Tại Sao Không Thể

Lương Thiện Đi Một Chút !

http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt058.php

30 tháng 4, 2008

Tại Sao Những Bậc Chăn Chiên Như

Linh Mục MAI ĐỨC VINH Lại Không Thể Lương Thiện Đi Một Chút ?

Mới đây tôi nhận được từ trang nhà sachhiem.net chuyển cho một điện thư từ một đọc giả nhắn lời như sau:
Subject: bài giảng LM Mai Đức Vinh.
Nhờ SH chuyển giùm bài nầy đến GS Trần Chung Ngọc, cảm tạ.
http://www.nguoitinhuu.com/kienthuc/ho-giao/daonao.html

Tôi không hiểu ý người này muốn gửi bài giảng “Đạo Nào Cũng Giống Nhau” của LM Mai Đức Vinh cho tôi để làm gì. Có thể vị này muốn tôi đọc xong thì đi “rửa tội trở lại đạo” [sic], cũng có thể vị này thấy bài giảng của một "đấng Chăn chiên" không có chút liêm sỉ, muốn xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo và Đức Phật đến không chịu được, nên muốn chia xẻ với tôi. Dù sao tôi cũng xin gửi lời cảm ơn quí đọc giả trên rất nhiều.

Đọc xong rồi thì tôi lại không thể không phê bình, phê bình một cách bất đắc dĩ, vì thực ra bài của LM Mai Đức Vinh không có gì nhiều để mà phê bình, vì tất cả chỉ là một bài truyền đạo rẻ tiền, rất rẻ tiền, và rất quen thuộc nằm trong sách lược truyền đạo ngày nay của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng: xuyên tạc hạ thấp tôn giáo khác, mê hoặc con người về một Thiên Chúa không tưởng, và nhận vơ những truyền thống văn hóa dân gian vào làm của mình. Chúng ta đã thấy hiện tượng này xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt ở trong những xã hội Phật Giáo, như ở Thái Lan, và Ấn Giáo, như ở Ấn Độ.

Bài giảng của LM Mai Đức Vinh thực ra chẳng giảng cái gì hết. Mục đích truyền đạo theo sách lược trên là ở phần đầu và phần cuối. Còn những đoạn đưa ra song song những sự khác nhau giữa Phật Giáo và Ca-Tô Giáo Rô-ma thì chỉ là những điều thông thường ai cũng biết và có tính cách trang trí, ra cái điều ta đây biết nhiều nhưng lại biết chưa đến nơi đến chốn. Về phần Ca-Tô Giáo Rô-ma trong bài, những gì mà LM Mai Đức Vinh viết là về đức tin trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, không phải thuộc loại nghiên cứu trong lãnh vực học thuật, một lãnh vực tiêu chuẩn của giới trí thức ngày nay.

Một đức tin đã được cấy vào đầu từ nhỏ, hay đã chọn để mà tin, thì không cần thiết phải dựa trên những bằng chứng lịch sử, bằng chứng khoa học. Không có một công thức nào, một lý luận trí thức nào, hay một bằng chứng khoa học nào có thể mang ra để bác bỏ một đức tin, trừ khi chính tự tín đồ, qua sự hiểu biết chân thật, nhận thức được rằng đức tin của mình chỉ là một hi vọng hoang tưởng. Điều này đã xẩy ra trong các xã hội văn minh tân tiến, và vì vậy trong những xã hội này chúng ta thấy tràn ngập những tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, giáo lý các đạo giáo. Việt Nam chúng ta cũng có nhiều người “trở lại dân tộc”, điển hình là Charlie Nguyễn và Giuse Phạm Hữu Tạo. Bài phê bình ngắn này không ngoài mục đích đưa ra vài nhận xét về bài giảng của LM Mai Đức Vinh để chứng minh vài nhận xét tổng quát ở trên.

Trong lãnh vực học thuật mà những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh trong mọi bộ môn, kể cả tôn giáo, chỉ có mục đích càng ngày càng kiện toàn và làm cho toàn bộ kiến thức của nhân loại phong phú hơn, tôi cũng hi vọng bài phê bình này có thể đóng góp một phần rất nhỏ nhoi trong quá trình tiến hóa tư duy tự nhiên của người dân Việt Nam ta.

۩

Bài giảng của LM Mai Đức Vinh dài tới gần 12 trang, phần lớn thuộc loại “liệt kê” song song những điều khác nhau trong hai tôn giáo: Phật Giáo và Ca-Tô Giáo, khác nhau giữa Đức Phật và Chúa Giê-su, khác nhau về niềm tin trong Ca-Tô Giáo và trong Phật Giáo, khác nhau về lối sống đạo trong Ca-Tô Giáo và trong Phật Giáo, nhưng không hề bình luận, giải thích, cho nên đối với tôi không có gì lạ, vì đó là những điều mà thường ai cũng biết, nếu người đó đã để tâm tìm hiểu về Ki Tô Giáo và Phật Giáo. Tuy nhiên, tôi thấy có vài đoạn ông viết về chính Ca-Tô Giáo của ông đã chứng tỏ rằng ông không hề cập nhật hóa những kiến thức mới về chính đạo của ông ta, và trong đó có đôi điều về Đức Phật ông ta không bao giờ nên viết, dù là trích dẫn của người khác.

Thật vậy, tuy rằng đầu đề bài giảng là “Đạo nào cũng giống nhau", nhưng LM Mai Đức Vinh đã cố gắng bác bỏ sự giống nhau này, gọi là để so sánh hai tôn giáo chính ở Việt Nam là Phật Giáo và Ca-Tô Giáo Rô-ma, nhưng thực ra chẳng so sánh cái gì, mà chỉ đưa ra những quan điểm rất kiêu căng trịch thượng như: Giê-su là Thiên Chúa, còn Đức Phật chỉ là người trần, ý tưởng của Đức Phật là dẫn con người đến gần Giê-su [sic], Chúa Giê-su cao hơn Đức Phật [sic],v..v.. tất cả đều dựa trên cuốn Kinh của Ki tô giáo [The Christian Bible] và những khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite) của một vài nhà thần học. Sau đây tôi sẽ đi vào phần phê bình những điểm trên. Còn phần LM Mai Đức Vinh đưa ra song song những điểm khác nhau giữa Phật Giáo và Ca-Tô Giáo tôi sẽ không phê bình tuy rằng trong đó cũng có những điều bất cập về cả hai tôn giáo.

