Alexandre De Rhodes và Bảy Con Dê Tế Thần

Duyên Sinh

http://sachhiem.net/TONGIAO/tgD/Duyensinh23.php

02-Apr-2020

... Ba trăm năm sau, các nhà truyền giáo Dòng Tên bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản đến cảng Hội An, một thương điếm của Bồ Đào Nha, thiết lập Hội Truyền Giáo Giao Châu (Cochinchina Mission). Mặc dù các nhà truyền giáo khác có tràn đầy nhiệt huyết và không hề biết mệt, họ vẫn bị lu mờ đối với “Alexandre de Rhodes, một thiên tài độc nhất vô nhị mở cửa cho người Pháp đánh chiếm Việt Nam.”..

[Stanley Karnow, Vietnam A History]

Avro Manhattan, một nhà truyền giáo Ca-thô-líc ly khai Vatican, đã viết lời tựa trong một quyển sách của ông:

Mỹ bị mất hết thể diện trên thế giới. Tại sao vấn đề lại được nêu lên thêm một lần nữa? Bởi vì “Chiến Tranh Việt Nam thật ra là Chiến Tranh Tôn Giáo.” Một cuộc chiến kích động do Vatican, một tên điếm trong Sách Khải Huyền chương 17 và 18.

(Avro Manhattan, Vietnam: Why did we go?) Trang 3

Avro Manhattan

Tôi không ngạc nhiên cho dù chỉ có một mình Avro Manhattan thốt lên câu nói này, và tôi cũng chưa bao giờ nghe một người nào khác nói như vậy. Vì tôi rất hiểu, khi một điều gì là chân lý, thì cho dù cả thế giới không nhìn nhận nó là chân lý, thì nó cũng vẫn là chân lý. Đây là trường hợp của nhà bác học người Ý tên Galileo Galilei.

Vào khoảng thập niên 1630, viễn vọng kính lần đầu tiên được phát minh do một người Hà Lan tên là Hans Lippershey. Dựa theo viễn vọng kính của Lippershey, ông Galileo Galilei đã chế tạo được một viễn vọng kính có độ phóng đại là 3x, rồi không bao lâu ông lại tăng độ phóng đại lên tới 30x.

Một hôm đẹp trời sóng yên biển lặng, ông Galileo Galilei đem viễn vọng kính ra bờ biển để ngắm nhìn những chiếc thuyền buồm ra khơi. Nhìn qua viễn vọng kính, ông ngạc nhiên thấy những chiếc thuyền buồm ra khơi dường như bị lún từ từ xuống mặt biển, sau cùng chỉ còn lại chót cột buồm rồi mất hẳn dưới mặt nước. Suy nghiệm về hiện tượng này, ông Galieo Galilei đi đến kết luận bề mặt của quả địa cầu là một hình bầu dục, rồi sau đó ông đi tới một tuyên bố động trời: Trái đất là một hình cầu giống như một quả bóng.

Tuyên bố của ông Galileo Galilei đã làm cho ông bị toà thánh Vatican truy tố ra toà án dị giáo; và bị quản thúc vì tội đã dám phát biểu một câu vọng ngôn, động trời động đất vào thời buổi đó. Ông Galileo Galilei là người đầu tiên duy nhất, dám phát biểu một câu hoàn toàn đi ngược lại kinh thánh Ca-thô-líc La Mã. Kinh thánh Ca-thô-líc La Mã nói bề mặt của trái đất là một mặt phẳng hình vuông (Ezekiel 7:1-2)!   

Hơn nữa, chân lý không tùy thuộc vào số đông: Khi trái đất là một hình cầu, thì cho dù cả thế giới nói trái đất là hình vuông, thì trái đất cũng vẫn là hình cầu! Và trái đất là một hình cầu vẫn là chân lý, cho dù Vatican không chấp nhận đó là chân lý. 

Khi nói về chiến tranh Việt Nam, nếu cuộc chiến đó là một cuộc chiến tranh tôn giáo, thì dù cho cả thế giới nói đó không phải là chiến tranh tôn giáo, thì nó cũng vẫn là chiến tranh tôn giáo; cả thế giới vẫn là những người nói sai; và Avro Manhattan vẫn là một người nói đúng!

Trên thế giới đã xảy ra rất nhiều trận chiến tranh tôn giáo giữa những người đạo Chúa, gồm người Ca-thô-líc, Tin Lình, Hồi, Sunni, Shiite… Chiến tranh đế quốc La Mã (Holy Roman Empire 1618-1648) giữa Tin Lành và Ca-thô-líc, chết từ 3 tới 11.5 triệu người. Lần thứ nhì (French Wars of Religion), tại Pháp (1562-1598) giữa Tin Lành và Ca-thô-líc, chết từ 2 tới 4 triệu người. Lần thứ ba (Nigerian Civil War), tại Nigeria (1967-1970) giữa Hồi giáo và Ca-thô-líc, chết từ 1 cho tới 3 triệu người. Lần thứ tư (Second Sudanese Civil War), tại Sudden (1983-2005) giữa Hồi giáo và Ca-thô-líc, chết từ 1 tới 2 triệu người. Lần thứ năm tại Holy Land, châu Âu, trong biến cố Crusaders (1095-1291) giữa Hồi giáo và Ki-tô giáo, chết từ 1 tới 3 triệu người. Lần thứ sáu (Lebanon Civil War), biến cố Lebanon (1975-1990) giữa đạo Sunni, Shiite, và Ca-thô-líc, chết từ 0.13 tới 0.25 triệu người…  

http://en.wikipedia.org/wiki/Religious_war

http://www.lepg.org/wars.htm

Chiến tranh Việt Nam chỉ là một phần của một cuộc chiến tranh tôn giáo trên thế giới, bắt đầu khoảng 100 năm sau khi nhà truyền giáo Christopher Columbus tới châu Mỹ. Sau khi tới châu Mỹ, một phong trào ồ ạt ra đi từ châu Âu tìm thuộc địa. Dẫn đầu phong trào là các nhà truyền giáo Ca-thô-líc. Ngoài mục đích truyền bá đức tin Thiên Chúa, họ còn là những người tới vẽ bản đồ, thâu thập tin tức tình báo, đặt kế hoạch và xây nền tảng xâm lăng quân sự.

“Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) đến Verseilles đầu năm 1787, cung cách ngoại lai của ngài làm mọi người chú ý… Lúc đó Pháp trong thời kỳ sụp đổ hệ thống tiền tệ. Trước tiên, vua Louis XVI bác bỏ ý kiến mạo hiểm và hao tốn, nhưng Bá Đa Lộc cảnh cáo là Anh Quốc sẽ vồ lấy Việt Nam nếu Pháp tiếp tục chần chờ. Ngay lúc đó, Bá Đa Lộc đưa ra kế hoạch đánh chiếm Việt Nam, ngay cả việc phát hoạ chính xác kế hoạch tổ chức quân đội cần thiết để Pháp có thể đánh chiếm một cách dễ dàng đến vua Louis XVI.”

Stanley Karnow, Vietnam a History, trang 76

Nhu cầu đánh chiếm thuộc địa của Vatican không phải là một phong trào khai hóa, mà là một phong trào chiếm đất đai, xâm chiếm tài nguyên thiên nhiên, bắt và buôn bán nô lệ, đặc biệt là nô lệ châu Phi. Giáo Hoàng La Mã còn nói người thổ dân châu Phi và châu Mỹ là con vật không có linh hồn, không phải là con người. Giáo Hoàng La Mã còn cho phép săn bắt và buôn bán họ làm nô lệ, hoặc tự do giết bỏ …

ALEXANDRE DE RHODES XÂM NHẬP TÔN GIÁO VÀO NHẬT BẢN

Sau ngày châu Mỹ được khám phá, Vatican ký với hai đế quốc thuộc địa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha hiệp ước “Tordeseillas” đánh chiếm thuộc địa khắp thế giới. Theo hiệp ước (đường dẫn dưới), Giáo Hoàng  xác dịnh vùng của Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đánh chiếm.

https://en.wikipedia.org/wiki/Treaty_of_Tordesillas

Tóm tắt nội dung hiệp ước Tordesillas rất đơn giản: Ở bất cứ nơi nào Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đánh chiếm và cắm được lá cờ của họ, thì nơi đó Vatican được cắm cây thánh giá của Vatican.

Sau khi Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bại trận “Chiến Tranh Liên Đoàn Augsburg (1688–1697) tại Âu châu,” họ trở thành lép vế đối với các quốc gia mới tấn lên sau như Anh Pháp, Đức, Hà Lan… Dù vậy Vatican vẫn tiếp tục dành quyền cắm cây thánh giá của Vatican giống như đã từng dành quyền cắm cây thánh giá trước đây đối với hai đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.    

Có ba quốc gia Phật giáo Vùng Đông Nam Á được Vatican chọn làm thí điểm cắm cây thánh giá. Đó là Nhật Bản, Thái Lan, và Việt Nam.

Trong thời gian đầu, Alexandre de Rhodes chưa có mặt tại Nhật, tuy nhiên đã có các nhà truyền giáo khác tới từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tất cả các nhà truyền giáo đầu tiên này được Nhật tiếp đón và cho xây cất nhà cửa và định cư họ trên một số hòn đảo nhỏ của Nhật.  

Lịch sử Nhật Bản cho thấy một ví dụ gây hấn nổi bật của Vatican. Chính sách cơ bản cho thấy thương nhân Ca-thô-líc và linh mục Ca-thô-líc làm việc cùng nhau, để cùng mở rộng lợi ích cho cả hai. Để đạt mục tiêu, việc mở rộng Giáo Hội Ca-thô-líc lúc nào cũng rất cần thiết. Lần đầu tiếp xúc với Tây Phương, Nhật rất háo hức trao đổi ý tưởng với họ, như thương mại và hàng hóa. Từ cuộc đổ bộ đầu tiên của người Bồ Đào Nha vào Nhật, thương nhân nước ngoài được khuyến khích cập bến. Giới chức địa phương thảo luận với nhau mở cửa Nhật để thương nhân Tây Phương tới lui buôn bán. Các nhà truyền giáo Ca-thô-líc cũng được tiếp đón một cách nhiệt thành.

Các nhà truyền giáo còn được sự bảo vệ của một lãnh chúa mạnh mẽ là Nobunaga, một nhà độc tài quân phiệt, từ những năm 1573-1582. Nhà độc tài này cùng lúc để tâm kiểm soát sức mạnh chính trị của một phong trào Phật Tử cùng lúc với sự quảng đại đối với người Ca-thô-líc mới tới. Ông khuyến khích người Ca-thô-líc bằng cách cho họ quyền truyền bá tôn giáo trên lãnh thổ. Ông tặng họ đất ở Kyoto, và thậm chí còn bảo trợ hàng năm. Nhờ vậy, chưa bao giời người Ca-thô-líc có một cơ hội lan tràn khắp nước như vậy. Hàng ngàn người Nhật đã cải đạo sang Ca-thô-líc, nhiều trung tâm Ca-thô-líc cũng được thiết lập.

Có phải các nhà truyền giáo đã được một đặc ân giảng dạy giáo lý tôn giáo của mình một cách bình đẳng? Có phải đây là một phần thưởng tinh thần to lớn của Nhật đối với người Ca-thô-líc? Một sự thật cho thấy khi người Ca-thô-líc được đặc ân để trở thành một cộng đồng to lớn, Vatican bắt đầu thiết lập một hệ thống lấn lướt và thống trị bằng vũ lực. Như người ta đã từng thấy, Những người Nhật cải đạo không còn là những người dân Nhật bình thường, mà đã trở thành những người dân của Giáo Hoàng, dưới sự điều động của Giáo Hoàng. Một khi những người Nhật cải đạo để làm dân của giáo hoàng, sự trung thành của họ đối với Nhật bị biến mất, họ tự động trở thành những người rất nguy hiểm cho sự tồn tại của đất nước Nhật.

