 |
10 tháng 6, 2008
|
Chân dung Nhất Linh
(Tập hồi ký)
1 2 3
Lời nhà xuất bản
Nhân ngày giỗ tất cố văn sĩ Nhất Linh, chúng tôi hân hạnh giới thiệu
cùng bạn đọc tuyển tập Chân dung Nhất Linh, gọi là thắp một
nén hương thành kính dâng lên hương hồn người đã khuất.
Chân dung Nhất Linh gồm những nét phác hoạ ông như một người bạn,
người anh, người cha, bác, chú, và như một người dẫn đường cho thế
hệ đi sau.
Phần lớn những bài in trong tập này trước đây đã được đăng báo.
Những số báo đó nay đã trở thành hiếm có. Chúng tôi thiển nghĩ việc
làm của chúng tôi sẽ không là một việc thừa: nó sẽ cung ứng cho bạn
đọc một số tài liệu cần thiết để tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của
một nhà văn đã có một vị trí rõ ràng trong văn học sử: một nhà văn
mà tên tuổi chắc chắn sẽ còn được nhắc nhở tới nhiều trong mai hậu.
Tạp chí Văn
Bùi Khánh Đản
Khóc bạn
Qua hai cõi, nếu giờ đây tôi còn có thể nói gì với anh thì chỉ là
những cảm nghĩ tự đáy lòng: thương anh thì ít, nhưng giận anh lại
rất nhiều. Tôi không giải thích được rõ ràng tại sao, nhưng chỉ biết
đó là những cảm nghĩ rất chân thật, rất tự nhiên, đã rung động lòng
tôi không dứt. Trong cái bàng hoàng lúc nghe tin anh đi, tôi cứ vò
đầu bứt tai, dằn vặt mãi với câu nói thốt ra một cách bực tức giữa
đôi hàng nước mắt dàn dụa: “Vô lý quá! Thật là vô lý! Sao lại đi? Ừ,
sao lại có thể đi thế?”. Tôi không bao giờ muốn hỏi: “Tại sao anh đã
đi?”. Tôi bất cần những lý do “ngoại lai”, vì nếu tôi đặt bất cứ một
câu hỏi gì ngoài cái mật thiết giữa anh và tôi, tôi lại sợ nó giảm
đi phần nào cái rung động tự nhiên ấy. Tôi cần gì phải tự an ủi: như
thế là tròn, là đạt, là cao khiết, để nhẹ bớt nỗi đau, cũng như tôi
không cần phải lý luận như: quốc gia thiệt công dân gương mẫu, anh
em mất người hướng dẫn cao cả, gia đình thiếu người chồng người cha
thân mến v.v… để tạo thêm những nỗi niềm chua xót đắng cay. Những
chua xó phát sinh bởi các sự kể lể ấy, tôi thấy nó có phần nào không
xứng đáng với chân thành. Tôi giận, vì anh đã tính toán kỹ quá,
nhưng chỉ về một mặt bản thân và xã hội còn quên hẳn mặt tình cảm
đối với gia đình và bè bạn, trong đó có tôi. Mất anh, tôi giận lây
cả đến các công cuộc suy tôn tử hậu, cả đến sự sùng bái anh hùng
liệt sĩ mà tôi cảm như những cái gì giả tạo trừu tượng, đâu có thể
đánh đổi được sự tha thiết gần gụi một kẻ mến yêu. Sùng bái anh
hùng! Dù muốn dù không tôi vãn phải nghĩ đó là những trò người sống
với công dụng mang tính cách câu chuyện mua ngựa chết của kẻ xưa.
Người ta đã mua đắt xác một con ngựa để mong có những ngựa quý bốn
phương đem lại bán. Kể cả lịch sử nữa thì lịch sử cũng chỉ để cho
người sống đọc, anh ơi. Anh có quan niệm chết là gì không? Là cả một
cái vực sâu vô cùng tận, là một “sự không” lớn hơn hết các “sự
không”, là xoá mình trong vạn cổ để rơi vào một cõi bao la vô tận,
mênh mông hơn cả vũ trụ mênh mông. Vậy mà anh đã đi vào đấy! Vợ anh,
con anh, bạn anh và tôi không thể tưởng tượng là trên cái ghế nằm từ
nay sẽ không thấy anh, cái tẩu thuốc trơ ở đó, những bao thuốc xanh
bán đầy dẫy mọi nơi sẽ không có anh mua nữa! Vài bộ sách tàn tạ – ôi
mỉa mai, những gì còn sót lại của một cuộc đời văn chương soi sáng
cho nền quốc học – rồi ai sẽ đọc đây? Không! Không thể thế được!
Không ai dám nghĩ là anh đã mất hẳn. Tất cả những cái gì ràng buộc
giữa người thân đâu phải là sự nghiệp cao cả là danh tiếng huy
hoàng…, mà chỉ là những cái vặt vãnh trong cuộc sống, những cái gì
tuy vô nghĩa nhỏ nho nhưng lại mang những giá trị tâm tình rất lớn.
Tôi nhất định quên anh ở địa vị cách mạng, chính trị và văn chương,
mà chỉ nhớ tới một con người mang những nét phong sương dầu dãi, cặp
mắt thường chìm giữa muôn vạn ưu tư, đôi lông mày rậm với bộ râu mép
ít khi cắt sửa… Nụ cười dịu dàng hiền hậu không-bao-giờ và cũng
không-thể-bao-giờ tắt được. Trong cái thời kỳ đen tối của thế sự,
sống với nhau những thời gian đau buồn ngắn ngủi, anh và tôi đã hết
sức tránh không muốn đề cập tới những thắc mắc ưu ái xa xôi mà chúng
ta coi như những vết thương lòng ghê gớm không nên động tới. Thảng
hoặc lúc đàm đạo có vô tình đưa tới vấn đề ấy, tức thì cả anh lẫn
tôi như chợt tỉnh và tìm ngay những chuyện khác để che đi. Cái lần
ngẩng lên thấy đôi cuốn sách trinh thám bỏ góc nhà, tôi đã vội hỏi
một cách vu vơ: “Anh thích Simenon hay Peter Cheyney?”. Và anh cũng
trả lời vu vơ không kém: “Agatha Christie hơn cả”. Những câu chuyện
“bình phong” đó thấm cảm lòng hai người nhiều lắm. Tôi bỏ về phòng
để phục xuống rấm rứt, lát sau nghe tiếng chân anh nhè nhẹ tiến vào,
nhìn rồi khẽ khép cửa đi ra. Chuyện ấy mới xảy ra hôm qua, không,
ngay hôm nay, ngay trước mắt tôi hiện giờ, tôi quên sao được. Cũng
như tôi không quên một đêm trừ tịch năm nào ở cao nguyên, sau hàng
giờ ngồi với nhau không nói, tôi cùng anh đánh xe vào rừng chơi,
giữa cái giá buốt của ngoại cảnh và nội tâm. Vẫn những nỗi ưu tư
đồng tính làm hai ta không thốt nên lời, mãi sau khi qua bốn quãng
đường đèo anh mới nói: “Có loại lan rừng chỉ về đêm mới toả hương
thơm”. Thế là xe tìm lối nhỏ để thâm nhập ngàn sâu. Chúng ta bỏ xe,
và do anh dẫn đạo, vạch lá tìm đến những “vườn” lan thiên nhiên của
anh trong rừng thẳm. Sau một thôi đường dài vất vả, tôi với anh dừng
chân giữa một mùi hương kỳ ảo, vật vờ nhè nhẹ, phảng phất xa gần.
Tất cả những gì quanh tôi bấy giờ đều thành linh vật, từ lá cây ngọn
cỏ, mô đá vòm sao, và trong đám ấy có những “nàng lan” vô hình, đã
chung họp với chúng ta để chia dòng thông cảm…
Giờ đây, mỗi khi đọc lại câu thơ:
Nhớ khi ném bút, quên tin tưởng
Lửa đốt rừng hoang, tôi với anh.
tôi lại ngửi thấy mùi hương cũ, lại trông thấy nét mặt suy tư của
anh qua ánh lửa rừng giữa cái cảnh giá lạnh của “nửa đêm đông và nửa
đêm xuân”.
Tôi đã nói những ràng buộc tha thiết của tôi với anh chỉ là những
cái vặt vãnh nhỏ nhặt không đâu. Kể cả các kỷ niệm khác, các chuyến
đi khác, đến nay tôi đều quên hết mục đích và dự định mà chỉ còn lưu
lại những hình ảnh nhỏ, những hành động tự nhiên, bất kỳ ở bờ biển
sườn non hay trên dòng sông lộng gió. Tôi rất thèm cái tình nặng của
những bạn khác đối với anh, dù chỉ trong nghĩa “đạm nhược thuỷ” mà
sau khi anh đi, cũng thấy chứa chan hàng mươi lăm kỳ báo. Tôi cũng
thèm cả cái nghĩa lớn cả một số anh em cùng hướng, dù cả đời chỉ đôi
lần “đối diện đàm tâm” mà cũng có thể tiễn anh bằng những lời thống
thiết rung cả vạn tấm lòng trong những buổi truy điệu uy nghiêm. Còn
tôi, với mối tình rất đàn bà, lại thấy thù ghét những cái vòng xích
tàn nhẫn của đời nó đã lôi cuốn đến mất anh. Tôi tưởng chừng như con
đường quá vãng đã đưa chúng ta vào lầm lạc, vì chúng ta không hiểu
được nghĩa “sát-na” của đạo Phật mà đánh giá khác biệt giữa sự
nghiệp chỉ huy muôn người của một ông tướng với công việc cày mảnh
ruộng nhỏ của một nông phu nuôi cả gia đình. Phải chăng ta không nên
quan trọng chuyện đời theo tầm lớn nhỏ mà chỉ nên đo giá trị bằng
mức độ thành tâm?
Ngày nay:
Vũ Hán Tô Châu, chuyện cũ rồi
Ván cờ thành bại, thế nhân ôi.
tất cả các việc xưa đều đi vào cõi mộng. Còn cái gì thực, có chăng
chỉ là cái ghế không người nằm, cái tẩu thuốc không người hút, vài
cuốn sách không người đọc và đôi vòng khăn trắng trên đầu vợ con
anh. Còn cái gì thực, có chăng chỉ là sự mất anh. Có lẽ tôi gàn,
không truy niệm sự nghiệp anh bằng những danh từ lớn. Nhưng tôi e
ngại, cho đó là công việc tạo tác tình cảm, vả lại như trên đã nói,
tôi muốn rất chân thật chỉ nói lên những tâm tư phản ứng trực tiếp
trước sự mất anh. Nếu được bắc đồng cân đánh giá thì tức khắc tôi
thấy ngay sự sống của anh còn cần hơn muôn lần thêm danh tiếng.
Vì đôi ý đó mà tôi giận anh. Bữa đưa anh lần cuối, tôi thầm lặng đi
sau, chưa chắc đã phải là tiễn anh, nhưng là theo dõi để bực tức
cùng anh. Rồi sau đó, tôi xuống mộ, cũng không phải để viếng mà là
để “cãi nhau” với anh. Sao anh lại đi? Sao anh lại có thể đi như
thế? Nếu cách mạng là cái nghiệp chung đi nữa, thì sao anh không
nghĩ là phải làm vì người sống, cho người sống, và lẽ cốt yếu vẫn
là: anh phải sống!
Khóc anh, tôi không muốn làm thơ, vì tự thấy bất tài không tìm được
những câu tuyệt bút để nói hết tâm tình bi thiết, và nếu gượng gạo
thì nỗi niềm sẽ bị gọt dũa thêm bớt, mất hết chân thành. Nhân chuyện
hiển linh của một bồ tát trên ngọn chân hoả, tôi được đọc những bài
thơ nhiều đoạn hay, nhưng rất tiếc lại kèm theo những đoạn mà kỹ
thuật khắc khổ đã đem vào những tâm tình giả tạo gượng ép làm chết
cả thơ. Nếu tôi đã xót xa vì tiếng khóc nàng Kiều:
Ôi Kim Lang, hỡi Kim Lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.
thì tôi cũng rất khó chịu với những câu gọt dũa giả tạo:
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi.
hoặc với câu đối khóc vợ:
Đất chẳng phải chồng, đem gửi thịt xương sao đặng
Trời mà mất vợ, thử xem gan ruột mần răng.
Có lẽ khi làm xong câu này, tác giả đã rung đùi thú vị tự đắc với
mấy chữ đối tài tình mà quên hẳn hồn vợ hãy còn phảng phất bên linh
vị.
....................................
Một năm qua rồi. Đã bao lần đêm đêm tôi ngồi dậy để thấy lòng nao
nao như người bị hối hận vì mang một mặc cảm tội lỗi không thể tha
thứ trong sự vĩnh quyết của anh, vì có đôi lần bạn G. cho biết: do
một bài thơ thúc giục mà anh đã bỏ vườn lan cao nguyên để trở lại
văn đàn, và từ chỗ đó dẫn dần đến sự chia biệt ngàn thu. Anh ơi, tôi
không chối cãi cái tội mà tôi coi như một vinh dự ấy, nhưng thật ra
tôi đâu có xứng. Tôi tin tấm lòng hoài bão trở lại văn đàn, anh đã
đeo nặng từ lâu, đó là lẽ tất nhiên của con người mang một thân thế
như anh. Nếu có chút khích động nào để anh cả quyết thực hành ý định
thì đôi lời thơ cũng chỉ như giọt cuối cùng làm tràn ly nước đã đầy.
Hôm qua đây, nhân ngày giỗ đầu của anh, trước bàn thờ nhỏ trong một
ngôi chùa vắng ở ngoại ô, tôi lại được nghe chị bảo: “Tại anh đấy!
Nhà tôi trở lại làm báo chỉ vì câu thơ:
Say sưa chi mấy tình vương giả
Mà để lòng quên nợ bốn phương.
Qua màn nước mắt, tôi lặng nhìn di tượng của anh mập mờ trong cảnh
âm u của Phật đài, không đáp thẳng chị, tôi nghẹn ngào thốt được một
câu: “Tôi bực lắm! Tôi giận anh lắm, chị ơi!”.
Nguyễn Hữu Phiếm
Nhớ về Nhất Linh
Người ta đã viết và nói nhiều về Nhất Linh trong khi anh còn sinh
thời cũng như sau khi anh mất.
Viết hoặc tổ chức những buổi nói chuyện để đề cao một chiến sĩ cách
mạng quốc gia đã noi gương Thượng toạ Thích Quảng Đức, tự huỷ mình
để chống lại một chế độ bạo tàn, để “cảnh tình những con người ác,
làm đèn soi sáng nẻo vô minh”, hoặc để đề cao một văn hào lỗi lạc,
“một ngôi sao Bắc đẩu trong nền văn hoá Việt Nam”, suốt đời chỉ biết
phụng sự văn hoá, vì theo Nhất Linh, chỉ có
văn mới làm cho đời
người đẹp hơn và đáng sống mà thôi.
Cũng có khi viết hay nói về Nhất Linh cốt để tự đề cao mình lên, và
theo tôi, cái đó cũng không lấy gì làm lạ, vì như văn hào Duhamel đã
viết: “Khi một người có danh tiếng nằm xuống thì có biết bao nhiêu
người tự nhận là bạn thân của người đó xuất hiện”.
Nói cho đúng ra, Nhất Linh có rất nhiều bạn – ngoài một số đông độc
giả mến tài anh qua những tác phẩm của anh – vì ai đã gặp anh không
thể không quý anh được. Nhưng trong mấy năm gần đây, nhất là từ sau
ngày đảo chính hụt 1-11-1960, anh bị chính quyền Ngô Đình Diệm lùng
bắt, nhiều người xa lánh anh, cũng như anh, không muốn cho ai vì
mình mà phải liên luỵ, cũng chỉ lui tới nhà một thiểu số bạn, rất
thân của anh, trong đó có kẻ viết bài này.
Có người cho rằng, dù cho có giao du với Nhất Linh thì đã sao, nhất
là trong trường hợp tôi, vốn quen biết anh từ lâu, lại là thầy thuốc
của gia đình anh nữa; nhưng theo tôi, phải sống dưới chế độ độc tài,
như chế độ họ Ngô, mới thấy rằng người dân không có quyền gì hết đã
đành, lại không có cả cái quyền chơi với bạn nữa, nhất là khi người
bạn đó lại đứng về phe đối lập như Nhất Linh. Nếu không tất sẽ bị
khủng bố, và nếu là một công chức, sẽ bị sa thải, “nồi cơm sẽ bị bể”
như ta nói. Điều bi đát này, chính tôi đã được tai nghe một cựu công
chức cao cấp của Ngô triều thuật lại.
Ở đây, tôi chỉ ghi những gì tôi biết về Nhất Linh trong những giờ
phút cuối cùng của anh. Trước hết, tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã
sắp đặt, ít nhất là một tuần lễ trước, cái chết của mình. Bằng cớ là
ngày 30-6-1963, anh tới dự buổi họp của Trung tâm Văn Bút mà trước
đó anh là chủ tịch, không phải vì văn hoá, mà chỉ cốt để gặp mặt một
lần chót các văn hữu của anh trước khi bước sang bên kia thế giới.
Riêng một cử chỉ, “mối tình chân thành” đó cũng đủ cho chúng ta quý
mến Nhất Linh rồi.
Ở Trung tâm Văn bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng tiếc
rằng hôm ấy tôi đi vắng.
Chủ nhật sau, nhằm ngày 7-7-1963, Nhất Linh lại tới vào buổi sáng
hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào.
Vẫn con người dong dỏng cao ấy, vẫn vầng trán rộng và thông minh ấy,
với đôi mắt tuy tinh anh, sáng quắc nhưng đượm một vẻ buồn khó tả.
Phải chăng, tôi nghĩ bụng, anh buồn vì ngày mai anh sẽ phải ra toà
để toà xử về vụ đảo chính ngày 11-11-1960?
Anh mặc rất đơn giản, không khác gì mọi bận anh lại thăm tôi: sơ-mi
trắng dài tay, hở cổ, quần tây màu xanh thẳm, và chân đi giày – vẫn
đôi giày duy nhất ấy – cũ kỹ đến nỗi không nhận được ra màu gì nữa.
Nhất Linh lười mặc lẫn lười ăn, lười uống… thuốc; trái lại, anh rất
chăm làm việc, nhất là chăm đọc, chăm viết. Chả thế mà chỉ trong có
ba tháng trời, trong khi anh lẩn trốn, mà anh còn viết, viết một
mạch xong ba cuốn
Dòng sông Thanh Thuỷ, rồi lại vẽ, lại sửa
bản thảo trước khi đưa in…
Cho hay, khi đời sống nội tâm của con người ta dồi dào, phong phú
thì tất cả những gì thuộc về ngoại vật, đều không đáng kể. Đó là
trường hợp của Nhất Linh.
Như trên vừa nói, Nhất Linh lại thăm tôi vào buổi sáng hôm 7-7-1963.
Anh giơ tay bắt tôi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Tôi đợi anh ngồi
xuống ghế mới cất tiếng hỏi thăm về sức khoẻ của anh. Anh khẽ gật
đầu, và hai mắt chớp chớp như mọi bận.
Tôi ngập ngừng đề cập tới việc hôm sau anh ra toà thì anh lạnh lùng
nói:
"Ông Diệm đã bảo xếp việc này đi rồi không hiểu tại sao lại còn moi
ra."
Tôi nói để cho anh yên lòng:
"Chắc chỉ để khủng bố tinh thần các anh mà thôi."
Rồi tôi nói một câu tiếng Pháp: “Leurs jours sont comptés” (Ngày tàn
của chúng cũng đến nơi rồi).
Vợ tôi đứng gần đấy hỏi anh:
"Mai ra toà anh sẽ khai ra sao?"
"Chị cứ yên trí, anh đáp, tôi sẽ không nói gì hết, y như ông giáo sư
ở trong phim
Jugement à Nuremberg khi ra toà ấy.”
"Không sao đâu, chiều mai chúng tôi sẽ xuống thăm anh.”
“Anh chị lại không gặp tôi đâu.”
Thú thật, khi nghe Nhất Linh nói câu đó, với một giọng bình thản vô
cùng, tôi chỉ có thể đoán được rằng, có lẽ hơn ai hết, anh biết rõ
tội trạng (!) của anh, yên trí sau phiên toà anh sẽ bị kết án, chứ
tôi không ngờ rằng anh nói với ẩn ý là anh sẽ quyên sinh, không chịu
để cho toà xử.
Đang lúc tôi còn phân vân không biết nói gì với anh thì vợ tôi nói:
“Dẫu có thế nào thì chúng tôi vẫn luôn nhớ tới anh, vẫn coi anh như
người anh cả.”
Câu chuyện giữa anh và vợ chồng tôi, đáng lẽ còn kéo dài, nhưng thấy
tôi có khách, anh vội đứng lên và nói rất nhỏ nhẻ:
“Tôi đến để từ biệt anh chị.”
Khi ấy vào khoảng 11 giờ. Chúng tôi tiễn anh ra cửa, và hai chúng
tôi còn đứng trên vỉa hè để đợi tắc-xi trên 10 phút, lặng lẽ cầm tay
nhau, không ai nói với ai một câu, mỗi người có một ý nghĩ riêng,
mỗi người có một mối buồn cành cánh bên lòng. Nhưng thú thật là khi
ấy, tuyệt nhiên trên nét mặt của Nhất Linh, tôi không hề nhận thấy
một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa, anh
sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân yêu của anh để đi vào
lịch sử.