Mở đầu, LM Mai Đức Vinh viết:

LM Mai Đức Vinh: “Đạo nào cũng giống nhau" là một câu nói rất quen nghe nơi người Á Châu, cách riêng giữa người Việt Nam và cách riêng nữa nơi những người ngoài Công giáo. Người ta nói với nhau khi câu chuyện chạm đến vấn đề tôn giáo, mà đặc biệt: khi một người được mời vào đạo Công giáo; hay khi người ta có con cháu, bạn hữu đi học giáo lý để gia nhập Giáo Hội. Nói như thế bởi vì trên 90% những người trưởng thành học đạo với tôi trong 15 năm qua đều đã nghe bà cô, bà bác hay anh chị em bạn rỉ tai: "Ðạo nào cũng giống nhau, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ. Vậy thì cha mẹ theo đạo nào, con cháu theo đạo đó, tội gì phải vào đạo Công giáo. Ðã đi làm vất vả còn phải đi học giáo lý. Ðạo nào cũng giống nhau. Chỉ cần mình sống ngay lành là đẹp lòng Trời rồi."

Trần Chung Ngọc: Tôi tin rằng LM Mai Đức Vinh không mấy thành thực, nếu không muốn nói là thiếu lương thiện, khi viết câu trên vì câu “Đạo nào cũng giống nhau, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ." thường là do người Ca-Tô Giáo Rô-ma nói để chống đỡ trước sự phổ biến những sự kiện lịch sử không đẹp của Ca-Tô Giáo Rô-ma chứ không phải của người ngoại đạo, nhất là của những người theo đạo Phật vì chẳng có Phật tử nào lại đi làm cái chuyện thu nhặt tín đồ một cách vô trí như vậy. Mặt khác, Ca-Tô Giáo Rô-ma thường “dụ” người vào đạo chứ không “mời”. “Theo đạo có gạo mà ăn” là một câu nói quen thuộc trong dân gian Việt Nam. Hơn nữa, chính sách truyền bá đạo bằng bạo lực, dối trá, và sách lược tiêu diệt các nền văn hóa khác là những sự kiện lịch sử mà chính giáo hội Ca-tô cũng không thể phủ nhận. Chúng ta đã biết, để xoa dịu dư luận thế giới, Giáo Hoàng John Paul II trước đây đã thực hiện nhiều chuyến công du tới các nước trong Thế Giới Thứ Ba để xin lỗi những nước này về những chính sách truyền đạo của giáo hội Ca-tô bằng bạo lực và cưỡng ép dân bản xứ theo đạo, bằng sự phá hủy các nền văn hóa địa phương, phá hủy đền đài, chùa miếu, tượng thờ của các tôn giáo khác v...v... đồng thời kêu gọi giáo dân phải sám hối về những tội ác và bất hạnh mà giáo hội Ca-tô đã gây ra cho nhân loại.

۩

Mục đích của LM Mai Đức Vinh khi viết bài trên là để tìm hiểu câu "Ðạo nào cũng giống nhau, cũng dạy làm lành lánh dữ" vào việc so sánh Công giáo với Phật giáo trên ba điểm chính”:
1) Người sáng lập đạo.
2) Niềm tin.
3) Sống đạo.

nhưng thực ra lại không phải là “so sánh” mà chỉ là liệt kê những sự khác nhau về ba đề mục trên, kèm theo những đoạn với mục đích truyền đạo rất rõ ràng.. LM Vinh viết:

LM Mai Đức Vinh: Chúng ta có thể khẳng định ngay rằng: đối chiếu Ðức Kitô và Ðức Phật, câu nói "Ðạo nào cũng giống nhau" không đúng. Xét về "Niềm tin," câu vừa nói cũng không đúng. Vì căn bản của quan điểm về Thiên Chúa (Thượng Ðế quan), về con người (nhân sinh quan) và về vạn vật (vũ trụ quan) giữa Công giáo và Phật giáo thật khác nhau. Xét về "Sống đạo," câu nói trên kia không hoàn toàn đúng, bởi vì trong cách sống đạo giữa Công giáo và Phật giáo có nhiều điểm giống nhau về sự kiện nhưng lại rất khác nhau về ý nghĩa.

Lẽ dĩ nhiên ai cũng biết, làm sao mà đúng được, vì Phật Giáo là đạo của “Trí Tuệ”, nghĩa là tín đồ phải tận dụng khả năng tư duy của con người để đi đến trình độ nhìn Vạn Pháp như chúng chính là như vậy (Như Thực Tri Kiến), còn Ca-Tô Giáo là đạo của “Đức Tin” [Faith], mà định nghĩa của Đức Tin trong Tự Điển là: “Sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực” (Firm belief in something for which there is no proof), theo định nghĩa của triết gia H. L. Mencken thì Đức Tin là: “Một kiểu tin phi-lô-gíc vào sự xảy ra của những gì không chắc có thực” (An illogical belief in the occurrence of the improbable), và theo định nghĩa của Sử gia Lloyd M. Graham trong cuốn Deceptions and Myths of the Bible thì “Đức Tin là niềm tin vào cái không biết. Nhưng vì cái không biết cũng là cái rất có thể không có thật. Đức tin vào cái không biết là sự điên rồ. Đó chỉ là niềm tin vào những sự phỏng đoán ngu ngốc của những kẻ tin khác” (Faith is belief in the unknown. But since the unknown is likely the unreal also. Faith in the unknown is foolishness, only belief in other believers’ ignorant asumptions – page 413)

Đó là sự khác nhau căn bản giữa hai tôn giáo: Phật Giáo và Ca-Tô Giáo. Nhưng mục đích của LM Mai Đức Vinh không phải là để diễn giảng sự khác nhau căn bản này mà là ở chỗ khác như chúng ta sẽ thấy trong vài đoạn mà tôi bất đắc dĩ phải phê bình. Nhưng trước khi phê bình LM Mai Đức Vinh, tôi xin đặt trước một câu hỏi về đạo Ca-Tô của LM Mai Đức Vinh, bất kể là LM viết gì để ca tụng người sáng lập đạo Ca-tô, Giê-su, về niềm tin Ca-Tô, và về lối sống đạo của tín đồ Ca-tô ở trong các đoạn sau trong “bài giảng” Câu hỏi của tôi như sau:

Trần Chung Ngọc: Tại sao Giáo hội Ca-tô Rô-ma hữu thần lại có một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, mang trên bờ vai trên dưới 200 triệu sinh mạng vô tội gồm già trẻ lớn bé, qua những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như những cuộc Thập Ác Chinh, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, những cuộc săn lùng và thiêu sống phù thủy, sử dụng những hình cụ tra tấn man rợ nhất trong lịch sử loài người, với chính sách bách hại người Do Thái, kỳ thị phái nữ, làm tiên phong hay theo gót thực dân để truyền đạo v.. v.. đến nỗi chính giáo hoàng John Paul II đã phải xưng thú trước thế giới 7 núi tội ác của Ca-Tô Giáo Rô-ma đối với nhân loại, trong khi các tôn giáo Đông Phương như Thích, Nho, Lão vô thần, ra đời trước Ca-Tô Giáo cả 5, 6 trăm năm nhưng không hề làm đổ một giọt máu trong lịch sử truyền đạo của mình??

