THUYẾT VŨ TRỤ BIG BANG

Nguyễn Tiến Đạt

15 tháng 8, 2010

LTS: Bài viết sau đây được giới thiệu như là một cái nhìn về Thuyết Vũ Trụ qua một số tuyên bố phê bình các thuyết về vũ trụ. Dù tựa đề có tính cách học trình, thật ra nội dung không thuần túy là một bài giáo khoa, xin được thận trọng giới thiệu bài viết như ý kiến của tác giả. (SH)


 

“Trào lưu tư tưởng mới đang hướng về một ‘sự thật’ trừu tượng là bản chất của vũ trụ có vẻ giống như một ‘tư tưởng lớn’ thay vì một guồng máy vĩ đại

[Sir James Hopwood Jeans]

Bàn về vũ trụ theo khoa học tự nhiên hay khoa học thực nghiệm thuần túy (1) thì có hai loại mô hình:

 

1.- MÔ HÌNH VŨ TRỤ THEO VẬT LÝ CỔ ĐIỂN.

 

Kể từ sau khi Isaac Newton tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn, người thời ông ta mới cố gắng lập nên một mô hình cho vũ trụ của chúng ta và rồi họ đã đi đến quyết định vũ trụ của chúng ta là bất biến và vô cùng, vô tận.

[Ghi chú 1 : Vũ trụ của chúng ta là vũ trụ mà chúng ta đứng từ bên trong mà nhìn ra. Dân ta có câu : “Ở bầu tròn, ở ống thì dài”. Và làm thế nào để vũ trụ không tròn … khi tọa độ quan sát là ta, qua trung gian của vận tốc tương tác 300.000 km/sec mà chúng ta xem/gọi là vận tốc ánh sáng. Đây là một loại vũ trụ chủ quan, cần giải trình trực tiếp mới có thể đủ thời gian chứ không thể chỉ giới hạn trong một bài viết gọn này … …. ]

a). Vũ trụ bất biến do dụng cụ quan sát thời đó còn quá thô sơ nên người ta không phát hiện được những biến đổi trong những khoảng cách quá lớn giữa các thiên hà, thiên thể trong vũ trụ. Thêm vào đó là ảnh hưởng nặng nề vào quan niệm xa xưa đã được Aristote ghi lại :

Theo những ghi chép được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá khứ, chúng ta không tìm được vết tích nào có liên hệ đến những sự thay đổi trên vòm trời cũng như bất cứ phần nào của vòm trời”.

b). Vũ trụ vô cùng, vô tận vì nếu có giới hạn tức vũ trụ phải có trung tâm và có bờ rìa, như thế thì hấp dẫn lực giữa các phần tử trong vũ trụ phải co rút vào trọng tâm và vũ trụ bắt buộc phải biến đổi. Điều này ngược lại với những quan sát và tin tưởng của người thời đó ! Do đó, chỉ với một vũ trụ vô cùng, vô tận mới không có một hướng nào thích hợp để vật chất có thể chuyển động và co rút lại. Phải chăng, vũ trụ vô cùng, vô tận cũng là ý tưởng của Newton vì trong lần xuất bản thứ hai quyển “Những nguyên lý triết học trong khoa học tự nhiên”, ông ta đã nêu ra như sau :

“Những vì sao cố định phân bố đồng đều trên vòm trời sẽ triệt tiêu lực hút hỗ tương giữa chúng, bởi các lực tác dụng ngược chiều nhau”.

 

2.- MÔ HÌNH VŨ TRỤ THEO TÂN VẬT LÝ.

 

Khởi đi từ lý thuyết tương đối rộng mà Einstein đã đưa ra độ 1915-1916 với chính điểm của lý thuyết nằm ở chỗ ba món : Thời gian, không gian và sắc chất tức vật chất giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau như 2 trường hợp dưới đây:

Trường hợp 1. -

Sắc chất hay vật chất ảnh hưởng đến không gian nơi nó nằm vùng, nghĩa là, sắc chất nó co rút không gian nơi nó “tụ” … làm cho ở chỗ đó không gian mất đi tính chất bình thường và bị “võng xuống” (2) thành chỗ trũng. Vật nhẹ làm trũng ít, vật nặng làm trũng nhiều như 2 hình vẽ dưới đây :

[Hình vẽ 1 : khối lượng vật chất/sắc chất ít trũng ít - Hình vẽ 2 : khối lượng sắc chất nhiều trũng nhiều. Tôi không biết đưa hình ảnh vào nhờ tòa soạn giúp. Nhân đây giải thích về yếu điểm của lý thuyết tương đối rộng … ….  Hay sai lầm do nhận thức chủ quan, nhận thức nhị nguyên … vốn là cơ sở và là căn bản của thực nghiệm thuần túy.]

