|
ĐẢO CHÁNH THÁNG 11-1963: Anh Em Ông Diệm Nhu Đền Tội Nguyễn Xuân Ba http://sachhiem.net/LICHSU/N/NguyenXuanBa_05.php Nguyên nhân trực tiếp nổ ra cuộc đảo chính được cho là do chính quyền Ngô Đình Diệm độc tài, tham nhũng, gia đình trị, đàn áp Phật giáo. Cũng được xem có lý do khác là người Mỹ không còn tin tưởng chính quyền Ngô Đình Diệm nữa. Nhưng nguyên nhân chính là do Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 15 xác định đấu tranh giải phóng miền Nam... 1. Tình hình trước khi đảo chính: Chế độ Ngô Đình Diệm được dựng lên từ cuộc "cướp ngôi" của Bảo Đại qua một cuộc trưng cầu dân ý cưỡng ép và gian dối của Ngô Đình Diệm ngày 26-10-1955. Sau khi dẹp được chống đối của các giáo phái Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài, từ năm 1956 chính quyền Ngô Đình Diệm dần ổn định. Nhưng thời gian ấy không được bao lâu. Khi Đảng Cộng sản chủ trương chuyển từ đấu tranh chính trị sang vũ trang, ở miền Nam phong trào Cách mạng phát triển nhanh chóng, nhất là sau Đồng khởi ở Bến Tre năm 1959, tình thế gây bất lợi cho nhà Ngô. Chỉ sau đó một năm nội bộ chế độ VNCH đã xảy ra đảo chính. Cuộc đảo chính ngày 11-11-1960, do Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông cầm đầu. Cuộc đảo chính này thất bại.
Chỉ hơn một năm sau, ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc dùng máy bay Skyraider loại cánh quạt do Mỹ viện trợ ném bom vào Dinh Độc lập lúc 7 giờ sáng. Bom rơi trúng phía trên phòng ngủ của ông Diệm nhưng không nổ, Khi cả nhà ông Diệm Nhu xuống tầng hầm thì quả bom sau nổ làm hư hại Dinh. Phi công Phạm Phú Quốc bị tàu hải quân bắn phải hạ cánh ở nhà Bè, bị bắt bỏ tù, Nguyễn Văn Cử bay sang Campuchia xin tỵ nạn. Gia đình Ngô Đình Diệm dọn sang ở tại Dinh Gia Long.
2.- Cuộc đảo chính ngày 1-11-1963: 2.1.- Nguyên nhân: Nguyên nhân trực tiếp nổ ra cuộc đảo chính được cho là do chính quyền Ngô Đình Diệm độc tài, tham nhũng, gia đình trị, đàn áp Phật giáo. Cũng được xem có lý do khác là người Mỹ không còn tin tưởng chính quyền Ngô Đình Diệm nữa. Nhưng nguyên nhân chính là do Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 15 xác định đấu tranh giải phóng miền Nam bằng chính trị kết hợp với bạo lực, lãnh đạo nhân dân đấu tranh khiến nội bộ ngụy quyền, ngụy quân phát sinh mâu thuẩn gay gắt, dẫn đến lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Ngày 6 tháng 5 năm 1963, hai ngày trước lễ Phật đản, chính quyền Ngô Đình Diệm ra quy định các địa phương không được treo cờ tôn giáo ngoài khuôn viên cơ sở tôn giáo. Bắt đầu tại lễ Phật đản tại chùa Từ Đàm ở Huế, Phật tử đòi đài phát thanh của chính quyền phát bài thuyết pháp của Thượng tọa Thích Trí Quang, nhưng giám đốc đài từ chối. Đoàn Phật tử còn chưa giải tán thì đêm ấy có vụ nổ làm chết 8 người bị thương 15 người. Chính quyền quy tội cho Cộng sản trà trộn quăng chất nổ, phía Phật tử thì buộc tôi chính quyền ném chất nổ và nổ súng để giải tán biểu tình. Làn sóng phản đối ngày càng cao và xãy ra bạo động. Ngày hôm sau, 9 tháng 5, hơn 10 ngàn người kéo đến tư gia Tỉnh trưởng Thừa Thiên tại Huế đòi giải quyết 5 điểm: 1. Hủy bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo 2. Phật giáo được quyền bình đẳng với Công giáo. 3. Không được đàn áp Phật giáo 4. Phật tử được quyền thờ phụng tôn giáo của mình. 5. Chính quyền phải bồi thường cho các gia đình nạn nhân và trừng trị các người có trách nhiệm trong vụ bắn chết người ngày 8-5-1963. Phong trào Phật tử từ Huế lan vô Sài Gòn rồi các tỉnh miền Trung ngày càng dâng cao. Tại Huế chùa Từ Đàm, Sài Gòn chùa Ấn Quang là "Tổng hành dinh" của lãnh tụ Phật giáo. Tuyệt thực của Phật tử ngày càng nhiều, sinh viên biểu tình ở Huế rồi Sài Gòn...
