người Do Thái. Ông ta long trọng hứa với dân Do
Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến một nơi tràn đầy sữa và mật ong.
Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong tương lai gần, mọi khổ nạn của họ sẽ qua
đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với vợ con, quên đi những sự cực khổ ở Ai
Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn lại (again and again) với đám dân du mục Do
Thái khốn khổ là ông ta sẽ dẫn họ đến vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui
sướng, cái ông Thiên Chúa này, quên hết mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với
đám dân khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta: “Súc vật của các ngươi sẽ cùng các
ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái các ngươi sẽ lang thang cho đến
khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền rủa trên là kết luận của mọi vấn
đề. Trong vùng sa mạc của thần chết và tối tăm, tất cả những lời hứa hẹn của
Thiên Chúa đều phai nhạt. Trong sự cực khổ và thất vọng của đám dân du mục, tất
cả những hi vọng về tự do và định cư đều biến mất [cho đến năm 1947. TCN]. Hàng
triệu dân Chúa bỏ thây trong sa mạc, và mỗi xác chết là một nhân chứng của sự
bất lương của Thiên Chúa (each corpse certified to the dishonesty of God). Những
điều quá độc ác và vô tâm như vậy thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý của
tôi.
[Theo ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng thì tất cả những khổ nạn
của dân Do Thái đều nằm trong chương trình giáo dục của Thiên Chúa. TCN]

DỤNG CỤ
TRA TẤN
Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái khốn nạn, sợ hãi, giết nhau, bị giết
chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối, lột hết của cải...chúng ta phải cám
ơn trời đất là chúng ta đã không phải là dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa (how
thankful we should be that we are not the chosen people of God) [Việt Nam ta,
trừ một số mất gốc, nhờ hồng phúc tổ tiên, cho nên không rơi vào số phận của
những kẻ nô lệ tin tưởng và thờ phụng Thiên Chúa, một vị Thần độc ác ngoài sức
tưởng tượng của con người tiến bộ ngày nay. TCN]. So sánh với Thiên Chúa
(Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ nhân từ, và cách hành xử độc đoán của Ai
Cập là sự giải thoát cho những người phải chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên
Chúa .
Đọc
Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn nộ, ghê sợ và đầy sự thương hại. Không có gì
đáng buồn thảm hơn là lịch sử của một dân tộc du mục thiếu ăn, lang thang trong
sa mạc, làm mồi cho đói khát, bệnh tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị
bởi sự lừa dối, đạo đức giả, họ là trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa là kẻ
thù lớn nhất của họ, và họ chỉ có một người bạn, đó là cái chết. Chúng ta không
thể nào quan niệm nổi một sinh vật nào quá chừng đê tiện, đáng ghét, và kiêu
căng hơn là vị Thần của người Do Thái. (It is impossible to conceive a more
thoroughly despicable, hateful, and arrogant being, than the Jewish God) [Thảm
thay, đây cũng lại là chính vị Thần mà những người Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô
cũng như Tin Lành, gọi là Thiên Chúa và thờ phụng. ] Trong những huyền thoại của
dân gian, không có Thần nào như hắn ta. Chỉ có hắn là chưa từng bị đau khổ cùng
cực về thể xác cũng như tinh thần, chưa từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú
với máu đổ và sự đau đớn của con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối
với hắn. Hắn ta không biết gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một
người bạn giả dối, một quan tòa bất công, một kẻ khoác lác (a braggart), đạo đức
giả, độc đoán, hận thù, ghen tuông, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần,
đồng bóng, đồi bại và ghê tởm (infamous and hideous) – đó là Thiên Chúa trong
Ngũ Kinh. [Chúng ta
không nên lấy làm lạ khi thấy trong Tân Ước, Thiên Chúa Con, alias Giê-su, cũng
có không ít cùng những đặc tính được mô tả ở trên. Cũng giả dối, khoác lác, đạo
đức giả, độc đoán, ác độc, hận thù, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần
v..v.. Việc chứng minh rất dễ dàng. Chỉ cần mở cuốn Tân Ước ra là thấy ngay. Tôi
sẽ trình bày chi tiết dẫn chứng từ Tân Ước trong một bài khác. ]
Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki Tô) người ta đã cho rằng 10 điều răn
trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý tưởng về công lý và luật pháp. Nhiều nhà
luật học nổi danh đã phải cúi đầu trước thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề
nghiệp đến độ cho rằng luật của Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công
chính. Không có gì sai lầm một cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se
sinh ra đời, dân Ai Cập đã có một bộ luật. Họ đã có những luật chống phỉ báng,
giết người, ngoại tình, ăn trộm, ăn cướp, luật đòi nợ, tôn trọng hợp đồng, bồi
thường, chuộc đồ, và hầu như về mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Họ thường bảo với tôi rằng, nếu không có cuốn Thánh Kinh thì không làm gì có nền
văn minh nào. Người Do Thái có một Thánh Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân
nào có một chính quyền tốt hơn? Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh
Kinh, Thiên Chúa không quan tâm đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì giờ. Tất
cả thì giờ ông ta để cho người Do Thái. Nhưng La Mã đã chinh phục thế giới, kể
cả dân Thần lựa chọn. Dân tộc có Thánh Kinh bị dân tộc không có Thánh Kinh đánh
bại. [Điều này cũng đúng trong thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều có Thánh Kinh, Việt
Nam không có Thánh Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai]. Và chúng ta có thể nói gì về
Hi Lạp? Không Thánh Kinh. Hãy so sánh Athens với Jerusalem. Athens là trung tâm
nghệ thuật và trí thức của thế giới. [Có lẽ tác giả chỉ biết đến lịch sử Trung
Đông và Tây Phương]. Hãy so sánh những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền
thoại của Do Thái. Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại Do Thái
thì đầy những hận thù và bất công.
Do
Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh Kinh? Đền thờ Thần của họ bị phá hủy,
thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao giờ trở nên thịnh vượng cho đến khi họ bị
Thần bỏ rơi.
Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu từ nhiều thế kỷ trước khi Ki Tô Giáo
xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho nền văn minh: sự tiến bộ trí thức, lòng
can đảm, tổ chức chính phủ, kỹ nghệ v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự
đóng góp của mọi quốc gia trên thế giới từ xưa.
Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng ta là một chính phủ Ki Tô, đặt nền
tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi Thánh Kinh như là sai lầm và điên rồ
(false and foolish) là phá hủy nền tảng của đất nước. Sự thực là, chính phủ của
chúng ta không đặt nền tảng trên quyền của Thiên Chúa mà là trên quyền của con
người. Hiến pháp của chúng ta được đóng khung trên sự thiêng liêng của nhân loại
chứ không tuyên bố và không ủng hộ tư cách thần thánh của Giê-su. Chính phủ của
chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân và vì dân. Đây là quốc gia duy nhất mà
Thiên Chúa không có quyền gì trong đó. Tuy vậy mà cũng còn có một số người bất
lương và hèn nhát đến độ (dishonest and cowardly enough) long trọng quyết định
đây là một quốc gia Ki Tô, và định chế tự do của chúng ta được đặt căn bản trên
những luật ô nhục của Thần Gia-vê (infamous laws of
Jehovah).
Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi nói đến Thiên Chúa có nghĩa là tôi
muốn nói đến Thần mà Moses mô tả trong Thánh kinh, Thần Gia-vê của người Do
Thái. Tôi muốn nói đến Thiên Chúa đã ngăn chận sự tiến bộ của con người; đã tăng
gấp bội sự cực kỳ đau đớn về tinh thần cũng như thể xác của phái nữ; và trong
cơn giận đã nhận chìm cả thế giới – Thiên Chúa mà trên bàn thờ hắn có đầy máu,
Thiên Chúa đã phanh thây những trẻ sơ sinh, cưỡng hiếp gái trinh, nô lệ hóa con
người và chất đầy thế giới với những tội ác và sự ác độc; Thiên Chúa đã lập lên
thiên đường cho một số nhỏ và hỏa ngục cho tuyệt đại đa số nhân loại.
Sự thật là, Môi-se (Moses) coi bầu trời như là một vòm cứng, nơi Thiên Chúa trú
ngụ, và nước được giữ ở trên đó. Đó là tại sao họ thường ngẩng mặt cầu nguyện
cho trời mưa. Họ cho rằng có vài thiên thần nào ở trên đó mở ra những cánh cửa
để cho lượng nước mà họ mong muốn rơi xuống.
Họ không có cách nào để biết thế nào là mưa. Nước từ đâu mà rơi xuống? Họ không
biết gì về sự bốc hơi của nước. Họ không hề tưởng tượng ra được rằng, ánh sáng
mặt trời đã âu yếm hôn (amorous kisses) những làn sóng biển, từ đó hơi nước bốc
lên để gặp người yêu ở trên không, nhưng rồi thất vọng nên đã biến thành nước
mắt rơi xuống thành mưa.
Tôi có
thể bị đọa đầy xuống hỏa ngục, nhưng tôi không bao giờ tin là cây cỏ hoa lá trên
trái đất lại có trước mặt trời [như đã được mạc khải trong Thánh Kinh] với những
tia nắng lung linh, xua đi bóng tối của đêm trường.
Ngày nay, người ta thường cho rằng, trong khi Cựu Ước có nội dung man rợ của
thời đại đó, Tân Ước thì hoàn toàn đạo đức, không có một tì vết nào trên những
trang Tân Ước. Thật ra, Tân Ước còn ủng hộ chế độ nô lệ hơn là Cựu Ước. Về phần
tôi, tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ có thể (I never will, I never can) thờ
phụng một Thiên Chúa chấp thuận chế độ nô lệ. Một Thiên Chúa như vậy, tôi thật
là ghét và không thèm đếm xỉa gì đến ông ta. Tôi chẳng muốn cái thiên đường của
ông ta, cũng như chẳng sợ cái hỏa ngục của ông ta.
Chúng ta được bảo rằng, trong Ngũ Kinh, Thiên Chúa, vị Cha chung của chúng ta,
đã trao hàng ngàn thiếu nữ còn trinh, sau khi đã giết cha mẹ anh em họ, để cho
những con người man rợ thỏa mãn lòng dục của họ [Ingersoll quên rằng chính Thiên
Chúa cũng có phần].
Đó là sự “tự do tôn giáo” (religious freedom) của Thiên Chúa; lòng khoan nhượng
của Thần Gia-vê (Jehovah). Nếu tôi sống ở Palestine vào thời đại đó, và vợ tôi,
mẹ của những con tôi, nói với tôi rằng: “Tôi chán cái ông thần Gia-vê này quá
đi; ông ta luôn luôn đòi nợ máu; không bao giờ chán ghét sự giết chóc; luôn luôn
nói về quyền năng của ông ta; luôn luôn khoe những việc ông ta làm cho người Do
Thái; luôn luôn đòi hỏi sự hi sinh tế thần – chim cu và chiên non – máu, không
có gì ngoài máu. Chúng ta hã thờ Thần Mặt Trời. Thần Gia-vê đầy lòng hận thù,
xảo quyệt và quá đòi hỏi. Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Mặt trời soi sáng
những vẻ đẹp của trái đất, giúp cho hoa tươi nở; nhờ có ánh sáng mặt trời mà em
được thấy anh, thấy các con của chúng ta..”
Nếu tôi theo đúng lệnh của Thiên Chúa, tôi sẽ phải giết vợ tôi. Bàn tay của
tôi là người đầu tiên, và rồi bàn tay của bao nhiêu người khác, sẽ phải ném đá
vợ tôi cho đến chết. Về phần tôi, tôi không bao giờ giết vợ, ngay cả khi một ông
Thiên Chúa thực sự của vũ trụ này ra lệnh.