Điều này rất rõ, và sẽ mang lại nguy hiểm nghiêm trọng cho an ninh bên trong cũng như bên ngoài đất nước Nhật. Đứng về phía các lãnh vực bên trong, Ca-thô-líc sẽ không khoan dung bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài người Ca-thô-líc, bởi vì người Ca-thô-líc cho rằng: “Chỉ có đạo Ca-thô-líc là một chánh đạo duy nhất, tất cả các đạo khác đều là tà đạo, là đạo thờ ma thờ quỷ.” Điều này, tất nhiên sẽ đưa tới nội chiến. Đứng về lĩnh vực bên ngoài, bằng cách làm theo chỉ thị của các nhà truyền giáo, dĩ nhiên ưu tiên sẽ dành cho người nước ngoài, không có lợi ích gì cho người bản xứ, trong khi sự xâm nhập chính trị và quân sự là một tai hoạ, nhất là trong thời kỳ tìm kiếm thuộc địa của Vatican và của các đế quốc châu Âu dập dìu ở khắp nơi trên thế giới.

Sau nhiều năm mở rộng cánh cửa, Nhật bắt đầu nhận ra giáo hội Ca-thô-líc không chỉ là một tôn giáo, mà còn là một quyền lực chính trị kết nối với sự mở rộng của các quốc gia thuộc địa như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Anh… Nguyên lý bất chính của người Ca-thô-líc cho rằng chỉ có đạo Ca-thô-líc là một chánh đạo duy nhất trong khi tất cả các đạo khác đều là tà đạo, đã bắt đầu cho ra bông ra trái của một hệ tư tưởng mới, tự cao tự đại. Ở bất cứ nơi đâu có bóng dáng người Ca-thô-líc, ở nơi đó có sự bất khoan dung của người Ca-thô-líc. Ở nơi đó chỉ có đạo Ca-thô-líc là một chánh đạo duy nhất…

Bất cứ vùng nào người Ca-thô-líc trở thành đa số, tín đồ Phật Giáo luôn bị người Ca-thô-líc chèn ép. Không những các chùa Phật Giáo bị tẩy chay, mà các chùa còn bị đóng cửa, bị tước đoạt tài sản, hoặc bị chuyển đổi thành nhà thờ Ca-thô-líc. Có rất nhiều trường hợp người Phật Giáo bị ép buộc phải bỏ đạo của mình để theo đạo Ca-thô-líc. Nếu họ từ chối thì kết quả sẽ là mất tài sản, và thậm chí còn mất cả tính mạng... Đối diện với các hành vi này, thái độ khoan dung của nhà cầm quyền Nhật Bản cũng bắt đầu thay đổi.

Ngoài việc xung đột nội bộ, các tham vọng chính trị của các đế quốc Ca-thô-líc bắt đầu trình bày thái độ không khoan dung của họ đối với những người cai trị Nhật Bản, là không thể bỏ qua. Vatican, vào một cuộc điều trần về sự thành công của Ca-thô-líc ở một miền đất xa xôi, đã phát động kế hoạch của họ cho một sự thống trị chính trị. Như lề thói quen thuộc mà họ đã từng làm, họ sẽ sử dụng các nhà truyền giáo, cùng với sức mạnh quân sự đồng minh giữa các quốc gia Ca-thô-líc. Đây là những người có đầy nhiệt tâm mang thánh giá; đầy nhiệt tâm cho chủ quyền của Giáo Hoàng; đầy nhiệt tâm cho lợi ích thương mại; và đầy nhiệt tâm về sự chinh phục quân sự trong cùng một tàu chiến.

Vatican luôn luôn theo cùng một công thức chính trị “xâm nhập” tôn giáo kể từ khi châu Mỹ được phát hiện. Nhiều Giáo Hoàng, bao gồm Giáo Hoàng Leo X, đã ban bố, đã khuyến khích, mà thực ra, là đã hợp thức hoá tất cả các cuộc chinh phục các lãnh thổ bị chiếm đóng bởi người Ca-thô-líc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở Viễn Đông. Dẫn đầu trong số đó có Alexander VI, với các khoản trợ cấp của Tây Ban Nha chiếm quyền sở hữu tất cả “đất đai và đảo tìm thấy tại Ấn Độ, hoặc tại bất cứ nơi nào.” Đất nước Nhật Bản giờ đây được Giáo Hoàng liệt kê là một trong những món quà thượng hạng mà Thượng Đế đã ban cho hai đế quốc thuộc địa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Vì vậy cho nên, khi cộng đồng Ca-thô-líc Nhật Bản trở thành mạnh, đủ để hỗ trợ quyền lực thế tục Ca-thô-líc, Vatican bước thêm một bước đầu tiên quan trọng trong chiến thuật chính trị tầm xa, đó là sử dụng các cộng đồng Ca-thô-líc ở Nhật như là một công cụ chính trị để tiến hành chinh phục các vùng đất mới. Để thực hiện chính sách này, năm 1579, Vatican gửi một nhà truyền giáo Dòng Tên là Valignani, đến để tổ chức một loạt nhà thờ trên những hòn đảo nhỏ của Nhật. Dĩ nhiên trong thời gian Valignani thiết kế các nhà thờ, Valignani bị chính quyền Nhật âm thầm theo dõi để bảo đảm việc làm thuần tuý tôn giáo; và Valignani cũng được hỗ trợ của nhiều hoàng tử Nhật như Omura, Arima, Bungo, và nhiều người khác. Họ đã lập thành một “tỉnh Ca-thô-líc,” với sự trợ giúp của các sinh viên, bệnh viện, và chủng viện, nơi mà thanh thiếu niên Nhật được huấn luyện về thần học, chính trị…

Sau khi xâm nhập đủ sâu vào các lãnh vực tôn giáo, giáo dục, và các cấu trúc xã hội, ở các tỉnh của các hoàng tử, Valignani bước thêm một bước thứ hai, là thuyết phục lập một phái đoàn ngoại giao chính thức tới gặp Giáo Hoàng. Khi phái đoàn trở lại Nhật năm 1590, tình hình đã thay đổi đáng kể. Hideyoshi, một lãnh chúa mới của Nhật, ý thức rất rõ và rất sâu sắc về những tác động chính trị của Ca-thô-líc và sự liên kết của họ với các thế lực chính trị tôn giáo xa xôi Tây Phương, như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Tòa Thánh La Mã… Ông quyết định thống nhất với Phật Giáo, không phục vụ chính trị cho bất cứ một hoàng tử nào bên ngoài lãnh thổ của ông.

Năm 1587, Hideyoshi viếng thăm đảo Kyushu và ngạc nhiên tìm thấy cộng đồng Ca-thô-líc trên đảo này đã thực hiện các cuộc đập phá khủng khiếp. Ở khắp mọi nơi, đầy dẫy tàn tích của các ngôi chùa và tượng Phật bị sứt mẻ hư hỏng. Ông thấy rất rõ người Ca-thô-líc, trên thực tế, đã buộc phải “Ca-thô-líc hóa” toàn bộ hòn đảo Kyushu.

Trong cơn phẫn nộ, Hideyoshi lên án các cuộc tấn công của Ca-thô-líc vào Phật Giáo; lên án sự bất khoan dung của Ca-thô-líc đối với các tôn giáo khác, cùng lúc lên án sự liên hiệp chính trị của Ca-thô-líc với các thế lực ngoại bang… rồi ông kỳ hạn cho cộng đồng Ca-thô-líc trong vòng hai mươi ngày phải rời khỏi Nhật. Nhà thờ và tu viện của họ tại Kyoto và Osaka được lệnh kéo sập khi Phật Tử bị tấn công, và quân đội cũng được gửi đến Kyushu.

Các biện pháp chỉ thành công có một phần vì người Ca-thô-líc đã xâm nhập quá sâu vào xã hội Nhật. Năm 1614, tất cả các linh mục Ca-thô-líc nước ngoài được lệnh phải rời khỏi đất nước Nhật thêm một lần nữa. Lệnh trục xuất được ban ra bởi một vấn đề nghiêm trọng: Các nhà truyền giáo Ca-thô-líc, bên cạnh chăm sóc sự bất khoan dung tôn giáo giữa người Nhật, đã bắt đầu mở một cuộc chiến cay đắng với nhau. Cãi cọ giữa người Jesuits và Franciscans đã tự chia đôi cộng đồng Ca-thô-líc của họ thành hai khối. Những mối hận thù từ từ trở thành rất nguy hiểm cho đến nỗi các giới chức chính quyền Nhật lo sợ họ sẽ dẫn đến cuộc nội chiến giữa những những người Jesuits và người Franciscans. Nhật cũng nhận thấy nội chiến thế nào cũng sẽ lôi kéo theo sự can thiệp quân sự của nước ngoài. Sự tham gia quân sự nước ngoài, mà ông vừa mới nhận ra, là một mối đe dọa lớn nhất cho nền độc lập, và là một mối nguy hiểm cho đất nước của ông.

Sợ hãi này không phải là một sự phóng đại! Sự phát triển Ca-thô-líc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã có thể chứng minh rằng nguy cơ là một thực tế. Sự xâm nhập của Franciscans đã biến Philippines thành thuộc địa năm 1593, gây cho Hideyoshi không thể ngưng báo động. Các tu sĩ dòng Franciscans đã bỏ ngoài tai mọi thứ, xây dựng nhà thờ và cải đạo tại Kyoto và Osaka, bất chấp các cơ quan nhà nước Nhật. Vấn đề rất phức tạp, họ bắt đầu cãi vã và dùng bạo lực với dòng Jesuits. Những điều Hideyoshi nỗ lực tìm hiểu tuy nhỏ nhưng rất đáng chú ý.

Năm 1596, một thuyền buồm San Felipe của Tây Ban Nha bị đắm ngoài khơi tỉnh Tosa. Hideyoshi ra lệnh tịch thu chiếc thuyền bị đắm cùng với hàng hóa trên thuyền. Vì tức giận, viên đại tá hải quân thuyền trưởng Tây Ban Nha, vì muốn gây ấn tượng hoặc đe dọa các quan chức Nhật, đã đưa ra một trong nhiều cách Tây Ban Nha đánh chiếm thuộc địa trên khắp thế giới. Bằng chứng mà viên thuyền trưởng đưa ra, là một bản đồ bao gồm tất cả các thuộc địa do Tây Ban Nha đã đánh chiếm. Không phải một nơi, mà khắp nơi trên thế giới!..

Các quan chức Nhật ngạc nhiên hỏi làm thế nào mà Tây Ban Nha đã có thể chiếm được rất nhiều đất đai ở nhiều chỗ khác nhau như vậy? Viên đại tá hải quân Tây Ban Nha tự hào đáp: Nhật Bản sẽ không bao giờ có thể bắt chước được Tây Ban Nha. Chỉ đơn giản thôi! Bởi vì Nhật không có các nhà truyền giáo. Rồi ông khẳng định:

Tất cả các lãnh thổ Tây Ban Nha đã chiếm đoạt được bằng cách gởi các nhà truyền giáo Ca-thô-líc tới để cải đạo người địa phương; rồi sau đó Tây Ban Nha sẽ gởi quân tới để chiếm đất, với sự nội ứng của các con chien cải đạo!..

Khi việc này được báo cáo lên Hideyoshi, sự tức giận của Hideyoshi không còn có thể kềm chế… Những nghi ngờ về việc “sử dụng các nhà truyền giáo như là một nấc thang đầu tiên để đánh chiếm thuộc địa” được xác nhận một cách khôn ngoan và trắng trợn!.. Hideyoshi chỉ nhận ra mô hình khôn ngoan và trắng trợn này, khi các con chien Ca-thô-líc đã hoàn toàn lọt vào bên trong chính quyền của ông!...

