Tản Mạn Xung Quanh Vụ Ông

"Tổng Kiệt Nhục Nhã" Ra Đi

Trần Chung Ngọc

22 tháng 5, 2010

Một câu hỏi, tại sao các nước lại có quan hệ ngoại giao với một giáo hội, thật là lố bịch, phí thời giờ, năng lực và tiền bạc, để dùng cho các việc khác tốt hơn. [One question, why do countries have diplomatic relations with a church, it is ridiculous, it is a waste of time, energy and money that could be better spent on other things. http://news.yahoo.com/s/ap/20100511/ap_on_re_eu/eu_portugal_pope ]

Tổng Kiệt Nhục Nhã” là danh hiệu người dân Việt Nam, trừ đám giáo dân nô lệ cuồng tín (vì cũng có những giáo dân yêu dân yêu nước) tặng cho Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt sau khi ông ta tuyên bố cùng thế giới là “Cảm thấy nhục nhã khi mang hộ chiếu Việt Nam”. Câu này tương đương với câu của ông Tổng Quỳnh: “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”, trong tâm cảnh của một con dân nước Chúa. Sau khi ra đi, hi vọng ông Tổng Kiệt được mang hộ chiếu “không nhục nhã” của Vatican dù rằng Vatican “đang phải đối diện với sự nhục nhã” của cả giáo hội qua những vụ loạn dâm và ấu dâm của giới chăn chiên đang bị phanh phui ra hàng ngày trên khắp thế giới.

Sự ra đi của ông Tổng Kiệt đã có những ảnh hưởng gì trên nội bộ của Ca-tô Rô-MaGiáo [Công giáo] ở Việt Nam? Và tại sao ông Tổng Kiệt phải ra đi trong đêm tối, không kèn không trống? Mà lại được chiếu khán nhập nội khẩn cấp (24 tiếng) để đi qua Mỹ chứ không qua Vatican ?. Đọc những bình luận trên Internet về vụ ông Tổng Kiệt ra đi, tuyệt đại đa số là của các giáo dân, chúng ta thấy một hiện tượng chưa từng thấy trong nội bộ Ca-tô Giáo ở Việt Nam, một tổ chức tôn giáo nổi tiếng là thuần nhất từ trên xuống dưới, tuyệt đối tuân theo “đức vâng lời” của giáo hội. Đó là sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ, hơn nữa có thể coi như là một cuộc cách mạng để ra khỏi ngục tù tâm linh và xiềng xích quản lý của Vatican.

Lễ mừng Phó Tổng Giám Mục ở nhà thờ lớn ngày 07 tháng 5, 2010

Trước hết chúng ta hãy điểm qua một số phản ứng của giáo dân, từ các linh mục tới các trí thức Ca-tô cùng dân thường.

- Quyết định sai lầm của người đứng đầu nhà nước Vatican [Giáo hoàng] đã gây hậu quả gì ?... Như vậy là niềm hy vọng mong manh của giáo dân Công Giáo trong và ngòai nước đã tan theo mây khói, thay vào là nỗi thất vọng ê chề và sự phẫn nộ tột cùng, sau khi nguời đứng đầu nhà nước Vatican là Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 quyết định vào ngày 13-5-2010 tuần qua, chấp nhận sự từ chức của Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Tổng Giáo phận Hà Nội, vì lý do sức khỏe mà ai cũng hiểu đó chỉ là lý do giả tạo. Quyết định này đã cho thấy có sự nhượng bộ của nhà nước Vatican, sẵn sàng hy sinh những tôi trung của Giáo hội, bỏ rơi đòan chiên, để đổi lấy lợi ích nào đó, tỷ như để thiết lập được quan hệ ngọai giao chính thức với nhà nước cộng sản vô thần Việt Nam, để có những ưu quyền đặc lợi trần thế do chế độ dành cho.

- VietCatholic đã nhận được một tin rất buồn: Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt của tổng giáo phận Hà Nội sẽ không còn giữ chức vụ chủ chăn của tổng giáo phận trong vài ngày tới đây. Tin này sẽ được chính thức công bố trong những ngày sắp tới.

Đứng trước một trang sử đau thương của Giáo Hội Việt Nam, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy dành những phút giây này để suy tư về cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá hơn 2000 năm trước đây… Trước sự kiện đang xẩy ra tại tổng giáo phận Hà Nội, dù chúng ta không hiểu được hết những khía cạnh nội bộ trong Giáo Hội về sự thuyên chuyển đang xẩy ra, nhưng đau thương, thất vọng, bất mãn và nuối tiếc là có thật. Từ đó, chúng ta cũng cảm nghiệm được những cách hành xử vì thiếu minh bạch, thiếu sự cởi mở, không biết lắng nghe, không thông tin đầy đủ từ những người có trách nhiệm đã tạo ra sự phân hóa và làm mất đi niềm tin tưởng lẫn nhau như thế nào. Chúng ta đau đớn là điều dễ hiểu. Chúng ta chán nản là lẽ đương nhiên.

- Một nhóm giám mục trong HĐGM Việt Nam và một vị hồng y, cùng với một đức ông người Việt tại bộ Ngoại Giao Vatican đã thương thảo với chính quyền Việt Nam để cùng tác động khiến Đức Giáo Hoàng Biển Đức có những quyết định gây đau đớn cho đồng bào Công Giáo Việt Nam.

- Tính đến giờ phút này thì kết quả cuộc can thiệp của chính quyền vào việc bổ nhiệm đến tầm cao cấp của giáo hội Việt Nam đã có kết quả hiển nhiên. Thông tấn xã Việt Nam khẳng định sức mạnh “tuyệt đối’’ của chính quyền chắc nịch: “Được sự đồng ý của chính phủ Việt Nam... đã bổ nhiệm…”.

- Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt không đi chữa bệnh mà đã bị nhà cầm quyền Hà Nội trục xuất ra khỏi Việt Nam. Tôi khẳng định như thế. Số phận ông cũng giống như tình cảnh Hồng y Nguyễn Văn Thuận trước đây mà thôi.

- Thực tế mà nói, công việc của ông Nhơn tại giáo phận Hà Nội sẽ thuận buồm xuôi gió theo tinh thần chủ bảo tớ nghe, răm rắp đâu vào đó bất kể dân theo đạo nghĩ gì, mong muốn gì. Dám ông trở thành thứ mục tử lạc loài, chăn chiên mà không có chiên để chăn?

- Giáo dân nói chung thì họ không nắm vấn đề lắm. Họ bị chi phối bởi truyền thông rất nhiều. Truyền thông có khi chỉ một chiều, ngay cả giới linh mục người ta cũng hoang mang, không biết thật hư như thế nào. Nó tạo ra sự phân hóa hay hình thức hận thù nào đó đối với những nhân vật đang còn phục vụ giáo hội Việt Nam.

- Mới đây, trong cuộc lễ đón Đức TGM Phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn, một số chủng sinh, linh mục đã được lùa ra làm bảo vệ để tịch thu, giằng co và gây mâu thuẫn với giáo dân. Tình nghĩa giáo dân và hàng giáo phẩm đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi hành động này. Thậm chí, một vài linh mục đã có những hành động không mấy đẹp trước con mắt giáo dân, vì vậy hai bên giáo dân thì gọi linh mục là cộng sản, và ngược lại linh mục cũng coi giáo dân là “cộng sản”. Đây là sự thật đau lòng.

- Là một Linh-mục, tôi cảm thấy xót xa cho sự phân rẽ quá mức, mà đáng lẽ chẳng nên chút nào trong Giáo Hội vốn phải luôn Yêu thương và Đoàn Kết. Nếu tôi là một người ngoài cuộc hay là người không thích hoặc chỉ muốn triệt phá Giáo Hội Công Giáo, chắc hẳn tôi sẽ mở tiệc ăn mừng vì thấy “tự dưng chúng nó xâu xé lẫn nhau”!

- Cũng chính vì có chuyện hàm hồ, lẫn lộn giữa đạo với đời mà nhiều giáo dân rất khổ tâm mỗi khi thấy Giáo Hoàng và hàng giáo phẩm bị phê bình, chỉ trích. Họ vẫn sợ rằng: "Chống Cha là chống Chúa!" Nhưng thực sự, họ đã lầm! Cha không bao giờ là Chúa. Và ngàn lần Chúa cũng không thể là Cha. Quốc trưởng Vatican mặc cả, đổi chác quyền lợi với CSVN mà sai lầm, tạo cơ hội truyền hơi tiếp sức cho CSVN, làm khổ người dân VN thì tại sao giáo dân VN lại phải tung hô Vatican?

Trên đây chỉ là một số ý kiến điển hình, còn có hầm bà lằng rất nhiều ý kiến khác, có người còn trích dẫn lõm bõm mấy câu trong Kinh Thánh ra dạy Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng như huênh hoang cho rằng Ca-tô Rô-Ma Giáo là một “Hội Thánh” thánh thiện do Chúa thiết lập.

Bên ngoài nhà thờ: nhóm giáo dân biểu tình ủng hộ TGM Ngô Quang Kiệt,
và các chủng sinh tìm cách dẹp những tấm ảnh

 

Bây giờ chúng ta hãy trở lại câu hỏi: tại sao ông Tổng Kiệt phải ra đi?

Trên các diễn đàn điện tử, chúng ta thấy có hai cách giải thích: giải thích thần học của Ca-tô Rô-MaGiáo [Công giáo] và giải thích thế tục. Giải thích thần học dựa trên những điều hoang đường để cho những người cả tin mê tín. Còn giải thích thế tục dựa trên hiện thực xã hội.

