 |
04 tháng 3, 2011 |
● - Chuyện Bắt Đầu Từ Đệ Nhất Cộng Hòa ● - Công Việc Triều Chính Của Đệ II VNCH ● - Cần Lao Làm Gì Dưới Thời Đệ II VNCH? ● - Lời Sông Núi ● - Câu Chuyện Con Chửi Cha.●
- Kết Luận
Hội Đồng LHQ chọn ngày Phật Đản Sanh làm nền tảng hòa bình
vĩnh cữu cho nhân loại. Nhưng ngoại đạo bắt đầu sử dụng vô số điều ác
đánh phá Phật giáo ngay từ năm hai ngàn (2000). Cho đến nay 2011 những chuyện xấu này vẫn còn tiếp tục
chưa thấy giảm sút, càng lúc càng cao độ ở nhiều chiến thuật.
Cũng cảm thấy buồn thay, trong
lúc Cựu Cần Lao đánh phá Phật giáo VN như vậy, thì một số người Con Phật (con
trưởng, con thứ) hải ngoại đã và đang gây bất an cho cộng đồng Tăng, Ni, Phật
tử. Những hành động vô ý thức như thế dường như do không hay biết gì đến lời của HĐLHQ lấy ngày Đản Sanh của
đấng cha lành làm ngày hòa bình vĩnh cữu cho nhân loại. Sở dĩ như
vậy, là do bị nhiễm những thứ vi khuẩn độc hại của Cần Lao đã và đang ùa vào
ngôi nhà Phật giáo Hải ngoại của chúng ta.
Nước lũ ngoại đạo ùa vào ngôi
nhà PGVN Hải ngoại, họ mang theo vô số rác rến, bùn lầy dơ bẩn, xác chết của các
loài động vật hôi thúi… từ cái tâm rừng rú thế gian của họ.Tất cả những thứ nói trên trong
dòng tâm nước lũ đã và đang ồ ạt vào ngôi nhà Phật giáo VN Hải ngoại,
đều có vi khuẩn độc hại ở mỗi thứ ấy, gọi là đa dạng vi khuẩn, đã gây cho một số
ít con trưởng, con thứ của Phật trong ngôi nhà Phật giáo VN Hải ngoại bị bệnh
tâm thần khác nhau. Gọi bệnh tâm thần ấy là những thứ bệnh u mê, dại dột, cuồng
tín, ngớ ngẩn, vô trí thức, tham danh, v.v…
Mặc dù không nhiều con trưởng,
con thứ của Phật bị nhiễm vi khuẩn độc của Cần Lao Thiên Chúa, nhưng tính lây
lan của chúng rất nguy hiểm, đã gây cho cộng đồng Tăng Ni, Phật tử VN Hải ngoại
bị phân hóa, bất an, oán ghét, hận thù một cách vô cớ giống như những người ở
khối chính trị này sanh tâm oán ghét những người ở khối chính trị kia hay là
những người Việt thờ CHÚA oán ghét những người Việt thờ Phật. Điều đó được chứng
minh rõ ràng: một số Chư Tăng, Phật tử VPII - VHĐ – GHPGVNTN của hai HT Quảng
Độ, Hộ Giác đã và đang sanh tâm hận thù oán ghét Chư Tăng, Ni, Phật tử của Chư
Tôn Đức trong các GHPGVNTN tại các châu lục.
Được chứng minh một cách hiện
thực hơn ngay tại một địa phương là quận CAM Cali, một số Chư Tăng, Phật tử chùa
Điều Ngư luôn luôn khởi tâm oán ghét, hận thù hằng trăm Chư Tăng, Ni, Phật tử
tại các chùa khác, một cách ra mặt qua thái độ hành hung, chất vấn ra tiếng
“Cộng Sản, Cộng Sản” đối với thầy Thích Huệ Minh được Tt Viên ly mời, chưa kịp
thông báo với các Phật tử trong Ban AN NINH TÌNH BÁO VPII – VHĐ.
Hai khối người Việt oán ghét,
hận thù nhau là vì mang tư tưởng giành giựt chức quyền lợi lộc, vì họ là những
kẻ phàm phu thế gian, không đáng nói.
Sở dĩ một số Phật tử; con thứ
Như Lai nhiều hơn con trưởng Như Lai ở Hải ngoại, đã và đang khởi tâm oán ghét,
hận thù Chư Tôn Đức Tăng Ni, Phật tử khác như vậy, là vì cái Tâm chưa phải là
Tâm Phật, Bồ Tát. Nếu không phải là Tâm ba đường ác, thì cái Tâm của giòng họ
Thiên Ma Ba Tuần. Chỉ có Thiên Ma Ba Tuần mới oán ghét, hận thù đệ tử của Phật ở
hai giới xuất gia, tại gia. Đệ tử Phật chính tông ở hai giới xuất gia, tại gia,
làm gì có chuyện oán ghét, hận thù, đánh phá nhau, bị nhiễm vi khuẩn độc hại của
Cần Lao Thiên Chúa phun ra!
Bản thể dù cho có phục sức y áo
của Phật, nhưng Tâm Thiên Ma, Ba đường ác, thì nhất định bị nhiễm vi khuẩn độc
hại của Cần Lao, nếu không nói là đồng dạng, cùng giòng họ ngoại đạo.
Vì thế cho nên, một số ông bà tự
xưng là Phật tử, thì lại đứng về phía Cần Lao Liên Thành, nói theo lời Liên
Thành vu khống chư vị HT Đôn Hậu, HT Trí Quang của ta, là Cộng Sản.
- Một số ông tự xưng là Phật tử
VHĐ – VPII thì lại mở lời vu khống hai thầy Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ là Cộng Sản.
- Một hai ông vốn là thành viên
Tổng Hội Cư sĩ PGVN, thì lại nhảy qua Điều ngự, quay lưng vu khống ông TẤN Huỳnh
là Cộng Sản.
- Một ông thầy giáo làng họ Lưu,
tự xưng là Phật tử có kiến thức thì lại nói lời vu khống “bọn Tăng về Nguồn là
Cộng Sản”.
- Một ông làm nghề bình luận
chính trị có vợ, vốn là Phật tử, tự chặt tay phản đối Ngô Đình Diệm đàn áp Phật
giáo năm 1963, thì lại vu khống thầy Tuệ Sỹ chạy theo Cộng Sản.
- Một ông gốc GĐPT có con gái
xuất gia làm Sư Cô (ở San Diego) thì lại mở lời kết tội thầy Lê Mạnh Thát là tay
sai Cộng Sản, xây trường đại học Quảng Đức là trường của Cộng Sản.
- Một bà vốn là người của đất
thần kinh có nhiều Chư Tăng Chơn tu. Do vậy bà tự xưng là Phật tử có pháp danh
CHƠN... và tự khoe đã được học Phật pháp nhiều lần tại các Đạo tràng Diệu pháp,
PHV Quốc Tế, Bửu Môn, Seattle, v.v... do một số Chư Tăng VHĐ – VPII GHPGVN giảng
dạy từ 2005 trở về trước, VHĐ – VPII chưa chia đôi. Sau khi bị chia đôi, bà bám
trụ theo VPII, bà liền trở mặt ra rả cái mồm; nào là ông HT kia đã bị rớt mặt nạ
Cộng Sản, Tăng về Nguồn là Cộng Sản... Suốt thời gian dài trong quá khứ, bà đến
lễ bái tại chùa của vị HT ấy và nhờ HT làm lễ cầu siêu cho anh bà, quyến thuộc
bà, nay bà vong ơn bội nghĩa. Rồi cứ mỗi lần về chùa Điều Ngự có lễ, có lớp học,
bà từ Dallas bay qua không bỏ bữa nào. Trước khi đến Điều Ngự, bà đem lời rủ rê
các bạn Huế bà ở quận CAM nên đi chùa Điều Ngự, vì chùa ấy là chùa của người
Việt quốc gia Chống Cộng (bà đi VN hoài), còn các chùa khác ở quận CAM là chùa
về nguồn của Cộng Sản. Bà còn rêu rao, HT CL của bà là bậc Chơn tu có tiến sĩ
chữ Tàu Đài Loan, nên thông đạt giáo pháp Phật hơn các Tăng khác. Vì vậy mà thầy
CL của bà bị các Chư Tăng ganh tỵ, vu khống rờ mó phụ nữ, nhưng tòa án đã xử
thầy của bà không có tội.
