VATICAN:CH32- Quan Niệm Cổ Truyền Về Chính Thống Hay Chính Nghĩa (Nguyễn Mạnh Quang)

GIÁO HỘI LA MÃ:

LỊCH SỬ VÀ HỒ SƠ TỘI ÁC

- Nguyễn Mạnh Quang -

http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH32.php

05-Nov-2011

PHẦN IV

Xã Hội Và Chính Tình Việt Nam

Vào Đầu Thập Niên 1940

Phần IV này gồm có 3 mục

Mục XI: Chính nghĩa của một thế lực hay một cá nhân lãnh đạo đất nước.

Chương 32: Quan niệm về chính nghĩa của một thế lực hay một cá nhân lên nắm chính quyền.

Chương 33: Hai giai cấp thống trị và bị trị tại Việt Nam trong thời 1885-1945.

Mục XII: Xã hội Việt Nam vào đầu thập niên 1940 với một vài giai cấp mới.

Chương 34: Sơ lược  về xã hội cổ truyền trước khi giang sơn đồi chủ.

Chương 35: Hai giai cấp quan lại và phú hào .

Chương 36: Các giai cấp bần cố nông và lao động.

Chương 37: Nhóm  thiểu số tín đồ Da-tô.

Chương 38: Giai cấp thị dân và nhóm thiểu số trưởng giả học làm sang.. 

Mục XIII: Chính tình Việt Nam trong những năm 1940-1945.

Chương 39: Sự chuyển hướng mục tiêu tranh đấu của các lực lượng nghĩa quân và các đảng ái quốc.

Chương 40: Thực trạng một số các đảng phái ái quốc.

Chương 41: Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Chương 42 Mặt Trận Việt Minh với sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chương 43: Việt Minh Cướp Chính Quyền Và Giành Được Độc Lập Cho Dân Tộc.

Chương 44: Việt Minh đã đáp ứng được khát vọng giải phóng đất nước của dân tộc.

MỤC XI

CHÍNH NGHĨA CỦA MỘT CHÍNH QUYỀN
HAY NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC

Chủ đề của mục này là  quan niệm cổ truyền của dân tộc Việt Nam về chính thống của một chính quyền hay của một người nắm quyền lãnh đạo đất nước. Chủ ý của người viết khi viết mục này là giúp cho độc giả thấy rằng nhà Nguyễn nói chung và cá nhân ông Bảo Đại không còn có chính nghĩa hay tư cách nắm quyền cai trị đất nước nữa.  Mục này gồm có:

Chương 32: Quan niệm về chính nghĩa của một thế lực hay một cá nhân lên nắm chính quyền.

Chương 33: Quan niệm của Vatican về chính nghĩa của một cá nhân lên nắm chính quyền. .

Chương 34: Hai giai cấp thống trị và bị trị tại Việt Nam trong thời 1885-1945.

 

CHƯƠNG 32


Quan Niệm Về Chính Thống
Hay Chính Nghĩa Của Người Lên Cầm Quyền


● Chính Thống Hay Chính Nghĩa Của Một Cá Nhân Hay Một Thế Lực Khi Lên Nắm Chính Quyền. ● Những Trường Hợp Làm Mất Chính Nghĩa. ● Nhà Nguyễn Không Làm Tròn Trách Nhiệm Bảo Toàn Lãnh Thổ. ● Nhà Nguyễn Đã Mất Hết Chính Nghĩa Nắm Quyền Lãnh Đạo Cai Trị Nhân Dân. ● Tại Sao Nhân Dân Ta Phải Chiến Đấu Chống Lại Triều Đình Nhà Nguyễn? ● Chính Nghĩa Nắm Quyền Lãnh Đạo Đất Nước Và Cai Trị Nhân Dân Thuộc Về Các Lực Lượng Kháng Chiến. ● Quan Niệm Của Giáo Hội La Mã về Chính Nghĩa Nắm Quyền Cai Trị Quốc Dân


 

Chính thống và hay chính nghĩa là tính cách hợp lý, hợp tình và chính đáng của một  nhân vật hay một thế lực có đủ uy tín hay đã tạo được những chiến công hiển hách khiến cho muôn dân kính mến và  triệt để  ủng hộ đưa lên nắm giữ  vai trò lãnh đạo  đất nước (cũng có thể là của một tổ chức có những hoạt động liên hệ đến đời sống của nhiều người trong xã hội). Vì thế mà mỗi khi có cá nhân của một đảng phái chính trị xuất hiện, người ta không thể không xét  đến tư cách chính thống hay chính nghĩa của cá nhân người lãnh đạo và chính cương của chính đảng đó. Cũng vì thế mà chính thống và chính nghĩa của chính quyền là ưu tiên quan trọng nhất trong đời sống văn hóa và chính trị của người dân trong xã hội theo văn minh tam giáo cổ truyền Việt Nam. Vì chính thống và chính nghĩa quan trọng như vậy, cho  nên, trước khi bàn đến vấn đề này, chúng ta hãy tìm hiểu ý định nghĩa của từ kép “chính thống” hay “chính nghĩa” để tránh khỏi tình trạng hiểu sai lạc trong những đề tài liên hệ đến chính trị.

Đinh Nghĩa

Theo Hán Việt Tự Điển của ông Đào Duy Anh:

Chính thống  là dòng chính của nhà vua hoặc của môn học, (đồng nghĩa với chính thống) va  “Chính nghĩa là đạo lý chính đáng (đồng nghĩa với công đạo = justices).”

Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu  thì:

Chính tông là dòng chính nhà vua hay phái chính một tôn giáo, một học thuyết (đồng nghĩa với chính thống) và “chính nghĩa là nghĩa vụ chính đáng, việc làm đúng với lẽ phải.”

Theo Việt Nam Tự Điển của Ban Văn Hội Khai Trí Tiến Đức thì:

Chính thống là mối chính, dòng chính (nói về các đời làm vua)” và “chính tông là chỉ về phái nào đã nối được chính truyền của một tôn giáo hay học thuyết.

Chúng tôi không thấy có từ “chính nghĩa” trong cuốn  tự điển này.

Trái ngược với chính thống hay chính nghĩa là “phi chính nghĩa” hay “bất chính ”...

 

Chính Thống Hay Chính Nghĩa Của Một Cá Nhân

Hay Một Thế Lực Khi Lên Nắm Chính Quyền

 

Theo định nghĩa trên đây, chúng ta thấy hai từ kép “chính thống” và “chính nghĩa”, khi mới nghe qua thì có thấy gần giống nhau, nhưng nếu suy nghĩ và phân tích, chúng ta thấy có một điểm khác nhau vô cùng quan trọng.

Về điểm gần giống nhau.-

Vào thuở dân trí còn thấp kém, nhân dân thế giới vẫn còn theo chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền, người ta có thể hiểu một cách nhập nhằng chính thống và chính  nghĩa là một. Đây là trường hợp của hai ông Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm mưu đồ dấy binh đánh nhà Mạc vào năm Quý Tỵ (1532). Họ đã không nhân danh chính nghĩa của đạo lý  hay nhân danh nhân dân Việt Nam để đánh đổ nhà Mạc, mà phải nhân danh nhà Lê để tiêu diệt nhà Mạc. Vì thế họ mới phải cho người sang tới tận Ai Lao tìm kiếm được người con út của Vua Lê Chiêu Tông có tên là Lê Duy Ninh (với niềm tin rằng đây là dòng chính tông của nhà Lế), đem về đặt lên ngai vàng với vương hiêu là Lê Trang Tông. Sau đó, họ mới nhân danh ông vua bù nhìn (được coi như là có chính nghĩa) khởi binh đánh nhà Mạc. Chính vì thế mà khi tiệu diệt xong nhà Mạc, nước ta mới có tình trạng Vua Lê ngồi làm vì (làm bù nhìn) và Chúa Trịnh nắm thực quyền cai trị nhân dân. Sự kiện này cho chúng ta thấy dòng chính tông của nhà Lê đã trở thành cái chính nghĩa của thế lực dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm.

 Về điểm khác nhau vô cùng quan trọng.-

Sau này, vào giữa thế kỷ 19, sau khi đã đánh tan sức kháng cự của triều đình nhà Nguyễn, Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican cũng không nhân danh nước Pháp hay Giáo Hội La Mã để cai trị đất nước Việt Nam, mà lại giữ lại cái ngai vàng tại triều đình Huế rồi tìm một người chính tông của nhà Nguyễn là Ưng Kỳ (người con nuôi  thứ 3 của vua Tự Đức và là người con thứ 26 của Vua Thiệu Trị) cho ngồi vào đó với vương hiệu là Đồng Khánh (1885-1889) làm bung xung cho họ nắm thực quyền cai trị và bóc lột nhân dân ta đến tận xương tận tủy.

Sự kiện này chứng tỏ Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican đã sử dụng dòng chính tông của nhà Nguyễn để làm chính nghĩa cho họ nắm quyền cai trị Việt Nam với dã tâm làm cho nhân dân ta lầm tưởng rằng họ (Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican) chỉ giúp nhà Nguyễn cai trị nhân dân ta giống như họ Trịnh phò giúp vua Lê cai trị nhân Bắc Hà từ đầu thập niên 1540 cho đến năm 1788.

Chưa nói đến trình độ tiến bộ của dân trí về cơ chế chính quyền quản trị nhân dân, chỉ lấy lý trí mà suy luận, chúng ta thấy rằng dù là Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican đã nắm được chính tông của nhà Nguyễn  giống như Chúa Trịnh đã nắm được chính tông của nhà Lê, nhưng cũng vẫn không có chính nghĩa để cai trị nhân dân ta. Hơn nữa, theo quan niệm Nho giáo về quân quyền,  sau khi triều đình Huế ký Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 nhường ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Liên Minh Xâm Lăng  Pháp – Vatican, Giáp Tuất 1874 (nhường toàn bộ Nam Kỳ cho liên minh giặc), Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 (dâng cả nước cho liên minh giặc), nhà Nguyễn mất hết chính nghĩa không còn tư cách gì  để ngồi vào ngôi vị lãnh đạo quốc dân để cai trị đất nước nữa.  Vấn đề này sẽ được trình bày rõ ràng ở một phần sau.