Những bài viết khác về Ông Trời Việt Nam và Thượng Đế của Thiên Chúa Giáo:

 

... Chúng ta cũng không hề thấy người Anh hoặc người Pháp gọi Thiên Chúa là Mr. God! Monsieur Dieu!.... Hơn thế nữa, người Việt Nam còn tỏ thái độ xem thường ông Trời qua cách gọi Trời là “Con Tạo” hoặc “Trẻ Tạo Hóa”, thậm chí còn gọi con cóc là cậu ông trời!

- “Con cóc là cậu ông trời Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho” (Ca dao)

- “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán” (Nhị Độ Mai)

- “Đố kỵ sá chi con tạo Nợ tang bồng quyết trả cho xong” (Nguyễn Công Trứ) ...>>>

 

  • Có Jehovah trong Ca Dao Việt (Thiên Lôi))

    ... Không biết ai là người khởi xướng cái vụ “cách mạng tháng tám” này; nhưng có lẽ khởi đầu bởi một quái phẩm của ông cựu giáo sư Ca-tô gốc Phát Diệm Lê Hữu Mục với tập ‘Truyện Kiều và Tuổi Trẻ’ xuất hiện khoảng 1998 với luận điệu ép cụ Nguyễn Du phải “rữa tội theo đạo Ca-tô” cho bằng được; tiếp theo có bố chăn chiên tên Trương đức Kỷ aka Cao phương Kỷ, có bằng tiến sĩ, không biết lọai gì, (nếu mà tiến sĩ thần học thì ăn đong) thuộc Dòng Đồng Công ở Carthage, bang Missouri, gốc Bùi Chu đã viết một cuốn sách có tựa là “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo” bàn về chữ trời trong đời sống dân gian Việt lẫn chữ trời trong truyện Kiều của văn hào Nguyễn Du...." >>>

     

    ... Có lần thầy Tử-Lộ hỏi Đức Khổng-Tử về Thượng-Đế, quỷ, thần, Ngài khuyên rằng chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần “Vị năng sự nhân, yêu năng sự quỷ “. Tuy nhiên đối với thánh thần, ma quỷ thì nên kính trọng, nhưng tránh xa, “Kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị trí hỷ". Xin ghi chú thêm rằng có hai phái trong giới văn học cổ Trung-Quốc: Một phái cho rằng Khổng-Tử tin có quỷ thần. Một phái khác thì cho rằng Khổng-Tử không tin quỷ thần. Vấn đề này nếu bàn xa thì dài lắm. ...>>>

Tôi không tin rằng LM Mai Đức Vinh lại không biết đến lịch sử của Giáo hội Ca-tô như trên, nhưng có lẽ ông ấy không thể trả lời, vì từ xưa tới nay không có con chiên nào đưa ra câu hỏi đó. Nhưng tôi tin chắc là LM phải đồng ý với tôi ở điểm này: “Tôn giáo là để phục vụ con người, không phải để phục vụ bất cứ một đấng siêu nhiên toàn năng toàn trí nào ở ngoài thế gian mà chưa có ai thấy, chẳng có ai biết, không có ai hiểu v..v…và nhất là không có bất cứ một bằng chứng nào chứng tỏ là đấng siêu nhiên đó đã can thiệp vào những chuyện của con người. Và nếu thực sự có một đấng siêu nhiên như vậy thì đấng đó cũng không cần chúng ta phục vụ. Cho nên, một tôn giáo mà phạm những tội ác như trên thì tôn giáo đó không có một giá trị thiết thực đối với nhân loại, bất kể là tôn giáo đó do ai thành lập, do ai đứng đầu với bất cứ danh nghĩa nào. Sở dĩ một tôn giáo như vậy còn tồn tại là trên thế gian này còn rất nhiều người “ngu si vô trí” [xin hiểu đây là một thuật ngữ của Phật Giáo chỉ những người không có trí tuệ để biết rõ sự thật về một vấn đề nào đó chứ không phải để chỉ những người đầu óc ngu muội, trì trệ. Từ “ngu si vô trí” trong Phật Giáo có thể coi như là tương đương với quan niệm của Mục sư Ernie Bringas về một “đầu óc có một khuyết tật”, nghĩa là trong đầu có một điểm mù tôn giáo (a religious blind spot), sống trong thế kỷ 21 mà có những niềm tin của thế kỷ 17], và giáo hội đã lợi dụng khai thác tối đa cái “điểm mù tôn giáo” này của quần chúng. Nhưng một khi mà đầu óc của quần chúng mở mang ra để có thể “như thực tri kiến” thì tự nhiên tôn giáo đó phải suy thoái, vì một khi đã hiểu rõ sự thật thì không ai còn muốn tiếp tục sống trong những sự mê tín hoang đường của thời bán khai. Điều này đã xẩy ra ở khắp Âu Châu và đang lan dần sang Mỹ Châu”.

Sau đây là một đoạn trong “bài giảng” của LM Mai Đức Vinh cho chúng ta thấy rõ ý đồ của ông ta:

LM Mai Đức Vinh: Về Ðấng Sáng Lập Ðạo: Ðiều phải nói ngay: So sánh Chúa Giêsu với Ðức Phật không có nghĩa là đặt Chúa Giêsu và Ðức Phật ngang hàng nhau. Nhưng chúng ta có thể theo ý kiến của Cha Romano Guardini trong cuốn Le Seigneur, ngài viết: "Il n'y a qu'un personnage qui pourrait donner l'idée de le rapprocher de Jésus, c'est Bouddha" (Chỉ có một nhân vật có thể gợi lên ý tưởng xích gần người lại với Chúa Giêsu, đó là Phật Thích Ca). Rồi cũng chính Cha Romano Guardini trong cuốn "L"Essence du Christianisme" quyết đáp: "Le Christ n'est pas au niveau du Bouddha, mais ne peut être que infiniment au-dessus" (Ðức Kitô không thể đồng hàng với Ðức Phật nhưng chỉ có thể vô cùng trổi vượt).

