TÔI ĐỌC BÀI CỦA PHẠM CAO DƯƠNG VỀ

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls11.php

26 tháng 7, 2010

LTS: Hình dạng của vết thương Việt Nam đã rõ rệt như trái đất xoay quanh mặt trời: từ bệnh lý, bệnh trạng, các giai đoạn chữa trị, cho đến tên các loại thuốc trị liệu, thuốc lầm, và thuốc giải,... tất cả đã hiện ra theo dòng lịch sử. Nhưng, hiện tượng "làm da non" đã gây khó chịu không ít. Đó là những bài viết bất chấp sự kiện, bất chấp tình tự dân tộc, và đưa đến bất chấp phải trái. Ắt phải có động lực nào đó để khiến một số những người có học vị đã không còn nhớ đến lương tâm chức nghiệp của mình. Thời hậu Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa quốc, dưới sự lộng hành và áp lực của hoạn quan Triệu Cao, tân vương Hồ Hợi đã phải ngượng ngập gọi con nai là "con ngựa". Bên Âu Châu, trong màn đen tăm tối dưới sự thống trị của Giáo Hội La Mã, những khám phá khoa học chứng minh ngược với thánh kinh, như trái đất xoay quanh mặt trời, không được phổ biến. Người khám phá bị bắt nói ngược lại, và thường phải chịu giam cầm, hoặc xử thiêu sống. Ngay cả đến ngày nay ở thế giới được xem là tân tiến, sự phổ biến khoa học hay lịch sử có vẻ bất lợi cho các "niềm tin Thiên Chúa" như "thuyết tiến hóa" cũng vẫn còn bị hạn chế và gặp nhiều gian nan. Dù nói ngược thế nào, trái đất "vẫn xoay quanh mặt trời" mang theo sự "tiến hóa" của muôn loài vạn vật. Dù nhóm người xu thế nào đó tìm cách giảm thiểu công trạng những người đem lại vinh quang cho dân Việt như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp,... rồi tiến đến xóa bỏ hẳn công lao, biến "công" thành "tội" đi nữa, cho đến ngàn năm sau, lịch sử của dân Việt (và cả thế giới gồm các quốc gia chiến bại) vẫn ghi nhớ vị tướng tài xuất chúng của người dân Việt. Đó là niềm tự hào của những người dân vẫn còn biết đến nguồn cội của mình. Máu sẽ chảy về tim, nhưng cũng có những dòng mực xu thời sẽ chảy lạc khỏi con tim dân tộc. (SH)


Tôi vừa đọc một bài của ông Phạm Cao Dương trên diễn đàn . DCVonline:

Vài ghi chú về Võ Nguyên Giáp

Phạm Cao Dương

Một vài ghi chú về một nhân vật lịch sử sắp vĩnh viễn ra đi:

Đại Tướng Cộng sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp.

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=7616

ĐT Võ Nguyên GiápNguyên cái đầu đề của bài viết đã có thể cho chúng ta đoán ra nội dung của bài và tâm cảnh của tác giả. Tại sao lại là "Đại Tướng Cộng sản Việt Nam"? Tác giả cho rằng người đọc không biết Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là ai hay sao? Tôi không hiểu là ông Phạm Cao Dương để câu “Một vài ghi chú về một nhân vật lịch sử sắp vĩnh viễn ra đi" để làm gì? Đầu đề bài Vài ghi chú về Võ Nguyên Giáp không đủ nghĩa hay sao mà còn phải ghi thêm một câu lãng xẹt? Nhưng ai mà không sắp vĩnh viễn ra đi? Ông nghĩ rằng chỉ có người nhiều tuổi mới sắp vĩnh viễn ra đi hay sao? Cái chết đến bất ngờ đối với bất cứ ai, và không từ một ai. Có chắc rằng ông có thể sống đến 99 tuổi như Tướng Giáp không? Đọc bài của ông Phạm Cao Dương tôi thấy phần lớn ông viết là theo cảm tính cá nhân, xuyên tạc sự kiện, bất kể đến sự thực lịch sử. Chứng minh?

Đây là bài thứ hai tôi đọc của ông Phạm Cao Dương. Trước đây tôi chỉ đọc có một bài trên http://www.bbc.co.uk/ ngày 20 Tháng 7, 2004

Geneva và những kinh nghiệm chưa được rút tỉa

Phạm Cao Dương

Giáo sư sử học đang sống ở California

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2004/07/040719_phamcaoduong.shtml

Và từ đó tôi không còn đọc Phạm Cao Dương nữa. Lý do? Dù là một Giáo sư sử học nhưng bài viết trên của ông Dương không có tính cách chuyên nghiệp. Với một bài dài khoảng 12 trang viết về những biến cố lịch sử quan trọng xung quanh Hiệp Định Geneva mà tôi không thấy ông ta đưa ra bất cứ một tài liệu dẫn chứng nào. Có vẻ như ông muốn nói cùng độc giả là, nhân danh là một giáo sư sử học, những gì ông viết đều là khuôn vàng thước ngọc, độc giả chỉ việc tin thôi. Với bài Vài ghi chú về Võ Nguyên Giáp này cũng vậy, không hề có bất cứ một tài liệu nào, phần lớn là những quan điểm cá nhân, đầy cảm tính và không ngoài tâm cảnh chống Cộng một chiều.

Chúng ta hãy trở lại vài đoạn trong bài trên với vài lời phê bình ngắn của tôi để hiểu lý do tại sao tôi không còn đọc Phạm Cao Dương [PCD] từ 2004 cho tới ngày nay mới đọc lại bài mới ông ta viết về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi muốn biết ông ta viết gì về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

► PCD: Năm 1954 là năm Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc.

TCN: Có thật là Hiệp Định Genève chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc không? Ông giáo sư sử có đọc Hiệp Định Genève không? Tôi nghĩ là không. Vậy thì hãy đọc: Đoạn (6) [Paragraph (6)] trong bản Tuyên Ngôn nguyên văn như sau:

"Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam"

(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:

"Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín." [Được ấn định vào tháng 7, 1956].

(The Conference declares that, so far as Vietnam is concerned, the settlement of political problems, effected on the basis of respect for the principles of independence, unity and territorial integrity, shall permit the Vietnamese people to enjoy the fundamental freedoms, guaranteed by democratic institutions established as a result of free general elections by secret ballot..)

Ông giáo sư sử không đọc sử nên viết nhảm như trên.

► PCD: Năm 1975 là năm miền Nam sụp đổ trước sự xâm lăng bằng võ lực của miền Bắc..

TCN: Ông giáo sư sử có hiểu thế nào là "xâm lăng” không. Người Việt Nam "xâm lăng” chính quốc gia của mình? Than ôi! Sử ơi là sử. Ông giáo sư sử làm như "miền Nam" là một nước của riêng ông, mà không cần để ý đến miền Nam cũng là một phần đất của nước Việt Nam. Ông cũng quên đi tất cả những nguyên nhân, yếu tố nào đã đưa đến sự hình thành một miền Nam mà thực chất không nằm trong tay người miền Nam, nói khác đi, một miền Nam không có căn cước của một quốc gia độc lập, có đầy đủ chủ quyền..., dù đã được nhiều nước trong thế giới tự do công nhận, vì miền Nam hoàn toàn lệ thuộc Mỹ và bất lực, không hề có phản ứng trước những chính sách và hành động tàn bạo của người Mỹ đối với người dân miền Nam của mình nói riêng, người dân Việt Nam trên toàn quốc nói chung. Miền Nam có cả triệu quân, cộng với nửa triệu quân Mỹ, cuối cùng Mỹ bỏ cuộc hay tháo chạy, theo từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, và Bắc Việt hoàn thành việc độc lập thống nhất lãnh thổ, thực hiện một mục đích không thể thay đổi từ lúc bắt đầu chống thực dân Pháp, Nam Bộ kháng chiến, để giải phóng người dân, xóa bỏ cuộc "xâm lăng" của Pháp và của Mỹ sau này. Nhưng mà ai xâm lăng miền Nam?

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, vậy mà 27 năm sau, Daniel Ellsberg còn viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

"Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ".

(In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.)

Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), hai Giáo sư ở đại học Iowa, John Carlos Rowe và Rick Berg, viết, trang 28-29:

Mỹ tàn phá quê hương VNKhi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70000 "Việt Cộng", gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm… Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.

[When France withdrew, the US dedicated itself at once to subverting the 1954 Geneva settlement, installing in the south a terrorist regime that killed perhaps 70000 "Viet Cong" by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the northern half of the country temporarily divided by the Geneva settlement that the US had undermined… In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.]

Một tài liệu khác trên: http://www3.wooster.edu/history/jgates/book-ch8.html

JOHN M. GATES, THE U.S. ARMY AND IRREGULAR WARFARE, CHAPTER EIGHT

PEOPLE’S WAR IN VIETNAM

Cuộc chiến Việt Nam không phải là một cuộc xâm lăng của miền Bắc chống miền Nam, cũng chưa bao giờ là cuộc chiến thuần túy theo quy ước. Từ đầu tới cuối, cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến của nhân dân, và Cộng sản thắng, như một Tướng Mỹ đã từng phục vụ ở Việt Nam đã nhận định, vì họ có "một đại chiến lược lỗi lạc, chặt chẽ, trường kỳ - chiến lược của chiến tranh cách mạng.”