Giải Thích Thần Học:

“Tổng Kiệt Nhục Nhã” phải ra đi vì Tòa Thánh muốn thế. Tòa Thánh muốn thế tức là “Đức Thánh Cha” (sic) muốn thế, mà “Đức Thánh Cha” muốn thế nghĩa là Chúa muốn thế, vì Đức Thánh Cha là người kế vị tông đồ đánh cá Phê-rô, mà Phê-rô là người được Chúa giao cho nhiệm vụ đứng đầu giáo hội Ca-tô, do đó Đức Thánh Cha là đại diện của Chúa trên trần (Vicar of Christ), ý muốn của Đức Thánh Cha là ý muốn của Chúa.

■ Nguyễn Văn Lục [không đồng ý]: Theo ngôn ngữ của một người theo đạo thuần thành thì mọi chuyện xảy ra đúng như ý Chúa định.

■ Linh mục Peter Hoàng Omi [mê sảng]: Nếu chúng ta có một đức tin mạnh mẽ vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa thì chúng ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả những sự kiện xảy ra trong đời ta và trong Giáo Hội. Quí anh chị em nên biết một điều là chẳng có gì xảy ra ngoài sự xếp đặt trong Tình Yêu Quan Phòng của Thiên Chúa. Chẳng có thế lực trần gian nào có thể lèo lái Thiên Chúa theo ý của mình được! Nhất là Giáo Hội được Chúa Giêsu thiết lập thì chẳng có quyền lực trần gian hay ma quỉ nào có thể phá nổi... Thiên Chúa có chương trình cho mỗi người và mỗi dân nước, và chương trình của Thiên Chúa thì tuyệt hảo.

■ Giuse Trần văn Chơn (thuộc thế kỷ 17): Mọi việc của Giáo Hội đã có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối. Các Đấng cầm quyền trong Giáo Hội đều nhận ơn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt. Hãy cứ vâng lời và tuân phục, vì Chúa đã chọn các ngài thì Chúa dẫn đường cho các ngài.

■ Giám mục Nguyễn Chí Linh (thuộc tuyệt đại đa số hàng Giáo phẩm Ca-tô Việt Nam): Nhưng đối với chúng tôi là giám mục, điều quan trọng nhất là dù Đức Giáo Hoàng có bổ nhiệm ai đi nữa thì chúng tôi cũng có nghĩa vụ phải duy trì tình hiệp thông trong giáo hội. Cho nên tôi nghĩ cần phân biệt dư luận, truyền thông và tinh thần. Chúng tôi quan tâm nhất tới vấn đề tinh thần. Truyền thống lâu đời của giáo hội Công giáo là tuân phục sự bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Trên hết mọi sự, đối với chúng tôi, ý kiến riêng phải nhường chỗ cho tinh thần vâng phục và tình hiệp thông.

Như trên đã nói, những giải thích thần học hoang đường như trên chỉ để cho những người cả tin, mê tín, không bao giờ cần dùng đến đầu óc của mình. Thật vậy, thuyết “giáo hội Ca-tô Rô-ma do Chúa thiết lập và trao quyền cho các tông đồ kế vị” và “mọi việc của Giáo Hội đã có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối” chỉ là những điều ngụy tạo của giáo hội để dễ bề ngự trị trên đám tín đồ mê mẩn về một cái bánh vẽ trên trời [A-pie-in-the-sky] mà giáo hội bày đặt ra để khuyến dụ tín đồ. Tín đồ Việt Nam thường nhắc đến câu ngụy tạo trong Tân Ước: “Phêrô, con là đá, trên viên đá này Ta xây giáo hội của Ta tồn vững muôn đời”,Không có điều gì phá hủy được Hội Thánh Chúa''(Mt. 16, 18)], và câu hứa hẹn suông của Giê-su: “Ta sẽ ở với các người cho đến ngày tận thế”(Mt 28,20), và từ đó sống trong sự chờ đợi với tất cả hi vọng sẽ được hưởng nhan thánh Chúa, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, vào ngày tận thế. Nhưng có thật là Giê-su xây giáo hội trên viên đá Phê-rô không, và ngày tận thế là ngày nào? Tân Ước đã viết rõ:

Matthew 16: 27-28: “Ta (Con của Người: Giê-su) sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của Cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta cho các con biết: một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy ta vào trong Nước ta”.

Matthew 24:34: “Ta quả quyết, thời đại này chưa chấm dứt, các biến cố ấy đã xảy ra rồi”

Mark 9: 1: Chúa bảo các môn đệ: “Ta cho các con biết, một vài người đang đứng đây sẽ còn sống cho đến khi nhìn thấy nước trời thiết lập với uy quyền vĩ đại

Mark 13:30: “Ta quả quyết, thế hệ này chưa qua đi thì các biến cố đó (các biến cố xung quanh ngày tận thế và sự trở lại của Giê-su. TCN) đã xảy ra rồi”.

Luke 21: 27, 32: Bấy giờ nhân loại sẽ thấy ta giáng xuống trong mây trời với vinh quang và uy quyền tuyệt đối.. Ta quả quyết: thế hệ này chưa qua, các biến cố ấy đã xảy ra rồi”.

John 14: 3: Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi.”

Vì vậy, tuyệt đại đa số các học giả nghiên cứu Tân Ước ngày nay, ở trong cũng như ở ngoài Ca-tô Rô-MaGiáo [Công giáo], kể cả những nhà thần học nổi tiếng trong Ca-tô Rô-MaGiáo, đều kết luận rằng: “Chúa Giê-su tin rằng ngày tận thế đã gần kề, ngay khi một số tông đồ của ông ta còn sống, cho nên không bao giờ có ý định thiết lập một giáo hội như Ca-tô Rô-MaGiáo với Phê-rô là người kế vị Chúa” [Xin đọc các nhà thần học Ca-tô như Hans Kung trong Christ Sein (1976), p.338-339, Uta Ranke-Heinemann trong Putting Away Childish Things, Harper-Collins., San Francisco, 1995, p. 217, Linh mục Joseph McCabe trong “The Truth About The Catholic Church”, học giả Ca-tô Joseph L. Daleiden trong “The Final Superstition”, Prometheus Books, New York, 1994, p. 83].

Gần đây, theo VietCatholic News (15 May 2010 08:19) thì giáo hoàng Benedict XVI đã đoan chắc với con chiên rằng: "Sự Phục Sinh vinh hiển của Đức Chúa Giêsu Kitô bảo đảm cho chúng ta rằng – sẽ không có quyền năng thù địch nào có thể phá hủy được Hội Thánh của Chúa."

Nhưng phiền một điều là, qua các tài liệu ở trên, trong Tân Ước cũng như của các học giả Ca-tô, “Hội Thánh Chúa” đâu có phải là do Chúa thiết lập mà chỉ là sự ngụy tạo của giáo hội thế tục, do đó chính những vụ tai tiếng trong giáo hội đã đang dần dần phá hủy “Hội Thánh Chúa” do giáo hội dựng ra. Sự suy thoái trầm trọng của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Âu Châu và khắp nơi trên thế giới đã nói rõ hơn gì hết sự tự phá hủy của giáo hội. Lời tuyên bố như trên chỉ là để chống đỡ một cách yếu ớt của giáo hoàng vì ông ta hoảng sợ trước phong trào chống những tệ nạn của Ca-tô Rô-MaGiáo đang lan tràn trên thế giới nên phải trấn an những con chiên vốn chưa thoát khỏi bản chất của con chiên. Hơn nữa, trừ các tín đồ Ca-tô thấp kém thường xuyên bị mê hoặc bởi các bậc chăn chiên bất lương trí thức, ngày nay chẳng còn mấy người, kể cả những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo, còn tin vào cái gọi là “phục sinh vinh hiển” của Giê-su.

Thật vậy, phục sinh vinh hiển của Giê-su dính liền với một nơi gọi là thiên đường mà ông ta tự bay lên đó và ngồi bên, hay trên (on), tay phải của Chúa Cha, và cứ ngồi trốn trên đó đã gần 2000 năm nay, vì các tín đồ, nhất là tín đồ Việt Nam, nghe lời xúi dại của các bề trên, vác búa, kìm và xà beng đi cầu nguyện xin-cho, nhưng ông ta đã trả lời bằng sự im lặng và tiếp tục trốn trên thiên đường. Nhưng khổ thay, Giáo hoàng John Paul II lại thú nhận là chẳng làm gì có thiên đường trên các tầng mây. Do đó chuyện phục sinh vinh hiển trở thành một chuyện tiếu lâm hoang đường mà các tín đồ vẫn tiếp tục tin như là một chuyện thật và Giáo hoàng đương đại vẫn mang ra để trấn an con chiên mà không biết ngượng..

Thật vậy, những chi tiết trong 4 Phúc âm về chuyện “phục sinh” của Giê-su có quá nhiều mâu thuẫn đối ngược hẳn nhau, điều này chứng tỏ cả 4 Phúc âm chẳng qua chỉ là tác phẩm của 4 người diễn giải sự việc theo lời đồn đại khác nhau trong dân gian và theo niềm tin riêng của mình. Nhiều học giả nghiên cứu thánh kinh đã khám phá ra rằng mỗi tác giả của 4 Phúc âm đều có mục đích riêng khi viết chuyện giả tưởng về sự “phục sinh” của Giê-su.

Những cuốn phân tích kỹ lưỡng nhất về những vấn đề ai là tác giả 4 Phúc âm, viết với ý định gì, tài liệu lấy từ đâu và lấy như thế nào v..v.., có thể nói là những cuốn Ai Viết Những Phúc Âm? (Who Wrote The Gospels?) của Randel McGraw Helms Giáo sư đại học Arizona State University, Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things) của Giáo sư Thần học Uta Ranke-Heinemann, Hãy Cứu cuốn Thánh Kinh Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing The Bible From Fundamentalism) của Giám mục John Shelby Spong, và Năm Phúc Âm: Đích Thực Giê-su Nói Gì? (The Five Gospels: What Did Jesus Really Say?) của The Jesus Seminar. Tất cả đều bác bỏ chuyện “phục sinh” của Giê-su, cho đó chỉ là một “huyền thoại phục sinh” trong vô số các “huyền thoại phục sinh” trong dân gian.