Năm 1597 cả hai dòng Phanxicô lẫn Dominican bị cấm truyền giáo tại Nhật. Hai mươi sáu (26) linh mục được tập họp tại Nagasaki và bị “chặt đầu” để làm gương cho các nhà truyền giáo Ca-thô-líc kế tiếp. Chặt đầu không dừng lại ở điểm này, mà vẫn tiếp tục…

Năm 1598, Hideyoshi qua đời. Ca-thô-líc được tiếp nối bởi các Đoàn Tông Đồ (Vigors) cho đến khi Ieyasu lên nắm quyền năm 1616. Ieyasu còn cấm đạo gay gắt hơn. Dưới triều Ieyasu, các nhà truyền giáo Ca-thô-líc được lệnh phải rời khỏi Nhật. Lệnh “chém” được đưa ra cho bất cứ người Ca-thô-líc nào không chịu từ bỏ đạo Ca-thô-líc. Bạo động xảy ra năm 1624 dưới thời Jemitsu (1623-1651), khi tất cả các thương gia và các nhà truyền giáo Tây Ban Nha liên tục được lệnh lập tức rời khỏi Nhật. Để chắc chắn “lệnh được tôn trọng và tuân hành,” tất cả các tàu có sức chở hơn 2500 giạ lúa (bushel) sẽ bị phá hủy.

Để dập tắt đạo Ca-thô-líc. Jemitsu ra sắc lệnh năm 1633, 1634 và 1637, hoàn toàn cấm tất cả các đạo nước ngoài truyền bá trên các quần đảo của Nhật. Tại thời điểm này, Ca-thô-líc Nhật cũng bắt đầu tổ chức phản kháng một cách bạo động. Phản kháng nổ tung vào mùa Đông 1637 tại Shimbara và trên các đảo nhỏ lân cận đảo Amakusa. Lãnh đạo phản kháng do các linh mục Tây Phương, họ trang bị vũ khí và tổ chức thành quân đội để chiến đấu chống lại chính quyền Nhật.

Vì sợ người Ca-thô-líc có thể bị sử dụng như công cụ của các đế quốc Tây Phương để xâm chiếm Nhật làm thuộc địa, Nhật đã đánh thuế người Ca-thô-líc tới mức tối đa mà họ không thể đóng nổi. Những người Dòng Tên, trong khi đó đã chuẩn bị kháng chiến, đã thiết lập được một đội quân Ca-thô-líc 30,000 quân, mang các hiệu kỳ Giêsu, Maria, và St. Iago. Họ mở những trận đánh đẫm máu dọc theo mũi Shimbara gần Vịnh Nagasaki. Sau khi giết chết viên thống đốc Nhật là Shimbara, đội quân Ca-thô-líc còn đóng kín trong các pháo đài, và đã thành công chống lại súng ống và tàu chiến của Nhật Hoàng.

May thay Nhật Hoàng nhận được thông báo về người Ca-thô-líc và người Tin Lành tuy cùng tôn thờ một Thiên Chúa, nhưng họ thù nghịch và giết nhau một cách man rợ. Người Ca-thô-líc từng mổ bụng đàng bà chữa Tin Lành, móc con non của người đàng bà chữa Tin Lành đập đầu vào vách đá, nói con non chưa sanh của Tin Lành là ma quỷ!...

Do đó Nhật Hoàng yêu cầu người Tin Lành Hà Lan cho thuê tàu lớn để đủ sức chở các khẩu pháo hạng nặng. Người Tin Lành Hà Lan đồng ý ngay!.. Và quân đội Nhật đã có thể bắn phá thành lũy của người Ca-thô-líc cho đến khi tất cả người Ca-thô-líc trong thành đều chết. Kết quả ngay lập tức là một chỉ dụ cấm đạo năm 1639:

Trong tương lai, không một ai, khi ánh sáng mặt trời còn chiếu sáng trên thế giới, có thể lái tàu buồm tới Nhật. Ngay cả các sứ thần ưu tú, và tuyên bố này không bao giờ được thu hồi, kẻ vi phạm phải chết!...

Ái Nhĩ Lan: Người Ca-thô-líc mổ bụng đàn bà chữa Tin Lành giết con chưa sanh của họ

http://www.northernrenaissance.org/re-membering-women-protestant-womens-victim-testimonies-during-the-irish-rising-of-1641/

Chỉ dụ bao gồm cho tất cả người Tây Phương, ngoại trừ một ngoại lệ là người Hà Lan được đặt ân tới Nhật vì họ đã giúp loại trừ cuộc nổi dậy của người Ca-thô-líc. Tuy nhiên, vì người Hà Lan cũng là người đạo “Chúa” nên họ bị theo dõi tối đa. Người Hà Lan phải di chuyển trụ sở của họ đến đảo Deshima tại vịnh Nagasaki. Họ sống ở đây chật vật như tù nhân. Họ chỉ được phép đặt chân ra khỏi hòn đảo nhỏ của họ để đi đến những nơi khác trên đất Nhật mỗi năm một lần. Ngoài ra, với những hạn chế bắt buộc liên quan đến các nghi lễ đạo Tin Lành, người Hà Lan không được để các tín hữu Tin Lành cầu nguyện dưới một chủ đề duy nhất. Dưới con mắt của người Nhật: “Ca-thô-líc La Mã không gì khác hơn là một công cụ chính trị và quân sự Tây Phương để đánh chiếm thuộc địa.” Khi Hà Lan ký một hiệp ước với Nhật về thương mại gồm có 7 điều, thì có đến 4 điều nói về đạo Ca-thô-líc:

Thương mại giữa Nhật và Hà Lan là vĩnh viễn.

Không có tàu Hà Lan nào được chở một người Ca-thô-líc của bất cứ quốc gia nào, hoặc chuyển một lá thư do người Ca-thô-líc viết.

Người Hà Lan phải thông báo cho thống đốc Nhật bất kỳ thông tin nào về việc truyền bá đạo Ca-thô-líc của các quốc gia ngoại quốc.

Nếu người Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha chiếm cứ đất nước của ai vì lý do tôn giáo, Hà Lan phải thông báo cho thống đốc tại Nagasaki.

Thêm vào, tất cả sách vở của tàu Hà Lan, đặc biệt là những sách có chủ đề tôn giáo, phải được niêm phong, phải giao hết cho giới chức Nhật trong khi tàu bỏ neo ở bến. Người Hà Lan, đầu tiên được cập bến ba chuyến mỗi năm, sau đó thì bị giới hạn còn một chuyến mỗi năm.

Nhật Bản, bắt đầu từ đây, bất cứ điều gì liên hệ tới Ca-thô-líc, đều bị nghi ngờ là: “Lừa dối; Không khoan dung; Và đánh chiếm thuộc địa.” Nghi ngờ về sự ngoan cố và xảo quyệt của người Ca-thô-líc đã in sâu vào tâm trí người Nhật, thậm chí họ còn làm tăng cường sắc lệnh đầu tiên bằng những sắc lệnh mới: Người Ca-thô-líc sẽ bị kết án là tội phạm khi bất kỳ tàu nào của họ đến tìm nơi nương náu ở một hải cảng của Nhật, hoặc bất kỳ một thủy thủ Ca-thô-líc nào bị đắm tàu ngoài khơi bờ biển Nhật. Người Nhật rất giận, ngay cả giận bất cứ điều gì nhắc nhở họ về đạo Ca-thô-líc. Người Hà Lan bị cấm sử dụng lịch “Dương Lịch” trong các tài liệu kinh doanh của họ, bởi vì quyển lịch này nói tới ngày “Chúa nhật một cách liên tục. Để bảo đảm an toàn, kể từ đây Nhật khép kín cánh cửa của họ đối với thế giới bên ngoài.

Năm 1618, Alexandre de Rhodes được thụ phong giám mục Dòng Tên, và được thượng tướng Pháp Mutio Vitelleschi và Vatican cấp giấy phép sang truyền giáo tại Nhật. Tuy nhiên sau khi rời khỏi Pháp tới được Macau: “Giấc mộng Đất nước Nhật Bản là một món quà của Thượng Đế ban cho Vatican và Pháp bổng chốc trở thành cơn ác mộng!” Bởi vì tin tức dồn dập về việc 26 nhà truyền giáo đầu tiên bị chặt đầu; và tiếp theo là nhiều cái đầu khác cứ tiếp tục rơi rụng! Sau nhiều chuyến tới lui Macau – Đông Nam Á, Rhodes dừng chân tại Thái Lan.

Mãi cho tới năm 1945, khi Mỹ sắp thả bom nguyên tử xuống Nhật, và Nhật chạy đôn chạy đáo xin Mỹ cho đầu hàng sớm để tránh 2 quả bom, nhưng “không được!..” vì Vatican luôn ngăn chận Mỹ không cho Nhật đầu hàng sớm. Nhật chỉ được đầu hàng Mỹ sau khi Mỹ thả xong hai quả bom nguyên tử xuống Nhật mà thôi!.. Đây là câu chuyện “trả thù”có thật của Vatican đã viết thành sách. Độc giả có thể mua quyển sách “Peace Without Hiroshima” qua đường dẫn trên Amazon: (Link Peace Without Hiroshima)

ALEXANDRE DE RHODES XÂM NHẬP TÔN GIÁO VÀO THÁI LAN

Lịch sử đã bỏ sót một đoạn quan trọng, là giai đoạn Alexandre de Rhodes xâm nhập tôn giáo vào Thái Lan (trước có tên là Ayutthaya).

Trang en.wikipedia.org về France–Vietnam relations

Ayutthaya là tên của một vương quốc cổ người Siam (tiếng Việt: Xiêm, Thái, Tài), nay là Thái Lan. Ayutthaya tồn tại từ những năm 1351-1767. Từ đầu thế kỷ thứ 14, vương quốc Ayutthaya đã giao thương với nhiều quốc gia châu Á như Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản và Ba Tư… Sau này, khi làn sóng ra đi tìm thuộc địa tại các quốc gia châu Âu lan tràn, Ayutthaya còn là nơi giao thương của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… Các nhà truyền giáo Ca-thô-líc, nhất là họ đạo Dòng Tên đã có mặt rất sớm tại Ayutthaya.

Có lẽ Alexandre de Rhodes tới Ayutthaya trước khi tới Đại Việt, vì ông có nói ông tới “Cochinchina,” nhưng sau đó người ta không tìm thấy ông ở bất cứ nơi đâu. Trong khi Đại Việt bế quan tỏa cảng đối với Pháp thì Ayutthaya đã đặt tòa đại sứ với tòa thánh La Mã và với Pháp. Năm 1659 cũng là năm các linh mục Ca-thô-líc dòng Tên đã hoạt động mạnh, và Đông Nam Á cũng được đánh dấu như là một lãnh địa độc quyền của Pháp về thương mại và tôn giáo. Các nhà truyền giáo thế hệ sau còn cố gắng mở rộng hơn nữa vào tận Burma và Miến Điện...

Hình trong tranh cho thấy người Thái quỳ mọp dưới thảm khi họ dâng quốc thư lên giáo hoàng, nhưng khi họ đánh thì họ cũng đánh cho tới các con chien của giáo hoàng chạy vức bỏ cả quần áo giày dép…

Kế hoạch của thực dân Pháp, Công ty Đông Ấn (East India Company), và toà thánh Vatican rất đơn giản. Mỗi nơi sẽ đóng góp một phần chinh phục theo lãnh vực riêng của mình: Công ty Đông Ấn chinh phục Ayutthaya về thương mại; Pháp chinh phục Ayutthaya về quân đội; Và Vatican chinh phục Ayutthaya về tôn giáo. 