Quanh các chỗ trũng ấy nếu có vật thể dù lớn, bé hay bất cứ thì vật ấy sẽ nghiêng theo “dốc không gian” mà lăn xuống “cái hố” do khối lượng/tỷ khối sắc chất (mass) (3) của địa phương gây ra. Với lý thuyết tương đối rộng thì “liên thể Thời – Không” … không phải là phẳng phiu như trước kia người ta vẫn tưởng mà nó “cong” hay “vênh” do sự phân bố của khối lượng sắc chất hay năng lượng trong nó. Và như thế theo lý thuyết tương đối rộng, các thiên hà, thiên thể không phải được tạo ra để chuyển động trên các “quỹ đạo cong” bởi “hấp dẫn lực” mà chúng chuyển động theo chiều rất gần với đường thẳng trong không gian cong mà người ta gọi là đường trắc địa (geodesic), đường ngắn nhất hoặc dài nhất giữa hai điểm cạnh nhau.

[Ghi chú 2 : Nhận thức nhị nguyên, có chủ thể nhận thức và đối tượng bị nhận thức chỉ thể hiện được chân lý chủ quan … đứng trong chỉ thấy biết bên trong, đứng ngoài chỉ thấy, biết bên ngoài … không giải quyết được “thực tại tối hậu” hay chân lý tuyệt đối. Muốn đi vào cực vi, cực đại … phải bằng/với nhận thức nhất nguyên mà muốn đi vào nhất nguyên chúng ta phải đi qua/ngang trung đạo tức Phật giáo. Mong sẽ có dịp được giải trình trực tiếp … …. ]

Trường hợp 2. -

Sắc chất – theo lý thuyết tương đối rộng – ảnh hưởng đến thời gian chạy qua thân hình nó. Sắc chất nó kéo dài thời gian (!) tức làm cho đồng hồ chạy chậm. Sắc chất nó co rút không gian nhưng không gian không cô đơn chịu trận vì “nó” (không gian) đã gá nghĩa với thời gian trong “liên tục Thời – Không” hay “liên thể Thời – Không” và do đó khi không gian co vào thì thời gian ruỗi ra (4). Liên thể Thời – Không được các nhà Tân vật lý xem là thời gian hay chiều thứ tư trong liên thể 4 chiều : 3 chiều không gian và chiều thời gian !

[Ghi chú 3 : Khi đi vào lãnh vực cực đại và cực vi hay vận tốc phi thường … cần phải có sự chuyển hướng nhận thức vì nhận thức qua tính thấy bằng mắt … hệ lụy vận tốc tương tác 300.000 km/sec, khi thực sự bản chất của ánh sáng là gì … chúng ta vẫn chưa biết, do đó sự vật không thể hiện nổi “thực tại tối hậu” ; dĩ nhiên cũng đòi hỏi chúng ta phải xét lại một số quan niệm và khái niệm của chúng ta từ trước đến nay như : Thời gian, không gian, sự vật/vật chất, ánh sáng …v.v ….  Sự mà chúng ta quan niệm về không gian, thời gian có đúng với chân lý/thực tại tối hậu không ? Một khi chúng ta biết rõ bản chất của cái món mà chúng ta thường gọi/xem là ánh sáng … từ đó chúng ta cũng sẽ biết “đúng” đâu mới thực sự là chiều thứ tư.

Thời gian có thực sự phải là chiều thứ tư !? Sau đây là một quan điểm về chiều thứ tư, Nick Herbert trong quyển “Faster than light” – Introduction P.1 – viết :

“The idea that time is a fourth dimension – on a par with the familiar three dimensions of space – in a corner stone of the ‘New-Physics’. But if time is really just another kind of space, why can’t humans move back and forth in time as easily as they move around in space ? Unlike our sense of the spatial dimensions, we experience time as a – one – way street …”.

Ngoài ra, khi chúng ta có nhân sinh quan đúng về con người … lúc đó chúng ta sẽ rõ : Do đâu và vì đâu mà phát sinh ra chiều và quan niệm về chiều. Thực tại tối hậu của sự vật, điều này “đang là” một vấn nạn với nền Tân vật lý … …. ]

Lý thuyết tương đối rộng đã dẫn đến câu hỏi : Đầu tiên … khởi thủy là gì ?