- Một huynh trưởng GĐPT Bảo
Quang Santa Ana, tự động bỏ đoàn, nhảy qua Điều Ngự. Bị các Phật tử hỏi lý do.
Anh ấy trả lời, vì thấy những người biểu tình tố cáo HT Bảo Quang là Cộng Sản,
chùa Điều Ngự toàn là bậc Chơn tu Chống Cộng.
- Một bà ở vùng Diệu Pháp, gọi
điện thoại cho một nam Phật tử ở Long Beach. Bà ngỏ lời rằng, chùa Điều Ngự cần
một số huynh trưởng GĐPT Chống Cộng, vậy xin an về giúp cho.
Anh ấy trả lời rằng, không đến
đó được, vì chỗ đó là chỗ hoạt động chính trị, lừa đảo nhau, không phải là chỗ
tu hành!
- Qua sự tìm hiểu thêm về phái
nữ San Diego, có ai bị nhiễm vi khuẩn độc hại Cần Lao hay không. Được biết thêm,
có bà Hiền lên quận CAM thăm viếng một vài chùa Sư Cô, HT, TT nào đó. Trong lúc
tiếp xúc với các Sư Tăng, Sư Cô đó, bà liền bị nhiễm vi khuẩn độc hại Cần Lao,
do các Sư ông, Sư Cô tại các chùa ấy truyền nhiễm vào tâm tư của bà. Sau khi bị
nhiễm vi khuẩn, tâm bà hết thanh tịnh, mất đạo đức, hết chay tịnh, Pháp Hoa
thành Pháp Họa. Khi về lại San Diego, bà viết lại tất cả lời Sư Cô, Sư thầy nào
đó vu khống nam Phật tử quen bà là Viết Bạch Thư nói xấu Chư Tăng dâm ô. Bà viết
ra một cách điên dại, cùng với thái độ lồng lộn lên đỏ mặt, làm cho nam Phật tử
nạn nhân buồn lòng, bèn hỏi bà Hiền, thì bà trả lời do các Sư Tăng, Sư Cô ở
quận CAM nói ra.
Qua sự tìm hiểu tâm tư tất cả
các HT, TT, Sư Cô, Sư bà ở quận CAM về chuyện Bạch Thư ấy, quý ngài đều nói:
“Tất cả người con Phật tử, là Cư Sĩ hay Tăng Ni, không ai có tâm nào can đảm
viết phịa chuyện xấu đánh phá huynh đệ trong nhà Phật giáo của mình”. Nhìn qua
văn phong và phịa chuyện, là biết ngay Cần Lao cố tình đánh phá Phật giáo, để
cho cộng đồng người Việt Hải ngoại có ý nghĩ rằng Phật giáo cũng đồng dạng như
các Linh mục của họ về chuyện sách nhiễu tình dục. Như báo chí Mỹ Việt đã đăng;
một số nhà thờ Mỹ đã đền bù hằng triệu đôla cho các người bị bề trên của họ sách
nhiễu tình dục. Do vậy, người Việt Thiên Chúa giáo ở quận CAM có sức nặn ra,
phịa chuyện dâm ô vu khống Chư Tăng PGVN Hải ngoại như vậy, là một cách xu nịnh
với Thiên Chúa Giáo Mỹ quá rẻ tiền. GHPG Hoa Kỳ đâu cần nhờ người Việt Công giáo
ra làm điều ngu dại đó, để nói rằng Tăng Ni Phật giáo, Linh mục CG giống nhau
chuyện tình.
Phải nói rằng, người Việt Nam
theo Đạo Thiên Chúa họ rất căm thù Phật giáo Việt Nam, mà đối tượng hướng tâm
căm thù, tìm cách phục hận, trả thù cho bằng được trong mọi thời đại, mọi xứ sở,
đó là Tăng Ni, Phật tử.
Chuyện Bắt Đầu Từ Đệ Nhất Cộng Hòa
Sau khi Tổng thống Ngô
Đình Diệm và Đệ I VNCH bị lật đổ toàn bộ, thì những người Cần lao Thiên chúa
trong quân đội, cơ sở hành chánh bị mất những lợi lộc không làm mà được có, gọi
là của trên trời rơi xuống. Họ không được ngồi mãi ở hậu phương, gọi là ngồi nhà
mát ăn bát vàng. Họ không được ai đó thăng cấp bừa bãi như trước. Những công ty
kinh doanh bất hợp pháp của họ, như các ngân hàng PHÁP HOA (France China Bank),
các công ty Đường Vĩnh Phú, Tây Sa phân bón VN... cũng như những tổ chức Thanh
Niên Cộng Hòa... không còn nữa, vì là cho một số người Cần lao ngồi chơi, ăn
lương ở thành thị, v.v...
Lý do chính yếu quan trọng sau
đây, làm cho các tướng tá trong quân đội, các viên chức hành chánh gốc Cần lao,
những Linh mục, Giám mục, tín đồ Công giáo ngoài xã hội đem lòng căm thù Phật
giáo, là vì hết quyền lực quyến rũ người dân Việt ở các đạo khác qua đạo Chúa.
Không còn uy quyền để khủng bố, bắt ép Phật tử rửa tội theo đạo Chúa nữa.
Tất cả những gì của người Thiên
Chúa Đệ I VNCH đang “Có”, đã bị mất, trở thành “Không”. Làm cho họ cảm thấy hối
tiếc và có tội với tòa thánh La Mã, là không tạo dựng được một nước Chúa ở miền
Nam Việt Nam, như tòa thánh đã mong muốn. Do đó họ cấu kết nhau từ trong quân
đội, hành chánh ra đến các giáo xứ, hiệp thông ý tưởng và kế hoạch trả thù Phật
giáo cho bằng được trong mọi thời, mọi lúc, mọi nơi, ở đâu có xuất hiện Tăng Ni
Phật tử VN, là có người VN Thiên Chúa hành động trả thù.
Thế là các tướng tá Cần Lao
trong quân đội, hợp tác với viên chức Cần Lao trong các cơ sở hành chánh, và một
số nhân sự chính trị gốc Thiên Chúa. Hiệp thông nhau, đưa một số tướng tá ra làm
nhiều cuộc đảo chánh thật và giả. Thật ở nghĩa là thấy được, tiến luôn lập chánh
phủ, bị chống đối, thì xuống, tìm cách đưa tướng khác lên.
Tướng đầu tiên, đó là Nguyễn
Khánh đứng lên đảo chánh chính phủ Dương Văn Minh. Ông Khánh tự phong chức Quốc
trưởng và soạn thảo bản hiến pháp gọi là Hiến Chương Vũng Tàu, nhưng bị lực
lượng sinh viên Phật tử khắp nơi biểu tình chống ông Khánh, bởi vì bản Hiến Pháp
chưa thật sự loại trừ dư đảng Cần Lao, còn dung túng trong đó cho kế hoạch trả
thù Phật giáo tương lai theo lời ông Diệm yêu cầu.
Tiếp theo ông Khánh, tướng tá
Cần Lao đưa ra hằng loạt người, dân sự, quân sự lập chánh phủ, rồi đảo chánh,
rồi lại lập chánh phủ, cách nhau vài tháng suốt hai năm liền 64 – 65.
Người đầu tiên họ đưa ra, đó là
tướng Nguyễn Khánh, đảo chánh chính phủ cách mạng Dương Văn Minh. Ông Khánh lập
chính phủ quân phiệt 30/1/1964.