Nếu Thần Gia-vê sống như những thần dân mà ông ta cai trị, và nếu ông ta theo
đúng những luật mà ông ta đặt ra, thì ông ta sẽ là người nuôi nô lệ, là kẻ buôn
bán trẻ con, đánh đập phụ nữ. Ông ta sẽ phát động những cuộc chiến tranh diệt
chủng. Ông ta sẽ là người đa thê, và sẽ phanh thây (butchered) vợ ông ta nếu bà
ta theo một tôn giáo khác với ông ta.
Nếu Gia-vê thực sự là Thiên Chúa toàn trí, ông ta phải biết những gì sẽ xảy ra
về sau. Ông ta phải biết Thánh Kinh của ông ta là một công sự mà sự đạo đức giả
và độc đoán sẽ nằm trong đó, nó sẽ được dẫn chứng bởi những bạo chúa; được dùng
để biện hộ cho những tên ăn cướp gọi là Vua, những kẻ đạo đức giả gọi là linh
mục hay mục sư v..v..
Ông ta
phải biết là ông ta không bao giờ thực hiện lời hứa của ông ta đối với dân Do
Thái.. Ông ta hứa hẹn cho họ cả thế giới nhưng chỉ cho họ có sa mạc. Ông ta hứa
hẹn cho họ sự tự do nhưng lại cho họ sự nô lệ.. Khi chúng ta đọc xong Cựu Ước,
chúng ta bắt buộc phải nói rằng: “Không có một dân tộc nào khốn khổ như là dân
tộc mà vua của họ là Thần Gia-vê.”
Nếu chúng ta muốn xét đến những gì đã là ảnh hưởng của Thánh Kinh, chúng ta phải
xét đến tình trạng ở Âu Châu khi mà Thánh Kinh được coi là tuyệt đối đúng và có
ảnh hưởng nhiều nhất. Ki Tô Giáo là tôn giáo đã chiếm ngự Âu Châu trong thời
Trung Cổ. Trong thời đó, nó có quyền lực tuyệt đối.
Sự thật là, trong thời đó, con người vì đã nghiên cứu kỹ Thánh Kinh nên đã
giết vợ, giết con. Họ đọc Thánh Kinh rồi dùng những kìm cặp nung đỏ để hành hạ
xác thịt con người. Họ đặt Thánh Kinh xuống để có thì giờ đổ chì nóng vào tai
đồng loại. Họ ngưng đọc cuốn Thánh Kinh thiêng liêng đó để có thì giờ xâu xé
đồng loại, trói chặt họ trong xiềng xíxh, và rồi lại trở lại để đọc Thánh Kinh,
để mặc cho nạn nhân của họ chết rục trong ngục tù tối tăm với sự thất vọng. Họ
ngưng đọc Cựu Ước để có thì giờ đóng cọc xuống đất, đi kiếm những bó củi và
thiêu sống người lành và người lương thiện. Ngay cả những linh mục cũng đã ngưng
đọc Thánh Kinh đủ lâu để nói lên những lời giả dối xuyên tạc về đồng bào của họ.
Không có một tội ác nào mà những người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, thờ phụng
Thánh Kinh không làm. Không có một điều ác ôn nào mà một số người đọc Thánh
Kinh, tin Thánh Kinh, và bảo vệ Thánh Kinh không làm. Những người tin Thánh Kinh
và bảo vệ Thánh Kinh đã chất đầy thế giới này với những sự vu khống (calumnies
and slanders).

Toà án
xử người dị giáo
Tôi không nói rằng đọc Thánh Kinh nhất định phải làm cho người đọc
trở thành bất lương, nhưng tôi phải nói rằng, đọc Thánh Kinh không có ngăn ngừa
họ khỏi phạm tội [những giáo hoàng, linh mục, mục sư cuồng sát, loạn dâm, và
phạm đủ thứ tội là những người đọc và giảng Thánh Kinh nhiều nhất. TCN]. Tôi
không nói rằng tin ở Thánh Kinh sẽ khiến cho con người trở thành trộm cướp,
nhưng tôi phải nói rằng, vì tin ở Thánh Kinh nên con người đã bạo hành, cầm tù
và thiêu sống đồng loại.
Hàng ngàn, hàng ngàn các bà mẹ đã đưa Thánh Kinh cho con cái mà không hề biết
trong đó có những gì. Họ chỉ theo truyền thống, và như là một quy luật, con cái
họ tiếp tục tôn kính cuốn Thánh Kinh, không phải là họ biết gì về cuốn đó nhưng
vì đó là món quà của người mẹ.
Sự kiện là các bà mẹ giới thiệu cuốn Thánh Kinh với con cái không chứng minh
được rằng đó là cuốn sách được viết ra do sự mạc khải của Thiên Chúa. Sự kiện
này chỉ có thể chứng minh một điều, đó là các bà mẹ đã tin rằng cuốn sách đó là
do sự mạc khải của Thiên Chúa Ki Tô. Điều này cũng không chứng minh được những
phép lạ trong đó là những sự thực. Dù tất cả các bà mẹ trên thế gian đều trao
cho con cái cuốn Thánh Kinh cũng không chứng minh được là những chuyện giết mẹ,
giết con, nô lệ hóa các bà mẹ, bán đi con cái, như được viết trong Thánh Kinh,
là đúng.
Edmund About đã kể một câu chuyện minh họa niềm tin Chúa của một người Ý hiện
đại. Một thanh niên ham mê đánh bạc và luôn luôn thua. Trong phòng hắn ta có một
bức hình của bà đồng trinh bồng đứa con nhỏ. Quỳ trước tấm hình, anh ta đưa tay
làm dấu cộng mà người ta thường gọi là làm dấu thánh giá, và cầu sự trợ giúp của
đứa bé. Nhưng anh ta lại vẫn cứ thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta nói với đứa
bé là anh ta đã thua hết, chỉ còn lại đồng tiền cuối cùng, và cầu xin đứa bé hãy
dùng quyền năng thần thánh giúp anh ta thắng trong canh bạc cuối cùng này. Nhưng
rồi anh ta lại thua. Trở lại trước tấm hình, anh ta đưa nắm tay lên mặt đứa bé
và hét: “Thằng bé khốn nạn, tao rất vui là mày đã bị người ta đóng đinh trên
thập giá ” (Miserable bambino, I am glad they crucified you).
Sự tin cậy
vào một hình ảnh, một thánh tích, một cuốn sách, tất cả đều từ một nguồn gốc –
thờ vật (fetishism) - Tin rằng một da con rắn, một hình ảnh, một cuốn sách có
những thuộc tính siêu nhiên, về phương diện trí thức đều như nhau.
Đối với tôi, muốn thuyết phục những người có đầu óc là cuốn Thánh Kinh chỉ là
sản phẩm của con người – những con người man rợ – là bảo họ hãy đọc nó. Hãy đọc
nó như mọi cuốn sách khác, nghĩ tới nó như mọi cuốn sách khác, bỏ đi cái băng
kính ngưỡng Thánh Kinh đang che mắt, dẹp bỏ mọi sự sợ hãi trong lòng, loại ra
khỏi đầu óc sự mê tín, rồi hãy đọc cuốn Thánh Kinh, và các bạn sẽ cảm thấy ngỡ
ngàng là tại sao có một thời mình đã cho rằng một đấng siêu nhiên với trí tuệ
siêu việt, lòng thiện vô tận, lại là tác giả của những điều ngu xuẩn và bạo tàn
như vậy (the author of such ignorance and of such atrocity)? [Ingersoll đã nhận
định rất đúng, xin đọc bài của Ruth Hermence Green kỳ tới. Lẽ dĩ nhiên, theo
đúng những tiêu chuẩn đọc Thánh Kinh của Ingersoll không phải là dễ vì trước hết
phải tẩy hết các độc tố Ki Tô ra khỏi đầu óc như Ingersoll đã đề nghị. TCN]
Trong hầu hết các nền thần học, các huyền thoại và tôn giáo độc thần, các con
quỷ còn nhân đạo và nhân từ hơn các Thiên Chúa nhiều. Không có môt con quỷ nào
đã ra lệnh cho thuộc hạ của mình giết trẻ con và phanh thây người đàn bà co
mang. Tất cả những điều man rợ này đều luôn luôn là lệnh của Thiên Chúa chí
thiện. Bệnh dịch cũng do Thiên Chúa nhân từ tạo ra. Nạn đói đáng sợ, với những
trẻ sơ sinh bờ môi nhợt nhạt bú người mẹ hấp hối không còn sữa, cũng là tác phẩm
của Thiên Chúa đầy lòng thương yêu. Không có một con quỷ nào đã bị lên án là tác
giả của những sự tàn bạo ác ôn như trên (such fiendish brutality).
Sự điên dại của các
tín đồ Tin Lành Hàn Quốc
https://www.youtube.com/watch?v=7Nj2JTPjlgk&mode=related&search=
Thiên Chúa, theo Thánh Kinh, đã nhận chìm cả thế giới trừ tám người.
Già, trẻ, lớn, bé đều bị sóng nước vô bờ nuốt chửng. Cái thảm họa đáng sợ này,
trong sự tưởng tượng của đám linh mục ngu đần (ignorant priests), là tác phẩm
không phải của quỷ, mà là của cái mà người ta gọi là Thiên Chúa, và tiếp tục thờ
phụng một cách ngu đần cho đến ngày nay. (ignorantly worship unto this day).
(Trẻ em Hàn
Quốc đã trở thành những tín đồ Tin Lành điên dại như thế nào)
https://www.youtube.com/watch?v=hDoQaCDMtuo
Không có một người thông minh nào, không có một người nào mà đầu óc chưa bị
nhiễm độc bởi mê tín, tê liệt bởi sợ hãi, có thể đọc Cựu Ước mà không bắt buộc
phải đi đến kết luận: Thiên Chúa của chúng ta là một con thú hoang dại (that our
God was a wild beast).
Cho tới bao giờ, than ôi! Cho tới bao giờ con người còn thờ phụng một cuốn sách?
Cho tới bao giờ con người còn quỳ phục xuống đất trước những truyền thuyết ngu
đần của cái quá khứ man rợ? (Hoaw long will they grovel in the dust before the
ignorant legends of the barbaric past). Cho tới bao giờ họ còn theo đuổi những
hồn ma trong sự tăm tối sâu thẳm hơn là cái chết.
Cho tới bao giờ, than ôi! cho tới bao giờ con người còn nghe lời đe dọa của
Thiên Chúa, nhắm mắt lại trước thiên nhiên huy hoàng ngoạn mục? Cho tới bao giờ
con người còn là nô lệ, bám víu vào một giáo thuyết sai lầm và độc ác? (a false
and cruel creed).
Ngày nay, cả thế giới nên biết rằng cuốn Thánh Kinh chân thật (the real Bible)
chưa đã được viết ra mà còn đang viết, tiếp tục viết, và không bao giờ hoàn
thành cho đến khi nhân loại không còn tồn tại nữa.
Nguồn:
www.giaodiem.com
https://www.giaodiem.com/doithoaiIII/10_tcn_gembible.htm
https://images.google.nl/images?q=Inquisition&hl=nl&btnG=Afbeeldingen+zoeken
https://www.infidels.org/library/historical/robert_ingersoll/
https://www-groups.dcs.st-and.ac.uk/~history/Mathematicians/Galileo.html
https://images.google.nl/images?svnum=10&hl=nl&lr=&q=letters+to+an+ex+priest&btnG=Zoeken
Find
in a Library: Shattered vows : priests who leave | English ...