Lẽ dĩ nhiên, các “cha nhà thờ” không bao giờ nhắc đến hay giảng những câu trong Tân Ước chứng tỏ Giê-su không bao giờ có ý định thiết lập một giáo hội như giáo hội Ca-tô, và nhất là câu hứa hão của Giê-su trong Tân ước cho các con chiên, cho nên đối với các con chiên thì Đức Thánh Cha vẫn là “đại diện của Chúa” và các “cha nhà thờ” vẫn là các “Chúa thứ hai” (Alter Christus), kể cả trên 5000 “cha nhà thờ” can tội loạn dâm và ấu dâm, và suốt 2000 năm nay, các con chiên, từ thế hệ này sang thế hệ khác, vẫn kiên nhẫn đợi chờ ngày tận thế với hi vọng được Chúa Giê-su giáng trần lần thứ hai và bốc họ lên một thiên đường chỉ có trong niềm hoang tưởng của các nhà truyền giáo.., vì như trên đã nói, chính Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận trước thế giới là “chẳng làm gì có thiên đường trên các tầng mây”. Thật là tội nghiệp.

Chúa Thánh Thần nguyên thủy chỉ là một con “Ma Thánh” [Holy Ghost]. Hiện nay, thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy các tín đồ Ki Tô dùng từ Holy Ghost. Về sau Ca-tô Rô-MaGiáo đổi thành Holy Spirit và người Ca-tô Việt Nam gọi là Chúa Thánh Thần hay Thánh Linh, tuy chẳng có ai biết đó là cái gì. Giáo hội dạy, và con chiên tin, là giáo hội luôn luôn được Chúa Thánh Thần, một cái hồn ma mà theo Tân Ước, nhiệm vụ duy nhất trên đời là xâm phạm tiết hạnh của một trinh nữ đã hứa hôn, làm cho bà ta có mang rồi đẻ ra Chúa Giê-su, soi đường chỉ lối.

Nhưng Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối làm sao mà giáo hội lại phạm phải 7 núi tội ác đối với nhân loại đến nỗi, không thể che dấu được nữa, Giáo hoàng John Paul II đành phải ra trước quảng trường Phê-rô ngày 12/3/2000, xưng thú cùng thế giới 7 núi tội ác của giáo hội. Chúa thánh thần soi đường chỉ lối làm sao mà giáo hội có đến hơn 5000 “Chúa thứ hai” bị truy tố về tội loạn dâm và ấu dâm, một số đang ngồi đếm lịch trong tù, trên 10,000 con em của giáo hội là nạn nhân của các Chúa thứ hai. Hơn nữa, Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối ra sao mà trong quá khứ không ít các “đại diện của Chúa” can tội loạn dâm, loạn luân, giết người và làm đủ mọi tội ác, và hiện nay bộ mặt của “đại diện Chúa” (Vicar of Christ) đương đại đang bị lem luốc trước thế giới về tội bảo vệ bao che các giám mục, linh mục loạn dâm. Trong khi đó thì ở Đông Phương, Tam Giáo: Thích, Nho, Lão, không có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối, cho nên không hề phạm phải bất cứ một tội ác nào của Ca-tô Rô-MaGiáo. Thế này là thế nào? Các bậc chăn chiên và các trí thức Ca-tô giải thích sự khác biệt trên cho dân ngoại đạo chúng tôi ra sao nghe cho thuận tai đây?

Vai trò của “đại diện Chúa” và các “Chúa thứ hai” là do nền thần học, mà cũng chẳng phải là thần học, mà thật ra chỉ là những điều Giáo hội dựng lên để mê hoặc và nhốt con chiên vào một ngục tù tâm linh qua “đức vâng lời” với hi vọng được các “bề trên” cho lên thiên đường sau khi chết để sống cuộc sống đời đời bên thánh nhan của Chúa. Vì tín đồ Ca-tô không thể tự mình hiệp thông với Chúa mà phải qua ngả Vatican cho nên Giáo hội đã bày đặt ra cái gọi là “vạ tuyệt thông”, treo trên đầu con chiên để thuần hóa con chiên bằng một sự hù dọa là nếu trái ý Vatican thì Vatican sẽ bị khai trừ khỏi giáo hội, và như vậy thì con đường hiệp thông với Chúa bị cắt đứt. “Vạ tuyệt thông” đã là một đòn phép của Giáo hội để chống Cộng trước đây, và theo Tiến Sĩ Ca-tô Trần An Bài thì nay vẫn còn hiệu lực. “Vạ tuyệt thông”, theo nhận định của Linh mục James Kavanaugh thì như sau:

“Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo.. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành. Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

(...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity. They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.)

Giải thích thế tục:

Giải thích thế tục dựa trên những hiện thực xã hội. Vì những hiện thực xã hội bao trùm mọi hình thái sinh hoạt của người dân không phân biệt tôn giáo, nên chúng ta thấy có rất nhiều giải thích khác nhau. Đúng là một cuộc cách mạng ly khai Vatican, ít ra là trên hình thức, vì cái motto cổ xưa của Vatican: “Roma Locusta, Causa Finita” [Rô-ma đã nói thì vấn đề coi như xong, khỏi bàn cãi] không còn áp dụng được với một số giáo dân Việt Nam nữa. Giáo dân Âu Mỹ đã coi câu trên như không có từ lâu rồi. Thật vậy, việc Giáo hoàng chấp thuận “đơn từ chức” của ông Tổng Kiệt và bổ nhiệm TGM Nguyễn Văn Nhơn thay thế vị thế Tổng Giám Mục giáo phận Hà-Nội đã gây lên một làn sóng công phẫn trong phe ủng hộ hành động huy động đàn bà, con nít tranh đấu cho dân chủ với búa, kìm, và xà beng ở Tòa Khâm Sứ của ông Kiệt. Và các giáo dân trong phe này không tiếc lời lên tiếng sỉ vả Giáo hoàng và Vatican. Thật là chuyện động trời. Chúng ta hãy điểm qua vài dư luận thuộc loại này.

■ Tiến sĩ Trần An Bài (vạ tuyệt thông vẫn còn hiệu lực):

Giáo Hoàng không nên mang hai bộ mặt cùng một lúc: Hãy bỏ bộ mặt chính trị Quốc Trưởng đi, và chỉ nên giữ lại bộ mặt đạo đức Giáo Chủ Đạo Công Giáo. Đạo Giáo thì tốt lành và thánh thiện. Còn chính trị thì lừa lọc và thế tục.

Bộ mặt Giáo Hoàng là bộ mặt đạo đức, bộ mặt nguyên thủy, bộ mặt chân thật, chất phác của ngư phủ Phêrô. Còn bộ mặt Quốc Trưởng Vatican là bộ mặt tô son trát phấn, lòe loẹt, giả tạo và rỗng tuếch!

Tiến sĩ Trần An Bài không biết rằng, không theo sự an bài của “Đức Thánh Cha” là cũng bị vạ tuyệt thông đấy, không nhất thiết phải là theo CS. Đề nghị Tiến sĩ Trần An Bài “ban vạ tuyệt thông” cho Giáo hoàng vì chính Giáo hoàng cũng thân Cộng và giúp Cộng để đuổi ông Tổng Kiệt đi.

■ Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế (Geneva, 02.05.2010):

CHÚNG TÔI, GIÁO DÂNVN PHẢN ĐỐI VATICAN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỘC ĐOÁN TÒNG PHẠM VỚI TỘI ÁC CSVN.

Câu trên có vẻ như muốn nói “tất cả giáo dân VN” đều phản đối Vatican về việc bổ nhiệm TGM Nguyễn Văn Nhơn thay thế TGM Ngô Quang Kiệt ở Tổng Giáo Phận Hà Nội. Nhưng có thật như vậy không?

Giáo sư Tiến sĩ Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên còn dạy Giáo sư thần học Benedict XVI về thế nào là “Phúc Âm” trong đoạn sau đây:

Nhờ việc tuyên bố mới đây nhất của hai Giám mục Việt Nam mà Giáo dân khám phá ra rằng Vatican quả thực đã độc đoán can thiệp vào nội bộ Giáo Hội Việt Nam, nhất là vào việc làm suy giảm ĐỨC TIN và LƯƠNG TÂM Giáo dân theo sự chỉ dậy của Phúc Âm. Vatican không thể đứng trên Phúc Âm của chính Chúa Giêsu. [Excommunicate the Pope]

Chắc Giáo sư Tiến sĩ Kinh Tế Nguyễn Phúc Liên không hề biết rằng từ xưa tới nay Vatican không bao giờ can thiệp vào nội bộ Giáo Hội Việt Nam mà chỉ … ra lệnh cho Giáo Hội Việt Nam và Giáo Hội Việt Nam cứ việc cúi đầu tuân theo, cho nên mới viết nhảm như trên. Về vụ Tòa Khâm Sứ trước đây, ông Tổng Kiệt cương quyết chống chính quyền, đòi đất đến hơi thở cuối cùng, sẵn sàng đi tù hay tử vì đạo, bất kể đến những khuyến cáo hợp lý của chính quyền và sự phản đối của nhân dân quanh vùng, nhưng chỉ với vài lời ra lệnh của Hồng Y Bertone ở Vatican thì ông Tổng Kiệt đã không có cách nào chống lại như đã chống chính phủ Việt Nam, và phải dẹp màn cầu nguyện hiệp thông, nhổ đi cây thập ác trước đã cắm bậy, dỡ lều trước đã dựng trái phép, cất bỏ tượng Đức Mẹ đặt bừa trong khuôn viên Tòa Khâm Sứ, lủi thủi quay về ổ một cách không kèn không trống, cũng đủ cho chúng ta thấy tinh thần nô lệ tuyệt đối vâng phục của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đối với lệnh của Tòa Thánh. Roma Locusta, Causa Finita !