Một số người Thiên Chúa làm đảo
chánh, chỉ vài giờ họ biến mất 13/9/1964.
Ông Hương lập Hội đồng quốc gia
bị Hội đồng quân lực giải tán (27/1/1965).
Ông Phan Khắc Sửu ra lập chính
phủ, ông Phan Huy Quát làm thủ tướng 16/2/1965. Đến 19/2/1965. bị tướng Lâm Văn
Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo làm đảo chánh, nhưng tự rút lui.
Thủ tướng Phan Huy Quát chịu hết
nỗi sự quậy phá của những người Thiên Chúa giáo, bèn trao quyền lại cho quân đội
do các tướng tá Cần Lao nhã ý cho mục đích thành lập một chính phủ Quân phiệt,
với hy vọng sẽ làm tan rã hai lực lượng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và
Quân đội Bắc Việt đang hiện hữu giữa các quận, huyện từ miền quê, đến thị thành,
ngay thủ đô Sài Gòn.
Từ đó chính phủ Quân phiệt của
hai tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu ra đời 12/6/1965.

Sở dĩ các tướng tá Cần Lao và
các nhân sĩ chính trị Công giáo hợp tác nhau đưa hết tướng này, tướng khác ra
đảo chánh lập chánh phủ và rút lui nhanh, cũng như ông dân sự này, ông dân sự
khác ra lập chính phủ một tháng, vài tháng, rồi cho người quậy phá biểu tình.
Như vậy, là nhằm vào hai mục tiêu có chủ đích.
Một, thăm dò các viên chức tòa
đại sứ Mỹ có phản ứng, góp ý gì trước cảnh xã hội Sài Gòn bị bạo loạn, bất an.
Nhưng với bản tánh của người Mỹ không xía vào việc tư riêng của người khác, tôn
trọng sự tự do của mọi người, tất cả viên chức tòa đại sứ Mỹ im lặng. Ai lên lập
chính phủ ổn định, sinh hoạt bình thường, Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ.
Hai, những người Thiên Chúa VN
trong quân đội và tập đoàn Giám mục VN tại các giáo xứ cố tình tạo ra nhiều cuộc
khủng hoảng, là cơ hội bàn tính kế hoạch, củng cố, tập hợp thành một khối hiệp
thông nhau, để đi đến thành lập một chính phủ hoàn toàn quân phiệt, dưới sự chỉ
đạo của Hội đồng Quân nhân Cần Lao Công giáo, sau khi lực lượng quân sự của
Chính phủ quân phiệt Cần Lao làm chủ hoàn toàn lãnh thổ VNCH, không còn hai lực
lượng đối phương nữa, là lúc vung đôi tay sắt dập tắt mọi tiềm lực của Phật giáo
theo kiểu mới, nếu không nói là ảo tưởng khó thành.
Theo chủ trương quân phiệt đó,
họ tiến hành bầu cử Quốc Hội Lập Hiến do tướng Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh bầu
cử với tư cách Chủ tịch Ủy Ban Lãnh đạo Quốc Gia 12/4/1966 đến ngày tướng Thiệu
Kỳ đắc cử: Nguyễn Văn Thiệu tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ phó tổng thống, nền Đệ II
VNCH ra đời.
Để chứng minh những tướng tá Cần
Lao trong quân đội và công chức hành chánh, cùng với những nhân sĩ Cần Lao bên
ngoài, họ cấu kết nhau qua nhiều đợt ở nhiều việc trong chính phủ quân phiệt
Thiệu Kỳ.
Đợt một được thấy ở việc tranh
cử Tổng Thống. Tranh cử Tổng Thống có đến 11 liên danh. Nhưng họ sắp xếp gian
lận, chỉ có một liên doanh Thiệu Kỳ được trúng cử. Tranh cử Thượng viện có đến
50 liên danh, nhưng 6 liên danh đắc cử. Sáu liên danh đắc cử trong đó Cao Đài
đứng chung với Cần Lao Đại Việt, không có Phật giáo. Sáu liên danh đắc cử. 1.
Liên danh Nông Công Binh (quân đội Cần Lao). 2. Liên danh Bông Lúa (Đại việt và
Cao Đài). 3. Liên danh Công Ích, Công Bằng xã hội (Thiên Chúa). 4. Liên danh Đại
Đoàn Kết (Thiên Chúa). 5. Liên danh Mặt Trời (Thiên Chúa). 6. Liên doanh Đoàn
Kết Tiến Bộ (Thiên Chúa).
Qua 6 liên danh toàn Thiên Chúa
đắc cử nói trên, cho ta thấy nền Đệ II VNCH của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đâu
có khác gì Đệ I VNCH của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Tất cả cơ quan hành pháp, Lập
pháp, Tư pháp đều do Cần Lao Thiên Chúa lãnh đạo hết.
Đợt thứ hai, Thiên Chúa với
Thiên Chúa. Đó là đợt bầu cử Tổng thống vào ngày 3/10/1971 chỉ có một mình ông
Nguyễn Văn Thiệu vừa tranh cửa, vừa đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai, gọi là độc
diễn. Ông Kỳ bị nhóm Cần Lao hất ra khỏi công việc chính phủ. Họ mời ông Trần
Văn Hương vào ngôi vị phó tổng thống, ngôi vị bù nhìn, ngồi chơi xơi nước. Tất
cả công việc chính phủ của ông Thiệu, đều do tướng tá Cần Lao và các viên chức
Thiên Chúa hành chánh chỉ đạo, ông Thiệu chỉ ký giấy và ra sắc lệnh, lên truyền
hình, truyền thanh mà thôi.
Công Việc Triều Chính Của Đệ II VNCH
Sau ba năm 64 – 65 – 66 tập đoàn
Cần Lao Công giáo VN đã hiệp thông củng cố nhân sự trong quân đội và cơ sở hành
chánh từ trung ương đến địa phương. Lập phương án tóm thâu quyền lợi và kế hoạch
trả thù Phật giáo đã xong, họ bắt đầu đồng loạt ra tay thực hiện suốt hai nhiệm
kỳ Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống 67 – 71 – 71 – 75.
Những hình ảnh hiện thực tóm
thâu quyền lợi. Hình ảnh hiện thực trong việc tranh cử Thượng Viện, mà 6 liên
danh Công giáo được trúng cử như đã nói trên, là một trong những hành động tóm
thâu lợi lộc, chức quyền của Công giáo Cần Lao về tranh cử sau đó, đều tương tự
như vậy.
Những người tốt nghiệp đại học
quốc gia hành chánh. Ai là người đạo dòng Kito hay mới tân tòng (Đạo đứng) được
tự do chọn chỗ tốt và được giữ chức vụ Phó tỉnh trưởng hành chánh. Còn lại cho
những người theo tôn giáo khác.
Những người tốt nghiệp đại học
sư phạm, sư phạm hai năm, như sư phạm Quy Nhơn, Long An. Ai là người đạo dòng
Kitô hay mới tân tòng sẽ được tự chọn chỗ tốt và giữ chức vụ trưởng giáo dục,
chánh sở, hiệu trưởng trung, tiểu học công lập. Còn những nơi xa xôi, khỉ ho cò
gáy dành cho những người theo tôn giáo khác.
Những cơ quan viện trợ Mỹ về văn
hóa (Asia foundation) xã hội Cavitas, v.v... đều do người Công giáo nắm giữ để
đem lợi lộc cho giáo hội Công giáo.
Các tướng tá Cần Lao đua nhau
tạo mãi kinh tế, vận động đàn anh trung ương ở Bộ Quốc Phòng, Tổng tham mưu,
Tổng cục CTCT để được làm tỉnh trưởng, quận trưởng hay Đại học CTCT. Dĩ nhiên
phải nộp một số tiền lớn cho bậc đàn anh trung ương, quân khu, tỉnh
trưởng,v.v... Như hình ảnh Còi Hụ Long An đã đi vào lịch sử mua quan bán tước
của các tướng tá Cần Lao của Đệ II VNCH ông Thiệu. Trong khi đó các tướng tá
Phật tử QLVNCH được cấp trên đưa đâu ngồi đó, không mua quan bán tước, không mở
Bar, mở quán, chủ thầu gái điếm như các tướng tá Cần Lao đua nhau tạo mãi.