Tôi có thể nói tôi là người bạn cuối cùng mà anh đã hạ cố lại thăm
trước khi mất.
Ngay buổi chiều hôm ấy – vào khoảng 5 giờ – chúng tôi, có lẽ do linh
tính thì phải, dang bàn nhau xuống An Đông thăm anh, bỗng có anh bạn
của Nhất Linh và của tôi, anh K. xồng xộc chạy vào, với nét mặt hớt
hải. Tôi đoán là có việc chẳng lành đã xảy ra cho anh Tam. Quả
nhiên, anh bạn đó tới để báo tin anh Nhất Linh đã quyên sinh và hiện
đang mê man, anh yêu cầu tôi xuống gấp.
Mười phút sau thì chúng tôi tới An Đông. Gặp chị Nhất Linh ở dưới
nhà, tôi không kịp chào hỏi, cứ cắm đầu chạy thẳng lên thang.
Thoáng nhìn nét mặt và nghe hơi thở của anh, rồi bắt mạch, tôi biết
ngay là anh đã quyên sinh với thuốc ngủ, mặc dầu lục lọi chung quanh
chỗ anh nằm không tìm thấy một viên hay một ống thuốc nào. Khi người
ta đã cố tình tự vẫn thì không khi nào để lại một vết tích gì và
không chết bằng cách này thì cũng chết bằng cách khác, đó là cảm
nghĩ của tôi khi đứng trước Nhất Linh.
Tuy nhiên tôi vẫn phải làm phận sự của người thầy thuốc, vẫn phải
chích cho anh một mũi thuốc hồi sinh, rồi cấp giấy giới thiệu với
Bệnh viện Grall để anh được vào nằm điều trị.
15 phút sau tôi cũng tới bệnh viện, vừa lúc bác sĩ thường trực đến.
Chúng tôi thảo luận với nhau một hồi về bệnh tình, có vẻ trầm trọng
của bạn tôi.
Đồng nghiệp của tôi lắc đầu thất vọng, và nói: “C’est foutu!”.
Ông ta toan cho đưa anh xuống “Nhà xác”, nhưng thấy tôi khẩn khoản
quá ông đành ưng thuận cho lên nằm trên phòng bệnh để “còn nước còn
tát”.
Mặc dầu có bao sự tận tâm săn sóc, Nhất Linh cũng trút hơi thở cuối
cùng trong đêm hôm đó. Anh đã được toại nguyện, đã được chết ngày
7-7-1963 là ngày “song thất” của kẻ đã phản dân hại nước.
Trong suốt thời gian nằm trong bệnh viện, anh vẫn mê man không lúc
nào tỉnh cả.
Tâm trạng của tôi, vừa là bạn, vừa là thầy thuốc của anh, tối hôm
đó, thật rối bời bời, và vô cùng phức tạp. Một mặt, tôi cầu chúc cho
anh được tai qua nạn khỏi, mặt khác, lại lo ngại, lo ngại lỡ ra anh
sống, biết đâu mình chả đắc tội với anh vì đã làm trái với chí
nguyện của anh chỉ mong được chết để chống lại những kẻ “chà đạp lên
mọi thứ tự do”.
Nào chỉ có những ý nghĩ vẩn vơ ấy mà thôi! Trong khi anh mê man, nằm
thoi thóp trên giường bệnh, chúng tôi – mấy con anh Nhất Linh và một
anh bạn – bàn tính với nhau để giấu tờ di chúc chính trị do chính
tay Nhất Linh viết làm hai bản, rồi trao cho phóng viên của hai tờ
tuần báo
Time và
Newsweek, theo lời trối trăng của
anh.
Tôi còn nhớ mãi cuộc thảo luận tối hôm đó ở ngoài hành lang bệnh
viện, đối diện với gian buồng bệnh của anh, chung quanh bản di chúc
quan trọng đó. Chúng tôi nhất định không để lọt mảnh giấy học trò
kia vào tay nhà chức trách. Tôi căn dặn mọi người là nếu họ có hỏi
tra thì chỉ đưa ra hai tờ di chúc: một gửi cho bạn bè thân thuộc, và
một gửi cho chị Nhất Linh.
Trong tờ di chúc thứ nhất vẻn vẹn có mỗi một dòng:
Vĩnh biệt tất cả mọi người thân yêu.
Tờ di chúc thứ hai, gửi cho chị Nhất Linh, cũng chỉ vắn tắt hai
dòng:
Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì
hơn nữa.
Ở đây tôi thấy cần ghi là chính bà Nhất Linh cũng không rõ nội dung
của tờ di chúc chồng gửi cho mình, vì sau khi được tin Nhất Linh từ
trần, nhà chức trách đã tịch thâu hết các giấy tờ – trừ bản di chúc
chính trị nói trên – và không chịu trả cho thân nhân anh. Cho đến
mãi hai tháng sau ngày đảo chính 1-11-1963 mới đòi lại được.
Cũng trong cái đêm lịch sử ấy, chúng tôi bàn nhau để loan tin Nhất
Linh tự vẫn cho các bạn đồng chí của anh, hôm sau phải ra toà, ngõ
hầu gây một xúc động lớn tại toà án.
Quả nhiên sáng hôm sau 8-7-1963, tin Nhất Linh tự huỷ mình để chống
lại chính quyền lan đi rất mau khác nào một vệt thuốc súng, khiến
cho dư luận các giới, nhất là giới trí thức, sinh viên, xôn xao, bàn
tán, và ngay cả chính quyền cũng phải sửng sốt hoang mang.
Bản án của Nhất Linh đương nhiên bị huỷ bỏ, còn đối với các chính
trị phạm sắp bị xử, toà có một thái độ bất ngờ. Đáng khen, theo lời
tường thuật của một ông bạn tôi cũng bị đưa ra xử hôm đó, là cử chỉ
can đảm của ông Phan Khắc Sửu, đã đứng ra xin toà cho một phút để
mặc niệm Nhất Linh. Dĩ nhiên là toà không cho phép, nhưng không vì
thế mà không có phút mặc niệm kia.
Chả bù cho thái độ trái ngược hẳn của một chính khách, thường được
nhiều người coi như một nhà cách mạng, khi nghe thấy một số đông
phạm nhân đề nghị đeo băng đen để tang Nhất Linh, bèn từ chối đây
đẩy và thốt lên câu nói bất hữu này:
“Thôi mà, bày vẽ để tang làm gì họ lại phết thêm cho vài năm tù nữa
chả bõ.”
Nghĩ mà buồn và thương hại thay cho những hạng người thường vỗ ngực
là đồng chí của Nhất Linh.
Cái chết của Nhất Linh đã gây nhiều bối rối cho chính quyền Ngô Đình
Diệm, nhất là cho vợ chồng Ngô Đình Nhu, lồng lộn lên như con thú
dữ. Chúng sợ người sống đã đành, chúng sợ và thù ghét cả người chết
nữa, những người chết cồng kềnh (les morts encombrants) như chúng
tôi nói.
Trước kia chúng sợ cái chết của Thượng toạ Thích Quảng Đức, ngày nay
chúng sợ cái chết của Nhất Linh, không những vì Nhất Linh là một
chiến sĩ cách mạng quốc gia có rất nhiều uy tín ở trong nước cũng
như ở ngoại quốc, mà lại còn là một văn hào có tên tuổi, được giới
thanh niên, trí thức mến chuộng.
Tôi dám nói, không sợ nói ngoa, là từ lúc Nhất Linh nằm xuống cho
tới khi đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Vấp, chính
quyền Ngô Đình Diệm đã mất ăn mất ngủ, và tìm mọi cách để phá.
Bằng cớ là ngay sau khi anh mất, họ ra lệnh làm một cuộc phẫu nghiệm
tử thi (autopsie), mặc dầu không có sự ưng thuận của gia đình.
Tất cả là 12 người có mặt trong buổi phẫu nghiệm ngay hôm 9-7-1963,
tại nhà xác của Bệnh viện Grall: 7 bác sĩ, trong đó có một bác sĩ
giải phẫu ngoại kiều của Grall, hai nhân viên Sở Giảo nghiệm, một
viên phó cảnh sát, hai biện lý và phó biện lý của Toà án Sài Gòn.
Dưới đây là kết luận của bản phúc trình pháp y về cuộc phẫu nghiệm
đó:
“Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ, không
thấy thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng
của Nguyễn Tường Tam, cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng
và viện giảo nghiệm”.
Nào chỉ có phẫu nghiệm tử thi mà thôi! Theo lời của một người trong
gia đình anh, có lần chúng toan cướp cả xác của anh, định đem ra
khỏi Grall, nhưng ban giám đốc bệnh viện không chịu.
Riêng về phần tôi, cũng vào buổi sáng hôm thứ ba 9-7-1963, chính
quyền cử một nhân viên công lực tới nhà để hỏi tôi những chi tiết về
cái chết của Nguyễn Tường Tam, trong trường hợp nào tôi quen anh
v.v…
Sau đó ít lâu, lại một nhân viên khác của Sở Giảo nghiệm tới tìm tôi
ở Viện Pasteur để hỏi xem có biết ông Nguyễn Tường Tam đã dùng thuốc
gì để quyên sinh không.
Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của người ấy mà chỉ cho biết là ông
Tam, hồi trẻ, đậu cử nhân khoa học, và như vậy, ông thông thạo hơn
ai hết về các chất hoá học. Huống hồ, ông lại còn là một nhà văn, và
từng đọc rất nhiều truyện trinh thám (mỗi lần Nhất Linh đi qua đại
lộ Lê Lợi là anh khuân hàng chục cuốn sách trinh thám, và anh đọc
ngấu nghiến trong một đêm là hết), nhất là đã từng viết trong tác
phẩm cuối cùng là Dòng sông Thanh Thuỷ, cả một chương về một
vụ đầu độc. Như thế thì tôi, mặc dù là thầy thuốc, làm sao mà biết
được ông đã dùng thuốc gì để quyên sinh?
Sự thật là như thế!
Sau này, theo bản phúc trình của một phòng thí nghiệm công gửi cho
Toà án Sài Gòn, tôi mới rõ là người ta đã tìm thấy ở trong máu,
trong bao tử, và trong nước tiểu rất nhiều chất thuốc ngủ, loại
véronal.
Nhất Linh đã mua và tích trữ thuốc này từ bao giờ, ngay đến những
người thân thích của anh cũng không hay biết.
Nhưng gay go nhất là việc định ngày để cất đám Nhất Linh.
Gia đình anh xin phép đưa vào buổi sáng chủ nhật, nhưng chính quyền
một mực từ chối, cái đó dễ hiểu, vì họ sợ đưa đám ngày nghỉ, thiên
hạ sẽ đi dự rất đông.
Xin phép đưa chiều thứ bảy, họ cũng từ chối nốt, vì chiều thứ bảy,
cũng là ngày nghỉ của các công sở. Họ chỉ ưng thuận, hoặc sáng thứ
bảy, đúng 8 giờ rưỡi, hoặc sáng thứ hai. Đành phải bằng lòng sáng
thứ bảy vậy.
Lại còn một điều này nữa khiến cho chị Nhất Linh băn khoăn rất nhiều
là việc làm lễ cầu siêu cho anh ở chùa Xá Lợi.
Kẻ bàn ra người tán vào, phần đông không muốn làm lễ ở Xá Lợi, vì
dạo ấy như mọi người đều rõ, chùa Xá Lợi dưới con mắt của chính
quyền Ngô Đình Diệm, khác nào một cái gai trước mắt họ, là nơi công
khai chống lại họ thì làm lễ tại đó, tức là khiêu khích họ.
Tôi còn nhớ mãi nét mặt rầu rầu của chị Nhất Linh buổi trưa hôm thứ
tư 10-7-1963 đó, và vì thấy chị buồn thảm quá nên tôi đã không ngần
ngại đứng về phe chị để yêu cầu cho bằng được nhà chức trách cho
phép làm lễ cầu siêu ở chùa Xá Lợi. Tôi bảo với chị:
"Nếu họ từ chối thì chị cứ viện lý do tôn giáo ra họ phải chịu. Quả
nhiên Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn – sau khi xin chỉ thị của phủ
Tổng thống – bằng lòng cho làm lễ cầu siêu tại chùa Xá Lợi."
Nhưng chúng ta còn lạ gì chính quyền Ngô Đình Diệm, luôn luôn có
thái độ ngoan cố, tuy rằng cho phép đấy nhưng cho phép miễn cưỡng,
cho phép để che mắt thế gian, để tỏ ra mình dân chủ, tôn trọng tự do
tín ngưỡng, nhưng kỳ thực vẫn tìm đủ mọi cách để ngăn cản.
Tôi tuy là người ngoại cuộc, nhưng trong việc này tôi đã có đủ bằng
chứng về những cuộc vận động hoặc áp lực của chính quyền để cho buổi
lễ cầu siêu kia không thể thực hiện theo yêu mến của gia đình Nhất
Linh được.
Tôi còn nhớ buổi chiều hôm thứ sáu 12-7-1963, hai vợ chồng tôi sắp
sửa vào Grall để dự lễ khâm liệm cho anh bỗng có ba nhân viên công
lực quận Ba, nhân danh ông Đô trưởng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến
tìm tôi để yêu cầu tôi can thiệp với bà Nhất Linh đừng làm lễ cầu
siêu ở chùa Xá Lợi.
Tôi trả lời họ rằng tôi không có tư cách gì cả để can thiệp, vì đối
với gia đình ông Nhất Linh, tôi chỉ là bạn mà thôi. Nhưng mấy người
đó cho biết là bà Nhất Linh “chỉ nghe lời bác sĩ, và bác sĩ chỉ nói
cho một tiếng là được”.
Tôi đánh trống lảng và lại còn nửa đùa nửa thật bảo họ:
"Thì các ông cứ việc ra lệnh cấm cho rồi hà tất phải cho phép."
"Chính phủ đâu có cấm tự do tín ngưỡng."
Những điều dự đoán của tôi thật quả không sai.
"Tôi không hiểu tại sao các ông lại không muốn cho tang quyến làm lễ
cầu siêu ở chùa Xá Lợi? Gia đình ông Tam, theo chỗ tôi biết, vốn
theo đạo Phật từ lâu, bà cụ thân sinh ông ta, xưa kia vẫn là một vị
tu hành, và sau khi mất đi vẫn để thờ tại đấy thì nay đến lượt ông
Tam, làm lễ cầu siêu ở Xá Lợi tôi nghĩ đó là một việc rất thường
vậy."
"Chúng tôi được tin mật cho biết Việt cộng định khủng bố, nên có bổn
phận phải giữ gìn an ninh trật tự."
Họ đã viện ra lý do đó thì còn biết nói năng gì nữa? Để chấm dứt tôi
hứa sẽ can thiệp với bà Nhất Linh, nhưng được hay không, tôi không
dám chắc.
Khi vợ chồng tôi tới Grall thì lễ nhập quan đã cử hành xong rồi,
chúng tôi rất tiếc và ân hận vô cùng.
Tại Grall, tôi lại được chứng kiến một vụ can thiệp nữa không ngoài
mục đích trên.
Trong hai vị sứ giả của Bộ Nội vụ và Toà Đô sảnh Sài Gòn cử đi để
điều đình, có một bạn đồng nghiệp của tôi. Có lẽ vì là chỗ bạn đồng
nghiệp mà mặc dầu chưa được quen biết nên tôi mới hỏi ông ta bằng
một câu tiếng Pháp:
"Pourquoi vous faites ce métier?" (Tại sao ông đi làm cái nghề này?)
Bạn đồng nghiệp của tôi hơi bẽn lẽn đáp:
"Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, biết sao?"
Nghĩ tới những con người trí thức mà phải vì cơm áo sống dưới chế độ
của nhà Ngô cũng thương hại thật.
Tôi cho ông ta hay chị Nhất Linh bởi quá thương chồng, nên đã mấy
phen ngất xỉu, và nếu ông cứ trở lại vấn đề đó nữa, bà ta có mệnh hệ
nào thì ông sẽ phải chịu trách nhiệm.
Chị Nhất Linh nghe nói thế càng được thể khóc to hơn, và ông bác sĩ
nọ – nói cho đúng ra cũng là người biết điều, và nhất là có nhiều
cảm tình đối với Nhất Linh – đành phải rút lui, sau khi đã ngỏ lời
xin lỗi tang quyến.
Ở Grall về – vào khoảng 10 giờ khuya – tôi đã thấy 2 nhân viên khác
của Toà Đô sảnh và quận Nhất, trong đó có một bạn đồng nghiệp (lại
một bạn đồng nghiệp), đang đợi tôi ở trước cửa nhà. Họ tìm tôi cũng
không ngoài mục đích nhờ tôi can thiệp bà Nhất Linh về buổi lễ cầu
siêu, “muốn làm ở đâu cũng được, miễn đừng làm ở chùa Xá Lợi”, nghe
vẫn với một luận điệu như trên tôi trả lời tôi không có thẩm quyền
để định đoạt. Cùng lắm là tôi sẽ yêu cầu với tang gia rút ngắn thời
gian hành lễ ở chùa Xá Lợi mà thôi.
Hồi 11 giờ đêm tôi trở lại Grall thì gặp một tốp khác. Và lần này
thì họ doạ nạt chứ không van lơn nữa.
"Chúng tôi vừa được tin Việt cộng sẽ khủng bố đám tang Nhất Linh,
vậy tốt hơn hết là thay đổi lộ trình."
Rồi như để phân trần với mọi người, họ nói:
"Chúng tôi xin nói là Việt cộng định khủng bố chứ không phải là
chính quyền đâu."
Có người trong tang quyến cất tiếng hỏi:
"Nếu là Việt cộng thì ở đâu mà chúng không khủng bố được, hà tất cứ
phải ở chùa Xá Lợi?"
Cuộc vận động của mấy tai sai Nhu – Diệm, mặc dầu kéo dài gần tới ba
giờ sáng, đã hoàn toàn thất bại.
Ở đây tôi cũng cần nói là trong suốt thời gian linh cữu của anh Nhất
Linh quàn tại nhà xác, có ít ra hàng chục công an, mật vụ ngày đêm
túc trực để theo dõi từng người tới viếng. Có khi họ còn hỏi thẻ
kiểm tra, tra khảo lý lịch, đe doạ dẫn vào bót nữa, nhất là đối với
các thanh niên, học sinh, sinh viên. Giới này được chính quyền để ý
nhiều hơn hết hôm thứ bảy 13-7-1963, ngày đưa đám Nhất Linh.
Trên các ngả đường đưa tới bệnh viện Grall đều có rất nhiều cảnh
binh, công an canh gác, chặn đường không cho vào bệnh viện, hoặc xua
đuổi những ai lảng vảng gần đây.
Đã đến lúc chính quyền Ngô Đình Diệm bỏ rơi mặt nạ! Nhưng mặc dầu có
rất nhiều công an, mật vụ ở chung quanh đám táng, chúng cũng không
cấm nổi tang quyến treo ngay trên tường của căn nhà xác, và sau này
đặt trên nóc xe tang, bức trướng thật to, viết chữ trắng trên nền
đen, do các đồng chí của Nhất Linh kính điếu.
Nguyên văn bức trướng đó như sau:
Kính điếu lãnh tụ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
Thương thay đối lập quốc gia
Mất cả tự do trong mấy lúc
Đối với thiêu thân Quảng Đức
Noi gương cảnh cáo giữa nghìn thu.
Các anh em đồng chí
7-7-1963
Thật chẳng khác nào một rồi vụt vào mặt chính quyền vậy.
Công an và mật vụ của Nhu – Diệm nhiều thật đấy, nhưng chúng đâu có
ngăn nổi các anh em sinh viên khiêng linh cữu Nhất Linh, từ nhà xác
ra tận xe tang. Mấy bạn đó vừa khiêng vừa sụt sùi khóc, khiến mọi
người đứng gần đấy cũng mủi lòng rơi lệ theo. Có người khóc Nhất
Linh để thương tiếc một chiến sĩ quốc gia chống cộng, suốt đời tranh
đấu cho tự do, dân chủ thế mà lại bị những kẻ đội lốt quốc gia bức
tử. Hoặc khóc một văn hào đã có công lớn trong nền văn học nước nhà
mà đến khi nằm xuống không được chính quyền ngỏ một lời phân ưu.
Hoặc khóc một con người tài hoa, mặc dầu sống trong thử thách mà vẫn
giữ một tâm hồn nghệ sĩ, và còn giữ cho đến khi nhắm mắt.
Thật thế! Không có một tâm hồn nghệ sĩ như Nhất Linh mà trước khi từ
giã cõi đời, đôi mắt mỗi lúc một mờ dần, còn nói được một câu:
“Bầu trời hôm nay đẹp quá nhỉ!” thì thiết tưởng, trong thiên hạ
ít có người nghệ sĩ như anh.
....................................
Đoàn xe tang đi qua các đường Mạc Đĩnh Chi, Phan Đình Phùng, Bà
Huyện Thanh Quan, để rồi ghé lại chùa Xá Lợi vào hồi 10 giờ 45.