[The war in Vietnam was not a war of aggression by the North against the South, nor was it ever a purely conventional war. From start to finish, the Vietnam War was a people's war, and the communists won because they had, as one American general who served in Vietnam observed, "a coherent, long-term, and brilliant grand strategy--the strategy of revolutionary war." [Phillip B. Davidson, Vietnam at War: The History: 1946-1975 (Novato, CA, 1988), p. 796.]]

Bất kể tới mức độ nào mà chúng ta mong muốn tin rằng chiến lược về cuộc chiến tranh nhân dân đã thất bại ở Việt Nam [vì cho rằng chiến tranh nhân dân chỉ là chiến tranh du kích] hay Cộng sản miền Bắc chinh phục miền Nam bằng một cuộc chiến tranh xâm lăng theo quy ước, những quan điểm như vậy không được xác minh bởi các bằng chứng. Muốn hiểu cuộc chiến, trước hết chúng ta phải từ bỏ quan điểm là cuộc xung đột là một cuộc xâm lăng của miền Bắc chống miền Nam, và nhận thức được rằng sự chiến thắng của Cộng sản là kết quả của sự thành công thi hành một chiến lược của chiến tranh nhân dân.

[No matter how much people might wish to believe that the communist strategy of people's war failed in Vietnam or that communists from the North conquered the South in a conventional invasion, those views are not well supported by the evidence. To understand the war, one must first abandon the view that the conflict was a war of aggression, North against South, and recognize that the communist triumph was the result of the successful implementation of a strategy of people's war.]

Nhưng thật ra từ đâu mà có cuộc chiến Việt Nam hậu Geneva, một cuộc chiến mà không ai mong muốn, nhất là Bắc Việt, vì sau một cuộc chiến gian khổ chống Pháp để đạt được thắng lợi và hi vọng quốc gia sẽ thống nhất bằng con đường chính trị thay vì quân sự. Chúng ta hãy đọc vài tài liệu để thấy rõ nguyên nhân là từ đâu.

Tài liệu của Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers), hiển nhiên không phải thuộc loại phản chiến hay thiên Cộng, viết:

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, tình báo Mỹ ước tính trong thập niên 1950 là chiến tranh phát khởi phần lớn là do sự nổi giậy ở miền Nam để chống chế độ tham nhũng và càng ngày càng đàn áp dân chúng của Ngô Đình Diệm .

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói về những năm 1956-1959, khi mà cuộc nổi giậy bắt đầu, hầu hết những người đứng lên cầm vũ khí là những người Việt miền Nam và những nguyên nhân họ chiến đấu không có cách nào có thể bảo đó là do kế hoạch tính toán trước ở Bắc Việt.

Chỉ có rất ít bằng chứng là Bắc Việt đã chỉ đạo, hoặc có khả năng để chỉ đạo, những sự bạo động ở miền Nam (3 tháng cuối 1957: 75 viên chức địa phương bị ám sát. Ngày 22 tháng 10, 1957, 13 người Mỹ bị thương trong 3 cuộc nổ bom ở Saigon)

Từ năm 1954 đến năm 1958 Bắc Việt tập trung vào sự phát triển nội bộ, hiển nhiên là hi vọng vào một cuộc thống nhất đất nước hoặc qua cuộc bầu cử theo như Hiệp Định Genève hoặc là kết quả của sự sụp đổ đương nhiên của chế độ Diệm yếu ớt. Cộng sản để lại ở miền Nam một bộ phận nòng cốt khi họ đi tập kết ra Bắc năm 1954 sau cuộc chiến với Pháp chấm dứt, nhưng những cán bộ được lệnh chỉ được "tranh đấu chính trị" [để sửa soạn kiếm phiếu trong cuộc bầu cử mà Bắc Việt hi vọng, và điều này không vi phạm hiệp định Genève].

Tháng 5, 1959, các nhà lãnh đạo Bắc Việt quyết định nắm quyền cuộc nổi giậy càng ngày càng lớn mạnh ở miền Nam.

Tài liệu Ngũ Giác Đài nói, cả tình báo Mỹ và các tù binh Việt Cộng đều cho sự thành công nhanh chóng của Việt Cộng sau 1959 là do những sai lầm của Diệm.

Tài liệu Ngũ Giác Đài mô tả trạng thái tâm lý của Ngô Đình Diệm như là của một "Đại Phán Quan Tây Ban Nha).

[American Intelligence estimates during the 1950s show, The Pentagon account says, that the war began largely as a rebellion in the South against the increasingly oppressive and corrupt regime of Ngo Dinh Diem.

"Most of those who took up arms were South Vietnamese and the causes for which they fought were by no means contrived in North Vietnam," the Pentagon account says of the years from 1956 to 1959, when the insurgency began.

There is only sparse evidence that North Vietnam was directing, or was capable of directing, that violence (Last quarter of 1957: 75 local assassinated or kidnapped. On October 22, 1957, 13 Americans were wounded in three bombings in Saigon)

From 1954 to 1958 North Vietnam concentrated on its internal development, apparently hoping to achieve reunification either through the election provided for in the Geneva settlement or through the natural collapse of the weak Diem regime. The Communist left behind a skeletal apparatus in the South when they regrouped to North Vietnam in 1954 after the war with the French ended, but the cadre members were ordered to engage only in "political struggle."

North Vietnam’s leaders formally decided in May, 1959, to take control of the growing insurgency.

The Pentagon account says that both American intelligence and Vietcong prisoners attributed the Vietcong’s rapid success after 1959 to the Diem’s mistakes.

Diem’s mentality is described in the account as like that of a "Spanish Inquisitor".]

Đến đây, có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu chút ít là chính quyền Ngô Đình Diệm đã làm những gì để cho người dân miền Nam phải nổi giậy chống đối, và như chúng ta đã biết, không phải là chủ trương của Bắc Việt cho đến năm 1959. Đây không phải là chỗ đi vào chi tiết những hành động khủng khiếp của chính quyền Diệm đối với người dân, các đảng phái, và tôn giáo khác. Quý độc giả nào muốn biết rõ hơn thì có thể tham khảo nhiều cuốn sách hiện hữu ngày nay bằng tiếng Anh, hoặc hai cuốn "9 Năm Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm" của Nguyệt Đam và Thần Phong, và "Đảng Cần Lao" của Chu Bằng Lĩnh. Ở đây, tôi chỉ đưa ra vài nét chính qua những nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 240, 41, 61:

Diệm là một người Công Giáo thuộc thời Trung Cổ - ông ta đúng, mọi người khác đều sai. Chân lý (Phúc Âm) có quyền ưu tiên, không có những sự sai lầm. Và, biết rõ bản chất bất ổn định của quyền cai trị của ông ta, ông ta bị ám ảnh bởi ý tưởng là người nào phê bình bất cứ điều gì về chế độ của ông ta cũng là những kẻ thù thâm căn cố đế.

Ông ta là thánh Dominique (Người được Giáo Hội Công Giáo giao cho nhiệm vụ phát động những Tòa Án Xử Dị Giáo (The Inquisition) trong thời Trung Cổ, để tra tấn và giết oan vô số người vô tội).

Tháng 5, 1955, ông ta mở chiến dịch Tố Cộng. Hiệp Định Genève đặc biệt cấm không được trả thù chính trị.

ó, Diệm đã khởi sự những sự thù nghịch. Chính hắn, bằng chính sách tấn công tiêu diệt Việt Minh, đã khởi sự cuộc chiến ở miền Nam. Và chúng ta cần nhấn mạnh là, hắn ta hành động như vậy không phải là để trả đũa bất cứ sự khiêu khích nào của Việt Minh, nhưng từ sự thúc đẩy là phải tiêu diệt Cộng đỏ - tinh thần của một tên Công Giáo thời Trung Cổ đi săn lùng kẻ lạc đạo...

(Diem was a medieval Catholic – he was right, the others were wrong. Truth has privileges, error đoes not have. And, well aware of the precarious nature of his rule, he was obsessed with the idea that all who criticized anything about his regime were inveterated enemies.

He was St. Dominick.

June of ’55 he opened an "Anti-Communist Denunciation Program". The Geneva Accord specifically forbade political reprisals.

Thus, Diem began the hostilities. It was he, who by his assault on the Vietminh, began the fighting in the South. And, it must be emphasized, that he did this not in response in any Vietminh provocations, but out of his compulsion to exterminate the Reds – the spirit of the Medieval Catholic heretic-hunter.)

Phê bình chiến dịch Tố Cộng với những kết quả khủng khiếp của nó qua một vài con số trích dẫn mà tôi không muốn kê ra ở đây, Avro Manhattan viết trong cuốn Vietnam: Why Did We Go, 1984, trang 99, như sau:

Avro ManhattanĐằng sau cái bề mặt (Tố Cộng), mục tiêu thực của nó là Công Giáo hóa quốc gia. Sự đàn áp của Công Giáo ở Nam Việt Nam không phải là sự tác động của một cá nhân cuồng tín, hay của một nhóm cá nhân thí dụ như ba anh em của Diệm, hiến thân cho chính sách Công Giáo hóa một nước Phật Giáo. Nó là phó sản của một chính sách dài hạn đã được tính toán cẩn thận, nhận thức và đẩy mạnh bởi những bộ óc mà những mục tiêu căn bản là bằng mọi giá, bành trướng một tôn giáo mà họ tin chắc rằng là một tôn giáo chân thật duy nhất trên thế giới.