Trần Chung Ngọc: Tôi có cảm tưởng là chủ tâm của LM Mai Đức Vinh là nói lên điều này, còn các phần khác trong bài giảng chỉ là trang trí cho vui, trừ phần cuối bài. Đây là mánh mưu rất quen thuộc trong sách lược truyền đạo mới của Ca-Tô Giáo, tương tự như luận điệu “Đức Phật chỉ là ngôn sứ của Thiên Chúa” hay như luận điệu của Giáo hoàng John Paul II viết trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”: “Nếu Chúa Ki Tô chỉ là một người khôn ngoan như Socrates, nếu Ngài là một tiên tri như Mahômét, nếu Ngài được “khai ngộ” như Phật Thích Ca, thì chắc chắn Ngài không còn là chính Ngài” Tại sao vậy? Giáo hoàng giải thích: Vì “Ngài là Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại”. Nghe giải thích đó mà không phải là giải thích có ai thấy vui không? Nhưng theo tôi thì Ngài có là Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại hay không, hay chính là Thiên Chúa đi chăng nữa, thì cũng chẳng có ai phủ nhận được nhận định sau đây của Bertrand Russell, một thiên tài toán học và triết lý, đã được giải thưởng Nobel năm 1950 về những lý tưởng nhân đạo và tự do suy tư (humanitarian ideals and freedom of thought):

Xét về trí tuệ hay đức hạnh tôi không thể nào cho rằng Đức Ki-Tô cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử - Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên trên Đức KiTô.”

(I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the matter of virtue Christ stands as high as some other people known to history – I think I should put Buddha and Socrates above him in those respects.):

Vấn đề ở đây là LM Mai Đức Vinh trích dẫn ý kiến của LM Romano Guardini nhưng không hề giải thích là LM Guardini đã căn cứ vào cái gì, vào ý tưởng nào của Đức Phật, để mà viết như trên và những lời viết như vậy có bao nhiêu giá trị trong lãnh vực học thuật?. Thật ra đó chỉ là những lời viết tầm bậy của những kẻ ngu si vô trí cuồng tín, nghĩa là tổng hợp của ngu si, dốt nát, hợm hĩnh [theo định nghĩa của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] chuyên viết bậy một cách vô căn cứ. Chỉ một người thường cũng hiểu rằng Đức Phật, sinh trước Giê-su hơn 500 năm, giảng về một đạo giác ngộ, nghĩa là con người phải tự tu tập để tiến tới giải thoát, còn Giê-su giảng về một đạo cứu rỗi, nghĩa là con người chỉ cần tin vào Giê-su, không cần biết không cần hiểu, thì sẽ được Giê-su cứu rỗi, hai giáo lý hoàn toàn trái ngược nhau. Thật vậy,

Tiến Sĩ George Dennis O’Brien, Giáo sư Triết, Viện Trưởng Viện Đại Học Rochester, trong cuốn “Thần Ki-Tô Và Đường Xe Lửa ở New Haven. Và Tại Sao Cả Hai Đều Chẳng Mấy Thành Công”. Trong cuốn sách này, giáo sư O’brien đã phân tích cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa một tôn giáo thuộc loại “cứu rỗi” và một tôn giáo “giác ngộ” như Phật Giáo, trg. 101-108:

Một tôn giáo “giác ngộ” tăng tiến trí tuệ tâm linh hoặc đạo đức của chúng ta bằng một giáo pháp nào đó. Một tôn giáo “cứu rỗi” cải đổi đời sống của chúng ta bằng cách dẫn chúng ta sống đời sống của chúng ta trong một người khác. [Chúa ở cùng ta]

[O’Brien, George Dennis, God and The New Haven Railway. And Why Neither One Is Doing Very Well, pp. 101-108: A religion of enlightenment improves our spiritual wisdom or our moral behavior by some teaching. A salvational religion converts our life by leading us to live our lives in another.]

Đúng như LM Mai Đức Vinh đã viết trong bài: “Chúng ta phải bước đi trong Ðức Kitô, hãy ăn rễ trong Ngài (Cl 2,6), sống kết hợp với ngài (1Ts 5,10), để chúng ta ở trong Ngài và ngài ở trong chúng ta (Galát 14,20), để "chính Chúa Kitô sống trong chúng ta" (Mihi vivere Christus est) (Pl 1,21)...” nhưng không hề giải thích là chúng ta ở trong Ngài và ngài ở trong chúng ta để làm cái quái gì?

Tôi không bàn đến niềm tin của những “bà lão Công Giáo nhà quê” [từ của LM Thiện Cẩm] mà luận bàn vấn đề trong nền học thuật về Ki Tô Giáo ngày nay. Theo những nghiên cứu trong nền học thuật này thì chúng ta ở trong Ngài và ngài ở trong chúng ta chẳng để làm cái quái gì, vì đó chẳng qua chỉ là sự tin nhảm tin nhí vào những huyền thoại cổ xưa mà ngày nay đã không còn chỗ đứng trong sự tiến bộ trí thức của nhân loại, điều mà một số nhà lãnh đạo trong Ki Tô Giáo đã phải thú nhận. Để kiểm chứng, xin độc giả hãy đọc bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi” (The Salvation Myth) của Linh Mục James Kavanaugh trên trang nhà sachhiem.net: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php, và bài “Giê-su Như Là Đấng “Cứu Thế”: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ” (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go) của Giám mục John Shelby Spong: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php. Tại sao những bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo như Linh mục James Kavanaugh và Giám mục John Shelby Spong lại có thể viết lên những chủ đề như vậy. Và đây không phải chỉ có hai người trên mà còn hàng trăm các tác giả khác ở trong Ki Tô Giáo cũng có những kết quả nghiên cứu tương tự. Việt Nam cũng có Charlie Nguyễn và Phạm Hữu Tạo. Như trên tôi đã nói, một khi mà đầu óc của quần chúng mở mang ra để có thể “như thực tri kiến” thì không ai còn muốn tiếp tục sống trong những sự mê tín hoang đường của thời bán khai. Và một khi đã tự giải hoặc rồi thì với sự lương thiện trí thức, họ phải có bổn phận giải hoặc cho quần chúng.

Như vậy, ý tưởng nào của Đức Phật mà Romano Guardini cho rằng xích gần người lại với Chúa Giê-su và xích lại để làm gì? Mặt khác, trong bài LM Mai Đức Vinh đã viết rất đúng là: “người Phật giáo sống từ bi, tụng niệm... chỉ qui về mình hay về người khác mà thôi. Bởi lẽ họ không tin có Thượng Ðế.” Và “Phật Giáo không tin nhận có một Thiên Chúa, một Thượng Ðế hay một ông Trời tối cao, tự hữu, sáng tạo mọi loài. Do đó không có "Thượng Ðế quan" trong Phật giáo.” Nếu Phật Giáo đã “không tin có Thượng đế” và đã “không có Thượng đế quan” thì ý tưởng nào của Đức Phật xích gần người lại với Chúa Giê-su, con của Thượng đế? Có phải là Romano Guardini chỉ viết bậy không, nhưng LM Mai Đức Vinh lại không thấy sự mâu thuẫn giữa những câu viết trên của chính ông về Phật Giáo và câu của LM Romano Guardini, mục đích của ông chỉ là trích dẫn nhảm nhí ý tưởng bậy bạ của LM Romano Guardini để đề cao Chúa của mình, mà không biết rằng mình đã tự mâu thuẫn với chính mình, và do đó đã tự dứt khoát bác bỏ mọi luận điệu của LM Romano Guardini. Nhưng giới độc giả ngày nay thì không ngu như các tín đồ của LM Mai Đức Vinh mà LM viết gì họ cũng phải tin theo, cho nên họ thấy ngay sự mâu thuẫn trên và ý đồ truyền đạo bất kể thủ đoạn của LM Mai Đức Vinh.