Shattered vows : priests who leave. By:, David Rice. Type:, English : Book :
Non-fiction. Publisher:, New York : W. Morrow, ©1990. ISBN:, 0688078052 .
https://www.atheists.org/catalogue/shop/prod5080.php
https://www.press.uillinois.edu/s00/berryj.html

https://www.press.uillinois.edu/s00/berryj.html

https://www.atheistsunited.org/wordsofwisdom/Nelson/popes.html

https://images.google.nl/images?svnum=10&hl=nl&lr=&q=Vicars+of+Christ&btnG=Zoeken
https://www.pinn.net/~sunshine/book-sum/histgod.html
https://www.westarinstitute.org/Polebridge/Title/5Gospels/5gospels.html
https://www.geocities.com/Area51/Dungeon/4712/torture.html
https://www.reformation.org/inquisit.html
Những Lời Châu Ngọc
VỀ THÁNH KINH
(Gems Concerning The Holy Bible)
by: Robert G. Ingersoll
Trần Chung Ngọc chuyển dịch
Vài Lời Nói Đầu Của Người Dịch:
Đáng lẽ kỳ này tôi dịch
bài Thần Con [Giê-su] Từ Galilee (The God From
Galilee) của Ruth Hurmence Green, một phụ nữ sinh ra và lớn lên
trong một gia đình Tin Lành, hệ phái Giám Lý (Methodist), ngoan đạo
trong 60 năm cho đến khi đọc Thánh Kinh mới tỉnh ngộ, biết rõ thực
chất Thánh Kinh và Giê-su trong Thánh Kinh như thế nào.
Nhưng có một người tôi
không hề quen biết gửi cho tôi một bài giảng cho các tín đồ Tin Lành
của Mục Sư Nguyễn Hữu Ninh về đề tài Kinh Điển Cựu Ước và Tân Ước
(Canon of Scripture), có lẽ với mục đích hoặc để quảng cáo Thánh
Kinh, hoặc để xem tôi có ý kiến phản bác gì chăng. Quảng cáo Thánh
Kinh thì vô ích đối với tôi, vì tôi đã đọc và nghiên cứu Thánh Kinh
khá kỹ từ lâu. Còn ý kiến phản bác thì tôi có rất nhiều nhưng tôi
không muốn phí thì giờ. Tuy nhiên, tôi nghĩ cần phải hoãn lại bài
của bà Ruth Hurmence Green và thay thế vào đó bằng một bài dịch khác
về Thánh Kinh Ki Tô Giáo của Robert G. Ingersoll, bài “Những Lời
Châu Ngọc Về Thánh Kinh”. Bài dịch này có giúp ích cho Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh và mọi tín đồ Ki Tô Giáo khác để họ có thể hiểu rõ
hơn về thực chất của cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo hay không? Điều này
tôi không có mấy hi vọng vì đầu óc Tin Lành Việt Nam hầu như ai cũng
có một khuyết tật (astrolabe mind), như Mục sư Ernie Bringas đã đưa
ra một nhận định chung cho tuyệt đại đa số tín đồ Ki Tô Giáo. Bệnh
thì còn dễ chữa chứ tật thì thường rất khó chữa, nhất lại là một tật
trong đầu óc.
Trước khi đi vào bài dịch,
tôi thấy cần phải trích dẫn vài điều trong bài giảng của Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh với vài nhận xét nho nhỏ để chúng ta cùng thấy trình
độ hiểu biết về Thánh Kinh của một ông Mục Sư Tin Lành Việt Nam ngày
nay, từ đó có thể suy ra trình độ hiểu biết về Thánh Kinh của những
tín đồ mới theo Tin Lành như Nguyễn Huệ Nhật, Huỳnh Thiên Hồng, Lê
Anh Huy v..v.., và do đó có thể hiểu tại sao tôi lại thay đổi ý
kiến mà đưa ra bài dịch về Thánh Kinh trước.
Chúng ta hãy đọc vài đoạn
trong đó:
Thánh Kinh là bộ sách
Thánh của hai thời đại Cựu và Tân Ước. Ki Tô Giáo (Christianity)
trong thế kỷ I thừa hưởng được bộ Kinh điển Cựu Ước đáng tin cậy của
người Do Thái, và có bộ sách Thánh Tân Ước từ thời các sứ đồ và từ
uy quyền của chính Chúa cứu thế bảo đảm...
Sách (trong Thánh Kinh) được chọn lọc và luân lưu
giữa các hội thánh, được tra xét cẩn thận. Trước giả là những người
đã được Chúa lựa chọn để ghi chép, tác giả chánh là Chúa Thánh
Linh, Ngài hà hơi vào các lời ấy. Với hai nguyên tố quan trọng:
Nhân tố và Thiên tố.
Nhân tố: Các sứ đồ, môn đệ của Chúa đã ghi chép
theo sự hiểu biết của họ, họ không ở trong trạng thái ngất xỉu, tâm
trí họ sáng suốt, nên văn thể vẫn giữ được sắc thái cá nhân của
trước giả. Sách đọc lên rất rõ ràng, mạch lạc, đề tài tập trung vào
sự cứu rỗi của Chúa Giê-su Ki Tô, không vẽ vời chuyện thần thoại
hoang đường.
Thiên tố: Thần quyền (Chúa Thánh Linh) hà hơi
vào trước giả, Ngài cảm thúc, kiểm soát lời viết. II Tim.
3:16: “Toàn thể Thánh Kinh đều do Thiên Chúa soi dẫn...”
Thiên Chúa hà hơi vào mỗi từ ngữ, vì thế
người đọc Lời Chúa được Ngài tác động trong tâm linh chinh phục họ
trở lại đầu phục Ngài. Sự hà hơi của Ngài bảo đảm giá trị Thần
quyền của sách ấy vào kinh điển của Thánh Kinh...Lời ghi chép đã
được chính Chúa Thánh Linh hà hơi.
Bộ kinh điển Cựu Ước gồm các phần chính sau đây:
A. Ngũ
Kinh Môi-se – Torah: 1. Sáng Thế Ký; 2. Xuất Ai-cập Ký; 3. Lê-vi
Ký; 4. Dân Số Ký; 5. Phục Truyền Luật Lệ Ký...
Kinh điển Tân Ước gồm có 27 sách đã được hội thánh
đầu tiên tiếp nhận là thánh thư được Chúa Thánh Linh hà hơi,
có giá trị thẩm quyền khuôn vàng thước ngọc cho niềm tin và phẩm
hạnh của tín hữu (Christian)....
Chính Chúa Cứu thế đã chính thức công nhận Cựu
Kinh và hứa rằng công vụ của Thánh Linh của chân lý sẽ hoàn tất
mọi dữ kiện trong Tân Kinh. Lời phán của Chúa cứu thế là có giá
trị tối hậu và là chìa khóa của kinh điển Cựu và Tân ước...
Vài nhận xét nho nhỏ của
người dịch (Trần Chung Ngọc):
Thứ nhất, Chúa Thánh Linh
là Holy Spirit, hay là Thánh Ma (Holy Ghost), mà một Spirit lại có
thể “hà hơi” như người thường, vì Mục sư Nguyễn Hữu Ninh đã gọi Chúa
Thánh Linh là Ngài. Đúng là một chuyện tiếu lâm độc nhất vô nhị
trên thế gian, chỉ có thể có trong Ki Tô Giáo, hoặc trong bộ phim
“Ghost stories” của Tàu. Chuyện tiếu lâm này cũng tương tự như
chuyện Chúa Thánh Linh có thể làm cho bà Mary mang thai mà không cần
đến tinh trùng của...đàn ông. Từ khi khai thiên (khoảng 15 tỷ năm
trước) lập địa (khoảng hơn 4 tỷ năm trước) cho đến khi Ngài “hà hơi”
(khoảng 3000 năm trước, khi Ngũ Kinh được viết) vào các trước giả
Thánh Kinh, thì chắc chắn là trong thời gian nhiều tỷ năm này chưa
có những ống kem Colgate hay Crest v..v... Vậy cái hơi của Ngài tích
tụ trong nhiều tỷ năm mà không có những sản phẩm này tất nhiên phải
rất đặc biệt. Vì thế cho nên, do cái loại hơi đặc biệt này, các
trước giả mới viết lên được những lời rất khó ngửi. Khó ngửi vì
những lời đó phần lớn là những tư tưởng ác độc, bạo tàn, dâm loạn,
hoang đường, phản khoa học, phi lý trí v..v.. mà chúng ta thấy có
đầy trong Thánh Kinh, nhất là Cựu Ước. Do đó, khi đọc Thánh Kinh,
nếu chúng ta có một bộ óc tưởng tượng phong phú, thì chúng ta có thể
ngữi thấy mùi. Mùi gì? Ngoài mùi “hà hơi” còn có mùi máu tanh
trong suốt cuốn Cựu Ước, át hẳn mùi “hà hơi” khó ngửi của Chúa Thánh
Linh.
Thứ nhì, Mục sư Nguyễn Hữu
Ninh viết rõ là “Ki Tô Giáo (Christianity) trong thế kỷ I thừa
hưởng được bộ Kinh điển Cựu Ước đáng tin cậy của người Do Thái”
Lẽ dĩ nhiên, vì những người Ki Tô Giáo đầu tiên là người Do Thái.
Ai cũng biết Cựu Ước là lịch sử Do Thái, viết theo niềm tin của
người Do Thái về một vị Thần của họ, giải thích những hiện tượng
thiên nhiên mà trí tuệ của họ thời đó chưa hiểu nổi. Tuy nhiên, một
câu hỏi được đặt ra là, người Việt Nam chúng ta thì có liên hệ gì
tới lịch sử Do Thái và Thần của họ, do đó cái “kinh điển Cựu Ước
đáng tin cậy của người Do Thái” rất có thể không đáng giá một xu đối
với người Việt Nam chúng ta, khoan nói đến chuyện tin cậy. Lịch sử
Việt Nam đã chứng tỏ rõ ràng như vậy. Cái liên hệ duy nhất có thể
có giữa người Việt Nam và người Do Thái là do cùng một sinh thể ban
khai tiến hóa trong khoảng thời gian hàng tỷ năm mà thành, theo
thuyết Tiến Hóa mà ngày nay cả thế giới, trừ một số có đầu óc khuyết
tật trong Ki Tô Giáo, nhất là Tin Lành, đều chấp nhận là một sự kiện
không ai có thể phủ bác [Xin đọc bài Charles Darwin Và Thuyết
Tiến Hóa trên trang nhà Giao Điểm]. Nền văn hóa hòa bình định cư
của dân tộc Việt không có gì giống nền văn hóa du mục bạo tàn của
dân tộc Do Thái, và hơn 90% người Việt Nam theo chủ nghĩa nhân bản
và nhân chủ, vậy tại sao người Việt Nam phải tin vào những chuyện
hoang đường trong Thánh Kinh của người Do Thái và tôn thờ một vị
Thần của người Do Thái, chỉ có giá trị tâm linh đối với người Do
Thái?