Ngày 7-6-1963, Trần Lệ Xuân vợ Ngô Đình Nhu lên án các vị lãnh tụ Phật giáo bị phe cộng sản giật dây. Sáng ngày 11 tháng 6 năm 1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại lá thư tâm huyết: "Tôi, pháp danh Thích Quảng Đức, Trụ trì chùa Quan Âm Phú Nhuận, Gia Định. Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây: 1. Mong ơn Phật tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn. 2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt. 3. Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng Ni Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ ác gian. 4. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc. Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng gửi lời cho Tổng thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa. Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni Phật tử nên đoàn kết nhứt trí để bảo toàn Phật pháp. Thích Quảng Đức" Rồi Thượng tọa tự thiêu tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng tháng Tám) và Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) Sài Gòn.
Ngày 16-6-1963 tăng ni biểu tình trước tòa đại sứ Mỹ đồng thời tụ tập tại chùa Giác Minh dự tang lễ Thượng tọa Thích Quảng Đức. Cảnh sát đàn áp làm nhiều người bị thương, hàng trăm người bị bắt. Từ đó phong trào phản đối chính quyền tiếp diễn kéo dài... Đến ngày 1-8-1963, bà Trần Lệ Xuân trả lời phỏng vấn nói khích Phật giáo là sẽ cung cấp xăng cho việc nướng thêm sư. Nhiều người tiếp tục tự thiêu ở Phan Thiết, Nha Trang... Ông bà Trần Văn Chương (thân phụ bà Trần Lệ Xuân) đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ từ chức, ngoại trưởng Vũ Văn Mậu từ chức, cạo đầu và thành lập phong trào trí thức chống độc tài. Đến giữa tháng 8 Sài Gòn vẫn xảy ra biểu tình của sinh viên học sinh, ngày 19-19, thiền sư Thiện Mỹ tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.
Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge Jr. (trái) gặp gỡ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Tháng 9 năm 1963. Ảnh flickr.com 2.2.- Mỹ thay đổi chính sách với Ngô Đình Diệm: Ngày 22-8-1963, tân đại sứ Henry Cabot Lodge đến Sài Gòn. Mỹ đã thay đổi chính sách với chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 24-8-1963, Lodge gửi về Washington DC một điện văn báo cáo rằng ông Nhu là người ra lệnh tấn công chùa và nói về dự tính đảo chính của một số tướng lãnh. Cũng ngày này, thứ trưởng Ngoại giao George Ball, xử lý thường vụ ngoại trưởng, cùng Hariman (thứ trưởng Ngoại giao), Hilsman (phụ tá ngoại trưởng), Forrestal (phụ tá Tổng thống) đồng loạt ký tên mật điện 243 gửi Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn (sau khi được lệnh tổng thống Kennedy và ngoại trưởng Rusk cho phép). (xem Phụ đính) Nội dung đoạn cuối bức điện được dịch như sau: "Chính phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng tình trạng mà quyền hành lại nằm trong tay ông Nhu và các thuộc hạ của ông để thay vào đó bằng quân đội tinh nhuệ và các chính trị gia có tư cách. Nếu ông (tức đại sứ Lodge) cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn ngoan cố và từ chối thì chúng ta phải đối diện với một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm cũng không thể được bảo toàn". Ngày 25-8, trong chương trình phát thanh của đài tiếng nói Hoa Kỳ, tổng thống Kennedy họp báo tuyên bố rằng: nếu muốn công cuộc ngăn chặn cộng sản tại Việt Nam hữu hiệu thì cần phải thay đổi chính sách, thay đổi hệ thống nhân sự lãnh đạo Sài Gòn. Cũng thời gian này, Ngô Đình Nhu họp báo tuyên bố rằng Mỹ đang dự định tổ chức một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông tố cáo rằng "hiện thời ở Việt Nam bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng không thể thành công được trừ khi được Mỹ xúi dục và hậu thuẩn". Ngày 29-9-1963, bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara cùng tướng Maxwell Taylor qua Sài Gòn gặp tổng thống Diệm. McNamara nói với ông Diệm: Việc đàn áp Phật giáo gây trở ngại cho nổ lực chống cộng và phàn nàn về những tuyên bố của bà Ngô Đình Nhu, nhưng ông Diệm né tránh các vấn đề do McNamara đưa ra. 2.3.- Diễn biến: Ngô Đình Nhu đã "đánh hơi" được việc quân đội sẽ tổ chức đảo chính. Đối phó của Nhu là: - Chính quyền ra lệnh thuyên chuyển các tướng lãnh tư lệnh các Vùng Chiến Thuật: Đưa Tôn Thất Đính từ vùng II chuyển về vùng III, tướng Huỳnh Văn Cao được đưa về vùng IV, tướng Nguyễn Khánh được ra vùng II, tướng Đỗ Cao Trí ra vùng I. Những tướng bị nghi ngờ thì bị triệu về Sài Gòn giữ những chức vụ không có quân trong tay. Tướng Trần Văn Đôn làm cố vấn quân sự cho Phủ Tổng thống. Hai lực lượng hùng hậu nhất mà chính quyền tin cậy là lực lượng Đặc biệt do trung tá Lê Quang Tung làm tư lệnh và Lữ đoàn liên minh phòng vệ Phủ Tổng thống do trung tá Nguyễn Ngọc Khôi làm tư lệnh được bố phòng chặt chẽ nhằm sẵn sàng đối phó.
- Ngô Đình Nhu tổ chức một cuộc đảo chính giả để nắm chóp các tướng lĩnh phản lại chế độ nhà Ngô. Nhưng chính Nhu không lường được những sĩ quan mà ông tin tưởng lại nắm trong tổ chức đảo chính. Khi nổ ra đảo chính, Nhu hí hửng rằng bẫy đã sập sẽ bắt được cọp. Nhưng khi biết tin những người Nhu tổ chức đảo chính giả lại làm đảo chính thật thì chỉ còn kêu Chúa nhưng Chúa không nghe thấy. Chuẩn bị: Lucien Conein đặc vụ của CIA trở thành đầu mối liên lạc giữa Đại sứ quán Hoa Kỳ với các tướng lĩnh đảo chính, do Trần Văn Đôn đứng đầu. Ngày 23-10-1963, Conein gặp tướng Dương Văn Minh là người nói cho ông biết ý định đảo chính và yêu cầu người Mỹ hổ trợ nếu nó thành công. Về sau Conein kể lại: "Lệnh mà tôi nhận thế này: Tôi phải cho tướng Minh biết chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cản trở cuộc đảo chính của họ". Chuẩn bị cuộc đảo chính, các tướng lĩnh tổ chức đảo chính đưa một số đơn vị quân đội trung thành với chính phủ đi hành quân ở vùng xa Sài Gòn để các đơn vị này không thể ứng cứu khi đảo chính xãy ra. Ngày 29-10, để vô hiệu hóa lực lượng Đăc biệt (lực lượng thiện chiến và trung thành với chế độ), tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh Quân đoàn III, cũng là Tổng trấn Sài Gòn, ra lệnh cho các lực lượng này di chuyển ra khỏi Sài Gòn, truy quét cộng sản ở vùng mật khu Hố Bò, Củ Chi. Sáng ngày 31-10, tướng Tôn Thất Đính hạ lệnh cắm trại toàn thể Quân đoàn vùng III Chiến thuật và cử đại tá Nguyễn Hữu Có đem một đơn vị tới Bắc Mỹ Thuận tịch thu hết tất cả tàu bè để cản đường về Sài Gòn của bất cứ đơn vị nào thuộc vùng IV Chiến thuật. Chiều 31-10, đại tá Nguyễn Văn Thiệu Sư trưởng Sư đoàn 5 đã dẫn hai trung đoàn dưới quyền cùng một tiểu đoàn pháo binh và một chi đoàn thiết giáp mượn cớ đi hành quân ở Phước Tuy nhưng lại dừng chân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa và QL 15 đi Vũng Tàu. Đại tá Nguyễn Hữu Có án ngữ tại Phú Lâm, Con đường về miền Tây có thiếu tướng Mai Hữu Xuân với lực lượng Trung tâm huấn luyện Quang Trung án ngữ. Con đường từ phía bắc có đại tá Vĩnh Lộc với chiến đoàn Vạn Kiếp án ngữ. Như vậy, Sài Gòn đã bị cô lập về mặt quân sự trước khi nổ ra đảo chính. 