Những Bài Thơ Xuân Xướng Họa Giữa Hai Danh Sĩ Nguyễn Văn Siêu Và Đặng Huy Trứ Hưng Thước https://sachhiem.net/VANHOC/Thoxuan_DangHT.php Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người huyện Thọ Xương - Hà Nội. Một danh nho đầu Lê cuối Nguyễn. Đỗ Phó bảng dưới triều Minh Mạng, làm quan trải các chức kiểm thảo viện Hàn Lâm, chủ sự bộ lễ, thị giảng học sĩ. Trong văn học đã có lời tôn xưng "thần Siêu thánh Quát" hay "văn như Siêu, Quát vô tiền Hán". Ông là người học rộng nổi tiếng thơ văn nhưng không được triều đình trọng dụng. Ông mất năm 1872 để lại nhiều thơ văn và biên khảo.
Đặng Huy Trứ (1825-1874) tự Hoàng Trung, quê quán ở Thừa Thiên Huế. Năm 17 tuổi đã thi đỗ cử nhân, năm 23 tuổi, thi Hội trúng cách đỗ Tiến sĩ. Khi vào thi Đình trong bài văn sách đoạn nói về “đạo Gia Tô dùng lời lẽ mê hoặc rất thâm độc như cỏ dại làm hại lúa non vậy. Tôi dùng 4 chữ gia miêu chi hại (cỏ năn làm hại lúa non) không chú ý gia miêu là đồng âm với Gia Miêu Ngoại trang quê hương nhà Vua (nơi phát tích của nhà Nguyễn ở Tống Sơn –Thanh Hóa” [1] . Vì dùng chữ phạm húy nên ông bị truất cả Tiến sĩ lẫn Cử nhân, cuối năm ấy ông đi thi lại và đỗ Giãi nguyên.
Ông làm quan nổi tiếng thanh liêm cương trực, lại có đầu óc canh tân. Đương thời ông được người trong nước và cả nước ngoài ca ngợi tài năng và phẩm hạnh. Tô Vĩ Đường một sĩ phu Trung Quốc khi đề Tựa "Đặng Hoàng Trung thi tập" đã viết: "Trữ trung mẫn tắc đẳng ư Đỗ Công Bộ (Giải tỏ lòng trung mẫn hẳn ngang với Đỗ Phủ) Sau này, Phan Bội Châu trong "Việt Nam Quốc sử khảo" đã coi ông là một trong những người "trồng mầm khai hóa đầu tiên" ở Việt Nam. Mặc dù cách biệt nhau về tuổi tác nhưng giữa hai ông có mối giao tình sâu đậm, quý trọng nhau về tài năng cũng như phẩm hạnh. Đặng Huy Trứ đã viết trong bài thơ: Nguyên Vận: Tặng Phương Đình Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh "Lý học ngũ phu tử [2] (Về lý học, tiên sinh ngang với năm bậc thầy (đời Tống), về văn chương, có thể sánh với tám nhà văn lớn (đời Đường)...Tóc bạc nhưng lòng vốn trẻ, ngày đang xuân nhưng bóng đã ngã rồi. Trong Kinh như có ai hỏi (vì sao tôi kết bạn) xin đọc bài phú Kiêm hà (tên bài thơ trong Kinh Thi, trách nhà vua không biết dùng người hiền tài, khiến họ phải đi ở ẩn). Dịch thơ:
Lý học năm phu tử 1866 KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch Mến tài đức ông kết bạn với Nguyễn Văn Siêu, mặc cho những lời dị nghị dèm pha của thiên hạ, ông cũng thẳng thắn trách nhà vua vì nghi kỵ nhỏ nhen mà bỏ rơi người hiền tài. Chỉ với bài thơ này chúng ta cũng thấy được chí khí của tác giả và tài học của Nguyễn Văn Siêu. Cùng mối thâm tình, trong một bài thơ tặng Đặng Huy Trứ, Nguyễn Văn Siêu đã xem Đặng Huy Trứ là người bạn băng tuyết, có tư cách như hoa thủy tiên:
"Cửu vi băng tuyết bạn, (Lâu rồi bạn băng tuyết, Là bạn tri kỷ, trong những dịp xuân về, hai người có thơ xướng họa với nhau. Trong những bài xướng họa này, ngoài tình bạn, còn gói gém tấm lòng ưu quốc ái dân:
“Danh lợi phi ngô ý, (Danh lợi không phải là điều chúng ta mong muốn trong khi còn mang nhiều nỗi lo của đất nước trong lòng). Dưới đây là nhũng bài thơ xuân xướng họa giữa hai ông:
Nguyên Đán Tức Cảnh Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh Nguyên Vận: Tự tác Sài Tang lão [4] Dịch thơ: Làm ông già ẩn dật TRẦN LÊ VĂN dịch thơ. Họa Nguyên Vận "Nguyên Dán Tức Cảnh" Của Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh Bình dần tài tống lạp (1867) Dịch thơ: Bính dần vừa tiển chạp, TRẦN LÊ VĂN dịch. Đinh Độc Tọa Hứng Thành Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh Nguyên Vận: Nguyên Vận: Xuân miên trú bất thành [7] Cảm Hứng Ngồi Một Mình Trong Vườn Của Nguyễn Tốn Ban Dịch thơ: Ngày xuân mộng chẳng thành TRẦN LÊ VĂN dịch . Họa Nguyên Vận Bài: “Viên Đình Độc Tọa Hứng Thành” Của Nguyễn Tốn Ban Xuân ngâm hứng ngẩu thành 1867 Dịch thơ: Họa Nguyên Vận Bài: “Cảm Hứng Ngồi Một Mình Trong Vườn” Thơ xuân hứng ngẩu thành TRẦN LÊ VĂN dịch.
Hối Lập Xuân Ký Đắc (Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh Nguyên Vận) Trừ tịch dư hàn chuyển Ngày Lập Xuân Cuối Tháng Chạp (Nguyên Vận Của Nguyễn Tổn Ban) Dịch thơ: Sớm mai ngày nguyên đán KHƯƠNG HỮU DỤNG dịch. Họa Nguyên Vận Hối Lập Xuân Ký Đắc Của Nguyễn Tốn Ban Tiên Sinh. Lạp vĩ xuân đầu nhật, (1866). Dịch thơ:
Đầu xuân ngày cuối chạp, BỒ GIANG dịch. _________________ Chú thích: Thơ trong bài này trích từ cuốn “Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm”. Nhà XB Tp HCM- 1992 [1] Đặng Dịch Trai ngôn hành lục –Đặng Huy Trứ, nhà xuất bản Hôi Sử học -1993. [2] Ngũ phu tử: Năm vị danh nho đời Tống đó là, Chu Đôn Di, Chu Hy, Trình Hiệu, Trình Di, Trương Tái. [3] Sài Tang: Núi Sài Tang, nơi Đào Tiềm về ở ẩn. [4] Bát đại gia: Tám nhà văn lớn đời Đường và Tống đó là, Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu, Vương An Thạch, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng. [5] Đài hoàn: do chữ "Hòan khải đài bối" chỉ người già da nhăn nheo như cá khô [6] Đồ Tô tửu: Thứ rượu cất bằng cỏ Đồ tô, uống trong dịp đầu năm. [7] Xuân miên: tức xuân mộng. Có câu: "Xuân nhật thị miên, nhị ư nhập mộng giã" ngày xuân thích ngủ để nằm mộng. Về chữ "trú" ban ngày, Kinh Thi có câu: "tỵ trú tác dạ" (lấy ngày làm đêm), ý nói không để ý đến chính sự. Nguyễn Văn Siêu lúc này đã về hưu.
Trang Văn Học |