Thứ ba, theo mục sư Nguyễn
Hữu Ninh thì: Chúa Thánh Linh hà hơi vào trước giả, Ngài cảm
thúc, kiểm soát lời viết. Vậy mỗi khi trước giả viết xong một
câu lại phải trình lên Chúa Thánh Linh để Ngài kiểm soát? Kiểm
soát như thế nào? Cầm bút nguyên tử gạch bỏ những lời không ưng ý
hay “hà hơi lại” vào các trước giả để cho họ viết lại? Nhưng rồi
Mục sư Nguyễn Hữu Ninh lại viết: Thiên Chúa hà hơi vào mỗi từ
ngữ, vì thế người đọc Lời Chúa được Ngài tác động trong tâm linh
chinh phục họ trở lại đầu phục Ngài. Như vậy là những từ ngữ đã
được viết ra, sau khi đã được Chúa Thánh Linh kiểm soát. Vậy Ngài
hà hơi vào những từ ngữ đó để làm gì nữa? Để cho con người mỗi khi
đọc đến những từ ngữ đó lại ngửi được mùi “hà hơi” của Ngài? Mặt
khác, nếu như tôi, vừa đọc vừa bịt mũi thì Ngài tính sao đây? Còn
nữa, sao tôi đọc những Lời Chúa, đọc đi đọc lại nhiều lần, mà lại
chẳng thấy Chúa Thánh Linh tác động gì hết trong tâm linh tôi để tôi
trở lại đầu phục Ngài? Trái lại tôi chỉ thấy ghê tởm Ngài như
Thomas Paine đã ghê tởm Ngài qua những chuyện độc ác, vô luân trong
đó. Một bài học sơ đẳng cho Mục sư Nguyễn Hữu Ninh: không nên viết
kiểu “suy bụng ta ra bụng người” rồi “vơ đũa cả nắm”.
Thứ tư, Mục sư Nguyễn Hữu
Ninh viết: “Chính Chúa Cứu thế đã chính thức công nhận Cựu
Kinh”. Như vậy thì Chúa cứu thế, tức Giê-su, đã chính thức công
nhận tất cả những chuyện hoang đường, phi lý, phản khoa học, sai
lầm, ác độc, tàn bạo, loạn luân v..v.. trong Cựu Ước. Mục sư Ninh
có dám phủ nhận là Cựu Ước không có những chuyện như trên không?
Nếu Chúa cứu thế công nhận những chuyện như vậy, và tiếp nối công vụ
để hoàn tất chúng trong Tân Ước, thì phải chăng những chuyện như
trên chính là “khuôn vàng thước ngọc cho niềm tin và phẩm hạnh
của Ki Tô hữu”? Chẳng trách lịch sử Ki Tô Giáo là một lịch sử ô
nhục, đẫm máu nhất thế gian, với những giáo hoàng vô đạo đức, cuồng
sát, loạn luân, với những cuộc thánh chiến, tòa hình án xử dị giáo,
săn lùng giết hại “phù thủy”, đồng hành với chủ nghĩa thực dân
v..v..., và ngày nay, chuyện một số không nhỏ linh mục, mục sư phạm
tội loạn dâm phải chăng cũng là để hoàn tất những “khuôn vàng
thước ngọc cho niềm tin và phẩm hạnh của Ki Tô hữu”? Ai có thể
phủ nhận những điều này, xin lên tiếng.
Thứ năm, Lời phán của
Chúa cứu thế là có giá trị tối hậu và là chìa khóa của kinh điển Cựu
và Tân ước... Như vậy thì những lời phán ác độc của Chúa, những
lời nguyền rủa của Chúa, những lời hỗn hào với mẹ của Chúa, nhưng
lời “tiên tri” hoang đường của Chúa, những lời nói láo của Chúa như
chúng ta sẽ thấy trong đoạn bàn về Ngũ Kinh sau đây v..v.., tất cả
đều có giá trị tối hậu? Giá trị đối với ai? Mục sư Ninh chỉ có thể
lừa dối được đám tín đồ ngu dốt, chưa hề đọc Thánh Kinh, qua những
câu cường điệu bậy bạ như trên, chứ đối với giới hiểu biết thì vô
tác dụng.
Và cuối cùng, Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh, cũng như Chúa Giê-su của ông ta (John 5:46; Luke
24:27; Luke 16:31), đều tin rằng Ngũ Kinh là do Môi-se viết. Cả hai
đều sai lầm trầm trọng, vì chẳng có cái gì có thể gọi là “Ngũ
Kinh – Môi-se”. Điều này chứng tỏ Chúa Giê-su cũng chỉ là một
người thường như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, sự hiểu biết rất giới hạn.
Chứng minh?
Trước hết, tất cả các học
giả nghiên cứu Thánh Kinh, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki
Tô, đều đồng thuận ở một điểm: Ngũ Kinh (5 sách đầu trong Cựu Ước)
không phải là do Môi-se viết mà là do nhiều người khác nhau, thuộc
nhiều môn phái khác nhau, viết trong khoảng thời gian 400 năm, từ
thế kỷ 9 đến thế kỷ 6 trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E =
Before Common Era), hay Trước Tây Lịch (TTL) trong khi Môi-se sống
trong khoảng thế kỷ 13 TTL. Các môn phái khác nhau đó là :
- Môn phái Yahwistic
(viết tắt là J) vì gọi Chúa là Jehovah.
- Môn phái Elohistic
(viết tắt là E) vì gọi Chúa là Elohim.
- Môn phái Deuteronomic
(viết tắt là D) viết sách Deuteronomy.
- Môn phái Priestly (viết
tắt là P) viết sau khi dân Do Thái đi lưu đày (sau 500 TTL).
Thứ nhì, Mục sư Rubem
Alves đã đặt vấn đề trong cuốn Protestantism and Repression,
trang 63:
Ai viết Ngũ
Kinh? Câu trả lời của giáo hội Ki Tô lịch sử cho câu hỏi trên là
khẳng định: "Moses viết". Nếu Moses không hề viết Ngũ Kinh
(theo những kết quả nghiên cứu của các học giả. TCN) thì các tông
đồ (Paul và John) đã sai lầm khi họ nói rằng Moses viết. Nếu họ sai
lầm trong vấn đề này thì làm sao chúng ta có thể tin họ khi họ nói
về những vấn đề như thiên đường và đời sau? Nếu Moses không viết
Ngũ Kinh thì Giê-su đã nói láo hay sai lầm khi ông ta nói rằng Moses
viết. (John 5:46 - Luke 24:27 - Luke 16:31). Nếu Giê-su
thực sự không biết ai viết, tuy rằng ông ta nói rằng ông ta biết,
làm sao chúng ta có thể tin ông ta được khi ông ta nói những chuyện
trên trời?
(Who wrote the
Pentateuch? The response of the historical Christian Church to that
question is definite: “Moses wrote them”. If Moses did not write
the Pentateuch, then the apostles (e.g., Paul and John) made a
mistake when they said that he did. If they erred on this matter,
how can we believe them when they deal with truths concerning heaven
and the future life? If Moses did not write the Pentateuch, then
Jesus lied or erred when he said Moses did. If Jesus did not
know this, though he said he did know, how can we believe him when
he talks about the thing of heaven?
Tôi có thể tin chắc là Mục
sư Nguyễn Hữu Ninh không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu về
Thánh Kinh Ki Tô Giáo, và chỉ viết theo những gì ông đã được dạy chứ
chính mình chưa đọc kỹ Thánh Kinh, cho nên ông ta đã dập khuôn nói
láo của Giê-su và viết là “Ngũ Kinh – Môi-se”. Nếu đọc kỹ, ông ta
phải biết rằng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 34: 5-7, Môi-se viết
về cái chết của chính mình như sau: “Vậy Môi-se, tôi tớ Chúa
qua đời trong đất Mô-Áp, như Chúa đã phán. Ngài (tức là Chúa) chôn
ông ta (ngôi ba đấy nhé) tại một thung lũng đối ngang...Môi-se qua
đời lúc ông ta (ngôi ba đấy) được 120 tuổi ...”
Vậy có phải là Môi-se viết
ngũ kinh như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh rao giảng cho tín đồ hay không?
Nếu đúng là Môi-se viết thì ông không thể dùng ngôi ba “ông ta” để
chỉ chính ông. Mặt khác, Môi-se sống trong thế kỷ 13 TTL và chỉ
sống có 120 tuổi, trong khi Cựu Ước chỉ được viết từ thế kỷ 9 TTL,
vậy bằng cách nào mà Môi-se viết Ngũ Kinh? Tôi đề nghị Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh hãy đọc ít nhất là cuốn Ai Viết Thánh Kinh?
(Who wrote the Bible?, 1987) của Richard Elliott Friedman, và cuốn
The Bible Unearthed: Archaelogy’s New Vision of Ancient Israel
and The Origin of its Sacred Texts của Israel Filkelstein & Neil
Asher Silberman, mới xuất bản năm 2002. Nhưng đề nghị này có vẻ như
nước đổ đầu vịt, vì tôi hiểu những người Tin Lành hơn ai hết. Đối
với họ thì tam đoạn luận sau đây là khuôn vàng thước ngọc cho mọi
“lý luận”:
- Tất cả những gì trong Thánh Kinh đều đúng
(Everything in the Bible is true)
- Thánh kinh viết Moses là tác giả của Ngũ Kinh
(The Bible says that Moses is the author of the Pentateuch)
- Vậy thì Moses phải là tác giả của Ngũ Kinh
(Therefore Moses is the author of the Pentateuch)
Do đó, bài dịch này không có mục đích khai sáng Mục sư
Nguyễn Hữu Ninh, những tín đồ Tin Lành (sic) tân tòng Việt Nam như
Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Huệ Nhật, Khuất Minh, Phan Như Ngọc
v..v.. và tất cả những “tôi tớ, tỳ nữ của Chúa” trên Mucsu.net, và
cũng không có mục đích giúp họ hiểu biết thêm về cuốn Thánh Kinh Ki
Tô Giáo. Nó chỉ có tính cách thông tin xác thực cùng đại chúng mà
thôi.
Những tín đồ thuộc loại
“tôi tớ Chúa” này thường cho rằng những gì viết trong cái gọi là
Thánh Kinh Ki Tô Giáo, gồm Cựu Ước và Tân Ước, đều là những chân
lý. Họ cũng còn coi cuốn Thánh Kinh là khuôn vàng thước ngọc cho
luân lý đạo đức. Điều hiển nhiên là họ chưa bao giờ đọc kỹ Thánh
Kinh, khoan nói đến chuyện đọc với đầu óc suy luận. Cũng vì vậy họ
thường hay trích dẫn những câu vặt vãnh lạc lõng trong Thánh Kinh,
coi chúng như là những chân lý, để làm luận điểm đối thoại. “Lý
luận” thuộc loại “tôi tớ” của họ trong mọi cuộc đối thoại là: “Thánh
Kinh viết rằng..”, làm như tất cả những điều trong Thánh Kinh phải
được chấp nhận trước khi đối thoại, không hề biết Thánh Kinh chỉ là
một sản phẩm man rợ của thời bán khai. Lẽ dĩ nhiên, họ chưa bao
biết ai là những người viết Thánh Kinh, chưa bao giờ đọc những tác
phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh, phân tích Thánh Kinh từng câu từng
chữ, và tuyệt đối không bao giờ để ý đến tính cách nhất quán, một
tính cách không thể không có (sine qua non) trong một cuốn sách có
thể gọi là có phần nào giá trị. Tính cách nhất quán này không hề có
trong Thánh Kinh. Do đó, dù có được Thánh Linh hà hơi hay không,
cuốn Thánh Kinh cũng chỉ là một sản phẩm hạ đẳng của thời bán khai
vì chứa rất nhiều điều độc ác, vô đạo đức, phi luân lý, phản khoa
học, phi lôgic, hoang đường v..v.. Chứng minh?
Chỉ cần mở cuốn Thánh
Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc. Nếu ngại công tìm
kiếm những điều trên, có đầy trong thánh Kinh, tôi xin giới thiệu
một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu,
những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo
không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:
- “The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of
Sex in the Scripture” của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày
hơn 400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong
Thánh Kinh.