Trong tập sách này, chúng tôi sử dụng hai từ kép này như vậy với chủ tâm  nhấn mạnh đến chính nghĩa nhiều hơn là chính thống hay chính tông. Trong phần trình bày dưới đây, chúng tôi sẽ không nói đến chính thống hay chính tông, mà chỉ  đặt ra vấn đề “chính nghĩa” cho những cá nhân những người lãnh đạo hoặc các chính đảng hay các thế lực tranh giành quyền chính cai trị đất nước. Cá nhân hay chính đảng nào có chính nghĩa, chứ không phải chính thống hay chính tông, thì được nhân dân nhiệt liệt ủng hộ và hăng say đi theo và tích cực ủng hội cá nhân hay chính đảng đó trong công cuộc giành giật chính quyền. Nguợc lại, cá nhân hay chính đảng nào dựa vào bạo lực hay quyền lực của ngọai bang mà nhẩy lên cầm quyền, thì sẽ bị coi là không có chính nghĩa, tức là phi chính nghĩa hay bất chính. Đây là theo truyền thống đạo lý từ ngàn xưa của các dân tộc Đông Phương trong đó có Việt Nam ta.

Theo quy luật của tạo hóa, gà sinh ra gà, cuốc sinh ra cuốc và cáo sinh ra cáo. Tương tự như vậy, thói thường, bất chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn thứ bất chính khác. Đồng thời, bất chính còn là cha đẻ của bất công, bạo ngược và hung tàn; bất công, bạo ngược  và hung tàn sẽ  làm cho nhân dân bất mãn, căm giận và thù ghét.  Từ ngàn xưa, từ Đông sang Tây, ở bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ thời điểm nào, khi nhân dân đã cảm thấy bất mãn, thì sẽ trở nên căm thù rồi nổi loạn chống lại chính quyền. Đây là quy luật lịch sử. Câu nói “thượng bất chính, hạ tắc loạn” là do quy luật này mà ra. Vì thế mà từ ngàn xưa, các dân tộc Đông Phương luôn luôn đặt chính nghĩa lên hàng ưu tiên số 1 đối với những người hay đảng phái chính trị muốn nhẩy lên nắm quyền quản lý quốc gia. Cũng vì lý do này mà trong bài Bình Ngô Đại Cáo của cụ Nguyễn Trãi mới có câu,

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Đọc đi đọc lại từ đầu đến cuối bài Bình Ngô Đại Cáo, chúng ta không thấy có chỗ nào cụ Nguyễn Trãi đề cập đến chính thống hay chính tông cả.

Nói về chính nghĩa của một cá nhân hay một thế lực lên nắm quyên quản trị quốc gia, ông  Richard J. Hardy viết trong cuốn Government In America như sau:

"Quyền lực và quyền thế không phải  là những lý do độc nhất mà nhân dân phải tuân hành các chính sách của chính quyền. Nhân dân tuân hành những chính sách của chính quyền vì  họ tin rằng chính quyền có chính thống (chính nghĩa hay hợp pháp). Như vậy có nghĩa là nhân dân chấp nhận quyền thế  và cái quyền của chính quyền được lãnh đạo đất nước. Một chính quyền có đủ quyền lực có thể tồn tại được thường thường là dựa vào bạo lực dù là nhân dân không chấp nhận  cái chính quyền này. Nhưng nếu muốn có một chính quyền ổn định, hữu hiệu và bền vững lâu dài thì  tính cách chính thống (chính nghĩa hay hợp pháp) là cần thiết." (Nguyên văn: "Power and authority are not the only reasons people comply with the policies of their government. People follow these policies because they believe the government has legitimacy. That is, people accept its authority and its right to lead them. A government enough power  can exist for a while, usually by force, even if the people do not accept it. But legitimacy is necessary if the government is to be stable, effective, and lasting."1

Ly Thai To

Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội, Xuân Kỷ Sửu,
Trị vì 1009 – 1028

Cuốn sách Government In America là một trong những cuốn giáo khoa về môn "Công Dân" (Civics)  được rất nhiều trường trung học ở Hoa Kỳ chọn làm sách giáo khoa dạy trong các lớp 12. Môn công dân là một trong những môn học bắt buộc học sinh phải học. Xem như thế cũng đủ biết nhân dân Hoa Kỳ coi việc rèn luyện cho các em học sinh phải hiểu thấu đáo tính  cách chính thống hay chính nghĩa hoặc hợp pháp của một  chính quyền và của người lãnh đạo nhân dân.  Ngoại trừ các nước nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội La Mã hay các chế độ đạo phiệt Hồi Giáo và quân phiệt, hầu như tất cả các nước theo chế độ dân chủ tự do  (thực sự) như ở Bắc Mỹ và Tây Âu  đều có cùng quan niệm về chính thống và chính nghĩa giống như ở Hoa Kỳ. Riêng ở Việt Nam ta, tùy theo hoàn cảnh của đất nước, tiêu chuẩn về chính thống hay chính nghĩa của một cá nhân hay thế lực cầm quyền trị quốc đã trở thành truyền thống của dân tộc là  phải có điều kiện hay tiêu chuẩn như sau:

1.- Nếu đất nước đang ở trong thời quân chủ chuyên chế như các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Phúc, người con nào được vua cha hay hội đồng hoàng tộc (thường là vua cha) chỉ định lên kế nghiệp, thì người đó sẽ được lên cầm quyền và được coi là có chính thống hay chính nghĩa. Đây là trường hợp Vua Gia Long chọn Thái Tử Đảm vào năm 1816 và vua Thiệu Trị chọn Thái Tử Hồng Nhậm lên kế vị trước khi băng hà vào năm 1847.  Trong trường hợp vua cha từ trần đột ngột mà không để di chiếu lại cho người con nào lên kế nghiệp, sẽ có hai trường hợp:

Trường hơp A.- Đây là trường hợp Vua Lê Thái Tông chết đột ngột vào năm 1442 lúc đó mới có 20 tuổi. Dĩ nhiên, ở vào tuổi này, nhà vua không có người con nào lớn tuổi cả. Theo truyền thống quân quyền của Nho Giáo, triều đình bèn đưa thái tử Băng Cơ lúc đó mới có 2 tuổi lên kế nghiệp và mọi việc triều chính đều nằm trong tay các quan phụ chính.  Nếu không làm như vậy, triều chính sẽ trở thành rối loạn rồi biến thành đại họa cho nhân dân.

Trường hợp B.- Nếu có sự tranh giành quyền lực giữa các người con của nhà vua (hoàng tử và công chúa), thì phe nào thắng sẽ được coi như là đã giải quyết xong chuyện rắc rối này.

2.- Nếu một ông vua cai trị nhân dân trở thành một thứ “quân phi quân” hay “bạo chúa”, coi quần thần  hay các viên chức chính quyền như một thứ  băng đảng hay một bầy gia nô, coi nhân dân như chó ngựa,  lạm dụng quyền chính, ưu đãi bà con và phe đảng của mình để làm lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ  rồi tự tung tự tác,  biến chính quyền thành bộ máy đàn áp, tra tấn và thủ tiêu những người bất đồng chính kiến, đàn áp và khủng bố những người không chịu khuất phục, thì vị quốc vương này sẽ bị coi như là một thứ bạo chúa, một thứ quốc tặc. Ở vào trường hợp như vậy, nếu trong dòng họ nhà vua (hoàng tộc) không còn có ai lập tức đứng lên phát cờ dấy binh khởi nghĩa để diệt trừ tên quốc tặc này, bất kỳ người dân nào có khả năng đứng lên chiêu binh mãi mã kéo quân về khử diệt tên bạo chúa đương quyền và phe đảng gia nô này, thì người đó được coi như là có chính nghĩa nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Đây là các trường hợp của Vua Lê Đại Hành vào năm 980, của ông Lý  Công Uẩn vảo năm 1009, của anh em nhà Tây Sơn trong thập niên 1770.

Tính cách chính nghĩa này được ghi rõ trong kinh điển của Nho giáo và đều được các nhà viết sử ghi lại trong các tác phẩm lịch sử của họ. Một bậc trí giả người Âu Mỹ có nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam là sử gia Bernard F. Fall đã ghi nhân sự kiện này như sau:

"Nếu người làm vua áp bức nhân dân thì người đó không còn xứng đáng được đối xử như là vua nữa. Cá nhân ông vua đó không còn thiêng liêng nữa, và trừ khử ông vua đó không còn là một tội ác. Nổi loạn giết một tên bạo chúa như vậy không những là một việc làm hợp lý mà còn là một việc làm đáng được ca tụng, và người đứng ra trừ diệt tên bạo chúa đó xứng đáng được đưa lên nắm quyền lãnh đạo đất nước, cai trị muôn dân.” Nguyên văn: “If the sovereign oppressed the people, he no longer deserved to be treated as the sovereign. His person was no longer sacred, and to kill him was no longer crime Revolt against such tyranny not only was reasonable but was ameritorious act and conferred upon its author the right to take over the power of the sovereign.”2

Cụ Trần Trọng Kim cũng viết trong sách Nho Giáo như sau:

"Nếu ông vua nào trị dân mà yêu cái của dân ghét và ghét cái của dân yêu, là làm những điều trái lòng dân, tức là trái mệnh trời, thì người khác được quyền "điếu dân phạt tội", nghĩa là cứu dân mà đánh người có tội, như vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ Vương đánh vua Trụ vậy." 3

Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ trong tiểu mục “Những Trường Hợp Làm Mất Chính Nghĩa” ở  phần sau.

3.- Nếu đất nước đã nằm dưới ách thống trị quân thù xâm lược, thì bất kỳ cá nhân hay thế lực nào trong nhân dân có khả năng chiêu binh mãi mã, huy động nhân dân cùng lăn xả vào cuộc chiến đánh đuổi quân thù ra khỏi giang sơn, khi thành công, cá nhân hay thế lực đó sẽ có   chính nghĩa lên nắm quyền cai trị đất nước.