Câu hỏi liên quan đến cả một “mớ” bộ môn học hỏi như : Toán học, vật lý học, hóa học và nhất là cả triết học về vấn đề bản thể, nhận thức về thực tại và cả số kiếp của Trời, Đất. Công trình đòi hỏi phải thu nhặt tài liệu, phân tích, đúc kết và dẫn giải … mọi khám phá về thời gian, không gian, vũ trụ cực vi, cực đại ; về đủ mọi loại chương trình, tiêu tốn hàng tỷ mỹ kim … thể hiện bằng sự cộng tác hoặc dưới quyền điều động của hầu hết các bộ óc thông minh nhất của cả hai mặt hàng rào : Duy tâm và duy vật.

Một năm sau ngày lý thuyết tương đối rộng ra đời (tức độ năm 1917), lý thuyết gia Karl Schwarzchild đã phân tích bằng các phương trình thực tức là các con tính rút từ phương trình trường của Einstein và trình bày rằng : Định luật bắt buộc phải đưa sắc chất đến chỗ “vô thiên – vô địa” và nhất định là phải thế … không có cách gì cứu nổi.

Vô thiên, vô địa là nơi mà mọi định luật thông thường của vật lý sụp đổ … dù là vật lý tương đối hay vật lý lượng tử. Nơi mà không gian và thời gian biến mất (!) và khoa học Tân vật lý gọi là điểm dị (point singularity). Nơi mà nhìn không thấy, nói không được , nghĩ không ra … được bên Phật giáo gọi bằng một danh từ rất “kêu” : Cái lõi bất tư nghị. Không gian và thời gian là giả pháp … do duyên sinh tùy nơi tương tác (bước sóng, tần số, biên độ, vận tốc) hay “duyên” với điều kiện có sinh vật có giác quan cảm thụ và điều này dẫn đến một kết quả tranh biện trong kỳ thi tốt nghiệp trung học tại Việt Nam năm 2008 ! Điều này xác minh rằng khi đi sâu vào cực vi, cực đại … vai trò con người phải được tính đến, cũng có nghĩa là đã đến lúc xét lại khoa học tự nhiên vì khoa học này có nguồn gốc từ triết học tôn giáo nhị nguyên. Luận dựa trên nền tảng nhị nguyên không còn đất đứng !

 

MÔ HÌNH BIG BANG

 

Vào năm 1922 Alexander Friedmann khi giải các phương trình toán học áp dụng vào mô hình chuyển động của vật chất trong toàn bộ vũ trụ … những phương trình tiêu chuẩn được rút ra từ học thuyết tương đối rộng – nối kết độ cong của không gian và sự phân bố vật chất trong vùng không gian đó – cho biết rằng : Vũ trụ của chúng ta giống như một mặt cong 3 chiều, trong “Thời – Không” bốn chiều … vừa hữu hạn, vừa vô cùng và có sự sống, nghĩa là đang ở trong trạng thái “trương nở” hay “co rút”, cũng có nghĩa là vũ trụ không phải bất biến mà bắt buộc phải biến đổi.

[Ghi chú 4 : Do đâu và vì đâu phát sinh ra quan niệm, khái niệm chiều ? Chiều thứ tư là chiều nào ? Chiều thứ tư có phải là chiều “Thời – Không liên kết” hay thời gian trong “liên thể Thời – Không” bốn chiều ? Xin thưa : Sai ! Chỉ khi nào chúng ta giải đáp được con người là gì ? Ta là gì ? Bản chất của ánh sáng thực sự là gì ? Hy vọng có dịp sẽ trình bày đến … …. ]

Để rồi, vào năm 1926, George Lemaitre, giáo sĩ người Bỉ đã độc lập đưa ra một lời giải đáp về một mô hình “vũ trụ đóng” hay “vũ trụ không trống” (Wrapped) cũng từ những phương trình “trường” của Einstein, đồng thời với lời tuyên bố về “vũ trụ nổ” mà khởi đầu từ một “điểm dị” (point singularity) và ngày nay người ta gọi là thuyết Big Bang cổ điển.

Ba năm sau tức năm 1929 thiên văn gia Mỹ Edwin P.Hubble dựa vào các ngôi sao Céphéide (sao nhấp nháy hay sao biến thiên), sao này có rất nhiều và ở rải rác trong các thiên hà chung quanh giải ngân hà của chúng ta. Hubble đã khám phá được mối quan hệ tuyến tính (linear correlation) giữa khoảng cách của các thiên hà với vận tốc rời xa của chúng được xác định qua công thức :

V = R x H

(Trong đó V là vận tốc rời xa, R là khoảng cách giữa các thiên hà và H là hằng số … được gọi là hằng số Hubble).