3. Diễn tiến cuộc Đảo chánh: Sáng ngày 1-11-1963, Hồ Tấn Quyền bị các tướng lĩnh đảo chính loại bỏ khỏi chỉ huy binh chủng hải quân. Theo kế hoạch, tướng Trần Văn Đôn triệu tập các cấp chỉ huy của các đơn vị đồn trú tại Sài Gòn và các vùng phụ cận mà ông nghi ngờ trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm về cầm chân ở Bộ Tổng Tham mưu. Khi trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, tư lệnh Lữ đoàn phòng vệ tổng thống đến họp ở Bộ Tổng tham mưu thì bị còng tay với nhiều sĩ quan cao cấp khác... Lúc 11 giờ 30 ngày 1-11-1963, điệp viên CIA Lucien Emile Conein vào Bộ Tổng tham mưu, mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Đại sứ Mỹ và một bao tiền ba triệu bạc Việt Nam để hổ trợ cho cuộc đảo chính với lời hứa rằng Hoa Kỳ không làm bất cứ điều gì để bảo vệ Ngô Đình Diệm. Lúc 12 giờ 10, tại Dinh Gia Long, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm được tin báo về cuộc đảo chính ông và cố vấn Ngô Đình Nhu di chuyển xuống hầm bí mật đào dưới Dinh. Hầm này có phòng ngủ, phòng tắm và phòng khách cho Tổng thống và cố vấn, có địa đạo dẫn ra ngoài Dinh. Tại đây Diệm ra lệnh cho các sĩ quan cận vệ liên lạc với tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính yêu cầu ứng cứu. Vào 1 giờ 30 ngày 1-11-1963, Mai Hữu Xuân chế ngự được đơn vị của Lực lượng Đặc biệt đóng tại Tân Sơn Nhất, tướng Xuân đưa tân binh quân dịch huấn luyện tại Quang Trung chặn các ngả đường tiến về Sài Gòn. Trung tá Nguyễn Cao Kỳ, nắm Tư lệnh không quân (đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư lệnh không quân bị giam tại Bộ Tổng tham mưu) cho phi cơ phóng pháo bay lượn trên không phận Sài Gòn để uy hiếp lực lượng chống đảo chính. Thiếu tá Nguyễn Bá Niên (Cháu của đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc nha An ninh quân đội), tham mưu trưởng Lữ đoàn Thủy quân lục chiến ra lệnh 2 tiểu đoàn dưới quyền vờ đi hành quân ở núi Thị Vải, Bà Rịa rồi bất ngờ chuyển hướng về Sài Gòn chiếm Tổng nha Cảnh sát, Bộ Nội vụ, Nha Tuyền tin. Quân đảo chính do đại tá Phạm Ngọc Thảo sau hai lần tấn công chiếm được Đài Phát thanh Sài Gòn. Quân đảo chính thông báo danh sách những tướng lĩnh tham gia đảo chính, hầu hết các tướng lĩnh đều có tên trong danh sách này, trừ Tư lệnh Quân đoàn II, Quân đoàn I và Quân đoàn IV. Quân đảo chính phát lời hiệu triệu đại ý lý do quân đội phải đứng lên lật đổ chế độ và kêu gọi ông Diệm đầu hàng, hứa sẵn sàng để cho ông Diệm xuất ngoại và kêu gọi đồng bào đoàn kết làm hậu thuẩn cuộc đảo chính. Sự chống cự đảo chính chỉ diễn ra tại thành Cộng hòa, nơi Lữ đoàn phòng vệ Tổng thống trú đóng, nhưng đến sáng ngày 2 -11 thì lực lượng này buông súng đầu hàng theo lệnh của ông Diệm, để Nguyễn Văn Thiệu dẫn một trung đội vào tiếp thu. Ngô Đình Diệm thương lượng với phe đảo chính: Lúc đầu, ông Diệm hy vọng cuộc phản loạn cũng kết thúc như cuộc đảo chính ngày 11-11-1960. Ông chủ động gọi Trần Văn Đôn. Tướng Đôn tuyên bố với Ngô Đình Diệm phe đảo chính hành động để "đáp lại nguyện vọng của nhân dân" vì các tướng lĩnh đã đề nghị với Ngô Đình Diệm cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân nhiều lần nhưng không được đáp ứng. Ngô Đình Diệm đề nghị đối thoại với các tướng lĩnh để "tìm ra con đường củng cố lại chế độ". Tướng Đôn trả lời sẽ bàn