Le Loi

Tượng Lê Lợi ở tỉnh Thanh Hóa, nơi sinh trưởng và trị vì 1428 - 1433

Đây là các trường hợp của Vua Ngô Quyền vào năm 939, của Vua Lê Lợi vào năm 1427, của Vua Quang Trung vào năm 1789, của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Việt Minh vào năm 1954. Đây là quy luật lịch sử thiết tưởng bất kỳ người dân nào đã học qua bậc tiểu học cùng đều biết. Dựa vào quy luật lịch sử này, Giáo sư Lê Xuân Khoa viết trong cuốn Việt Nam 1945-1975 như sau:

Tình hình chính trị Việt Nam vào thời điểm 1945-1946 cho thấy rằng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã giành được chính nghĩa chống Pháp và lôi cuốn được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng.”  “Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chính nghĩa chống Pháp  đã được dồn hết sang phía chính phủ kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo.” 4

Truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng, và  các nước theo văn minh Nho Giáo là như vậy. Nếu một cá nhân hay một thế lực nào lên cầm quyền cai trị nhân dân mà  không ở vào một trong 3 truờng hợp trên đây là phi chính nghĩa hay bất chính.  Đã phi chính nghĩa hay bất chính tất nhiên là rơi vào tình trạng thất nhất tâm, lạm dụng quyền hành để làm rất nhiều điều bất chính và  thất nhân tâm khác nữa. Ở vào trường hợp này, chính quyền sẽ bị nhân dân coi như một băng đảng ăn cướp, hay bạo quyền, người lãnh đạo dù mang tước hiệu là “vua” hay “tổng thống” thì cũng chỉ là một tên trùm ăn cướp hay môt tên quốc tặc  hoặc bạo chúa, và tập đoàn nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền này cũng chỉ  là  “những quân ăn cướp ngày” mang tước hiệu các ông quan. Có lẽ cùng vì thế mà người dân Việt Nam ta có thành ngữ “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Gặp trường hợp như vậy, bất kỳ người dân nào cũng quyền đứng lên phất cở khởi nghĩa “diệt trừ quốc tặc, đạp đổ bạo quyền”.  Cũng vì thế mà sử gia Nigel Cawthorne mới quy kết ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm của miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 là “một trong số 100 tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại.5

4.-  Nếu đất nước đã giành lại độc lập rồi và theo thể chế dân chủ tự do, giống như các nước dân chủ tự do ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản và Ấn Độ, thì việc chọn người lên nắm quyền lãnh đạo quốc dân  được quyết định bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do, bỏ phiếu kín và không có gian lận. Cá nhân hay chính đảng nào được đa số phiếu nhân dân tín nhiệm, sẽ được coi như là có chính nghĩa, hợp pháp, hợp lý và hợp tình lên nắm quyền cai trị quốc dân.

Sở dĩ người viết nhấn mạnh đến cụm từ “tuyển cử tự do, bỏ phiếu kín và không có gian lận” là vì trong thời kỳ 1954-1975, chính quyền miền Nam Vỉệt Nam tuy rằng mang danh hiệu là Việt Nam Cộng Hòa và cao rao là theo đuổi lý tưởng tự do dân chủ, nhưng trong thực tế (bản chất), cá nhân người lãnh đạo chính quyền này, không những đã không có chính nghĩa khi lên cầm quyền, mà  khi nắm chính quyền rồi, lại còn có rất nhiều hành động bất chính và thất nhân tâm khiến cho nhân dân miền Nam vô cùng kinh tởm, thù ghét rồi vùng lên khử diệt. Chuyện này sẽ được trình bày đầy đủ trong một phần sau. Ở đây chỉ nói về chuyện bầu cử gian lận,  người dân miền Nam Việt Nam (trong những năm 1954-1975) có quá nhiều kinh nghiệm về chuyện này. Tất cả những việc làm bất chính này đều được các nhân chứng và nhà viết sử đều ghi lại rõ ràng trong những tác phẩm của họ. Giáo-sư Lê Xuân Khoa ghi lại trong cuốn Việt Nam 1945-1975 với nguyên văn như sau:

Ngày 23 tháng Mười (1955), một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để dân chúng miền Nam lựa chọn theo Bảo Đại hay Ngô Đình Diệm. Khi đó, Bảo Đại đã trở lại thân Pháp và đang ủng hộ Bình Xuyên, do đó chắc chắn là ông phải thất bại vì đã mất hết tín nhiệm trong dân chúng. Tuy nhiên, ban tổ chức  trưng cầu dân ý đã sắp đặt cho việc thắng cử của Ngô Đình Diệm quá bảo đảm đến độ ông được 98.2 phần trăm trong khi Bảo Đại chỉ được 1.1 phần trăm. Bằng chứng gian lận lộ liễu nhất là ở nhiều nơi số phiếu ủng hộ ông Diệm nhiều hơn số cử tri. Chẳng hạn riêng vùng Sàigòn - Chợ Lớn có 450,000 cử tri ghi danh mà số phiếu bầu lên tới 605, 025.”6  

“Khi thành lập chính phủ cũng như trong những lần cải tổ nội các, Ngô Đình Diệm đều không muốn có sự tham dự của Phan Huy Quát, một lãnh tụ Đại Việt cũng được Hoa Kỳ tin cậy. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến tháng Ba 1956, ứng cử viên đối lập Phan Quang Đán đắc cử nhưng không được công nhận vì “gian lận”, và bị thua ứng cử viên chính phủ trong lần bầu lại. Năm 1959, ông Đán ra tranh cử lần nữa và trúng cử với đa số phiếu nhưng vẫn bị loại vì “vi phạm luật bầu cử.” Một ứng cử viên đối lập khác là Nguyễn Trân cũng đắc cử với ông Đán ở Sàigòn cũng bị loại cùng một lý do.” 7

Đến đây, thiết tưởng cũng nên nói sơ qua về tiểu sử ông Ca-tô Ngô Đình Diệm. Thân phụ của  Ngô Đình Diệm là tên đại việt gian Ca-tô Ngô Đình Khả. Ngô Đình Khả được Giáo Hội La Mã đưa sang chủng viện Pénang huấn luyện làm nghề thông ngôn một thời gian rồi được đưa về Việt Nam tiếp tay cho Liên Minh Pháp – Vatcian đặc trách việc dẫn đường chỉ điểm trong những chiến dịch tấn công đánh chiếm Việt Nam và những chiến dịch tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến Việt Nam. Một trong những tội ác của Ngô Đình Khả là cùng với Nguyễn Thân dẫn quân thập tự bản địa đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến Văn Thân dưới quyền chỉ huy của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang. Sau khi cụ Phan đã qua đời vì bệnh kiết lị, lực lượng nghĩa quân Văn Thân suy yếu, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả  thừa thắng xông lên, xua quân tiến chiếm căn cứ nghĩa quân và đào mả cụ Phan lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông Lam Giang theo đúng truyền thống của đạo Da-tô. Cũng nên biết đạo Ca-tô có truyền thống  trả thù người đã chết bằng cách đào mả nạn nhân, lấy xác đốt thành tro đã có  ở Âu Châu từ thời Trung Cổ:

Vào thế kỷ 13, dân vùng Toulouse, miền Nam nước Pháp ngày nay, nhận thấy Jehovah (Chúa Cha) độc ác, đúng là quỉ Satan mạo nhận là thiên chúa, chớ không phải là thiên chúa thật. Họ thấy vị thần ấy gớm ghiếc quá, bỏ không thờ nữa tuy họ vẫn kính thờ Jesus; họ lập thành giáo hội Cathari. Giáo Hội Công La (Công Giáo La Mã) kết họ tội tà đạo. Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến để diệt họ. Vua chúa ở miền Bắc đất Pháp, ở đất Đức tuân lời, phái binh lính đến làm thành thập tự quân để đánh bọn tà đạo. Rất đông tín đồ Giê-su phe giáo hoàng tới trợ lực thập tự quân. Đám quân này, dưới quyền giáo sĩ Arnaud Amauri, đại diện giáo hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ ngày 22/7/1209, toàn dân ở trong thành bị giết hết, kể cả đàn bà, trẻ con. Tòa án đạo Jesus theo đuổi trừng phạt cả những người  bị kết tội là tà đạo dù họ đã chết. Chẳng hạn, năm 1309, tòa án đạo Jesus ở Carcassonne cho đào mả bẩy người phạm tội tà giáo móc xác lên đốt đi; của cải của họ bị tịch thu, dòng dõi họ bị trừng phạt.” 8

Cõ lẽ vì truyền thống này,  các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) của Giáo Hội La Mã mới xử tử những người bị kết án là “tà giáo” (những thành phần thuộc tôn giáo khác với đạo Ca-tô) bằng cách trói nạn nhân vào một cái cọc, rồi chụm củi khô và châm lửa hỏa thiêu.

Do thành tích dã man này mà Ngô Đình Khả được giặc thăng quan, cho nắm giữ chức Tổng Quản Cấm Vệ Thành với nhiệm vụ vừa theo dõi ông vua bù nhìn Thành Thái, vừa biến ông vua gỗ này thành một tín đồ Ca-tô hay là người của Vatican. Nhờ làm việc đắc lực cho liên minh giặc và nắm giữ chức vụ Tổng Quản Cấm Vệ Thành, đàn con của Ngô Đình Khả cũng được ban thưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Ngô Đình Khôi đựơc cho làm tri phủ Tùy An (Phú Yên) vào năm 1917, năm 1920 được thăng lên chức Bố Chánh Bình Định, năm 1926  thăng lên chức Tuần Vũ Quảng Ngãi, tới năm 1930 được đưa lên giữ chức Tổng Đốc Quảng Nam. Ngô Đình Thục được cho đi học làm linh mục rồi được thăng chức giám mục vào năm 1938. Ngô Đình Diệm đuợc hưởng qui chế tập ấm, được đặc cách cho theo học Trường Hậu Bổ và sau đó được bổ nhậm làm tri huyện  huyện Hải Lăng, rồi được thăng chức vù vù, tới năm 1932 được cho  giữ chức Thượng Thư Bộ Lại. Ngô Đình Nhu được gửi đi du học ở Pháp.

Bản thân Ngô Đình Diệm cũng là một tên Việt gian làm việc đắc lực cho liên minh giặc (Pháp – Vatican)  với những hành động cực kỳ dã man đối với nhân dân ta. Thành tích nổi tiếng nhất của Diệm là trói cột các tù nhân chính trị (các nhà ái quốc bị liên minh giặc bắt được) vào một chiếc ghế có khoét lỗ ở ngay chính giữa chỗ ngồi, rồi đốt đèn cầy (nến) ở dưới để tra khảo nạn nhân lấy khẩu cung. Đây là thời gian còn được Pháp tin cậy. Sau này, Vatican bắt đầu trở cờ kết thân với Phát Xít Ý, rồi  Đức Quốc Xã ở Âu Châu khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican ở Âu Châu có chuyện cơm không lành canh không ngọt. Cũng vì thế mà có sự tranh chấp quyền lực giữa  một bên là đám Việt gian làm tay sai cho Pháp là nhóm ông Phạm Quỳnh và một bên là đám Việt gian làm tay sai cho Vatican là nhóm đàn con Ngô Đình Khả. Hậu quả của cuộc tranh chấp này là  Nguyễn Hữu Bài (Bố vợ Ngô Đình Khôi và là bố nuôi của Ngô Đình Diệm),  Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm bị Pháp cho về vườn. Bị thất sủng và thế, Diệm quay ra tìm cách liên lệ với tên Ca-tô Cường Để (đang là con bài của Vatican được dùng để nối kết với Nhật và đang ở Đông Kinh) trong mưu đồ bán nước cho Nhật. Như vậy là cả đời hai cha con Ngô Đình Khả và  Ngô Đình Diệm đều là Việt gian phản quốc. Dòng họ Ngô Đình quả thật là một thứ Việt gian gia truyền.