Công thức trên cho chúng ta biết, hễ thiên hà càng ở xa chúng ta thì vận tốc rời xa của chúng càng lớn … lớn theo tỷ lệ H. Người ta cũng đã phát hiện được hiệu ứng Doppler do nhà khoa học người Áo Christian Doppler tìm ra năm 1924 dùng để áp dụng cho sóng âm thanh cũng có thể dùng được cho sóng ánh sáng.

Từ hai mô hình tiên phong của Friedmann và Lemaitre , các nhà vũ trụ học đã đưa ra một tiên đoán toán học về “sự” vũ trụ biến đổi … đó là một mô hình vũ trụ “đồng nhất và đẳng hướng trên mức độ rộng lớn” (homogeneous and isotropic on a large scale) và đã được các nhà vũ trụ học đồng ý.

[Ghi chú 5 : Các mô hình đều bị giới hạn bởi sự quan sát/tính thấy bằng mắt hay những dụng cụ nối dài như kính thiên văn điện tử và vô tuyến điện tử, nhưng đều hệ lụy nơi vận tốc tương tác 300.000 km/sec mà chúng ta đồng hóa và gọi là vận tốc ánh sáng … khi thực sự bản chất của ánh sáng là gì thì chúng ta chưa biết đúng ! Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi nhận thức và cung cách nhận thức của chúng ta về chính chúng ta và về thiên nhiên và tạo vật.  nghĩa là cần phải có một nhân sinh quan đúng về con người. Mong sẽ có dịp trình bày trực tiếp … …. ]

Với khoa học : Khi nghiên cứu các quang phổ, nghĩa là những bức ảnh ghi ánh sáng của các thiên hà, các thiên văn gia đã khám phá ra rằng các thiên hà chạy lại gần sông ngân hà của chúng ta thì chúng bốc xanh ; ngược lại, các thiên hà chạy xa sông ngân hà của chúng ta thì chúng đổ đỏ. Năm 1932 U M.Slipher làm công việc đo đạc đã xác định hầu hết các thiên hà đều dịch chuyển ra xa chúng ta với vận tốc lên đến khoảng 2.000 km/sec. Đây là một dữ kiện rõ ràng nhất – đối với khoa học – minh chứng sự vũ trụ của chúng ta đang trương nở. Vào độ 1946-1948 , George Gamow nhà vật lý Mỹ gốc Nga và hai người nữa mà một là môn sinh của ông đã đưa ra một kết luận :

Vũ trụ của chúng ta đang trong thời kỳ trương nở/bành trướng mà sự này do hậu quả phát sinh từ một vụ nổ nguyên tử đầu tiên xảy ra cách nay độ từ 12 đến 15 tỷ năm”.

Đây là mô hình vũ trụ nóng, Gamow còn đưa ra tiên đoán về một “bức xạ nền” hay “bức xạ tàn dư” trong giai đoạn khởi thủy lúc xảy ra vụ nổ độ khoảng 8 Kelvin. Bẵng đi một thời gian … đùng một “phát” vào năm 1965, hai kỹ sư điện tử Mỹ là Arno Penzia và Robert Wilson bất ngờ khám phá ra nhiệt độ đồng đều trong toàn thể vũ trụ hiện hữu hiện nay là 3 Kelvin. Khi nhận được tin này các nhà vật lý vũ trụ và vật lý thiên thể đón nhận một cách nồng nhiệt, đồng thời với mô hình vũ trụ Big Bang và Jérémiah Ostriker tuyên bố rằng :

“Không có cách nào khác ngoài vụ nổ Big Bang để tạo ra bức xạ nền”.

Phụ họa vào còn có David Shramm :

“Không còn nghi ngờ gì nữa cả vụ nổ Big Bang đã xảy ra như quả đất tròn vậy”.

Và thế là đề tài về vụ nổ Big Bang trở nên sôi động mà nhất là vào năm 1978, năm mà hai kỹ sư điện tử trên đã vớt nhẹ cái giải Nobel do sự phát hiện của họ. Có thể nói vào thời điểm trên đã có đến 99% nhà khoa học tin tưởng vào Big Bang là chân lý hình thành vũ trụ của chúng ta.

 

ĐÂU MỚI THỰC SỰ LÀ CHÂN LÝ HÌNH THÀNH VŨ TRỤ ?