bạc với các tướng lĩnh khác về đề nghị của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Xin ghi lại Hổi ký của ông Lý Quý Chung kể cuộc điện thoại giữa ông Diệm và ông Đôn: Ông Diệm: - Tướng lãnh các anh đang làm gì vậy? Tướng Đôn: - Thưa cụ, chúng tôi đã đề nghị với cụ nhiều lần rằng cụ cần cải cách chính sách theo nguyện vọng của nhân dân. Bây giờ đã đến lúc quân đội phải đáp lại nguyện vọng của nhân dân. Mong cụ hiểu chúng tôi. Ông Diệm: - Tại sao chúng ta không ngồi lại với nhau nói chuyện? Chúng ta sẽ bàn về cái mạnh cái yếu của chế độ, và tìm ra con đường củng cố lại chế độ. Tướng Đôn: - Có lẽ đã quá trễ để bàn về việc đó, thưa cụ. Ông Diệm: - Chưa bao giờ là trễ, do đó tôi mời tất cả các anh đến Dinh cùng bàn vấn đề, vạch ra một giải pháp được cả đôi bên chấp nhận. Tướng Đôn: - Thưa cụ, tôi phải hỏi lại ý kiến những người khác xem sao. Vào 4 giờ chiều 1-11-1963 ông Diệm gọi cho đại sứ Mỹ Cabot Logge để thăm dò thái độ của người Mỹ về việc các tướng lĩnh dưới quyền tổ chức đảo chính. Ông đề nghị sẽ thực hiện các yêu cầu của người Mỹ. Cabot Lodge khuyên Ngô Đình Diệm từ chức và lưu vong như mong muốn của phe đảo chính để bảo toàn tính mạng. Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận thức rằng người Mỹ đã bật đèn xanh với âm mưu đảo chánh của các tướng lĩnh. Ông Diệm thăm dò: -Tôi muốn biết thái độ của người Mỹ các ngài nhận định về việc này như thế nào? Lodge: - Xin lỗi, từ trước tới nay, tôi chưa từng nghe nói tin tức có liên quan tới đảo chính. Lodge giả vờ ngây ngô để tìm cách thoái thác. Ông nói tiếp: "Vả lại bây giờ là 4 giờ 30 phút sáng tại miền Đông nước Mỹ, Washington không thể ngay lập tức trả lời ngài được". Diệm: - "Nhưng về phía ngài chí ít cũng có cách nhìn khái quát chứ ạ! Tôi hiện tại chỉ mong làm theo mọi yêu cầu của người Mỹ các ngài và sẽ cố gắng hết mức. Tôi tin rằng, nhiệm vụ mà nước Mỹ giao cho chúng tôi là tối cao..." Lodge: - Đúng vậy, ngài tổng thống đã hoàn thành rất tốt sứ mệnh của mình... Nhưng điều tôi lo lắng nhất hiện nay là an toàn tính mạng của ngài. Nghe nói, nếu các ngài đồng ý chủ động từ chức, thì những kẻ chủ mưu chuyện này sẽ sẵn sàng cung cấp mọi phương tiện cho anh em ngài rời Việt Nam, không rõ ngài đã nhận đươc tin này chưa? Đến 6 giờ 30 chiều cùng ngày, ông Diệm gọi lại tướng Đôn, nhưng được tướng Đôn thông báo sự khước từ của phe đảo chánh. Họ đòi hai anh em ông Diệm phải rời khỏi đất nước. Ông Diệm đồng ý, nhưng đặt một điều kiện: phe đảo chính phải chấp nhận cho ông các nghi thức danh dự ra đi của một Tổng thống nhưng bị từ chối. Ông Diệm: - Tôi là một tổng thống dân cử của quốc gia. Tôi sẵn sàng từ chức công khai, và tôi cũng sẵn sàng rời khỏi đất nước. Nhưng tôi yêu cầu các ông dành cho tôi một nghi thức danh dự ra đi của một tổng thống. Tướng Đôn: - Thật sự, tôi phải nói rằng chúng tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của cụ về điểm này. Ông Diệm: - Thôi được, Cảm ơn. 4. Anh em Ngô Đình Diệm bị giết: Qua đài phát thanh biết các tướng Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính đều tham gia phe đảo chính, hết hy vọng còn người cứu giúp, khoảng 8 giờ tối, lợi dụng chiếc xe chở thực phẩm cho Dinh, anh em ông Diệm và mấy sĩ quan hầu cận ( đại úy Đỗ Thọ và đại úy Bằng) trốn thoát vào ở nhờ nhà Mã Tuyên, Tổng bang trưởng người Hoa, thủ lĩnh Thanh niên Cộng hòa ở Chợ Lớn, người làm kinh tài cho Diệm. Sáng sớm ngày 2-11, từ nhà Mã Tuyên hai