Vì đã biết rõ bộ mặt thật của Vatican với kinh nghiệm lịch sử ở ngay chính quốc Nhật  từ thế kỷ 17 (đã được nói rõ trong Chương 20, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php), cho nên khi hất Pháp ra khỏi sân khấu chính trị Việt Nam vào chiều tối ngày 9/3/1945, Nhật cương quyết giữ ông Bảo Đại làm vua gỗ cho Nhật,  và dùng ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng, chứ nhất định không đưa ông Da-tô Cường Để về làm vua bù nhìn và cũng không dùng Da-tô ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng dù rằng hai ông Ca-tô  này đã thậm thụt chạy chọt với Nhật từ nhiều năm trước.

Năm 1954,  nhờ có Tòa Thánh Vatican chạy chọt với siêu cường Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm được đưa  về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả hai thế lực này.  Ngay sau được đưa lên cầm quyền, Diệm bắt đầu làm những việc làm bất chính và thất nhân tâm.  Việc làm bất chính đầu tiên của Diệm là gian lận bầu cử như đã nói trên.  Diệm không những đã gian lận (vi phạm luật bầu cử) mà lại còn vu cáo  cho  các ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân cái tội “vi phạm luật bầu cử”. Như vậy, Ngô Đình Diệm không những đã hành động bất chính, mà còn can  tội “cáo gian”. Ngòai những việc làm bất chính trên đây, trong gần chín năm cầm quyền, anh em Ngô Đình Diệm cùng băng đảng Giám-mục và Linh-mục Ca-tô di cư Bắc Kỳ còn làm cả hàng rừng việc làm  bất chính khác. Trong cái rừng  việc làm bất chính này là lạm dụng chính quyền,  Ca-tô hóa chính quyền và cảnh sát hóa bộ máy cai trị bằng cách thiết lập những tổ chức mật vụ, công an, lực lượng đặc biệt như thiên la địa võng, rồi sử dụng những tổ chức mật vụ này để giết hại những nhà ái quốc thuộc các đảng phái chính trị đối lập. Trong nỗ lực Ca-tô hóa đất nước, chính quyền dùng tiền công quỹ, quân đội và  nhân lực chính quyền tổ chức đại lế hiến dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã vào tháng 2 năm 1959, tàn sát dân lương bất khuất không chịu theo đạo Ca-tô. Ngoài ra, chính quyền này còn lừa gạt Hoa Kỳ trong chương trình cải cách điền địa (mua lại ruộng đất  của điền chủ lớn để phân phối cho tá điền mà không rớ tới 370  ngàn mẫu ruộng của Giáo Hội La Mã), cướp đọat tài nguyên quốc gia, kinh tài bất chính, bóc lột nhân dân, ăn chặn tiền ngọai viện, v.v…. 

Đến đây, chúng ta thấy rõ cái quy luật lịch sử “bất chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn bất chính khác…”  áp dụng cho trường hợp ông Ngô Đình Diệm và chế độ đạo phiệt Ca-tô của ông ta  không sai một li nào.

 

Những Trường Hợp Làm Mất Chính Nghĩa

 

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, tạo được chính nghĩa  để lên nắm chính quyền đã là một việc làm vô cùng khó khăn, nhưng giữ (duy trì) được chính nghĩa để tiếp tục nắm quyền cai trị nhân dân cũng không phải là dễ, và thường thường còn khó khăn hơn cả việc tạo nên chính nghĩa để lên nắm chính quyền.

Có hai trường hợp làm mất chính nghĩa để rồi rơi vào tình trạng không còn xứng đáng tiếp tục nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Hai trường hợp này là :

A.- Không làm tròn những nhiệm vụ của người lãnh đạo quốc dân. Những nhiệm vụ này là:

1.- Phải tận tâm tận sức làm theo ý muốn của nhân dân  (ý dân là ý Trời), tận tâm, tận lực chăm lo phúc lợi cho nhân dân đúng như Nho giáo đã dạy: “Dân chi sở ố, ố chi; dân chi sở hiếu, hiếu chi; sở vị dân chi phụ mẫu.”.

2.- Phải biết hòa mình với nhân dân  cùng chìm nổi với nhân dân và phải lo trước cái lo của nhân dân và vui sau cái vui của nhân dân. 

3.- Phải biết bảo toàn lãnh thổ của đất nước. Làm vua một nước hay làm tổng thống lãnh đạo quốc dân cũng giống như một ông tướng giữ thành. Thành mất thì phải chết theo thành.

B.- Lạm dụng quyền hành. Lạm dụng quyền hành thường thường được thể hiện ra bằng nhiều hình thức. Những trường hợp thông thường nhất là gây bè kết đảng, ưu đãi bọn tay sai để củng cố quyền lực, áp bức và bóc lột nhân, giết hại dân lành và những người bất khuất để duy trì quyền lực.  Trường hợp này xẩy ra rất thường trong lịch sử nhân loại. Lý do dế hiểu là vì một khi đã có quyền lực trong tay rồi thì quyền lực sẽ trở thành miếng mồi xô đẩy hay lôi cuốn những người có quyền lực vào việc sử dụng các phương tiện của nhà nước để biệt đãi một nhóm thiểu số tay sai (thiên vị) làm vây cánh, gây bè kết đảng để làm lực lượng nanh vuốt thủ tiêu và tận diệt những cá nhân và thế lực bất đồng chính kiến hầu bảo vệ và duy trì quyền lực. Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy những người cầm quyền có thói quen coi việc nước như việc riêng của cá nhân và gia đình; vì thế mới gây nên những bất công trong xã hội.  Một khi chính quyền đã làm những việc bất công thì nhân dân sẽ  bất mãn và chống đối. Khi đã rơi vào tình trạng này, nhà lãnh đạo  và những nhân vật nắm giữ những chực vụ quan trọng trong chính quyền đó đã hoàn toàn mất  hết chính nghĩa, không còn xứng đáng tiếp tục ở lại chính quyền quản lý công việc cai trị nhân dân.

Cái sai lầm vĩ đại của những người cầm quyền cai trị đất nước và của giai cấp thống trị là họ hay lầm tưởng rằng đã ngồi vào trong ngai vàng hay ở trong  chức vụ tổng thống là có thể:

1.- Ăn nói ngược ngạo.

2.- Làm bất cứ điều gì theo ý muốn của mình mà không cần biết đến những nỗi thống khổ của nhân dân. Nói một cách rõ ràng hơn là họ đã làm những việc làm tội ác hại dân hại nước mà vẫn còn muốn tiếp tục nắm giữ chính quyền và tiếp tục hành xử bất chính như vậy.

 

Nhà Nguyễn Không Làm Tròn Trách Nhiệm Bảo Toàn Lãnh Thổ

 

Đây là trường hợp của vua Tự Đức của nhà Nguyễn bất lực trong việc chống quân thù xâm lược để bảo vệ chủ quyền độc lập của đất nước. (Nước ta lúc bấy giờ còn được gọi là Đại Nam.) Khởi đầu  của việc bất lực này là nhà vua đã cúi đầu chấp nhận Hiệp Ước Nhâm Tuất 1862 (ký ngày 5/6/1862 tức ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất) với những điều khoản sau đây do Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican đưa ra một cách trịch thượng và ngang ngược.

1.- Từ nay trở đi các nước Pháp Lan Tây, Tây Ban Nha và Đại Nam vĩnh viễn giao hiếu với nhau.

2.-Người Pháp và Tây Ban Nha được tự do đến giảng đạo Thiên Chúa tại Đại Nam. Dân muốn theo đạo tùy ý, không có sự cấm đoán và cũng không có sự gì ép buộc.

3.- Đại Nam nhường đứt cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Thuyền bè của nước Pháp được tự do đi lại trên sông Cửu Long và các rạch miền Tây.

4.- Kể từ ngày hiệp ước ký kết xong, nếu có nước nào gây sự với Đại Nam thì nước Nam phải cho nước Pháp biết để liệu sự giúp đỡ. Nếu có việc cắt đất giảng hòa cũng phải có nước Pháp thỏa thuận mới được

5.- Công dân Pháp, Tây Ban Nha được ra vào buôn bán ở các cửa bể Đà Nẵng, Ba-lạt, Quảng Yên miễn là có nạp thuế theo lệ định. Công dân Việt Nam cũng đuợc đối đãi như vậy trên đất Pháp và Tây Ban Nha. Nếu người nước khác đến buôn bán, chính quyền Đại Nam không được ưu đãi họ hơn và nếu người nước này được hưởng điều lợi ích gì về thương mại thì công dân Pháp và Tây Ban Nha cũng được như vậy.

6.- Nếu có công việc gì khẩn yếu  thì mỗi nước cử một khâm sai đại thần để hội thảo tại kinh đô nước Nam hay tại kinh đô hai nước Pháp và Tây Ban Nha. Tầu Pháp, Tây Ban Nha đến nước Nam sẽ đậu ở Đà Nẵng rồi quan khâm sai sẽ do đường bộ tiến lên kinh.

7.- Đôi bên cùng trả ngay tức khắc các người bị bắt và tất cả tài sản của họ cùng của thân tộc  họ.

8.- Đại Nam bồi thường chiến tranh cho hai nước Pháp, Tây Ban Nha 4 triệu nguyên hạn trong 10 năm phải trả xong, mỗi năm phải nộp 400.000 (4 trăm ngàn) cho vị đại diện Pháp ở Gia Định. Hiện nay nước Pháp đã nhận được 100.000 (một trăm ngàn) đồng bạc đến khi nộp sẽ trừ số tiền này đi.

9.- Giặc cướp quấy nhiễu ở các đất thuộc Pháp lẩn trốn qua đất Việt cũng như giặc cướp ở các địa phương của Đại Nam chạy qua đất Pháp sẽ được đôi bên giải nộp cho các nhà cầm quyền sở quan.