Đám tang thật là đơn giản, nhưng vô cùng ảm đạm, trang nghiêm. Khi
khởi hành từ bệnh viện Grall, số người tham dự còn thưa thớt, nhưng
dần dần mỗi lúc một đông. Phần nhiều là thanh niên, học sinh, sinh
viên, giới trí thức. Có rất đông phóng viên, ký giả ngoại quốc, nam
có, nữ có, có mặt trong đám táng để chụp ảnh hoặc để quay phim. Họ
chịu khó biên chép tất cả những câu viết trên các đối trướng rồi nhờ
người dịch sang tiếng Anh. Họ lại còn ghi âm tất cả những lời khóc
than kể lể của chị Nhất Linh.
Như vậy đủ rõ cái chết của văn hào Nhất Linh đã gây một tiếng vang
lớn, không riêng gì ở Việt Nam mà ở cả trên thế giới nữa.
Tại chùa Xá Lợi, ngoài một số đông đồng bào đã túc trực từ sáng sớm
– trong đó dĩ nhiên có cả công an, mật vụ của Nhu – Diệm – còn có
khoảng 200 tăng ni có mặt để cầu siêu cho Nhất Linh.
Giữa cảnh khói hương nghi ngút, chùa Xá Lợi cất lên ba hồi chuông
trống, rồi thì những tiếng tụng niệm vang lên. Trong khi ấy, ở trước
cửa chùa có nhiều thanh niên, sinh viên phát băng tang cho mọi
người, kể cả người của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Lễ cầu siêu cử hành không đầy 15 phút như đã ấn định từ trước, rồi
đoàn xe tang từ từ chuyển bánh, theo sau có 3 chiếc xe đò lớn chở
những người đi tiễn đưa.
Đoàn xe tiến về đường Phan Thanh Giản, rẽ sang đường Hai Bà Trưng
rồi chạy về Gò Vấp. Có hàng trăm chiếc xe, xe đạp lẫn xe gắn máy,
trên mỗi xe có hai người, phần đông là thanh niên, học sinh, sinh
viên, có cả ký giả ngoại quốc nữa, băng băng đi theo sau, hoặc đi
trước, hoặc ở hai bên xe tang. Ngay cả trên nóc xe hơi cũng có người
nữa. Hàng phố, từ đường Hai Bà Trưng trở đi, đổ xô ra xem. Một điều
đáng ghi nhận là từ chùa Xá Lợi trở đi, không có một ngã tư nào là
không có nhân viên công lực đứng, không phải để giữ an ninh trật tự,
mà trái lại, để cố tình cắt quãng đoàn xe tang, làm sao cho số người
tham dự đừng đông đảo.
Và khi tới nghĩa trang Gò Vấp, liếc nhìn chung quanh, ai nấy đều có
một cảm giác nặng nề, ghê rợn, dường như bao phủ bởi một bầu sát khí
đằng đằng: chỗ này một tốp người vận quân phục, chỗ kia một tốp, với
súng trường, súng lục, tiểu liên, lựu đạn… Tôi tự hỏi, chẳng hay họ
chuẩn bị như vậy để bảo vệ ai, hoặc để giết ai ở một nơi hoang vu,
tĩnh mịch và tôn nghiêm này?
Họ đề phòng Việt cộng khủng bố chắc? Phải ngây thơ lắm mới tin được,
mặc dầu trong khi hạ huyệt người ta đã phao tin bắt được quả tang
một gã – phu xe xích lô – trong người dắt một trái lựu đạn.
Còn một điểm này nữa thiết tưởng cũng cần ghi lại, là trên con đường
về, trời nắng chang chang và xa tắp có một số người đi đưa đám –
trong đó có kẻ viết bài này và một ông bạn già, ký giả Nguyễn Đắc
Lộc – được một phen cuốc bộ, vì gặp chiếc xe nào, tắc-xi hay xe gắn
máy, tài xế cũng lắc đầu lia lịa, rôi mắt trước mắt sau, như muốn
bảo cho mọi người hiểu: đã có lệnh trên, cấm chở những ai đi dự đám
táng của Nguyễn Tường Tam.
Người ta bảo Nhất Linh đã chết. Riêng tôi, đứng trước cái chết cao
cả của anh, chết để cảnh cáo những người “chà đạp lên mọi thứ tự
do”, chết để chống lại bạo quyền, chết với niềm hy vọng sự hy sinh
của mình sẽ đem lại tự do cho người khác, như vậy là anh đã biết
chết, đã chết thật đúng lúc, mặc dầu anh không biết sống, nghĩa là
theo tôi, sống như thiên hạ, một cách tầm thường, hoặc sống cũng như
chết, rồi khi đứng trước cái chết thì sợ sệt, hoặc chết nhưng chết
một cách nhục nhã thảm thương.
Ở trên tôi vừa nói đời sống nội tâm, đời sống tinh thần của Nhất
Linh rất phong phú.
Nhất Linh thường tâm sự với tôi: Ở đời anh ghét nhất là sự giả dối,
lừa lọc, xảo trá và phản bội. Và suốt đời anh không có một chiếc xe
hơi.
Nhất Linh trong sạch. Điều đó ai cũng trông thấy rõ. Ở thời buổi
này, muốn xét người nào trong sạch, yêu nước thương nòi hoặc quốc
gia hay không, phải chờ cho người ấy vào trong chính quyền đã, rồi
nhìn nếp sống của họ sau khi rũ áo ra về. Hoặc chờ cho người đó nằm
xuống, hình hài thể xác trở về nơi cát bụi hãy hay.
Nhất Linh đã tham chính và Nhất Linh nay đã ra người thiên cổ. Bởi
vậy tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng anh là một người thiết
tha yêu nước, đang đứng ngang hàng với những anh hùng dân tộc của
chúng ta, như Trần Bình Trọng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học v.v…. Anh
cũng là một người trong sạch hiếm có. Anh không có xe hơi, nhà lầu,
nhưng nói cho đúng ra, anh có một căn nhà gỗ thô sơ – có lẽ bây giờ
đã hoang phế – do chính tay anh cất lấy, ở bên bờ suối Đa-mê, cách
Đà Lạt 30 cây số, trong một khu rừng hẻo lánh, có nhiều cây cỏ, nhất
là nhiều lan để anh ngắm và tìm cảm hứng để viết văn. Phí tổn để xây
cất căn nhà đó cả thảy là 20 đồng bạc, tiền mua danh.
Tôi vừa nói ở trên là Nhất Linh sống rất giản dị, từ cái ăn đến cái
mặc. Tôi còn nhớ trong những năm 60-61, sau ngày đảo chính hụt và
oanh tạc Dinh Độc Lập, tôi lại thăm anh vào bữa ăn, tôi thấy anh chỉ
ăn có lưng chén cơm với hai miếng đậu kho, có lần một đĩa nouille,
anh và trong ba phút là xong, rồi anh lên giường ngủ.
Trái lại, mỗi khi được tin có một biến chuyển nào đó, có thể làm
thay đổi cục diện, chấm dứt chế độ bạo tàn thì đôi mắt anh sáng quắc
lên, bao nhiêu bệnh não của anh – mà chúng tôi thường bảo là bệnh
giá-cách – đều tiêu tan hết, và khi ấy anh cười nói rất vui, ăn
uống ngon lành lắm.
Nhất Linh không những là một chiến sĩ quốc gia, anh còn là một văn
hào lỗi lạc nữa. Về điểm này, các văn hữu của anh có nhiều thẩm
quyền hơn tôi đã phán xét. Riêng về phần tôi ở đây chỉ muốn ôn lại
một vài kỷ niệm nhỏ giữa Nhất Linh và tôi trên lĩnh vực văn hoá.
Trước hết tôi cần nói là không có một lĩnh vực nào mà anh không
thành công, và thành công rực rỡ nếu như anh muốn, dù là làm chính
trị, hay viết văn, hay vẽ, hay chơi âm nhạc, hay chơi lan, hay làm
báo… Anh chuyên về thứ nào thì anh say mê thứ đó, đến quên ăn quên
ngủ.
Không những chỉ say mê mà thôi, anh dốc hết cả tâm trí vào việc anh
làm, và anh làm rất chu đáo. Khi anh viết được một trang nào hay,
hoặc tìm ra được một chữ nào, và chỉ có chữ ấy là đúng thôi, anh
thích thú vô cùng, anh sung sướng hơn bắt được một báu vật. Có lần
anh bảo tôi: “Khi tôi dịch cuốn Les Hauts de Hurle Vent, tôi
tìm mãi mấy ngày mấy đêm mới ra câu: Đỉnh gió hú”.
Tôi còn nhớ bận tôi dịch một truyện trinh thám của Conan Doyle, nhan
đề: La bande mouchetée (tức con rắn), tôi tìm mãi không biết
dịch là gì. Anh nghĩ một lúc rồi bảo: Chiếc giải đốm hoa. Tôi
cho câu dịch đó thật tài tình.
Khi anh viết cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ (hồi đó anh lẩn trốn ở
đường Trần Hưng Đạo) anh biên giấy nhờ một anh bạn của chúng tôi
chuyển lại cho tôi để hỏi có mỗi một câu về một danh từ y học, đủ rõ
anh thận trọng như thế nào trước khi hạ bút.
Đáng phục nhất là trong suốt thời gian anh bị chính quyền Ngô Đình
Diệm lùng bắt, anh phải lẩn trốn hết nơi này đến nơi khác, lấy ngày
làm đêm, đêm làm ngày mà anh vẫn còn có can đảm để viết văn, để phác
hoạ ra cả một chương trình: xuất bản sách để các bạn trẻ đọc, để
giáo dục quần chúng, để phổ biến tất cả những gì cao đẹp của loài
người, của vũ trụ. Bởi theo anh, “đã đến lúc loài người phải giở sổ
soát lại vốn tư tưởng quá khứ để định hướng đi tương lai, tìm chân
lý là kim chỉ nam cho người đời giữa biển sóng gió”.
Hiện giờ, khi viết mấy dòng này, trước mặt tôi còn có một xấp thư –
những mảnh giấy học trò – của Nhất Linh gởi cho tôi hồi anh đang bị
chính quyền lùng bắt, chữ viết nhỏ li ti, yêu cầu tôi cho anh những
tài liệu cần thiết về: danh nhân thế giới, tình sử đông tây, kỳ quan
vũ trụ, giáo dục phổ thông, chính trị, khoa học v.v…
Những loại sách bỏ túi – 27 loại cả thảy – đó, anh định bán với một
giá rất rẻ, và in đẹp, nhằm mục đích nâng cao đời sống tinh thần của
mọi tầng lớp người trong xã hội, vì anh cho rằng “văn làm cho đời
người đẹp hơn và đáng sống”.
Thật là cả một chương trình vĩ đại, đáng khen mặc dầu chưa thực hiện
được, chứng tỏ sự nhiệt tâm của Nhất Linh trước tiền đồ của dân tộc,
trước trạng huống phức tạp và đảo lộn của xã hội ngày nay.
*
Trên đây là một vài nét về nếp sống cùng những hoạt động của Nhất
Linh trên địa hạt chính trị xã hội văn hoá, đủ khiến cho ai nấy phải
ngậm ngùi trước sự hy sinh cao cả của anh.
Nhưng điều khiến cho một số bạn thân của Nhất Linh tiếc thương anh
hơn cả là tính tình hồn hậu và thuỷ chung của anh đối với bạn, nhất
là trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.
Tôi còn nhớ Tết năm Tân Sửu, vào sáng hôm mồng hai, và trong khi anh
lẩn trốn, xa gia đình thân yêu, mà anh còn ngồi vẽ một bức tranh –
bó hoa oeilet – để tặng tôi, với hai câu thơ, câu đầu là:
“Tặng ai mười đoá hoa xuân”
khiến tôi cảm động vô cùng.
Tôi dám chắc, đối với một số đông bạn thân của anh, anh cũng có
những cử chỉ tế nhị và đẹp như thế.
Lại còn một điểm nữa khiến cho tôi quý Nhất Linh, là cách cư xử của
anh đối với mẹ già và gia đình nhỏ của anh.
Tôi còn nhớ hồi sinh thời của bà cụ thân sinh ra anh, thường gọi là
“Cụ Cẩm Giàng”, mỗi lần tôi lại thăm bệnh cho cụ, cụ móc túi ra cho
tôi xem một mẩu giấy nhỏ – nhỏ vừa bằng lòng bàn tay – trên có ghi
mấy dòng chữ Nhất Linh gửi cho mẹ, báo tin cho cụ biết cuốn tiểu
thuyết này hay tiểu thuyết nọ đã xuất bản rồi, để cho cụ mừng.
Cảm động nhất là hôm cụ đưa cho tôi xem cuốn Dòng sông Thanh Thuỷ
khi vừa mới in xong anh gửi tặng cụ, cụ mệt không đọc được,
nhưng lúc nào cụ cũng khư khư ôm trong lòng, không muốn rời ra.
Nhất Linh thường nói với tôi:
“Gia đình tôi đông anh em, nhưng mẹ tôi chỉ thương và nể có tôi
thôi. Tôi bảo gì mẹ tôi cũng nghe, nhưng… trăm tội ở đâu cũng đều đổ
cả lên đầu tôi, chỉ có tôi là bị rầy la nhiều nhất.”
Hôm cụ mất anh bị mệt và… cũng đang bị chính quyền để ý nên không
đưa cụ tới nơi an nghỉ cuối cùng được, anh rất đỗi khổ tâm.
Nhất Linh có một đời sống đẹp như vậy, thế mà sau khi anh mất đi có
kẻ dám công khai bôi nhọ anh, nào bảo anh “hút thuốc phiện, nghiện
rượu, không có chút công lao gì đối với nền văn học Việt Nam”, nào
“phản đảng, phản dân tộc, phản cả gia đình nữa”…
[1] thì đủ rõ giữa Nhất Linh và đối lập đương nắm chính
quyền của anh, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?
Thật thế! Nhất Linh, ngay cả đối với kẻ thù, lúc nào cũng đàng
hoàng, quân tử. Mỗi khi nói tới Hồ Chí Minh hay Ngô Đình Diệm, hay
vợ chồng Ngô Đình Nhu, tôi chưa từng nghe thấy anh có một lời nói
nặng, một câu nào bất lịch sự cả.
Cái chết của Nhất Linh không những là một thiệt thòi rất lớn cho
quốc gia, nhất là trong giai đoạn này, đã mất một chiến sĩ vừa có
tài lại có đức, vừa là một cái tang chung cho nền văn học nước nhà,
lại còn gieo vào trong lòng của các bạn hữu cũng như gia đình đầm ấm
của anh, biết bao niềm thương xót khôn nguôi với thời gian được.
Riêng về phần tôi, mỗi bận nhớ tới anh rồi nhìn chung quanh mình chỉ
thấy toàn những kẻ tranh giành nhau trên con đường danh lợi, những
kẻ lừa thầy phản bạn, tôi cảm thấy có một khoảng trống mông mênh,
kinh khủng. Và tôi chợt nhớ câu thơ bất hủ của thi hào Lamartine,
tôi xin mượn câu thơ đó để nói lên nỗi lòng của tôi đối với Nhất
Linh:
“Thiếu mỗi một người và tất cả đều là hoang vắng”.
(Un seul être vous manque et tout est dépeuplé).
Chú thích
[1]Lời tuyên bố của Ngô Đình Nhu trong buổi họp Tổng đoàn
Thanh niên Cộng hoà ngày 18-7-1963
Nguồn: Chân dung Nhất Linh.
Tập hồi ký của Bùi Khánh Đản, Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Mạnh Côn,
Nguyễn Tường Thiết, Thế Uyên, Tường Hùng và Tuyết Hương. Mẫu bìa của
Văn Thanh. Do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In xong tại
nhà in riêng của nhà xuất bản ngày 25-6-1966. Bản điện tử do talawas
thực hiện.
Nguyễn Mạnh Côn
Vĩnh quyết Nhất Linh
Ngày 8-7
Sáng hôm nay, khoảng 9 giờ, tôi qua thăm toà soạn nhật báo
Dân
Việt, để cám ơn việc đăng cáo phó, cảm ơn vừa qua. Mới thoạt
bước qua cửa tôi đã thấy nét mặt anh Chu Tử có vẻ gì là lạ. Dzoãn
Bình từ bên nhà chữ chạy sang, kêu to:
"Anh biết gì không? Anh biết gì không? Anh Nhất Linh mất rồi!"
Dzoãn Bình còn trẻ, nói to. Bình có lẽ còn nói gì nữa. Nhưng có thể
Bình không nói thêm câu nào. Vì căn phòng nhỏ hẹp của toà soạn
Dân Việt tự nhiên thấy rộng thêm ra. Căn phòng rộng đến đâu, tôi
không có ý niệm đến hẳn đâu. Nhưng tiếng máy chạy bên kia tường
không còn rung trên nền gạch. Trong không gian hình như có sự đổi
khác, như một cái gì đang vận động bỗng ngừng lại. Tôi có cảm giác
có ai đã muốn nói gì lại thôi. Hay một giọt những đọng trên cửa kính
có thể bò xuống nữa, có thể đứng yên, rồi khô cạn ngay ở giữa con
đường dốc. Nhưng giọt nước chưa cạn mà không chảy trên tấm kính đứng
thẳng thì thật vô lý. Tôi muốn phản đối sự vô lý ấy. Giọt nước bỗng
vỡ ra, nhiều giọt nhỏ bắn sang chung quanh. Im lặng, xa xôi trên tấm
kính ngay trước mặt. Thế là hết.
Gió ở đâu lành lạnh trong áo sơ-mi. Cơn sốt hôm qua váng vất muốn
trở lại. Tôi đứng dậy quên chào anh em, bước ra cửa. Bên ngoài toà
báo nắng còn xiên trên con đường vắng. Phía cuối đường, xe chạy nhộn
nhịp trên đại lộ Lê Văn Duyệt. Tôi thẩn thờ không biết nên đi về
phía nào. Cảm giác rõ rệt như có vật chường ngại chắn ngang lối đi,
một cái hố sâu chẳng hạn. Phía bên trái lại khác hẳn. Không gian
hình như có từng lớp một, có ngăn cách nhưng có nối tiếp. Cảm thông
hay ảo ảnh, chưa chừng.
Ngày 9-7
Tôi mặc áo ngoài, thắt cà-vạt đen. Băng đen trên tay áo. Đã lâu lắm
không được gặp, tôi đi tìm Nhất Linh.
Chiếc xe Vespa vòng phía sau bệnh viện Đồn Đất. Đường vắng. Không
thấy bóng một công an viên hay nhân viên mật vụ nào. Người ta bảo
tôi, từ sáng, rằng lực lượng an ninh bao vây kín khu vực Nhà xác của
bệnh viện. Tôi cũng nghĩ có thể như thế lắm, nên tôi đã để ý tìm
những người đứng không, những người ngồi xổm trên vỉa hè, hay bán
hàng trên con đường vắng. Nhưng con đường quả thật vắng tanh. Cổng
nhà xác sơn màu vàng nhạt đóng kín. Chúng tôi đập cửa. Im lặng. Nhìn
quanh quẩn, không có ai để hỏi thăm. Tôi nhìn Đỗ Tốn. Anh lắc đầu:
"Có lẽ chưa! Hay ta xuống dưới nhà?"
Tôi lưỡng lự, chỉ vòng tay ra phía trước. Chúng tôi đến cổng lớn
bệnh viện. Đỗ Tốn gửi xe, tôi lại gần hỏi người gác:
"Thưa ông, di hài ông Nguyễn Tường Tam có còn ở đây không?"
Người gác gật đầu, nâng chiếc cần chắn ngang cổng. Chúng tôi bước
vào, đi bâng khuâng giữa những dải tóc tiên, dưới vòm cây. Không khí
êm ả có chút gì khác với không khí ngoài đường phố. Qua phía trước
nhà thờ. Có ánh nến lung linh dưới bóng cây thánh giá. Đỗ Tốn gạt
nhẹ tôi rẽ tay phải. Đường dốc xuống lượn sang tay trái. Có lẽ chúng
tôi đang đi phía sau căn nhà bếp nên thoảng có mùi thơm thịt nướng.
Chung quanh chúng tôi hoàn toàn không có bóng người. Nhà xác, phía
dưới sân, cũng im lặng. Bên trong hai cánh cửa mở rộng có chiếc bàn
không để giấy tờ…
Tôi quay lại nhìn Đỗ Tốn. Anh gật đầu. Phải, anh Tam nằm trong đó.
Chúng tôi quay quanh, tìm kiếm. Phía đối diện với nhà xác có một
cảnh sát viên ngồi với một thanh niên mặc bộ đồ lao động cũ kỹ. Họ
không có vẻ gì để ý đến chúng tôi, và tiếp tục nói chuyện dưới mái
hiên lợp tôn rộng.
Tôi bước vào hiên, tự trong lòng thấy bực bội, tiếng nói gắt gỏng vô
cớ:
"Ai gác phòng lạnh ở đây? Tôi cần vào xem thi hài ông Nguyễn Tường
Tam!"
Một trong hai người, người công nhân đứng lên, một tay gãi gáy, tay
kia đu đưa:
"Dạ, ảnh mới đi khỏi."
Tôi buông thõng, hách dịch:
"Đi kêu!"
Người công nhân líu ríu quay đi ngay. Người gác đã trở lại. Chắc anh
công nhân có nói thế nào nên ông ta chạy thật vội, chiếc “kết” có
vòng đỏ bật ngửa trên đầu. Ông ta đến chỗ tôi:
"Thưa ông cho gọi tôi?"
Tiếng nói của miền trung châu Bắc Việt. Anh Nhất Linh người huyện
Cẩm Giàng. Tôi biết khó có thể giữ giọng cấp trên, bèn đấu dịu:
"Chúng tôi muốn phiền ông cho vào thăm di hài ông Nguyễn Tường Tam."