Lịch sử vua chúa vương quốc Ayutthaya là những loạt chém giết để giành ngôi vua giữa những người cùng họ hàng huyết thống, ngay cả giữa anh em ruột. Theo truyền thống của người Siam, anh em được ưu tiên hạng nhất lên nối ngôi vua, rồi sau đó mới tới con cái.

Narai là một hoàng tử, sinh năm 1633, con của vua Prasat Thong. Prasat Thong là người đã chiếm đoạt ngai vàng của vua Sukhothai, cầm quyền từ năm 1629 để thành lập triều đại của mình. Narai có một người anh là hoàng tử Chai, và một người chú là hoàng tử Sri Sudharmmaraja. Sau khi vua Prasat Thong qua đời năm 1656, hoàng tử Chai kế vị vua cha, lấy vương hiệu là vua Sanpet VI.

Hoàng tử Sri Sudharmmaraja âm mưu với người cháu là hoàng tử Narai để soán ngôi vua Sanpet VI. Sau khi lên ngôi được 9 tháng, Sanpet VI bị giết trong một cuộc đảo chính. Narai và người chú đã xâm nhập vào cung điện của vua Sanpet VI. Xâm nhập thành công, Sri Sudharmmaraja lên làm vua. Vua Sri Sudharmmaraja phong cho Narai, là người cháu, lên lãnh chức Uparaja (người có quyền hành chỉ đứng sau nhà vua). Tuy nhiên Narai vẫn chưa vừa ý. Là một hoàng tử đầy tham vọng, Narai yêu cầu người Hà Lan hỗ trợ để ông chống lại người chú của ông.

Sự cai trị của vua Sri Sudharmmaraja rất yếu ớt và bị rơi vào vòng kiểm soát của Chao Phraya Chakri. Chao Phraya Chakri là một ông quan cũng đầy tham vọng, muốn chiếm ngôi của Sri Sudharmmaraja. Năm 1656, Narai và người chú là Sri Sudharmmaraja làm mặt lạ, đánh nhau như người dưng. Sri Sudharmmaraja đuổi bắt em gái của Narai là công chúa Rajakalayani. Ông ra lệnh cho binh lính bao vây nơi Rajakalayani cư trú rồi vào trong lục xét. Công chúa Rajakalayani trốn trong một cái tủ đựng sách và được khiên ra trước cung điện. Và sau đó thì Rajakalayani đã gặp được anh trai của cô tại cung điện.

Phẫn nộ trước hành vi của người chú, Narai thu hút sự ủng hộ từ các đội quân đánh thuê Ba Tư và Nhật, những người bị ngược đãi trong thời cai trị của cha mình. Ông cũng được hỗ trợ của Okya Sukhothai, một nhà quý tộc của vương quốc Ayutthaya. Vào ngày lễ Ashura của người Hồi giáo, người Ba Tư và người Nhật pháo kích vào cung điện của Sri Sudharmmaraja. Hoàng tử Narai cũng tham gia vào cuộc chiến, tấn công người chú duy nhất của mình là vua Sri Sudharmmaraja, cho đến khi vua Sri Sudharmmaraja bỏ chạy. Sau đó Sri Sudharmmaraja bị bắt và bị xử tử tại Wat Khok Phraya vào năm 1656.

Sau khi xử tử người chú là vua Sri Sudharmmaraja, Narai lên làm vua. Vua Narai bị ảnh hưởng mạnh từ nhiều quốc gia bên ngoài. Đáng chú ý nhất là Trung Quốc ở phía Bắc, Hà Lan ở phía Nam, và Anh Quốc lần đầu tiên tấn công vào Ấn Độ từ phía Tây. Chiến thuật xoay quanh trực tiếp chống lại các cuộc ảnh hưởng hoặc tạo ra một sức mạnh cân bằng giữa các các quốc gia khác nhau, được Narai áp dụng.

Vì lo sợ cho sự suy yếu do ảnh hưởng của các tiểu quốc miền Bắc sau cuộc xâm lược thành công của Trung Quốc năm 1660 vào Ava, một vương quốc ở phía Bắc Miến Điện (1364-1555), vua Narai đã phải thực hiện một cuộc sát nhập vùng đất Chiang Mai, một vương quốc lân cận với vương quốc Ayutthaya, vào sự kiểm soát của mình. Mặc dù có thành công trong việc kiểm soát Lampang và một số các nơi khác, một cuộc sát nhập lần thứ hai vẫn phải thực hiện để đưa Chiang Mai vào sự kiểm soát hoàn toàn của vương quốc Ayutthaya.

Tên đầy đủ của vua Narai là Somdet Phra Narai Maharat, còn được gọi là Somdet Phra Ramathibodi III (1656-1688). Triều đại vua Narai là một triều đại thịnh vượng nhất Đông Nam Á nhờ các hoạt động thương mại và ngoại giao với các quốc gia Tây phương. Narai là vua đầu tiên của vương quốc Ayutthaya có mối quan hệ mật thiết với vua Louis XIV của Pháp. Các sứ thần Pháp thời đó từng so sánh thủ đô Ayutthaya to lớn và giàu mạnh ngang ngửa với thủ đô Paris của họ. Vua Narai đặc biệt cho phép các thương gia Tây phương được thiết lập một số ngôi làng bên ngoài vòng đai thủ đô Ayutthaya.

Vua Narai cũng cho xây dựng cung điện mới. Cung điện mới ngày nay có tên là Lopburi, là một tỉnh của vương quốc Khmer vào thời đại Marco Polo tới Đông Nam Á. Các chuyên viên xây cất đã sử dụng các nhà kiến trúc Ca-thô-líc Dòng Tên chuyên môn. Ảnh hưởng của châu Âu rất rõ ràng và hiển nhiên trong phong cách kiến trúc. Sự di chuyển đến Lopburi của vua Narai cũng gặp rất nhiều khó khăn vì bị hải quân Hà Lan cố gắng phong toả để thực thi độc quyền tại vùng này.

Trong những năm sau cùng của triều đại, vua Narai đã bị thuyết phục bởi một nhà thám hiểm người Hy Lạp tên là Constantine Phaulkon tới cư ngụ tại Ayutthaya năm 1675. Phaulkon từng làm việc cho công ty Đông Ấn Anh (English East India Company). Phaulkon được Kosa Lek giới thiệu vào triều đình của vương quốc Ayutthaya năm 1681 (Kosa Lek có anh là Kosa Pan. Kosa Pan là một nhà thông thái, trưởng phái đoàn đại sứ quán vương quốc Ayutthaya tại Pháp). Phaulkon làm việc như là một thông dịch viên tuyên thệ, và nhanh chóng được sự ủng hộ của hoàng gia. Năm 1682, Phaulkon phục vụ thông dịch trong một cuộc tường trình với dự thính của hoàng gia Pháp François Pallu đến Ayutthaya với thư của vua Pháp, Louis XIV. Phaulkon đề nghị tái thiết pháo đài Mergui theo kiểu đa dạng châu Âu (polygonal European style), bị Kosa Lek chống đối vì Lek nhận hối lộ của nhóm người không muốn tham gia công tác xây dựng Mergui. Sau đó Lek bị đánh cho tới chết theo lệnh của hoàng gia Ayutthaya. Với sự khéo léo của Phaulkon, Phaulkon được nắm giữ một chức vụ tương đương với chức thủ tướng. Với quyền hạn trong tay, Phaulkon đã làm cho vương quốc Ayutthaya thành một vương quốc có mối quan hệ ngoại giao mật thiết với triều đình vua Louis XIV của Pháp.

Mặc dù việc truyền giáo Ca-thô-líc đã được thực hiện tại Ayutthaya từ năm 1567 dưới đạo dòng Dominicans Bồ Đào Nha, đa số người Siam tại Ayutthaya không chống đối, nhưng cũng không hưởng ứng. Thấy thất bại, các nhà truyền giáo thay đổi “chiến thuật.” Chỉ trong vòng một năm, Phaulkon đã tìm đủ cách “thuyết phục vua Narai cải đạo.” Để thúc giục vua Narai, Phaulkon gây quan tâm cho nhiều người bằng cách làm cho người ta lầm tin rằng nhà vua rất sẵn sàng cải đạo, và toàn bộ vương quốc Ayutthaya sẽ trở thành một quốc gia Ca-thô-líc. Người ta cũng đồn vua Narai có ý định Ca-thô-líc hoá toàn bộ gia đình hoàng gia và toàn bộ nội các dưới sự bảo trợ của Dòng Tên Pháp, là những người được phép định cư vĩnh viễn tại Ayutthaya từ năm 1662.

Năm 1687, trên bờ biển Tenasserim tại cảng Mergui đã xảy ra một biến cố lớn. Một vụ thảm sát tại cảng Mergui đã làm 60 người Anh thiệt mạng. Sự kiện bắt nguồn từ sự suy giảm mối quan hệ giữa vương quốc Ayutthaya và công ty Đông Ấn. Phaulkon đã bổ nhiệm hai người Anh quen biết với ông làm thống đốc Mergui. Hai người Anh này đã sử dụng cảng Mergui như là căn cứ cho cuộc thám hiểm tư nhân vào vương quốc Golconda (nay là một đô thị đổ nát của Ấn Độ), vốn có mối quan hệ thân thiện với công ty Đông Ấn. Tháng 4-1687 công ty Đông Ấn yêu cầu Ayutthaya bồi thường £65.000 và cấm vận Mergui.

Vì sợ toà án phạt về tội cướp biển, thống đốc Anh cảng Mergui lo lót viên thuyền trưởng để họ im. Tuy nhiên, các khu giải trí đã dấy lên sự nghi ngờ nhà chức trách Ayutthaya là thủ phạm nổ súng tàn sát tất cả người Anh. Biết không tránh khỏi chiến tranh, Narai tuyên chiến với công ty Đông Ấn, và chuyển giao quyền kiểm soát cảng Mergui cho thống đốc Pháp và một đơn vị đồn trú của Pháp. Cùng lúc, ông cũng trao quyền kiểm soát cảng Bangkok cho Pháp với dụng ý làm cho Pháp và Hà Lan đánh nhau. Narai cũng đồng ý cho Pháp đặt căn cứ tại hải cảng Ayutthaya. Chevalier de Forbin chỉ huy pháo đài Bangkok và huấn luyện quân đội Siam theo chiến thuật Tây phương. Một số pháo đài Siam tại Mergui, Ligor, Singora (Songkhla), Lavo, và ngay cả tại thủ đô Ayutthaya cũng được xây dựng trở lại theo trận địa Âu châu.

Qua lại giữa Pháp và Ayutthaya trở nên rộn rịp. Một mục vụ truyền giáo Dòng Tên tại Ayutthaya được lãnh đạo bởi Phra Visutsundhorn (Kosa Pan) và Guy Tachard sang Pháp năm 1686 được tiếp đón nhiệt thành. Tháng 3-1687, phái đoàn quay trở về, bao gồm những người Siam và Pháp rời khỏi Brest đi Ayutthaya. Phái đoàn bao gồm Kosa Pan quay trở về Ayutthaya, Guy Tachard, Simon de La Loubère, Claude Céberet du Boullay và tướng Desfarges. Một số lượng lớn quân đội Pháp gồm hải quân Pháp được gửi tới đóng tại các pháo đài Ayutthaya do tướng Desfarges chỉ huy. Vua Narai đã đồng ý để cho Pháp đóng quân tại cảng Mergui và Bangkok. Cả hai Mergui và Bangkok đã trở thành hai pháo đài kiên cố nhất theo kiến trúc và chiến thuật Tây phương (ngày nay được gọi là pháo đài Vijaiprasit Thái, sau đó trở thành pháo đài hoàng gia Thái dưới triều vua Taksin). Năm 1688, Đại sứ quán vương quốc Ayutthaya, cuối cùng được lãnh đạo bởi Okkhun Chamnan sang Âu châu viếng thăm Rome và giáo hoàng Innôcentê XI.