Khi so sánh Đức Phật với Giê-su, với tư cách là những người sáng lập đạo, LM Mai Đức Vinh đã trích dẫn một loạt những câu trong Tân ước, cho đó là những chân lý mạc khải không thể sai lầm, để nói về Giê-su qua ba luận điểm: Giê-su là Thiên Chúa làm người; Chọn đạo là chọn chính Chúa Giê-su; và Đức Ki Tô là người giải thoát và là cứu cánh giải thoát. Nhưng những luận điểm trên đã trở thành vô giá trị trong lãnh vực học thuật vì đó chỉ là những điều người Ca-Tô tin, tin chỉ vì đó là những điều viết trong cuốn Bible, mà những điều viết trong cuốn Bible mà người Ca-Tô tin thì không có gì bảo đảm đó là những điều thật, có tính phổ quát, đúng khắp mọi nơi. Nhiều học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đã đồng thuận ở điểm: “Trong cuốn Bible có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như khoa học”. Những người truyền đạo Ca-Tô hay Tin Lành thường cho rằng những người ngoại đạo không biết gì về cuốn Kinh của Ki Tô Giáo cho nên họ muốn trích dẫn vụn vặt thế nào, diễn giải thế nào để mê hoặc giáo dân và lừa bịp quần chúng cũng được. Đây là một sự đánh giá sai lầm lớn, vì những người ngoại đạo lại đọc kỹ cuốn Kinh đó hơn ai hết trong khi những người trong đạo, kể cả các Linh Mục, thường không đọc hoặc chỉ đọc những đoạn được dạy để giảng đạo. Những người này không hề biết rằng cuốn Kinh của Ki Tô Giáo, Cựu Ước cũng như Tân Ước, đã được nhiều học giả phân tích rất kỹ, từng câu, từng chữ, đối chiếu với cổ sử, và từ đó đã khám phá ra những điều mà các tín đồ được dạy để mà tin, và ngay cả chính “Chúa Giê-su” cũng tin một cách sai lầm, thí dụ như Ngũ Kinh là do Moses viết nhưng thực ra thì không phải là Moses viết, và Thi Thiên tất cả là do David viết nhưng sự thực cũng không phải v…v… Trở lại câu viết của LM Romano Guardini mà LM Mai Đức Vinh trích dẫn để đề cao Chúa Giê-su của ông ta, có vài câu hỏi cần được đặt ra:.

Giêsu có phải là một con người đáng để cho chúng ta xích lại không? Giê-su có những giá trị gì về trí tuệ cũng như đạo đức để cho chúng ta muốn xích lại gần ông ta và xích lại để làm gì? Chúng ta xi1xh lại để học hỏi và tu tập những giáo lý siêu việt của Giê-su hay là xích lại chỉ vì chúng ta ham hố một sự cứu rỗi không tưởng trong thời đại văn minh tiến bộ khoa học ngày nay. Và có thật là Giê-su cao hơn Đức Phật không, cao hơn như thế nào? Cao hơn là vì theo Giáo hội dạy rằng, Giê-su đã bay lên trên trời và hiện ngồi yên “trên tay phải “ [on the right hand] của Chúa Cha ở trên Thiên đường, trong khi trái đất vừa di chuyển xung quanh mặt trời với vận tốc 66650 miles/h [107278.87 km/giờ], và vừa quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc 1037.5646 miles/h [1669.8 km/giờ]??. Đối với trái đất như là hệ thống qui chiếu, không biết Thiên đường có điên đảo, đảo điên trong vũ trụ hay không?

Đến đây chúng ta lại cần phải tìm hiểu về nhân vật Giê-su trong Tân ước. Những giá trị về Trí Tuệ và Đạo Đức của Giê-su đã được tôi phân tích trong cuốn “Người Việt Nam Theo Đạo Giê-su Là Vì Cái Gì ?”, viết chung với Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, Phần I, Mục V: http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TCN_NMQ3.php.

Ở đây tôi chỉ đưa ra vài điểm chính, dựa trên những kết quả nghiên cứu của các học giả trong chính Ki Tô Giáo:

Ở trên tôi đã trích dẫn một nhận định của Bertrand Russell về “Chúa Ki-Tô”. Thật ra thì, nhận định như trên, Bertrand Russell quả đã đánh giá quá cao Giê-su khi so sánh với Socrates và Đức Phật, vì nghiên cứu kỹ về hai thuộc tính của Giê-su: trí tuệ và đạo đức, chúng ta thấy Giê-su không có gì có thể so sánh với Socrates và Đức Phật. Tại sao? Vì trí tuệ của Giê-su không thể gọi là trí tuệ, và đạo đức của Giê-su cũng không thể gọi là đạo đức như tôi đã chứng minh khá đầy đủ với nhiều chi tiết trong http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/TCN_NMQ3.php.

۩

LM Mai Đức Vinh viết rằng tìm hiểu để so sánh Công giáo với Phật giáo” nhưng tôi không thấy ông ta so sánh về bất cứ điểm nào trong hai tôn giáo. Khi viết về những người sáng lập ra Ki Tô Giáo thì ông ta chỉ đưa ra những nhận định như sau, với mục đích gì chắc ai cũng hiểu:

- Chúa Giê-su: Ngài là Thiên Chúa làm Người.

- Đức Phật Thích Ca: Ðức Phật chỉ là người trần, tu thân thành Ðại Giác (illuminé).

- Chính Ðức Kitô người giải thoát và là cứu cánh sự giải thoát.

- Ðức Phật không phải là người giải thoát và không phải là cứu cánh sự giải thoát.