Cấu trúc của giáo hội Ca-tô Rô-MaGiáo bản chất là toàn trị, phản dân chủ. “Đức vâng lời” trong giáo hội khẳng định mọi giới trong giáo hội phải tuyệt đối vâng lời bề trên của mình. Tòa Thánh luôn luôn nhắc lại “đức vâng lời” cho đám con chiên của mình [Xin đọc Vietcatholic.net gần đây]. Nhưng nay, với vụ ông Tổng Kiệt bị trục xuất, nghĩa khác của bị đuổi đi, một cuộc “cách mạng” đã bùng nổ, ít ra trong một số giáo dân. Chúng ta hãy đọc Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm trong bài “Đạo Để Làm Gì”:

Chiên chứ không phải cừu

Sở dĩ đã không có gì đáng tiếc xảy ra vì giáo dân Việt Nam vốn có tinh thần kỷ luật rất cao. Ngay cả lúc xảy ra những vụ dầu sôi lửa bỏng như Thái Hà hay Tam Toà, họ vẫn biết tự chế. Nhưng cái mới, cái lạ là ngày nay giáo dân, tuy là những con chiên, nhưng không còn chấp nhận là những con cừu, ai nói gì cũng nghe, ai bảo sao cũng được. Cứ đọc bao nhiêu bài viết trên mạng trong thời gian vừa qua thì thấy rõ. Những khi cần, và có dịp để bày tỏ ý kiến, giáo dân không còn sợ nữa. Và họ có dư thừa sáng kiến để bày tỏ nguyện vọng của mình, tình cảm của mình. Lễ nhậm chức Giám mục Phát Diệm của Đức Cha Nguyễn Năng đã là một ví dụ. Nay đến lễ nhậm chức Phó Tổng Giám Mục Hà Nội của Đức Cha Nhơn. Trước mặt tiền nhà thờ chính toà Hà Nội, ta thấy một biểu ngữ nền đỏ chữ vàng Hân hoan chào mừng Đức Tân TGM Phó Phêrô. Biểu ngữ này chắc chắn là của Ban Tổ Chức. Nhưng tội nghiệp cho cái biểu ngữ đó: nó mới lẻ loi làm sao, đơn độc làm sao, giữa một rừng biểu ngữ nền vàng chữ đỏ :

– Tôn vinh Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt

– Chúng con yêu mến Đức Tổng Giu-se

– Chúng con đồng hành với Đức Tổng Giu-se

– Đức Tổng Ngô Quang Kiệt mới là người chủ chăn đích thực

– Đức Cha Giu-se Ngô Quang Kiệt mãi mãi là Tổng Giám Mục của chúng con

– Tinh thần Ngô Quang Kiệt bất diệt, v.v…

Được biết là trước lễ nhậm chức này, đã có một thỉnh nguyện thư với trên 15.000 chữ ký (nếu có thời gian và điều kiện để gom chữ ký, chắc con số này sẽ tăng lên rất nhiều lần). Nội dung thư này là xin Đức Giáo Hoàng đừng chấp nhận đơn xin từ chức của Đức Cha Ngô Quang Kiệt, nhưng tiếp tục giữ ngài lại trong chức vụ Tổng Giám Mục Hà Nội. Nghe đâu có vị quan chức người Việt bên Vatican nghe biết sự việc, đã vội bắn tiếng: làm như thế là chống đối Toà Thánh ! Đúng là trò nhát con nít, vì bày tỏ nguyện vọng và chống đối là hai việc khác nhau. Và những con người nặng óc giáo sĩ trị, thì chỉ muốn giáo dân mãi mãi là những trẻ vị thành niên, và rất sợ những tín hữu trưởng thành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên, mà lại rất đáng mừng, là hôm nay giáo dân, rõ ràng nhất là tại Hà Nội, không chỉ biết vâng lời, nghĩa là tuân lệnh, nhưng còn biết đối thoại, biết bày tỏ ý kiến của mình, biết đề đạt nguyện vọng của mình.

Đây đúng là một chuyện mới lạ chưa từng thấy trong giáo hội Ca-tô ở Việt Nam. Hi vọng giáo dân Việt Nam sẽ tiếp tục trưởng thành hơn nữa. Đây là cơ hội để cho Giáo hội Ca-tô Việt Nam nhận thức được rằng Vatican luôn luôn hành động vì quyền lợi sâu kín của Vatican và không ngần ngại bỏ rơi đám con chiên nghèo khổ của mình. Nếu cần, Vatican sẽ lợi dụng sự cuồng tín của con chiên để khuấy động như trong các vụ Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa v..v… Nếu cần thỏa hiệp để mưu tính quyền lực trong tương lai xa, Vatican sẽ không ngần ngại mà không đếm xỉa gì đến nguyện vọng của giáo dân. Đó là lá mặt lá trái của Vatican trong suốt giòng lịch sử của Ca-tô RôMa Giáo. Thỏa hiệp với Phát-xít Ý, đồng hành với Đức Quốc Xã để Ca-tô hóa Croatia trong kỳ đệ nhị thế chiến v…v…, đó là những sự kiện lịch sử bất khả phủ bác. Cho nên, 15000 chữ ký trong đơn thỉnh nguyện, chứ 1.500.000 chữ ký thì nếu cần, Vatican cũng không đếm xỉa đến. Đến bao giờ Giáo hội Ca-tô Rô-ma ở Việt Nam mới thức tỉnh ra khỏi cơn mê, thoát ra khỏi móng vuốt của Vatican, và trở thành một giáo hội độc lập, giành quyền bổ nhiệm các bậc lãnh đạo trong tôn giáo của mình, “trở lại” với dân tộc thay vì “trở lại” cái đạo đã thuần hóa mình thành những nô lệ.

☆ Giải thích của TCN ☆

Sau đây là phần phân tích của tôi về chuyện tại sao ông Tổng Kiệt phải ra đi. Trong bài “Giám Mục Ngô Quang Kiệt Làm Hỏng Kế Hoạch Của Vatican!” đăng trên sachhiem.net ngày 19/5/2010 [http://www.sachhiem.net/THOISU_CT/ChuC/Chetrunghieu.php] ông Chế Trung Hiếu đã phân tích vấn đề ông Kiệt ra đi khá hay, trừ một điểm là ông ta cho rằng ông Tổng Kiệt tự mình gây loạn cho nên làm hỏng kế hoạch ve vãn CS của Vatican. Tôi nhìn vấn đề có khác.

Chúng ta phải hiểu rằng, những vụ thắp nến cầu nguyện mà thực chất là làm loạn ở Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm v…v… không phải là những hành động tự phát trong Giáo hội Ca-tô ở Việt Nam. Không thể có những vụ đó nếu không có sự đồng ý ngầm hoặc có thể là chỉ đạo của Vatican. Chúng ta biết rằng, theo cấu trúc quyền lực của Vatican thì một linh mục muốn xuất bản một cuốn sách cũng phải được phép của Vatican (Imprimatur), cho nên các chức sắc Ca-tô trong các giáo hội con không thể tự tung tự tác có những hành động tập thể, không những ảnh hưởng đến giáo hội ở địa phương mà còn có thể ảnh hưởng đến đường lối chính trị, ngoại giao của Vatican. Chúng ta hãy trở lại vụ Tòa Khâm Sứ.

Vụ Tòa Khâm Sứ nổ ra ở một thời điểm được tính toán cẩn thận: một tuần lễ trước “Lễ Giáng Sinh”, ngày 18 tháng 12 năm 2007. Trong thư của Hồng Y Bertone viết ngày 30 tháng 1, 2008, chúng ta biết, trong hơn 40 ngày, Vatican đã theo rất sát diễn biến của vụ làm loạn này. Đây là một bước dò đường có kế hoạch và tính toán hẳn hoi.

Nếu Nhà Nước nhượng bộ trước những đòi hỏi vô lý của ông Tổng Kiệt và trao trả Tòa Khâm Sứ thì Giáo hội Ca-tô ở Việt Nam sẽ thừa thắng xông lên và đòi lại tất cả các tài sản của Giáo hội, phần lớn là dựa thế thực dân Pháp chiếm hữu một cách bất hợp pháp, thí dụ như Tòa Khâm Sứ nằm ngay trên đất cướp của Chùa Báo Thiên, và còn nhiều nơi khác nữa.

Nếu Nhà Nước mạnh tay đàn áp ngay trong dịp Lễ Giáng Sinh thì biện pháp này có thể bị xuyên tạc là bạo hành Ca-tô giáo vì lý do tôn giáo. Ki Tô Giáo còn mạnh trong phương trời Âu Mỹ, nhất là Tin Lành Mỹ, cho nên phản ứng trước thế giới không thể nào lường trước được, có thể đưa đến hậu quả tiêu cực cho Việt Nam.