- “All The Obscenities in the Bible”
của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những
chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. (Human
sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty
etc..) trong Thánh Kinh.
- “The Bible Handbook” của W. P. Ball,
G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith et...: Liệt kê những mâu
thuẫn (contradictions), vô ngĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities)
v..v.. trong Thánh Kinh.
- “The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible”
của Bà Ruth Hurmence Green: Bình luận những chuyện tàn bạo, dâm ô,
kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.
- “One Hundred Contradictions in the Bible”
của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh
Kinh.
- “The Bible Unmasked” của Joseph
Lewis: Lột mặt nạ Thánh Kinh, đưa ra những sai lầm trong Thánh
Kinh.
- “Christianity Cross-Examined” của
William Floyd: Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.
- “Christianity and Incest” của Annie
Imbens & Ineke Jonker: Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân,
những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh
Kinh.
Những tín đồ Tin Lành Việt
Nam như Mục sư Nguyễn Hữu Ninh, tân tòng như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên
Hồng, Huệ Nhật, Khuất Minh, Phan Như Ngọc v..v.. và tất cả những
“tôi tớ, tỳ nữ của Chúa” trên Mucsu.net không bao giờ biết rằng ngay
từ đầu thế kỷ 20, giới lãnh đạo Tin Lành Mỹ đã hoang mang lo sợ vì
phải đối diện với hai thực tế. Thứ nhất, “Các học giả Âu Châu
đã phân tích Thánh Kinh kỹ hơn bao giờ hết, và kết luận của họ là:
Thánh Kinh không phải là cuốn sách do Thần Cha mạc khải mà viết ra,
như các Ki Tô hữu đã tin, do đó không thể sai lầm. Thật ra, đó là,
một hợp tuyển lộn xộn những huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch
sử, luật lệ, triết lý, bài giảng đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và
một số ngụy tạo rất hiển nhiên.” (European scholars
were scrutinizing the Bible more closely than ever before. They
had concluded that it (the Bible) was not, as Christians had long
believed, a book dictated by God and therefore infallibly true. It
was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends,
history, law, philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright
forgeries.) Thứ nhì, chính là những tư tưởng trong thuyết Tiến Hóa
của Charles Darwin. [Xin đọc bài Charles Darwin và Thuyết Tiến
Hóa trên trang nhà Giao Điểm]
Cho nên ngày nay, những ai
còn nói chuyện mạc khải, hà hơi, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật
ra chỉ là những người còn sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài
thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Thánh Linh có hà hơi hay không, trong
Thánh Kinh (sic) loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác,
giết người vẫn là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và
phản khoa học v..v...
Quý độc giả đã đọc bài
“Những Lời Châu Ngọc Về Ki Tô Giáo” của Robert G. Ingersoll và
hẳn đã thấy giá trị của sự hiểu biết, tư tưởng, và cách lập luận của
tác giả. Tôi không muốn nhắc lại những lời giới thiệu về Ingersoll
nữa. Sau đây là bản dịch bài "Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh"
(Gems Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong
cuốn "Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu" (Ingersoll, the
Magnificient), biên tập bởi Joseph Lewis, trg. 59-85. Tôi đã trích
dẫn một vài đoạn trong phần đầu của bài này trong chương 5, cuốn
“Công Giáo Chính Sử”, Giao Điểm xuất bản 1999, tái bản 2000.
Qua bài này, chúng ta sẽ thấy thực chất cuốn Thánh Kinh của Ki Tô
Giáo là như thế nào. Xin quý độc giả ghi nhận, tất cả những gì
Ingersoll viết đều dựa trên nội dung Thánh Kinh và lịch sử Ki Tô
Giáo. Cũng như những bài tôi đã dịch về các chủ đề liên hệ đến
Ki Tô Giáo, để tránh bài dịch quá dài, tôi đã lược bớt một số đoạn
thuộc triết lý cá nhân của Ingersoll mà tôi cho là đã đi xa đầu đề
của bài viết, tuy trong những đoạn này có những tư tưởng rất hay của
Ingersoll về nhân chủ và nhân bản. Xin mời quý độc giả thưởng thức
một bài viết ở cuối thế kỷ 19 của một danh nhân Hoa Kỳ: Đại Tá,
Chưởng Lý bang Illinois, Nhà Tư Tưởng Tự Do, Nhà Nhân Bản Robert G.
Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu: bài Những Lời Châu Ngọc Về Thánh
Kinh, cuốn sách đã được Thiên Chúa của Mục sư Nguyễn Hữu Ninh
“hà hơi” vào từng lời. Trong bài dịch này tôi đặc biệt dùng từ
Thiên Chúa quen thuộc của người Ki Tô để chỉ một vị Thần của dân Do
Thái và để chúng ta thấy rõ thực chất của vị Thần đó trong Thánh
Kinh mà Ki Tô Giáo đã đôn làm Thiên Chúa của họ.
Những Lời Châu Ngọc Về Thánh
Kinh
Tác giả: Robert G.
Ingersoll
"Một người nào đó phải nói
lên sự thực về cuốn Thánh Kinh. Những nhà giảng đạo [trong nước Mỹ.
TCN] không dám vì họ sẽ bị đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư
đại học không dám, vì họ sẽ mất đi đồng lương. Các chính trị gia
không dám. Họ sẽ bị đánh bại. Các chủ biên không dám. Họ sẽ mất
độc giả. Các thương gia không dám, vì họ có thể mất khách hàng.
Ngay cả những công chức thường cũng không dám, vì họ có thể bị
đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này. [Xin nhắc
lại, Ingersoll viết bài này vào cuối thế kỷ 19]
Ghi chú của SH: "Somebody ought to tell the truth about the Bible. The preachers dare not, because they would be driven from their pulpits. Professors in colleges dare not, because they would lose their salaries. Politicians dare not. They would be defeated." (https://www.rodneyohebsion.com/challenging-the-bible.htm)
Có nhiều triệu người tin
rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thiên Chúa - nhiều triệu người
nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn cố vấn và an
ủi; rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng trong tương
lai - nhiều triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật pháp,
công lý và tình thương, và nhờ có những giáo lý thông thái và lành
tốt mà thế giới có được tự do, thịnh vượng, và văn minh - nhiều
triệu người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc khải từ trí tuệ
và lòng thương yêu của Thiên Chúa đến với tâm thức con người - nhiều
triệu người coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự
tối tăm của chết chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác - một
thế giới không có nước mắt.
Họ quên đi cái sự ngu tối
và man rợ, sự thù ghét tự do, sự tàn sát tôn giáo ở trong Thánh
Kinh; họ nhớ tới Thiên đường, nhưng quên đi những ngục tù tăm tối và
sự đau khổ vĩnh viễn ở dưới hỏa ngục.
Họ quên rằng cuốn sách này
giam hãm đầu óc con người và làm cho lòng người đồi bại. Họ quên
rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự do trí thức.
Các linh mục, mục sư phân
vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ đến độ công kích cuốn Thánh
kinh.
Tôi sẽ nói cho họ biết:
Cuốn sách này, cuốn Thánh
Kinh, đã truy tố cho đến chết những người thông thái nhất và tốt
nhất. Cuốn sách này đã chặn đứng sự tiến bộ của loài người. Cuốn
sách này đã đầu độc những nguồn kiến thức và lạc dẫn năng lực của
con người.
Cuốn sách này là kẻ
thù của tự do, là cột chống của chế độ nô lệ. Cuốn sách này đã
gieo những hạt giống thù hận trong gia đình và quốc gia, nhúm ngọn
lửa chiến tranh, và làm cho thế giới nghèo khổ. Cuốn sách này là
công sự của hôn quân bạo chúa - là chủ nhân của các nô lệ phụ nữ và
trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi bại nghị viện và triều chính. Cuốn
sách này đã biến các trường đại học [Ki Tô Giáo] thành thầy dạy của
sự sai trái và kẻ thù ghét khoa học. Cuốn sách này chất đầy những
nước theo KiTô giáo với những tông phái thù hận, độc ác, ngu tối,
chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con người giết đồng loại vì
tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Tòa Hình Án xử dị giáo, phát
minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những ngục tù tối tăm
trong đó người lương thiện và nhân từ mai một dần; rèn những chuỗi
xích trở thành rỉ xét trong da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu đài
để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp những đống củi dưới chân của
người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi đầu óc của nhiều
triệu người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên.
Cuốn sách này đã gây nên
cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ sơ sinh. Cuốn sách này đã là
trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ đứng nhìn đứa con nhỏ phải
bị chia lìa khi bà được bán đi. Cuốn sách này chứa đầy thuyền kẻ
buôn nô lệ và làm da thịt con người thành món hàng hóa. Cuốn sách
này đã nhúm lửa thiêu sống những "mụ phù thủy" và những "thầy
pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những quỷ và ma [Satan và
Holy Ghost], và thân thể con người với những ác quỷ [demons]. Cuốn
sách này đã làm ô nhiễm đầu óc con người với giáo điều ô nhục
về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn [của Giê-su]. Cuốn sách này coi sự
cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi hiểu biết như là tội
ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và những vị Thánh nhơ
bẩn lên trên triết gia và người nhân đức. Cuốn sách này dạy con
người coi thường những niềm vui của đời sống này, để có thể sung
sướng ở đời sau - bỏ phí thế giới này vì thế giới sau.
Tôi công kích cuốn sách
này vì nó là kẻ thù của sự tự do của con người - là sự cản trở lớn
nhất của sự tiến bộ của con người.
Tôi xin hỏi các linh mục,
mục sư một câu: làm sao mà các ông có thể tồi tệ đến mức bào chữa
cho cuốn sách này.
Cuốn Thánh Kinh đã là thành
trì chống đỡ của hầu hết các tội ác.
Ngang qua cuốn Thánh kinh mở
là thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người).
Chúng ta hãy thoát ra khỏi
sự tàn bạo của một cuốn sách, ra khỏi sự nô lệ của sự ngu tối cùng
cực, của cái không khí quý tộc thống trị [của các giáo sĩ].
Một trong những việc đầu tiên mà tôi (Ingersoll) muốn
làm là giải phóng giới giáo sĩ. Tôi là bạn tốt của họ, và mặc dù
tất cả những gì họ có thể nói về tôi, tôi sẽ giúp họ một đại sự lâu
dài. Trên cổ họ là những vết hằn của cái cổ áo linh mục, và sau
lưng họ là những vết roi. Họ không được phép đọc và tự mình suy
nghĩ. Họ được dạy như những con vẹt, và những người giỏi nhất là
những người có thể nhắc lại đúng những câu mà họ được dạy. Họ ngồi
như những con cú vọ [Người Việt Nam dùng danh từ “quạ đen” (corbeau
noir)] trên một cành cây khô của cái cây hiểu biết và phát ra những
tiếng cú kêu giống y như những tiếng cú kêu đã kêu trong 1800 năm
nay. (They sit like owls upon some dead limb of the tree of
knowledge, and hoot the same old hoots that have been hooted for
eighteen hundred years).
Có một ông bác sĩ giải
phẫu đến thăm một người tàn tật đáng thương và đề nghị giúp anh ta
trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt đầu phân tích về bản chất
và nguồn gốc chứng tật của người kia, về những loại thuốc có thể
giúp anh ta, về sự lợi ích của tập luyện, của không khí trong lành
và ánh sáng, và nhiều điều khác có thể giúp chữa lành được chứng tật
của người kia. Tất cả những hành động này đều do thiện ý của một
bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng sợ và
kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái
tôi phải tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ
giải phẫu nói: “Tôi không có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa
lành cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ cái cặp nạng ấy đi.” [Đây
chính là chủ trương của Ingersoll đối với giới giáo sĩ Ki Tô Giáo
vào cuối thế kỷ 19, và ngày nay, TCN cũng chỉ đi theo con đường này
để giúp các đồng bào xấu số vứt đi những cặp nạng không cần thiết
của họ].