10.- Từ ngày nghị hòa, dân chúng ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên muốn qua lại đất Nam thuộc Pháp làm ăn phải theo luật lệ của nước Pháp và nước Nam, không được chuyên chở binh lính và vũ khí qua các đất đã nhượng cho Pháp.

11.- Nước Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho Đại Nam nhưng tạm thời còn đóng binh tại đây cho tới khi bình định xong ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.

12.- Hiệp ước này hạn trong một năm để hoàng đế ba nước duyệt lãm và phê chuẩn hỗ giao ở kinh đô Đại Nam.” 9  

Nhận xét về hiệp ước trên đây, sử gia Phạm Văn Sơn viết:

Hiệp Ước Nhâm Tuất có tính cách thế nào? Dĩ nhiên nó thiếu tính cách bình đẳng. Nó là một văn kiện ngoại giao trong đó kẻ mạnh ra lệnh, kẻ yếu phải cúi đầu tuân phục, và nhà sử học có thể viết thêm rằng: Đáng lẽ Hiệp Ước Nhâm Tuất phải ra chào đời sớm, vì tình thế nước nhà đã quá suy nhược. Hiệp ước bất bình đẳng này còn là hiệp ước đầu tiên của ta ký với Pháp. Hiệp ước này mở đầu cho cuốn vong quốc sử Việt Nam.” 10

Việc ký nhận những điều kiện của Thỏa Hiệp Nhâm Tuất 1862 trên đây chứng tỏ Vua Tự Đức đã  (1) không còn đủ khả năng bảo vệ sự nghiệp của tổ tiên để lại cho dân tộc Việt Nam ta., (3) cúi  đầu chấp nhận những điều kiện của Liên Minh Thánh Xâm Lược  Pháp –  Vatican đưa ra, và (3) úi đầu cắt đất nhường cho giặc để tiếp tục an tọa trong ngôi vị bù nhìn chủ tể của đất nước.

Đáng lý ra vua tôi nhà Nguyễn phải chủ động và tích cực học hỏi chiến lược, chiến thuật, đem hết khả năng về nhân lực,  vật lực và tinh thần ra động viên nhân dân và điều binh khiển tướng để chống giặc tới cùng, nhưng tiếc rằng họ đã  không làm như vậy. Họ chỉ biết co lại trong đám quần thần thủ cựu tính chuyện bảo vệ quyền lợi riêng của họ hơn là quyền lợi của đất nước. Sự tính toán ích kỷ này đã khiến cho triều đình Huế đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi cuối cùng nhường luôn cả  quyền trị đất nước cho giặc nắm giữ để được an toàn giữ lại cái ngôi vị bù nhìn làm trang trí và  làm tay sai cho người ngoại bang. Sau khi vừa ký xong hiệp ước này, toàn dân ta lên án triều đình đã lừa dối nhân dân. Hai người đại diện cho triều đình Huế ký vào hiệp ước này là hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bị nhân dân ta coi như là những quân bán nước: “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân11 .

Bài thơ thất ngôn dưới đây của Cụ Phan Văn Trị nói lên niềm đau xót  của nhân dân ta trong việc triều đình Huế cúi đầu chấp nhận các điều kiện nhục nhã nhượng đất  cho Liên Minh Xâm Lược  Pháp - Vatican - Tây Ban Nha:

Tò le kèn thổi tiếng năm ba,

Nghe lọt vào tai luống xót xa.

Uốn khúc sông rồng mù mịt khói.

Vẳng ve thành phụng ủ sầu hoa.

Tan nhà cám nỗi câu ly hận.

Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa.

Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ.

Ngậm cười hết nói nỗi quan ta.12

 

Nhà Nguyễn Đã Mất Hết Chính Nghĩa
Nắm Quyền Lãnh Đạo Cai Trị Nhân Dân

 

Chấp nhận ký Hiệp Định Nhâm Tuất 1862 nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp – Vatican, nhà  Nguyễn đã tỏ ra bất lực, không còn đủ khả năng để  bảo vệ lãnh thổ của tiền nhân để lại. Lãnh thổ  đất nước là di sản của tiền nhân để lại cho cả dân tộc và là của chung của dân tộc. Nếu người lãnh đạo quốc dân bất lực không làm tròn sứ mạng bảo toàn lãnh thổ của đất nước, thì không còn xứng đáng tiếp tục ở lại ngôi vị lãnh đạo quốc dân nữa. Người biết tự trọng phải biết tự động rút lui hay thoái vị nhường chỗ cho người khác có đủ tài đức lên thay thế để đảm đương việc nước. Nếu không tự động thoái lui, thì nhân dân sẽ vùng lên đạp đổ và đưa người có khả năng thế vào đó. Nói cho rõ, kể từ thời điểm này (1862) nhà Nguyễn đã mất chính nghĩa để ngồi lại ngôi vị lãnh đạo quốc gia quản lý nhân dân Việt Nam, nghĩa là nhà Nguyễn không  còn có tư cách gì là đại diện của đất nước và nhân dân Việt Nam để làm bất cứ một việc gì.

Dân tộc ta vốn có tinh thần bất khuất với truyền thống chống giặc ngoại xâm qua lời dạy  “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Lời dạy này đã ăn sâu vào não tủy trong cơ thể của từng con dân nước Việt. Không thể khoanh tay ngồi yên để cho quân cướp xâm lăng hoành hành giầy xéo giang sơn, các nhà ái quốc miền Nam, rồi miền Trung và miền Bắc quyết tâm từ bỏ mái ấm gia đình đi tìm những người đồng tâm, đồng chí, chiêu mộ các anh hùng nghĩa sĩ, lập chiến khu, tổ chức lực lượng nghĩa quân đánh đuổi quân giặc xâm lăng để cứu nước. Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Mai Xuân Thưởng, và hàng triệu con dân đất Việt khác, tất cả đều quyết tâm đem hết đời trai hay quãng đời còn lại hiến dâng cho tổ quốc để đòi lại quyền tự chủ cho quê hương và quyền làm người cho dân tộc.

Cũng vì lý do này mà kể từ đó, mỗi khi có một vị anh hùng hô hào liều thân chống giặc cứu nước thì hầu như toàn thể nhân dân ta, từ em bé 15 tuổi cho đến cụ già đầu bạc phơ phơ  đều hăng hái lao đầu vào cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương. Đây là cuộc chiến vô cùng gay go kéo dài cả gần một thế kỷ giữa một bên là liên quân giặc Pháp - Vatican với những đạo quân tinh nhuệ liên kết chặt chẽ với nhóm tín đồ Da-tô người Việt đã được biến thành các đạo quân thập tự bản địa  và được trang bị bằng những  vũ khí hiện đại nhất, tối tân nhất (vào thời điểm giữa thế kỷ 19),  và một bên là toàn thể nhân dân ta được võ trang bằng lòng yêu nước với những vũ khi cổ điển và thô sơ nhất. Đây cũng là cuộc chiến hào hùng, oai dũng và hiển hách nhất trong lịch sử chiến tranh đánh đuổi quân thù độc ác nhất của nhân loại là đế quốc Vatican cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp. Ngày nay, hầu như tất cả mọi người dân Việt Nam, từ em học sinh lớp 3 trở lên, không mấy ai là không sung sướng và hãnh diện khi được nghe những dòng thơ lịch sử với những chiến công anh dũng đi kèm theo với những địa danh như: 

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.13

Hỏa hồng Nhật Tảo, Kiên Giang,

Gò Công, Đồng Tháp, Vụ Quang oai hùng,

Hùm thiêng Yên Thế vẫy vùng,

Thái Nguyên, Yên Bái lẫy lừng ngàn thu.

Muôn dân quyết chiến đuổi thù...14

Cũng nên biết là tất cả các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong thời kỳ từ đầu thập niên 1860 cho đến ngày Liên Minh Thánh Pháp – Vatican tan vỡ vào tháng 7 năm 1954 đều là những phong trào nhân dân tự phát, khởi đầu chỉ có mục đích duy nhất chống lại Liên Minh Thánh xâm lăng Pháp – Vatican để bảo vệ quê hương. Sau khi ký Thỏa Hiệp  Nhâm Tuất 1862  nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, triều đình Huế càng tỏ ra càng bất lực, không chu toàn được nghĩa vụ chống giặc xâm lăng để bảo lãnh thổ quốc gia,  cho nên, cuộc chiến này lại phải có thêm nhiệm vụ chống luôn cả triều đình nhà Nguyễn nữa. Như vậy là  kể từ năm 1862 trở về sau, các lực lượng nghĩa quân của nhân dân ta cũng một lúc phải chống cả quân cướp ngoại thù  là (1) Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican, và quân giặc nội thù là  (2) Triều đình Huế, và (3)  các đạo quân thập tự Việt Nam mà  căn cứ là các làng đạo hay xóm đạo ở rải rác khắp nơi trên toàn thể lãnh thổ đất nước.

 

Tại Sao Nhân Dân Ta Phải Chiến Đấu
Chống Lại Triều Đình Nhà Nguyễn?

 

Như đã nói trên, kể từ năm 1862, triều đình nhà Nguyễn không còn chính nghĩa để cầm quyền cai trị nhân dân nữa. Theo quy luật lịch sử,  bất kỳ lực lượng nghĩa quân kháng chiến nào hoàn thành được sứ mạng đánh đuổi Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican ra khỏi  đất nước, lực lượng đó sẽ có chính nghĩa lên nắm quyền cai trị nhân dân.

Lịch sử cũng cho thấy rõ, càng về sau triều đình nhà Nguyễn càng tỏ ra phản bội dân tộc. Bằng chứng cho những hành động phản bội dân tộc của nhà Nguyễn là sau khi ký Hiệp Định Nhâm Tuất 1862, triều đình nhà Nguyễn còn  ký nhận những điều kiện của giặc đưa ra qua các  Hiệp Định Giáp Tuất 1874, Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884. Qua những hiệp định này, chủ quyền đất nước hoàn toàn lọt vào tay Liên Minh Thánh Pháp – Vatican, vua Tự Đức phải thỏa mãn hết tất cả những yêu sách của giặc, trong đó có việc phải bổ dụng những tín đồ Ca-tô người Việt vào làm việc trong chính quyền. Những tên Ca-tô này thực sự chỉ là những tên Việt gian làm gián điệp cho Đế Quốc Vatican mà kể từ khi ký Hiệp Định Giáp Tuất 1874, họ lại được nắm giữ những chức vụ quan trọng trong  chính quyền. Không những thế, triều đình Huế lại còn phong thưởng tước vị phẩm hàm và mề đay kim khánh cho lũ Việt gian này. Tên Việt gian Linh-mục Trần Lục là một trường hợp điển hình cho tình trạng nhục nhã này. Cuối cùng, nhà Nguyễn chỉ còn giữ lại cái ngôi vua ngồi làm bù nhìn qua sự  giáo dục và giám  sát của bọn Việt gian Ca-tô làm tay sai cho Vatican là Nguyễn Hữu Độ, Ngô Đình Khả và Nguyễn Hữu Bài.