Cái mánh mưu của LM Mai Đức Vinh đã rõ ràng, đó là luận điệu hạ cấp quen thuộc của những kẻ ngu si vô trí, tưởng làm như vậy là có thể vinh danh Chúa của họ. Nhưng càng làm như vậy họ càng để lộ cái sự yếu kém và thiếu tự tin của họ, vì họ không bao giờ có đủ can đảm để đi vào sự thảo luận những vấn đề chính họ nêu ra. Thật vậy, LM Mai Đức Vinh đã tránh né không luận bàn so sánh về giáo lý của Giê-su và giáo lý của Đức Phật, so sánh đạo đức của Giê-su và đạo đức của Đức Phật, những điều không thể không có trong sự so sánh. Hơn nữa, LM Mai Đức Vinh còn tự tỏ ra trình độ hiểu biết rất thấp kém của mình. Ông ta cũng không biết gì về sự khác biệt giữa quan niệm giải thoát trong Ki Tô Giáo và trong Phật Giáo, cho nên ông ta không dám xác minh là giải thoát khỏi cái gì, cho nên đã viết bậy bạ như trên. Tại sao tôi lại bảo là ông ta viết bậy bạ để vinh danh Chúa của ông ấy? Bởi vì ông ta không biết rằng, trong cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”, Giáo hoàng John Paul II đã đưa ra một nhận định như sau:

Tuy nhiên, cần phải nói ngay rằng giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Ki-Tô giáo đối ngược nhau. (Nevertheless, it needs to be said right away that the doctrines of salvation in Buddhism and Christianity are opposed. p.85). Vậy thì hai câu trên về “là” và “không phải là” của LM Mai Đức Vinh hoàn toàn vô nghĩa nhưng không phải là không có hậu ý. Nhưng ông ta không thể thành công vì tà không bao giờ có thể thắng được chánh, nếu chúng ta đi sâu vào việc phân tích những vấn đề mà LM Mai Đức Vinh cố tình tránh né.

Thứ nhất, vấn đề không đơn giản chỉ là sự khác nhau giữa một nhân vật mà người ta tin là Thiên Chúa [Giê-su] và một nhân vật có thật [Đức Phật]. Do đó, Thiên Chúa hay là người trần, tư cách và đạo đức cá nhân phải là những tấm gương để cho chúng ta soi vào. Nếu LM không đi vào sự so sánh quan trọng này thì tôi đành phải làm thay ông để bổ túc cho bài giảng của ông.

Phật Giáo có thiên kinh vạn quyển, nhưng trong đó chúng ta không thể kiếm ra một hành động nào hay một lời nói ác độc nào của Đức Phật. Mọi ngôn từ, hành động của Đức Phật đều thể hiện lòng từ bi vô lượng. Trái lại, đọc cuốn Kinh của Ki Tô Giáo, chúng ta thấy về phương diện giáo lý cũng như đạo đức, Giê-su không hề có một giáo lý nào độc đáo, và về vấn đề đạo đức thì chỉ những người không bao giờ đọc đến Tân ước mới cho rằng Giê-su là người có đạo đức. Chứng minh?

Trước hết, về giáo lý thì Giê-su đã giảng dạy những gì? Tất cả cái gọi là giáo pháp của Giê-su, đã được một số học giả nghiên cứu, nhận định rõ ràng. Sau đây là hai thí dụ điển hình:

a) “Tất cả những điều Giê-su nói, giáo lý, bài giảng đều đưa tới một đơn từ: “Ta”” [mà Pháp thì có thành ngữ: “Cái “Ta” thật là đáng ghét” [Le Moi est haissable]. TCN]

(William Hirsch: All his sayings, his teachings, his sermons culminated in a single word: “I”)

b) Tất cả những điều rao giảng của Giê-su có thể nhận ra rõ ràng. Chúng nằm trong hai câu có ý nghĩa y hệt nhau: “Hãy thống hối, và tin vào Phúc Âm” hoặc, ở một nơi khác “Hãy thống hối, vì Nước Thiên Đàng sắp tới”

(Hermann Samuel Reimarus: What belongs to the preaching of Jesus is clearly recognized. It is contained in two phrases of identical meaning, “Repent, and believe the Gospel,” or, as it is put elsewhere, “Repent, for the Kingdom of Heaven is at hand”.)

Và nhận định sau đây của Joseph L. Daleiden, một học giả Ca-Tô, trong cuốn The Final Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát hơn:

Có rất ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta cho là của Giêsu. Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ… Một điều rõ ràng: Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian. Trong cuốn “Nguồn Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm”, Joseph McCabe (Một Linh Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và dân gian.

[Daleiden, Joseph L., The Final Superstition, p. 174: There is very little, if anything, that is original in the teaching attributed to Jesus. Like the myth of Jesus itself, the sentiments he expresses are a hodgepodge of aphorisms and moral convictions that can be found in the ancient Egyptian, Babylonian, Persian, Greek, Buddhist, Confucian, and Hindu religions… But one thing is certain: Christianity, a late-comer in the history of religion, merely plagiarized sentiments from Judaism and the so called pagan religions. In his book Sources of Morality in the Gospels, Joseph McCabe quoted the moral views attributed to Jesus in the gospels and in parallel columns gave exact moral equivalents from Jewish and pagan writers.]

Thật vậy, đọc Tân Ước và với một chút kiến thức về triết học và tôn giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không phải là sai. Và chúng ta nên nhớ, Joseph L. Daleiden chỉ nói về những điều mà người ta cho là có ý nghĩa phần nào về đạo đức và luân lý, chứ không kể đến những điều vô đạo đức và phi luân lý của Giê-su trong Tân ước, như tôi sẽ chứng minh qua vài câu chuyện trong Tân Ước như sau.

۩

Chúng ta hãy bỏ qua những chuyện như Giê-su hỗn hào với cha mẹ, gọi Phê-rô là Satan, và nguyền rủa những người không tin Giê-su là đồ rắn rết v..v.. và dọa sẽ đầy đọa họ xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa vĩnh hằng của ông ta thiêu đốt. Trong Tân Ước còn có vài chuyện chứng tỏ hơn gì hết cái gọi là đạo đức của Giê-su.

1. Chuyện Giê-su đuổi quỷ, Matthew 8: 28 – 34:

Có hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo. Chúa phán “đi ra”, chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo (độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống biển chết chìm hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và… xin Ngài (có nghĩa là đuổi) hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.

Chúng ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Giê-su “lòng lành vô cùng” của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2 con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết chìm hết? Như vậy có phải là Giê-su là người không có lòng nhân, vô cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn nhẫn. Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi Giê-su đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng.

۩

2. Chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung. Matthiew 21, 18-21:

Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy đói. Trông thấy cây vả bên đường. Người lại gần nhưng không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói: “Từ nay, không bao giờ mày có trái nữa!” Cây vả chết khô ngay lập tức. Thấy vậy, các môn đệ ngạc nhiên nói: “Sao cây vả lại chết ngay lập tức như thế?” Đức Giêsu trả lời: “Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế.”

Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những người đã bị nhồi sọ một chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có thể cho câu chuyện cây sung ở trên là “một lối giảng dạy bằng dụ ngôn”. Câu chuyện về cây sung chẳng phải là một “dụ ngôn” mà đã nói rõ một điều: Giê-su hứa hẹn với các tông đồ là: ai có lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức, ngoài ra còn có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống biển? Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có thể làm được bất cứ cái gì mà mình muốn. Bởi vì câu cuối trong câu chuyện này, Matthiew 21: 22, Giê-su phán rằng: “Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin bất kỳ việc gì, thảy đều được cả.”