Cần Lao Làm Gì Dưới Thời Đệ II VNCH?
Phải công nhận rằng; xã hội miền
Nam VN dưới thời Đệ II VNCH của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là xã hội phồn hoa
dưới ánh đèn màu ở các phố thị về đêm và nhộn nhịp ban ngày. Trông có vẻ như xã
hội không có chiến tranh, thật là hòa bình được thấy qua những hình ảnh xe cộ đủ
loại trên đường phố. Dân chúng buôn bán, chợ búa đông đúc. Học sinh các trường
từng đoàn như bướm trắng. Thỉnh thoảng có từng toán lính chiến QLVNCH nhảy dù,
biệt động quân, thủy quân lục chiến từ chiến trường về nghỉ ngơi, đi chật đường
phố. Các nơi có chị em ta, là có nhiều lính Mỹ ra vào thật tấp nập.
Về đêm, các phố thị còn nhộn
nhịp hơn qua nhiều tiếng nhạc, ánh đèn màu lập lòe từ các quán cà phê, Bar,
trong đó có nam thanh, nữ tú ngồi nhịp chân theo điệu nhạc. Các rạp hát, chiếu
bóng đầy khán giả ra vô hay cùng nhau dancing ở những nơi khách sạn.
Tại Sài Gòn, đêm ngày hình ảnh
sinh hoạt dân chúng còn hơn các thành phố ở tỉnh. Đặc biệt có hình ảnh những sĩ
quan quân lực VNDCCH Bắc Việt ngồi xe Jeep Mỹ, từ trại David Tân Sơn Nhất, chạy
trên đường Công Lý xuống bùng binh Sài Gòn buổi sáng, đến trưa chạy về lại Tân
Sơn Nhất. Một tuần họ chạy xe Jeep trên đường Công Lý Sài Gòn hai lần. Vì các sĩ
quan Bộ Đội Bắc Việt trong ban Quân sự 4 bên - Sau đó hai bên Mỹ và Bộ Đội Bắc
Việt họ họp nhau tại tòa Đại sứ Mỹ Sài Gòn.
Trước hình ảnh sĩ quan Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc có mặt tại Sài Gòn, khiến cho nhiều trí thức Sài Gòn
nói rằng “Sĩ Quan Bộ Đội Bắc Việt có mặt tại Sài Gòn, hội họp với Mỹ như vậy,
thì Đệ II VNCH của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sắp bị tiêu tùng, chỉ còn thời
gian nữa thôi”. Nhưng những ông trí thức Kitô Công giáo liền đưa lời phản bác.
Họ nói: “Mỹ không bao giờ bỏ miền Nam Việt Nam đâu! Vì miền Nam Việt Nam là ngả
ba của các lực lượng quân sự của khối đồng minh Mỹ. Các anh yên chí đi, Mỹ và
VNCH sẽ Bắc tiến nay mai”.
Lời nói Mỹ không bao giờ bỏ miền
Nam, vì miền Nam VN là tiền đồn chống Cộng của các nước trong thế giới tự do… mà
các ông trí thức Cần Lao trong quân đội và hành chánh của ông Thiệu đã tuyên
truyền ra ngoài dân. Nếu không nói rằng, tất cả người Công giáo đều tin tưởng
Hoa Kỳ sẽ không bỏ miền nam VN, dù cho giao cho ông Thiệu lo hết mọi chuyện
chính phủ bằng cụm từ “Việt Nam Hóa Chiến tranh”, nhưng vẫn viện trợ quân sự và
kinh tế đủ mạnh để chiến thắng Cộng Sản Bắc Việt và MTDTGPMN.
Do vì sống trong ảo mộng đó, mà
tập đoàn Cần Lao trong quân đội và hành chánh của ông Thiệu đã tiến hành kế
hoạch trả thù Phật giáo, bởi những ý nghĩ Cần Lao Công giáo đã hiệp thông vững
mạnh. Mỹ không bỏ miền Nam – Đệ II VNCH sẽ chiến thắng cả hai khối Cộng Sản bắc,
nam ở tương lai. Chừng đó sẽ áp dụng cách tiêu diệt Phật giáo như thời Diệm. Bây
giờ chỉ trả thù Phật giáo bằng cách mở chiến dịch “Thanh trừng” cá nhân Phật tử
trong quân đội và các cơ sở hành chánh để dọn đường tương lai, là làm cho Phật
giáo không còn nhân tài.
Đối tượng để thanh trừng mạnh có
sắt máu, đó là những Phật tử trí thức cao, thuần thành tích cực phụng sự đạo
pháp. Vì thế giáo sư Nguyễn Văn Bông
bị Cần Lao ám sát chết, rồi đổ hô cho Cộng Sản (du kích MTGP). Sau khi ông Bông
chết, họ tuyên bố đã bắt được người du kích mặt trận giải phóng. Sau đó không
lâu, họ đem ra bắn chết một người du kích thật.
Đồng thời, luật sư Phạm Nam Sách
(Phật tử) bị họ bắt nhốt vào phòng giam tại Tổng Nha cảnh sát. Đại tá Trần Văn
Kha (Phật tử) bị an ninh quân đội Thiệu đem giam lỏng tại một phòng ở Bộ Tổng
Tham mưu. Nhiều Phật tử trong QLVNCH và hành chánh bị thanh trừng tương tự như
vậy.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy bị Cần
Lao khủng bố, đe dọa ám sát.
Họ chỉ thanh trừng sắt máu đối
với những nhân tài Phật giáo, chứ không bắn pháo binh vào các làng xã toàn là
Phật tử. Không giả thằng điên nhảy vào nhà Phật tử, leo lên bàn Phật ngồi, xé
các tượng Phật, ném chuông mõ ra đường. Không bắt ép rửa tội theo Đạo Chúa,
không theo bắt giam, tra tấn, chôn sống như thời Diệm. Những hành động sát máu
đó, sẽ áp dụng tương lai nếu Đệ II VNCH của Thiệu chiến thắng hai khối Cộng Sản
Nam, Bắc. Nếu không nói đó là những tiếng “mớ” của những gã say rượu trong giấc
ngủ trưa bên hè phố Sài Gòn.
Lời Sông Núi
Một số người Việt Nam theo Đạo
Kitô La Mã, họ không biết họ thuộc dòng giống Lạc Long Quân, Âu Cơ, huyết thống
Hùng Vương. Họ cũng không biết dân tộc Việt Nam trong quá khứ xa xưa từ các đời
ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN, LÊ... không vong bản, nô lệ ngoại bang, sống hòa thuận, đoàn
kết dân tộc, thương kính, tôn trọng nhau, bảo vệ văn hóa truyền thống ngàn đời
của tổ tiên, trong đó có thờ phượng, cúng giỗ tế lễ để đền ơn tổ quốc, tổ tiên,
tiền nhân, anh linh liệt sĩ đã dầy công dựng nước, giữ nước đánh đuổi ngoại xâm
đem hòa bình cho dân tộc.
Dân tộc Việt cả ngàn đời đang
sống an vui hạnh phúc như vậy, thì đột nhiên có những thằng Pháp mũi lõ cầm
súng, đeo thập ác, hình ông Jesus vào quê hương Việt Nam, bắt dân ta làm nô lệ
cho chúng cả thân xác và tâm hồn.
Thân xác trồng cao su, cạo mủ
cao su, làm đường, đấp đê, đào mỏ than, làm cầu, xây dinh thự, chạy xe kéo, nộp
thuế,v.v... Dân ta chỉ được ông Tây trả cho vài xu, miếng bánh mì, manh áo cũ.
Đó là nô lệ thân xác.