Nhưng Vatican đã tính sai và đương nhiên phải thất bại, vì Việt Nam không phải là Ba Lan, một nước toàn tòng Ca-tô, mà Việt Nam chỉ có nhiều nhất là 5 - 7% theo Ca-Tô Rô-MaGiáo. Hơn nữa Nhà Nước Việt Nam đã đối phó rất ngoạn mục trước vụ làm loạn ở Tòa Khâm Sứ. Nhà Nước không trao trả Tòa Khâm Sứ cho Giáo hội Ca-tô, thản nhiên biến miền đất Ca-tô đòi thành một công viên và thư viện cho người dân quanh vùng chung hưởng. Nhà Nước cũng không đàn áp những người đến thắp nến cầu nguyện ở Tòa Khâm Sứ, trong đó có cả các bà già và con nít, dù rằng cầu nguyện với búa kìm và xà beng và đã phá phách một cách côn đồ càn rỡ, một hình thức cầu nguyện mà ông Tổng Kiệt cho đó là “quyền tự do tôn giáo chứ không phải là ân huệ xin – cho”. Nhà Nước cứ để cho đám giáo dân đó lộng hành, càng ngày càng để lộ bộ mặt cuồng tín phi dân tộc, phi pháp trước quốc dân đồng bào. Hi vọng của Giáo hội Ca-tô được sự ủng hộ, tiếp tay của người ngoại đạo cũng tan thành mây khói, vì người dân đã thấy rõ bộ mặt cuồng tín, phi dân tộc, vô chính quyền, vô pháp, của các tín đồ Ca-tô, do đó một làn sóng phản ứng chống đối đã nổi lên.

Và việc phải đến đã đến. Vatican biết rõ, càng kéo dài màn cầu nguyện, Ca-tô giáo càng thất nhân tâm, và Nhà Nước Việt Nam đã không hành xử theo như sự mong đợi của Vatican: trả lại Tòa Khâm Sứ hay mạnh tay đàn áp. Cho nên, ngày 30 tháng 1, 2008, sau khi theo sát tình hình trong hơn 40 ngày, Hồng Y Bertone mới phát lệnh, và Ông Tổng Kiệt phải nghe lệnh của Vatican dẹp màn cầu nguyện xin-cho với Chúa. Nếu như ông Chế Trung Hiếu nhận định, hành động tự phát của ông Tổng Kiệt làm hỏng kế hoạch của Vatican, thì Vatican phải dẹp ngay chứ không để kéo dài tới hơn 40 ngày.

Tại sao ông Tổng Kiệt phải ra đi?

Có rất nhiều lý do, nhưng lý do chủ yếu là Nhà Nước Việt Nam muốn thế, mà Nhà Nước muốn thế là chính Chúa muốn thế, vì theo Thiện Ý trong bài “Quyết định sai lầm của người đứng đầu nhà nước Vatican đã gây hậu quả gì ?”  thì:

Dưới cặp mắt đức tin, người Công Giáo tin rằng sự xuất hiện các chế độ cộng sản vô thần trên hành tinh này, hòanh hành trong nhiều thập niên, là được Thiên Chúa cho phép làm công việc cám dỗ và thử thách lòai người trong cuộc chiến đấu giữa “Thiện và ác”.

Linh mục Peter Hoàng Omi cũng đã chẳng nói ở trên:

Chẳng có gì xảy ra ngoài sự xếp đặt trong Tình Yêu Quan Phòng của Thiên Chúa. Chẳng có thế lực trần gian nào có thể lèo lái Thiên Chúa theo ý của mình được!. Thiên Chúa có chương trình cho mỗi người và mỗi dân nước, và chương trình của Thiên Chúa thì tuyệt hảo.

Thiện ác đã rõ ràng. Ác phải thua Thiện. Tòa Thánh đã thua, ông Tổng Kiệt làm sao mà không thua cho được? Vì vậy ông ta phải ra đi không kèn không trống trong đêm tối.

Nhưng theo tôi thì lý do chính là vì ông Tổng Kiệt quen sống trong ngục tù tâm linh của Vatican, trong một hệ thống tôn giáo toàn trị không có nhiều tính chất Việt Nam, không biết đến lịch sử Ca-tô Rô-MaGiáo truyền vào Việt Nam như thế nào, đã gây tác hại cho quốc gia như thế nào, cho nên ông không hiểu rõ về truyền thống văn hóa Việt Nam cũng như tâm lý người dân Việt Nam. Lịch sử Việt Nam đã chứng tỏ rằng người Việt Nam rất yêu nước, và đặt lòng yêu nước trên bất cứ một giá trị nào khác. Với niềm tin tôn giáo đặc thù Ca-tô, người Ca-tô có thể cho rằng “thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”, nhưng đối với tuyệt đại đa số người dân, tôi tin rằng không có ai nghĩ như vậy. Vì đối với người dân Việt Nam, đây là mảnh đất mà tổ tiên, cha ông của họ đã tốn biết bao xương máu và nước mắt để giữ gìn, xây dựng, và là mảnh đất mà đời đời các dòng họ Việt Nam đã và sẽ sống trên đó. Và lịch sử đã chứng tỏ người Việt Nam đã bảo vệ đất nước của họ với bất cứ giá nào, thí dụ như trong hai cuộc chiến, tiền và hậu Geneva vừa qua. Đây là những ý niệm đã ăn sâu vào đầu óc người dân Việt Nam, không có cách gì và không ai có thể bứng nó ra khỏi đầu óc của con người Việt Nam nói chung.

Lòng yêu nước của người Việt Nam dính liền với thái độ không chấp nhận bất cứ hành động nào phương hại đến quyền lợi chung của đất nước. Mặt khác, ý thức tôn giáo của người Việt Nam rất khoáng đạt: chấp nhận mọi tôn giáo nhưng phân biệt rõ ràng giữa tôn giáo và quốc gia. Về tôn giáo thì ai muốn theo tôn giáo nào thì theo, miễn là đừng có toan tính xâm lấn các tôn giáo khác, và đừng có vì tôn giáo mà có những hành động phản bội quốc gia như Ca-tô giáo đã từng làm trong quá khứ, làm tay sai cho thực dân Pháp, góp phần đưa quốc gia vào vòng nô lệ của thực dân Pháp để được hưởng những quyền lợi tôn giáo. Nhưng về tinh thần quốc gia thì người Việt Nam không chấp nhận bất cứ một sự độc tôn tôn giáo nào, và nhất là không chấp nhận tinh thần nô lệ ngoại bang dưới bất cứ hình thức nào. Việt Nam có thể có những ảnh hưởng từ các nền văn hóa khác du nhập vào, nhưng tuyệt đối không thể chấp nhận chỉ thị từ một ngoại bang. Và nếu có một tổ chức nào, đoàn thể nào, nhận chỉ thị của ngoại bang, làm việc cho ngoại bang, thì người dân Việt Nam nói chung sẽ không bao giờ chấp nhận, và đối với người dân Việt Nam thì những tổ chức đó, đoàn thể đó luôn luôn xa lạ trong cộng đồng dân tộc, và sẽ phải tự đào thải, nếu không chịu thay đổi để sống với tinh thần dân tộc. Đây là những chân lý lịch sử ngàn đời không bao giờ thay đổi của Việt Nam.

Giám mục Ngô Đình Thục, một Thái Thượng Hoàng trong chính quyền Ngô Đình Diệm

Ông Tổng Kiệt cũng không để ý đến những sự kiện lịch sử liên quan đến chỗ đứng của Ca-tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam. Trong thời đô hộ của Pháp, Ca-tô Giáo được đủ mọi đặc quyền đặc lợi. Trong những thập niên trước 1930, và có thể nói đến trước 1945, Việt Nam có thể nói là một khoảng đất trống để cho Ca-tô giáo tự do độc quyền truyền đạo và bành trướng. Phật giáo suy yếu vì nhiều lý do dễ hiểu trong hoàn cảnh mất nước dù có phong trào chấn hưng Phật Giáo trong thập niên 1930. Ở miền Nam thì Cao Đài và Hòa Hảo lại phát triển. Điều này chứng tỏ trong cuộc sống, người dân cần có một giá trị tâm linh nào đó. Nhưng dù được độc quyền truyền đạo, và trong 9 năm cầm quyền của Ngô Đình Diệm ở miền Nam mà chúng ta đã biết vị thế của Ca-tô giáo trong xã hội là như thế nào, và người Ca-tô giáo đã làm những gì để phát triển đạo, tỷ lệ trên dân số của người Ca-tô giáo vẫn không tăng được, luôn luôn chỉ ở trong vòng từ 5-7 %. Tại sao vậy? Mặt khác, ông Tổng Kiệt cũng không để ý đến thực trạng hiện nay của giáo hội Ca-tô hoàn vũ trên thế giới, nhất là ở Âu Châu, và uy tín thực sự của Giáo hoàng Benedict XVI ngày nay trong cộng đồng thế giới và ngay cả đối với các giáo dân trong các nước văn minh tân tiến.

Vì không ý thức được những điều trên cho nên ông Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã xách động giáo dân ngu ngơ cuồng tín làm càn bất chấp pháp luật, gây náo động phá rối trật tự an sinh quanh khu bất động sản số 42 Phố Nhà Chung, mà người dân quen gọi là đất Khâm sứ, vốn do Tây thực dân cướp đọat từ ngôi cổ tự Báo Thiên của Phật giáo, để yêu cầu chính quyền trả lại đất cho giáo phận. Ông ta không nghĩ rằng, xách động giáo dân thắp nến cầu nguyện để đòi lại đất tòa Khâm Sứ, vốn có một nguồn gốc ô nhục, là một hành động vô cùng vụng về nếu không muốn nói là ngu xuẩn.