Lấy cái gì để thay thế cho
một sự trừng phạt vĩnh viễn? Chỉ cần chứng tỏ là sự trừng phạt đó
không hề có. Một người có bệnh tật muốn gì? Sức khỏe.
Bất kể sự kiện là những người ngoại đạo trong mọi
thời đại đã chiến đấu cho nhân quyền, và đã là những người ủng hộ tự
do và công lý, nhưng chúng tôi thường xuyên bị giáo hội Ki Tô cáo
buộc là chỉ biết phá đổ mà không biết xây dựng.
Tôi không chống con
người. Tôi chống những giáo lý mà tôi cho là sai lầm. Không cần
thiết phải chống con người – chúng ta hãy chống sự sai lầm.. Chúng
ta hãy làm hết sức để cung cấp sự hiểu biết, giáo dục, vì sự lợi
ích của đồng bào chúng ta.
Những người tin vào Thánh
Kinh ồn ào tố cáo những cái mà họ gọi là văn phẩm phi luân của thế
giới. Nhưng thật ra thì ít có cuốn sách nào đã được xuất bản mà
chứa những sự dơ dáy về luân lý đạo đức nhiều hơn là những lời mạc
khải của Thiên Chúa. Những chuyện trong Thánh Kinh không loé lên
một điểm thông minh dí dỏm nào. Chúng không bao giờ lên quá được
mức buồn tẻ về những chi tiết của những thói xấu ngu đần. Tôi là
người không muốn làm nhơ những trang giấy của tôi với những câu
trích dẫn từ Thánh Kinh. (I cannot afford to soil my pages with
extracts from them); và tất cả những đoạn đó trong Thánh Kinh, tôi
để cho giới giáo sĩ xem xét, bình luận và giải thích. Các ông giáo
sĩ đó có thể kiếm ra cách nào đó để lấy mật ong ra từ những bông hoa
đó.
Cuốn Thánh Kinh không phải
là cuốn sách để cho già cũng như trẻ đáng đọc. Nó chứa những trang
sách mà không một ông mục sư nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng dân
Chúa bất kể là phần thưởng dành cho ông ta là cái gì. Có những
chương mà không một người cha nào muốn đọc cho con nghe. Có những
câu chuyện không thể kể; và sẽ có ngày cả nhân loại sẽ phân vân là
sao mà một cuốn sách như vậy lại có thể gọi là được Thiên Chúa mạc
khải.
Chúng ta thường xuyên được
bảo rằng Thánh Kinh là nền tảng của sự khiêm tốn và đạo đức; trong
khi thật ra thì những trang sách trong đó chẳng có gì là khiêm tốn
và đạo đức [Xin dọc những lời tự nhận rất huênh hoang và những lời
vô đạo đức của Giê-su trong Tân Ước. TCN], mà nếu một mục sư đọc
chúng trên bục giảng thì ngay lập tức ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn
nạn dơ dáy (unclean wretch). Mọi phụ nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà
thờ, và nếu nam giới có ở lại thì chỉ với mục đích là nghiêm khắc
trừng phạt ông mục sư đó (chastising that minister).
Có phải tốt hơn là hãy
chấp nhận Thánh Kinh được viết bởi những người man rợ trong một thời
đại man rợ, thô thiển không? Có phải đúng hơn là có những tên Do
Thái ngu đần nào đó đã viết lên những lời tầm thường đó. Những Ki
Tô hữu bảo tôi rằng chính Thiên Chúa là tác giả của những điều đê
tiện và ngu xuẩn (vile and stupid) này. [Và ngày nay, Mục sư Nguyễn
Hữu Ninh vẫn dạy các tín đồ Tin Lành rằng Thiên Chúa là tác giả của
những điều đê tiện và ngu xuẩn này. TCN]
Sự kiện là, những điều hay
trong một cuốn sách không chứng minh được là cuốn sách đó đã được
Thiên Chúa mạc khải (hay “hà hơi” theo mục sư Nguyễn Hữu Ninh),
nhưng những điều xấu xa và sai lầm trong đó đích thực đã chứng minh
rằng đó không phải là một cuốn sách đã được mạc khải.
Vấn đề thực sự không phải
là cuốn Thánh Kinh có được mạc khải hay không, mà là nó có đúng hay
không. Nếu nó đúng, nó không cần phải được mạc khải. Nếu nó đúng
thì không có gì khác biệt là nó đã được viết bởi một người hay một
ông thần; và nếu nó không đúng thì không thể bảo nó là do sự mạc
khải của thần mà viết lên. Một bản cửu chương (multiplication table)
thì cũng có ích, cũng đúng như là một thần đã xếp đặt những con số
trong đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng, không cần phải đề cao nó là
do sự mạc khải của thần.
Thật ra thì, chân lý không
cần phải được mạc khải. Không có gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự
giả mạo hay sai lầm [nghĩa là muốn sự giả mạo trở thành chân thật,
sự sai lầm trở thành đúng bằng cách khoác cho nó bộ áo “do Thiên
Chúa mạc khải”. TCN]. Ở đâu mà sự thật chấm dứt, ở đâu mà xác suất
(probability) ngưng lại, thì ở đó sự mạc khải (hay “hà hơi”) bắt
đầu. Một sự kiện không bao giờ đi cùng với một phép lạ. Chân lý
không bao giờ cần đến sự trợ giúp của phép lạ.
Sự mạc khải của cuốn Thánh
Kinh tùy thuộc sự cả tin của người đọc. Đã có một thời, những điều
viết trong đó về địa chất, về thiên văn, lịch sử thiên nhiên, đều
được cho là do sự mạc khải của thần và do đó không thể sai lầm; thời
đại đó đã qua. Đã có một thời, những quan niệm về luân lý đạo đức
trong đó đã làm hài lòng những con người nắm quyền thống trị tư
tưởng của nhân loại; thời đại đó đã qua.
Có một người thông minh
nào trên thế giới ngày nay còn có thể tin được câu chuyện vườn
Eden? Nếu bạn thấy người nào còn tin như vậy, hãy gõ lên trán anh
ta, bạn sẽ nghe thấy một tiếng vang [vì đầu óc hắn ta rỗng tuếch.
TCN]. Có một người thông minh nào mà ngày nay còn có thể tin là
Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất sét, và người đàn bà từ
một cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái vườn, và đặt
một cái cây ở giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt cái
cây đó hay sao, nếu ông ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây
đó? Có còn người nào ngày nay còn có thể tin vào chuyện con rắn
(xúi Adam và Eve ăn trái cấm)? Tôi thật thương hại bất cứ ai, trong
thế kỷ 19 này, còn tin vào những chuyện trẻ con như vậy.
Tại sao Adam và Eve bất
tuân điều cấm của Thiên Chúa? Tại sao họ bị cám dỗ? Bởi ai? Bởi
quỷ (hiện thân thành con rắn). Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta
tạo ra quỷ để làm gì? Tại sao ông ta không nói cho Adam và Eve biết
về con rắn? Tại sao ông ta không canh chừng con quỷ mà lại đi canh
chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta không gây ra nạn hồng thủy trước,
và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra Adam và Eve?
Vậy mà, những người tự cho
là mình thông minh – giáo sư đại học và viện trưởng các học viện [Ki
Tô] danh tiếng – đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là
một sự kiện lịch sử tuyệt đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng
chờ xung quanh cái vườn Eden – biết rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo
nên Adam và Eve với mục đích duy nhất là điều xảy ra sẽ phải xảy ra,
rồi sao nữa? Bắt tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm, và chúng ta
không hề có mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của những người chưa
được sinh ra. Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi muốn
có cơ hội để bỏ phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn
Eden), và biết mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp
nhận”. Tuy vậy, trách nhiệm vẫn về phần tôi.
Chúng ta được Thánh Kinh
và Giáo hội dạy, vì sự “sa ngã” này của Adam và Eve, “tội lỗi và cái
chết đã đi vào nhân loại”. Theo như vậy thì, ngay sau khi Adam và
Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày đặt ra những phương pháp để
tiêu diệt sự sống của các con cái của ông ta. Ông ta đã “sáng tạo”
ra mọi bệnh tật – nóng sốt, ho hắng và cảm cúm – tất cả những sự đau
đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm của bệnh dịch hạch, bệnh sốt rét
và những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít vào những tên sát
nhân mà chúng ta không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người sống thọ,
Thiên Chúa phát minh ra động đất và núi lửa, bão tố và sấm sét; và
các vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá nhỏ đến nỗi mắt không nhìn
thấy được.. Tất cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời ông ta.
Với lòng tốt vô tận
(infinite goodness), Thiên Chúa phát minh ra bệnh nhức xương và đau
khớp xương, chứng khó tiêu (dyspepsia), ung thư và chứng đau thần
kinh, và vẫn còn tiếp tục phát minh ra những chứng bệnh mới. Như
vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm cho các bà mẹ phải đau đớn (khi
sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của ông ta, sự chết sẽ đến với mọi
người. Ông ta nguyền rủa cả thế giới. (He cursed the world). Nhưng
tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu cho sự trả thù của một ông
Thiên Chúa chí thiện (Good God). Quý vị có thể nói đến một cách
không rõ ràng, nhưng không bao giờ có thể quan niệm nổi những sự
khủng khiếp vô cùng tận của cái giáo lý gọi là “Sự sa ngã của con
người”. (the infinite horrors of the doctrine called “The fall of
man”).
Theo Thánh Kinh thì Thiên
Chúa đã chọn lựa dân tộc Do Thái để loan báo một sự kiện vĩ đại:
rằng ông ta là ông Thần duy nhất trên thế gian. Để đạt được mục
đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt Môi-se (Moses) – từ
trên mây xuống núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và làm hàng ngàn
phép lạ để giáo dục và giữ dân Do Thái. Ông ta rẽ nước biển ngay
trước mắt họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ trên trời xuống để nuôi
họ. Ông ta làm cho nước phọt ra từ tảng đá để cho họ uống cho đỡ
khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị tiêu diệt một cách rất lạ
lùng; và trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích thân cai trị dân
Do Thái. Tuy nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người
trong dân của ông ta lại vẫn cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là
tin vào ông ta.
Cái ông Thiên Chúa này,
với tất cả quyền năng và sự sáng suốt, lại không thể thuyết phục
được một số dân du mục man rợ rằng ông ta thì mạnh hơn là các hình
tượng của dân Ai Cập. Ông Thiên Chúa này không muốn cho dân Do Thái
của ông ta có đầu óc suy tư và óc tìm hiểu. Đối với những người có
đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở đâu mà ông Thiên Chúa này trị
vì, sự tự do trí thức không được biết đến. Ông ta chỉ trông cậy vào
bạo lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng gươm giáo và ngọn lửa
thiêu đốt; ông ta xử sự như một điệp viên (spy), một phán quan của
tòa án xử dị giáo (inquisitor), một quan tòa (judge), và một đao phủ
(executioner).