Ông Tây mũi lõ mặc áo chùng đen,
nói: “Hãy tin Chúa Jesus, rước Chúa vào lòng, sẽ được Chúa cho nhiều thứ”. Sau
đó bảo dân ta quỳ xuống hả miệng cho vào một miếng bánh men gọi là bánh Thánh.
Sau đó dân tộc ta cũng được nhận quần áo chùng cũ, bánh mì cũ, miếng phôma, gọi
những thứ đó do Chúa ban cho. Nhưng sau đó không lâu, ông Tây mặc áo đen xin mọi
người hãy hiến dâng Chúa vài xu, để sau khi chết được Chúa rước về Thiên Đàng.
Đó là nô lệ linh hồn dân Việt. Một số người Việt Nam theo Đạo Kitô La Mã không
biết bản chất độc ác của bọn thực dân Pháp và các cố đạo Kitô La Mã. Cả hai cùng
một bản chất đế quốc xâm lược. Không phải là chủ nghĩa tự do, dân chủ, nhân
quyền, viện trợ... như Hoa Kỳ. Không phải là một tôn giáo Kitô đầy đạo đức, tình
người như bên Nga Sô, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Ba Lan… Người dân KITÔ của những
quốc gia này không liên quan với tòa Thánh Vatican.
Họ không biết Đạo Kitô La Mã của
họ là một đế quốc toàn cầu, đầy màu sắc chính trị và gian ác. Cho nên tòa thánh
La Mã là một quốc gia Vatican. Vì là một quốc gia họ có đại sứ khắp nơi, họ bang
giao với các nước. Ngày xưa họ có cả quân đội, đi xâm lược, gây chiến tranh với
các nước Tây Phương. Một tôn giáo làm gì có vấn đề bang giao, đặt đại sứ! Toàn
dân Việt Nam đều biết Vatican là quốc gia, vậy mà họ cứ nằng nặc đòi bang giao
với Việt Nam hiện nay. Trong khi đó số người Việt theo Đạo Kitô La Mã lại không
biết.
Vì là một đế quốc được trá hình
sắc thái tôn giáo, những người lãnh đạo tòa thánh La Mã đã ra lệnh các chư hầu,
gọi là nước Chúa như Đệ I VNCH của Diệm phải triều cống cho họ cả triệu đôla
hằng năm. Trong khi Hoa Kỳ là quốc gia dân chủ, tự do, nhân quyền thật sự đối
với nhân loại, Hoa Kỳ đã viện trợ cho tất cả các nước kém văn minh, phát triển
hằng triệu đôla mỗi năm, như Đệ I VNCH của ông Diệm được Hoa Kỳ viện trợ kinh tế
để giúp dân miền Nam VN làm nền tảng tiến lên kinh tế. Thì ông Diệm lại cắt xén
gần hết ngân quỹ viện trợ Mỹ để cho các nhà thờ Kitô VN và dâng cho tòa thánh
Kitô La Mã, bằng cụm từ dâng hiến Chúa để được Chúa phù hộ cho dân miền Nam VN
luôn bình an. Bình an đâu không thấy, chỉ thấy người dân theo Đạo Phật tại các
làng xã ở các tỉnh miền Trung và trên Cao Nguyên, bị công an Kitô của ông Diệm
gây nhiều nỗi bất an, bắt đi tra khảo, ép vào Đạo Kitô, không chịu theo bị chôn
sống, bắn chết rồi ra thông cáo theo Cộng Sản. Số lượng người dân theo Đạo Phật
ở hai nơi trên bị công an Diệm tàn sát từ năm 1956, cho đến giữa năm 1963, với
tổng số 300 ngàn dân từ trí thức đến bình dân, giàu nghèo.
Họ không biết lý do tại sao, vào
mùa xuân 1947, hằng ngàn thanh niên, trung niên VN trên ba miền bắc trung nam,
trong đó có cha, anh mình, tất cả các anh đi thật lặng lẽ trong đêm, chỉ nói nhỏ
với cha, mẹ hay người vợ. Các anh tự tình nguyện ra đi, rồi hợp thành đoàn, gọi
là lính “Vệ Quốc Đoàn”.
Các anh đi theo tiếng gọi của Tổ
quốc lâm nguy bị thực dân Pháp xâm lăng.
Người thanh niên nghe được tiếng
hồn thiêng tổ quốc réo gọi lúc bấy giờ, là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, cho nên ông đã
sáng tác bài ca “Tiếng gọi thanh niên: Này thanh niên ơi đứng lên đáp lời sông
núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống. Vì tương lai quốc dân, cùng
xông pha khói tên...”
Bài ca Tiếng gọi thanh niên,
trước 75, đài Hà Nội thường dùng trong giờ phát thanh Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí
Minh. Còn miền Nam VN, dưới thời Đệ I và Đệ II VNCH, họ dùng bài “Tiếng gọi
thanh niên” này làm bài chào cờ “Vàng Ba Sọc Đỏ”. Nhưng đổi lời “Này công dân
ơi, đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống...”
Bài ca thì kêu gọi công dân miền Nam VN đứng lên đáp lời sông núi... Lời ca “đáp
lời sông núi” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, là kêu gọi hai thế hệ thanh niên các
giới đầy nhiệt huyết lên đường đánh thực dân Pháp, để cứu dân tộc thoát khỏi
vòng nô lệ của chúng, đem lại hòa bình, hạnh phúc cho toàn dân.
Còn số người Việt Nam theo Đạo
Kitô Đệ I và Đệ II VNCH trong Nam kêu gọi toàn dân già, trẻ, gái, trai hãy đứng
lên đáp lời theo Thiên Chúa của họ. Điều đó được thấy công an, mật vụ của hai
đời Tổng thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đem lời kêu gọi người dân theo
tôn giáo khác, nhất là Phật giáo, hãy mau mau bỏ đạo gốc, bằng lòng tuân lệnh,
cúi đầu chịu rửa tội theo Đạo Kitô La Mã của họ, thì được yên thân sống còn với
gia đình. Ai không đáp lời theo Thiên Chúa của họ, họ liền bắt giam, tra tấn,
hành quyết nhiều cách như chôn sống, thắt cổ, rồi kết tội theo Cộng Sản.
Bài ca “Tiếng gọi thanh niên”
được chứa đựng một số tư tưởng hướng lên tổ quốc và dân tộc mà người Việt yêu
nước không thể ngồi yên trước Tổ quốc và dân tộc ba miền đang bị trong gông cùm
của giặc Pháp thật ác liệt, không thể ở thị thành, làng xã, phải tản cư vào rừng
núi đầu xuân 1947 – 1949 mới từ từ hồi cư. Riêng những người Việt theo Thiên
Chúa Kitô tại các xóm Đạo Kitô được ở yên một chỗ, được lính Pháp xây lô cốt
canh gác bảo vệ, ăn ngon ngủ kỹ. Tất cả toàn dân theo Đạo Phật, Nho, Lão Cao Đài
trên toàn quốc đều phải tri hành những tư tưởng vì dân vì nước ở bài ca trong
công cuộc đánh Pháp, giải phóng dân tộc ra khỏi gông cùm, xiềng xích giặc Pháp.
Tư tưởng của bài ca, cùng với
nhiều hình ảnh toàn dân Việt kháng chiến chống Pháp, đã đi vào trang sử Việt
ngàn đời không phai.
Toàn thể dân Việt Nam, đàn ông,
đàn bà các giới ở tuổi 65 trở lên 80 – 90 hiện nay ai cũng đã một thời bồng bế
con cái chạy vào rừng núi đầu mùa xuân 1947 để lánh giặc Pháp, bằng không sẽ bị
chúng tàn sát. Duy chỉ có những giáo dân Kitô là không tản cư vào rừng núi.