Sau khi Vua Tự Đức băng hà (vào ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883),  tình trạng này còn thê thảm ghê gớm hơn nữa, nghĩa là liên minh giặc không cần phải đưa ra những yêu sách đòi truều đfinh nhà Nguyễn phải thỏa mãn hay làm theo ý muốn của họ,  mà   ra lệnh cho nhà vua hay triều đình Huế phải làm những việc gì mà chúng muốn. Rõ rệt nhất là từ năm 1885, khi  hai tên thực dân De Courcy và Silvestre đưa Chánh Mông lên ngài vàng với vương hiệu là Đồng Khánh để làm cảnh và làm tay sai cho chính quyền  bảo hộ của Liên Minh Pháp – Vatican.  Thực trạng này được cụ Nghiêm Kế Tổ ghi nhận trong cuốn Việt Nam Máu Lửa với nguyên văn như sau:

Những ngày tàn của chế độ.- Qua ngót nghìn năm sống hiên ngang với nền tự chủ, đến cuối thế kỷ 19, dân tộc Việt bắt đầu vướng xích xiềng nô lệ. Người Pháp dùng chánh sách Tầm Thực (tầm ăn dâu) chiếm miền Nam nước Việt (Hòa Ước 1862) rồi lấn dần, lập cuộc bảo hộ ở Bắc, Trung (Hòa Ước 1874 và Hòa Ước Harmand 1883). Vòng thuộc địa bắt đầu:

1.- Về chính trị: Bắc, Trung, Nam mỗi xứ có 1 chế độ riêng, 1 tổ chức khác nhau và hình thức có vẻ dân chủ:

a.- Nam Việt có Thống đốc. Thống Đốc lập ra Hội Đồng Thuộc Địa, Hội Đồng Thuộc Địa Hàng Tỉnh, Hội Đồng Thành Phố.

b.- Trung Việt có Khâm Sứ làm việc bên cạnh nhà vua. Khâm Sứ coi việc ngoại giao bằng cách quyết đoán mọi việc và chủ tọa Viện Cơ Mật. Khâm Sứ lập Hội Đồng Dân Biểu và đặt Công Sứ cho mỗi tỉnh.

c.- Bắc Việt có Thống Sứ. Thống Sứ hợp tác với Kinh Lược Sứ Việt Nam thay Vua định việc và chỉ tâu Vua những việc đã làm. Mỗi tỉnh có một Công Sứ trực tiếp cai trị. Thống Sứ lập ra Hội Đồng Hàng Tỉnh, Hội Đồng Dân Biểu…

Việc cái trị ba xứ đặt dưới một ông Toàn Quyền phụ thuộc Bộ Thuộc Địa Pháp.

2.- Về kinh tế: Pháp thành lập Sở Địa Chất, Sở Mỏ đầy đủ để khai thác tài nguyên. Nhân công của thuộc địa nhiều và rẻ tiền khiến Pháp tận lực lợi dụng khai khẩn trồng trọt, mở mang kỹ nghệ nhẹ để thu lợi:

a.- Nào mỏ than ở Hòn Gay, Uông Bí, mỏ vàng  ở Bồng Miêu, mỏ sắt ở Cao Bằng.

b.- Nào đồn điền cà phê ở Yên Bái, Phú Thọ, Chi Nê, đồn điền cao su ở Thủ Đầu Một, Biên Hòa.

c.- Nào nhà máy giấy ở Đáp Cầu, nhà máy đường ở Hiệp Hòa, nhà máy xi măng ở Hải Phòng, nhà máy diêm ở Bến Thủy, nhà máy sợi ở Nam Định, nhà máy Rượu (ở Bình Tây), nhà máy điện, nhà máy nước, v.v…

Việc xuất cảng, nhập cảng do nhà nước nắm trọn quyền. Thuế má, đỉền thổ được cải cách thích hợp theo nguyên tắc muôn thuở của chính sách thực dân.

3.- Về Quân Đội: Một ngân sách to lớn trên 100 triệu đồng được thu lập để tổ chức quân đội, mục đích giữ vững địa vị Bảo Hộ tổng thu quyền lợi kinh tế.

4.- Về giáo dục: Trường công mỗi tỉnh không quá hai trường: Trường tư không cho phép mở tự do. Sự học gián tiếp bị hạn chế chỉ cốt cho đủ số người dùng trong các công tư sở Pháp. Đã vậy, việc học hành lại hết sức khó khăn vì phải  có đủ nhiều điều kiện cần thiết mới được nhập trường hay thi cử.. .”15  

Thực trạng này chứng tỏ tính cách chính nghĩa cầm quyền trị quốc của triều đình nhà  Nguyễn đã hoàn toàn mất hết. Vì lã này mà có rất nhiều Nho sĩ ái quốc đang làm quan tại triều đình cáo quan lui về ở ẩn. Họ sáng tác thơ văn khích lệ, ca tụng, vinh danh những lực lượng nghĩa quân chống giặc xâm lăng và lên án bọn người tham danh và hám lợi mà đành lòng  tiếp tục ở lại làm quan cho giặc. Đây là trường hợp của các cụ Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Khuyến, v.v... Thiết tưởng rằng, những áng thơ văn của các cụ Phan Văn Trị và Nguyễn Đình Chiểu đã được rất nhiều người biết tới. Thí dụ như bài “Tôn Phu Nhân Qui Thục” và mười bài thơ liên hòan của  ông Tôn Thọ Tường được cụ Phan Văn Trị họa lại từng bài với những lời lẽ như mắng nhiếc những người ra làm quan với tân trào.

Đặc biệt là khi thấy bọn người “thà mất nước chứ không thà mất Chúa” dựa vào thế giặc nhẩy lên bàn độc hợm hĩnh khoe khoang với đời về địa vị và chức tước được liên minh giặc xí cho, cụ liền mượn lời vợ anh phường chèo mắng thẳng vào mặt lũ người vô liêm sỉ này bằng hai câu thơ: 

Vua chèo còn chẳng ra  gì,
Quan chèo, vai nhọ khác chi thằng hề.

Ai cũng biết rằng, từ “vua’ trong câu trên là  ám chỉ hay nói  mấy ông vua hề Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định và Bảo Đại nối tiếp ngồi trên ngai vang trong triều đình Huế. Còn từ “quan” trong câu dưới là bọ quần thần ở trong triều đình Huế và các quan lớn quan nhỏ  tậi các tỉnh, phủ huyện tai các địa phuơng trên toàn lãnh thổ từ lớn đến nhỏ như Nguyễn Hữu Độ, Ngố Đình Khà, Nguyễn Hữu Bài, Hoàng Cao Khả, Trần Lục, Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Thân, Lê Hoan, Trương Vĩnh Ký, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng v.v… Nhờ có các tên “vua gỗ quan hề” này mà bọn sử nô Ca-tô  sau này mới có thể đưa ra luận điệu rêu rao khoe khoang công đức của những tên Ca-tô làm Việt gian bán nước cho cả Vatican và Pháp một cách trâng tráo và trắng trợn như dưới đây:

Sau này, trong 34 năm cai quản Phát Diệm, Cụ Sáu (Linh-mục Trần Lục - NMQ) đã tỏ ra một vĩ nhân có tài thao lược, văn võ kiêm toàn, là vị cứu nhân độ thế. Bằng chứng là vua Tự Đức - một ông vua khét tiếng và cấm đạo công giáo – đã phong cho ngài chức Trấp-an, ban kim-khánh, kim-tiền (hai loại huy chương cao quý của triều đình Huế). Vua Đồng Khánh phong cho ngài Tham Tri Bộ Lễ sung Khâm Sứ Tuyên Phủ Sứ. Vua Thành Thái nâng ngài lên chức Lễ Bộ Thượng Thư. Và năm 1925, vua Khải Định nhớ công ơn ngài đã truy tặng ngài” Phát Diệm Nam Tước. Phía chính phủ Pháp cũng ân thưởng ngài: Chevalier d’ Honneur, Officier dans L’ Ordre de la Legion d’ Honneur.”  

Việc liên minh giặc không phế bỏ triều đình Huế và đưa con cháu nhà Nguyễn lên ngai vàng ngồi làm cảnh là có dã tâm làm cho nhân dân ta lầm tưởng rằng nước ta vẫn còn  có vua và vẫn còn độc lập, chứ không phải là nước đã mất vào tay người Pháp và Đế Quốc Vatican. Trong thực tế, thủ đọan gian manh này chỉ có thể phỉnh gạt được những người ngu dốt ít học và bọn vong bản phản quê hương chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, chứ không thể nào lừa gạt được đại khối  dân tộc Việt Nam ta. Tương tự như vậy, luận điệu của bọn sử nô Ca-tô lấy việc được những ông vua bù nhìn Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định hay triều đình Huế ban chức tước, phẩm hàm và mề đay kim khánh để  cao rao công đức của tên Việt gian Linh-mục Trần Lục như trên hay bất kỳ tên Việt gian nào khác cũng không thể nào che đậy được cái tội Vịệt gian bán nước cho liên minh giặc của chúng. Lý do rất đơn giản là vì tính cách chính nghĩa của triều đình nhà Nguyễn không còn nữa và triều đình Huế chỉ là một thứ công cụ làm tay sai cho Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp  - Thập  Ác Vatican mà thôi. Chính vì thế mà bất cứ các nhân hay thế lực nào muốn đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican để đòi lại chủ quyền độc lập cho dân tộc thì phải chng luôn cả ba kẻ thù của dân tộc là Phấp, Vatican và triều đìinh nhà Nguyễn và tập đoàn phản động phong kiến bản địa  của Nhà Nguyễn.