Chỉ có điều, trong 2000 năm nay, người tin Giêsu thì rất nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Giê-su trên trần (Vicars of Christ), các linh mục tự nhận là “Chúa Ki-tô thứ hai” (alter Christus), và tất nhiên có cả triệu giáo dân khác, nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những chuyện này. Có luận điệu ngụy biện rằng: không làm được vì chưa đủ đức tin. Nhưng nói như vậy thì trong số cả tỷ tín đồ Ca-tô không có ai đủ đức tin hay sao, kể cả các “đại diện Chúa trên trần” và các “Chúa Ki tô thứ hai”.

Về chuyện Chúa nguyền rủa cây sung ở trên, các chuyên gia phân tích Tân Ước kết luận rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như về đạo đức cùng một lúc:

- Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.

- Hủy diệt vô lý vĩnh viễn một cây ra trái ăn được.

- Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ý.

- Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần có lòng tin là có thể

thay đổi tình trạng vật chất thiên nhiên bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.

Như chúng ta đã thấy, nhiều bằng chứng ngay trong Tân Ước chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những sai lầm và có một kiến thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một cách bất thường v..v.. Nhưng LM Mai Đức Vinh thì lại tin rằng “Ngài là đường đi, là sự sống và là chân lý (Galát 14,6) là sự sống vĩnh cửu (1Galát 5,20).” như ông ta đã viết trong bài. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự tôn của Giê-su như “Ta là con đường, là sự thật, là sự sống” hay “Ta là ánh sáng của thế gian” v..v.. được hay không? Con đường đi tới đâu? Đi tới mê tín dị đoan? Sự thật đó là sự thật nào? Hứa hẹn vô trách nhiệm đối với những người tin ông ta? Ánh sáng gì của thế gian? Ánh sáng soi sáng trí tuệ và đạo đức con người? Hay ánh sáng của gươm giáo, bom đạn trong lịch sử Ki-Tô Giáo?

Tân Ước có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy là “Chúa toàn hảo”, “Tình Yêu của Chúa” bao trùm thế gian v..v.. nên phải “Kính Chúa” và hãy hãnh diện là “đầy tớ hầu hạ Chúa”, “thờ phụng Chúa”. Nhưng Giám Mục John Shelby Spong thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông ta tin nhảm nhí. Do đó, về chuyện đuổi qủy và nguyền rủa cây sung ở trên, ông đã viết:

Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?…

Cuốn Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

(John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21,24: Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon? Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?…

A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.)

Ngoài ra, Giám mục John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu Tân ước, đã đưa ra thêm một nhận định khác về Giê-su như sau:

Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả.

(There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

Và Jim Walker cũng viết trên Internet trong bài Chúng Ta Có Nên Kính Ngưỡng Giê-su Không? (Should We Admire Jesus?):

Giê-su trong Thánh Kinh có xứng đáng với vinh dự mà người ta đã ban cho ông ta hay không? Bất hạnh thay, những người giảng đạo, mục sư, và giáo sĩ đã giảng cho chúng ta những câu chuyện với thành kiến một phía, nhấn mạnh và thổi phồng những điều mà họ thấy là tích cực và dẹp bỏ hoặc bỏ qua những điều tiêu cực. Nền học thuật về Thánh Kinh trong trăm năm nay không được những người thường biết đến. Trong khi đó thì, chúng ta thấy những mục sư và nhà truyền đạo trên TV chính trị đã khẳng định những điều vô nghĩa trong Thánh Kinh mà không bị ai đặt vấn đề trách nhiệm của họ. Tuy trên 90% gia đình ở Mỹ có một cuốn Thánh Kinh, thường là không đọc đến, hoặc nhiều nhất là làm nhẹ bớt hoặc lược bỏ khi muốn nói về Thánh Kinh.

Nhiều tín đồ Ki-Tô-giáo không hề biết đến là nhiều đoạn trong các Phúc Âm trong Tân Ước, Giê-su được mô tả như là một con người đầy hận thù, xấu xa, bất khoan dung, và đạo đức giả.

[Does the Biblical Jesus merit the honor bestowed upon him? Unfortunately, preachers, ministers, and clergymen have given us biased, one-sided stories, emphasizing and inflating what they see as positive while subverting or ignoring the negative. Biblical scholarship of the last hundred years has not reached the common man. Instead, we see political ministers and televangelists making absurd biblical claims without anyone calling them accountable. Although over 90 percent of households in America own a Bible, it usually goes unread, or at best sanitized or bowdlerized to what people want it to say.

Unbeknownst to many Christians, many times the Gospels of the New Testament portray Jesus as vengeful, demeaning, intolerant, and hypocritical.]

Vậy thì sự khác nhau giữa Thiên Chúa của LM Mai Đức Vinh và Đức Phật “chỉ là người trần”, theo LM Mai Đức Vinh, là như thế nào, LM Mai Đức Vinh có thể soi sáng cho chúng tôi, những đệ tử của một “người trần” về vấn đề này. Để giúp ông có thêm tài liệu, tôi xin cống hiến ông một câu chuyện rất hay khác trong Tân Ước, rất quen thuộc với mọi người nhưng hình như không có ông Linh mục nào chịu giảng cho tín đồ trong nhà thờ.

۩

3.  Câu chuyện sau đây trong Tân Ước để tặng LM Mai Đức Vinh và các tín đồ Ca-Tô Việt Nam, hi vọng quý vị sẽ đọc kỹ chuyện này, Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.” Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.” Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.” Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.” Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ [nghĩa là những người phi-Do Thái] ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.” Và người đàn bà kia nói: “Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ.” Rồi Giê-Su trả lời: “Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà.” Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó.”

(When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon. And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, “Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is severely demon-possessed.” But He answered not a word. And His disciples came and urged Him, saying, “Send her away, for she cries out after us.”. But He answered and said, “I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel.” Then she came and worshipped Him saying, “Lord, Help me!” But He answered and said, “ It is not good to take the children’s bread and throw it to the little dogs.” And she said, “True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters’ table.” Then Jesus answered and said to her, “O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire.” And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi không hiểu LM Mai Đức Vinh và các đồng bào theo đạo của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, rất có thể lòng tin của họ mãnh liệt và tự coi mình thấp hèn như bà già trong chuyện, cho nên vẫn tin rằng nếu mình hết lòng tin thì Giê-su sẽ đoái thương và cứu rỗi phần hồn sau khi chết, dù Giê-Su cũng đã chết như mình sẽ chết, đã hứa sẽ trở lại trong khi một số tông đồ của ông còn sống, nhưng vẫn biệt tăm cho đến ngày nay, gần 2000 năm sau.