Với sự phụ họa và cổ võ của giới truyền thông Ca-tô chống Cọng hải ngoại, và ông Kiệt có thể cho rằng với áp lực trên đầu môi chót lưỡi của vài dân biểu cắc ké Mỹ, hay nghị quyết vô giá trị của Quốc Hội Âu Châu, hay của Vatican mà thực chất quyền lực đã không còn, hay vì hối lộ một số quan chức sa sút lý tưởng, mà Nhà Nước sẽ phải bỏ rơi hơn 90% dân Việt Nam phi Ca-Tô để chịu khuất phục trước 5-7% giáo dân Ca-Tô ở Việt Nam. Đây là một điều không tưởng, nhất là trong tình trạng suy thoái hiện nay của Ca-Tô Rô-MaGiáo trên khắp thế giới.

Cho nên ông Kiệt không thể tưởng tượng được rằng, việc làm vô ý thức của ông đã làm cho nhân dân Việt Nam thức tỉnh, bớt thụ động. Điều này phản ánh qua sự việc là, trước vụ tòa khâm sứ, một làn sóng phản ứng của người Việt trên đã nổi lên trên khắp thế giới. Và tuyệt đại đa số những phản ứng này đều chống đối việc làm của ông Tổng Giám Mục. Những phản ứng này không chỉ có ở các nước ngoài mà còn ở trong nước suốt từ Bắc vào Nam, trên báo chí, trên các diễn đàn truyền thông, và nhất là của những hội đoàn, dân chúng quanh khu vực tòa khâm sứ. Có nhiều bài góp ý kiến về vấn đề này, không phải là từ Bến Hải, mà từ Hà Nội đến Cà Mau, sang đến Mỹ, Úc. Tuyệt đại đa số các ý kiến cho rằng Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam không có tư cách gì để đòi lại tòa Khâm Sứ mà lịch sử đã ghi rõ là đất của Chùa Báo Thiên do thực dân Pháp cưỡng chiếm, rồi phá bỏ Chùa để xây Nhà thờ lớn Hà Nội và tòa Khâm Sứ Hà Nội là một phần của Nhà thờ lớn Hà Nội, nghĩa là nằm trong khuôn viên bất động sản vốn của Phật Giáo bị giặc ngoại xâm cướp mất trong hoàn cảnh nước mất nhà tan của một dân tộc bị đô hộ.

Ông Kiệt cũng không thể tưởng tượng được qua vụ Tòa Khâm Sứ, ông đã tạo cơ hội cho người dân Việt Nam để họ nhớ lại hay biết đến lịch sử của Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam. Quả thật, càng ngày chúng ta càng thấy nhiều bài viết của người dân Việt Nam về lịch sử của Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam từ ngày đầu đến ngày cuối, những bài này đã được phổ biến rộng rãi trên khắp đất nước và thế giới với những tài liệu bất khả phủ bác. Người dân ngày nay sẽ không còn e dè vì sợ mang tiếng là chia rẽ tôn giáo nữa, nên những sự thật lịch sử về Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam cũng như về Giáo hội hoàn vũ sẽ được phơi bày, và Giáo hội Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam sẽ không có cách nào còn có thể ngăn chận việc truyền bá những sự thật này như trước nửa. Ông đã giúp cho sự mở mang dân trí và sự tiến bộ trí thức của người dân Việt Nam về lịch sử Ca-Tô Rô-MaGiáo một bước dài.

Tuyệt đại đa số người dân Việt Nam phi-Ca-Tô, vì bản tính hiền hòa và vì tình đồng bào, đã muốn quên đi quá khứ nhơ nhớp của giáo hội Ca-Tô Rô-MaGiáo tại Việt Nam, một giáo hội đã nổi tiếng là hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc, nhưng nay vì vụ này ông Tổng Kiệt đã đánh thức lòng yêu nước, yêu dân tộc của người dân Việt phi Ca-Tô, và làm cho họ biết rõ hơn bản chất thực sự của Ca-Tô Rô-MaGiáo ở Việt Nam.

Cuốn sách “Từ Chùa Báo Thiên Đến Tòa Khâm Sứ”, do giaodiemonline & sachhiem.net xuất bản tháng 4, 2008, dày hơn 300 trang, với trên 35 tác giả và nhiều ý kiến từ 10 trang điện tử, là một hồ sơ đầy đủ về vụ Tòa Khâm Sứ với những tiết mục như sau: “Diễn Tiến Sự Cố”, “Nguồn Gốc Lịch Sử Và Khía Cạnh Pháp Lý” [của Tòa Khâm Sứ], ”Phản Ứng Của Phật Giáo”, “Phản Ứng Của Đồng Bào Trong Và Ngoài Nước”, những phản ứng này đều phê bình chống đối hành động vô lý và phi pháp của ông Tổng Kiệt. Vậy mà ông Giáo sư Ca-tô Đỗ Mạnh Tri vẫn đủ can đảm viết lên câu:

Từ khi nổ ra vụ Tòa Khâm sứ và Thái Hà, đường Thánh giá của Tgm Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám mục Hà Nội càng ngày càng thu hút sự mộ mến, thương cảm và tin cậy của đồng bào công giáo và cả ngoài công giáo. Giáo sư cũng còn viết câu sau mà không biết ngượng:

Biểu tình bằng lời kinh tiếng hát? Thắp nến cầu nguyện? Rước và đặt tượng ảnh để khẳng định quyền sở hữu? Nhưng một nét chung căn bản: đó là cầu nguyện. Cầu nguyện thực.

Cầu nguyện thực của ông giáo sư này như thế nào, thật ra chỉ là những hành động cuồng tín mang sắc thái côn đồ càn rỡ. Chúng ta hãy đọc:

27/01/2008 22:39

(HNM) - Như Báo Hànộimới đã đưa tin, lúc 11 giờ 30 ngày 25/1/2008, sau Lễ quan Thầy mừng Hồng y Phạm Đình Tụng thượng thọ 90 tuổi, khoảng hơn 100 linh mục và rất đông giáo dân từ Tòa Tổng Giám mục Hà Nội [chiến khu của ông Tổng Kiệt] đã kéo sang số nhà 42 Phố Nhà Chung là trụ sở của 3 cơ quan thuộc quận Hoàn Kiếm, họ đã dùng búa, xà beng, gậy sắt đẩy đổ hàng rào, đuổi đánh bảo vệ, tràn vào khuôn viên khu vực 42 Nhà Chung, dựng tượng, Thánh giá, dựng lều bạt và ở lì trong đó

Tòa Thánh không thể không biết đến những phản ứng trên của người dân Việt Nam và lập trường của Nhà Nước Việt Nam trước vụ ông Tổng Kiệt xách động giáo dân làm loạn. Cho nên Hồng Y Bertone đã phải ra lệnh cho ông Tổng Kiệt phải dẹp vụ cầu nguyện đòi đất ở tòa Khâm Sứ, sau hơn 40 ngày theo dõi sát tình hình và thấy càng ngày càng bất lợi.

Nhà Nước có đủ các yếu tố và bằng chứng để truy tố TGM Ngô Quang Kiệt ra trước pháp luật. Nhưng Nhà Nước đã khoan nhượng, chỉ yêu cầu Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thuyên chuyển ông Kiệt ra khỏi giáo phận Hà Nội. Trước sự ngoan cố của HĐGM, Nhà Nước bèn đi thẳng với Vatican, và trước những bằng chứng không thể chối cãi, Vatican không có cách nào khác là đưa ông Tổng Kiệt đi với một nhiệm vụ khác, theo như một số nguồn tin. Đây là một giải pháp có lợi cho cả hai bên. Tòa Thánh và HĐGMVN không bị mất mặt nếu Nhà Nước đưa ông Kiệt ra trước vành móng ngựa một khi mà yêu cầu của Nhà Nước không được đáp ứng. Và Nhà Nước cũng tránh được, không phải đưa ra một biện pháp tuy hợp tình hợp lý và hợp pháp nhưng có thể gây xáo trộn trong xã hội.

Có hai dư luận cho rằng Vatican đã thỏa hiệp với Nhà Nước Việt Nam với hai mục đích:

- Việt Nam sẽ tiến hành việc bang giao với Vatican, điều mà Vatican rất cần để có thể trực tiếp chỉ đạo giáo dân Việt Nam thi hành sách lược của Vatican ở Việt Nam, những sách lược chắc chắn là sẽ phương hại đến chủ quyền đất nước.

- Cho phép Giáo hoàng Benedict XVI viếng thăm Việt Nam. Đây là cơ hội để cho Giáo hoàng đẩy mạnh sự cuồng tín của giáo dân Việt Nam và rất có thể lại xuyên tạc hạ thấp các tôn giáo khác ở Việt Nam như ông ta đã từng làm đối với Hồi Giáo và người dân Nam Mỹ.

Tôi cho rằng hai mục đích này chưa thể thành tựu trong tương lai gần.

Thứ nhất, ở đầu bài viết này tôi đã trích dẫn một câu hỏi và nhận định của một người Mỹ: tại sao các nước lại có quan hệ ngoại giao với một giáo hội, thật là lố bịch, phí thời giờ, năng lực và tiền bạc, để dùng cho các việc khác tốt hơn. Và tôi cũng muốn đặt một câu hỏi với Nhà Nước Việt Nam: “Tại sao Nhà Nước Việt Nam lại phải có quan hệ ngoại giao với một tôn giáo mà thôi trong số rất nhiều tôn giáo trên thế giới?” Ca-tô Rô-MaGiáo có gì khác biệt với các tôn giáo khác nhất là khi chúng ta đã biết rằng, Giáo hội Ca-tô Rô-MaGiáo chỉ là một tổ chức thế tục nấp sau bộ mặt tôn giáo. Lịch sử Ca-tô Rô-MaGiáo đã viết rõ như vậy.

Về vấn đề bang giao, có hai vấn đề cần được đặt ra.