Người gác đưa chúng tôi ra buồng ngoài, đến trước cánh cửa trong,
lấy sức rút chiếc then ngang. Cửa mở. Tôi thoáng có ý nghĩ thật
nhanh: mồ hôi, lạnh, cảm… Nhưng luồng gió tê tái đã ùa vào người
tôi. Tôi rùng mình, sởn gai ốc khắp thân thể. Tôi muốn lùi ra, nhưng
chân cứ bước vào. Tiếng máy chạy ù ù, hai hàng giường sắt chồng đôi,
dọc đôi, sơn màu tiếng. Tất cả giống như căn phòng ưỡp món ăn tươi
dưới một chiếc tàu chiến của Mỹ.
Một cảm giác uất ức tràn vào tâm hồn tôi vì một thoáng so sánh cái
tinh anh thanh cao của Nhất Linh với một không khí kỹ thuật tàn
nhẫn, độc ác.
Người gác bước mấy bước về phía tay phải. Ông ta đến bên cạnh một
cuộn vải dường bâu gài gần hết ngăn giường dưới. Ông ta giơ tay chỉ.
Bấy giờ tôi mới hiểu. Tôi đến gần, tìm dầu mối tấm vải. Nhưng người
gác nhanh hơn, đã nâng góc chăn phủ mặt lên. Một chiếc sáo tre định
rơi xuống đất. Tôi bước vội đến đỡ lấy.
Anh Nhất Linh nằm đây, hai mắt nhắm. Vẻ thao thức và bồn chồn tìm
kiếm ở đôi mắt anh không còn nữa. Mũi anh cũng có vẻ ngắn hơn trước,
bộ ria mép thưa hơn. Miệng anh hé mở như có điều gì muốn căn dặn.
Vầng trán rộng xuôi xuống mái tóc đã rụng nhiều. Nét mặt anh, quái
lạ, có vẻ tươi hơn ngày anh còn sống.
Tôi để tay lên mép giường, định luồn dưới chăn tìm tay anh mà từ
biệt. Nhưng người gác ra hiệu không nghe. Bàn tay tôi co đặt lên
ngực anh, nằm ngang trên chiếc sáo. Ống tre và mặt vải lạnh buốt.
Tôi vẫn tự phụ có sức sống thiết tha đọng trong lòng tay, có thể
truyền cho người đau nặng. Ý nghĩ ngông cuồng của tôi lúc ấy là
truyền sức sống cho người chết. Nhưng khí lạnh ấp vào bàn tay tôi
dồn hơi nóng lên cổ tay, cả năm ngón như đóng băng tê dại.
Tôi bàng hoàng rụt tay lại. Chiếc sáo tre rơi đánh cạch xuống mép
giường sắt. Tiếng động khô ngắn làm cho căn phòng có vẻ yên lặng hơn
lên. Tiếng quá khứ vang dậy: tiếng
demi botte của Mỹ, đế
cao-su đúc, đi trên sàn gỗ nặng chình chịch. Tôi nhớ lại một hình
ảnh qua đã lâu mà vẫn còn quen thuộc. Hình ảnh một buổi họp của các
cấp luận điệu Mặt trận Quốc gia, cách đây 18 năm. Hai người ngồi xử
tội hai người. Kết quả nguy hiểm trông thấy. Nhưng vị lãnh tụ thứ ba
vừa mới đến. Người mới đến mặc binh phục
kaki có yếm bịt kín
ngực. Dáng điệu thong thả, hiền lành, không có vẻ gì là võ tướng.
Người mới đến ngồi xuống. Cuộc thảo luận tiếp tục, bằng tiếng phổ
thông. Tôi không hiểu gì cả. Một lúc sau người đó đứng lên, bắt tay
tôi rồi ra khỏi phòng. Cụ Nguyễn hỏi tôi: “Anh có biết ai đấy không?
Ông Nguyễn Tường Tam đấy! Ông ấy bảo không được phép giữ anh, vì anh
là đại biểu Quốc hội”.
Quá khứ đến năm nay là mười tám năm. Mười tám năm trước, anh không
biết tôi là ai, ngoài danh nghĩa đoàn thể mà tôi là đại biểu. Tôi
gây truyện đổ vỡ, tính mạng chỉ còn treo trên sợi tóc. May mà anh
đến vừa đúng lúc. Hồi bấy giờ đảng lớn mới thống nhất lực lượng,
cùng đồng ý bỏ hai chữ trên chia rẽ, giữ ba chữ dưới hợp quần
[1] , cùng đồng ý bầu anh làm Bí thư trưởng, nghĩa là làm
lãnh tụ. Anh được bầu vì uy tín anh to lớn, đại biểu các đảng bạn
quý trọng anh hơn hết. Nhưng việc bầu bán xong rồi, ông Vũ Hồng
Khanh cậy có quân lực mạnh, các đảng khác đều phải nhờ bảo vệ, nên
nhất định không trao quyền thực tế. Nhưng dù sao, trước mặt cụ
Nguyễn Hải Thần, anh vẫn có quyền. Anh không cho phép bắt tôi, họ Vũ
không dám công nhiên kháng cự.
Mười tám năm qua rồi. Bao giờ tôi đã nhiều tuổi hơn anh hồi ấy. Có
lẽ tôi còn lăn lóc nhiều hơn, còn chịu đựng nhiều hơn. Nhưng ba năm
trước, tôi đến thăm anh, đưa tặng anh cuốn
Đem tâm tình viết lịch
sử, anh đọc mấy câu tôi viết còn mỉm cười nhớ lại quá khứ.
Thế rồi thôi. Từ ba năm về đây, tôi đau yếu luôn và nghe nói anh
cũng không được yên, không được mạnh. Vì thế nên muốn đến thăm anh
lại lần chần hôm nay để ngày mai. Đến tối thứ sáu tuần trước, luật
sư Dương Kiền đến tìm tôi, hỏi tài liệu về quá khứ của anh.
Theo lời Dương Kiền, các đồng chí của anh đều nhận có hoạt động
chống đối (hay đánh đổ?) chính phủ. Các đồng chí của anh đều chỉ anh
là người lãnh đạo. Nhưng chính anh lại không nhận. Tôi hỏi thêm,
được Dương Kiền cho biết những người kia không những nhận ở công an
mà còn nhận cả ở dự thẩm, và có lẽ ra toà cũng vẫn giữ lời khai.
Dương Kiền có vẻ lo buồn nhiều, vì không đoán được anh ra toà sẽ giữ
thái độ thế nào để uy tín anh được trọn vẹn mà không thiệt hại cho
các đồng chí của anh. Anh có thể nhận cho họ được nhẹ tội. Vào
trường hợp này, luật sư thật khó biện hộ cho anh. Anh có thể phải
gánh chịu một hậu quả nặng cho tuổi tác và sức khoẻ của anh. Nhưng
nếu ngược lại, anh phủ nhận lời khai của các đồng chí của anh, thì
uy tín của nhóm anh sẽ ra sao?
Dương Kiền cho rằng chỉ còn có một phương pháp là tìm lấy rất nhiều
tài liệu về cuộc đời tận tuỵ tranh đấu cho dân tộc của anh, để chứng
minh rằng sở dĩ nước Việt Nam ngày nay có được một chính quyền độc
lập, với đầy đủ chủ quyền, thì bất cứ ai cũng không được phép phủ
nhận công lao to tát của anh. Dương Kiền định không xin khoan hồng,
mà còn đòi toà án phải cúi đầu trước một nhà đại ái quốc, một vị anh
hùng dân tộc. Tôi thấy Dương Kiền nghĩ rất đúng, nên tôi hứa đi tìm
Đỗ Tốn, đồng chí và cán bộ của anh từ dạo trốn sang Tàu lần thứ
nhất. Nhưng không kịp.
Tôi không ngần ngại mà nhận rằng, đối với tôi, anh vẫn còn là vị
thiên thần mà tôi chiêm ngưỡng hồi còn niên thiếu. Tinh thần khai
sáng và đức độ chân phương của anh nâng anh lên hàng cha, mẹ của
tôi. Nhưng tính tự ái ngông cuồng của tuổi trẻ xui khiến tôi tìm một
khía cạnh nào của cuộc đời anh để hạ giá thần tượng. Tôi không chấp
nhận sự ngay thẳng mà anh dùng để đối phó với các lực lượng đối thủ.
Tôi cũng không chịu đi vào con đường không có lối thoát. Tôi thèm có
cái uy tín của anh để xuống đường, để làm việc này việc nọ. Tôi nghĩ
“Giá mình được như anh Nhất Linh, mình sẽ gần gũi hơn với bọn trẻ.
Mình sẽ nói với họ về cuộc đời của mình. Không! Mình không cần phải
thúc giục họ chống lại hay đánh đổ bất cứ ai. Mình chỉ cần làm
gương… Rồi sẽ có một ngày, mình chỉ nói một lần là đủ!
Nghĩ như thế, tôi có ý trách anh lìa xa tuổi trẻ đang muốn thấy ở
anh một ngọn đuốc soi đường. Tôi có ý trách anh không tham gia cuộc
chiến đấu, dù ở về bất cứ phe nào. Nhưng bây giờ anh nằm đây rồi, và
như thế cũng xong. Cơn giông tố đã lắng xuống. Nét mặt anh bảo tôi
rằng anh đã tha thứ cho hết thảy mọi người bạn, mọi đứa em lầm lỗi.
Nét mặt anh bình thảnh, đôi môi hé mở còn có vẻ bao dung hơn. Tôi
nghiêng đầu, nhìn kỹ anh một lần cuối. Bao nhiêu câu từ biệt rất văn
chương tôi định nói với anh đều có vẻ vô nghĩa. Tôi muốn tìm một ý
tưởng có thể gọi là sâu sắc để đánh dấu sự vĩnh quyết một ân nhân,
một thầy học, một trưởng huynh…
Nhưng đầu óc tôi thật quả rỗng không trong khi tôi chầm chậm xoay
người ra phía cửa. Bao nhiêu sợi dây thần kinh nhạy cảm của tôi đã
chết lặng đi hết cả. Rỗng trong đầu, rỗng trong tim, tôi ra khỏi
phạm vi bệnh viện lúc nào cũng không để ý.
Từ bệnh viện, chúng tôi đến chợ An Đông. Cửa nhà dưới mở rộng. Nhiều
bà, nhiều cô đang cắt khăn, may áo trên tấm ngựa kê sát tường. Hai
chiếc bàn quay đầu vào nhau thành thước thợ, phía bên này có mấy cụ
già, phía bên kia: Duy Lam, Nguiễn Ngu Í.
Nguiễn Ngu Í đến thăm, còn Duy Lam gọi anh Nhất Linh là Cậu (anh mẹ)
ruột. Duy Lam cũng là sản phẩm của Nhất Linh. Sản phẩm lớn lên, muốn
vượt khỏi cương toả của con đường cổ điển. Nhất Linh giới thiệu Duy
Lam như một Dostoievsky. Lời giới thiệu có lẽ đi hơi xa quá, vì Duy
Lam còn phải dọ dẫm nhiều để tìm thấy một con đường mới, xứng đáng
với Tự Lực Văn Đoàn.
Nhưng lời giới thiệu, đầy ắp một sự gửi gấm tha thiết, đủ chứng tỏ
Nhất Linh đã thấy rõ nhóm
Đời Nay cần phải được tiếp tục,
tiếp tục công việc mở đường, bằng những khí cụ mới mẻ hơn, thích hợp
hơn với thời đại nhiều bối rối hơn suy tư, nhiều thú tính hơn tình
cảm. Tâm hồn Nhất Linh đặt vào truyện thằng cu Tý đánh lừa con lợn,
truyện Thanh – Ngọc nằm bên nhau suốt một đêm mưa… chỉ còn là những
nét đẹp tuyệt nhưng xa vời. Người thầy học đánh lạc mất bầy trò quá
trẻ. Là nghệ sĩ anh không buồn sao được!
Tôi ngồi xuống cạnh Duy Lam, trao đổi vài ý nghĩ vụn vặt. Duy Lam
nhìn thẳng vào khoảng không, lộ rõ vẻ chiến sĩ. Nhưng tôi không tin
những tin tức về một sự tàn bạo một chiều và không cần thiết. Tôi có
thói quen hay lý luận, hay đem những nền nếp tâm lý quen thuộc để
chứng minh hay phủ định những lời đồn đại. Tôi cũng có tinh thần
quốc gia cực đoan nên hay bênh vực người mình chống những áp bức của
người ngoại quốc. Có lẽ có phần nào suy tư ảnh hưởng của dòng máu
của cha tôi là một cựu công chức ngạch cai trị, tôi không tin ở
những lời hô hào của các chính khác, mà tin ở sự khôn ngoan của
những nhà hành chính lão luyện. Tôi không tin ở cách mạng, nếu cách
mạng không có lý thuyết. Đời sống một dân tộc khó có thể thay đổi
nhờ phép lạ như trong truyện thần tiên… Tôi muốn kéo câu truyện về
phía văn nghệ. Cuộc đời của Nhất Linh tuy có phần làm cách mạng,
chống áp bức đế quốc. Nhưng tôi tiếp tục nghĩ như vậy, sự nghiệp quý
giá vô hạn của anh là sự nghiệp mở đường cho thế hệ chúng tôi có căn
bản, và thế hệ Duy Lam có thể vươn lên mà không bị đứt liên lạc với
gốc tích.
Phải nhiều đời mới có một Nhất Linh thành lập nổi một văn đoàn
Tự
lực, nuôi sống – về tinh thần – được hai tờ
Phong hoá, Ngày
nay. Tôi muốn giữ hình ảnh của Nhất Linh văn nghệ sĩ.
Tôi định nói với Duy Lam như thế. Nhưng Thiết, rồi Nghị đã về. Tôi
đứng lên chào mà không chia buồn. Chị Nhất Linh cũng từ trên gác
xuống. Chị vốn đã gầy, chiều hôm nay tôi tưởng chị hốt nhiên già
thêm mười tuổi. Chị khổ tâm nói không thành lời. Tôi cúi đầu, ấp úng
một câu khách sáo. Những người thân yêu, dù quý trọng văn nghiệp của
anh đến đâu vẫn không quý bằng con người bắt đầu vắng bóng. Tôi nhìn
Nghị và Thiết, hai anh em đều có con mắt sâu thẳm mà thao thức vô
cùng của bậc thân sinh ra họ. Nhất là Nghị lại càng giống anh Tam
lắm lắm.
Tôi ngồi lâu rồi đứng dậy xin về. Mắt đóng đinh vào mắt tôi, Nghị
nói:
"Ba tôi quý anh lắm, thường nhắc đến anh luôn…"
Tôi đợi nghe hết câu, quay ra xe, trèo lên yên sau. Chiếc Vespa
phóng như tên dưới những giọt mưa lác đác. Cơn lạnh tôi đã quên được
một lúc lâu lại trở lại, buốt trong người nhưng nóng rực ở tay chân.
Tôi phải cố nghĩ đến một việc quan trọng nào đó cho quên cái rét,
rồi thở từng hơi dài để điều hoà nhịp đập của quả tim.
Tôi nghĩ đến anh Nhất Linh. Tôi nhớ ra rằng anh đã mất. Ba năm không
được gặp anh rồi. Mà anh nhắc đến tôi luôn. Cố nhiên anh không biết
gì về con người của tôi. Vậy anh đã theo dõi tôi về văn nghệ. Tôi
đoán mà biết anh còn nhắc đến nhiều anh em khác. Tấm lòng chân thành
đối với nền tương lai văn học của chúng ta khiến cho anh tha thứ cho
chúng tôi những hỗn xược, những ghẻ lạnh hay quên lãng. Có thể vì
chúng tôi ngu xuẩn hay chủ quan, nhưng cũng có thể vì, đến với anh,
dù sao chúng tôi cũng không thể tự nhiên như đối với nhiều anh khác
có khi còn nhiều tuổi hơn anh.
Đối với chúng tôi như cỏ non, anh rõ rệt là cây đại thụ. Cây đại thụ
đã cằn cỗi dần dần. Để một cơn giông nhỏ cũng làm được cho cây bật
gốc. Đám cỏ non chói nắng, xót thương. Giọt nước mắt không thành
hình len xuống đau trong sống mũi. Buổi chiều vừa qua, đứng trong
phòng lạnh, ngay trước khi người gác mở góc tấm dường bâu, tôi không
ngờ còn có lúc, tuổi đã nhiều rồi, còn lạc giọng nói thầm:
"Anh Nhất Linh! Anh Nhất Linh! Vĩnh biệt."
Nguyễn Tường Thiết
Niềm vui chết yểu
Tôi ngó đồng hồ: 5 giờ kém 15. Chiếc xe sao chạy chậm quá vậy? Người
tôi nửa như xôn xao bồn chồn, nửa như bị du sâu vào trong một giấc
mơ. Tiếng động, tiếng sinh hoạt về chiều của thành phố, nghe xa vút
hẳn đi. Những âm thanh lâm râm, lao xao, mơ hồ như thuộc về một thế
giới khác. Đường phố quen thuộc của Sài Gòn, đâu đó một tiếng còi xe
giật lại, tôi nghe ngắn và sắc hơn. Chiếc xe chạy qua rạp Olympic,
tôi quay người ngó lơ đãng vào mấy tấm vẽ quảng cáo ở cửa rạp: “Cậu
coi
Jugement à Nuremberg chưa?”. “Rồi!”. “Đấy cậu chẳng cần
nói gì cả, cứ im lặng như viên Bộ trưởng Đức mà hay. Cũng chẳng cần
viện cớ bệnh không nói được ở Toà. Để tối con lại luật sư Ch. lấy
mấy giấy bác sĩ. Con nghĩ chẳng cần phải dùng cách ấy. Mình vẫn khoẻ
như thường mà chả thèm nói gì cả, cũng chẳng cần trả lời những câu
của Toà, cứ im như hến thế mà hay!”.
Chiếc tắc-xi đến một khúc đường sửa, bị xốc, tôi thấy nặng ở đùi:
đầu cha tôi còn gối lên đùi tôi, miệng hé mở, ngả đầu về sau, một ít
nước bọt ở mép, cánh tay phải mềm xuội buông lỏng xuống sàn xe. Cách
đây một giờ, cha tôi uống thuốc độc thật mạnh để tự tử. Cha tôi đã
đồng ý với tôi ở một điểm: “Im như hến thế mà hay!”. Nhưng quả thật
tôi không ngờ ông đã đi sâu đến như thế để dọn một thái độ dứt khoát
không phải chỉ im lặng ở Toà án mà là một im lặng mãi mãi, một im
lặng bi đát đến ghê rợn mà tôi không thể tưởng tượng nổi.
Tôi thò tay vào túi áo ngủ của cha tôi lấy ra một tờ giấy mà lúc ở
nhà tôi không kịp xem. Trên một vuông kẻ ô, cha tôi để lại những
hàng chữ cuối cùng trong đời ông. Đọc xong, gần như vô ý thức, miệng
tôi cứ lặp đi lặp lại mãi một câu
“Đời tôi để lịch sử xử…”.
Anh T. ngồi ở đằng trước, giục tài xế chạy thật nhanh để chóng đến
bệnh viện, nhưng chiều chủ nhật đông xe, chiếc tắc-xi bị nghẽn đường
mấy lần và cuối cùng chỉ tới Grall lúc 5 giờ 10 phút. Chúng tôi
xuống xe, trình giấy giới thiệu khẩn cấp của bác sĩ Ph. cho viên
quản lý thường trực và khiêng cha tôi, lúc đó đang thiêm thiếp trong
chiếc khăn len dày, xuống băng ca. Một lát bác sĩ Gourillon tới, ông
bảo mọi người lui ra ngoài rồi tiến vào phòng. 10 phút sau, trước sự
chờ đợi nóng lòng của mẹ tôi, anh T. và tôi, viên bác sĩ Pháp đẩy
cửa bước ra, ông nhìn mẹ tôi trước nhất, khẽ nhún vai, buông xuôi
hai cánh tay xuống tỏ một dáng điệu thất vọng rồi nói với bác sĩ Ph.
lúc ấy cũng vừa tới nơi: “C’est foutu!”.
Tôi nhìn lên mấy hàng cây của khu công viên bệnh viện. Bầu trời vẫn
chưa lên cao sau một buổi chiều mưa rơi tầm tã. Những vũng nước nhỏ
yên lặng như những mặt gương, soi ngược mái dãy bệnh viện im lặng,
gác nhà thờ nhỏ nằm im lìm ở phía bên phải, những lá cây ướt nước
trở nên sậm màu hơn, và ở đuôi những chiếc lá, giọt nước mưa vẫn thi
nhau nhỏ xuống, không gây một tiếng động nhỏ.
Buổi sáng ngày hôm ấy, cha tôi đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo, lấy mấy
tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật
báo. Tôi đoán có lẽ cha tôi đi họp ở đâu vì cũng đúng vào chủ nhật
tuần trước, ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt. Cha
tôi có một thói quen dậy rất sớm khoảng 5 giờ, rồi cùng mẹ tôi ngồi
uống trà Tàu. Ngay cả trong những buổi sáng giá buốt của Đà Lạt,
thói quen đó cũng không bị bỏ. Nhiều lúc hứng trí, cha tôi còn đánh
thức chúng tôi dậy để cùng hưởng cái thú uống trà buổi sáng ấy.