Người viết là một nhân chứng lịch sử khi tuổi lên 6 theo bố mẹ và các chị đi
tản cư vào núi rừng Minh Mạng, Gia Long. Lúc Pháp đổ bộ vào Huế 16-1-1947 mùa
xuân. Đó là một sự thật lịch sử. Xin các bác người Việt Cần Lao Kitô và các sư
VHĐ VPII đừng chụp mũ người Viết là Cộng Sản. Cảm ơn!
Tư tưởng của bài ca “Tiếng gọi
thanh niên” là tư tưởng yêu nước của toàn dân Việt ba miền, hướng lên tổ quốc,
khi nhìn thấy đất nước và dân tộc đang bị giặc Pháp trở lại đô hộ ác liệt hơn
xưa, ai cũng phải đem tâm cứu dân tộc bằng nhiều cách theo khả năng của mình.
Với các thanh niên trẻ và trung
niên thì lên đường cầm súng, tầm vong vọt nhọn, mã tấu xong pha diệt giặc. Còn
các cụ ông, cụ bà, các chị trung niên, các đồng niên, thiếu niên ở nhà (hậu
phương, yểm trợ chiến sĩ tiền tuyến). Cho nên bài ca có lời kêu gọi thanh niên,
chứ không kêu gọi cả toàn dân lên đường như Diệm, Thiệu.
Vậy mà hai chế độ Đệ I và Đệ II
VNCH trong Nam dưới thời ông Diệm, ông Thiệu lại kêu gọi “Này công dân ơi đứng
lên đáp lời sông núi”. Quá ư tham lam, kêu gọi cả toàn dân, già trẻ, gái trai.
Trong khi bài ca chỉ kêu gọi duy nhất là tuổi thanh niên.
Bài ca “Tiếng gọi Thanh niên” dù
cho có đổi lời “Này thanh niên ơi” thành “Này công dân ơi” đi nữa, cái nguyên lý
yêu nước của toàn dân đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó ngàn
đời vẫn không thay đổi.
Hai từ “SÔNG” và “NÚI”, được
biểu thị cho hồn thiêng tổ quốc, các bậc tiền nhân ở ngôi vị nhân sĩ yêu nước,
tướng quân. Như quý Ngài Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh
Giản, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, v.v....
Quý Ngài sống đời đạo đức, công
minh liêm chính, đem thân giúp nước, dấn thân trong lửa đạn bạo lực thực dân
ngoại xâm, đối diện trước gươm dao của giặc, thà chết không lui, chỉ huy đoàn
quân Vệ Quốc tiến bước đánh đuổi ngoại xâm, cứu dân tộc thoát vòng nô lệ, đem
lại độc lập, hòa bình dân tộc.
Quý Ngài còn đó, đang hiển
Thánh, hiển Thần đúng với lời dân tộc đã nói “Sống vi tướng, tử vi thần” sau khi
nhìn thấy hiển linh nơi Lăng Miếu. Quý Ngài đang thong dong, rong chơi nơi Sông,
Núi hữu tình, không quên hiển linh giúp sức cho các giới thanh niên hậu lai của
mình luôn được chân cứng, đá mềm trên bước đường chống giặc ngoại xâm.
Với người Việt theo Tam giáo
đồng nguyên (Phật – Nho – Lão có cả Cao Đài – Hòa Hảo) đều có tâm Thánh Thiện,
nên được thấy sự linh thiêng của Tiền nhân, quốc tổ mình, mà đem tâm cầu nguyện,
được Chư Anh linh, Hồn Thiêng sông núi hộ trì được thắng ngoại xâm, giành độc
lập dân tộc.
Bài ca kêu gọi thanh niên đánh
Pháp, còn hai chế độ Đệ I, Đệ II VNCH kêu gọi toàn dân đứng lên đáp lời sông
núi, để chống ai? Đúng là mị dân rõ ràng. Không thấy chống Pháp, chỉ thấy họ
đánh phá Phật giáo ở hậu phương, và đánh lại hai lực lượng dân tộc, đó là MTDT
Giải Phóng Miền Nam và Vệ Quốc Quân Hà Nội, để giành giựt mảnh đất miền Nam
thành nước Chúa dâng cho tập đòan đế quốc Vatican. Làm cho những thanh niên hậu
lại hiểu lầm câu “đáp lời sông núi”, là đáp lời Chúa (thượng đế) gọi lên đường
đánh Phật giáo, đánh anh em trong nhà, không thấy đánh Pháp. Đúng như trong hiến
pháp Đệ I VNCH có ghi: “Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di
dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để
hoàn thành sứ mệnh trước Đấng Tạo Hóa và trước nhân loại, là xây dựng một
nền văn minh nhân bản và phát triển con người toàn diện... (Đấng TẠO HÓA ám chỉ
cho Đức Chúa Trời mà người Việt KiTô Giáo thường dùng)

Do vì bị hiểu lầm cụm từ Đáp Lời
sông núi, là đáp lời Đức Chúa. Hay nói rõ hơn đáp lời hai vị Tổng thống Diệm và
Thiệu trong việc đàn áp những người dân Tam Giáo Đồng Nguyên (Phật, Nho, Lão) để
xây dựng nước Chúa tại miền Nam, cho nên một thanh niên Kitô giáo sống trong
tiểu chủng viện từ nhỏ đến lớn. Không biết hằng ngàn thanh niên yêu nước của Tam
Giáo Đồng Nguyên lên đường nhập ngũ tòng quân Vệ Quốc Đoàn, kháng chiến
đánh Pháp vào năm 1947, cho đến 1975. Do vậy, người thanh niên Kitô giáo đó đã
có lời mắng chửi, xua đuổi cha mình, nói rằng cha mình là Cộng Sản, không xứng
đáng làm cha. Khi anh ấy cải tạo ở trại Tân Lập K5, được người cha vào thăm. Câu
chuyện ấy, người viết được một cựu tù nhân chính trị diện HO tại quận CAM kể
lại.
Người tù cải tạo HO ấy viết lại
câu chuyện Chửi Cha sau đây:

Câu Chuyện Con Chửi Cha.
Anh chàng Kitô giáo thuộc dòng
họ các đời vua nhà Nguyễn, cho nên họ của anh là Bửu (last name). Ta không gọi
tên, chỉ gọi họ, đúng theo cách gọi của Mỹ. Ta gọi anh ấy là anh Bửu. Gia đình
anh Bửu theo đạo Phật cho nên cha anh mới vào đoàn quân Vệ Quốc Đoàn vào mùa
xuân năm 1947 để kháng chiến chống thực dân Pháp. Chứ thanh niên Kitô giáo VN
không có ai vào lực lượng quân đội Việt Minh cả.
Cha anh đi rồi, mẹ anh phải tần
tảo nuôi con giữa lúc thực dân Pháp hành quân bố ráp, tìm kiếm những thanh niên
theo Việt Minh, đã gây nhiều khó khăn việc làm ăn sinh sống cho toàn dân.
Mẹ anh không yên tâm, sợ lính
Pháp, sợ người Kitô giáo ở Huế biết được chồng mình vào Vệ Quốc Đoàn, khi họ
điều tra ở các con mình, chúng nói ra, họ biết được là khốn khổ cả mẹ lẫn con.
Nhất là ông Diệm mới lên Tổng Thống 1956, ông Diệm ra lệnh những gia đình có
người đi Việt Minh, tập kết ra bắc, người trong gia đình, sáng đi làm ăn, tối
đến ngủ ở Hội Đồng Xã. Mẹ đi ngủ xã, còn các con thì sao! Nên chi bà liền đem
anh Bửu và anh của anh Bửu vào chủng viện Thiên Chúa nhờ các linh mục nuôi dùm,
một công hai việc, được có cơm ăn, học hành và để cho các con không biết người
cha của mình đi Việt Minh đánh Pháp. Kể từ đó bà im lặng suốt hai mươi mốt năm,
không nói lời nào về chuyện chồng đi theo Việt Minh, con mình theo Đạo Kitô. Cho
đến khi hai con của bà ra trường Đạo, được làm chức cao trong Đệ II VNCH. Anh
của Bửu không biết làm ngành gì. Chứ anh Bửu là cán bộ trung cấp tình báo ở bến
Bạch Đằng Sài Gòn. Cơ sở ấy có tên Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo của VNCH,
nhưng vẫn có cán bộ MTGPMN trong đó.