Khi tôi đọc lịch sử của
dân tộc Do Thái, từ nô lệ đến chết chóc, với những bạo chúa v..v..,
tôi phải thú nhận là tôi thật thương xót họ. Họ bị gian lận, lừa
dối và đối đãi rất tệ hại. Cái ông Thiên Chúa của họ rất dễ nổi
nóng, vô lý, tàn ác, hận thù và bất lương. (Their God was
quick-tempered, unreasonable, cruel, revengeful and dishonest). Ông
ta luôn luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời. Ông ta phí thì
giờ về những chi tiết nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại những việc ông
ta làm. Tôi không thể quan niệm được một cá tính nào đáng ghét hơn
là cá tính của cái ông Thiên Chúa của người Do Thái. Ông ta long
trọng hứa với dân Do Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến một nơi tràn
đầy sữa và mật ong.
Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong tương lai gần,
mọi khổ nạn của họ sẽ qua đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với vợ
con, quên đi những sự cực khổ ở Ai Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn
lại (again and again) với đám dân du mục Do Thái khốn khổ là ông ta
sẽ dẫn họ đến vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui sướng, cái ông
Thiên Chúa này, quên hết mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với đám
dân khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta: “Súc vật của các ngươi sẽ
cùng các ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái các ngươi sẽ
lang thang cho đến khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền
rủa trên là kết luận của mọi vấn đề. Trong vùng sa mạc của thần
chết và tối tăm, tất cả những lời hứa hẹn của Thiên Chúa đều phai
nhạt. Trong sự cực khổ và thất vọng của đám dân du mục, tất cả
những hi vọng về tự do và định cư đều biến mất [cho đến năm 1947.
TCN]. Hàng triệu dân Chúa bỏ thây trong sa mạc, và mỗi xác chết là
một nhân chứng của sự bất lương của Thiên Chúa (each corpse
certified to the dishonesty of God). Những điều quá độc ác và vô
tâm như vậy thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý của tôi. [Theo
ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng thì tất cả
những khổ nạn của dân Do Thái đều nằm trong chương trình giáo dục
của Thiên Chúa. TCN]
Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái khốn nạn, sợ
hãi, giết nhau, bị giết chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối,
lột hết của cải...chúng ta phải cám ơn trời đất là chúng ta đã không
phải là dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa (how thankful we should be
that we are not the chosen people of God) [Việt Nam ta, trừ một số
mất gốc, nhờ hồng phúc tổ tiên, cho nên không rơi vào số phận của
những kẻ nô lệ tin tưởng và thờ phụng Thiên Chúa, một vị Thần độc ác
ngoài sức tưởng tượng của con người tiến bộ ngày nay. TCN]. So sánh
với Thiên Chúa (Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ nhân từ, và
cách hành xử độc đoán của Ai Cập là sự giải thoát cho những người
phải chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên Chúa.
Đọc Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn nộ, ghê sợ và
đầy sự thương hại. Không có gì đáng buồn thảm hơn là lịch sử của
một dân tộc du mục thiếu ăn, lang thang trong sa mạc, làm mồi cho
đói khát, bệnh tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị bởi sự
lừa dối, đạo đức giả, họ là trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa
là kẻ thù lớn nhất của họ, và họ chỉ có một người bạn, đó là cái
chết. Chúng ta không thể nào quan niệm nổi một sinh vật nào quá
chừng đê tiện, đáng ghét, và kiêu căng hơn là vị Thần của người Do
Thái. (It is impossible to conceive a more thoroughly despicable,
hateful, and arrogant being, than the Jewish God) [Thảm thay, đây
cũng lại là chính vị Thần mà những người Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô
cũng như Tin Lành, gọi là Thiên Chúa và thờ phụng. TCN] Trong những
huyền thoại của dân gian, không có Thần nào như hắn ta. Chỉ có hắn
là chưa từng bị đau khổ cùng cực về thể xác cũng như tinh thần, chưa
từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú với máu đổ và sự đau đớn của
con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối với hắn. Hắn
ta không biết gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một
người bạn giả dối, một quan tòa bất công, một kẻ khoác lác (a
braggart), đạo đức giả, độc đoán, hận thù, ghen tuông, ưa trả thù,
hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần, đồng bóng, đồi bại và ghê tởm
(infamous and hideous) – đó là Thiên Chúa trong Ngũ Kinh. [Chúng
ta không nên lấy làm lạ khi thấy trong Tân Ước, Thiên Chúa Con,
alias Giê-su, cũng có không ít cùng những đặc tính được mô tả ở
trên. Cũng giả dối, khoác lác, đạo đức giả, độc đoán, ác độc, hận
thù, ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần v..v.. Việc chứng
minh rất dễ dàng. Chỉ cần mở cuốn Tân Ước ra là thấy ngay. Tôi sẽ
trình bày chi tiết dẫn chứng từ Tân Ước trong một bài khác. TCN]
Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki Tô) người ta đã
cho rằng 10 điều răn trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý tưởng về
công lý và luật pháp. Nhiều nhà luật học nổi danh đã phải cúi đầu
trước thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề nghiệp đến độ cho rằng
luật của Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công chính. Không
có gì sai lầm một cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se
sinh ra đời, dân Ai Cập đã có một bộ luật. Họ đã có những luật
chống phỉ báng, giết người, ngoại tình, ăn trộm, ăn cướp, luật đòi
nợ, tôn trọng hợp đồng, bồi thường, chuộc đồ, và hầu như về mọi khía
cạnh của đời sống xã hội.
Họ thường bảo với tôi rằng, nếu không có cuốn Thánh
Kinh thì không làm gì có nền văn minh nào. Người Do Thái có một
Thánh Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân nào có một chính quyền
tốt hơn? Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh Kinh,
Thiên Chúa không quan tâm đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì
giờ. Tất cả thì giờ ông ta để cho người Do Thái. Nhưng La Mã đã
chinh phục thế giới, kể cả dân Thần lựa chọn. Dân tộc có Thánh Kinh
bị dân tộc không có Thánh Kinh đánh bại. [Điều này cũng đúng trong
thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều có Thánh Kinh, Việt Nam không có
Thánh Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai]. Và chúng ta có thể nói gì về
Hi Lạp? Không Thánh Kinh. Hãy so sánh Athens với Jerusalem.
Athens là trung tâm nghệ thuật và trí thức của thế giới. [Có lẽ tác
giả chỉ biết đến lịch sử Trung Đông và Tây Phương]. Hãy so sánh
những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền thoại của Do Thái.
Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại Do Thái thì đầy
những hận thù và bất công.
Do Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh Kinh? Đền
thờ Thần của họ bị phá hủy, thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao
giờ trở nên thịnh vượng cho đến khi họ bị Thần bỏ rơi.
Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu từ nhiều
thế kỷ trước khi Ki Tô Giáo xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho
nền văn minh: sự tiến bộ trí thức, lòng can đảm, tổ chức chính phủ,
kỹ nghệ v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự đóng góp của mọi
quốc gia trên thế giới từ xưa.
Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng ta là một
chính phủ Ki Tô, đặt nền tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi
Thánh Kinh như là sai lầm và điên rồ (false and foolish) là phá hủy
nền tảng của đất nước. Sự thực là, chính phủ của chúng ta không đặt
nền tảng trên quyền của Thiên Chúa mà là trên quyền của con người.
Hiến pháp của chúng ta được đóng khung trên sự thiêng liêng của nhân
loại chứ không tuyên bố và không ủng hộ tư cách thần thánh của
Giê-su. Chính phủ của chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân và vì
dân. Đây là quốc gia duy nhất mà Thiên Chúa không có quyền gì trong
đó. Tuy vậy mà cũng còn có một số người bất lương và hèn nhát đến
độ (dishonest and cowardly enough) long trọng quyết định đây là một
quốc gia Ki Tô, và định chế tự do của chúng ta được đặt căn bản trên
những luật ô nhục của Thần Gia-vê (infamous laws of Jehovah).
Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi nói đến Thiên
Chúa có nghĩa là tôi muốn nói đến Thần mà Moses mô tả trong Thánh
kinh, Thần Gia-vê của người Do Thái. Tôi muốn nói đến Thiên Chúa đã
ngăn chận sự tiến bộ của con người; đã tăng gấp bội sự cực kỳ đau
đớn về tinh thần cũng như thể xác của phái nữ; và trong cơn giận đã
nhận chìm cả thế giới – Thiên Chúa mà trên bàn thờ hắn có đầy máu,
Thiên Chúa đã phanh thây những trẻ sơ sinh, cưỡng hiếp gái trinh, nô
lệ hóa con người và chất đầy thế giới với những tội ác và sự ác độc;
Thiên Chúa đã lập lên thiên đường cho một số nhỏ và hỏa ngục cho
tuyệt đại đa số nhân loại..
Sự thật là, Môi-se (Moses) coi bầu trời như là một vòm
cứng, nơi Thiên Chúa trú ngụ, và nước được giữ ở trên
đó. Đó là tại sao họ thường ngẩng mặt cầu nguyện cho trời mưa. Họ
cho rằng có vài thiên thần nào ở trên đó mở ra những cánh cửa để cho
lượng nước mà họ mong muốn rơi xuống.
Họ không có cách nào để biết thế nào là mưa. Nước từ
đâu mà rơi xuống? Họ không biết gì về sự bốc hơi của nước. Họ
không hề tưởng tượng ra được rằng, ánh sáng mặt trời đã âu yếm hôn
(amorous kisses) những làn sóng biển, từ đó hơi nước bốc lên để gặp
người yêu ở trên không, nhưng rồi thất vọng nên đã biến thành nước
mắt rơi xuống thành mưa.
Tôi có thể bị đọa đầy xuống hỏa ngục, nhưng tôi không
bao giờ tin là cây cỏ hoa lá trên trái đất lại có trước mặt trời
[như đã được mạc khải trong Thánh Kinh] với những tia nắng lung
linh, xua đi bóng tối của đêm trường.
Ngày nay, người ta thường cho rằng, trong khi Cựu Ước
có nội dung man rợ của thời đại đó, Tân Ước thì hoàn toàn đạo đức,
không có một tì vết nào trên những trang Tân Ước. Thật ra, Tân Ước
còn ủng hộ chế độ nô lệ hơn là Cựu Ước. Về phần tôi, tôi sẽ không
bao giờ, không bao giờ có thể (I never will, I never can) thờ phụng
một Thiên Chúa chấp thuận chế độ nô lệ. Một Thiên Chúa như vậy, tôi
thật là ghét và không thèm đếm xỉa gì đến ông ta. Tôi chẳng muốn
cái thiên đường của ông ta, cũng như chẳng sợ cái hỏa ngục của ông
ta.
Chúng ta được bảo rằng, trong Ngũ Kinh, Thiên Chúa, vị
Cha chung của chúng ta, đã trao hàng ngàn thiếu nữ còn trinh, sau
khi đã giết cha mẹ anh em họ, để cho những con người man rợ thỏa mãn
lòng dục của họ [Ingersoll quên rằng chính Thiên Chúa cũng có phần].
Đó là sự “tự do tôn giáo” (religious freedom) của
Thiên Chúa; lòng khoan nhượng của Thần Gia-vê (Jehovah). Nếu tôi
sống ở Palestine vào thời đại đó, và vợ tôi, mẹ của những con tôi,
nói với tôi rằng: “Tôi chán cái ông thần Gia-vê này quá đi; ông ta
luôn luôn đòi nợ máu; không bao giờ chán ghét sự giết chóc; luôn
luôn nói về quyền năng của ông ta; luôn luôn khoe những việc ông ta
làm cho người Do Thái; luôn luôn đòi hỏi sự hi sinh tế thần – chim
cu và chiên non – máu, không có gì ngoài máu. Chúng ta hã thờ Thần
Mặt Trời. Thần Gia-vê đầy lòng hận thù, xảo quyệt và quá đòi hỏi.