Đọc Tân Ước tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị: khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi thì bị mắng là chó, nếu không phải là người Do Thái, khi thì bị mắng là đồ điên và mù, khi thì bị rủa là đồ rắn độc, bị đày đọa hỏa ngục v..v.. nếu chẳng may không chịu tin ông ta là con của Thượng đế. Hình ảnh của một Chúa nhân từ, được Tin Lành quảng cáo là “Giê-su thương yêu bạn” [Jesus loves you] đầy trên đường phố ở Mỹ, quả thật không phù hợp với những ngôn từ Chúa nói trong Thánh Kinh.

Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ Madalyn O’Hair bình luận như sau:

Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này [Ki Tô Giáo]. Đối với người nào thực sự “thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ” tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.

(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For someone who really “truly feels in his heart that Jesus is his Savior” I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214:

Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, “Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn.” (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, “Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?” Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện [trong Tân ước] cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

[Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, “It is not fit to take the children (of Israel’s) bread and to cast it to dogs.” (Matthew 15:26) In other words he said, “You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?” How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.]

Người Việt Nam không phải là người Do Thái, ai cũng biết vậy, nhưng vẫn cần phải nhắc lại ở đây. Tuy nhiên chẳng có ai cấm người Việt nam tin rằng mình sẽ được Giê-su cứu chuộc như cứu chuộc người Do Thái, dù mình không phải là người Do Thái, và chính người Do Thái cũng không ham hố sự cứu chuộc giả tưởng đó. Nhưng dựa trên chính những điều viết trong Tân Ước mà tôi vừa trích dẫn ở trên thì tôi bắt buộc phải nghĩ rằng, ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Nhưng ở cái thế giới tự do này, mọi người, dù không phải là người Do Thái, đều có quyền “xích lại gần” Giê-su nếu muốn, nhưng đây tuyệt đối không phải là “ý tưởng” của Đức Phật như cái tên Romano Guardini đã viết bậy.

۩

Ý đồ vơ quan niệm về “Ông Trời” của Việt Nam vào làm Thiên Chúa của Ki Tô Giáo để lừa bịp người dân Việt Nam thật là rõ rệt trong đoạn cuối trong “bài giảng” của LM Mai Đức Vinh. Chúng ta đã thấy thủ đoạn này trong vài bài của người Ca-Tô trước đây: LM Trần Cao Tường, LM Cao Phương Kỷ, Giáo dân Nguyễn Huy Lai v..v.. Sau đây là đoạn LM Mai Đức Vinh viết bậy về Đạo Phật và quan niệm “Ông Trời” của Việt Nam: ... Ðạo Phật là con đường dẫn họ đến với ông Trời. Do đó chúng ta không thể đồng ý với ông Phạm Trọng Chánh về nhận định: "Ðối với người Việt Nam, ông Trời không có nghĩa là Ðấng Sáng Tạo, khai sáng ra vũ trụ, vạn vật và con người". Trái lại, chúng ta coi là xác đáng lời viết sau đây của ông Ðoàn Quang trong bài "Trời người Việt Nam qua ca dao." Ông viết: "Trời đã ghi dấu vạn năng của Ngài trên không trung cao vút và trong vực thẳm khôn dò, trong cỏ cây hoa lá, cũng như trong sóng nước đại dương. Ðồng ruộng mênh mông và biển khơi bát ngát trải rộng trước tầm mắt chúng ta. Dấu chân của Trời là ở đó. Ngài còn được ghi khắc trong tận thâm tâm của lòng người. Người Do Thái gọi Ngài là Yahweh, người Ấn Ðộ gọi Ngài là Bhram, Người Trung Hoa gọi Ngài là Thượng Ðế, còn người Việt Nam gọi Ngài là Trời, là Ông Trời. Trời của người Việt Nam vượt trên mọi thần minh. Dù ông theo đạo Khổng hay đạo Lão, dù bà theo đạo Phật hay Cao Ðài, dù anh chị chỉ thờ cúng Tổ Tiên... thì ông bà hay anh chị vẫn nhận rằng trên Ðức Khổng, Ðức Lão, Ðức Phật vẫn còn có một Ðấng Tối Cao mà người mình quen gọi là Ông Trời. Trời quyền năng, Trời tác tạo vạn vật, Trời can thiệp vào cuộc sống dân gian, Trời ban phúc, Trời giáng họa...". Chúng ta có thể đan cử một vài trong hàng trăm câu ca dao xưng tụng ông Trời

Tôi chẳng buồn phê bình đoạn trên làm chi, vì nó phản ánh một sự ngụy biện bất lương trí thức rõ rệt. Tác giả đã viết càn viết bậy vì không hiểu gì về nền văn hóa của Việt Nam, cũng không hiểu gì về cấu trúc của vũ trụ, cũng chẳng thể phân biệt nổi giữa Yahweh của người Do Thái và Thượng đế của người Trung Hoa, khoan nói đến quan niệm về ông Trời của Việt Nam.

Chúng ta đã thấy cùng một luận điệu rất ấu trĩ này trong vài bài của LM Trần Cao Tường, LM Cao Phương Kỷ, và tín đồ Ca-Tô Nguyễn Phúc Lai v..v… Có một bài viết về “Quan Niệm Về Ông Trời Của Việt Nam” tuyệt hảo, viết bởi một người Việt Ca-tô đạo gốc tỉnh ngộ: Charlie Nguyễn. Tôi xin mời độc giả, và khuyên những người muốn đánh đồng quan niệm về ông Trời của Việt Nam với Thiên Chúa của người Do Thái, hãy đọc bài “Quan Niệm Về Ông Trời Của Việt Nam”: http://home.comcast.net/~charlieng/ong_troi_cua_vn.html trong trang nhà của Charlie Nguyễn: http://home.comcast.net/~charlieng/.

LM Mai Đức Vinh trích dẫn câu “Lạy Trời Mưa Xuống” và vài câu tương tự khác trong dân gian Việt Nam để cho rằng như vậy là người Việt đang cầu Thần Yahweh Do Thái của ông ấy, nhưng lại không biết rằng ngày nay người ta có thể tiên đoán được khi nào trời mưa và mưa bao nhiêu, nhiều hay ít, lâu hay mau v..v…, và người ta cũng có thể làm ra mưa nhân tạo. Tôi thực tình không hiểu, ở ngoài đời thiếu gì nghề nghiệp lương thiện mà lại đi chọn cái nghề chăn chiên để cho đầu óc bị mù mịt, không còn biết gì hơn là cố sức mê hoặc các con chiên những điều không tưởng. Thật là quá tội nghiệp đi... Biết bao giờ họ mới mở mắt ra để thấy rằng họ đang sống trong Thế Kỷ 21 chứ không phải trong Thế Kỷ 12 ở Âu Châu.

Trần Chung Ngọc