Sau 30/4/1975 anh Bửu vào trại
cải tạo tại trại Tân Lập K5 Vĩnh Phú, Vào đầu mùa đông năm 1978, anh Bửu được
người cha từ Huế ra thăm. Cha anh từ Hà Nội về Huế được giữ chức vụ trưởng cơ sở
truyền thông (hình như giám đốc đài phát thanh Huế).
Một sáng nọ tại bãi tập kết lao
động, anh Bửu được cán bộ trực trại gọi tên ra thăm nuôi, tức là có thân nhân
đến thăm tù cải tạo. Anh nghe gọi tên ra thăm nuôi, anh đứng lên với dáng điệu
ngơ ngác, lấy làm lạ không biết ai thăm mình. Sau đó cán bộ trực trại bảo anh
Bửu về phòng phục sức sơ mi, quần tây.
Anh được cán bộ phụ trách thăm
nuôi dẫn ra nhà thăm nuôi. Cán bộ đi trước, anh theo sau. Khi vào phòng thăm
nuôi, người cán bộ đứng phía đầu bàn bên phải, nhìn qua trái là cha anh Bửu đang
đứng đó, còn anh Bửu thì đứng trước bàn dài, cách khoảng cỡ hai mét rưỡi.
Người cán bộ mở lời: Kính thưa
đồng chí giám đốc. Theo quy chế được ấn định. Thân nhân các trại viên cải tạo,
không phải cán bộ, bộ đội nhà nước, giờ thăm là 30 phút hay hơn một chút hay
giảm thêm tùy theo mức độ cải tạo của trại viên có tiến bộ hay chưa tiến bộ. Còn
những trại viên cải tạo có thân nhân là cách mạng có chức vụ nhà nước ở các bộ
phận quân đội hay các ngành, thì được ưu tiên về thời gian là một giờ hay hơn.
Vậy đồng chí giám đốc cứ tự
nhiên nói chuyện thoải mái với anh Bửu.
Nói xong, người cán bộ nhìn anh
Bửu nói: “Anh Bửu, sao anh không có lời chào mừng cha anh vậy?”
Cha anh Bửu, không chờ đợi con
mình nói lời chào mừng. Ông ấy liền bước tới, đưa hai cánh tay lên, miệng phát
lời: “Con! Bửu... Ba đây! Anh Bửu liền bước lùi, ngã người ra sau một chút, đưa
cánh tay phải gạt mạnh, miệng nói: “Ông không phải là cha tôi. Ông là tên
Cộng Sản. Tôi với ông là hai chiến tuyến. Tôi không chấp nhận sự thăm và quà cáp
của ông cho tôi...”.
Cha anh Bửu ngất xỉu, liệm cả
người, ngồi bệt xuống đất, đưa mắt nhìn anh Bửu, không nói nên lời cùng với
tiếng khóc nấc. Sau đó, cha anh Bửu đứng lên, ngồi vào ghế, nhìn anh Bửu nói
rằng: “Con à! Con nên thông cảm cho ba, vì hoàn cảnh đất nước ta bị giặc Pháp
trở lại đánh chiếm, tiếp tục đặt nền đô hộ dân ta vào năm 1947 lúc các con còn
nhỏ không hay biết đến chuyện ấy. Là người trai thế hệ, giữa lúc tổ quốc, dân
tộc bị lâm nguy vào tay giặc Pháp. Các thanh niên Huế đều lên đường vào bộ đội
Vệ Quốc Đoàn, mà ba trốn tránh coi sao được với dòng họ vua chúa của mình, đã bị
miệng đời kết tội “cõng rắn cắn gà nhà”, Bảo Đại theo Đạo Thiên Chúa, làm quốc
trưởng bù nhìn, cho nên ba phải ra đi. Tuy nhiên trước khi tập kết ra Bắc mấy
tháng, ba chuẩn bị ra đầu thú chánh phủ Bảo Đại đầu năm 1954, để về sống với gia
đình, nhưng bị lính Pháp phục kích trên các nẻo đường chung quanh Huế, làm sao
ba ra được. Thôi thì đành phải đi ra Bắc với mọi người.
Người cán bộ thăm nuôi ngồi ở
phòng trong, có nghe âm thanh hai cha con anh Bửu nói ở phòng ngoài, nhưng tâm ý
chưa nhận rõ nội dung. Đến khi để ý mới nhận ra hai thứ âm thanh rõ rệt. Một
mang tính chống đối, một mang tính bị chống ở lời giải thích, phân trần trầm
buồn.
Người cán bộ liền bước ra, thấy
anh Bửu vẫn đứng yên chỗ cũ từ khi mới vào, với trạng thái hung hãn, hai chân hỡ
ra, một thẳng, một nghiêng tới trước, cánh tay trái chống nạnh, cách tay phải
thòng xuống xuôi theo chân phải, đầu nghiêng qua trái, đưa mắt nhìn cha anh một
cách đăm đăm. Làm cho đôi mắt trợn ngược, để lộ hai con ngươi tròn xoe, trắng
ngà được thấy rõ ở phía sau đôi kính trắng dầy cộm. Đôi môi mỏng của anh thi
nhau nhóp nhép, phát ra từng đợt âm thanh, nào là “ông là Cộng Sản vô tôn giáo,
ông ra đầu thú chính phủ quốc gia của Bảo Đại có tôn giáo, để làm gì? Để về nhà
mẹ tôi à? Nói cho ông biết, mẹ con tôi là người có Đạo Kitô, không thể chứa chấp
một kẻ vô thần như ông. Mặc dù hiện nay ông có mặt ở Huế, nhưng ông không là gì
đối với mẹ con tôi”.
Người cán bộ liền lên tiếng:
“Anh Bửu, anh không được nói như vậy! Anh hãy đứng cho nghiêm túc!
Anh Bửu liền hết chống nạnh,
đứng thẳng người, đôi mắt nhìn lên không đối tượng.
Người cán bộ nói tiếp:
- Anh Bửu! Anh có thấy anh có
ngôn ngữ và thái độ vô lễ, bất kính đối với cha anh, hay không?
Anh Bửu nhìn người cán bộ, nhìn
cha anh, nhìn xuống sàn nhà trong im lặng.
Người cán bộ nói lớn một cách
khẳng khái:
- Được rồi! Anh hãy nói lời chào
cha anh trước khi vào trại.
Người cán bộ quay sang cha anh
Bửu nói khẽ:
- Giờ thăm của đồng chí, mặc dù
chưa hết, nhưng xét thấy đồng chí bị chìm ngập trong không khí ngộp thở, không
có ấn tượng tình cảm, tình người, hạnh phúc tý nào trong tâm hồn!
Cha anh Bửu đáp lời:
- “Qua ngôn ngữ và hành động vô
lễ, bất kính, bất hiếu của con tôi, đối với tôi vừa rồi. Tôi cảm thấy thương nó
hơn là trách nó, cũng không trách những người trong tiểu chủng viện Thiên Chúa ở
Huế làm công tác dạy chữ nghĩa, văn chương đám trẻ. Mà đáng trách những người
Thiên Chúa có chức tước trong chính quyền miền Nam quá khứ. Họ đã cố tình nhồi
nhét những tư tưởng vong ơn, vong bản, bất hiếu,v.v... đối với các bậc tổ tiên,
ông bà, cha mẹ,v.v... vào tâm hồn các thanh niên trẻ ở cấp dưới của họ. Chính
con tôi đã bị nhiễm những tư tưởng bất hiếu, vong bản, vong ơn đó của họ, như
đồng chí đã vừa nghe thấy rõ ở ngôn ngữ và hành động con tôi”.