Nhưng thường thì chúng tôi phản đối để ngủ lại. Cũng chính vì thức
sớm nên đến chơi nhà ai, cha tôi cũng đến vào lúc chủ nhân chưa ngủ
dậy.
Khoảng gần 10 giờ, cha tôi về. Tôi đang ngồi ở đi-văng, mở máy thu
thanh nghe mấy bản tân nhạc trình diễn, cha tôi bước lên cầu thang,
dáng hơn mệt mỏi. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần về nhà, cứ
để nguyên quần áo Tây ngồi xuống ghế xích-đu, bên cạnh tôi. Trong
suốt buổi sáng hôm ấy chỉ có cha tôi và tôi ở trên gác. Ông ngó
quanh quất không thấy ai nữa, hỏi tôi: “Anh T. mấy giờ về?”. Tôi trả
lời: “Mọi tuần đêm thứ bảy đã ở Sài Gòn không hiểu sao bây giờ vẫn
chưa thấy về nhà”. Cha tôi lộ vẻ băn khoăn, chờ đợi, bứt rứt, điếu
thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay. Ông mở bia, rót vào một
cái cốc nhỏ. Ánh nắng lọt qua khe cửa chiếu vào thành cốc dày loé
lên những ngôi sao sáng. Tự nhiên tôi nhớ đến một kỷ niệm cách đây
bảy năm, ở Đà Lạt. Năm 1956, một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, cha
tôi, chị Th. và tôi tổ chức một buổi pic-nic ở hồ Than Thở. Chúng
tôi tìm một chỗ thật vắng vẻ ở cuối hồ, cha tôi và chị Th. rải mấy
tờ báo xuống đất, dưới mấy gốc thông, chỗ lá thông khô rụng phủ dày
làm cỏ không mọc được. Tôi nghĩ nơi này không có đường mòn dẫn tới
chắc chẳng có ma nào đến, nhưng khi xách súng cao-su đi bắn chim ở
gần đó, tôi thấy rải rác dưới đất có những hộp cá rỉ, một tờ báo cũ
nát, mấy khúc cây cháy dở dang (vết tích của một bữa ăn no say), tôi
thấy nơi này không còn hiu quạnh nữa. Cha tôi nghĩ ra một cách nướng
lạp-xưởng rất giản dị. Lấy bông đổ alcool vào rồi đốt, hơ khúc
lạp-xưởng quăn queo lên trên ngọn lửa màu xanh nhạt. Cha tôi bày
biện sắp xếp thức ăn nom rất mỹ thuật, ngon mắt. Đặc biệt ông hay để
ý đến màu sắc của dĩa làm nổi những thức ăn bày ở trên, ông thường
bảo đĩa màu vàng làm nổi những thức ăn hơn những đĩa màu khác. Trong
bữa có món trứng cá caviar cha tôi bảo ăn rất ngon, nhưng chúng tôi
chịu không ăn được. Dùng bữa trưa xong, cha tôi mở bia rót vào mấy
cái cốc nhỏ. Chúng tôi không quen uống, nhất là lại không có đá,
nhưng cha tôi không bao giờ cho đá vào và bảo uống như vậy nhạt. Tôi
còn nhớ nắng hắt vào thành cốc – vẫn cái cốc hôm nay ông dùng – làm
loé lên những ngôi sao nhỏ. Một giờ sau đó lúc trở về mang theo một
con chim bị bắn chết, giơ khoe trước mặt cha tôi thì ông đang ngả
người hút thuốc, lưng dựa vào một gốc thông. Những vệt ánh sáng yếu
ớt lọt qua lá thông chạy loà xoà trên mặt cha tôi, một tí nắng đậu
yên ở trên sống mũi gần chỗ những đường gân đỏ bóng ở cuối mũi trông
như một viên cuội có những đường vân đẹp.
Cha tôi ho một tiếng ngắn. Tôi có cảm tưởng ông sửa soạn nói với tôi
điều gì. Nhưng ông chỉ im lặng. Từ lúc nãy một ban nhạc nào đó hát
đi hát lại mãi bản nhạc “Mừng ngày song thất”, tôi để ý thấy cha tôi
chú ý nghe nhưng không để lộ một thái độ nào. Tôi đem vấn đề ra Toà
ngày mai ra bàn, xem cha tôi đối phó ra sao. Tôi cũng đề nghị với
cha tôi không nên có thái độ nào khác ngoài sự im lặng. Nhưng ông
chỉ ầm ừ như không muốn những câu hỏi của tôi có thể làm loãng những
điều ông đang xuất ngoại. Thỉnh thoảng có tiếng chân ai lên gác, ông
giật mình ngó về phía cửa. Tôi với tay lấy sấp Ronéo để trước mặt
ông. Đó là bản cáo trạng khá dày, trong đó có những lời khai của cha
tôi ở cảnh sát. Ở trang cuối, tôi chú ý đến những lời kết tội như
“phản quốc”, “xâm phạm đến an ninh quốc gia”. Trong suốt hơn một giờ
đồng hồ, cha tôi vẫn giữ một thái độ im lặng, suy nghĩ. Ông uống bia
rất chậm. Dường như lại không biết mình đang uống bia nữa. Khi ông
để cốc rượu xuống bàn, chiếc ly rung rung lơ lửng vài giây sát mặt
bàn rồi mới hạ hẳn xuống một cách khó khăn, như giữa ông và cái bàn
có một sự xa cách đủ khiến ông phải gắng sức.
Khoảng 11 giờ, như vụt quyết định xong một điều gì, cha tôi có vẻ
thảnh thơi hơn, ông bỏ hẳn thái độ băn khoăn, thay quần áo ngủ, rồi
quay lại trả lời câu hỏi của tôi ban nãy: “Phải đấy, chẳng cần phải
nói gì cả, chiều nay con lại nhà luật sư Ch. lấy hết các giấy bác sĩ
về. Biết địa chỉ không?”. Tôi gật đầu. Cha tôi kéo ghế ngồi đối diện
tôi, nhìn tôi rất lâu. Tôi nói: “Con đoán họ chẳng làm gì cậu đâu,
nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc này họ đem ra xử
cho có lệ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có ra Côn
Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giàu thêm cho cuộc đời tranh đấu của
cậu. Cứ coi đó như một dịp đi nghỉ mát, biết đâu lại chẳng có những
tài liệu hay để viết, phải không cậu? Ra ngoài ấy, gặp hai chú S.,
anh V., vui biết mấy! Sẵn dịp đó cậu viết tiếp quyển
Xóm Cầu Mới
hay là con nghĩ thế này – tôi ngồi ngay lại trên ghế – cậu có thể
như Churchill về già viết lại quãng đời mình. Con nghĩ đó cũng là
một tài liệu quý lắm!”. Cha tôi nhìn ra ngoài cửa sổ đáp: “Cậu chẳng
sợ kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như
nhau. Có điều bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những
người quốc gia đối lập rồi gán cho họ tội phản quốc. Còn cái việc
viết hồi ký thì cậu cũng đã nghĩ đến hồi 1958 ở Đà Lạt. Cậu dự định
viết 3 quyển: cuộc đời làm báo và viết văn của Nhất Linh, cuộc đời
làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam và quyển thứ ba cậu nói về sự sưu
tầm hoa phong lan. Nhưng rồi về đây vì bận tờ
Văn hoá Ngày nay
nên chỉ viết được cuốn
Viết và đọc tiểu thuyết, sau đó lại bị
dính vào những rắc rối chính trị, không có tâm đâu mà viết”. Cha tôi
cúi xuống đọc lại một lần nữa bản án kết tội mình, khi ông ngẩng
lên, tôi ngập ngừng đưa ra một câu hỏi: “Bây giờ nghĩ lại tất cả
những việc cậu đã làm, cậu thấy hãnh diện về những việc gì nhất?”.
Cha tôi cười: “Thật ra thì chẳng có việc gì đáng tự hào vì chẳng có
việc nào cậu cho là đến nơi đến chốn. Nhưng cậu vừa lòng nhất là
việc thành lập được
Tự lực Văn đoàn. Đến bây giờ cậu vẫn tha
thiết về vấn đề này nhất. Chuyện chính trị nhiều khi cái không khí
nó bắt buộc mình phải tham gia, như cái tình trạng hồi Pháp thuộc,
lúc đó, nếu cậu không đứng ra giúp nước thì trong lòng áy náy chẳng
làm được chuyện gì khác. Nhiều khi người ta bị đẩy tới guồng máy
hoạt động một cách rất giản dị đến nỗi chính họ cũng không ngờ tới
sự quan trọng của việc họ làm, rồi như những bánh xe ăn khớp nhau,
họ bị đẩy dần vào vòng trách nhiệm. Ngay cả những hồi lấy lan ở Đà
Lạt, cậu vẫn bứt rứt vì thấy mình không thể đứng ngoài vòng trách
nhiệm ấy, nên phải về hoạt động lại ở Sài Gòn. Chính vì thế làm
chính trị, lúc nào tiến thì dễ, liệu lúc nào rút khỏi đúng lúc mới
khó. Nếu ông Diệm sau một năm đầu ổn định tình thế quốc gia từ chức
ngay khi ban hành hiến pháp có phải đẹp biết mấy”. Tôi sực nhớ ra
một điều hỏi: “Còn đảng Việt Quốc ra sao? Còn hoạt động gì nữa
không?”. Cha tôi có vẻ buồn, ông chớp mắt mấy cái rồi hạ giọng: “Lúc
nào cậu cũng muốn có một sự đoàn kết thật sự các anh em, đến bây giờ
cậu còn muốn những đảng viên trẻ tiến lên hàng lãnh tụ, những tầng
lớp già rút lui đến nếu cần thì làm cố vấn thôi”.
12 giờ trưa, cả nhà đông đủ, mẹ tôi ở dưới nhà lên, anh T. mới ở
Biên Hoà về, chúng tôi dùng bữa trưa rất vui vẻ. Cơm xong, tôi ngủ
trưa, cha tôi khác với lệ thường không đi nghỉ. Trong giấc ngủ chập
chờn tôi nghe mơ hồ thấy cha tôi và anh T. nói chuyện với nhau bằng
tiếng Pháp. Đến ba giờ trưa tỉnh giấc, tôi vẫn thấy hai người đang
nói chuyện, mẹ tôi đã xuống nhà dưới tự bao giờ. Tôi hơi ngạc nhiên
thấy hai người uống Whisky, thứ rượu mà cha tôi đã bỏ từ nhiều năm
nay. Nhưng xem dáng, tôi thấy cha tôi rất vui vẻ, ông sốt sắng hỏi
tôi về chuyện học hành, chuyện đi dạy học của tôi. Nhân dịp này tôi
có hỏi ý kiến ông về việc có một số người lạ tới gặp tôi trong những
ngày gần đây rủ tôi vào một đoàn thể thanh niên mưu chống lại chính
quyền Diệm. Cha tôi có vẻ lưu tâm đến vấn đề, ông khuyên tôi phải
nên thận trọng vì từ sau vụ đảo chánh thất bại ngày 11-11-1960,
những đoàn thể đó có thể của Nhu tung ra để gài bẫy những người muốn
chống lại họ. Trong câu chuyện ông rất bình tĩnh, vui vẻ, giảng giải
khúc chiết khác hẳn thái độ của ông trong mấy ngày qua. Điều đó làm
tôi vui lây. Tưởng như câu chuyện ra Toà ngày mai không còn làm cha
tôi quan tâm nữa. Uống xong ly rượu nhỏ, cha tôi đề nghị mua thêm
rượu mạnh nữa. Chúng tôi nghĩ có lẽ rượu làm ông quên được những sự
thắc mắc khó chịu nên chúng tôi rủ nhau đi, hẹn cha tôi 15 phút sau
trở về ngay. Lúc tôi sắp bước xuống cầu thang, cha tôi gọi giật tôi
lại, tôi nghe ông gọi tên tôi bằng một giọng xúc động, nhưng ngay
lúc ấy tôi không để ý. Ông nhìn lâu vào mắt tôi, ngập ngừng đưa một
cánh tay về phía trước như muốn nói điều gì lại thôi, chỉ hỏi: “Đi
có 15 phút thôi à?”. Đến bây giờ nghĩ lại tôi còn nhớ rõ cái nhìn
của cha tôi lúc ấy, ánh mắt như gửi đến tôi những điều mà ông không
thể diễn tả bằng lời.
Tôi chở anh T. đến đường Đồng Khánh, lúc ấy khoảng 4 giờ chiều. Trời
âm u buồn như muốn mưa. Chúng tôi vào mấy tiệm để lựa thứ rượu nào
cha tôi ưa thích. Cuối cùng chọn được chai Johnnie Walker, vừa đi ra
thì trời lại đổ cơn mưa to. Chúng tôi trú ở mai hiên nhà hàng
Arc-en-ciel. Trời tối sầm lại. Người đi đường chạy dạt vào hai bên
trú mưa. Anh T. lộ vẻ băn khoăn, nóng nảy, bứt rứt. Tôi thấy anh
đứng một chỗ như không yên. Một chiếc tắc-xi vút tới, những giọt
nước mưa màu vàng sáng đan nhau líu ríu trước hai vệt đèn pha. Tôi
ngạc nhiên thấy anh T. chạy vụt ra đón chiếc tắc-xi ấy, mặc dù mưa
rất nặng hạt. Anh chỉ kịp nói với tôi một câu: “Mày ở lại đây, tao
về trước!”.
Tôi nhìn những giọt nước mưa bắn toé bọt trắng ở bên mặt lộ, hơi
nước trắng nhờ phủ kín mặt nhựa. Thỉnh thoảng một chiếc xe xẹt ngang
rẽ nước sang hai bên. Bên cạnh tôi, dưới mái hiên một cô bé chừng 15
tuổi dứng khép nép vào sát tường, cô ta căng cái ô ướt sũng nước về
phía trước, nhưng những giọt nước mưa quái ác vẫn bắn toé vào hai
gót chân. Mái tóc của cô ta mềm phủ dài sau lưng, bụi nước mưa phủ
trắng lấm tấm như những hạt sương nhỏ.
Tôi nghĩ miên man đến những chuyện riêng rồi cuối cùng trở lại
chuyện cha tôi ngày mai phải ra toà, không biết gia đình có được vào
xem xử án không. Dần dà tôi khám phá ra hình như thái độ gần đây của
cha tôi có một cái gì khác thường tất cả diễn ra như sắp xếp theo
một nhịp ngăn nắp, một trật tự đặc biệt. Mọi thái độ, lời nói, cử
chỉ của cha tôi mấy hôm nay mơ hồ như có liên quan với nhau như âm
thầm, dan díu, mưu tính để cùng tiến tới một ý định duy nhất. Sự
khám phá đó nở dần trong tôi một mối lo sợ, đầu tiên là những gợn lo
âu vớ vẩn có xen chút hoài nghi như một bộ hành sợ mưa khi nhìn thấy
vài áng mây đen trên nền trời xanh. Nhưng sau đó, kiểm điểm lại,
thấy quả thật mọi việc đều ăn khớp với nhau mật thiết như một sợi
xích, thì lý trí tôi đã tìm được lý do để thông đồng bào chữa cho
nỗi lo âu của mình. Từ đó, lo sợ biến thành một cảm giác bàng hoàng
xâm chiếm ồ ạt con người tôi như một dòng nước mạnh phá vỡ con đê.
Nỗi bàng hoàng toả ra, lan ra khắp người như cảm giác đang khi ở
trong phòng lạnh chợt mở cửa bước chân ra ngoài đường phố.
Tôi bắt đầu đi vào giấc mơ. Trí óc tôi vẫn tỉnh suốt. Nhưng cảm giác
lạc đi, tê dại. Mưa vẫn quất xối xả. Tôi nhìn xuống mái tóc cô gái
đứng trú mưa cạnh tôi, rồi quay đi. Nhưng trong trí tôi vẫn còn
vương lại hình ảnh những bụi nước nhỏ lấm tấm, những bụi nước ấy cứ
lởn vởn ám ảnh một cách dai dẳng vô lý. Từ đó, hiện lên rất nhiều
những đốm trắng nhỏ nhảy múa trước mắt, chúng nở ra nhoà đi, rung
rinh trên một nền trắng; trong đó là hình ảnh của cha tôi buổi chiều
ngày hôm trước, lúc ông đang nằm trên nệm trắng, vòng tay gối đầu,
ngửa mặt lên trần. Hai mắt ông màu nâu đục, cái nhìn xa xăm buồn bã
như suốt đời đi tìm chẳng bao giờ toại nguyện. Tôi tiến lại, đưa cho
ông một tờ giấy tôi vừa nhận được, trên góc có đóng hai chữ “Thượng
khẩn” màu đỏ: người ta buộc cha tôi đúng 6 giờ chiều ngày 6-7-1963
phải trình diện tại Tiểu đội Hiến binh số 635 đường Nguyễn Trãi vì
“một lý do sẽ cho biết sau”. Cha tôi nhỏm dậy, chống một khuỷu tay
lên giường, ngước nhìn đồng hồ. Tiếng máy xe mô-tô của người hiến
binh nổ dòn ở dưới nhà, nhỏ dần, loãng đi rồi mất hẳn. Cha tôi đứng
dậy, mở cửa sổ, trông xuống đường. Chặp sau, suy nghĩ hồi lâu, ông
quay về phía tôi, bảo: “Con mặc quần áo đi với cậu đến nhà chú K.”.
Tôi hơi bực mình, vì chiều thứ bảy nào tôi cũng có mục riêng, không
đến chơi nhà mấy thằng bạn thì cũng chui vào rạp xi-nê, nhưng tôi
không dám trái lời. Trên chiếc tắc-xi rời chợ An Đông hướng về miệt
Sài Gòn, tôi thấy cha tôi cứ chốc chốc lại ngoái về phía sau. Ông
bảo tôi: “Con xem có xe nào theo không? Lúc nãy cậu thấy có mấy
người lạ đứng bên kia đường nhìn vào nhà mình”. Tôi ra hiệu cho tài
xế rẽ quặt sang đường Trần Bình Trọng. Chiếc xe hơi duy nhất chạy
phía sau vẫn tiến thẳng đại lộ Thành Thái. Tôi đáp: “Không! Không có
xe nào theo mình cả!”. Cha tôi ngồi bên cạnh, một tay chống lên má,
cúi đầu nhìn xuống mũi giày. Ông có vẻ thật buồn. Má ông tôi thấy
hóp hơn; cha tôi trở về thái độ đăm đăm khó hiểu có từ mấy ngày nay.
Tóc ông bị rụng khá nhiều trong những ngày sau cùng nhiều suy nghĩ,
nom xơ xác hơn, mấy sợi bạc phất lơ thơ theo gió. Một lát, ông hơi
giật mình ngẩng lên nhìn ra ngoài rồi bảo tôi: “Sao không đi xe
Vespa của con?” – “Sợ cậu mệt, xe con đi xốc lắm!”. Cha tôi nhăn
mặt: “Ối dào! Cần gì!”. Ông im lặng một lát khá lâu rồi nói tiếp,
giọng thật nhỏ nghe như một tiếng thở dài: “Từ trước đến nay, cậu đã
đi xe con lần nào đâu!”.
Một chiếc tắc-xi ở đằng xa vụt tới, cô gái đứng bên cạnh tôi giơ cao
ô, bước ra khỏi hiên, tay ngoắc rối rít, nhưng chiếc xe trên có
người. Tôi lắng nghe tiếng mưa rào rào. Để ý thấy tiếng mưa đang reo
to bỗng như hụt xuống, âm thanh trầm hẳn kéo dài dật dờ trôi từng
đợt nhỏ dần về phía cuối đường. Ở đó, như vỡ ra, tiếng mưa lại ào ào
ran lên từng nhịp. Tôi ngẩn ngơ nghe tiếng mưa trôi dạt rồi bỗng
nhiên bị hút trong những hình ảnh vô trật tự, những mẩu đối thoại
ngắn hỗn độn, đồng thời cảm giác lo âu, bàng hoàng lại trở về, rối
loạn, mãnh liệt. “Người ta sẽ giữ tôi lại!”. Cha tôi bấm vào vai chú
K., ra hiệu cho tài xế về nhà, lúc chiếc tắc-xi tới gần Tiểu đội
Hiến binh. Hình ảnh ban trưa cha tôi và anh T. rì rầm nói chuyện.
Gương mặt thảng thốt của ông lúc gắt với chị Th. tối qua!” – “Chết!
Sao hôm nay anh nói gì lạ thế!”. “Ngày mai, tôi ra Toà. Họ xử tôi
không biết bao nhiêu năm, biết còn sống đến ngày về không?”. Thái độ
bỏ về hốt hoảng của anh T. đang lúc mưa rơi nặng hạt. “Không! Không
ai xử được tôi đâu!”. Ánh mắt kỳ dị của cha tôi nhìn tôi hồi nãy:
“Đi có 15 phút thôi à?”.
Tôi không dám nghĩ tiếp. Tim tôi như đứng lại. Một cái gì ghê gớm
đang chờ tôi ở nhà. Tôi quay sang bên, người con gái có mớ tóc dài
đã bỏ đi từ hồi nào. Mưa vẫn chưa dứt. Nhưng tôi vẫn băng ngang
đường, mở khoá xe. Một chiếc xe buýt màu vàng nặng nề trờ tới, đổ
xịch thả một bà cụ xuống vỉa hè.