Giao thương rộn rịp với Pháp kích động một phong trào chống Pháp mạnh tại vương quốc Ayutthaya. Tinh thần bài đạo Ca-thô-líc do Pháp và Phaulkon mang vào Ayutthaya cũng đã lên tới tột đỉnh. Các quan lại Ayutthaya và các tôn giáo khác như Hồi giáo, và ngay cả Tin Lành Hà Lan cũng đều không ưa Ca-thô-líc Pháp. Các phe Ca-thô-líc khác như Ca-thô-líc Bồ Đào Nha, cũng có lý do để phản kháng sự hiện diện của Ca-thô-líc Pháp, cho Ca-thô-líc Pháp đã vi phạm hiệp ước Tordesillas. Và tất cả đã họp lại thành một nhóm lớn chống Ca-thô-líc Pháp.

Ảnh hưởng ngày càng tăng của Pháp không chỉ tăng thêm cạnh tranh nhưng cũng là một lời nhắc nhở không mong muốn của Bồ Đào Nha.

Vatican luôn theo cùng một công thức chính trị là xâm nhập từng bước kể từ khi phát hiện châu Mỹ. Trường hợp vương quốc Ayutthaya, bước thứ nhất là xâm nhập bộ máy cầm quyền của vua Narai bằng cách cãi đạo vua Narai. Bước thứ hai là thành lập các phái đoàn ngoại giao để đi tới việc chính thức tiếp xúc với giáo hoàng. Cùng lúc với chùa chiền Phật giáo bị đập phá thì các nhà thờ Ca-thô-líc được dựng lên. Cùng lúc với việc tuyên truyền chỉ có Ca-thô-líc là một “chánh đạo” duy nhất, thì sự tuyên truyền về tất cả các đạo khác đều là “tà đạo” được các con chien truyền bá nhanh chóng.

Kinh nghiệm cho thấy từ trước tới nay, phản kháng của Phật tử lúc đầu thường là ôn hoà và tranh luận trong tinh thần cởi mở. Khi tranh luận không lại nhóm Phật tử, nhóm Ca-thô-líc bắt đầu ăn nói ngang ngược. Tranh luận của Ca-thô-líc biến thành tranh luận mang tính chất “thắng bại” mà không phải là một tranh luận để tìm ra một “lối thoát” cho cuộc xung đột. Lối tranh luận này là nguyên nhân làm nổ tung ra các cuộc phản kháng quy mô của Phật tử tại Ayutthaya.

Phật tử vương quốc Ayutthaya thuộc thành phần đa số. Sau nhiều cuộc tranh luận không hiệu quả, họ tổ chức biện pháp đề kháng. Dập tắt đề kháng thường là việc làm tàn nhẫn của phe Ca-thô-líc. Càng dập tắt, phong trào chống đối càng bị kích động và nhanh chóng lớn lên. Để tương ứng với quyền lực được sử dụng, đề kháng luôn luôn bị đàn áp bởi các nhà thờ. Nhà thờ là nơi luôn bênh vực người Ca-thô-líc, bất kể người Ca-thô-líc đúng hay sai. Pháp luôn sẵn sàng giúp người Ca-thô-líc bằng súng thần công đại bác trên các pháo đài của họ.

Các quan lại Siam, đa số là Phật tử, từ lâu cảm thấy bất bình với ảnh hưởng của Phaulkon, họ tích cực đề kháng tư tưởng vọng ngoại và chính sách kỳ thị tôn giáo của vua Narai. Họ hợp lực với Phetracha, một ông vua tương lai của họ, bắt đầu soạn thảo kế hoạch đảo chánh.

Cuộc đảo chánh của vương quốc Ayutthaya năm 1688 là một biến cố lớn dẫn đến việc lật đổ vua Ca-thô-líc Narai. Phetracha, trước đây là một cố vấn quân sự tin cậy của vua Narai, đã lợi dụng Narai lúc cao tuổi và bệnh hoạn, giết người thừa kế của Narai, cùng với nhà truyền giáo bộ trưởng bộ ngoại giao Constantine Phaulkon.

Phetracha, sau khi lên ngôi, kết hôn với con gái của Narai là công chúa Kromluang Yothathep, theo đuổi chính sách hất chân Pháp. Một trong những trận đánh nổi tiếng của Phetracha là trận bao vây Bangkok năm 1688, khi hàng chục ngàn quân Ayutthaya trải qua 4 tháng vây hãm pháo đài Pháp trong thành phố Bangkok. Do hậu quả cuộc cách mạng, Ayutthaya cắt đứt tất cả các quan hệ với Tây phương.

Khủng hoảng bắt đầu khi vua Narai bệnh nặng tháng 3-1688. Tháng 4-1688, Phaulkon yêu cầu Pháp trợ giúp quân sự để vô hiệu hóa đảo chánh. Desfarges phản ứng bằng cách dẫn 80 quân và 10 nhân viên rời khỏi Bangkok, tới cung điện Lopburi. Vì sợ bị tấn công bởi phiến quân Siam, Defarges hủy bỏ kế hoạch đi Lopburi, rút về Bangkok vì bị bối rối do tin đồn từ Véret là giám đốc công ty Đông Ấn Pháp loan tin thất thiệt là có một ông vua đã chết.

Ngày 10-5-1688, trước khi chết, vua Narai ý thức được tranh chấp về vấn đề kế vị sẽ xảy ra, ông gọi tất cả ba người cố vấn cận kề tới, trong đó có Phaulkon; người em nuôi của vua là Phra Phetraccha, chỉ huy trưởng đoàn Tượng Binh Hoàng Gia (the Royal Elephant Corps); và đứa con nuôi của vua là Mom Pi. Rồi Narai chỉ định đứa con gái là Kromluang Yothathep lên nối ngôi vua. Phong cho ba người cố vấn làm ba ông quan nhiếp chính cho tới khi công chúa chọn được một trong hai người Siam là Phra Phetracha hoặc Mom Pi thực thụ kế vị. Quyết định của vua Narai đã thúc đẩy Phetracha làm một cuộc đảo chánh.

Trong khi Narai đang bệnh, Phetracha tổ chức một cuộc đảo chánh dài hạn với sự hỗ trợ của triều đình và phe Phật giáo chống Ca-thô-líc. Ngày 17 và 18 tháng 5-1688, Narai bị bắt. Ngày 5-6-1688, Phaulkon bị bắt và bị chém đầu. Mom Pi cũng bị giết. Cả hai người anh em của nhà vua, là người được quyền kế vị theo tục lệ của người Siam, đã thiệt mạng ngày 9-7-1688, và chính vua Narai cũng chết sau 2 ngày bị giam giữ. Phra Phetracha lên ngôi ngày 1-8-1688. Kosa Pan, cựu đại sứ tại Pháp năm 1686, và một người ủng hộ mạnh mẽ Phetracha, đã trở thành bộ trưởng bộ ngoại giao và thương mại của vua Phra Phetracha.

Trong thời gian đảo chánh, một cuộc tấn công quy mô bằng 40 ngàn quân và hơn một trăm pháo đại bác nhắm vào hai pháo đài Pháp tại Bangkok và Mergui. Ngày 24-6-1688, người Pháp tại Bangkok, dưới sự chỉ huy của Du Bruant và Chevalier de Beauregard phải tháo chạy, bỏ lại các đơn vị đồn trú. Du Bruant thoát thân dưới mưa đạn với nhiều binh sĩ thương vong bằng cách cướp một tàu chiến của quân cách mạng Ayutthaya. Ông và quân đội của ông bị kẹt trên một đảo hoang cho tới bốn tháng trước khi bị một tàu chiến Anh bắt. Cuối cùng họ được thả và đã quay trở lại Pondicherry qua cửa ngỏ Madras. Tại Mergui, quân cách mạng vây hãm các pháo đài hơn 4 tháng. Quân đảo chánh Siam cũng nhận được sự hỗ trợ của Hà Lan chống lại Ca-thô-líc Pháp. Ngày 9-9-1688, tàu chiến Pháp Oriflamme, mang 200 quân do de l'Estrilles chỉ huy, đến được cửa sông Chao Phraya, nhưng không thể cập bến vì sông bị chận bởi quân cách mạng Siam.

Khi phong trào chống Ca-thô-líc trở thành quá lớn, dập tắt không thể thực hiện trên toàn bộ đất nước. Nhà thờ Ca-thô-líc bắt đầu bị tấn công hoặc bị phá hũy. Người Ca-thô-líc bị săn đuổi xuống tới thời điểm bắt đầu. Các linh mục Ca-thô-líc và các quan chức Pháp và người Ca-thô-líc bản xứ bắt đầu bị trục xuất hay bị bắt giữ cho đến khi cách mạng kết thúc. Thương mại với Pháp chấm dứt hoàn toàn và việc truyền giáo cũng bị ngừng theo. Cuộc xâm nhập tôn giáo của Pháp và Vatican bị dập tắt năm 1688, Pháp và Vatican phải rút lui…

Jean Vollant des Verquains, viết năm 1691, về ý nghĩa lịch sử cuộc cách mạng vương quốc Ayutthaya năm 1688 là một trong những sự kiện nổi tiếng thời đại, cho dù nó được nhìn từ khía cạnh chính trị hay tôn giáo. Pháp đã không thể dàn dựng được vở kịch để đưa Ca-thô-líc Pháp quay trở lại Đông Dương do xung đột “Chiến tranh liên đoàn Augsburg (1688–1697)” và sau đó là “Chiến tranh kế vị Tây Ban Nha.” Những thành tựu ngoại giao triều đại Narai đóng góp, đã được truy tặng danh hiệu "vĩ đại," một trong bảy vĩ đại lịch sử của Ayutthaya.  

Một số quân đội Pháp vẫn tiếp tục trú đóng tại Pondicherry để củng cố cho sự hiện diện của họ. Nhưng hầu hết đã phải trở về Pháp ngày 16-2-1689 trên tàu hải quân Normande của công ty Coch của Pháp, cùng với hai kỹ sư là Vollant des Verquains và Jesuit Le Blanc. Hai kỹ sư này bị người Hà Lan bắt và bị giam tại Cape. Vì chiến tranh liên đoàn Augsburg bắt đầu, sau một tháng bị giam giữ, họ được gửi tới Zeeland và bị giam trong nhà tù Middelburg. Cuối cùng họ được trả tự do và được đưa về Pháp qua một cuộc trao đổi tù binh.

Tháng 10-1689, Desfarges, đang ở Pondicherry, dẫn đầu một đoàn thám hiểm nhằm chiếm đảo Phuket trong nỗ lực khôi phục lại một số khu vực kiểm soát của Pháp tại Ayutthaya. Sự chiếm đóng vài hòn đảo không đưa họ về đâu cả. Đầu năm 1690, Desfarges trở lại Pondicherry, rồi lại trở về Pháp, để lại 108 quân ở Pondicherry củng cố phòng thủ. Desfarges cũng để lại chiếc Oriflamme và binh lính trên đó, cùng với các tàu chiến Lonré và Saint-Nicholas. Desfarges chết trên đường trở lại Martinique, và chiếc Oriflamme bị chìm một thời gian ngắn ngày 27-2-1691, với quân lính còn lại ở ngoài khơi bờ biển Britanny.

Vua Phetracha đã trục xuất hầu hết người Pháp tại Ayutthaya. Liên lạc với Tây phương vẫn còn. Ngày 14-11-1691, ngay sau khi Pháp rút lui, hiệp ước 1644 và liên minh hòa bình giữa Ayutthaya và công ty Đông Ấn Hà Lan được gia hạn, đảm bảo người Hà Lan độc quyền xuất khẩu da nai của họ, và họ được tự do thương mại trong các hải cảng. Họ cũng được nới rộng độc quyền xuất khẩu kẽm tại Ligor (do giấy phép của vua Narai ký năm 1671). Xưởng Hà Lan (Opperhoofden) cũng được tiếp tục, chẳng hạn như Pieter van den Hoorn (1688-1691), hoặc Thomas Van Son (1692-1697). Dưới triều vua Phetracha, Vatican và Pháp bỗng dưng thấy họ không còn được ưu đãi như trước nữa, trong khi nội loạn bùng nổ ở khắp nơi trong vương quốc Ayutthaya.

Di tích cung điện đổ nát xây cất theo tây phương của Constantine Phaulkon tại Lopburi

Painting of Ayutthaya c.1665, painted by Johannes Vingboons, ordered by The Dutch East India Company, Amsterdam

Ảnh trích trong trang Ayutthaya Kingdom

Nhân cuộc loạn lạc, người Miến Điện ngay lập tức đánh chiếm Miền Bắc Ayutthaya trong khi Anyutthaya không còn đủ khả năng đối đầu với Miến Điện. Năm 1767, Miến Điện thình lình tấn công chiếm nốt phần đất Ayutthaya còn lại, giết chết vua cuối cùng của Ayutthaya là Baromakot, rồi thiêu rụi toàn bộ thủ đô Ayutthaya. Sau khi thiêu rụi toàn bộ thủ đô Ayutthaya, quân Miến Điện lập tức bỏ rơi Ayutthaya, quay về Miến Điện vì Miến Điện đang bị Trung Quốc tấn công. Vì đang là một mảnh đất vô chủ, Ayutthaya bị một số quốc gia khác xâu xé. Người Thái may mắn giành lại được một mảnh khá lớn, lập thành Vương Quốc “Thái Lan” ngày nay. Vương quốc Ayutthaya thịnh vượng và to lớn, giờ đây chỉ còn trong kỹ niệm của người Thái!..

ALEXANDRE DE RHODES MỞ CỬA CHO PHÁP ĐÁNH CHIẾM VIỆT NAM

Nhà viết sử người Anh Thế Chiến II, Stanley Karnow, viết về cuộc trôi dạt của Alexandre de Rhodes ở Đông Dương:

Nhưng quan trọng nhất, các vua chúa Việt Nam sợ đạo Thiên Chúa là điềm báo trước Chính Sách Đế Quốc Âu Châu – Thật ra, đúng như vậy. Các vua chúa Việt Nam đã đung đưa giữa hai chính sách cứng rắn và mềm mỏng đối với đạo Thiên Chúa, và tòa án của họ lúc nào cũng có sự hiện diện của các nhà truyền giáo Dòng Tên, các nhà toán học, hoặc các nhà thông thái khác… Các nhà truyền giáo sớm nhất tại Việt Nam là những nhà du hành gan dạ như Odoric de Pordenone, vào thế kỷ thứ XIV thuộc dòng Franciscan có kể lại một vùng đất kỳ ảo mà nơi đó có những con rùa khổng lồ lớn hơn nóc tròn của các thánh đường. Ba trăm năm sau, các nhà truyền giáo Dòng Tên bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản đến cảng Hội An, một thương điếm của Bồ Đào Nha, thiết lập Hội Truyền Giáo Giao Châu (Cochinchina Mission). Mặc dù các nhà truyền giáo khác có tràn đầy nhiệt huyết và không hề biết mệt, họ vẫn bị lu mờ đối với “Alexandre de Rhodes, một thiên tài độc nhất vô nhị mở cửa cho người Pháp đánh chiếm Việt Nam.

Stanley Karnow, Vietnam a History, ISBN 0-14-026547-3, trang 72

Áo Môn (Ảnh Wikipedia)

Năm 1563, người Bồ Đào Nha được Trung Quốc cho cập bến Áo Môn  (Macau hoặc Ma Cao), là một ngôi làng nhỏ vùng duyên hải. Nhà cầm quyền Trung Quốc cho phép họ cư trú và lập nghiệp, nhưng cấm họ xây nhà hay thành trì kiên cố, và không được phép đem quân đội vào. Để ngăn ngừa người Bồ Đào Nha tràn vào lục địa, chính quyền Trung Quốc còn buộc họ phải xây một bức tường, tách rời vùng sinh sống của họ đối với vùng sinh sống của người Trung Quốc trên đất liền.

Chẳng bao lâu, buôn bán ở Ma Cao trở nên thịnh vượng, thuyền bè trở nên tấp nập. Cư dân Ma Cao lên tới hàng vạn người, trong đó có hơn 900 người Bồ Đào Nha. Dĩ nhiên người Bồ Đào Nha nắm quyền cai trị vùng này. Chỉ vài năm sau, Ma Cao trở thành nơi xuất phát mọi việc thương mại với tàu buồm khắp nơi trên thế giới đổ xô về đây.  

Từ Ma Cao, thuyền buồm ngoại quốc còn tràn ngập qua Đông Nam Á. Từ Đông Nam Á, họ lần mò tìm tới cảng Hội An của Đại Việt. Thời buổi ấy, nhiều người Nhật cũng tới sinh sống tại cảng Hội An. Người Nhật còn xây cất nhà ở, cầu cống theo kiểu Nhật (ngày nay vẫn còn). Họ lại còn xây cất thương điếm cho du khách ngoại quốc thuê. Khi Alexandre de Rhodes tới cảng Hội An, ông có chủ ý hỏi thăm tình trạng các linh mục Ca-thô-líc tại Nhật. Sau khi được tin 26 linh mục bị chặc đầu, de Rhodes không dám đi Nhật nữa. Ông tiếp tục ở lại Hội An.

Trong thời gian sinh sống tại cảng Hội An, de Rhodes đơn giản học tiếng Việt từ trẻ em Đại Việt bằng cách dùng các dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã…) để ghi chú giọng phát âm lên, xuống… của tiếng Việt mà người Tây Phương thường cho rằng người Đại Việt “nói líu lo như chim hót.” Khi de Rhodes đọc tiếng Đại Việt do ông viết với các dấu phát âm do ông tạo ra, trẻ em Đại Việt hiểu Alexandre de Rhodes một cách dễ dàng, và de Rhodes cũng dễ dàng gây cảm tình với trẻ em Đại Việt…

Vì gây được cảm tình với trẻ em Đại Việt, de Rhodes đã tình cờ mở được cánh cửa Đại Việt, mà từ bấy lâu nay chưa có người Tây Phương nào có thể làm được!.. Tuy nhiên công trình “gọt đẻo” chữ quốc ngữ để hoàn thành một “bộ chữ” hoàn hảo cho cả một dân tộc, chắc chắn không phải từ một năm, một trăm năm… hay từ một người, một nhóm người… mà từ cả một dân tộc, cả một quá trình lịch sử của dân tộc đó.

Trong khi mở được cánh cửa lịch sử của Đại Việt, de Rhodes đã dạy dột lập tức đóng xầm cánh cửa lại bằng cách thóa mạ và tấn công Phật Giáo châu Á trong “Phép Giảng Tám Ngày;” xúi giục Pháp đánh chiếm Đại Việt làm thuộc địa mà nhà viết sử Stanley Karnow đã ghi lại: “Alexandre de Rhodes, một thiên tài độc nhất vô nhị mở cửa cho người Pháp đánh chiếm Việt Nam.” Rõ ràng de Rhodes không phải là người tới để khai hóa người bản địa, mà Alexandre de Rhodes tới để mở đường cho thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

Một anh bạn của người viết bài này cũng nói: “Quân giặc đến cướp nước ta, họ có mang theo một thanh gươm báu sắc bén… Khi thua bỏ chạy, giặc làm rơi rớt lại thanh gươm. Ta có quyền sở hữu thanh gươm mà không cần phải cám ơn giặc!” Và tôi hoàn toàn đồng ý.

Ngày 1 tháng 9 năm 1856, liên quân Pháp-Tây Ban Nha chính thức tấn công Trung Quốc. Liên quân gây chiến với Trung Quốc vì Pháp giành quyền lợi với nước Anh sau khi thấy Anh thắng Trung Quốc liên tiếp hai trận Chiến Tranh Nha Phiến. Nhân dịp giáo sĩ Chappedelaine bị giết ở Quảng Tây, Anh nói Trung Quốc vi phạm hiệp ước Wham-Poa về điều khoảng tự do giảng đạo. Đòi hỏi của Anh nhanh chóng kích động phong trào bài ngoại của nhân dân Trung Quốc.

Thủy sư đô đốc Hamelin còn quyết định tăng thêm quân đội Pháp và nhiều chiến hạm tới Thái Bình Dương. Ngày 25-12-1856 ngoại trưởng Pháp Walewshi viết thư cho bá tước Gios, đặc ủy viên Pháp ở Trung Quốc, rằng sau khi đánh Quảng Đông thì phải đưa ngay hạm đội Pháp tới Miền Nam Việt Nam. Cùng lúc nhà đương cuộc Pháp cũng điều đình với Tây Ban Nha, gởi quân của họ sang trợ lực Pháp. Pháp vu khống nhiều giáo sĩ Tây Ban Nha và Pháp bị ngược đãi. Chắc chắn trong đó có Alexandre de Rhodes, mặc dù de Rhodes đã chết từ lâu.

Hòa ước Giáp Thân ký giữa triều đình nhà Nguyễn và Pháp năm 1884 là một bản án khai tử nhà Nguyễn. Tại kinh thành Thuận Hóa, ba ông quan đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, và Trần Tiễn Thành không cách gì khác hơn là phải đi những nước cờ thí mạng. Sau đó Trần Tiển Thành bị Tôn Thất Thuyết giết vì Thành cố ý thân Pháp. Triều đình lúc này chia ra làm hai phe, phe chống Pháp và phe thân pháp. Phe thân Pháp luôn có “linh mục Gasper làm cố vấn.”

Xét về cuộc xâm nhập tôn giáo vào Thái Lan và Nhật Bản, ta thấy rất rõ là Vatican lúc nào cũng cố gắng bằng mọi giá “nhét” đạo Ca-thô-líc vào triều đình quốc gia nạn nhân. Thí dụ trường hợp Ayutthaya, Pháp và Vatican tìm đủ mọi cách để cải đạo vua Narai thành một ông vua Ca-thô-líc. Tại Việt Nam ngày 19 Tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức chết trong lúc quân Pháp đánh chiếm kinh thành Huế. Các quan đại thần lập cháu của Tự Đức là Dục Đức lên ngôi vì Tự Đức không có con.

Tuy nhiên Dục Đức chỉ lên ngôi được 3 ngày thì chết. Kế ngôi Dục Đức là Hiệp Hòa. Hiệp Hòa chỉ làm vua được vài ngày rồi cũng chết vì quan đại thần Tôn Thất Thuyết cho đè ra đổ thuốc độc vào miệng theo di chiếu của vua Tự Đức để lại, gọi là “Tam Bang Triều Điển.” Tam bang triều điển là gì? Là lệnh xử tử bất cứ vua nào con cháu Tự Đức dám nhận “rửa tội.” Có ba tội chết Tam Bang Triều Điển: Thứ nhất là tự cầm chén thuốc độc lên uống; nếu không tự uống thì sẽ bị đè ra đổ. Thứ hai là tấm vải lụa: sẽ có hai người tới thắt cổ vua. Thứ ba là thanh gươm: vua phải tự đâm gươm vào cổ xuyên qua tim phổi mà chết.