Nhà Nước cần phải biết rõ mình bang giao với ai, một quốc gia thế tục như mọi quốc gia khác, hay một tôn giáo? Như vậy, điều cần thiết là Vatican cần khẳng định với Việt Nam: Vatican là một quốc gia thế tục hay là một tôn giáo? Nếu chỉ là một tôn giáo thuần túy lo việc tâm linh của tín đồ của một tôn giáo trong vô số tôn giáo trên thế gian, thí dụ như Hồi giáo, Do Thái giáo v..v.. , thì không có lý do gì để Việt Nam phải bang giao với một tôn giáo, nhất là tôn giáo này đã đưa đến Việt Nam nhiều hệ lụy và còn đang nắm giữ đầu óc của 5-7% dân số người Việt tuyệt đối tuân phục vâng lời Vatican, một con dao sẵng sàng đâm sau lưng quốc gia, tái diễn một quá khứ.

Nếu Vatican là một quốc gia thế tục thì bang giao với Vatican có những lợi ích gì cho quốc gia? Lợi ích kinh tế? Không có. Lợi ích chính trị? Cũng không! vì ngày nay tiếng nói chính trị của Vatican chẳng có ai để vào tai, kể cả các con chiên trong những xã hội văn minh Âu Mỹ. Lợi ích ngoại giao? Ngoại giao để làm gì? Dính vào một quốc gia với hơn 5,000 “nhân viên” mang tội ấu dâm thì được lợi gì ?

Nếu Vatican vừa là một quốc gia thế tục vừa là một tôn giáo thì trước khi tính đến chuyện bang giao, Việt Nam có nhiều điều cần phải giải quyết với Vatican. Hoàn cảnh lịch sử giữa Vatican và Việt Nam rất đặc biệt, không như những quốc gia khác. Nhà Nước cần giải quyết dứt khoát với Vatican những vấn đề lịch sử khi Ca-Tô Rô-MaGiáo đến Việt Nam, nhất là trong thời kỳ Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và sau đó; vấn đề những đất đai và tài sản mà Ca-Tô Giáo đã dựa vào thế lực của thực dân Pháp và của chế độ Ca-Tô Ngô Đình Diệm trong 9 năm ở miền Nam để cướp đoạt của Việt Nam; những hệ lụy mà Vatican đã mang đến Việt Nam; những giáo lý và nội dung Kinh Thánh của Ca-Tô Rô-MaGiáo không thích hợp với truyền thống văn hóa, tôn giáo của dân tộc Việt Nam v..v…, và nhất là vấn đề tôn trọng chủ quyền Việt Nam trong mọi hình thức hoạt động xã hội cũng như tôn giáo ở Việt Nam, thí dụ như vấn đề bổ nhiệm các chức sắc Ca-tô. Đây là những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết trước khi cuộc bang giao có thể hình thành. Ngày nay, nếu muốn, Nhà Nước có thể có đầy đủ tài liệu về những vấn đề này để đặt trên bàn đối thoại thương thuyết với Vatican.

Còn về vấn đề cho phép Giáo hoàng Benedict XVI đến viếng thăm Việt Nam? Tôi nghĩ trong giai đoạn này, bộ mặt lem luốc của Benedict XVI đã phơi bày trước thế giới, sự vô đạo đức cũng như đạo đức giả của ông ta cũng không còn che dấu được ai, cho nên cuộc viếng thăm của ông chẳng có ích lợi gì cho Việt Nam. Chúng ta nên nhớ là ông ta đã lên tiếng đả phá mọi tôn giáo khác là “thiếu sót” trong bản tuyên ngôn “Dominus Jesus”:

1. “.. như là một phương tiện đưa đến sự cứu rỗi, những tôn giáo phi-KiTô thiếu sót một cách trầm trọng” (..non-Christian religions are gravely deficient as a means of salvation)

2. “Giáo hội Công Giáo La Mã là phương tiện duy nhất đem đến sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại” (The Roman Catholic Church is the only instrument for the salvation of all humanity)

Cũng vì vậy mà Giáo sư Thần học Ca-tô nổi tiếng trên hoàn cầu, Hans Kung, đã đưa ra một nhận định về bản tuyên ngôn “Dominus Jesus” là một sự pha trộn của tính chất lạc hậu thời Trung Cổ và Tâm Lý Bệnh Hoạn về Những Ảo Tưởng Hão Huyền về Quyền Lực hay Toàn Năng của Vatican (A mixture of medieval backwardness and Vatican megalomania). [Megalomania = A psycho-pathological condition in which fantasies of wealth, power or omnipotence predominate]

Ông ta cũng lên án Cộng sản vô thần, nuôi dưỡng lòng thù hận CS của giáo dân, cho nên không có lý do gì để cho một con người vô tư cách, vô đạo đức như vậy đặt chân lên đất nước Việt Nam mà hậu quả, do sự cuồng tín của con chiên Việt Nam, là điều không thể lường trước được.

Chúng ta biết rằng, Giáo hoàng đến thăm bất cứ đâu cũng không phải là nằm trong chương trình ngoại giao, giao hảo. Mục đích chỉ là đẩy mạnh sự mê tín và cuồng tín của giáo dân đồng thời xuyên tạc hạ thấp các tôn giáo bản địa. Ông ta đã từng mạ lỵ Giáo chủ Hồi Giáo Muhammad: “Hãy cho tôi biết Muhammad có mang lại cái gì mới hay không, và nhìn vào thì chỉ thấy những cái ác độc và phi nhân, chẳng hạn như ông ta ra lệnh hãy truyền bá đức tin mà ông ta rao giảng bằng gươm giáo.” (Show me just what Muhammad brought that was new, and there you will find things only evil and inhuman, such as his command to spread by the sword the faith he preached), quên hẳn những cuộc Thánh Chiến, những tòa án xử dị giáo, những cuộc săn lùng, tra tấn và thiêu sống phù thủy, những người lạc đạo của chính Ca-tô Rô-MaGiáo. Tới Nam Mỹ ông ta đã trơ trẽn cho rằng dân Nam Mỹ khát khao sự cứu rỗi của Giê-su và trở lại các tôn giáo bản địa là thoái hóa. Gần đây tới Portugal ông ta đã khen ngợi đức tin của Bồ Đào Nha trong nhiệm vụ truyền bá đạo trên thế giới, quên rằng Bồ Đào Nha, cũng như Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan là những nước thực dân hàng đầu, đi truyền đạo bằng xâm chiếm thuộc địa và giết chóc. Hơn nữa, Giáo hoàng tới thăm đâu, giáo hội địa phương phải trang trải phí tổn cho chuyến “thăm giáo dân” của ông ta và nước sở tại cũng phải tốn kém rất nhiều cho việc giữ an ninh, bảo vệ và đón tiếp. Chuyến thăm nước Anh tới đây ước tính là sẽ tốn khoảng 20 triệu Euro.

Là một nước Phật Giáo, Việt Nam không nên quên rằng, Giáo Hoàng Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, người đã được thiên hạ tặng cho nhiều biệt danh không lấy gì làm vinh dự cho lắm: Hồng Y thiết giáp (Panzerkardinal), kẻ ép buộc (tín đồ phải tuân theo luật đã lỗi thời) của Vatican (The Vatican’s Enforcer), the God’s Rottweiler (Rottweiler là một giống chó giữ nhà rất hung tợn), Người canh chừng bảo vệ giáo lý chính thống (The Watchdog of orthodoxy)Đại Phán Quan (The Grand Inquisitor), đã từng lên tiếng phê bình Phật Giáo một cách rất vô giáo dục là “Con đường Tâm Linh tự thỏa dâm” (Buddhism is a sort of spiritual auto-eroticism). Đây là lời từ chính miệng ông ta nói ra chứ không phải là trích dẫn từ đâu.

Việt Nam không bao giờ nên nghe những lời đường mật của Vatican, nếu có, và đặt niềm hi vọng vào những hứa hẹn giúp đỡ vật chất của Vatican. Vatican chỉ thu vào chứ không bỏ ra, chỉ bỏ ra cho những mục đích bành trướng đạo kể cả khuynh loát những quốc gia không thân thiện. Vatican có hai mặt, vừa là một tôn giáo, vừa là một quốc gia có chủ quyền. Vì thế chính trị của Vatican cũng có hai mặt, lúc thì nhân danh là một tôn giáo, lúc thì nhân danh là một quốc gia. Vì vậy Vatican có quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác, quan hệ trên hình thức chứ không phải quan hệ ngoại giao như giữa các quốc gia khác.

Mỹ và Mễ Tây Cơ đã có thời cắt đứt liên lạc ngoại giao với Vatican nhưng rồi lại tái thiết lập vì tình hình chính trị, và vì cả hai nước đều có nhiều tín đồ Công Giáo, ở Mỹ vào khoảng 23%, ở Mễ Tây Cơ hầu như toàn tòng. Tuy vậy, vì những tác hại và lạm dụng của giới linh mục trong nước nên Mễ Tây Cơ đã có đạo luật cấm các tu sĩ Công Giáo không được mặc y phục Linh mục nơi công cộng, không được mở trường học v..v..

Ở Mỹ, đa số người dân vẫn không ưa Công Giáo. Hình ảnh những người dân Mỹ biểu tình phản đối cuộc viếng thăm trước đây của Giáo hoàng John Paul II, cầm biểu ngữ đòi: Chính phủ Mỹ chấm dứt công nhận Vatican (End US Gov’t Recognition Of The Vatican), Hãy đăng ký các giám mục như là những điệp viên ngoại quốc (Register Bishops As Foreign Agents), Ngưng nạn đói: Hãy bán đi Vatican (Stop Starvation: Sell The Vatican), Vatican chống dân chủ (The Vatican Is Anti-Democratic) v..v.. có lẽ đã nói lên phần nào thực chất của Vatican. Tất cả những hình ảnh này đều có trong phần cuối của cuốn Vatican: Thú Tội Và Xin Lỗi?, Nhiều tác giả, Giao Điểm, 2000.