Người gây cảm hứng chính và theo đuổi chính sách này, như chúng ta đã thấy, là Giáo Hoàng Pius XII. Chính sách đó hoàn toàn hợp điệu với chiến lược toàn cầu của ông ta, nhắm tới hai mục tiêu căn bản: tiêu diệt Cộng Sản, và bành trướng Giáo Hội Công Giáo. [Chúng ta biết rằng, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chính Pius XII đã đe dọa "tuyệt thông" bất cứ giáo dân Việt Nam nào giúp đỡ Cộng sản, có liên hệ với Cộng sản, đọc sách báo Cộng sản. Do đó Công giáo Việt Nam dưới quyền của GM Lê Hữu Từ và LM Hoàng Quỳnh đã tiếp tay quân đội Pháp, săn lùng và giết hại người kháng chiến yêu nước. TCN]

[Behind its facade its real objective was the Catholicization of the Country. The Catholic repression of South Vietnam was not the work of a fanatical individual, or a group of individuals, like the three Diem brothers, dedicated to the Catholicization of a Buddhist country. It was the by-product of a well calculated long range policy conceived and promoted by minds whose basic objectives were the expansion at all costs, of a religion which they were convinced was the only true religion on earth.

The main inspirer and prosecutor of such a policy, as we have seen, was Pope Pius XII. Such policy was totally consonant with his globl strategy, directed at two fundamental objectives: the destruction of Communism, and the expansion of the Catholic Church.]

Với những tài liệu của những học giả và trí thức Mỹ như trên mà không có lý do gì chúng ta có thể cho rằng họ về thiên Cộng hay thân Cộng, vậy mà ông giáo sư sử Phạm Cao Dương vẫn còn có thể viết lên được câu Năm 1975 là năm miền Nam sụp đổ trước sự xâm lăng bằng võ lực của miền Bắc. Tôi tự hỏi, độc giả sẽ nghĩ về ông giáo sư như thế nào, nên tin vào những tài liệu trên hay tin vào những gì ông giáo sư viết.

Tại sao một người trí thức như giáo sư Phạm Cao Dương không thể nghiên cứu thêm một chút về cuộc chiến ở Việt Nam. Chẳng lẽ ông giáo sư không đủ khả năng để nhìn lại cuộc chiến Việt Nam như nó đúng là như vậy [to see the war as it really is] khi mà cuộc chiến đã chấm dứt 35 năm rồi, và ngày nay chúng ta không thiếu gì tài liệu để mà nghiên cứu. Chúng ta hãy đọc tiếp ông giáo sư:

► PCD: Võ Nguyên Giáp thắng ở Ðiện Biên Phủ, nhưng Phạm Văn Ðồng đã thua ở Genève… Ðiều này giải thích tại sao nhà cầm quyền Hà Nội sau đó đã không cho phổ biến những chi tiết về Hội Nghị Genève cũng như Hiệp Ðịnh Genève và đã mập mờ không nói rõ bản chất thực sự của các văn kiện.

Nói cách khác, chánh quyền Cộng Sản Hà Nội trong thời gian điều đình cũng như sau khi Hiệp Ðịnh Ðình Chiến đã được thông qua đã không cho quần chúng, kể cả các cán bộ trung cấp biết Hội Nghị đã diễn tiến ra sao, lập trường các phe như thề nào, và nội dung gồm có những khoản gì. (*)

TCN: Biên bản văn kiện về Hiệp Định Genève đã rõ ràng, cả thế giới đều biết và bản chất thực sự của các văn kiện không có gì phải dấu. Không có chính phủ nào phải công bố cùng quốc dân chi tiết những hiệp ước quốc gia. Không hiểu ông giáo sư đã đọc những điều khoản trong Hiệp Định Genève chưa. Bằng vào câu ông viết ở trên: Năm 1954 là năm Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, chia lãnh thổ Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc.. tôi có cảm tưởng là ông chưa hề đọc như tôi đã chứng minh ở trên. Sự thực lịch sử là như thế nào? Nếu ông giáo sư Dương không viết ra thì tôi đành phải viết vậy.

Nếu Hiệp định Paris 1973 chủ yếu là "đăng ký” sự thất bại của Mỹ tại Việt Nam và là một văn kiện “gỡ mặt mũi” để Mỹ “rút ra khỏi Việt Nam trong danh dự” thì Hiệp Định Genève chủ yếu cũng "đăng ký” sự bại trận của Pháp và là một văn kiện “gỡ mặt mũi” để Pháp rút ra khỏi Việt Nam. Dù đang thắng thế quân sự nhưng sau 9 năm kháng chiến với nhiều tổn thất, Việt Minh, một phần dưới sức ép của Nga Tàu, cũng muốn chuyển sự tranh chấp quân sự thành tranh chấp chính trị mà họ tin rằng sẽ nắm phần thắng. Nếu không tin như vậy, không đời nào Việt Minh chịu ký Hiệp Định Genève chỉ để kiểm soát non nửa đất nước, vứt bỏ mọi công lao hy sinh kháng chiến, nhường hơn nửa đất nước cho lực lượng Quốc Gia, vốn vẫn còn thuộc quyền Pháp và không hề đóng góp gì trong cuộc kháng chiến chống Pháp trở lại để đô hộ Việt Nam. Điều này chúng ta thấy rõ trong nội dung của bản văn Hiệp Định Genève.

Hiệp Định Genève gồm hai phần: Phần "Thỏa hiệp Ngưng Chiến Song Phương" giữa Pháp và Việt Minh (Bilateral armistice agreement between France and the VietMinh) làm căn bản cho Phần "Tuyên Ngôn Đa Phương Có Tính Cách Quyết Định” (The multilateral Final Declaration), đồng ký bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào, Cambod, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga Sô Viết, và Việt Nam Quốc Gia. Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ của Việt Nam Quốc Gia lên tiếng phản kháng, không đồng ý với nội dung bản Tuyên Ngôn, điều duy nhất ông ta có thể làm được, nhưng chẳng có ai để ý vì thực tế là chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng lên và khi đó vẫn còn nằm dưới cái dù của Pháp, cho nên không có một tư cách quyết định chính trị nào trong Hội Nghị Genève. Phải 8 tháng sau Hiệp Định Genève, đến tháng 3/1955, dưới áp lực của Mỹ, Pháp mới hoàn toàn trao trả độc lập cho Nam Việt Nam, để Mỹ vào thay thế, và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam mới có cơ hội đốt lon của Pháp để đeo lon theo kiểu Mỹ. Chuyện Ngô Đình Diệm đuổi Pháp giành độc lập cho Nam Việt Nam chỉ là chuyện tiếu lâm của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa dựng lên để đánh bóng Ngô Đình Diệm, cũng như huyền thoại "chí sĩ" Ngô Đình Diệm đã từng bôn ba [trong vài tu viện Công giáo] nơi hải ngoại để cứu nước...

Phần "Thỏa Hiệp...", gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập "một đường ranh giới quân sự tạm thời" (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 2 ấn định thời gian rút quân của hai bên không quá 300 ngày kể từ ngày Thỏa Hiệp có hiệu lực.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: "Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp." (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

Điều khoản 14, đoạn (c) viết: "Mỗi phe sẽ tự kiềm chế để không có bất cứ hành động trả thù hay kỳ thị nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì những hoạt động trong khi có cuộc tranh chấp quân sự, và phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của họ.” (Each party undertakes to refrain from any reprisals or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the hostilities and to guarantee their democratic liberies) [Có ai còn nhớ đến chiến dịch Tố Cộng của Ngô Đình Diệm không?]

Trong bài của ông Phạm Cao Dương còn nhiều chỗ không thể đọc được vì đều là cảm tính cá nhân một chiều, diễn giải sai lệch lịch sử, cho nên tôi nghĩ không nên mất thì giờ thêm nữa. Nhưng có một câu tôi không thể không trích dẫn. Qua câu này chúng ta có thể thấy rõ tất cả vấn đề về phe Quốc Gia:

► PCD: Riêng đối với người Việt Quốc Gia, mặc dầu không cản được sự chia đôi đất nước, họ vẫn có được một nửa thay vì chỉ có một phần ba lãnh thổ, từ vĩ tuyến 13 trở xuống, nhờ người Pháp, dầu cho thua trận, sớm muộn cũng phải ra đi, nhưng vẫn từng bước giữ lại những gì có thể giữ được cho đồng minh đã liên kết với mình.

TCN: Người Việt Quốc Gia là đồng minh [sic] của Pháp. Nhưng Pháp là ai, trở lại Việt Nam để làm gì? Câu trả lời nằm trong câu hỏi.