Con cháu nhà Nguyễn trong thời gian này rất là khổ tâm. Nếu nghe lời các linh mục lén nhận “rửa tội” thì thế nào cũng bị tam bang triều điển. Nếu không nghe lời họ thì họ cứ đi theo lãi nhãi hoài… và kinh thành Huế thì gần như bỏ ngõ, không ai dám nói gì tới họ… Người dân Huế lúc đó, không biết ai đã sáng tác ra hai câu đối:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân Thuyết,

Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.

Hai câu thơ ngụ ý: chỉ có một con sông (sông Hương), mà có tới hai nước (bên Việt, bên Pháp). “Nan phân thuyết” (không thể thuyết phục cho ai tin). Thuyết cũng có nghĩa là tên của ông Tôn Thất Thuyết. Câu kế: “Chỉ trong vòng bốn tháng mà lập ra ba ông vua, là điều mà không ai có thể thấu hiểu.” Tường cũng là tên của ông Nguyễn Văn Tường.

Sau cái chết của vua Kiến Phúc, triều đình tôn lập Hàm Nghi. Việc tôn lập Hàm Nghi bị Pháp phản đối kịch liệt, họ cho rằng tôn lập Hàm Nghi là vi phạm hòa ước Quí Mùi (hòa ước Harmand), rồi điện về Paris xin chỉ thị. Thật ra Pháp chỉ muốn triều đình Huế tôn lập Gia Hưng, vì Gia Hưng là em ruột của vua Tự Đức, người vừa mới rửa tội.

 Hai ngày sau, Guerrier mang tối hậu thư tới kinh thành Huế. Ông Tường không mở cửa đón tiếp, nhưng cũng không dàn quân bố trận. Guerrier đòi mở cửa ngay! Ông Tường nói sẽ sẵn sàng một hiệp ước mới! Guerrier trả lời Hòa ước Patenôtre (1884) vẫn còn hiệu lực!

Thấy bức bách quá sợ ông Tường liều mạng. Guerrier nghĩ lập Hàm Nghi có lẽ cũng không sao!... Vì sau khi tôn lập, Hàm Nghi cũng sẽ bị rửa tội như các ông vua khác. Chừng ấy Guerrier sẽ cắt người canh gác cẩn thận không để cho ông Thuyết dỡ trò “Tam Bang Triều Điển” lần nữa. Rồi ông buộc ông Tường phải viết đơn xin phép Pháp.

Ngày 18-8-1884, lúc 3 giờ trưa, trước giờ Pháp bắn đại bát vào kinh thành Huế, ông Tường chạy tất tả tới sứ quán Pháp xin lỗi và chịu làm đơn xin phép lập Ưng Lịch (tức là Hàm Nghi) lên làm vua. Lúc đầu ông Tường viết đơn xin phép bằng chữ Nôm. Guerrier cho người đọc nhưng không đọc được. Ông Tường phải viết lại bằng chữ Hán.  

Lúc 9 giờ sáng ngày 17-8-1884, Guerrier cùng với viên khâm sứ Pháp và thuyền trưởng tàu Tarn là Wallmaré cùng với 25 sĩ quan Pháp và 160 tên lính kéo vào điện Thái Hòa. Họ không mang súng và đeo gươm, tiến thẳng vào cửa Ngọ Môn. Sĩ quan hải quân, lục quân, và 160 lính ra vào bằng cửa bên. Những người còn lại thì túc trực bên ngoài. Quan phụ chính Tôn Thất Thuyết cho dàn lính cấm vệ, sắp đặc văn võ bá quan rất Nghiêm chỉnh. Vua Hàm Nghi ngồi tại chỗ đón đại diện Pháp. Vua ngồi yên không đón rước họ, mà cũng không đứng dậy.

Khi khai mạc buổi lễ, Guerrier tiến đến trước mặt vua Hàm Nghi trao huy chương nhất đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh cho vua sau khi một quan chức nhân danh chánh phủ Pháp đọc một bài chúc từ chính thức công nhận Hàm Nghi là vua nước Việt Nam. Chúc từ đựng trong một cái hộp đỏ do Guerrier mang tới trước ngai của vua, rồi mở ra đọc.

Sau khi nghe chúc từ, vua Ham Nghi sai một quan đại thần hỏi thăm vua Pháp và các tướng lãnh Pháp từng qua lại giữa Việt Nam và Pháp.

Khi tan lễ, phái đoàn Pháp thấy cửa ngọ môn đã đóng, họ phải ra về bằng cửa bên. Thực dân Pháp rất giận, nhưng cũng rất nể vua Hàm Nghi. Sách “Le Roi Proscrit của Marcel Gauthier” trang 40-41, sử gia Phạm Văn Sơn dịch một đoạn từ tiếng Pháp ra tiếng Việt:

Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã làm được một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước: Với ý chí cương quyết độc lập và dù Pháp có đóng quân tại Huế, triều đình Việt Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn. Thái độ ấy do hội đồng phụ chính đề ra, hội đồng rất có lý mà tin chắc rằng quần chúng nhân dân trông vào thái độ của vua để noi theo, xem thái độ ấy như là một mệnh lệnh không nói ra bằng lời để cho nhân dân chống lại những kẻ mới tới…

Đêm 5-7-1885, quan Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết chỉ huy 20.000 quân tấn công gần 1.400 quân Pháp ở Đồn Mang Cá. Tấn công bị thất bại, ông Thuyết phải đem vua Hàm Nghi chạy ra chiến khu Tân Sở, rồi tung ra Hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân chống Pháp. Khi thấy khá xa kinh thành Huế, ông Thuyết có đề nghị ông Tường nên trở về thương thuyết với Pháp, cùng lúc 3 bà phi cũng nằng nặc đòi về. Ông Thuyết mắc một lỗi lầm lớn là cho các bà phi cùng về với ông Tường.

Kết quả, riêng tại Bắc và Trung Kỳ, tính đến ngày 31-8-1885, theo sổ kế toán quân y viện Pháp, có 4.000 quân Pháp tử trận (1/6 quân số Pháp). Tháng 7-1885, có 24.298 giáo dân và 8 giáo sĩ giáo khu Qui Nhơn bị giết cùng với nhiều nhà thờ bị phá hủy. Tại Quảng Trị, tính đến ngày 20-9-1885 có đến 8.620 giáo dân theo giặc Pháp bị giết.

Sau đó Pháp cho chở tất cả tài sản của triều đình Huế về Pháp, gồm trân châu mã não mâm vàng chén bạc về các bảo tàng viện Pháp, và giải tán tất cả quân đội triều đình Huế. Vì thấy nhân dân hưởng ứng hịch cần vương quá đông, Pháp lập tức chiêu dụ vua Hàm Nghi trở về Huế phục hồi ngôi vị, Nhưng vua Hàm Nghi không nghe.

Sau hơn một tháng kêu gọi vua Hàm Nghi không kết quả, Pháp lập Đồng Khánh lên làm vua với sự tán thành của các bà phi. Nhục nhã của Khánh là Khánh phải qua tòa khâm lạy lục các quan Pháp xin “rửa tội.”

Sau khi rửa tội, Pháp cho Đồng Khánh chính thức được lên ngôi vua. Pháp còn cấp cho Đồng Khánh một tiểu đội lính Pháp ngày đêm lo canh gác Đồng Khánh. Vì tài sản của nhà Nguyễn bị chở hết về Pháp, Pháp phải phát lương tháng cho Đồng Khánh và cho các quan. Tình trạng phát lương tháng cứ tiếp tục mãi cho tới thời kỳ Bảo Đại sau này.

Đồng Khánh còn dựa vào Ca-thô-líc Pháp, thi hành chánh sách Ca-tô-líc hóa, bắt đầu thu dụng người Ca-thô-líc và đàn áp các phong trào yêu nước. Đồng Khánh thu dụng được ba nhân vật rất quan trong:

1▪ Ngô Đình Khả (cha của Ngô Đình Diệm), do linh mục chính xứ Phú Cam là Eugène Marie Joseph Allys giới thiệu làm thông ngôn cho khâm sứ Pierre Rheinart. Khả được Đồng Khánh nâng đỡ và trở thành sợi dây liên lạc giữa Pháp và triều đình bù nhìn Đồng Khánh tại Huế.

Năm 1885, Pháp chiếm Linh Hựu Quán và các công trình khác của nhà Nguyễn. Năm 1886, toàn quyền Paul Bert được tên Việt gian Trương Vĩnh Ký cố vấn, ép Đồng Khánh nhượng tiếp khu đất nằm giữa Trấn Bình Đài và Linh Hựu Quán để xây doanh trại, đồn bót... Linh Hựu Quán bị chúng phá để lấy đất. Từ đó, dân Huế gọi khu Linh Hựu Quán là “Mang Cá Lớn,” khu Trấn Bình Đài là “Mang Cá Nhỏ.

Năm 1896, Ngô Đình Khả và Nguyễn Thân, sau khi dẹp tan chiến khu Vụ Quang của cụ Phan Đình Phùng, được Đồng Khánh phong Thái Thường Tự Khanh (chánh tam phẩm), chức Thương Biện thuộc Viện Cơ Mật. Trong thời gian này, Khả liên tục được thăng quan tiến chức.

2▪ Nguyễn Hữu Bài, sinh năm 1863 tại Quảng Trị. Vấn đề trước tiên của ông Bài là “miếng cơm manh áo.” Trước khi làm thông ngôn cho Pháp, Bài cũng rách rưới như nhiều người khác. Bài và Khả là cặp bài trùng, nhờ làm “sui gia” với Khả, Bài và Khả có thể mạnh dạn giúp nhau. Ngô Đình Khôi, con lớn của Ngô Đình Khả cưới con gái của Nguyễn Hữu Bài, do đó Khôi giúp cha vợ là dĩ nhiên. Ngược lại, Bài làm trưởng hội đồng giám mục Ca-thô-líc, sẽ nâng đỡ cho Khôi.

3▪ Nguyễn Thân, sinh năm 1840, tại Quảng Ngãi, con của Nguyễn Tấn, một võ quan triều vua Tự Đức, nhưng sau làm phản, theo Pháp chống quân kháng chiến. Tháng 7-1885, Pháp sai Thân đem quân đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Quảng Ngãi của Lê Trung Đình và Nguyễn Tự Tân; năm 1885-1887, đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định; tháng 8-1886, đánh dẹp Bùi Điển; năm 1887 vào Quảng Nam đánh dẹp phong trào kháng Pháp của Trần Văn Dư, Nguyễn Huy Hiệu, Phan Bá Phiến… được Pháp tặng bắc đẩu bội tinh.

Năm 1895, Thân cùng với Khả, đem 3.000 quân phối hợp với công sứ Duvillier, tiêu diệt cụ Phan Đình Phùng. Vì khi làm quan, cụ Phan Đình Phùng chẳng kiên nể ai, cho căng nọc linh mục Trần Lục, đánh một trận nhừ tử. Nay thì cụ Phan biết không thể cầm cự lâu hơn, nên cụ đã cho mở một trận đánh quyết liệt giết hàng trăm quân giặc và nhiều sĩ quan Pháp. Vì không đủ súng đạn và lương thực, quân Cần Vương bị phản công, cụ Phan Đình Phùng bị thương nặng rồi hy sinh. Mười ngày sau, Ngô Đình Khả thừa lệnh Nguyễn Thân, quật mồ đốt xác cụ Phan Đình Phùng, trộn với thuốc súng bắn xuống sông La…

Sau khi ông Tường trở về Huế vì nghe lời ông Thuyết, Pháp làm ngơ cho ông Tường yên ổn được đôi ba tháng. Sau đó Pháp đày ông Tường sang đảo Haiti ở chung với những người nô lệ da đen châu Phi bị các linh mục Ca-thô-líc Jesuits bắt đưa sang châu Mỹ làm nô lệ trồng cà phê cho họ bán. Vì trong thời gian này Pháp đã chiếm được một số đất đai tại châu Mỹ (vùng New Orleans) và Vatican cũng bắt đầu khai thác việc buôn bán nô lệ da đen châu Phi sang châu Mỹ…

Khoảng ba bốn năm sau, vua Hàm Nghi bị một cận vệ người Mường nghiện á phiện bắt để được Pháp thưởng một số tiền lớn. Ông Thuyết chạy qua biên giới Trung Quốc được Trung Quốc làm ngơ. Tại biên giới Trung Quốc, ông Thuyết thỉnh thoảng đón nhận một số trâu bò do nghĩa quân lùa tới đổi lấy súng đạn để tiếp tục kháng chiến.  