 

Chính Nghĩa Nắm Quyền Lãnh Đạo Đất Nước
Thuộc Về Các Lực Lượng Kháng Chiến

 

Qua phần trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng,  kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Thỏa Hiệp Nhâm Tuất vào ngày 5 tháng 6 năm 1862, chính nghĩa nắm quyền cai trị đất nước đã chuyển sang tay các lực lượng nghĩa quân kháng chiến đánh đuổi Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Vatican. Cũng từ đó các nhà ái quốc như các ông Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn,  Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thái  Học, hay các đảng cách mạng như Tân Việt, Quốc Dân Đảng, Việt Quốc, Cộng Sản Việt Nạm, Việt Minh, v.v... đều đem hết tài năng, trí óc và hy sinh  thân thế để lo việc đánh đuổi quân cướp ngoại thù, đòi lại quê hương cho dân tộc. Đây là một cuộc chiến trường cực kỳ cam go và hết sức gian khổ với hai mục tiêu rõ rệt:

Thứ nhất là đánh đuổi liên quân xâm lăng Pháp – Vatican ra khỏi quê hương để đòi lại chủ quyền cho dân tộc, và thứ hai là đập đổ cái triều đình quân chủ chuyên chính thối nát của nhà Nguyễn, một chế độ phong kiến chuyên chính lỗi thời  đã không làm tròn được sứ mạng bảo vệ đất nước để thiết lập một chế độ chính trị mới thích hợp với thời đại mới hậu Cách Mang Pháp 1789.

Từ  đầu thập niên 1910, mục tiêu thứ hai trên đây của cuộc chiến này được chuyển sang khuynh hướng giáo dục quần chúng, nâng cao dân trí, dồn nỗ lực vào việc làm cho người dân hiểu rõ chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế đã lỗi thời, cần phải triệt bỏ bằng mọi giá và phải thực hiện một cuộc cách mạng chính trị theo mô thức chính quyền dân chủ do các đại tư tưởng gia Tây Phương chủ xướng. Đó là những ân nhân của nhân loại như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), Thomas Jefferson (1743-1826), Tôn Trung Sơn (1866-1925), v.v…”  Chúng ta có thể tìm thấy mô thức chính quyền này trong cương lĩnh của tổ chức Quốc Dân Đảng dưới quyền chỉ đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học và các đông chí của ông.

Song song với khuynh hướng thứ 2 trên đây, các đảng cộng sản thuộc phe Đế Tứ Quốc Tế (gồm các nhà ái quốc như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đoàn Văn Trường, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Bạch  v.v…) cũng như các nhà Cách Mạng yêu nước khác thuộc phe Đệ Tam Quốc Tế như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), Trần Văn Giầu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v. v…  lại có chủ trương:

1.- Đánh đuổi Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican ra khỏi đất nước để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc.

2.- Thực hiện một cuộc cách mạng chính trị để giải thoát cho nhân dân cái ách quân chủ chuyên chế phong kiến lỗi thời, không còn thích hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại.

3.- Tiến hành một cuộc cách mạng kinh tế và xã hội, san bằng những bất công về kinh tế gây nên cảnh một nhóm thiểu số dựa và quyền lực của chính quyền bảo hộ Pháp – Vatican tóm thâu hầu hết các phương tiện sản xuất vào trong tay để bóc lột đại khối nhân dân đến tận xương tận tủy. Mục đích của cuộc cách mạng kinh tế và xã hội như vậy là để chấm dứt cảnh người bóc lột người, để dân ta không còn phải sống trong những “địa ngục trần gian”.

Đây là những (1) thảm cảnh địa ngục trần gian ở trong (a)  các đồn điền cao su, trà, cà phê ở miền Đông Nam Kỳ cùng nhiều nơi khác trong nước, (b) các công trường khai thác quặng mỏ ở Cẩm Phả, Hòn Gay, Uông Bí cũng như (c) trong các nhà máy ký nghệ trong các thành phố  lơn ở khắp Bắc, Trung Nam, và  (2) thảm cảnh đói khổ triền miên mà dân ta đã kinh qua với hai triệu người chết trong vòng có mấy tháng trong mùa Xuân năm Ất Dậu. Trong khi đó thì trong các nhà thờ của Giáo Hội  La Mã thóc chất đầy kho, băng đảng giám mục, linh mục cùng với bọn Việt gian quan lại trong chính quyền đương thời không mấy ngày là không có hội hè và yến tiệc, ăn uống phủ phê, no nê thừa bứa. Vấn đề này sẽ được trình bầy đầy đủ trong Chương 31 với nhan đề là "Hai Cảnh Đời Trái Ngược (Mục X, Phần III)"
(http://sachhiem.net/NMQ/HOSOTOIAC/CH31.php).

Ý chí quyết chiến của nhân dân ta kéo dài tới cả một thế kỷ. “Một trăm năm nô lệ giặc Tây” là một trăm năm dân ta liên tục chiến đấu không ngừng. Kết quả chẳng những đã làm cho liên minh giặc Pháp - Vatican phải bạt vía kinh hồn, mà còn làm cho nhân dân thế giới phải kính nể dân tộc Việt Nam ta. Tất cả các lực lượng võ trang chống lại Liên Minh Thánh Pháp – Vatican đều được coi là những lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta. Nếu chẳng may thất bại, họ trở thành  anh hùng dân tộc của đất nước, đúng như Nguyễn Thái Học đã nói “Không thành công thì thành nhân”. Và nếu thành công, thì không những họ được nhân dân ta hân hoan suy tôn và vinh danh là những anh hùng cứu tinh của dân tộc, mà còn có đủ  tư cách hay chính nghĩa để lên nắm quyền lãnh đạo đất nước. Sự thật đã xẩy ra như vậy vì đó là quy luật của lịch sử.

Cũng do quy luật lịch sử này, nhân dân ta đã gọi họ là những vị anh hùng của dân tộc, đã hân hoan tin tưởng và chấp nhân Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh là một thế lực có chĩnh nghĩa lãnh đạo nhân dân. Cho đến nay, tất cả các nhà viết sử chân chính đều nhìn nhận rằng hai tổ chức hay thế lực này quả thật là có chính nghĩa, xứng đáng được nhân dân tin tưởng trao cho trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ra khỏi quê hương. Những người lãnh đạo và những cán bộ cao cấp của hai tổ chức này không những là các nhà cách mạng trung kiên suốt đời hiến thân cho đại nghĩa, mà lại còn thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân dưới ách thống trị của người ngọai bang. Ngoài ra, họ còn biết khai thác tình hình thế giới và trong nước để chớp lấy thời cơ phất cờ kêu gọi toàn dân đồng lòng vùng lên đi đòi lại chủ quyền cho dân tộc và quyền làm người dưới ánh ánh sáng mặt trời. Đây là sự thật lịch sử mà tất cả các sách sử đều ghi lại rõ ràng như vậy.Sách  Việt Nam Quốc Dân Đảng viết:

“Sau 80 năm bị lệ thuộc, dân tộc Việt Nam chỉ thèm khát độc lập, và không biết gì đến khuynh hướng chính trị của phe này với nhóm khác. Người dân Việt Nam nghĩ rằng: miễn là nước được độc lập, còn đảng phái nào lãnh đạo cuộc tranh đấu giành độc lập hay cầm chính quyền cũng vậy, cốt là “Nước Việt Nam của người Việt Nam!”  Một yếu tố khác nữa, ngót hai triệu đồng bào chết đói vừa qua, là chết để đem linh hồn thức tỉnh ý chí những kẻ còn sống cũng phải phục thù rửa hận cho toàn dân. Đó là hoàn cảnh tạo nên cuộc cách mạng âm ỷ trong đầu óc mọi người dân Việt, khác nào như một kho thuốc nổ, chỉ còn đợi người nào hoặc đoàn thể nào châm ngòi lửa là nổ bùng. Lò thuốc súng đã có người châm, ngòi đã nổ, quần chúng ùa chạy theo Việt Minh Cộng Sản…”17

Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng đánh đuổi Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp - Vatican ra khỏi giang sơn với trận đánh lừng danh “Điện Biên Phủ” vang dội trên khắp năm châu bốn bể. Với chiến công này, hai tổ chức ái quốc này nghiễm nhiên có đầy đủ chính nghĩa để tiếp tục nắm quyền lãnh đạo nhân dân theo đuổi cuộc chiến thống nhất đất nước, đòi lại một nửa giang sơn còn nằm trong tay kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc là Giáo Hội La Mã với cái dù che chở của siêu cường Hoa Kỳ. Quy luật lịch sử này cũng được Giáo-sư Lê Xuân Khoa nhắc đi nhắc lại nhiều lần nơi các trang 189 – 190,  206 và 210, trong cuốn Việt Nam 1945-1975. Hai đọan văn trong 2 trang 206 và 210 đã được trích dẫn ở trên. Dưới đây là 2 đọan văn ở 2 trang 189 và 190:

Cuộc kháng chiến chống Pháp thành công do Việt Minh lãnh đạo đã chứng tỏ truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam quyết chống lại mọi sự đô hộ của ngoại bang để giành lại quyền tự chủ. Trong suốt tám năm trời kháng chiến, các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam, dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, luôn luôn nêu cao mục tiêu tranh đấu cho độc lập, tự do và giải phóng dân tộc ra khỏi chế độ cai trị bóc lột tàn ác của đế quốc thực dân. Đó là chính nghĩa đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân, quân đội và cán bộ đã hết lòng chiến đấu, chịu đựng bao nhiêu gian lao, hi sinh bao nhiêu của cải và xương máu cho công cuộc cứu nước…”

“Công bằng mà nói, thắng lợi này đạt được chính là nhờ sự điều động của đảng Cộng Sản ở đằng sau Mặt Trận Việt Minh, với những ưu điểm về tổ chức và tinh thần kỷ luật, lý tưởng cách mạng, kỹ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tuyên truyền và nhất là sức mạnh lôi cuốn quần chúng của Hồ Chí Minh qua hình ảnh của một nhà cách mạng một lòng vì dân vì nước, đã tranh đấu gian nan ở hải ngoại trong suốt mấy chục năm. Chiến tranh chống Pháp là một chiến tranh có chính nghĩa và Việt Minh đã giành được chính nghĩa đó.”18

DCSradoi

Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (1930) - xem bản cương lĩnh ở http://www.laocai.gov.vn/sites/sokhcn/dt/du/Trang/20110111150044.aspx
Ông Hồ Chí Minh và thanh niên
(http://thptnhuthanh.dayhoc.org/web/tintuc/modules.php?name=News&op=viewcat&catid=42&page=5)