Lúc tôi nhảy hai bước một lên cầu thang, nhìn vào phòng, thì mọi
chuyện đã xong xuôi cả rồi. Căn buồng đóng kín cửa, tối mờ mờ. Một
bầu không khí yên lặng trang nghiêm. Mùi hương đâu đây phảng phất.
Cuối phòng vẫn trên cái ghế xích-đu buổi sáng ông ngồi nói chuyện
với tôi, cha tôi ngồi gục đầu, hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh
tay buông lỏng thả quệt xuống sàn nhà. Dáng điệu ấy thoạt trông thì
khổ sở nhưng nhìn gương mặt thì tuyệt nhiên không một nét đau đớn.
Ông như người ngủ một ít nước bọt nhỉ ra ở khoé mép. Anh T. từ lúc
nãy vẫn ngồi cúi đầu yên lặng, tưởng như không có mặt anh trong
phòng, ngẩng lên, tưởng như không có mặt anh trong phòng, ngẩng lên,
tôi thấy mắt anh không còn làm cho tôi ngạc nhiên nữa: “Cậu đã bỏ
chúng ta đi rồi!”. Mẹ tôi đang thắp hương lâm râm khấn trước bàn
thờ, quay lại nhìn tôi, mắt cũng đỏ nhưng không khóc, cái nhìn của
bà dại đi như không còn nhận ra tôi là ai nữa. Bà phác vài cử chỉ
thừa thãi, rồi như người miên du bà bỏ đi xuống nhà. Đèn cầu thang
vẫn bật sáng từ trước, nhưng theo một thói quen vô ý thức, bà giơ
tay bật đèn, thành thử cầu thang lại bị tối om.
Trong suốt thời gian trú mưa dưới mái hiên nhà hàng Arc-en-ciel,
bàng hoàng và lo sợ đã xâm chiếm lấy tôi. Xúc cảm của tôi như bị dãn
ra tê liệt. Tới nỗi bõng dưng giáp mặt trước cảnh tượng này, tôi
giản dị quá. Nó mở ra trước mặt tôi một cảm giác mơn man êm ả; như
một giải thoát thoải mái. Tôi nghĩ: “Xong rồi!”. Và tự nhiên thấy
tâm hồn mình trở nên bình tĩnh. Tôi hỏi anh T.: “Anh gọi bác sĩ
chưa?”. “Chú K. đi gọi bác sĩ Ph. từ 15 phút rồi!”. Tôi hỏi tiếp:
“Chú K. đến từ hồi nào vậy? Mà tại sao lại đến đúng lúc vậy nhỉ?”.
Không có tiếng trả lời câu nói của tôi.
Cha tôi vẫn ngồi đó, không ai đụng tới. Trên một bàn nhỏ trước mặt
ông, chai rượu đã vơi gần nửa. Quyển
Wuthering Heigths của
Brontë còn mở rộng trước mặt. Thời khắc trôi qua rất chậm. “Phải làm
một cái gì chứ”. Tôi nghĩ. Nhưng không biết sao tôi vẫn ngồi bất
động ở trên đi-văng. Căn phòng tự nhiên tối tăm và yên lặng quá.
Tiếng quạt trần quay chậm rì rầm, rì rầm. Căn nhà sát bên vọng sang
một tiếng quát mắng: “Cho mày chết!”. Rồi có tiếng guốc hấp tấp
xuống cầu thang, giận dữ. Im một lát. Tiếng một thằng bé oà lên
khóc. Tiếng khóc thê thảm kéo dài mãi không ngớt, tôi chú ý nghe mà
gần muốn hụt hơi. Tôi nghĩ thầm trong trí: “Thằng bé nào mà khóc dai
vậy nhỉ?”. Rồi lắng tai chờ đợi, xem người chị vừa bỏ xuống nhà khi
nãy có trả lên dỗ nó không? Khung cảnh ấy thường xảy ra từ bao nhiêu
năm nay không bao giờ tôi chú ý, bỗng dưng vô lý lại ám ảnh tôi quá
đáng. Những tiếng động vang sang rất rõ, có lẽ là còn nét hơn cả mọi
lần, nhưng tôi nghe vẫn thấy như lạc đi, như tất cả cái sinh hoạt ấy
thuộc về một thế giới khác, một thế giới thực sự, quen thuộc nhưng
xa xăm, không còn liên lạc gì với tôi nữa.
Mẹ tôi bắt đầu sụt sùi. Tiếng anh T. gắt, nhưng vẫn cố đè giọng thật
nhỏ: “Mợ khóc làm gì? Có ích gì đâu?”. Anh đến sát bên, nhấc cánh
tay cha tôi lên, bắt mạch. Lát sau anh nói: “Mạch yếu lắm! Khiêng
cậu lên giường mau!”. Chúng tôi choàng một cái chăn lên dày lên
người ông, phải khó khăn lắm mới mang nổi cha tôi lên giường. Thân
thể ông mềm ra, nên khi hai người khiêng, người ông trũng ở giữa như
một chiếc võng. Anh T. rút trong túi cha tôi một tờ giấy, giơ tôi
xem nói: “Di ngôn của cậu đấy! Giấu thật kỹ! Đừng để cho tụi mật vụ
nó cướp lấy!”.
Có tiếng nói lao xao ở dưới nhà. Tôi thở ra khi nhận được giọng nói
quen thuộc của bác sĩ Ph. và của chú K, bác Ph., tay xách cặp da y
sĩ, bước vội lên lầu. Tiếng bác nói rất lớn, tôi có cảm tưởng như
ông vừa mang sự sống cho căn phòng này: “Rõ khổ! Mới buổi sáng nay
anh Tam còn lại nhà tôi mà! Khổ quá!”. Bác bước vội lại bên giường
giở chăn, áp sát tai vào ngực cha tôi nghe ngóng. Ông hấp tấp mở cặp
da, cưa ống thuốc, chích cho cha tôi một mũi vào gân máu. Mẹ tôi lo
lắng hỏi: “Thế nào?”. Bác thu mũi kim vào, tra vào cặp, lắc đầu trả
lời: “Phải chở gấp vào Grall! Để lâu thuộc độc ngấm vào máu không
chữa được đâu!”.
Cha tôi kể như đã mất lúc mang đến bệnh viện. Nhưng điều này – ngay
lúc ấy – không ai dám nghĩ tới. Câu nói của bác sĩ Gourillon không
làm cho chúng tôi hoàn toàn tuyệt vọng. Bác sĩ Ph. khẩn khoản:
“Faites quand même quelque chose pour lui”. Chú K. cũng tiến tới,
xúc động còn in rõ trên nét mặt, giọng chú lạc hẳn, tới nỗi tôi
tưởng đâu chú đang xúc phạm viên bác sĩ Pháp: “Fais l’impossible!”.
Người ta chở cha tôi lên lầu. Trong một phòng nhỏ có máy lạnh, viên
y tá bơm dưỡng khí vào phổi cha tôi. Ngực ông thở nhấp nhô đều đều.
Mãi sau này, khi nghe bác Ph. trình bày lại là bác sĩ Gourillon đã
tính cho chở thi thể cha tôi vào phòng xác ngay sau cuộc khám xét sơ
khởi ấy, tôi mới chịu tin rằng cha tôi đã bỏ đi ngay từ buổi chiều
hôm đó, ngày 7-7-1963, có lẽ vào lúc mà tôi ngước nhìn lên những
hàng cây của khu công viên bệnh viện đứng rũ mình dưới bầu trời màu
xám chì thảm đạm. Và tất cả những gì người ta đã làm theo sự khẩn
nài của chúng tôi – từ sau đó đến nửa đêm, với tất cả những phương
tiện tối tân của bệnh viện, là chỉ cốt gây cho cha tôi một sự sống
giả tạo để kéo dài hy vọng cho những người còn lại, cho những giọt
nước mắt khoan chảy trên gò má chúng tôi.
Khoảng 7 giờ hơn. Một màn tím thẫm phủ kín khu nhà thương. Cuối con
đường lát sỏi của khu vườn hoa, một cột đèn sắt gục đầu phả ánh néon
lạnh lẽo. Giờ thăm bệnh đã hết từ lâu. Người gác cổng khom lưng đẩy
hai cánh cửa sắt nặng nề. Cười, vì trường hợp đặc biệt, được phép
suốt đêm ở lại bệnh viện. Trên một chiếc ghế dài ở hành lang, anh T.
và tôi từ lúc nãy không ai nói một câu. Anh để hai tay lên đùi, nhìn
xuống sàn. Lát sau, vẫn không ngẩng lên, anh nói: “Liệu có qua được
không?”. Tôi đáp: “Hy vọng lắm! Có gì trễ đâu! Cậu uống được vài
tiếng thì mình đã mang vào nhà thương rồi”. Ở đầu kia, một bác sĩ
Pháp đẩy cửa phòng cha tôi bước ra, ánh đèn hắt ra ngoài cắt một
khoảng sáng trên nền hành lang tối sâu thăm thẳm. Bác Ph. đứng ở cửa
chặn lại hỏi thăm. Hai người thì thầm nói chuyện rất lâu: “Lúc anh
bỏ về thì cậu đã uống chưa?”. “Rồi! Có lẽ ngay từ lúc tụi mình vừa
đi khỏi, nhưng ông còn tỉnh lắm, vừa thấy tao là ông hỏi ngay: Đi gì
nhanh thế? Tao giơ chai Walker lên bảo ông: Rượu đây, cậu uống cho
say rồi quên cái ý tưởng muốn tự tử tối hôm nay đi, người ta chẳng
đáng để cậu bận tâm đâu! Ông không nói gì cả, rót rượu vào cốc, uống
một hơi cạn liền. Uống xong ông lại rót đầy một ly nữa, rôi cũng
uống một hơi cạn. Kể thì cũng hơi lại, nhưng thấy ông xuống buổi
chiều nay vui quá tao cũng không để ý”. Tôi giơ tay ngắt lời: “Sao
anh biết tối nay cậu tự tử?” – “Chính ông nói mà, vào buổi trưa lúc
mày còn ngủ quên trên giường. Ông tin việc làm của mình là phải nên
không giấu. Ông bảo đêm nay 10 giờ cứ để ông ngủ như thường. Sáng
mai, đánh thức dậy là xong rồi. Tha hồ để cho người ta xử. Ý ông đã
quyết như thế, ông bảo nếu không xong hôm nay, thì vào khám cũng
chết. Tao đã có kế hoạch đối phó cả rồi nếu… tối nay ông tự tử
thật”. Anh T. dừng lại, di một ngón tay lên đùi, lát sau anh hạ
giọng: “Nhưng không ngờ ông lại làm sớm thế…”. Tôi bất thần quay hẳn
sang phía anh tôi, hỏi: “Còn tờ di chúc cậu viết hồi nào vậy?” – “Có
lẽ hồi sáng, tao cũng chẳng biết, ông uống hết cốc thứ ba rồi thì
thò tay vào túi rút ra cái tờ giấy ấy đưa cho tao xem. Đến lúc ấy
tao mới biết là ông tính làm thật. Tao đã định chốc nửa ông ngủ sẽ
lục túi ông lấy thuốc độc giấu đi; ông dặn tao là tờ di ngôn này
phải đưa cho ông Đặng Văn S., bác sĩ Đặng Văn S., và nhờ ông chuyển
đi ngoại quốc. Còn liệu có thể đưa cho ký giả Mỹ Pháp được thì khỏi
cần. Lúc ấy ông như sực nhớ ra điều gì, đi lại bàn viết. Tao thấy
ông có vẻ mệt, ông ngồi lên thế tay run run viết bản thứ hai giống
hệt bản thứ nhất. Bản này chữ xấu lắm, nét nguệch ngoạc rời rạc
những dấu phẩy nằm bên cạnh nhau. Sau này nhìn kỹ tao mới thấy hai
bản khác nhau một chữ. Bản thứ nhất: Tôi không chịu để ai xử cả, bản
thứ hai thì: Tôi không chịu để ai xử tôi cả
[2] . Viết xong ông nói: Tí nữa thì quên, phải viết hai
bản thế này nhỡ nó tóm được một thì còn bản kia chứ. Ông giơ tay che
miệng ngáp một cái dài ròi nói: Gớm! Buổi trưa mải nói chuyện, không
ngủ, bây giờ mệt quá. Ông nhìn ra cửa sổ, nhìn bầu trời ướt sũng
nước mưa, rồi nói, rất nhẹ, nghe như hơi gió: Trời hôm nay đẹp quá…
Tao quay lại thì ông đã ngủ rồi. Đó là câu nói cuối cùng của ông.
Tao cứ để yên ông ngủ, bỏ xuống dưới nhà. Lát sau, lên nhà thì thấy
ông nằm trên ghế có vẻ gì khác lạ dáng điệu khổ sở quá, tao nhìn
chai rượu vơi gần nửa rồi mới sực nhớ đến cử chỉ của ông lúc nãy.
Khi ông uống đến cốc thứ ba, ông như tọng rượu vào đầy người chứ
không có vẻ gì là ngon lành cả. Hình như có cái gì chặn tay ông lại
khiến ông phải cố gắng lắm mới nâng nổi cốc lên miệng. Ông hấp tấp
uống như muốn để nén một cái gì. Lấy làm lạ, tao thử lay lay ông dậy
nhưng thấy người ông mềm hẳn ra. Tao tái người vội vàng chạy xuống
nhà gọi mợ lên. Tao nghĩ ngay đến việc gọi bác sĩ, nhưng vừa mặc
quần áo xong thì chú K. cũng vừa tới nơi”. Anh ngừng lại, nắm chặt
tay đập lên đùi: “Không hiểu sao tao không nghĩ là ông có thể tự tử
ngay trước mặt mình, tao cứ nghĩ người ta phải tự tử ban đêm, từ lúc
tao về đến nhà có đầy 15 phút đâu?”.
10 giờ đêm. Bác Ph. gọi riêng chúng tôi báo cho biết cha tôi khó qua
khỏi đêm nay. Chúng tôi bàng hoàng sửng sốt cả người. Mẹ tôi bảo
chúng tôi phải báo tin ấy cho những người thân. Trên chiếc xích lô
máy rời bệnh viện, tôi quay sang anh T. hỏi: “Cậu uống gì mà có thể
chết nhanh vậy nhỉ?”. Anh đáp: “Không biết, vừa rồi bác sĩ phân chất
thấy không có thuốc ngủ trong nước tiểu. Chắc là phải mạnh lắm, rồi
lại thêm rượu vào nên mới nhanh thế!”. Tôi lại hỏi: “Buổi trưa cậu
nói gì với anh?” – “Ông dặn tao rất nhiều điều phải làm sau này. Đầu
tiên ông nói về phong trào đấu tranh của Phật giáo, tới vụ tự thiêu
của Thượng toạ Thích Quảng Đức, tới việc ngày mai ra Toà, rồi ông
kết luận là ông phải chết như Thượng toạ để đẩy mạnh thêm phong trào
tranh đấu chống chính phủ Diệm. Tao có nói rằng cậu hy sinh như vậy
phí đi. Nhưng ông có vẻ giận tao về câu ấy lắm, ông bảo cứ nghĩ như
thế thì chẳng làm được gì cả. Nếu cái chết có thể cảnh cáo được họ
hay ít ra cũng có một tiếng vang thì còn tiếc gì thân mình nữa. Ở
nhà bác tôi trở về bệnh viện chúng tôi đi trên hai chiếc xe hơi. Dự
định là sẽ họp nhau lại tối nay để bàn kế hoạch đối phó, phân công.
Nếu cha tôi mất đêm nay, ngày mai sẽ mở ra đầy bất trắc. Người ta có
thể xông vào nhà tôi cướp tờ di ngôn ấy không? Làm sao cho tờ giấy
ấy có thể lọt ra ngoại quốc, thoát các bàn tay mật vụ? Lúc ấy 11 giờ
đêm, hai xe đi cách nhau 50 thước, lướt trên những con đường về đêm
vắng ngắt. Một hồi đến ngã tư Duy Tân, Hồng Thập Tự, xe trước đi mất
hút. Anh L. làu nhàu gắt gỏng: “Thằng Q. đi gì mà kỳ cục vậy?”.
Nhưng vòng một lát gần đến bệnh viện thì bắt gặp lại xe đi trước.
Tôi thốt nhiên chú ý tới một xe traction mang số NBN màu đen đi lủi
theo sát lấy xe của Q… Xe này vừa quặt sang đường Nguyễn Du, xe
traction bám theo liền. Anh L. chỉ tay cho chúng tôi thấy, kêu lên:
“Xe mật vụ!”. Rồi anh đập tay lên bánh lái, giận dữ: “Tụi này nó
thính mũi như ruồi!”.
Nửa đêm, tôi đứng tựa lan can, nhìn lên bầu trời lòng trĩu nặng. Các
bác sĩ Grall vừa báo cho biết cha tôi chỉ còn sống được 15 phút nữa.
Tất cả những căn phòng khác mấy khu bệnh viện đều rơi vào bóng tối
và yên lặng. Chỉ trừ phòng cha tôi đèn còn bật sáng. Người nữ y tá
rời phòng đi ra, lặng lẽ cúi đầu bước xuống cầu thang. Chừng hơn
mười người thân thuộc đứng nói chuyện nhỏ tiếng trước cửa phòng. Anh
B. ngồi lẻ loi trên một chiếc ghế dài, buồn bã. Đèn phòng hắt ra, đổ
dài bóng anh trên nền hành lang lạnh lẽo. Có tiếng vài người khóc.
Tiếng mẹ tôi trong phòng lọt ra thảm thiết: “Anh Tam ơi! Anh bỏ…”.
Tôi há miệng ra, ngăn chận một xúc động đang dâng lên đầy ngực,
nhưng không kịp. Hình ảnh cha tôi nhoè ra, rạng rỡ tươi cười, hình
ảnh ấy của 5 năm về trước, lúc ông vừa xem xong một truyện ngắn của
tôi tả về cái chết của ông. Trong đó tôi kể một buổi đi chơi núi,
cha tôi với một nhánh Huyết-nhung-lan ở bờ vực, rồi hụt chân ngã
xuống khe. Người ta vực ông về nhà nhưng đến bên dòng Đa-mê thì ông
tắt thở, sau khi mỉm cười nhìn lần cuối cùng vườn hoa của mình. Ông
ưa nhất chuyện ấy. Mỗi lần đọc ông lại mỉm cười thích thú. Nhưng ông
không đưa cho ai xem, sợ người khác không hiểu cho tôi bất hiếu.
Thành thử mỗi lần khoe ai về chuyện ấy, ông có vẻ bực tức khi thấy
người đối diện lộ vẻ không tin. Một lần tôi hỏi ông: “Chết rồi sẽ ra
sao nhỉ?”. Ông nghỉ một hồi, cười trả lời: “Hồi bà Trưng chắc chắn
là mình chưa ra đời chứ gì? Thế mình ở đâu? Chết tức là trở về mình
hồi ấy đó!”.
Có tiếng xôn xao. Mọi người đổ dồn vào phòng. Khi tôi chạy lại bên
giường thì vừa kịp thấy ngực cha tôi ngưng thở. Ngay lúc ấy, một cái
gì thoảng qua rất nhẹ trên nét mặt ông. Nhưng khi nhìn kỹ, thấy
gương mặt không có gì đổi khác tôi biết là mình đã quá giàu tưởng
tượng. Hai ba người hỏi lao xao: “Mấy giờ rồi? Mấy giờ rồi?”. Không
ai trả lời. Mẹ tôi oà lên khóc ngất. Tôi bỏ ra ngoài. Gió từ phía
sau nhà thương thổi lạnh gây gây. Một lần nữa, tôi nghĩ thầm trong
trí: “Xong rồi!” và thấy chỉ còn trong người một mối uất hận man dại
thấm thía. Trước mặt tôi lơ lửng một cái màng mỏng phất phơ qua lại,
tôi nhớ mình vừa thấy đâu đây một cái màng nhện giăng ở góc tường.
Bỗng nhiên trong người tôi nở dần ra một cảm giác lan ran, một cái
thú tê dại khổ sở đau thương như cái thú nuôi nấng một mối căm hờn,
cái thú sung sướng man dã khi bắt gặp một người bạn thân mà mình bấy
lâu đối xử tử tế bỗng dưng trở mặt lừa đảo lại mình.
Từ hồi sáng, cha tôi vẫn bận quần áo ngủ. Mẹ tôi đòi thay quần áo
Tây cho ông trước khi đưa vào phòng xác. Cánh tay ông lỏng lẻo quá,
không thể nào bỏ được vào ống tay áo, trừ khi nhét thật mạnh vào,
nhưng tôi lại sợ ông đau. Tôi phải cố nghĩ: Ông không còn biết đau
là gì đâu, mới làm xong được việc ấy. Lát sau trên chiếc xe hồng
thập tự bít bưng của bệnh viện, mẹ tôi và chúng tôi ngồi trên hai
dãy ghế dài, yên lặng không nói một câu. Trên băng-ca đặt dưới sàn,
một mảnh vải trắng rộng phủ lên thi thể cha tôi. Chiếc xe lướt êm
quanh co trên những con đường nhỏ của khu nhà thương mênh mang. Đến
trước cửa nhà xác, xe ngừng lại; người gác-dan ngái ngủ, dụi mắt, mở
cửa sau, phụ với viên tài xế khiêng băng-ca xuống. Tôi bước vào nhà,
dừng mắt trước một cánh cửa dày kẻ một hàng chữ đỏ chói: “Buồng
lạnh. Triệt để cấm vào”. Người gác-dan tra khoá vào ổ, chiếc cửa
nặng nề mở ra, có tiếng máy chạy ù ù. Bên trong, một làn ánh sáng
nhợt nhạt. Khí lạnh toát ra gai người, mấy dãy giường sắt khô khan.