Người ta đã đưa ra nhiều lý do để biện hộ cho việc ông Diệm không thi hành quy định Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 trong Hiệp Định Geneva. Không có lý do nào chính đáng. Tàu không muốn cho Việt Nam thống nhất? Đó là chuyện của Tàu. Mỹ muốn giữ miền Nam để chống Cộng? Đó là chuyện của Mỹ. Miền Bắc không có tự do bầu phiếu? Vào thời đó Việt Minh có cần phải tổ chức gian lận trong cuộc Tổng Tuyển Cử không? Lý do chính để Mỹ và Diệm phá cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 là, chính Tổng Thống Hoa Kỳ Eisenhower và báo chí Mỹ, tờ Time ngày 22/11/1954, và tờ Look ngày 25/1/1955, đã ước tính là trong cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do (Free Elections) vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là 80% số phiếu trên toàn quốc. Mỹ muốn ngăn chận Cộng Sản vì cái thuyết Domino sai lầm của mình nên không muốn có Tổng Tuyển Cử mà kết quả chắc chắn là Cộng Sản sẽ thắng trên toàn quốc. Mặt khác, các cuộc bầu cử dưới chế độ Ngô Đình Diệm có tự do và không gian lận hay không? Vì vậy Giáo sư Mortimer T. Cohen đã châm biếm trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, xuất bản năm 1979, trang 227 và 251, như sau:

"Nhưng Eisenhower biết rằng trong một cuộc bầu cử tự do, 80% dân chúng sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì Bảo Đại. Diệm có khá gì hơn Bảo Đại không? Làm sao mà khá hơn? Không một người nào ở Việt Nam có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển Cử tự do. Ông ta là George Washington của nước Việt Nam. Giáo sư Brown gọi ông ta là một kẻ "phản bội", nhưng trong 15 năm, từ 1954 đến khi ông ta chết vào tháng 9/1969, cái tên phản bội này sẽ thắng bất cứ ứng cử viên nào khác. Các ông không thể đánh bại một người có tên tuổi bằng một người không tên tuổi... Lý do Diệm không muốn có cuộc Tổng Tuyển Cử là vì ông ta nghĩ rằng mình sẽ thua..."

[But Eisenhower knew then that 80 percent of the people in a free election would vote for Ho Chi Minh over Bao Dai. Would Diem do any better than Bao Dai? Why should he? No one in Vietnam could beat Ho Chi Minh in an open election. He was the George Washington of the nation. Professor Brown calls him a "traitor", but for fifteen years, from 1954 to his death in September of 1969, this traitor would have easily won over any other candidate. You can’t beat somebody with nobody... The reason Diem did not hold unification elections was that he thought he’d lose them...]

Về bài trên của ông PCD chỉ có hai độc giả lên tiếng phê bình. Tôi để vào đây để rộng đường thông tin.

Trần Kỷ, Úc:

Tôi đọc rất lấy làm thú vị về những quan điểm của GS Phạm Cao Dương, đặc biệt là về thỏa ước giữa Pháp và Quốc gia Việt Nam ký, 4.6.1954, trong đó Pháp công nhận chủ quyền độc lập của Quốc gia Việt Nam. Rõ ràng là hiệp định Geneva có 1 điều khoản qui định về cuộc tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam 2 năm sau đó, tức là vào tháng 7 năm 1956. Hiệp định Geneva có được người Pháp ký và tuyên bố công nhận, Pháp và các chính quyền phụ thuộc phải có trách nhiệm thi hành hiệp ước này. Điều này là không thể phủ nhận. Câu hỏi mà chúng ta thường gặp là Quốc gia Việt Nam có chịu trách nhiệm thi hành hiệp định Geneva này hay không. Theo cách nhìn của GS Phạm Cao Dương, thì với thỏa ước 4.6.1954, người đọc có thể suy diễn là Quốc gia Việt Nam không phụ thuộc vào Pháp, và do vậy có quyền phủ nhận hiệp định Geneva đó. Tôi có cảm giác đây là điều GS Phạm Cao Dương muốn nhắm tới. Nếu đây là lý do để Quốc gia Việt Nam không tôn trọng hiệp định Geneva thì quả là kỳ lạ. Sau khi Pháp ký hiệp định Geneva, Pháp cũng ký với Mỹ, Anh, Thailand, Philippine và một vài quốc gia khác một hiệp ước phòng thủ chung vào cuối năm 1954 (SEATO). Đây là cơ sở pháp lý để VNCH "nhờ" Mỹ vào bảo vệ sau này. Theo cách nhìn, thỏa ước 4.6.1954 cho phép Quốc gia Việt Nam phủ nhận hiệp định Geneva, thì rõ ràng hiệp ước phòng thủ chung SEATO do Pháp ký là vô giá trị. Do đó việc Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam là hoàn toàn không có một sơ sở pháp lý nào. Một nửa thế kỷ đã qua, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên trả lại sự thật đầy đủ, chứ không nên chỉ nói một nửa phần sự thật có lợi cho mình, nhất là khi người nói đó lại là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp về chủ đề này.

 

Toàn Xuân, tp.HCM

Đọc bài của GS sử học Phạm Cao Dương, thoạt nhiên bạn đọc cảm thấy thú vị vì những nhận định và thông tin đưa cung cấp, dường như lịch sử VN giai đoạn này đúng là như vậy. Thế nhưng, bài học gì rút ra được từ đây? Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Trần Kỷ, người Mỹ không có lý do chính đáng nào khi can thiệp vào VN. Chỉ có thể dùng 2 chữ XÂM LƯỢC để nói lên bản chất cuộc chiến tranh 20 năm của Mỹ gây thảm cảnh nhồi da xáo thịt dân tộc VN. Tất cả các cường quốc : Nga, Mỹ, Anh, Pháp, TQ,...đều có mục đích riêng của họ khi tham gia hiệp định Geneve. VN hay Triều Tiên, thậm chí nước Đức, không thể tránh khỏi bị chia cắt bởi sức mạnh ngoại bang. Nhưng Bắc Việt vẫn quyết chiến để thống nhất toàn vẹn nước nhà, chấm dứt hoàn toàn một giai đoạn lịch sử đen tối của nước nhà, giai đoạn bị đô hộ, bị xâm lăng, chiếm đóng. Tôi chỉ thấy một bài học là luôn phải chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước, bảo vệ danh dự dân tộc.

► o ◄

Bây giờ chúng ta hãy sang bài của ông Phạm Cao Dương viết về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

Mở đầu bài, ông Phạm Cao Dương viết:

Trả lời 1 câu hỏi của 1 PV truyền hình Mỹ năm 1995, là "qua hai cuộc chiến vừa qua có từ 3 triệu rưởi đến 4 triệu người chết, ông (Tướng Giáp) có hối tiếc hay không ?", Tướng Giáp vẫn trong bộ quân phục cố hữu đã trả lời bằng tiếng Pháp là « Không chút nào ! Tôi không hối tiếc chút nào ! »

Ông Phạm Cao Dương, một trí thức đã từng là Giáo sư Sử ở Đại Học Sư Phạm Saigon, Giáo sư ở Viện Đại Học Vạn Hạnh, và ở Nam Cali đã từng ở trong ban giáo sư của Hội Việt Học, không cho độc giả biết PV trên tên là gì, đài truyền hình Mỹ nào, phỏng vấn ngày nào và ở đâu. Ông ta khẳng định là việc dẫn chứng các tài liệu kh ông cần thiết:

► PCD: Bây giờ người viết xin được vô đề với một chú thích thêm là vì đây là một bài báo mang thời gian tính nhằm vào quảng đại độc giả nên người viết không kèm theo những cước chú vì thiết nghĩ nhất thời không cần thiết.

TCN: Như vậy là ông đã quá coi thường độc giả và tự giành quyền cho mình muốn viết sao thì viết. Đây là điều khó có thể chấp nhận trong lãnh vực học thuật đối với giới trí thức, nhất là khi viết về một vấn đề quan trọng liên quan đến Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Vì không kèm theo các cước chú nên độc giả không có cách nào có thể kiểm chứng những điều ông viết là đúng hay sai, là sự thật hay ngụy tạo. Nhưng đối với tôi, phần lớn là sai. Sau đây, tôi có vài nhận xét về vài đoạn trong bài của ông Phạm Cao Dương.

Đoạn trên có ý lên án Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là con người vô tình cảm trước cái chết của 3-4 triệu người. Nhưng vấn đề là PV trên, nếu có thật, đã hỏi một câu ngớ ngẩn, vì 3-4 triệu người chết đâu có phải tất cả là do Tướng Giáp gây ra. Đó là tổng số người chết trong hai cuộc chiến ở Việt Nam. Trong số đó có bao nhiêu người là nạn nhân của Pháp, có bao nhiêu người là nạn nhân của Mỹ, có bao nhiêu người là nạn nhân của cảnh huynh đệ tương tàn. Vậy thì tại sao Tướng Giáp phải hối tiếc về cái con số người chết này.. Là người dân Việt Nam có ai mà muốn Việt Nam phải gánh chịu cái khổ nạn như vậy. Nếu ông Giáp, nhân danh là một Tướng lãnh chống ngoại xâm, có hối tiếc là hối tiếc vì đã không thể tiết kiệm hơn nữa xương máu của những con dân Việt Nam yêu nước đã hi sinh cho tổ quốc trong hai cuộc chiến tiền và hậu Geneva. Trong bất cứ cuộc chiến nào, câu "Nhất tướng công thành vạn cốt khô" không còn xa lạ với người Việt Nam. Vấn đề chúng ta phải xét đến là "công thành" của một Tướng đã mang lại những gì cho quốc gia, cho đất nước. Câu trả lời đã thật rõ ràng về "công thành" của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp nếu chúng ta nhìn lịch sử một cách không thiên vị.