Dĩ nhiên, ở vào trường hợp này, không có lý gì mà người có công đánh đuổi được quân thù ra khỏi quê hương lại ngu xuẩn đến độ trao quyền lãnh đạo quốc gia cho người kế thừa một triều đình đã không làm tròn bổn phận của người lãnh đạo quốc dân bảo toàn lãnh thổ  và chăm lo phúc lợi cho nhân dân. Đây là lý do TẠI SAO  khi hoàn thành sứ mạng đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, Bình Định Vương Lê Lợi đã không tái lập ngôi vua cho nhà Trần. Đây cũng là lý do TẠI SAO Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được toàn quân tôn lên làm Hoàng Đế Quang Trung trước khi kéo quân ra Bắc tiêu diệt gần 300 ngàn quân Thanh xâm lăng, và  sau đó được toàn thể dân tộc ta kính mến tôn vinh lên là vị đại anh hùng cứu tinh của đất nước. Tương tự như vậy, cũng vì lý do này, kể từ năm 1862 trở đi, bất kỳ lực lượng nghĩa quân kháng chiến nào thành công hay hoàn thành được sứ mạng đánh đuổi Liên Minh Thánh Xâm Lăng Pháp – Vatican ra khỏi quê hương đều có đầy đủ tư chính nghĩa lên cầm quyền cai trị nhân dân.  Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng trọng đại và cao cả này.  Vậy thì chính nghĩa nắm quyền cai trị nhân dân phải thuộc về hai tổ chức  này. Đến đây, chúng ta thấy  là chính tà đã định rõ, và bất cứ người nào, dù là con cháu của nhà Nguyễn, kể cả ông Bảo Đại, dù là của một tổ chức với những danh xưng tốt đẹp đến đâu đi nữa thì cũng không có tư cách gì để nhẩy lên hay được đưa lên nắm chính quyền. Người viết xin khẳng định đây là quy luật lịch sử.

 

Quan Niệm Của Giáo Hội La Mã  về
Chính Nghĩa Nắm Quyền Cai Trị Quốc Dân

 

Đối với Vatican, vần đề có chính nghĩa lên cầm quyền cai trị hoàn toàn khác với quan niệm của người dân Đông Phương và cũng hoàn toàn khác với quan niệm của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ ngày nay. Ngày nay, tuy bề ngoài, Vatican  thường nói đến tự do và dân chủ, nhưng trong thực tế, cái bản chất chuyên chính, xấc xược, ngược ngạo, duy ngã độc tôn, tự phong là đại diện duy nhất của thượng đế ở trên trái đất này vẫn còn nguyên vẹn. Vatican vẫn có ý tưởng ngang ngược cho rằng chỉ có những cái gì của hay thuộc về Giáo Hội La Mã mới là chân lý, là đúng, và vẫn còn coi bàn dân thiên hạ như là  cỏ rác. Giáo hội và tín đồ Ca-tô vẫn còn giữ nguyên vẹn niềm tin: “Tà giáo là những người xấu xa. Tín đồ Ca-tô là những người công chính và ngay thẳng! (Pagans are wrong. Christians are right!)”19 Cũng vì thế, đối với giáo hội:

1.- Cá nhân hay thế lực nào  lên cầm quyền cai trị đất nước phải là tín đồ hay được Vaticani chấp nhận thì mới được coi là có chính nghĩa. Đây là điều kiện tiên quyết của Giáo Hội La Mã. Điều kiện này bắt nguồn từ Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455)20  

2.- Nếu không phải là tín đồ của Giáo Hội, dù cho là một nhà lãnh đạo có đầy đủ những đức tính tốt và đầy đủ khả năng tài ba lãnh đạo quốc dân, thì cũng  không được coi là có chính nghĩa để cầm quyền. Đây là trường hợp chính quyền Cách Mạng Pháp 1789  (đã được trình bày đầy đủ ở trong Chương 16, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_16a.php.

3.- Dù cho là tín đồ của Giáo Hội nhưng nếu không tuân hành giáo luật hay lệnh truyền của Giáo Hội, thì người đó cũng không có chính nghĩa để lên cầm quyền cai trị đất nước. Đây là trường hợp Thượng Nghị Sĩ John Kerry, ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ của đảng Dân Chủ trong kỳ bầu cử được tổ chức vào ngày 2 tháng 11 năm 2004 vừa qua.   

4.- Là tín đồ của giáo hội và đã được giáo hội chấp nhận đưa lên cầm quyền  rồi, thì dù cho có bạo ngược, gian tham, tàn ác đến đâu đi nữa, thì cũng vẫn được coi như là có chính nghĩa để tiếp tục cầm quyền trị nước và nhân dân không có quyền nổi loạn chống lại chính quyền. Sự kiện này đã được học giả Dương Thành Lợi ghi là trong cuốn Triết Lý Quốc Trị Đông Phương như sau:

"Một triết gia Âu Châu khác là Aquinas chủ trương rằng nhà vua (đấng bề trên) được Thượng Đế chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân không thể làm cách mạng để giết vua và thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas, nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị độc ác của lãnh tụ có thể phản ảnh ý định của Thượng Đế muốn trừng phạt người dân; và nếu các phương tiện hợp pháp không thể trục xuất đưọc vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Đế. Nếu Thượng Đế không đáp lại lời cầu nguyện để bắt buộc vị lãnh tụ quốc gia đó phải thoái vị thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Đế." 21

Trên đây là những đặc tính rất thông thường trong các chế độ đạo phiệt Ca-tô mà điển hình nhất là chế độ Ca-tô Louis XIV (1643-1715) của nước Pháp, chế độ đạo phiệt Ca-tô Ante Pavelich ở Croatia trong những năm 1941-1945 và chế độ Ca-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) ở Miền Nam Việt Nam.

Chúng ta biết rằng quân niệm thính thống và chính nghĩa của người dân Đông Phương bắt nguồn từ những nguyên tắc đạo lý tam giáo cổ truyền của dân tộc. Tương tự như vậy, quan niệm chính thống và chính nghĩa về những cá nhân hay thế lực lãnh đạo đất nước của các dân tộc phi-Da-tô ở các quốc gia khác ở trên thế giới cũng dựa vào những nguyên tắc đạo lý theo nền văn hóa của họ.

Thế nhưng, Giáo Hội La Mã và xã hội Ca-tô không có những nguyên tắc đạo lý như các dân tộc Đông Phương hay các dân tộc khác. Họ sống theo những tín lý Ki-tô, giáo luật và những lời dạy của Giáo Hội LaMã.  Do đó, quan niệm chính thống hay chính nghĩa của một cá nhân hay một chính đảng lên nắm quyền lãnh đạo đất nước phải dựa vào những tín lý Ki-tô, giáo luật và lệnh truyền cũng như những lời dạy dỗ của Giáo Hội La Mã. Bất kỳ nhận vật nào lên cầm quyền cai trị đất nước cũng phải được Giáo Hội La Mã chấp thuận thì mới được coi là có chính nghĩa. Ngược lại, những cá nhân nào  hay thế lực nào lên cầm quyền mà không được Giáo Hội La Mã chấp thuận sẽ bị coi như phi chính nghĩa và sẽ bị tín đồ Ca-tô bản địa chống đối đến cùng, chống đối theo sách lược và lệnh truyền của Giáo Hội ◘

 

Chú thích:

1 Richard J. Hardy, Government In America (Boston, MA: McDougal Litell/Houghton Mifflin, 1996), p 6.

2 Beranrd B. Fall, The Two Vietnams (New Nork: Ferederick A. Praeger,1964), tr 18.

3 Trần Trọng Kim, Nho Giáo Tập 1 (Saigòn: Tân Việt, 2000?),  tr 168.

4 Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1975 ( Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr. 206 và 210. 

5 Nigel Cawthorne, Tuyrants History’s1 00 Most Evil  Despots & Dctators (London: Arcturs, 2004), p 167-168.

6 Lê Xuân Khoa,Sđd.,tr 432.

7 Lê Xuân Khoa, Sdd., tr 437.

8 Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Ðấy! (Wesminster, CA: Đồng Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr 132-133.

9 Phạm Văn Sơn. Việt Sử Tân Biên – Quyển V (Saigon, TXB (?), 1962), tr. 168-169.

10 Phạm Văn Sơn, Sđd., trang 169.

11   Phạm Văn Sơn, Sđd., tr. 190.

12 Phạm Văn Sơn, Sđd., tr. 190..

13 Tác giả hai câu thơ này là nhà ái quốc Hùynh Mẫn  Đạt sáng tác để vinh danh  chiến công kháng chiến trong trận đánh tại sông Nhật Tảo ở Tân An xẩy ravào ngày 10/6/1861 dưới quyền chi huy của nhà ái quốc Nguyễn Trung Trực. Trong trận đánh này, chiếc tầu Hy Vọng (Espérance) của liên minh giặc Pháp – Vatican bị đốt cháy làm cho 17 tên  lính giặc người Âu bị chết cháy.  Sau trận đánh lừng danh này, liên minh giặc dồn nỗ lực truy lùng cụ Nguyễn Trung Trực, cụ phải chạt về vùng Kiên Giang lập chiến khu mới chống giặc ở vùng này. Tại đây, lực lượng nghĩa quân  được nhân dân địa phương hăng hết lòng ủng hộ. Nhờ vậy mà lực lượng vũ trang của cụ trở nên đủ manh đánh pháp giặc ở trong vùng này rất hăng khiên cho giặc mất ăn mất ngủ... Xin xem tiếp bài viết “Hỏa Hồng Nhật Tảo oanh thiên địa”   nguồn:  http://blog.yume.vn/xem-blog/hoa-hong-nhat-tao-oanh-thien-dia.thuyentruongsinbad.35ACCDD1.html

14 Nguyễn Mạnh Quang, A Poem For My Children (Houston, TX: Văn Hóa, 1999), tr. 139.

15 Nghiêm Kế Tổ,  Việt Nam Máu Lửa (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr  20-22.

16 Đoàn Độc Thu và Xuân Huy, Giám Mục Lê Hữu Từ & Phát Diệm (Sàigòn:TXB, 1973), tr 15 .

17 Hoàng Văn Ðao, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Saigon: TXB, 1970), tr 255-256.

18 Lê Xuân Khoa, Sđd.,  tr.  189 và 190.

19 Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (NY: G.P. Putnam’s Sons, 1981), P. 111.

20 Trần Tam Tỉnh,  Thập Giá và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978) tr. 14 –15.

21 Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Đông Phương (Toronto, Canda: Làng Van, 1997), tr 93.

 

© sachhiem.net