Một cái xác đã nằm sẵn trong góc trái. Tôi hơi ghê sợ với ý nghĩ tối
nay cha tôi phải nằm đây một mình. Chúng tôi vén tấm vải lên, nhìn
vào gương mặt ông, ghi nhớ hình ảnh ông một lần cuối: Mắt ông đã
nhắm lại. Từ nay chúng tôi không còn được thấy cái tật hay chớp mắt
của ông, cái nhìn buồn bã vô tận ấy nữa. Râu của ông lưa thưa màu
muối tiêu, riêng đôi lông mày vẫn còn rậm rạp. Tóc ông lưa thưa như
hói phía trên, lộ cái trán rộng mênh mang.
Anh T. bỏ tấm vải che mặt xuống. Tôi nhớ tới hình ảnh vui vẻ của ông
mới hồi trưa, tới niềm vui bèo bọt của tôi hồi chiều lúc ông bảo tôi
đi mua rượu, tới ánh mắt nhìn tôi rất lạ và câu nói sau cùng mà tôi
được nghe thấy ở ông: “Đi có 15 phút thôi à?”. Rồi quay sang phía
mẹ, tôi nói: “Thôi! Cậu đã bỏ đi thật rồi!”. Tôi chợt chú ý giọng
nói của mình, âm thanh như đứng một chút ở cửa miệng, ngỡ ngàng như
giọng nói của một người khác. Rồi bỗng tôi thấy câu nói của chính
mình nghe tội nghiệp, thảm thương quá. Chữ “bỏ đi” nhắc nhở tôi một
cái gì mất đi hoàn toàn, một hình ảnh không còn nữa hay không bao
giờ còn trở lại. Một mối xúc động lại dâng lên chặn lấy ngực tôi
nặng như một khối đá, tôi há miệng ra, quyết chặn đứng một lần thứ
hai không cho lên cổ, nhưng không còn kịp nữa.
Lúc ấy một giờ ba mươi. Khi tôi ngẩng lên, các vì sao lấp lánh trên
bầu trời đã lung linh nhoè nhoẹt cả rồi.
Chú Thích:
[1]Các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Việt Nam Quốc dân
Đảng, Đại Việt Dân chính v.v… thống nhất lực lượng và lấy tên chung
là Quốc dân Đảng.
[2]Bản này sáng hôm sau chúng tôi mang đến 19 Ngô Đức Kế,
đưa cho Hãng Thông tấn U.P.I. làm photocopy và phổ biến trên báo
Newsweek và Time.
Nguồn: Chân dung Nhất Linh. Tập
hồi ký của Bùi Khánh Đản, Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn
Tường Thiết, Thế Uyên, Tường Hùng và Tuyết Hương. Mẫu bìa của Văn
Thanh. Do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In xong tại nhà
in riêng của nhà xuất bản ngày 25-6-1966. Bản điện tử do talawas
thực hiện.
Thế Uyên
Người bác
Đôi khi, sau buổi chiều ôm một tấm ván bơi lang thang khắp hồ Tây
tìm củ ấu nước, tôi ngồi nghỉ trên bờ cừ kể cho mẹ tôi cuộc phiêu
lưu trong nước vừa qua, bà ngừng giặt áo, nói với giọng giản dị:
“Các bác ngày xưa bằng tuổi mày, đâu có nghịch đến thế!”. Giọng của
bà không có gì là trách móc nhưng tôi cũng giận dỗi nhảy tùm xuống
hồ,và chỉ lên khi trông thấy ba tôi xuất hiện trên đường làng Yên
Phụ. Đôi khi những ngày ngày-xưa được mẹ tôi nhắc đến qua những hình
ảnh làm tôi thích thú nghe hơn: “Cây liễu này chú Sáu trồng khi mới
tới ở đây. Du cùng tuổi với nó đấy”. Tôi nhìn cây cổ thụ thân nâu
sần sùi nứt nẻ cành mềm rũ xuống mặt nước, cảm thấy một hãnh diện,
một liên đới thân mật mơ hồ. Có sáng mùa đông, tôi lục tủ sách mang
truyện ra, leo lên ngồi cạnh mẹ tôi đang khâu vá. Mẹ tôi nhìn qua
cửa kính, vẻ mặt buồn, tôi nhìn bà, tiếng thuyền chài gõ trên nan
tre qua cửa kính lọt vào phòng. “Chắc những ngày này bên Vân Nam có
tuyết. Chẳng biết các bác có áo ấm không…”. Tôi vứt sách, nằm gối
đầu lên đùi bà. Mẹ tôi mỗi lần nhắc tới các bác, giọng bao giờ cũng
mang một nỗi buồn lo lắng làm tôi nghĩ đến những hiệp sĩ lâm nguy
trong những truyện cổ tích. “Du cũng thích tuyết, bao giờ các bác
về, me nhớ cho Du đi theo…”. Mẹ tôi cười, sang dĩ vãng khác: “Mùa
lạnh hồi trước, những ngày như thế này, các bác các chú thể nào cũng
về đây, đốt lò than để ngay giữa phòng, uống rượu với mực nướng,
ngắm hồ và cây liễu”. Tôi ngồi dậy dí mũi vào cửa kính lạnh, tò mò
nhìn cây liễu trụi lá, không hiểu nó có gì lạ để các bác phải ngồi
ngắm.
Mùa hè, tôi và Lam suốt ngày bơi thuyền, lội dưới nước hái củ ấu,
tìm hoa sen. Buổi chiều, ba tôi ở toà báo về, ba bố con vác cần ra
câu cá cho mẹ tôi nấu canh buổi chiều. Mùa đông, hai đứa chạy trên
những con đường lát ạch đỏ, vác gậy săn thằn lằn, leo cây đa cổ thụ
để tưởng tượng mình đang làm thuyền trưởng trên tàu đi thám hiểm Bắc
cực. Những khi thời tiết quá lạnh, bọn tôi ngoài giờ học, cạy tủ
sách lớn lục đọc trộm những cuốn tiểu thuyết ba tôi chưa cho phép
cầm tới. Vụ vi phạm này đến tai ba tôi, không biết hai ông bà quyết
định ra sao, chỉ biết hậu quả là thỉnh thoảng tôi dắt hai đứa lên Hà
Nội, đến toà báo, - thế giới thần tiên của tôi và Lam. Hai anh em
đứng hàng giờ nhìn máy in chạy, táy máy lấy chữ xếp tên mình cho tới
khi ba mẹ tôi từ phòng các bác xuống, dẫn bọn tôi ra Thuỷ Tạ. Hai
ông bà ngồi uống rượu nóng pha chanh, hai anh em sốt ruột ngồi trước
đĩa lạc: chồng tiểu thuyết ba tôi trao cho Lam ôm từ lúc rời toà báo
đang nằm trên bàn chờ đợi. Tôi dùng thìa vớt những miếng chanh nóng,
bỏ vào miệng ngậm, luôn luôn giục mẹ uống mau hết rượu. Sau đó gia
đình tới một hiệu sách quen. Lam đặt chồng tiểu thuyết trên quầy,
lúi húi biên những số tiền dài trên một tờ giấy. Tôi để mặc Lam,
chạy đi chạy lại ngắm những tập
Truyền bá, Tuổi thơ, những
tập sách Pháp in hình Bạch Tuyết có đôi mắt to cắn quả táo đỏ bự.
Khi Lam và chủ hiệu đã cộng xong những con số, hai anh em bắt đầu
chọn sách. Ba tôi mang một số sách của Nhà xuất bản Đời Nay đến để
bọn tôi đổi lấy những truyện nhi đồng. Tôi xếp một chồng cao trước
mặt, mở trang đầu, truyện nào bắt đầu bằng hai chữ “Ngày xưa…” mới
chọn. Khi trở về làng, trời lạnh cóng, tôi nhìn thấy từ xa ánh điện
lọt qua cửa sổ nhà, lòng đầy háo hức. Số truyện này đủ cho hai anh
em bận bịu một vài tuần mùa đông khỏi chọc phá các em hay chui vào
bụi săn thằn lằn. Đến khi số truyện nhi đồng đọc hết, khi Lam bắt
đầu cạy tủ lớn tìm
Hồn bướm mơ tiên, là mẹ tôi sửa soạn quần
áo dẫn hai anh em tới toà báo. Bà lại lên gác gặp các bác, tôi và
Lam lại đứng ngắm máy in. Lại những miếng chanh tẩm rượu nóng bỏng,
hiệu sách và ban đêm trở về, mong ngóng từ xa ánh đèn cửa sổ nhà.
Ba mẹ tôi có một quan niệm đặc biệt về giáo dục con cái: không có
một kiềm chế nào. Ba tôi làm quản lý báo
Phong hoá, Đời Nay
và Nhà xuất bản
Đời Nay, suốt ngày ở toà soạn. Còn mẹ tôi,
ngay từ lúc Lam chưa tới mười tuổi, đều coi hai con trai như đã lớn.
Thỉnh thoảng, Lam được mẹ tôi sai về thăm bà nội ở làng Bằng Hà
Đông. Chỉ có một chiếc xe đạp nên chỉ có một mình Lam được đi. Tôi
ngơ ngẩn ngồi trên cây đa đầu làng, đợi Lam về. Chiếc xe đạp sau một
chuyến đi xa, lúc về bao giờ cũng mang đầy những món quà đồng quê.
Tôi nhận thấy mỗi lần Lam đi như vậy, mẹ tôi có vẻ bồn chồn lo lắng.
Bà ngồi khâu trên bục gạch dưới bụi tre, chờ đợi. Tuy thế không bao
giờ bà tìm cách cản bọn tôi trong một cuộc phiêu lưu dài ngắn mà óc
tưởng tượng trẻ thơ của tôi và Lam có thể nghĩ ra được. Có lần hai
anh em mượn canoé của nhà thuyền gần nhà, chèo sang thăm gia đình
bác Long ở biệt thự làng Thuỵ Khê bên kia bờ hồ. Biệt thự bỏ không,
chắc đã hết hạn thuê, tôi và Lam trở về không được. Sóng to và gió
ngược chiều. Những cánh tay còn non của hai đứa không đủ sức chèo
về, phải nằm lại đó tới chiều, ba tôi cùng bác cai thuyền sang kiếm.
Gần tắt nắng mới về đến nhà. Từ giữa hồ, tôi đã thấy mẹ như một vệt
trắng bất động dưới gốc cây liễu. Mắt bà đỏ hoe nhưng không nói gì
cả, ôm tôi, - lúc đó mệt nhoài, vào nhà. Bà đã tưởng bọn tôi chìm
thuyền ở đâu rồi. Sợ bị ba mắng, tuy ông cũng chẳng nói gì, bọn tôi
chừa đi chơi xa được ba hôm. Đến hôm thứ tư, Lam mua hai súng
cao-su, rủ tôi mượn thuyền đánh cá hàng xóm đi săn ven hồ, mẹ tôi
lại cho đi.
Các bác các chú, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam… chưa hề xuất hiện
suốt thời thơ ấu của hai anh em trong làng nhỏ tứ bề nước bao quanh
này. Các người đó, chỉ như những hình ảnh tương tự các nhân vật thần
thoại. Các bác “làm báo”, viết văn, “làm cách mạng”… Những danh từ
ấy chưa có nghĩa gì cả đối với tâm hồn còn đơn sơ của tôi. Trong
thời kỳ tản cư sau 1946, gia đình tôi luôn luôn di chuyển. Mẹ tôi
cắt nghĩa: “Tại các bác chống ông Hồ”. Tôi và Lam cũng không hiểu rõ
gì hơn, chỉ thấy phục các chú và bác như phục các anh hùng trong
truyện. Có vậy thôi, vì tới khi trưởng thành, hai anh em mới thực sự
tiếp xúc và biết mặt những người bác thần thoại ấy – những người dám
chống các “ông Tây” dám chống “bác Hồ”, những người làm thơ văn dưới
gốc liễu và ngắm tuyết rơi bên Tàu.
Tới năm 1945, 1946, tôi mới bắt đầu trông thấy các bác các chú.
Khoảng thời gian này ba tôi ít khi về nhà, hai ba ngày liền không
rời toà báo. Lam và tôi không yêu bố nên không khó chịu. Đôi khi Lam
có hỏi, mẹ tôi trả lời vắn tắt: “Ba bận làm việc với các bác”. Tuy
nhận xét còn non nớt, nhưng tôi cũng nhận thấy dân làng giành cho
gia đình tôi nhiều kính nể hơn mức thường. Tôi khoái trí vì leo vào
vườn ông lý ăn trộm ổi không bị chủ thả chó ra đuổi, mượn thuyền đi
chơi hồ dễ dàng. Một buổi sáng, tôi và Lam đang leo lên nóc nhà treo
cờ đỏ sao vàng lớn kèm theo một chuỗi nhỏ cờ các quốc gia đồng minh,
mẹ tôi gọi: “Về giúp mẹ, chiều nay bác Tam đến ăn cơm”. Tôi và Lam
chờ đợi cả buổi trưa ở đầu làng người bác “làm cách mạng bên Tàu”
mới về. Khi bác ngồi trong ghế uống trà ngắm hồ, tôi ôm cột nhà ngắm
bác. Dưới cái nhìn trẻ thơ hồi ấy, người bác cao lớn mắt sáng không
làm tôi thất vọng so với hình ảnh vẫn tưởng tượng. Tôi chỉ tiếc một
điều sao mũi bác đỏ quá. Hiệp sĩ anh hùng tôi đọc trong truyện không
ai có mũi đỏ bao giờ. Tôi đưa ý nghĩ ấy ra lời nói. Cả nhà cười và
bác cắt nghĩa lý do tại sao mũi lại đỏ. Tôi không nhớ rõ những cắt
nghĩa, chỉ nhớ hình ảnh bác ngồi trong ghế, ánh mắt nét mặt tươi
sáng nhìn hồ Tây chiều hôm ấy. Cách một thời gian, một buổi chiều
lạnh, gia đình tôi đi uống rượu rồi lang thang trên các vỉa hè Hà
Nội. Một đoàn xe dừng lại trước một toà nhà lớn ngay chỗ gia đình
tôi sắp đi qua. Bác Tam bước xuống, trông thấy chúng tôi. Bác lại
gần bắt tay ba tôi, nói vài câu. Tôi đứng sững nhìn người bác cao
lớn mặc áo blouson da đen bóng loáng. “Bác làm Bộ trưởng.” Trong ý
thức trẻ con, tôi chỉ biết bác không kém gì bác Hồ tụi nhi đồng ca
tụng hằng ngày. Còn ngoài ra, tôi không hiểu gì hơn. Đó là lần chót
tôi gặp bác trong tuổi ấu thơ. Gần sáu năm sau, tôi mới gặp lại con
người phiêu bạt ấy.
Vài tuần hay vài tháng sau, tôi không nhớ – đối với tuổi thơ thời
gian chưa có nghĩa gì cả, chú Bách về thăm. Trong các bác các chú,
chỉ có Chú Bách, em trai út mẹ tôi, là chúng tôi biết rõ nhất. Chú
từng về ở với gia đình tôi mỗi vụ hè. Đêm chú học để đèn sáng. Nhiều
lần tôi cương quyết thức cho tới khi tắt đèn. Nhưng mắt tôi bao giờ
cũng cụp xuống rất nhanh, chưa lần nào đợi được để biết chú thức đến
mấy giờ. “Chú học thuốc”, mẹ tôi nói vậy. Lũ chúng tôi, Lam, tôi,
Lan và Liên rất yêu chú. Chú hay dẫn bọn cháu đi chơi xa, kể chuyện
ma cho nghe. Những chuyện ma đại loại: “Ngày xưa có một con ma lưỡi
dài 17km, chân dài 90km…” Tôi và Lam đã lớn không thích thú, nhưng
Lam bao giờ cũng đứng bám vào thành ghế, nhìn chú, mắt tròn xoe nghĩ
đến con ma “có lưỡi dài 17km” của ông chú trẻ tuổi. Chiều chiều, chú
tổ chức chơi cá ngựa. Chú, Lam, Liên và tôi mỗi người một chuồng.
Liên bé nhất, ngựa bao giờ cũng về bét, và bao giờ thấy thế cũng
khóc nên chú đặt giải thưởng: về nhất ba hào, về nhì một hào, về bét
hai hào. Giải thưởng kỳ cục như vậy có lý do: Lam và tôi bao giờ
cũng tranh giải nhất và chú thì chỉ thích đá ngựa của tôi và Lam.
Mỗi lần xúc xắc ra số phải đá ngựa Liên, chưa cầm quân, Liên đã rưng
rưng nước mắt nên chú đặt thêm lệ: “Ai đá ngựa Liên phải bồi thường
một hào!”. Bàn cá ngựa với những luật lệ kỳ khôi ấy làm bốn chú cháu
say mê suốt những chiều hè. Hết hè, chú lên Hà Nội học tiếp. Thỉnh
thoảng nhớ quá, Lam dắt tôi và Liên lên chơi. Đến chú là một phiêu
lưu nhỏ. Có khi leo cầu thang, Liên đụng đầu với một con rùa to bự
đang thò đầu ra nhìn Liên ngạc nhiên. Lần sau đến, thêm ba con rùa
nhỏ xíu. Chú bảo: “Con rùa lớn đẻ ra đấy”. Chú vẫn vui tính, nhưng
thôi không kể chuyện con ma “có lưỡi dài 17km” cho nghe nữa và cũng
không đưa bọn tôi đi chơi phố. Chắc chú thấy lũ cháu không hấp dẫn
bằng những cô gái chúng tôi gọi bằng chị mà mỗi lần tới, lại thấy
một chị khác. Bẵng đi một thời gian lâu, đến hôm nay chú mới trở về
làng trong một không khí, tuy còn ít tuổi tôi cũng nhận thấy, nhiều
đe doạ. Chú đi với hai người hộ vệ. Khi thọc tay vào túi áo blouson
để tìm kẹo, tôi lôi ra toàn đạn súng lục. Chú đưa tôi và Lam coi
súng, tặng mỗi đứa một viên kẹo đặc biệt đó. Không biết chú nói gì,
mẹ tôi im lặng nghe, vẻ mặt buồn bã. Khi chú về, Lam và tôi tiễn chú
đến đầu làng, không thể ngờ có lẽ đó là lần chót chúng tôi gặp chú
trên đời.
Chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, ít lâu sau, gia đình chúng tôi tản
cư về vùng Hà Đông. Ba mẹ tôi không hề nhắc, và cũng cấm chúng tôi
nhắc tới các bác các chú, và luôn luôn thay đổi chỗ ở. Một lần, mới
đến một làng ít lâu, Lam, Liên và tôi được mời vào ban nhạc của
huyện. Đêm liên hoan đang vui, bọn tôi vừa ca xong một bản, thì
xướng ngôn viên giới thiệu màn hài kịch “Nguyễn Tường Tam ăn cắp hai
triệu”. Tôi chưa có ý nghĩ nào, Lam đã lôi cả hai đứa về. Và ngày
hôm sau gia đình gồng gánh đi làng khác.
Sau khi hồi cư, một buổi trưa ở Hải Phòng, nơi ba tôi đang làm việc,
tôi nhận được thư Lam từ Hà Nội gởi về, báo tin bác Long đã chết ở
trấn Thạch Long, Quảng Châu. Trong những bác chú, bác Long là người
trước sau tôi chưa bao giờ gặp. Nhưng ba mẹ tôi luôn luôn nhắc tới,
nhắc tới nhiều hơn bác Tam nữa. Do đó tôi hấp tấp leo cầu thang đánh
thức mẹ tôi dậy: “Bác Long đã chết bên Tàu”. Mẹ tôi oà lên khóc. Ba
tôi tỉnh dậy cầm thư đọc. Và ba tôi ngồi trên giường, tay cầm tờ
thư, nước mắt giàn giụa. Tôi đã có lần thấy mẹ khóc, nhưng mắt chỉ
đỏ chứ không như lần này. Còn ba tôi, thì chưa bao giờ. Trước cảnh
ấy tôi sợ sệt bỏ xuống nhà. Hình ảnh ấy ám ảnh tôi, cho tới bây giờ,
tôi còn có thể nhớ lại được cả một khoảng nắng chiếu vào tờ thư trên
tay ba tôi. Lớn hơn, tôi mới biết rõ trường hợp chết của bác: ông đi
họp về một mình, tàu đang chạy, ông gục xuống chết vì bệnh tim.
Trưởng tàu đưa xá xuống ga Thanh Long để đó. Ngày hôm sau chú Bách
mới tới được nhận xác và chôn ngay tại đó. Lúc ấy vào mùa đông,
tuyết rơi phủ miền Nam Trung Hoa.