 

Với những nhà khoa học tin vào Big Bang thì : Thuyết Big Bang được xem là mô tả hoàn chỉnh, thỏa đáng nhất và vũ trụ được hình thành cách nay độ 15 tỷ năm từ một “vụ nổ chớp nhoáng”, phát khởi từ một điểm vật chất vô cùng bé nhỏ - nhỏ độ 10 triệu tỷ tỷ một nguyên tử Hydro - đường kính của nguyên tử Hydro bằng 10 –33 cm và đường kính này gọi là chiều dài Planck … nóng và đậm đặc vô cùng.

Vụ nổ này đồng thời tạo ra không gian và thời gian (!). Ngoài ra, còn có bức tường ngăn nên chúng ta không thể biết được điểm khởi đầu đó. Bức tường ngăn hay còn gọi là bức tường Planck hiện hữu nơi thời điểm 10 –43 giây. Một vài nhà khoa học còn cho rằng ở đàng sau bức tường Planck, cặp thời gian, không gian bị giải thể (!) … bị tan vỡ (!). Thời gian không còn tồn tại , các khái niệm quá khứ, hiện tại, tương lai mất hết ý nghĩa (!?).

[Ghi chú 6 : Không gian và thời gian có tự thân không ? Không gian, thời gian không phải là “thực pháp” … mà là do duyên sinh hay cũng có thể hiểu thời gian, không gian chỉ là “giả pháp”… nên không có “tự thân”. Tiếng động có tự thân không ? Mọi sự, mọi vật có tự thân không … nếu không có sự hiện hữu của những sinh vật có giác quan cảm thụ !? Giải thích điều này qua ngôn từ mới có đủ điều kiện diễn đạt rõ ràng vì quá dài, khả năng một bài ngắn tôi không thể. Đã đến lúc con người phải hướng đến mục tiêu thực hiện sự vượt vận tốc 300.000 km/sec (không phải là vận tốc của ánh sáng) và một khi thực hiện được việc này … tự động loài người thực hiện được sự truyền thông tư tưởng. Thiên niên kỷ 3 … kỷ nguyên của khoa học liên hành tinh và vũ trụ, phải là thiên niên kỷ đánh dấu sự con người thực hiện cho kỳ được sự vượt vận tốc 300.000 km/sec. Tôi mong sẽ có dịp trình bày phương cách thực hiện sự vượt vận tốc trên và nếu có sự vượt trên thì lý thuyết tương đối sẽ đương nhiên xập tiệm]

Để bảo vệ Big Bang người ta còn đưa ra thuyết lạm phát … rồi siêu lạm phát, thuyết dây … rồi siêu dây (sợi) , lý thuyết bubble … cả đến vũ trụ con nít … v.v ….  Các nhà vật lý lý thuyết đã và đang “lạc dẫn” chúng ta vào “Mê hồn trận đồ” … … !

Các lý thuyết và thí nghiệm còn đưa đến hoài vọng cho các lý thuyết gia muốn bênh vực cho Big Bang khi họ muốn liên kết các “động tác lực” thành một lực duy nhất gọi là lý thuyết mọi vật (Theory Of Everything = T.O.E) ! Theo sự mô tả của giáo sư Stephen W.Hawking trong quyển “Lược sử thời gian” thì học thuyết tương đối rộng là học thuyết riêng phần về “hấp dẫn” ; còn 3 “tương tác lực” là lực điện từ, lực mạnh và lực yếu có thể tổng hợp lại thành “lý thuyết thống nhất lớn” (Grand Unified Theory) … lý thuyết này không hoàn chỉnh vì nó không bao hàm “hấp dẫn lực”. Giáo sư Hawking còn tự tin khi mạnh bạo đưa ra một phỏng đoán về một triển vọng cho một sự kết hợp trong tương lai khi đã bảo rằng :

Nếu chúng ta muốn biết vũ trụ này bắt đầu ra sao, chúng ta phải liên kết được hấp dẫn lực với cơ học lượng tử”.

Thật khó mà lãnh hội được ý kiến của Hawking khi Einstein đã cố gắng suốt 30 năm trời để tìm cách hợp nhất giữa “hấp tính” và “điện thế” … nhưng rồi cuối cùng cũng đành bất lực, không hoàn thành nổi mộng ước cho đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời vào năm 1955.

Theo đuổi vết xe gãy đổ của Einstein … liệu rồi đây người ta sẽ tìm được những gì ? Không nên quên, đối tượng tương đối rộng là “lực trọng trường” chi phối thế giới cực đại còn cơ học lượng tử là khí cụ để khảo sát “lực điện từ” và hai lực tương tác mạnh và yếu … chi phối nơi thế giới cực vi. Xét kỹ lại xem, cả hai đứng trên hai bình diện đối nghịch, hoàn toàn đối nghịch thì lấy gì và làm sao để có thể kết hợp !?