Chúng ta hãy thờ Thần Mặt Trời. Mặt trời soi sáng những vẻ đẹp của
trái đất, giúp cho hoa tươi nở; nhờ có ánh sáng mặt trời mà em được
thấy anh, thấy các con của chúng ta..”
Nếu tôi theo đúng lệnh của Thiên Chúa, tôi sẽ phải
giết vợ tôi. Bàn tay của tôi là người đầu tiên, và rồi bàn tay của
bao nhiêu người khác, sẽ phải ném đá vợ tôi cho đến chết. Về phần
tôi, tôi không bao giờ giết vợ, ngay cả khi một ông Thiên Chúa thực
sự của vũ trụ này ra lệnh.
Nếu Thần Gia-vê sống như những thần dân mà ông ta cai
trị, và nếu ông ta theo đúng những luật mà ông ta đặt ra, thì ông ta
sẽ là người nuôi nô lệ, là kẻ buôn bán trẻ con, đánh đập phụ nữ.
Ông ta sẽ phát động những cuộc chiến tranh diệt chủng. Ông ta sẽ là
người đa thê, và sẽ phanh thây (butchered) vợ ông ta nếu bà ta theo
một tôn giáo khác với ông ta.
Nếu Gia-vê thực sự là Thiên Chúa toàn trí, ông ta phải
biết những gì sẽ xảy ra về sau. Ông ta phải biết Thánh Kinh của ông
ta là một công sự mà sự đạo đức giả và độc đoán sẽ nằm trong đó, nó
sẽ được dẫn chứng bởi những bạo chúa; được dùng để biện hộ cho những
tên ăn cướp gọi là Vua, những kẻ đạo đức giả gọi là linh mục hay mục
sư v..v..
Ông ta phải biết là ông ta không bao giờ thực hiện lời
hứa của ông ta đối với dân Do Thái.. Ông ta hứa hẹn cho họ cả thế
giới nhưng chỉ cho họ có sa mạc. Ông ta hứa hẹn cho họ sự tự do
nhưng lại cho họ sự nô lệ.. Khi chúng ta đọc xong Cựu Ước, chúng ta
bắt buộc phải nói rằng: “Không có một dân tộc nào khốn khổ như là
dân tộc mà vua của họ là Thần Gia-vê.”
Nếu chúng ta muốn xét đến những gì đã là ảnh hưởng của
Thánh Kinh, chúng ta phải xét đến tình trạng ở Âu Châu khi mà Thánh
Kinh được coi là tuyệt đối đúng và có ảnh hưởng nhiều nhất. Ki Tô
Giáo là tôn giáo đã chiếm ngự Âu Châu trong thời Trung Cổ. Trong
thời đó, nó có quyền lực tuyệt đối.
Sự thật là, trong thời đó, con người vì đã nghiên cứu
kỹ Thánh Kinh nên đã giết vợ, giết con. Họ đọc Thánh Kinh rồi dùng
những kìm cặp nung đỏ để hành hạ xác thịt con người. Họ đặt Thánh
Kinh xuống để có thì giờ đổ chì nóng vào tai đồng loại. Họ ngưng
đọc cuốn Thánh Kinh thiêng liêng đó để có thì giờ xâu xé đồng loại,
trói chặt họ trong xiềng xíxh, và rồi lại trở lại để đọc Thánh Kinh,
để mặc cho nạn nhân của họ chết rục trong ngục tù tối tăm với sự
thất vọng. Họ ngưng đọc Cựu Ước để có thì giờ đóng cọc xuống đất,
đi kiếm những bó củi và thiêu sống người lành và người lương thiện.
Ngay cả những linh mục cũng đã ngưng đọc Thánh Kinh đủ lâu để nói
lên những lời giả dối xuyên tạc về đồng bào của họ. Không có một
tội ác nào mà những người đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, thờ phụng
Thánh Kinh không làm. Không có một điều ác ôn nào mà một số người
đọc Thánh Kinh, tin Thánh Kinh, và bảo vệ Thánh Kinh không làm.
Những người tin Thánh Kinh và bảo vệ Thánh Kinh đã chất đầy thế giới
này với những sự vu khống (calumnies and slanders).
Tôi không nói rằng đọc Thánh Kinh nhất định phải làm
cho người đọc trở thành bất lương, nhưng tôi phải nói rằng, đọc
Thánh Kinh không có ngăn ngừa họ khỏi phạm tội [những giáo hoàng,
linh mục, mục sư cuồng sát, loạn dâm, và phạm đủ thứ tội là những
người đọc và giảng Thánh Kinh nhiều nhất. TCN]. Tôi không nói rằng
tin ở Thánh Kinh sẽ khiến cho con người trở thành trộm cướp, nhưng
tôi phải nói rằng, vì tin ở Thánh Kinh nên con người đã bạo hành,
cầm tù và thiêu sống đồng loại.
Hàng ngàn, hàng ngàn các bà mẹ đã đưa Thánh Kinh cho
con cái mà không hề biết trong đó có những gì. Họ chỉ theo truyền
thống, và như là một quy luật, con cái họ tiếp tục tôn kính cuốn
Thánh Kinh, không phải là họ biết gì về cuốn đó nhưng vì đó là món
quà của người mẹ.
Sự kiện là các bà mẹ giới thiệu cuốn Thánh Kinh với
con cái không chứng minh được rằng đó là cuốn sách được viết ra do
sự mạc khải của Thiên Chúa. Sự kiện này chỉ có thể chứng minh một
điều, đó là các bà mẹ đã tin rằng cuốn sách đó là do sự mạc khải của
Thiên Chúa Ki Tô. Điều này cũng không chứng minh được những phép
lạ trong đó là những sự thực. Dù tất cả các bà mẹ trên thế gian đều
trao cho con cái cuốn Thánh Kinh cũng không chứng minh được là những
chuyện giết mẹ, giết con, nô lệ hóa các bà mẹ, bán đi con cái, như
được viết trong Thánh Kinh, là đúng.
Edmund About đã kể một câu chuyện minh họa niềm tin
Chúa của một người Ý hiện đại. Một thanh niên ham mê đánh bạc và
luôn luôn thua. Trong phòng hắn ta có một bức hình của bà đồng
trinh bồng đứa con nhỏ. Quỳ trước tấm hình, anh ta đưa tay làm dấu
cộng mà người ta thường gọi là làm dấu thánh giá, và cầu sự trợ giúp
của đứa bé. Nhưng anh ta lại vẫn cứ thua. Trở lại trước tấm hình,
anh ta nói với đứa bé là anh ta đã thua hết, chỉ còn lại đồng tiền
cuối cùng, và cầu xin đứa bé hãy dùng quyền năng thần thánh giúp anh
ta thắng trong canh bạc cuối cùng này. Nhưng rồi anh ta lại thua.
Trở lại trước tấm hình, anh ta đưa nắm tay lên mặt đứa bé và hét:
“Thằng bé khốn nạn, tao rất vui là mày đã bị người ta đóng đinh trên
thập giá” (Miserable bambino, I am glad they crucified you).
Sự tin cậy vào một hình ảnh, một thánh tích, một cuốn
sách, tất cả đều từ một nguồn gốc – thờ vật (fetishism) - Tin rằng
một da con rắn, một hình ảnh, một cuốn sách có những thuộc tính siêu
nhiên, về phương diện trí thức đều như nhau.
Đối với tôi, muốn thuyết phục những người có đầu óc là
cuốn Thánh Kinh chỉ là sản phẩm của con người – những con người man
rợ – là bảo họ hãy đọc nó. Hãy đọc nó như mọi cuốn sách khác, nghĩ
tới nó như mọi cuốn sách khác, bỏ đi cái băng kính ngưỡng Thánh Kinh
đang che mắt, dẹp bỏ mọi sự sợ hãi trong lòng, loại ra khỏi đầu óc
sự mê tín, rồi hãy đọc cuốn Thánh Kinh, và các bạn sẽ cảm thấy ngỡ
ngàng là tại sao có một thời mình đã cho rằng một đấng siêu nhiên
với trí tuệ siêu việt, lòng thiện vô tận, lại là tác giả của những
điều ngu xuẩn và bạo tàn như vậy (the author of such ignorance and
of such atrocity)? [Ingersoll đã nhận định rất đúng, xin đọc bài
của Ruth Hermence Green kỳ tới. Lẽ dĩ nhiên, theo đúng những tiêu
chuẩn đọc Thánh Kinh của Ingersoll không phải là dễ vì trước hết
phải tẩy hết các độc tố Ki Tô ra khỏi đầu óc như Ingersoll đã đề
nghị. TCN]
Trong hầu hết các nền thần học, các huyền thoại và tôn
giáo độc thần, các con quỷ còn nhân đạo và nhân từ hơn các Thiên
Chúa nhiều. Không có môt con quỷ nào đã ra lệnh cho thuộc hạ của
mình giết trẻ con và phanh thây người đàn bà co mang. Tất cả những
điều man rợ này đều luôn luôn là lệnh của Thiên Chúa chí thiện.
Bệnh dịch cũng do Thiên Chúa nhân từ tạo ra. Nạn đói đáng sợ, với
những trẻ sơ sinh bờ môi nhợt nhạt bú người mẹ hấp hối không còn
sữa, cũng là tác phẩm của Thiên Chúa đầy lòng thương yêu. Không có
một con quỷ nào đã bị lên án là tác giả của những sự tàn bạo ác ôn
như trên (such fiendish brutality).
Thiên Chúa, theo Thánh Kinh, đã nhận chìm cả thế giới
trừ tám người. Già, trẻ, lớn, bé đều bị sóng nước vô bờ nuốt
chửng. Cái thảm họa đáng sợ này, trong sự tưởng tượng của đám linh
mục ngu đần (ignorant priests), là tác phẩm không phải của quỷ, mà
là của cái mà người ta gọi là Thiên Chúa, và tiếp tục thờ phụng một
cách ngu đần cho đến ngày nay. (ignorantly worship unto this day).
Không có một người thông minh nào, không có một người
nào mà đầu óc chưa bị nhiễm độc bởi mê tín, tê liệt bởi sợ hãi, có
thể đọc Cựu Ước mà không bắt buộc phải đi đến kết luận: Thiên Chúa
của chúng ta là một con thú hoang dại (that our God was a wild
beast).
Cho tới bao giờ, than ôi! Cho tới bao giờ con người
còn thờ phụng một cuốn sách? Cho tới bao giờ con người còn quỳ
phục xuống đất trước những truyền thuyết ngu đần của cái quá khứ man
rợ? (Hoaw long will they grovel in the dust before the ignorant
legends of the barbaric past). Cho tới bao giờ họ còn theo đuổi
những hồn ma trong sự tăm tối sâu thẳm hơn là cái chết.
Cho tới bao giờ, than ôi! cho tới bao giờ con người
còn nghe lời đe dọa của Thiên Chúa, nhắm mắt lại trước thiên nhiên
huy hoàng ngoạn mục? Cho tới bao giờ con người còn là nô lệ, bám
víu vào một giáo thuyết sai lầm và độc ác? (a false and cruel
creed).
Ngày nay, cả thế giới nên biết rằng cuốn Thánh Kinh
chân thật (the real Bible) chưa đã được viết ra mà còn đang viết,
tiếp tục viết, và không bao giờ hoàn thành cho đến khi nhân loại
không còn tồn tại nữa.
Vô Danh sưu Tầm
Các bài viết của Vô Danh
Hai Khuôn Mặt - Hai Tấm Lòng (Vô Danh)
Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh
Sống với tinh thần Einstein (Lượm lặt)