Đồng Khánh là vua “rửa tội” đầu tiên không còn sợ chết về tội “Tam Bang Triều Điển” theo di chiếu của vua Tự Đức. Đồng Khánh còn là vua rửa tội đầu tiên đập phá chùa để xây nhà thờ lên trên. Đồng Khánh còn hợp tác với Ngô Đình Khả (cha của Ngô Đình Diệm) và Nguyễn Hữu Bài, là những con chien tuyệt đối trung thành với Vatican và Pháp.

Đồng Khánh là vua “rửa tội” đầu tiên của một loạt vua rửa tội sau khi vua Hàm Nghi chạy vào chiến khu Tân Sở, tung ra hịch cần vương kêu gọi toàn dân đứng lên chống Pháp. Theo sử gia Phạm Văn Sơn, con cháu Tự Đức phải “rửa tội” mới được lên làm vua. Khi chế độ quân chủ cáo chung, Diệm và Thiệu là hai tổng thống “rửa tội” sau cùng. 

BẢY CON DÊ TẾ THẦN TRIỀU NGUYỄN

Thành Thái có ý chống Pháp, nhưng sớm bị bại lộ. Vua Duy Tân (con của Thành Thái) được cụ Phan Bội Châu móc nối vào tổ chức Quang Phục Hội, nhưng việc cũng bại lộ, đưa tới một số người bị chết chém. Dù sao, Thành Thái và Duy Tân vẫn còn y nguyên là “vua rửa tội.

Thiệu gốc “Đạo Phật” học chưa hết lớp đệ tứ bậc trung học. Khi Pháp trở lại Đông Dương năm 1945, Thiệu gia nhập “lính khố đỏ.” Khi lên làm tổng thống, Thiệu được rửa tội. Mỗi lần ghé thăm Giáo Hoàng, Thiệu luôn được giáo Hoàng cắt đặt trực thăng đưa rước trọng hậu.

Vỡ bi kịch “vua rửa tội” của con cháu nhà Nguyễn bắt đầu từ ngày 19 tháng 7 năm 1883 (ngày vua Tự Đức mất), và kéo dài cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 (ngày Việt Nam hoàn toàn giải phóng) tức là gần 100 năm. Nếu chúng ta không chịu khó sưu tầm và làm sáng tỏ những trang bi kịch lịch sử này, chúng ta cũng sẽ đáng tội với với các bậc tiền nhân, những người đã có công dựng nước và giữ nước…

Sau năm 1945, chỉ còn một số rất ít người Quốc Gia, như nhóm của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, và vài đảng phái khác… Những người như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu… cũng tự xưng là người Quốc Gia nhưng họ không phải là người Quốc Gia!.. Một đoạn trong tác phẩm Hoa Sen Trong Biển Lửa của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh viết:   

Các chính phủ "Quốc Gia" dưới thời của Quốc Trưởng Bảo Đại cũng tuyên truyền chống Cộng, nhưng sự tuyên truyền không có hiệu lực, bởi vì quần chúng không thể tin một điều gì do người Pháp và chính quyền bù nhìn của họ nói ra. Tất cả những gì họ làm, họ nói, trong ý niệm của quần chúng, đều là trái chống quyền lợi dân tộc Việt Nam. Quần chúng không thể tin được lời của những người đang cố tình xâm lấn đất nước Việt Nam, đang bắn phá, tàn sát, đốt nhà và khủng bố người Việt, dù lời nói đó là lời chống Cộng. Các chính quyền quốc gia thời đó cũng không có một uy tín nào đối với quốc dân. Họ được thực sự coi là tay sai của Pháp, và họ đã thất bại trong việc gây ý thức chống Cộng trong quần chúng. Thế lực Cộng Sản, trong khi đó, nương tựa đồng nhất vào tinh thần kháng chiến yêu nước, đã trưởng thành thật mau chóng và tìm được chỗ đứng rất vững chãi. Đến cuối năm 1953, Việt Minh đã kiểm soát được ba phần tư miền Bắc Việt Nam và một phần ba miền Nam Việt Nam. Ngày 7-4-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, và người Pháp không thể tiếp tục chiến tranh nữa.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh (HOA SEN TRONG BIỂN LỬA)

Sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống “rửa tội.” Thiệu cũng lập lại y hệt “khủng bố Phật Giáo dưới thời Ngô Đình Diệm.” Vài chục Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh bị đem ra bờ sông bắn giết. Nhiều quả lựu đạn cũng được ném vào trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhiều Phật Tử vẫn tiếp tục bị kỳ thị, và những cuộc tự thiêu cũng vẫn tiếp tục xảy ra, trong đó có cuộc tự thiêu của chị Nhất Chi Mai, một thành viên nồng cốt của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.  

Tổ chức POW/MIA của Mỹ vẫn còn giữ được vài tấm hình luân lưu trên internet cho thấy quang cảnh một thanh niên phụng sự xã hội Làng Mai bị Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh treo cổ một cách tàn nhẫn. Mong có ai đó nhận diện được người bị treo cổ trong bức hình…

Với hiện tượng “bảy vua và tổng thống rửa tội” căn cứ vào bộ sách Việt Sử Tân Biên của sử gia Phạm Văn Sơn, chúng ta chắc chắn sẽ tìm ra được sự thật về thực chất của “cuộc chiến tranh mọi rợ” vừa qua.”

Chuyện treo cổ con người đối với người Ca-thô-líc có lẽ là chuyện bình thường. Tại Âu châu, Ca-thô-líc từng là một “tôn giáo ăn thịt người!..” Món ăn họ thích nhất là thịt phụ nữ Tin Lành nướng rô-ti. Họ thích mổ bụng móc bào thai đàn bà chửa Tin Lành liệng ra ngoài. Nắm hai chân xé xác đứa bé thành hai mảnh. Thọc huyết trẻ em Tin Lành như thọc huyết heo… Đây là một trong hàng trăm bằng chứng.

Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Waldensians

 

1-16 trong 292 kết quả các quyển sách viết về "Lịch sử những người Waldenses bị hành huyết"

Duyên Sinh

 

Nguồn:

- 1655: Massacre of Waldensians

- The massacres against Waldensians

- Sách Lịch sử hành hình ở Cabrières và Mérindol, và những nơi khác ở Provence (bản tiếng Pháp) cũng có bán trên Amazon:

Histoire de l'exécution de Cabrières et de Mérindol, et d'autres lieux de Provence (French Edition)

MỤC SƯ MARTIN LUTHER KING JR. & THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH

Vì thù hận Ca-thô-líc Pháp ăn thịt phụ nữ Tin Lành Hà Lan, người Tin Lành Hà Lan đã cho Nhật thuê tàu chiến hạng nặng đánh tan tành 30 ngàn quân Ca-thô-líc Dòng Tên mang các hiệu kỳ Giêsu, Maria, và St. Iago trên các hòn đảo của Nhật. Rất tiếc những người Việt Nam vài trăm năm trước không học được bài học này từ người Nhật.

Nếu lúc đó Việt Nam biết kêu gọi tới Hà Lan, chắc chắn Tin Lành Hà Lan cũng sẽ đánh Ca-thô-líc Pháp một trận nhừ tử giống như họ từng giúp Nhật Hoàng đánh Ca-thô-líc Pháp một trận nhừ tử lần thứ nhất.

Cũng giống như vậy đối với người Thái Lan. Nếu người Nhật biết mượn bàn tay của người Tin Lành Hà Lan để đánh Ca-thô-líc Pháp, thì người Thái cũng đã biết mượn bàn tay của người Tin Lành Hà Lan, đánh người Ca-thô-líc Pháp một trận nhừ tử lần thứ hai.

Tiếc thay Việt Nam vẫn chưa học được bài học của người Thái, phải đợi gần 100 năm sau (thập niên 1970), Thiền Sư Thích Nhất Hạnh mới có cơ hội kêu gọi Tin Lành Mỹ là Mục Sư Martin Luther King Jr… King mang tới hàng triệu người Mỹ biểu tình chống chiến tranh Việt Nam.

https://www.youtube.com/watch?v=C3_0GqPvr4U

Mid-Way là tên một hòn đảo của Nhật. Mỹ bắt đầu đóng quân trên đảo Mid-Way sau Thế Chiến II. Thiệu được Nixon rước tới đảo Mid-Way bằng máy bay của Nixon để hội kiến. Kết quả là Mỹ trả chiến tranh Việt Nam lại cho Thiệu, buộc Thiệu phải chấp nhận vô điều kiện.

https://www.youtube.com/watch?v=iamwpF-HIdc

Tại Sài Gòn, báo chí bị đóng của vì có người dám nói lên sự thật.

https://www.youtube.com/watch?v=IaQJchrTTp8

Vatican lúc nào cũng rất “cưng” Thiệu. Mỗi lần đi Âu châu, Thiệu đều ghé thăm Vatican. Vatican lúc nào cũng chu đáo cắt đặt máy bay trực thăng đón rước vợ chồng Thiệu một cách trọng hậu.

https://www.youtube.com/watch?v=rHFojEeS8ME

Sau khi viết xong bài này, bổng dưng tôi thấy thích lập lại thêm một lần nữa lời mở đầu của Avro Manhattan:

Mỹ bị mất hết thể diện trên thế giới. Tại sao vấn đề lại được nêu lên thêm một lần nữa? Bởi vì “Chiến Tranh Việt Nam thật ra là Chiến Tranh Tôn Giáo.” Một cuộc chiến kích động do Vatican, một tên điếm trong Sách Khải Huyền chương 17 và 18.

Avro Manhattan, Vietnam: Why did we go? Trang 3

_______________

GHI CHÚ:

1. Bài này viết dựa trên bộ sử 7 cuốn của cố Đại Tá Phạm Văn Sơn, Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa xuất bản làm nhiều lần từ năm 1956 tới năm 1972. Đặc điểm của bộ Việt Sử Tân Biên là dựa vào rất nhiều tài liệu lịch sử Tây Phương, mà sách vở của triều Nguyễn không có.

2. Trang thenazareneway.com: The Jesuit Order

Lời thề Dòng Tên trên đây được “chép” từ Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ.

3. Một số các vấn đề liên quan có thể tìm thấy trong trang en.wikipedia.org về đề tài "Liên Quan Giữa Pháp và Việt Nam": Trang en.wikipedia.org: France–Vietnam relations

4. Một số hình ảnh ăn thịt người có thể tìm thấy do tìm kiếm trên google cho các từ khóa như sau: massacre of waldensians in piedmont

5. “BẢY CON DÊ TẾ THẦN” cũng có thể đọc trên link của Duyên Sinh, “BẢY CON CHIEN TẾ THẦN.” (https://1drv.ms/f/s!AmsM4ESg6c3b12gy3BCouKKXP2Lz)