[Ghi chú 8 : Mặt khác, lý thuyết tương đối rộng có đúng đâu mà cãi cọ nhặng xị cả lên ! Sẽ có dịp trình bày trong Mục : Xét lại lý thuyết tương đối … …. ]

Đáng tiếc cho George Francis Gillette, một kỹ sư Mỹ đã đưa ra lời tuyên bố quá sớm, năm 1929 như sau :  

Đến năm 1940, thuyết tương đối sẽ bị xem như trò bỡn cợt”.

Được sinh ra từ lý thuyết tương đối rộng, Big Bang và các sản phẩm hậu Big Bang mà đặc biệt là cả cái “lỗ đen” (Black hole) nữa … sẽ chết khi lý thuyết này bị chứng minh là sai. Tôi mong rằng sẽ có dịp trình bày đến lý thuyết này … nhất là nếu được trình bày trực tiếp qua ngôn từ để tha hồ mà đặt câu hỏi.

Hãy xem giáo sư Hannes Alfvén, nhà vật lý Mỹ gốc Thụy Điển, người đoạt giải Nobel 1970 trả lời Eric Lerner trong tạp chí Discover.

Hỏi :

Nếu không có Big bang thì do đâu và khi nào vũ trụ bắt đầu ?

Giáo sư Alfvén đáp :

Không có một lý lẽ thích hợp nào để có thể ngờ rằng vũ trụ đã tồn tại một cách vô hạn, trong thời gian vô cùng” … “chỉ là một sự hoang tưởng để cố gắng trả lời vũ trụ đã hình thành như thế nào từ bốn nghìn năm hay 20 tỷ năm trước !”.

Và giáo sư Alfvén đã “phạng” tiếp cho một “Búa” :

Cái thuyết Big Bang đó chỉ là một thứ huyền thoại kỳ ảo, được xứng đáng có một chỗ ngồi danh dự trong nghĩa địa của những lý thuyết chết !”.

Gần đây giáo sư Robert Laughlin, người đoạt giải Nobel vật lý 1998 thì lại than rằng : Tiếng nổ Big Bang chỉ là sản phẩm tiếp thị ![Theo Der Spiegel, số 48 – 11/2007]

 

MÊ HỒN TRẬN ĐỒ.

 

Vì cố gắng bảo vệ cho Big Bang mà thực ra là để bảo vệ cho lý thuyết tương đối rộng – một sai lầm ghê gớm – một số nhà khoa học đã đưa ra lý thuyết lạm phát. .. siêu lạm phát, lý thuyết dây. .. rồi siêu dây (siêu sợi), bubble, vũ trụ con nít, lỗ sâu hay lỗ giun (worm hole). Khủng khiếp và mê ly nhất – cũng phát sinh từ tương đối rộng – là sự du hành trong thời gian ! Đi ngược về quá khứ để thăm lại ông, bà. .. cha mẹ hay những người tiền bối đã khuất hoặc dzoọt vào trước trong tương lai để làm giàu bằng cách đầu tư vào thị trường chứng khoán như lời chế diễu của ngôi sao Bắc Đẩu trong nền trời vật lý hiện đại và cũng lại là một người hùng hồn nhất về “lỗ đen”.

Sinh ra bởi lý thuyết tương đối rộng. .. “lỗ đen” sẽ chết khi lý thuyết tương đối rộng bị chứng minh là “sai”. Ngoài ra, còn một số lý thuyết mới như lý thuyết dây, siêu sợi kèm vào đó là phát sinh như vật  chất tối, năng lượng tối … ôi thôi thì “hầm bà lằng” … ! Sẽ có dịp trình bày đến. ... ...

VẤN ĐỀ CHÍNH DANH.

 

Phàm muốn biết rõ một vật gì, một thứ gì, một giống gì, một loại gì [… theo nhận thức nhị nguyên …] từ đâu ra, ta phải đứng ngoài nó (Khách quan). Do đó với vũ trụ của chúng ta, muốn biết “nó” từ đâu ra thì cũng không thể khác hơn là phải đứng bên ngoài nó … mà điều này không thể nào chúng ta làm được ! Cho nên, để khỏi bàn luận lôi thôi về nguyên lý vũ trụ và cũng là để tránh cái cảnh : “Ông nói gà – bà bảo vịt”. Chúng ta cần phải xác định cho chính danh vũ trụ mà chúng ta muốn nói là vũ trụ nào ? Thực nghĩa vũ trụ muốn hiểu chính xác và đầy đủ phải gồm trong 3 ý niệm :