Viết về một nhân vật như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp mà cả thế giới đều biết đến thì có lẽ chúng ta nên viết về ông ta như một vị Tướng, những yếu tố nào đã tạo thành một con người như ông ta, để tạo được những chiến công mà cả thế giới phải cúi đầu ngưỡng mộ như vài tài liệu sau đây, thay vì cuộc đời hậu chiến hay những điều lặt vặt trong đời của ông ta, một lỗi lầm mà linh mục Nguyễn Hữu Lễ, ông Trần Quốc Bảo, và những người góp phần sáng tạo ra DVD "Sự thật về Hồ Chí Minh" đã phạm phải. Chúng ta hãy đọc một nhận định về Tướng Giáp trên Wikipedia:
http://en.wikipedia.org/wiki/Vo_Nguyen_Giap

Cuộc chiến thắng Pháp [ở Điện Biên Phủ] của Giáp đã nghiền nát truyền thuyết về "Tây phương bất bại" và do đó đã mở ra một kỷ nguyên mới cho sự tranh đấu chống chủ nghĩa thực dân cho nền độc lập quốc gia. Với chiến thắng này, tên của Võ Nguyên Giáp đã đồng nhất với sự thất bại của chủ nghĩa thực dân trong toàn cõi Phi Châu và Nam Mỹ.

[Giap's victory over the French crushed the legend of Western invincibility and thus opened a new era in the struggles for national independence against colonialism. With this victory, the name of Vo Nguyen Giap has become identified throughout Africa and Latin America with the defeat of colonialism.]

Và một tài liệu khác: http://www.time.com/time/asia/2006/heroes/nb_nguyen.html

By Kay Johnson

Đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, Đại Tướng Giáp đã báo trước sự tận cùng của chủ nghĩa đế quốc.

Cuộc chiến thắng của Việt Minh ở Điện Biên Phủ là cuộc chiến thắng đầu tiên của một nhóm kháng chiến Á Châu chống lại một đoàn quân thuôc địa trong một cuộc chiến quy ước. Cuộc chiến thắng này đã đánh đổ huyền thoại về “ Tây Phương bất bại”, đưa đến sự rút ra khỏi Việt Nam một cách nhục nhã của Pháp, và gây cảm hứng chống những thế lực đế quốc trên khắp thế giới.

[In defeating the French at Dien Bien Phu, General Vo Nguyen Giap heralded the end of imperialism.

The communist Viet Minh's victory at Dien Bien Phu was the first by an Asian resistance group against a colonial army in a conventional fight. It struck down the myth of Western invincibility, led to the ignominious withdrawal of the French from Vietnam, and inspired anti-imperial forces worldwide.]

Đó là "công thành" của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới, ở những nơi bị chế độ thực dân ngự trị. Trong bài, ông Phạm Cao Dương nhấn mạnh nhiều lần là Tướng Giáp là Cộng Sản. Cộng Sản hay không thì "công thành" của Tướng Giáp đã rõ ràng. Cho nên khi ông Phạm Cao Dương viết một câu lãng xẹt, vô nghĩa: "không thấy ngại là viết về một người còn sống mà lại nói về cái chết sắp tới của người ấy" [sic], "một nhân vật quan trọng được nhiều người ngưỡng mộ nhưng cũng không thiếu người thù hận" tôi không hiểu ông giáo sư muốn nói gì. Nhưng thành phần nào trong dân tộc ngưỡng mộ và thành phần nào thù hận? Ông giáo sư không nói thì chúng ta cũng biết là thành phần nào ngưỡng mộ và thành phần nào thù hận. Thành phần ngưỡng mộ là thành phần yêu nước vì Tướng Giáp đã mang lại vinh quang cho xứ sở trên chính trường quốc tế. Đối với họ, biết Tướng Giáp qua những tài liệu nhận định về Tướng Giáp như trên kể ra cũng đủ. Còn thành phần thù hận là thành phần thiểu số ở hải ngoại, vì lý do này hay lý do khác, không thể chấp nhận "công thành" của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp và còn đang cố gắng tìm cách phủ bác "công thành" của Tướng Giáp và hạ uy tín của ông ta, qua những điều bịa đặt dỏm... Thí dụ như: chiến thắng ĐBP không phải là của Tướng Giáp mà là của Tàu, một lý luận ngu xuẩn bất kể sự thực lịch sử. Chẳng có ai phủ nhận là có mặt cố vấn Tàu hay một số chuyên viên kỹ thuật Tàu có mặt ở ĐBP. Nhưng 4-5 Sư Đoàn tấn công ĐBP là người Việt Nam. Theo tài liệu trong bài "An Analysis Of The French Defeat At Dien Bien Phu", AUTHOR Major Harry D. Bloomer, USA, CSC 1991, thì những kế hoạch đối phó với những cuộc hành quân của Navarre xung quanh ĐBP và tấn công ĐBP đề do Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đặt và được ông Hồ, có mặt ở ĐBP, và Bộ Chính Trị chấp thuận.

[Plans to deal with the [Navarre] assault were quickly developed by Giap and approved by Ho's Central Committee. The Viet Minh objectives, in contrast to the French, were clear, consistent, and certainly attainable. Giap's objective was to destroy the French garrison at Dien Bien Phu. (7:54). Furthermore, the Central Committee, to whom Giap reported, fully supported Giap's plans.]

Về vai trò của Tàu thì khi xưa, cả Tướng Navarre của Pháp lẫn Ngoại Trưởng Foster Dulles của Mỹ cũng đều cho rằng Trung Cộng đóng một vai trò tích cực ở Điện Biên Phủ. Chúng ta hãy đọc lời bình luận của Giáo sư Mortimer T. Cohen về việc này trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 201-202:

"Ngày 5 tháng 4, 1954, trước ủy ban ngoại vụ của quốc hội, Dulles như cuồng loạn trước sự viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam và nói đó là một sự can thiệp trực tiếp. Phản ứng của Mỹ "có thể không chỉ thu hẹp ở Đông Dương".

Ông ta đe dọa Trung Quốc với chiến tranh.

Gốc rễ vấn đề của Dulles là nếu Việt Minh đang đánh bại Pháp, và nước Việt Nam của người Việt Nam - bất cứ nước nào khác lấy quyền gì để vào đó đánh cho Pháp? Câu trả lời của Dulles là không phải là người Việt đánh bại Pháp mà là người Tàu. Người Tàu đã xâm lược Việt Nam và Pháp đã chống lại sự xâm lược, giống như Hoa Kỳ đã chống lại sự xâm lược ở Triều Tiên.

Chỉ có điều là - chẳng có tí sự thực nào trong đó. Không có Tàu ở Điện Biên Phủ như Dulles đã khẳng định. Bộ Tổng Tham Mưu của Pháp nói rằng không có một tù binh nào, sống cũng như chết, là Tàu. Năm 1959, một viên chức Nam Việt Nam – khó có thể là thân Cộng bị tuyên truyền – nói về "lực lượng tối tân và mạnh mẽ của Pháp bị đánh bại bởi những chiến sĩ Việt Nam trang bị yếu kém về vũ khí mà.. chưa từng có sự tiếp tay của quân đội Nga hay Tàu."

Pháp, với sự viện trợ của Mỹ lên tới nhiều trăm triệu đô la, bị đá khỏi Đông Dương bởi những dân bản xứ, với quân cụ cung cấp bởi Trung Quốc và Nga Sô, và Mỹ toan tính can thiệp vì cho là sự tiếp nhận viện trợ của Việt Minh từ các nước khác là một tội ác đối với nhân loại, với nền văn minh Tây phương, và Ki Tô Giáo.

Tướng Navarre cũng phụ họa luận điệu là Trung Quốc đã can thiệp, cho rằng Trung Quốc không có quyền vào Việt Nam như Pháp.

Jules Roy tóm tắt thật hay như sau:

"Những lời tuyên bố của John Foster Dulles và Tướng Navarre về những chuyên viên Trung Quốc đơn giản chỉ là truyền cảm ý muốn bào chữa cho những sự thất bại của họ."

[5 April before the House Foreign Affairs Committee Dulles got hysterical about Chinese aid to the Vietminh and said it amounted to direct intervention. American reaction to this "might not be confined to Indochina.

He was threatening China with war.

The root of Dulles’ problem was that if the Vietminh were beating the French, and if Vietnam belonged to the Viets – what the hell right did any other nation have to come in and fight for France? Dulles’ answer was that the Viets were not beating France – it was the Chinks. They had invaded Vietnam and France was resiting their invasion, as the US resisted the invasion of South Korea.

Only trouble – there wasn’t a word of truth to it. There were no Chinese at Dien Bien Phu, as Dulles claimed. The French General Staff said no prisoners, wounded or dead had been identified as Chinese. In 1959 a South Vietnamese – hardly prone to pro-Communist propaganda – spoke of "powerful modern French armies defeated by poorly armed Vietnamese fighters who...never were helped by Russian or Chinese troops."

The French, with hundreds of millions in American aid, were getting kicked out of Indochina by the natives, who got their supplies from China and Russia, and the US was trying to intervene as if the acceptance of aid by the Vietminh from other nations constituted a crime against humanity, Western civilization, and Christianity.

General Navarre also echoed the line that the Chinese were "intervening" as if China has less right to be in Vietnam than the French.

Jules Roy summed it up well.