ông sang dự lễ cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam. Tại đây, ông Diệm ra lệnh đại úy tùy viên Đỗ Thọ lấy điện thoại giáo xứ gọi về Bộ Tổng Tham mưu thông báo là hiện Tổng thống đang ở nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn. Khoảng 7 giờ sáng ngày 2-11-1963, một đoàn gồm có 3 chiếc xe Jeep, 2 chiếc thiết giáp M113, 3 chiếc GMC chở đầy lính vủ trang và các nhân vật: Tướng Mai Hữu Xuân, Đại tá Phan Ngọc Lắm, Đại tá Nguyễn Văn Quan, Đại úy Nguyễn Văn Nhung, Đại úy Dương Hiếu Nghĩa và Đại úy Phan Hòa Hiệp đến nhà thờ cha Tam để đón hai ông. Đại tá Lắm tuyên bố thừa lệnh Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng ép hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lên xe thiết giáp 113. Đại tá Lắm đến chào Ngô Đình Diệm: - Thừa lệnh Trung tướng Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn. Ngô Đình Diệm bèn hỏi: - Ông Đôn và ông Minh đâu hè? Đại tá Lắm đáp: - Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham mưu. Ông Diệm nói: - Thôi được, tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông. Đại tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói: - Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho. Ngô Đình Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng: - Không thể đón Tổng thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem. Đại tá Lắm khẽ nhún vai: - Tôi không biết, đây là lệnh của Trung tướng Chủ tịch. Đại úy Nhung liền oang oang: - Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi. Mặt cố vấn Ngô Đình Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt: - Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh, ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng được, nhưng còn tổng thống... Đại úy Nhung: - Ở đây không còn tổng thống nào cả. Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và kéo cửa lên... Trên đường về bộ Tổng tham mưu, tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát. Thi hài hai ông được đưa vào trạm xá của bộ Tổng Tham mưu quân lực VNCH để khám nghiệm. Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, Giám đốc bệnh xá và cũng là người đã tiến hành khám nghiệm thì hai ông Diệm, Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. xác Ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Trưa ngày 2-11, đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: "Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử!". Dư luận không tin anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Cố Tổng thống Diệm là một người ngoan đạo, mà đạo Thiên Chúa cấm tự sát. Thi hài anh em ông Diệm Nhu được âm thầm an táng trong vòng thành bộ Tham mưu, về sau thì di dời ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, với sự hiện diên của đứa cháu gái - bà Trần Trung Dung; làm thủ tục khai tử tại Tân Bình. Về nghề nghiệp của ông Diệm được ghi là Tuần Vũ, ông Nhu ghi là thủ thư viện. Sau đảo chánh hai anh em ông Diệm bị giết, có những phản ứng trong nội bộ quân đội Sài Gòn, phía Hoa Kỳ, cả của tổng thống Kennedy, các nước chư hầu, bè bạn của nước Mỹ như Nam Hàn. Đài Loan...Tổng thống Pakistan Ayub Khan nói với Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon: (Tổng thống Kennedy bị ám sát chết sau cái chết Ngô Đình Diệm hai mươi ngày). "Cuộc thảm sát tổng thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ". Mỹ tính toán đảo chính Diệm sẽ làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn mạnh hơn để đương đầu với Cộng sản. Nhưng từ đầu năm 1964 những cuộc đảo chính nối tiếp, nội bộ VNCH càng rối ren hơn. Từ sau 1-11-1963 đến ngày thành lập "Đệ nhị Cộng hòa" 20-11-1967, trong vòng bốn năm, miền Nam đã trải qua bốn chính phủ: chính phủ Nguyễn Khánh (quân nhân), chính phủ Trần Văn Hương (độc lập), chính phủ Phan Huy Quát (Đại Việt), chính phủ Nguyễn Cao Kỳ (quân nhân). Rồi cũng vì tranh giành quyền lực Nguyễn Cao Kỳ bị Nguyễn Văn Thiệu hất cẳng. Như chúng ta đã biết chế độ VNCH trước (anh) của họ Ngô tồn tại chỉ được 9 năm, chính phủ VNCH sau (em) chỉ "sống" được chưa được 8 năm, nó bị khai tử vào giữa tháng Tư 1975. Đây là chế độ chết yểu thứ nhì trong trong lịch sử dân tộc Việt Nam, so với thời đại nhà Hồ (1400-1407). Đồng chí Lê Duẩn có nhận xét: "Để hòng cải thiện thể chế chính trị ngày càng tồi tệ, Mỹ đã vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đã tính nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đình Diệm, thế chính trị của bọn bù nhìn chẳng những không tốt lên mà còn xấu hơn nữa". Người viết bài này xin nói một câu: Ai nói VNCH không phải chư hầu; Ngô Đình Diệm không phải tay sai, lệ thuộc Mỹ thì hãy đọc lại cuộc đối thoại giữa Ngô Đình Diệm với đại sứ Lodge ở trên kia cho kỹ để được "sáng mắt sáng lòng" ______________ Nguồn: tác giả gửi PHỤ ĐÍNH: Mật điện 243 Bản nháp soạn ngày 24/8/1963, bởi: Roger Hilsman (Giám đốc Phòng Tình báo và Nghiên cứu) Chấp nhận điện văn và xếp loại hồ sơ mật bởi: Averell Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao về Viễn Đông Sự Vụ) Giải mật ngày 20/4/1998 (tài liệu được ghi bởi Thư Viện Hoa Sen) (LỜI NGƯỜI DỊCH: Hồ sơ này trong Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia gọi bằng nhiều tên khác nhau – DEPTEL 243, còn gọi là Telegram 243, hay August 24 Cable, hay ngắn gọn là Cable 243. Phần lớn nội dung của hồ sơ này cũng được ghi lại vào The Pentagon Papers. Có vài điểm ghi nhận như sau: ● Điện văn 243 chỉ gửi tới cấp cao nhất, trong các nhà ngoạị giao Mỹ tại VN chỉ gửi riêng tới Đại sứ Henry Cabot Lodge; còn trong giới quân sự Mỹ chỉ gửi riêng tới Đô Đốc Harry Felt, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương. ● Chính phủ Mỹ ủy quyền cho Đại sứ Lodge nói thằng với ông Diệm, rằng Mỹ không đồng ý việc ông Nhu chỉ huy cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt tấn công các chùa. ● Ủy quyền cho Lodge đòi ông Diệm trả tự do tức khắc cho tăng ni, và xóa bỏ Dụ Số 10 tức khắc. Nói thẳng, nếu không làm, Mỹ sẽ ngưng mọi viện trợ quân sự và kinh tế. ● Ủy quyền cho Lodge nói với các tướng lãnh Việt Nam rằng Mỹ sẽ ủng hộ trong thời gian chuyển tiếp quyền lực để gỡ bỏ ông bà Nhu, và nếu Diệm ngoan cố, sẽ thay thế Diệm luôn. ● Cho Đại sứ Lodge toàn quyền soạn kế hoạch, thực hiện. Đính kèm nguyên văn bản PDF / .JPEG. Bản dịch thực hiện bởi Cư sĩ Nguyên Giác.) __________________ BẮT ĐẦU DỊCH HÀNH ĐỘNG: Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn - Xử Lý Tức Khắc CHỈ ĐỌC THÔI -- ĐẠI SỨ LODGE CÙNG GỬI: CINCPAC/POLAD (Bộ Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương/Nhóm Cố Vấn Chính Sách Ngoại Giao Hoa Kỳ) RIÊNG TỚI ĐÔ ĐỐC FELT CẤM PHÁT TÁN Về việc: Điện văn 0265 từ cơ quan CIA tại Saigon báo cáo về quan điểm Tướng Trần Văn Đôn; Các điện văn Saigon 320, Saigon 316 và Saigon 329 (từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn gửi về). Bây giờ đã thấy rõ rằng cho dù là thiết quân luật do quân đội VNCH đề ra