1). Vũ trụ chủ quan – có chủ thể quan sát và đối tượng bị quan sát – tức có trong, có ngoài … ta phải đứng ngoài mới biết nó từ đâu ra. Đứng trong lòng vũ trụ mà nhìn ra, phải qua trung gian của vận tốc tương tác [bước sóng tương tác, tần số tương tác, biên độ tương tác … đáp án đã xảy ra tranh luận trong kỳ thi trung học 2007-2008] 300.000 km/sec mà chúng ta lầm xem/gọi là vận tốc ánh sáng. Khi thật sự chúng ta vẫn chưa biết bản chất của ánh sáng là gì ! Mâu thuẫn tùm lum, ánh sáng vừa là “hạt”, vừa là “sóng”.

Chỗ này mà được trình bày trực tiếp , tôi sẽ và tin sẽ làm các vị độc giả thỏa mãn và nhận thấy cái sai của khoa học nằm ở đây. Vũ trụ dạng này là loại “vũ trụ chủ quan” hay “vũ trụ vật ngã” theo lời ngài Thái Hư pháp sư. Vũ trụ như thế không đúng với chân lý tối hậu/thực tại tối hậu.

2). Vũ trụ khách quan tương đối tức ngoài khối lượng sắc chất gọi là vũ trụ của chúng ta … còn sắc chất hay vật chất khác nữa. Vũ trụ bên ngoài đó có phải đựoc gọi là vũ trụ của chúng ta không ? Các nhà khoa học phỏng đoán vũ trụ bao trùm vũ trụ của chúng ta và khối lượng vật chất bên ngoài là siêu vũ trụ ! Lại một lối nhận thức chủ quan khác !

Vậy, có khi nào và có ai nghĩ rằng vũ trụ của chúng ta là một sinh thể không ? Ở trên đầu bài tôi có nêu ra ý kiến của Sir James Hopwood Jeans … có lẽ ông ta đã nghĩ như thế. Bây giờ, chúng ta hãy thử duyệt lại xem lý do nào dẫn đến việc đưa ra lý thuyết vũ trụ nổ … rồi Big Bang ? Phải chăng là hai lý do chính dưới đây :

1%) Thứ nhất do dữ kiện quan sát và công thức trương nở Hubble tìm ra :

V = R x H.

2%) Thứ hai là nhiệt độ đồng đều trong toàn thể vũ trụ mà người ta đo được 3 Kelvin.

Vậy chúng ta hãy thử đem áp dụng hai lý do trên vào một loài sinh thể như súc vật hay con người xem … liệu có hợp không ? Riêng với tôi … tôi nghĩ ngay từ khi Mẹ tôi sinh tôi ra … thân nhiệt của tôi là 37oC, nếu có thay đổi đôi lúc trừ khi lên cơn sốt … rồi lại hạ xuống như cũ. Sức lớn hay chiều nở của tôi từ khi được sinh ra đến nay cũng theo công thức mà Hubble đưa ra. Vì thế tôi tin vũ trụ của chúng ta này có thể là một sinh thể, nếu thế thì biết đâu vũ trụ của chúng ta cũng phải có Cha, có Mẹ … có anh, em, họ hàng … có cộng đồng và cuối cùng có cả vũ trụ của nó nữa. Ngược lại, con vi khuẩn trong tôi, nó xem tôi là vũ trụ của nó vậy và trong quyển “Le Kybalion” có đề cập đến nguyên lý rằng : “Trên sao – dưới vậy” (As above – so below).

3). Vũ trụ tuyệt đối là khi khối lượng sắc chất trên thế gian này vô cùng, vô tận. Nếu thật sự vậy thì vũ trụ tuyệt đối là thuần ý niệm, nghĩa là vũ trụ không trung mà cũng không biên … tức về không gian không có trong và không có ngoài, về thời gian không có đầu cũng chẳng có cuối ; đó là nghĩa của vô thủy, vô chung. Đặc biệt cũng không có “tướng” : vuông – dài – méo – tròn … để rồi không “sinh” mà cũng không “diệt”. Với trường hợp này thì những câu hỏi như :

Vũ trụ khởi đầu ra sao ?

Vũ trụ rộng lớn như thế nào ?

Ai là Đấng đã tạo ra vũ trụ ?

Những câu hỏi như thế tự động sẽ trở thành ngớ ngẩn !!!.

Đi tìm vũ trụ thế này có khác gì đi tìm “lông rùa – sừng thỏ” ?