" ....The statements made by John Foster Dulles and General Navarre about Chinese technicians were simply inspire by their desire to explain away their failures."]

Tưởng chúng ta cũng nên đọc thêm nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen về chiến thắng Điện Biên Phủ:

"Điện Biên Phủ là sự diễn đạt tinh thần quốc gia và sự hãnh diện của người Việt mạnh nhất về một biến cố trong dòng lịch sử của họ. Có một đứa trẻ nào ở trong làng mà không biết đến những chiến thắng đối với Trung Hoa và Mông Cổ - hai lực lượng quân sự mạnh nhất ở Á Châu? Những biến cố này và cuộc tranh đấu ngàn năm chống ngoại xâm đã được lồng vào trong văn học, ca nhạc, và châm ngôn của họ. Đối với người Việt, Điện Biên Phủ là một trận chiến khác trong đó họ đã đánh bại quân xâm lược. Và hầu hết mọi người, bất kể là thuộc tôn giáo, tầng lớp xã hội nào, hoặc phục vụ cho quân đội Pháp, đều hãnh diện vì nó.

Người Mỹ có hiểu được như vậy không? Người Mỹ có biết gì về Việt Nam và lịch sử, văn hóa Việt Nam không? Hoàn toàn không."

(Dien Bien Phu was the expression of that Viet nationalism and pride which had been the strongest single event in the course of their history. Was there a village schoolchild who did not know of the victories over the Chinese and Mongols – the two leading military powers in Asia? These events and the millenium old struggle against foreigners were woven into their literature, their songs, their proverbs. To the Viets Dien Bien Phu was another battle in which they had defeated the invaders. And most of them, regardless of religion, social class, or service with the French armed forces, were proud of it.

Did the Americans understand this? Did they know anything about Vietnam and its history, its culture? Nothing. (Mortimer T. Cohen in From Prologue to Epilogue in Vietnam, N.Y., 1979, p. 206))

Cũng như những người thù hận Hồ Chí Minh thường ở trong chiến dịch "No Hồ" của một thiểu số cuồng tín ở hải ngoại, những người thù hận Tướng Giáp cũng thường ở trong chiến dịch "No Giáp" và đang cố tìm cách hạ thấp "công thành" và uy tín của Tương Giáp bất kể đến những sự thực lịch sử. Nhưng thực tế cho thấy, “No Hồ” hay “No Giáp” đều không gây được bất cứ một ảnh hưởng nào, ít ra là trong giới hiểu biết và trí thức, vì ngày nay chúng ta không thiếu gì những tài liệu viết về ông Hồ và Tướng Giáp của những học giả Tây phương mà không ai có thể bảo là họ thiên vị Cộng sản hay thiên vị Pháp, Mỹ.. Và thật là dễ hiểu khi "sử gia" Phạm Cao Dương né tránh nói đến sự nghiệp quân sự của Tướng Giáp và viết:

► PCD: Phải nói ngay là trong bài này người viết sẽ không đề cập tới sự nghiệp quân sự của Võ Nguyên Giáp như một danh tướng của Cộng Sản Việt Nam mà còn là của thế giới, một đề tài đã được quá nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết rồi ; đồng thời chính ông cũng đã viết dù là tự tay hay qua các thuộc cấp. Sự nghiệp quân sự này đã che lấp những công lao khác mà ông đã đóng góp cho Đảng Cộng Sản Việt Nam trong những năm bốn mươi của lich sử đảng này.

TCN: Mục đích của “sử gia” Phạm Cao Dương đã rõ ràng: bỏ cái lớn đi vào những cái lặt vặt. Để làm gì? Để chống Cộng qua những luận điệu chống Cộng cũ rích, phịa ra vai trò Tướng Giáp trong những vụ như "cải cách ruộng đất”, “diệt trừ đảng phái”, và nhảm nhí hơn nữa là cho rằng Tướng Giáp huấn luyện nhân dân tự vệ để mang giây thừng đi trói người mang đi đấu tố v…v… Tất cả đều không có bất cứ một bằng chứng nào có thể thuyết phục người đọc.

Tác giả còn đưa ra những chi tiết chẳng ăn nhằm gì đế chủ đề, thí dụ như, mà chúng ta hiểu ông muốn nói lên điều gì:

► PCD: Gia dĩ từ lâu ông đã quan tâm đến, nếu không nói là theo, đạo Phật. Trong số các nhà sư ông tiếp xúc có cả Thiền Sư Thich Nhất Hạnh.

TCN: Tôi nghĩ phê bình chừng đó cũng đủ để chúng ta thấy ý đồ của sử gia Phạm Cao Dương khi viết bài "Vài Ghi Chú Về Võ Nguyên Giáp". Nhưng có một vài câu tôi không thể bỏ qua vì tác giả đã cho rằng Tướng Giáp là người đã gây ra cuộc chiến ở Việt Nam, điều mà không có một học giả nào hay sử gia nào trên thế giới nhận định như vậy. Và do đó tôi bắt buộc phải khai sáng cho ông PCD một chút về vấn đề này. Ông PCD viết:

► PCD: Không có ông Việt Minh khó có thể giữ được chính quyền sau ngày 19/08/1945 và không có ông chưa chắc cuộc chiến Đông Dương Lần Thứ Nhất đã xảy ra, và một đoạn dài dưới đầu đề: Võ Nguyên Giáp : Người đã gây ra Chiến Tranh Việt-Pháp ?

TCN: Chúng ta hãy đọc trên wikipedia.

 http://vi.wikipedia.org/wiki/Chiến_Tranh_Đông_Dương

Chiến tranh Đông Dương, ở Việt Nam được gọi là Kháng chiến chống Pháp, là cuộc chiến diễn ra tại Đông Dương thuộc Pháp từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954 giữa Quân đội viễn chinh Pháp và lực lượng Việt Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng các nhóm kháng chiến khác của Lào và Campuchia. Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả các nước láng giềng Lào và Campuchia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam.

Cuộc Chiến tranh này ở Việt Nam còn được gọi là: (Chiến tranh chống thực dân Pháp, Kháng chiến chín năm, 9 năm kháng chiến trường kỳ, Thời 9 năm, Hồi 9 năm). Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc Chiến tranh Đông Dương.

Pháp tham gia cuộc chiến này vì ý muốn tiếp tục giữ Đông Dương là thuộc địa, sau khi người Nhật đã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương. Đây là lý do chính trị và tâm lý hơn là kinh tế [11]. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo [12] . Đa số lãnh đạo Pháp cho rằng so với một cuộc xâm chiếm thuộc địa cổ điển với việc chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng dần theo kiểu "vết dầu loang" mà người Pháp đã thực hiện rất thành công ở MarocAlgeria, cuộc chiến này sẽ chỉ có quy mô hơn một chút. Tuy nhiên, mặc dù Pháp chiếm ưu thế quân sự trong thời gian đầu, lực lượng Việt Minh đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng. [12]

Trong khi đó, mục tiêu của Việt Minh và các nhóm kháng chiến khác là giành độc lập cho các dân tộc mình. Cuộc chiến giữa một cường quốc trên thế giới và một đất nước nghèo nàn lạc hậu đã diễn ra gần như lời Hồ Chí Minh đã nói:

"Nó sẽ là một cuộc chiến giữa voi và hổ. Nếu hổ đứng yên thì sẽ bị voi dẫm chết. Nhưng hổ không đứng yên. Ban ngày nó ẩn nấp trong rừng và ra ngoài vào ban đêm. Nó sẽ nhảy lên lưng voi, xé những mảnh da lớn, và rồi nó sẽ chạy trở lại vào rừng tối. Và dần dần, con voi sẽ chảy máu đến chết. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ như vậy." [13]

miền Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ thuộc địa Đông Dương. Ngày 19, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Ngày 23, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày Nam Bộ Kháng chiến). Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã lại đứng trước nạn ngoại xâm.

Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân "Nam tiến" của Vệ quốc đoàn (quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu lên đường vào Nam chống Pháp [14]. Các tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn... được cấp tốc cử vào. Trong hai tháng cuối năm 1945 và tháng 1 năm 1946, lực lượng Việt Minh tại các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân Pháp. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, sau một thời gian, các lực lượng này đều phải rút ra những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dựng chiến khu để bảo tồn lực lượng cho kháng chiến lâu dài.

Trong suốt năm 1946, mặc dù hai bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh

Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng. Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu. Ngày 20 tháng 11, hải quân Pháp bắt giữ một thuyền buồm Trung Quốc chở xăng được cho là để giao cho Việt Minh. Trong khi tàu được kéo vào bờ, du kích địa phương trên bờ đã bắn vào quân Pháp. Quân Pháp bắn trả và chiến sự nhanh chóng lan ra toàn thành phố. Hai bên mau có đạt được ngừng bắn, nhưng hai ngày sau, Tướng Jean-Étienne Valluy, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, lệnh cho quân Pháp chiếm toàn quyền kiểm soát thành phố. Ngày 23 tháng 11, Đại tá Dèbes gửi tối hậu thư yêu cầu người Việt ra khỏi khu phố Tàu của Hải Phòng và hạ vũ khí. Khi không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tầu chiến Pháp bắn phá thành phố, trong một buổi chiều đã giết chết hơn 6.000 người dân [15] hoặc hơn 2.000 người theo một nguồn khác.[16]. Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố trong khi pháo tiếp tục bắn phá vùng ngoại ô. Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng Việt Minh bảo vệ thành phố. Chiến sự kéo dài cho đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28 tháng 11.

Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ Việt Nam có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ phủ và một doanh trại gần đó. Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng đóng tại ngoại ô của thủ đô. Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và tự vệ. Bao gồm những thanh niên đầy nhiệt tình ủng hộ cách mạng, các lực lượng này được trang bị chủ yếu bằng vũ khí tự tạo. Đối địch với họ là vài nghìn binh sĩ Lê dương Pháp, chủ yếu đóng trong Thành Hà Nội, phần còn lại đóng xen kẽ tại 45 điểm trong thành phố như Phủ Toàn quyền, ga Hà Nội, nhà băng Đông Dương, nhà thương Đồn Thủy, cầu Long Biên, và sân bay Gia Lâm.

Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố. Trong thành phố, quân và dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình. Ngày 6 tháng 12, Hồ Chí Minh kêu gọi quân Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng ông không nhận được phản hồi. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp vào hôm sau, Hồ Chủ tịch khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam hy vọng tránh được chiến tranh - cái sẽ gây đau khổ lớn cho cả hai nước. "Nhưng nếu chúng tôi phải đối mặt với chiến tranh", ông nói, "chúng tôi sẽ chiến đấu chứ không từ bỏ quyền tự do của mình".

Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển tiếp tới Paris.

Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của Cao ủy Pháp d'Argenlieu về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt, Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi. Ngày 16 tháng 12, ông lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh dựng trong thành phố. Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Brum vào đến Sài Gòn, Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Đến ngày 19, bức điện mới đến được Paris, khi đó đã quá muộn.

Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (Hà Nội), rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Người Việt không phản ứng. Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố.

Hải Phòng bị bom MỹĐối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng trước, khi Đại tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá thành phố. Sáng ngày 18 tháng 12, Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm sau. Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Brum có thể chưa đến nơi, ông gửi một bức điện thẳng tới Paris. Sáng 19, để thể hiện thiện chí và cố gắng kéo dài hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Sainteny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sau khi được tin Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại, không thể nhân nhượng thêm được nữa. Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối cùng ngày. Chiến tranh Đông Dương bắt đầu.

Ông giáo sư sử Phạm Cao Dương nghĩ sao về những câu ông viết trong thời điểm 2010:

"không có ông [Giáp] chưa chắc cuộc chiến Đông Dương Lần Thứ Nhất đã xảy ra", và "Võ Nguyên Giáp : Người đã gây ra Chiến Tranh Việt-Pháp ?"

Tôi cho rằng, một là ông giáo sư sử thiếu hiểu biết về lịch sử [không hợp lý đối với một giáo sư sử đã nổi tiếng trên các diễn đàn chống Cộng ở hải ngoại], hai là bất lương trí thức [cứu cánh (chống Cộng, hạ uy tín của Tướng Giáp) biện minh cho phương tiện (gian trá, bẻ cong lịch sử).

Tôi thành thực đề nghị ông giáo sư hãy đọc thêm hai bài sau đây để hiểu rõ hơn về Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

http://www2.iath.virginia.edu/sixties/HTML_docs/Texts/Scholarly/Currey_Giap.html

An Officer and a Gentleman:

General Vo Nguyen Giap as Military Man and Poet

By Cecil B. Currey

http://www.workers.org/2008/world/giap_0911/

Vietnam’s incomparable military leader

By G. Dunkel

Published Sep 4, 2008 10:59 PM

Đoạn kết trong bài của Dunkel như sau:

B-52 trải thảm trên đất ViệtTuy nhiên, cuộc xâm lăng của Mỹ chống Việt Nam vẫn tiếp tục trong dạng thức những ảnh hưởng khủng khiếp, kéo dài, từ chất độc da cam, chất sát trùng khủng khiếp trải trên nhiều vùng rộng lớn ở Việt Nam bởi không quân Mỹ. Ngay cả sau ba thế hệ, 150,000 trẻ Việt Nam vẫn đau đớn bởi những dị dạng về thể chất và tinh thần gây nên bởi chất độc da cam.

Những cuộc tranh đấu của Việt Nam [để giành độc lập] muôn năm! Đại Tướng Võ Nguyên Giáp muôn năm !

[U.S. aggression against Vietnam, however, still continues in the form of lingering, terrible effects from Agent Orange, the herbicide spread over huge areas of south Vietnam by the U.S. Air Force. Even after three generations, 150,000 Vietnamese children suffer from physical and mental abnormalities caused by Agent Orange.

Long live Vietnam and its struggles! Long live Senior Gen. Vo Nguyen Giap!]

Bao nhiêu bom đạn và chất độc da cam đã đổ trên đất nước Việt Nam?

Mỹ đã thả 8 triệu tấn bom xuống Việt Nam, Cambodge, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

Ngoài ra, Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76.954.806 lít hóa chất trong đó có 49.268.937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).

Đó là chưa kể đến những chiến dịch "tố Cộng" của Ngô Đình Diệm, những vùng oanh kích tự do, chiến dịch Phượng Hoàng, và những thảm bom từ B52 của Mỹ v…v….

Tôi không hiểu trong số 3-4 triệu người chết của ông giáo sư sử Phạm Cao Dương có bao nhiêu người là nạn nhân của những vụ trên về chiến tranh Việt Nam. Thế mà câu kết trong bài của giáo sư sử Phạm Cao Dương cũng còn có thể viết như sau:

► PCD: Đáng tiếc cho câu trả lời của Tướng Giáp cho một câu hỏi của một phóng viên một đài truyền hình Mỹ năm 1995, là qua hai cuộc chiến vừa qua có từ 3 triệu rưởi đến 4 triệu người chết, ông (Tướng Giáp) có hối tiếc hay không ? Tướng Giáp vẫn trong bộ quân phục cố hữu đã trả lời bằng tiếng Pháp là « Không chút nào ! Tôi không hối tiếc chút nào ! ». Quả là đáng tiếc ! Nó đáng tiếc như những năm cuối cùng của cuộc đời của ông vậy !

TCN: Tôi cũng cảm thấy thật sự đáng tiếc cho cái học vị giáo sư sử học của ông Phạm Cao Dương.

 

Vài Lời Kết .-

Viết bài này tôi biết chắc chắn là sẽ lại có vài cái mũ chụp lên đầu nhưng tôi chẳng quan tâm đến những người làm nghề buôn nón cối, thường là những người không biết gì là lý luận, là phân tích, là đối thoại, là phản biện ngoài việc dùng những danh từ hạ cấp, chửi rủa người mà mình không đồng ý. Những hạng người này không phải là những đối tượng độc giả để tôi viết lên những bài thuộc loại nghiên cứu phân tích như bài này cũng như tất cả những bài khác.. Những hạng người này Giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đã liệt vào loại "côn đồ văn hóa" hay "đao phủ văn chương". Có người còn lên tiếng đòi đối thoại với tôi. Nhưng trình độ quá khác biệt thì làm sao có thể đối thoại. Tôi không nói là trình độ về bằng cấp mà là trình độ hiểu biết về vấn đề cần thảo luận. Vả chăng ai mà lại đi đối thoại với những "côn đồ văn hóa’ hay "đao phủ văn chương."

Tôi không phủ nhận là cuộc chiến Việt Nam đã làm chia rẽ lòng người một cách khó mà có thể hòa hoãn trong tương lai gần. Thời gian qua, mọi sự sẽ cùng qua với nó. Vạn Pháp vô thường, không có gì có thể tồn tại mãi mãi. Ý thức được điều này, nếu chúng ta chịu khó mở lòng ra một chút, nhìn lịch sử như nó thực sự là như vậy, không có thiên kiến, không có cảm tính cá nhân, không có tâm cảnh bè phái, thì tôi nghĩ sự thù hận, tuy không hết nhưng cường độ của nó sẽ bớt đi nhiều. Đừng có làm hại giới trẻ bằng cách truyền lại sự thù hận của mình để làm ô nhiễm đầu óc của chúng. Nói cho cùng, sự thù hận của chúng ta đã đặt trên căn bản nào?

Về chiến tranh Việt Nam, chúng ta đã thua, và một thiểu số muốn tiếp tục cuộc thánh chiến chống Cộng ở hải ngoại, chống Cộng vì cuồng tín tôn giáo, vì những mất mát cá nhân về quyền thế, hay tài sản, hay người thân v..v.., nói chung, với lý do chúng ta là "nạn nhân của Cộng Sản". Nhưng trong chúng ta, có ai đặt câu hỏi:

"Thế nạn nhân của Mỹ và của phía Quốc Gia thì sao?"

Ai có can đảm trả lời trung thực câu hỏi này. Nên nhớ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết khoảng 300000 người vô tội trong chính sách "tố Cộng", cộng với những thảm bom trải từ B52, vùng oanh kích tự do, Bến Tre, chiến dịch Phụng Hoàng, Agent Orange, Mỹ Lai v..v.. Và sự thật là, trong cuộc chiến, số người chết, bị thương của miền Bắc gấp mấy lần của miền Nam. Khoan nói đến những sự tàn khốc của chiến tranh, những người chết và thân nhân gia đình họ ở phía bên kia có phải là người không, và những người còn sống có đau khổ trước những sự mất mát to lớn đã đến với họ không? Họ có quyền thù hận chúng ta không?