Ở lãnh vực chính trị của bên
này, bên kia trong chiến tranh, không ai cấm ai tuyên truyền để lôi kéo người
dân trong nước về với mình, các dân tộc trên thế giới hướng về mình. Sự tuyên
truyền ấy có chiến lược nói về mình có chính nghĩa rõ ràng cho dân mình nghe,
cho quốc tế thấy được nước tôi bị ngoại bang xâm lược. Về chiến thuật, là lừa
lọc, gài bẫy nhau, ai bị là thua. Điều đó được thấy các bên chiến tranh trên thế
giới ngàn xưa, có ai đâu bất nhân đem lời phá vỡ nền đạo lý hiếu thảo, báo ân,
đáp nghĩa của con cái đối với cha mẹ, để cắt đứt tình ruột thịt, làm cho những
đứa con mang tội vong ơn hai đấng sinh thành của mình mà thất lộc. Như những
người Việt theo Đạo Thiên Chúa lãnh đạo chính quyền miền Nam vừa qua, đã chủ
trương xóa bỏ các đạo lý ấy, là việc làm sai trái đạo lý chính thống của Thiên
Chúa thời nguyên sơ ở Do Thái.
Sở dĩ tôi nói một vài tư tưởng
về Đạo Thiên Chúa ra ở đây, vì tôi là thế hệ trước được học, được biết lịch sử
thế giới, cho nên nói ra để cho đồng chí và con tôi là thế hệ hậu lai, có dịp
được biết đạo lý Thiên Chúa chính thống ở Do Thái mà các nước Đống Âu đã theo,
không giống Đạo Thiên Chúa La Mã, mà người Việt ta đã theo. Đạo Chúa gì mà quá
độc ác đối với nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung.
Họ hành động ác đối với dân ta
không theo họ, chỉ vì họ quyết chiến thắng lực lượng cách mạng giải phóng dân
tộc của ta ra khỏi ách độ hộ ngoại bang, nhưng họ quá dại dột làm mất lòng dân ở
nhiều hành động trái đạo lý tổ tiên VN, Phật giáo và Thiên Chúa cổ truyền.
Tuy nhiên, với giáo dân VN, họ
ăn ở hiền lành, do được còn một chút bản chất Đạo Phật từ tổ tiên, ông bà xưa
của họ lưu lại trong huyết thống. Chứ còn những người Thiên Chúa trong chính
quyền Diệm Thiệu trước đây, họ đã tự đánh mất luôn cả tính nhân bản con người,
huống hồ Đạo Phật làm sao còn được.
Nói xong, cha anh Bửu nhìn anh
Bửu thầm lặng, bặm môi, nhìn xuống qua mấy giây như để đè những dòng sóng xúc
động, đang dâng trào lặn xuống đáy lòng, đoạn ông mở lời:
- Bửu con! Những gì ba nói nãy
giờ, là nói riêng cho con. Nếu không nói, đây là cơ hội có một không hai để cho
con được biết giữa hai tôn giáo Phật giáo và Thiên Chúa giáo La Mã. Giữa hai
chính thể VNCH miền Nam và chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc. Bên nào
có chính nghĩa, bên nào phi chính nghĩa để rồi bị thua. Bên nào có đạo lý nhân
bản, bên nào ác độc, phi nhân nên bị thua.
Đích thực, chính thể VNCH của
con bị thua, và tan rả toàn bộ, không còn một manh giáp. Chính đó là bài học vô
giá cho con. Con nên tư duy lại để nhận ra những gương mặt trong đó không phải
Việt Nam.
Cha anh Bửu ngưng nói, nhìn sang
người cán bộ phụ trách thăm nuôi bên cạnh. Người cán bộ hiểu ngay cha anh Bửu
muốn chấm dứt cuộc thăm. Liền nở nụ cười trên môi, cất tiếng:
- Em xin cảm ơn đồng chí niên
trưởng. Những lời đồng chí niên trưởng nói vừa rồi, làm cho em được hiểu thêm
Đạo Thiên Chúa La Mã ở miền Nam rất khác với Đạo Thiên Chúa chính thống ở các
nước Đông Âu, mà em cũng đã được nghe mấy ông anh họ làm việc trong bộ văn hóa
Hà Nội, đã có lần được đi thăm viếng ở các nước Liên Xô. Hung Ga Ri, Tiệp... về
kể lại, Đạo Thiên Chúa bên các nước ấy rất hiền lành. Phải chi, Đạo Thiên Chúa
nước ta trong Nam, giống như Đạo Thiên Chúa Đông Âu, thì đất nước ta đã độc lập,
thống nhất Nam Bắc từ lâu, đâu có đến tới giờ này đã làm cho hằng triệu thanh
niên và người dân hai miền đã bị nằm xuống do những người Thiên Chúa giáo Việt
Nam trong chính quyền VNCH vì họ không phải Việt Nam, như đồng chí giám đốc nói
vừa rồi.
Người cán bộ vừa ngưng lời, xoay
qua anh Bửu ra lệnh:
- Anh Bửu! Anh hãy nói lời xin
lỗi bố anh, để bố anh được vui lòng!
Anh Bửu vẫn cứ đứng yên, bậm môi
thật cứng làm cho đôi môi mím chặt lại, đôi mắt khép hờ sau kính trắng dầy cộm.
Thấy vậy, người cán bộ nhìn qua
cha anh Bứu nói khẽ:
- Anh ấy bướng bỉnh lắm! Thôi
thì đồng chí giám đốc trao quà cho anh ấy để anh ấy vào trại. Một ngày nào gần
đây, các cán bộ giáo dục trại sẽ làm việc với anh Bửu.
Cha anh Bửu quay lui vô bàn, đưa
tay lấy bao nilong được cột kỹ thật vuông vức, rồi bước tới trước mặt anh Bửu,
nói:
- Đây là quà của mẹ con gởi cho
con, nhân dịp ba ra thăm. Con hãy nhận để bồi dưỡng cơ thể. Con! Con nhận đi để
ba mẹ được vui lòng.
Anh Bửu đưa tay hất mạnh, nhưng
gói quà không rớt xuống.
Người cán bộ liền quát lớn:
- Anh Bửu! Anh không lấy, tôi sẽ
báo cho cán bộ giáo dục, cùm anh vào nhà kỷ luật ngay trưa nay.
Anh Bửu liền đưa tay lấy một
cách miễn cưỡng, kẹp vào nách trái, đến đứng gần ngưỡng cửa, chờ đợi lệnh cán
bộ.
Người cán bộ bắt tay cha anh
Bửu, cùng với lời chào tạm biệt, chúc cha anh Bửu trên đường về được bình an,
quay ra cửa, hất hàm nói:
- Anh Bửu, anh đi trước!
Anh Bửu bước ra cửa, đi từng
bước theo cách bị áp tải, người cán bộ theo sau.
Cha anh Bửu cũng bước theo ra
khỏi cửa nhà thăm nuôi, đứng đó dõi mắt theo người con của mình, cho đến khi anh
Bửu khuất sau hai cánh cửa cổng trại.
Kết luận
Chưa kể vấn đề truyền giáo để cải đạo, dư đảng Cần Lao là một thứ vi khuẩn độc hại cho cả hai mặt văn hóa lẫn chính trị. Họ đã và đang xâm nhập ngôi nhà Phật giáo của chúng ta bằng nhiều cách. Hoặc minh thị mựợn cớ hoạt động xã hội, hoặc giả danh, giả dạng làm Phật tử. Nơi nào có bóng dáng chân tay của họ, nơi đó chẳng chóng thì chầy sẽ xảy ra phân hóa, xáo trộn trong giới Phật tử. Mong mọi người ý thức được mối nguy hiểm này và sớm ngăn chận tất cả mọi ảnh hưởng của họ ngay từ trong trứng nước. Cửa nhà Phật không thể để con bệnh gây bất an làm mất thanh danh của một "tôn giáo hòa bình" của thế giới.