 

QUAN ĐIỂM VŨ TRỤ TRONG PHẬT GIÁO

 

Nhìn qua lăng kính vũ trụ trong Kinh Hoa Nghiêm của Phật giáo, có thể diễn tả qua vận tốc … với vận tốc chậm nhất là 300.000 km/sec, giả định thời gian là một giây, ứng với vận tốc C2, C4, C16, C64 … Cn ….  Ta sẽ được hình ảnh của các vũ trụ chóp nón này trùm chóp nón khác … cứ thế cho đến không cùng, không tận ….  Trong Kinh nói đến sự “trùng trùng duyên khởi” và “viên dung vô ngại”. Điều này chỉ có thể trình bày trực tiếp mới thấy được sự sâu sắc của nó, nhưng với Phật giáo cũng chỉ là ngộ lý ! Muốn chứng được cảnh, muốn thầy được “như thị” thì phải “Tu” … …. 

Hãy thử tưởng tương qua hình ảnh của 10 máy vô tuyến truyền hình, bắt 10 tần số sóng khác nhau … sẽ thấy hiện 10 cảnh/vũ trụ khác nhau, vậy thì vũ trụ/cảnh nào là chân lý, đúng chân tướng !? Thay 10 máy truyền hình bằng 10 sinh vật khác nhau, vậy thì vũ trụ qua cảm nhận của loài nào đúng với chân lý !? Mặt khác, đâu phải mọi loài đều cảm thụ cảnh vật chung quanh … chỉ bằng mắt. Chẳng hạn : Dơi, rắn, cá, chuồn chuồn và …v.v ….  Lấy sự thấy của chúng ta qua đôi mắt cho là chân lý rồi áp đặt lên mọi vật mọi loài, liệu có công bằng không ?]

Kết luận tạm cho bài này :

Với con người và khoa học loài người, chúng ta chỉ có thể có quan niệm, có ý niệm hoặc giả quá lắm là có khái niệm về vũ trụ mà thôi [Tôi mong có dịp sẽ tiếp bài : Khái niệm về vũ trụ qua vận tốc], chứ chúng ta không thể nói hay bàn đến nguyên lý, bao gồm “chân thực tướng” của vũ trụ. Bởi lẽ, thực tướng bao hàm một thực tại khách quan với thực tại khách quan, khoa học hiện nay đã trả lời/giải đáp ra sao ? Đã có một giải đáp nào thỏa đáng cho thực tại khách quan chưa ? Chưa kể, thực tại khách quan còn có nhiều “mức độ” hay “hệ cấp” và do đó “thực tướng” hay “chân tướng” có nhiều “tầng”. Để giải quyết “tầng” thì lại phải là vận tốc mà vận tốc chậm nhất cũng phải nhanh hơn vận tốc 300.000 km/sec … từ trước đến nay chúng ta “lầm” xem/gọi là vận tốc ánh sáng.

Có 2 sự vượt vận tốc 300.000 km/sec khác nhau :

1. Tạm gọi là sự tự thân vượt vận tốc 300.000 km/sec. Đây là con đường hay tiến trình của sự giác ngộ trong Phật giáo, không phải là con đường khoa học đi vào. Nhưng nếu muốn thực hiện được sự vượt vận tốc 300.000 km/sec, khoa học bắt buộc phải đi ngang/qua … để biết cái gì, sự gì hoặc giả là ai có khả năng vượt vận tốc 300.000 km/sec và rồi từ đó mới đặt mục tiêu khảo sát, hoạch định chương trình tiến đến và lập kế hoạch thực hiện.

2. Sự tương quan, tương duyên vượt vận tốc 300.000 km/sec mới là con đường mà khoa học đi vào … để thực hiện sự truyền thông tư tưởng … ….  Đĩa bay có thật !

Thiên niên kỷ 3 … phải là thiên niên kỷ đánh dấu sự con người thực hiện cho kỳ được sự vượt vận tốc 300.000 km/sec và khi thực hiện được việc này, loài người sẽ hoàn thành được việc truyền thông không qua trung gian và cũng không hệ lụy nơi vận tốc 300.000 km/sec … đó là truyền thông tư tưởng.

Rất hân hạnh được một dịp trình bày trực tiếp việc này. Mong sự giúp đỡ của bất cứ ai ngay cả nhà nước vì có lợi cho các bạn trẻ Việt Nam. Mong thay, mong thay.

 

Người viết Nguyễn Tiến Đạt

 

(Mời đọc thêm Xây Dựng Trung Tâm Nghiên Cứu Vũ Trụ)



Trang Khoa học