Có vẻ như những người đi buôn thù hận này nghĩ rằng, những người bên phía CS không phải là người, không có cha mẹ, vợ chồng con cái, bạn bè thân thuộc v..v.. , hoặc đều là những kẻ "vô thần", nên những mất mát tổn thất của họ không đáng kể, chỉ có những tổn thất của phía chúng ta mới đáng để thù hận. Những người chống Cộng chỉ đưa ra những luận điệu một chiều để chứng minh chỉ có CS là ác, còn QG hay Mỹ thì không. Họ cố tình lờ đi và không bao giờ nhắc đến những hành động đối với dân, với kẻ thù, của người lính Quốc Gia cũng như của người lính Mỹ mà CS cũng phải chào thua, như những tài liệu của chính người Mỹ đã phanh phui [có thể đọc vài bài về vấn đề này trên trang nhà sachhiem.net]. Nhưng cũng may là sự thù hận này phần lớn chỉ có một chiều, tập trung trong một thiểu số ở hải ngoại mà đa số trong đó thuộc thế lực đen, một thế lực đã nổi tiếng trong dân gian, mà lịch sử đã ghi rõ, là "mất gốc" và "hễ đã phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc", đang nắm những phương tiện truyền thông ở hải ngoại.

Vậy nếu họ cũng kéo dài thù hận như chúng ta, thì sự thù hận này bao giờ mới chấm dứt, oan oan tương báo. Nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy những thái độ thù hận một chiều, đúng ra là ngược chiều, từ phía một thiểu số người quốc gia ở hải ngoại. Tôi đã về Việt Nam ba lần, lần cuối vào năm 2007, và tôi sẽ về nữa trong dịp lễ hội 1000 năm Thăng Long. Trong những lần trước tôi đã tiếp xúc với đủ lớp người, từ bác sĩ, nhà văn… cho đến người dân thường ở lớp tuổi có kinh nghiệm về chiến tranh. Tôi không thấy ai tỏ ý thù hận người quốc gia. Họ như muốn quên đi quá khứ để nghĩ đến tương lai của các thế hệ sau.

Đọc báo chí trong nước tôi cũng không thấy bất cứ luận điệu nào với những lời lẽ hạ cấp thù hận ngất trời như chúng ta thường thấy trên vài diễn đàn điện tử hay báo chí hải ngoại đối với người Cộng sản. Hãy nhìn hành động của Lý Tống vừa qua (ngày 18 tháng 7, 2010 ở Santa Clara Convention Center, CA - nơi Hưng đang trình diễn văn nghệ) đối với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và nhiều hành động tương tự khác trong mấy chục năm nay ở hải ngoại. Kỳ lạ thay một số người lại lên tiếng ủng hộ và hoan hô hành động phi pháp trên của Lý Tống. Nhưng không phải là tất cả. Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm phát biểu: "nhiều người Việt tị nạn sẽ ủng hộ ông Tống chỉ vì lý do chính kiến dù họ không thực sự thích thú với cái kiểu làm đó”. “Thiệt là vớ vẩn đến tội nghiệp, chỉ là một đám chống-cộng-đến-chiều cố làm sao cho cái khí thế cũ rích hừng hừng được thêm vài ngày nữa". Chúng ta đã thua về quân sự, nay chúng ta lại thua về văn hóa.

Về quân sự chúng ta đã từng chiến đấu dũng cảm. Có phải là kỳ lạ không mà ngày nay chúng ta lại sợ từng bức tranh, từng bài hát, từng ông sư, và từng đủ mọi thứ dính líu đến CS tuy rằng chúng đều vô hại. Ý thức quốc gia của chúng ta yếu kém đến độ chúng ta phải sợ tôn giáo vận, trí vận của CS hay sao mà phải có những hành động phi pháp trong một đất nước mà chúng ta đang được hưởng quyền tự do chọn lựa tôn giáo, chọn lựa khuynh hướng chính trị, tự do phát biểu ý kiến mà không sợ bất cứ một áp lực nào. Chúng ta có cảm thấy xấu hổ trước người Mỹ, trước quốc gia đã dung dưỡng chúng ta, và trước những sắc dân thiểu số khác đang sống trên đất nước này không.

Bom đạn và chất độc của "nhân đạo" nào thả tự do xuống quê hương tôi?

và những nạn nhân là dân Việt Nam của chúng tôi, họ không có thế lực để nói cùng ai

Ngày nay, thế giới Tây phương và tay sai tập trung vào chiến dịch hướng dẫn dư luận, thật ra là lạc dẫn [mislead] dư luận qua những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, thổi phồng tội ác của Cộng Sản, nhằm mục đích xóa tên Cộng sản trên chính trường thế giới. Sách lược chung của họ là chỉ đưa ra, và thường là thổi phồng, xuyên tạc mặt xấu của Cộng Sản mà không bao giờ nói đến cái lịch sử ô nhục của Tây phương về tôn giáo, về thực dân, cũng như không bao giờ nói đến những thành quả của Cộng Sản trên thế giới, kể cả ở Âu Châu. Riêng về Việt Nam, những người chống Cộng cực đoan hay chống Cộng cho Chúa thường quên đi hay xuyên tạc, hạ thấp những chiến công lừng lẫy của Cộng Sản trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp, cất bỏ được ách đô hộ của thực dân trên toàn thể dân tộc, và là tiền phong trong những cuộc cách mạng chống thực dân trên thế giới, và sau cùng thống nhất đất nước. Họ chỉ quan tâm đến vài con số ngụy tạo trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Việt Nam. Trong cuộc chiến với Mỹ ở miền Nam, họ chỉ nhắc đến Tết Mậu Thân theo luận điệu tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ, mà quên đi bom đạn Mỹ và VNCH đã tàn phá Huế và Bến Tre như thế nào, đã làm bao nhiêu thường dân vô tội chết. Một tài liệu cho biết, cho tới cuối năm 1966, theo ước tính của CIA thì bom của Mỹ thả ở ngoài Bắc đã làm chết trên 35000 người mà 80% là thường dân [Ronald H. Specter, After Tet, The Free Press, New York, 1993, p. 12: The bombing’s economic and military damage to North Vietnam was estimated by the CIA at about $130 million by the end of 1966, and more than 35000 North Vietnamese, 80 percent of them civilians, had been killed]. Họ cũng không bao giờ nhắc đến Mỹ Lai, chiến dịch Phụng Hoàng, vùng oanh kích tự do, thuốc khai quang, và những chính sách tàn bạo gấp bội, giết nhiều người gấp bội của Mỹ và tay sai, nhất là của chính quyền tôn giáo trị, gia đình trị của Ngô Đình Diệm với chính sách "tố Cộng" bừa bãi, với đoàn mật vụ miền Trung, với khu 9 hầm của Ngô Đình Cẩn v…v.. Những tài liệu về cuộc chiến ở Việt Nam ngày nay không thiếu, cho nên những luận điệu “tố Cộng” một chiều theo thiên kiến và bẻ queo lịch sử đã không còn giá trị thuyết phục, ít ra là đối với lớp người có đôi chút hiểu biết về lịch sử.

Mang danh là trí thức, những nhà viết sử chân chính phải có can đảm trình bày những sự thật lịch sử mà không vướng vào hội chứng thù nghịch quốc-cộng của mấy chục năm trước. Lịch sử không có tính cách bè phái, History doesn’t take side, người Mỹ thường nói. Chúng ta không thể cứ đóng sập cửa vào mặt sự thật ngay cả khi sự thật đến gõ cửa. Tôi chỉ hi vọng chúng ta hãy có một chút lương thiện trí thức và có can đảm đối diện với những sự thật lịch sử dù có đau lòng cách mấy đi nữa.

Người viết sử không nhất thiết phải là người đã đích thân chứng kiến những sự kiện lịch sử do đó có thể đưa ra những nhận định chính xác về những sự kiện lịch sử. Nhưng qua những tài liệu khả tín về những sự kiện lịch sử, những tài liệu tương đối không có thiên kiến của các học giả đã có uy tín trong giới chuyên nghiệp, hoặc giới khoa bảng trí thức, chúng ta có thể với một chút lô-gíc trong nghệ thuật tổng hợp và phân tích, rút ra một mẫu số chung đáng tin cậy.

Cuối cùng, tôi xin hoan hỉ đón nhận mọi phê bình trí thức trong tinh thần đối thoại nghiêm chỉnh với những dẫn chứng dựa theo các sự kiện lịch sử chứ không dựa theo cảm tính cá nhân vô căn cứ.

 

Grayslake, Illinois

Ngày 20 tháng 7, 2010

 


(*) trong "Geneva và những kinh nghiệm chưa được rút tỉa" của Phạm Cao Dương đăng ở http://www.bbc.co.uk ngày 20 Tháng 7 2004


Phụ Lục:

Gia Tài Của Mẹ - Trịnh Công Sơn ca

 

 



Warning: require(TCN/TCNls/ListTCNls.inc.php) [function.require]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/65/9872265/html/TCN/TCNls/TCNls11.php on line 1489

Fatal error: require() [function.require]: Failed opening required 'TCN/TCNls/ListTCNls.inc.php' (include_path='.:/usr/local/php5_3/lib/php') in /home/content/65/9872265/html/TCN/TCNls/TCNls11.php on line 1489