Nếu Vatican có thiện chí hòa giải thực sự, điều này rất khó tin, vì giới truyền thông Ca-tô hải ngoại vẫn một sống một còn với Cộng sản vô thần, vẫn nhắc lại vạ tuyệt thông đối với bất cứ tín đồ nào thân thiện với Cộng sản, thì Giáo hoàng Benedict XVI phải xin lỗi Phật Giáo về những lời rất khiếm nhã đối với Phật Giáo trước đây. Nhưng chỉ xin lỗi Phật Giáo không không đủ, vì Phật Giáo dù sao cũng chỉ là một tôn giáo ở Việt Nam, dù chiếm đa số. Vấn đề ở đây là cả nước Việt Nam đã chịu nhiều khổ nạn vì sự truyền đạo của Ca-Tô Giáo vào Việt Nam.

Cho nên, theo ý chúng tôi, Việt Nam đừng bao giờ có thêm những nhượng bộ đối với con cọp giấy Vatican trước khi Vatican chính thức lên tiếng, nhân danh Ca-Tô Rô-MaGiáo, xin lỗi Việt Nam về những hoạt động của Ca-Tô Giáo tiếp tay với thực dân Pháp để xâm chiếm Việt Nam trước đây, và sau đó Giáo hội Ca-Tô tại Việt Nam đã toa rập với thực dân Pháp để cướp bóc đất đai, tài sản, chùa chiền của nhân dân Việt Nam, và thành thực sám hối qua những hành động cụ thể như hoàn trả lại cho nhân dân Việt Nam những tài sản đã chiếm hữu, và bồi thường cho Việt Nam những tác hại mà Ca-Tô Giáo đã mang đến Việt Nam. Ngoài ra Giáo hội Ca-Tô Việt Nam cũng phải bố cáo rộng rãi, lên tiếng xin lỗi tương tự nhân dân Việt Nam, bỏ đi những lời xúc phạm đến cả nước Việt Nam, đến Phật Giáo, trong Kinh Nhựt Khóa của họ, trong cuốn Phép Giảng 8 Ngày của Alexandre de Rhodes, và hoàn trả những gì đã chiếm hữu của nhân dân Việt Nam từ trước tới nay.

Để kết thúc, tưởng chúng ta cũng nên nhắc lại vài điểm trong bức thư bằng tiếng Anh mà Tỳ Kheo Thích Chơn Tế đã gửi cho Giáo hoàng Benedict XVI trước đây yêu cầu Giáo hoàng thực hiện trước khi tính đến chuyện bang giao với Việt Nam hay đến thăm viếng giáo dân Việt Nam:

“Hãy xin lỗi dân tộc Việt Nam về những hành động sai lầm của Giáo hội Ca-Tô và những tín đồ Ca-Tô trong hai thế kỷ vừa qua, đặc biệt là trong những thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm. Giáo hòang tiền nhiệm, John Paul II, đã xin lỗi nhiều quốc gia ngoại trừ Việt Nam, tuy rằng những bằng chứng lịch sử về tội ác của Giáo hội Ngài không thể phủ bác”

(Apologize to the Vietnamese people for all the erroneous actions generated by the Roman Catholic Church and its followers during the past two centuries, especially during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship. The preceding Pope, John Paul II, has already asked for a public apology from several other nations except Vietnam, even though the historical evidences of the criminality of Your church are irrefutable.)

“Hãy bồi thường thỏa đáng cho những nạn nhân chiến tranh trong những thời kỳ chiếm thuộc địa của Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm vì chính Vatican của Ngài đã dẫn đường mở lối và tích cực ủng hộ cả hai. Một trong những tín đồ của Ngài, Giám mục Pháp Puginier, đã thú nhận dứt khoát là “Nếu không có những linh mục và giáo dân Việt Nam thì người Pháp ở Việt Nam cũng như những con cua đã bị bẻ gãy hết càng.” (Recompense satisfactorily to the war victims during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship since it was Your Vatican who led the way and actively supported both of them. One of your ardent follower, French Catholic priest Puginier, emphatically confessed in a historical document that: “Without the Catholic priests and (Vietnamese) Catholic populace, the French (in Vietnam) will become like a crab with broken legs”.)

“Hãy hoàn trả cho dân Việt Nam nhiều đất đai và tài sản mà giáo hội Ca-Tô đã chiếm hữu dựa vào quyền lực của chính quyền thực dân Pháp và chính phủ Ngô Đình Diệm”

(Return to the people of Vietnam numerous parcels of land and properties that the Catholic Church exhorted by relying on the power of the French colonial administration and the Ngo Dinh Diem government.)

“Hãy hoàn trả cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam những Chùa đã bị chiếm hữu theo chủ trương biến đổi Chùa thành nhà thờ như Chúa Báo Thiên đã trở thành nhà thờ lớn Hà-Nội, Chùa La Vang đã trở thành nhà thờ La Vang, một Chùa rất cổ đã trở thành nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn”

(Return to the Vietnamese Buddhist Church various pagodas being exhorted to transform into Catholic cathedrals such as the Bao Thien Stupa which has become the current Main Hanoi Cathedral, the La Vang pagoda which has become the current LaVang Cathedral, a very old pagoda which has become the current Cathedral of Saigon.)

Hãy giáo dục giới linh mục Việt Nam và những tín đồ rừ bỏ niềm tin ô nhục “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”, niềm tin đã biến họ trở thành những tay sai của ngoại bang đồng thời phản bội dân tộc và nền văn hóa của chúng tôi

(Educate the Vietnamese Catholic clergy and its followers to renounce the infamous credo “Better to loose the Fatherland than loosing belief in God”. The credo that turned them into lackeys of foreign governments while betraying our people and our culture.)

“Hãy ra lệnh cho giới linh mục Việt Nam xưng tội và chấm dứt mọi sách nhiễu tình dục đối với trẻ con và phụ nữ như đã từng xảy ra trong nhiều quốc gia khác”

(Order the Vietnamese Catholic clergy to confess and to stop all sexual abuses onto children and women as already happened in many other countries.)

Hãy giáo dục những tín đồ Ca-Tô chấm dứt thái độ sai lầm, theo tín lý và kiêu căng trong niềm tin là những người phi Ca-Tô thì xấu và những tín ngưỡng cổ truyền, nhân bản của dân tộc chúng tôi là không chính thống”

(Educate Catholics to end the wrongful, dogmatic and arrogant attitude in their belief that non-Christians are evil and traditional humanistic faiths of our people are heterodoxy.)

Hãy dạy dỗ giới linh mục và tín đồ Ca-Tô tôn trọng nhân quyền, đặc biệt trong những lãnh vực sau:

Chấm dứt thói bắt buộc những người trong tín ngưỡng khác phải từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ và phải cải đạo để được phép kết hôn với một người Ca-Tô.

Hãy chấm dứt thói lùa những người sắp chết và/hoặc những người già bệnh tật cải đạo vào Ca-Tô Giáo trong khi họ ở trong tình trạng không sáng suốt hoặc trong khi họ không có thân nhân ở bên.

Hãy chấm dứt những hoạt động từ thiện dùng tiền và thực phẩm/thuốc men để cải đạo những người nghèo và cô nhi vào Ca-Tô Giáo.

(Teach the Catholic clergy and followers to respect human rights, especially in the following areas:

To end the practice of coercing peoples of other faith to deny his/her own religious belief and to be converted to Catholicism in order for them to get permission to marry with a Catholic.

To end the practice of luring the dying and/or old aged patient to convert to Catholicism while the patient is in a bewildering state or while the patient is alone without company of relatives.

To end the kind of charity works with money and food/medicine aids to convert the poor and the orphans to baptize them into a Catholic.)

“Hãy hủy bỏ ngay sự phong thánh hấp tấp cho 117 người Việt Nam và ngoại quốc chết trong nước tôi trong hai thế kỷ qua. Những bằng chứng và hồ sơ lịch sử đã chứng minh rõ ràng là họ bị kết án tử hình bởi Triều Đình vì họ đã phản bội quốc gia và/hoặc đã có những hoạt động tình báo cho những lực lượng xâm lăng Pháp. Những bằng chứng cũng đã chứng tỏ rằng họ không phải là những “thánh tử đạo” mà Vatican đã ngụy tạo lên để thúc đẩy những tín đồ Ca-Tô Việt Nam đi vào con đường phản bội quốc gia để được phong thánh.”

(Immediately cancel the unusually urgent and serial canonization by Pope John Paul II of 117 Vietnamese and foreigners who died in my country during the past two centuries. Historical evidences and records clearly proved that they received the official death sentence by the Court because of their betrayal and/or their spying activities for the French invading forces. The evidences also show that they were not “martyrs” as maliciously fabricated by Vatican to incite the Vietnamese Catholic followers to betray their country in order to get canonized.)

Mong rằng Nhà Nước quan tâm đến những yêu cầu hợp tình hợp lý của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.

Trần Chung Ngọc

Illinois, 21 Tháng 5, 2010

 


■ Các bài cùng chủ đề:

- Giám Mục Ngô Quang Kiệt Làm Hỏng Kế Hoạch Của Vatican! (Chế Trung Hiếu)

- Tiễn Chân Bác Tổng Kiệt Sớm Hưởng Nhan Thánh Vaticano (Thiên Lôi)

- Tản Mạn Xung Quanh Vụ Ông "Tổng Kiệt Nhục Nhã" Ra Đi (Trần Chung Ngọc)

 

Trang Tôn Giáo