hay do Nhu gài bẫy họ để ra luật này, Nhu đã lợi dụng việc áp đặt thiết quân luật để tấn công các ngôi chùa với sức mạnh cảnh sát và Lực Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với Nhu, do vậy đã đặt gánh nặng trách nhiệm trên quân đội trong mắt nhìn từ thế giới và từ người dân Việt. Cũng thấy rõ rằng Nhu đã tự dàn dựng để chính Nhu lên vị trí chỉ huy. Chính phủ Mỹ không thể dung túng tình hình trong đó quyền lực nằm trong tay Nhu. Diệm phải được cơ hội để tự gạt bỏ Nhu ra và các thủ hạ của Nhu, và thay thế họ bằng các nhân sự chính trị và quân sự tốt nhất có thể có. Nếu, bất kể mọi nỗ lực của ông (Lodge), Diệm vẫn ngoan cố và từ chối, rồi chúng ta phải đối mặt với khả thể rằng chính bản thân Diệm cũng không giữ lại được. Bây giờ chúng tôi tin rằng hành động khẩn cấp cần phải thực hiện để ngăn cản Nhu không củng cố thêm vị trí của Nhu. Do vậy, trừ phi trong khi tham khảo với Tướng Harkins (Tư Lệnh MACV) nhận ra những phản đối cực kỳ quan trọng, ông được ủy quyền tiến hành các việc sau: (1) Thứ nhất, chúng ta phải tiếp tục áp lực ở mức độ thích nghi đối với chính phủ VNCH như sau: (a) Chính phủ Hoa Kỳ không thể chấp nhận hành vi đàn áp Phật Tử của Nhu và tay chân dưới vỏ bọc thiết quân luật. (b) Phải có hành động điều chỉnh tình hình tức khắc, bao gồm cả việc gỡ bỏ Dụ số 10, trả tự do cho các vị sư, các ni cô, vân vân... đang bị giam. (2) Chúng ta phải cùng lúc, nói với các lãnh đạo quân sự VNCH rằng Hoa Kỳ thấy là không thể tiếp tục viện trợ chính phủ VN về mặt quân sự và kinh tế, trừ phi các bước trên thực hiện tức khắc, mà chúng ta công nhận đòi hỏi gỡ bỏ ông bà Nhu ra khỏi chính trường. Chúng ta ước mong sẽ cho Diệm cơ hội hợp lý để gỡ bỏ ông bà Nhu, nhưng nếu Diệm ngoan cố, rồi chúng ta sẵn sàng chấp nhận kết quả hiển nhiên rằng chúng ta không còn ủng hộ Diệm nữa. Ông [Lodge] cũng có thể nói với các cấp chỉ huy quân sự thích hợp của VNCH rằng chúng ta sẽ ủng hộ họ trực tiếp trong bất kỳ thời khoảng chuyển tiếp nào khi cơ chế chính phủ trung ương bị tan vỡ. (3) Chúng ta công nhận sự cần thiết gỡ bỏ tai tiếng cho quân đội VNCH về các trận tấn công chùa, và quy lỗi trực tiếp vào Nhu. Ông [Lodge] được ủy quyền để tuyên bố như thế ngay tại Sài Gòn khi ông thấy cần để đạt mục tiêu đó. Chúng tôi nơi đây [ở thủ đô Washington DC] đã sẵn sàng nói cùng những lời như thế, và sẽ yêu cầu Đàì Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) nói cùng những lời như thế trong điện văn được ghi số kế tiếp, bất cứ khi nào ông [Lodge] yêu cầu, hẳn là càng sớm càng tốt. Cùng lúc với những điều trên, Đại sứ [Lodge] và các viên chức ngoại giao tại VN nên khẩn cấp khảo sát tất cả những cấp lãnh đạo thay thế có thể được, và soạn kế hoạch chi tiết để xem chúng ta làm sao có thể thay thế Diệm nếu điều này cần thiết. Hãy giả sử rằng ông sẽ tham khảo với Tướng Harkins về bất kỳ việc phòng ngừa nào mà cần thiết để bảo vệ nhân viên Hoa Kỳ trong thời kỳ khủng hoảng. Ông sẽ hiểu rằng chúng tôi không thể từ Washington cho lệnh chi tiết để ông tìm cách thực hiện chiến dịch này, nhưng ông cũng sẽ biết rằng chúng tôi sẽ ủng hộ ông tối đa về các hành động ông làm để đạt các mục tiêu của chúng ta. Không cần nói rằng chúng ta giữ kín điện văn này tới mức chỉ những người cần thiết mới đọc, và ông sẽ cảnh giác tương tự để ngăn cản việc lộ chuyện quá sớm. GP-2 BALL (Đóng dấu tên của Thứ Trưởng Ngoại Giao George Ball) HẾT Nguyên văn hồ sơ PDF
Trang Lịch Sử |