Tôi nhớ ba tôi có nói với mẹ tôi: Anh Long chết, chắc anh Tam sẽ bỏ
chính trị. Lời dự đoán đúng vì một hai năm sau, bác Tam trở về nước
và tuyên bố từ bỏ chính trị. Tôi gặp lại bác một lần khi rủ Th., anh
họ đi bơi ngoài sông Nhị giữa mùa nước lớn. Khi trở về phố hàng Bè,
vưa leo lên gác, bác gái đã la: “Thằng Du lại rủ thằng Th. đi bơi
sông phải không?”. Bọn tôi chùi vội phù sa còn bám đỏ trên mặt nhưng
không ích gì. Bác Tam gái cùng gia đình ngồi trên xe hóng mát đã
thấy bọn tôi chui từ lòng sông lên, mệt nhoài. Không biết bác Tam
gái nói gì, chắc là kết tội tôi… “Cái thằng quỷ sứ ấy, cứ lôi thằng
Th. đi suốt ngày, có phen chết cả hai”. Bác trai vào phòng, lúc ấy
tôi đã 15 tuổi, đủ óc nhận xét để nhận thấy tuy ông nhìn tôi không
nói gì, nhưng ánh mắt không có chút thiện cảm nào với đứa cháu “quỷ
sứ nhất họ”.
Cuốn năm 1954, gia đình di cư vào Nam, bác Tam đã lên Đà Lạt và tôi
bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Tôi bắt đầu tìm hiểu các bác các chú
qua ba mẹ tôi và qua sách vở. Lúc ấy tôi mới biết chú Sáu, người
trồng cây liễu cổ thụ là nhà văn Thạch Lam, bác Long là Hoàng Đạo,
bác Tam là Nhất Linh. Cũng đã lớn lắm tôi mới biết các bác các chú
là anh em ruột của mẹ chứ không phải của ba tôi, sở dĩ xưng hô như
vậy là vì ở nhà đã gọi bố mẹ là cậu mợ và ba tôi là người chót của
dòng họ Cát làng Vân đình. Và cũng chỉ trên hai mươi, tôi mới bắt
đầu thích thú khi biết ngoài dòng máu họ Nguyễn Tường, tôi còn thuộc
một dòng họ Cát miền xa xôi nào đó. Niềm thích thú này làm ba tôi
hãnh diện nhưng vì những lý do khác về sau, đi sâu vào quá khứ, tôi
mới hiểu nguyên nhân.
Càng lớn dần, tôi càng hiểu rõ các bác các chú hơn. Tôi biết bác Tam
là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên trong chính phủ đầu tiên của Việt
Nam sau Pháp thuộc, bác Long là Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ
thứ hai, chú Bách phụ trách trong phong trào Thanh niên Ngũ xã chống
Việt Minh năm 45, 46. Tôi cũng biết các bác làm báo
Phong hoá
lúc đầu ra sao, gặp những trở ngại gì, vai trò của ba tôi, của bà
tôi.
Về con người công cộng, tôi biết bằng những tài liệu lịch sử và văn
học (không bao giờ tôi thấy Nhất Linh nhắc tới quá khứ về bất cứ
phương diện nào). Còn con người thực, con người khi sống với chính
mình, với người thân của các bác chú, tôi biết qua mẹ tôi trong
những buổi uống trà, những đêm canh bánh chưng ngày Tết, hay qua
những sự việc giản dị hằng ngày. Giọng kể êm đềm của bà gợi lên
những quá khứ kỳ ảo, khó khăn của những ngày ngày-xưa, những ngày bà
còn là một cô gái bé sống giữa bốn ông anh và hai em trai ở phố
huyện Cẩm Giàng nằm ven đường thiết lộ Hà Nội – Hải Phòng. Tôi lắng
nghe những dĩ vãng ấy dần dần với năm tháng. Những kỷ niệm, những
truyện xưa trở lại cách khoảng nhau hỗn độn mơ hồ làm tôi đôi khi
muốn hồi tưởng, muốn tạo một mạch lạc, tôi vẫn gặp những khoảng
trống chỉ dĩ vãng sâu kín của mẹ tôi lấp được.
Gia đình mẹ tôi xưa nghèo, và trở thành khốn quẫn sau khi ông mất
bên Lào. Theo mẹ tôi, ông là một kẻ sĩ thanh bình, đứng đắn, đúng
mực. Cái chí bất khuất và thái độ can đảm tinh thần với cuộc đời của
các con sau này có lẽ thừa hưởng của người mẹ. Bà buôn bán tần tảo
nuôi bầy con ở cái phố huyện buồn thiu, cái không gian sau này xuất
hiện tràn đầy trong tác phẩm của Thạch Lam. Các anh em trai đi học,
mẹ tôi là con gái độc nhất nên ở nhà thay mẹ lo việc nội trợ. Một
người con gái giữa sáu người anh em trai, sự kiện này cắt nghĩa thái
độ chịu đựng, khoan dung tài tình của mẹ tôi sau này đối với Lam và
tôi, nhất là tôi, đứa tinh nghịch, hay gây rắc rối từ nhỏ. Mẹ tôi
bảo tính nết các bác các chú lúc nhỏ ra sao, lớn vẫn thế. Chú Thạch
Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thuở nhỏ đã thế. Bác T. anh cả, bác
C. anh thứ hai đúng đắn đúng mực, lúc lớn và tới giờ vẫn giữ đúng
cái đứng đắn đúng mực của những người thanh bình trong xã hội như
ông ngày trước. Mẹ tôi thân với bác Tam hơn cả. Khi mẹ tôi ngồi giã
vừng, bác thường đến làm giúp, rồi lấy cơm trộn vào vừng trong cối
ăn luôn. Không biết tại bác giúp mẹ tôi, thấy vừng thơm trộn cơm ăn
luôn hay là tại ý riêng, nhưng mỗi khi lấy vừng khỏi cối, mẹ tôi để
lại một ít, lấy cơm nóng đổ vào cho bác. Lối ăn cơm này đã tạo cho
bác cái biệt hiệu “Tam cối”. Bác mang biệt hiệu này cho tới khi lên
Hà Nội học.
Bà tôi nhất định cho các con đi học, học thật cao. Kẻ cả mẹ tôi nữa
nếu không cần người săn sóc các anh em trai thay bà. Bà tôi đi cân
gạo. Nhân vật và Nhì mẹ Trinh và cả không gian miền quê trong tiểu
thuyết
Ngày mới của Thạch Lam đều xuất nguyên từ thời này. Có
lúc buôn bán khó khăn, bà tôi vẫn nhất định cho các con tiếp tục học
nên đã phải chịu nhiều vất vả nguy hiểm. Lúc đó, người Pháp giữ độc
quyền bán thuốc phiện cho dân. Thuốc phiện bán chính thức này cũng
như rượu Văn Điển, không được ngon nên người dân nấu lấy bán cạnh
tranh. Dĩ nhiên cơ quan thuế Đoan hoạt động tìm bắt những kẻ đã dám
“cạnh tranh bất chính” với chính quyền bảo hộ, trong số đó, vào một
vài tháng, có bà tôi. Bà tôi lao vào nghề với mục đích kiếm nhiều
lãi cho các con ăn học, nhưng các con lại coi đó như là một trò chơi
kỳ thú, một hành động chống lại các “ông Tây”. Những kinh nghiệm đầu
tiên chống Pháp có lẽ bắt đầu có vào thời gian này! Nấu thuốc phiện,
dụng cụ không phải là dễ giấu. Do đó một hệ thống báo động được tổ
chức chu đáo. Con đường hương lộ dẫn tới phố huyện Cẩm Giàng, thiết
lộ mỗi khi tàu hoả đến đều được các bác thay phiên canh chừng mỗi
khi bà tôi làm. Nhưng có một lần, tàu hoả đỗ ở ga vào phiên canh của
Thạch Lam. Chú đứng ở sân ga ngó một lượt, không thấy Tây Đoan
xuống, thì la chú yên trí lên đầu đoàn xe, nằm dài ra ngắm đầu tàu.
Trong khi Tây Đoan xuống phía bên kia đoàn tàu từ từ theo đường tiến
vào bổ vây, Thạch Lam còn ngẩn ngơ các cơ phận của đầu máy. Tuy vậy
mọi sự vẫn ổn thoả vì hệ thống “ngăn chặn địch” được tổ chức chu
đáo. Bác Tam xông ra hỏi tíu tít người Tây Đoan, trong khi bác C.,
anh thứ hai trong gia đình, bê tang vật chạy ra vườn giấu vào bụi
tre. Kết quả phái đoàn quan thuế thất bại ra về, nhưng bà tôi cũng
chấm dứt công cuộc buôn bán nguy hiểm này, trở về đi cân gạo. Dĩ
nhiên vẫn nghèo và các con vẫn cứ tiếp tục đi học. Thời kỳ vất vả
này cũng như không gian phố huyện miền trung du cùng các dân cư, về
sau xuất hiện đầy đủ trong các truyện ngắn dài của các bác, nhất là
trong những tác phẩm của Thạch Lam. Khi đã hồi cư, trở về Cẩm Giàng,
tôi còn được mẹ tôi chỉ cho biết đây là nhà bác Lê, một bà cụ hay
mua rượu của hai chị em Liên trong một truyện ngắn… Khung cảnh cũ
không thay đổi là bao. Đứng bờ sông, chỗ bến Tiên, cũng thoáng tò mò
muốn qua bên kia sông như Thạch Lam ngày trước để gặp một cô gái da
trắng hồng trong một ngôi nhà tranh nào đó.
Trong thời kỳ nghèo khổ ấy, một tối hè nóng bức, bà tôi nói: “Sau
này có tiền sẽ làm một cái nhà ở tít ngoài cánh đồng kia để hứng gió
một mình!”. Nỗi bực tức này dễ hiểu vì những người trong phố huyện
mong gia đình bà tôi sẽ suy sụp hẳn, các con phải trở về làm nông
phu như các con cái họ. Sự cố gắng vượt lên làm họ ghen ghét khó
chịu. Nhưng hai anh trai lớn lần lượt đi dạy học xa, kẻ Thái Bình,
người Phú Thọ lấy tiền giúp mẹ và các em học tiếp. Rồi hai em trai
đỗ, đi làm để hai anh dễ dàng học nữa. Cứ luân phiên làm việc và học
như vậy. Sau cùng, chú Sáu vừa đỗ bằng tuyệt đối với Trung học phổ
thông bây giờ, thấy các anh học cao hơn quá, bực mình nói với mà tôi
mời ông lý trưởng một chầu rượu để đổi tên, đổi khai sinh tăng thêm
tuổi thi nhảy Tú tài và đỗ năm 16 tuổi. Tuy thông minh nhất nhà,
nhưng cũng lãng mạn nhất nên chú bỏ, không học cao hơn.
Dần dần nhờ các con lớn đỗ đạt, giúp đỡ và nhờ uy tín gia đình các
con học cao, bà tôi giao thiệp dễ dàng hơn, buôn bán khá hơn. Khi
vượt khỏi cảnh nghèo, bà tôi thực hiện ngay ước muốn một chiều nóng
nực ngày xưa: bà mua ba mẫu ruộng cách xa phố huyện và làm nhà ở đó
để “hứng gió một mình”. Dần dần, từ một căn nhà trơ vơ ngoài cánh
đồng, với sự trợ giúp của các con, và kiên nhẫn thường nhật, bà tôi
đã lập thành một cái trại xinh đẹp mà ai hay sử dụng thiết lộ Hà Nội
– Hải Phòng thời tiền chiến cũng biết tới. Trại này đã giữ một vai
trò quan trọng trong nếp sinh hoạt thông thường cũng như văn nghệ
của Tự Lực Văn Đoàn và tập đoàn Phong hoá Ngày nay, căn trại đã được
dùng làm bối cảnh cho một truyện trinh thám của Thế Lữ sau này.
Cái quá khứ nghèo khổ chật vật này, hầu như về sau không ai biết
tới. Các nhà phê bình văn học thường hay cho rằng thái độ của Nhất
Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam đối với dân nghèo cùng đinh là thái độ
của kẻ ở trên nhìn xuống, là thái độ của người trưởng giả sung túc
đoái thương dân đói khổ. Đó là một ngộ nhận. Các bác các chú thực sự
đã sống trong cảnh nghèo khốn thôn quê, và đã vượt lên khỏi là do
sức mạnh tinh thần của người mẹ và tinh thần cầu tiến của các con.
Nếu muốn cắt nghĩa bằng lý thuyết giai cấp, cũng chỉ có thể nói rằng
các bác các chú thuộc giai tầng KẺ SĨ, truyền thống kẻ sĩ của Việt
Nam. (Mọi phê phán phân tích của cộng sản và giai cấp tiểu tư sản
đều không thể áp dụng cho tầng lớp kẻ sĩ này bởi vì một lý do giản
dị: kẻ sĩ không phải là tiểu tư sản như họ gán ghép một cách máy móc
theo quan điểm Tây phương). Ngộ nhận này chính tôi cũng đã có bởi vì
từ lúc bắt đầu lớn đôi chút, tôi đã “thấy” bà tôi trong căn trại
lớn, “thấy” các bác các chú trong những bộ âu phục, trong những căn
nhà ở đủ tiện nghi, trong nhà in toà báo đồ sộ. Và tôi chắc cũng
tiếp tục ngộ nhận như vậy mãi nếu không có tiếng nói về dĩ vãng của
mẹ tôi. Giọng nói của bà đưa Lam và tôi trở về căn nhà tranh xơ xác
phố huyện Cẩm Giàng, trở về những ngày túng thiếu lo tiền học, tiền
ăn. Nhờ có bà, hai đứa chúng tôi mới tin chắc tình thương mến, sự
liên đới của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam với đồng quê với những
người nghèo bị áp bức không phải, và cũng không thể là một sự kẻ
trên sung túc nhìn xuống đoái thương (như một bố thí).
Cũng nhiều người khác đã ngộ nhận về cả chủ trương của Tự lực Văn
đoàn (trong cuốn văn học sử chính thức dùng trong các lớp trung học)
là quá cực đoan với cái cũ, bất cứ cái gì cũ cũng đòi phá huỷ. Sự
thực đối với tục lệ cũ, các bác các chú tôi không hề có thái độ cực
đoan như vậy. Các ông đã chỉ làm một chọn lựa lại: xét lai tất cả
các tục lệ bắt nguồn từ văn hoá cũ, chỉ đả phá những gì thực sự là
hủ tục. Không những thế, trên thực tế còn đề cao, còn phục hồi những
tục lệ thuần chất dân tộc. Thái độ đã được biểu lộ qua nếp sinh hoạt
thường xuyên của căn trại nói trên. Bà tôi, khi các con đã lớn, lập
gia đình riêng, lui về ở hẳn quê cũ coi sóc trại, đồng ruộng. Bà
thuộc lớp người cũ, rất trọng ngày giỗ ngày tết. Nếu Nhất Linh đả
phá cúng tế tại đình làng, thì đối với vấn đề thờ cúng tổ tiên, lại
là người chu đáo nhất. Nếu giỗ tạp, để vợ con mang đồ cúng về. Nếu
là giỗ cha, ông bà, các bác các chú đều về đủ mặt. Mẹ tôi không nói
rõ các bác có lễ trước bàn thờ hay không nhưng nói bà tôi chưa bao
giờ trách cứ các con về khía cạnh này. Các ông có tin ở hiện hữu của
linh hồn hay không vào quãng chót của đời sống, tôi không được biết.
Nhưng mẹ tôi kể rằng bao giờ bày mâm ngũ quả, mẹ tôi cũng thu xếp
bày hai mặt nhiều như nhau. Bày phía trước đầy đủ dễ hiểu vì là lẽ
thông thường. Còn bày phía sau như phía trước thì lý do “…để cho các
bác lấy ăn mà bà không biết”, mẹ tôi nói vậy. Tôi không biết mẹ tôi
nói đùa hay thật, nhưng tôi biết chắc một điều: tôi tin các ông coi
việc thờ cúng tổ tiên chỉ có một biểu lộ cho lòng biết ơn và nhớ tới
những người đã khuất. Còn ngày Tết Nguyên đán, có lẽ là Tự lực Văn
đoàn lại ăn Tết với đủ tục lệ hơn ai hết. Ngoài thân thuộc, các ông
mời cả ban biên tập
Phong hoá, Ngày nay về trại. Kể từ 23
tháng chạp (ngày bọn cháu chúng tôi bắt đầu về) tới ngày mồng 3 hoá
vàng, quản trị cái trại này là một công việc vất vả nhất cho bà tôi
trong năm. Về đồ ăn, bà tôi, các bác gái muốn làm gì thì làm. Các
ông chỉ đòi một khoản bất di bất dịch: bánh chưng. Dĩ nhiên không
phải thích ăn mà thích sự kiện gói bánh và tụ họp quanh nồi bánh sôi
sùng sục trong đêm cuối năm. Nếu chỗ mổ heo được bọn trẻ con chúng
tôi chiếu cố nhất thì nơi gói bánh chưng tụ họp đông đảo nhất thành
phần các ông. Sau này chúng tôi khó tưởng tượng một Thế Lữ hay Xuân
Diệu ngồi bên phản gỗ dưới nhà ngang, cạnh những đống lá dong, những
rổ gạo nếp. Nhưng trên thực tế, điều này đã xảy ra.
Lễ giao thừa được cử hành theo đúng tục lệ cổ truyền. Bao nhiêu năm
tôi dặn mẹ đánh thức dậy dự lễ, nhưng trời lạnh và giường ổ rơm êm
ấm làm tôi mở mắt không được. Đêm Giao thừa đầu tiên tôi thức dậy
được cũng là giao thừa chót ở trại. Sau đó là chiến tranh, cách mạng
và phân tán. Tôi mặc áo lên dày cộp, co ro chạy qua vườn lên nhà
trên. Hình ảnh tôi còn nhớ được là toàn thể người lớn mặc quần áo
trịnh trọng đứng trên thềm. Bàn thờ đặt ngoài hiên, bà tôi đứng
trước cùng mẹ tôi. Nhất Linh cầm đồng hồ coi giờ. Cạnh đó là cái
trống lớn và người cầm dùi là ba tôi, - ông đánh trống giao thừa hay
có tiếng nên năm nào cũng đảm nhận việc này. Đúng 12 giờ, tiếng
trống bắt đầu. Đứa bé là tôi đứng dưới thềm nhìn lên, tâm hồn đầy
náo nức. Cây liễu ở sân đình đầy đèn xếp lập loè muôn màu, khói trầm
nghi ngút, tiếng pháo nổ kế tiếp hồi trống trên xà mái hiên… Sáng
mồng một, lũ chúng tôi bị lôi dậy từ sớm, rửa mặt với nước cây cỏ
thơm hắc, quần áo trịnh trọng tập trung lên nhà trên. T.H. với tư
cách cháu đích tôn, thay mặt tất cả họ chúc mừng bà tôi.
Giỗ tổ tiên, trọng banh chưng hơn các sơn hào hải vị, lễ giao thừa,
chúc thọ bà tôi, tất cả những cái đó không có nghĩa gì hơn là một
biểu lộ thái độ chọn lựa đối với những tục lệ, văn hoá cổ truyền.
Các ông đã giữ lại cái cần giữ và đáng giữ. Sau này lớn lên, tôi và
Lam bàn lại, mới biết tới giá trị của sự chọn lựa ấy. Gần đây, sau
khi ba tôi chết rồi, Lam và tôi đồng ý là sau cuộc chiến tranh này,
khi được giải ngũ, hai đứa sẽ chung tiền mua một khoảng đồi nhỏ ở Đà
Lạt, làm nhà tranh, mời mẹ tôi lên ở lập “trại Cẩm Giàng” mới. Chúng
tôi mỗi đứa một nơi, nhưng ngày giỗ, nhất là ngày Tết, toàn thể sẽ
tập trung về đó. Sẽ tiếp tục canh bánh chưng, lễ Giao thừa, và các
con chúng tôi sẽ có đứa nửa đêm trừ tịch cố mở mắt ngái ngủ chạy lên
ngó bàn thờ khói hương, bịt tai nghe tiếng pháo. Bây giờ bà tôi, ba
tôi, phần lớn các bác đã chết, chúng tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết
rằng chính trại Cẩm Giàng, với tất cả nền nếp sinh hoạt của nó, đã
mang lại cho chúng tôi những khái niệm đầu tiên về gia đình, gia
tộc, và từ đó phát khởi lòng yêu dân tộc và đất nước.
Ở tuổi trên dưới hai mươi, tôi là một anh chàng mới lớn, hăng hái
hết chỗ nói với tất cả những gì thuộc địa hạt lý tưởng của đời sống,
và cũng vụng về hết chỗ nói trong xử thế hằng ngày. Không khí truỵ
lạc tại Sài Gòn, lòng hăng hái với lý tưởng của tuổi trẻ và ý thích
muốn trở thành những người như các bác, dần dần đưa tôi đến những
hoạt động chính trị đảng phái. Đảng phái tôi gia nhập dĩ nhiên chỉ
có thể là Việt Nam Quốc dân Đảng. Tôi cùng B., một anh họ, tới nói
với Nhất Linh. Ông giới thiệu chúng tôi tới giáo sư N.T.V. và T.B.S.
Dưới sự chứng kiến của hai người này, tôi và B. làm lễ tuyên thệ.
Nhưng ngay khi nhìn khẩu súng lục nhỏ han rỉ đặt trước di ảnh Nguyễn
Thái Học và lá cờ sao trắng, tôi đã cảm thấy Việt Quốc không phải là
môi trường hoạt động thích hợp với cá tính và lý tưởng riêng. Tuy
thế tôi cũng đã hoạt động, sinh hoạt với Việt Quốc một thời gian với
tất cả hăng hái của tuổi trẻ.
Những người chung quanh thường có thành kiến: các bác là những cách
mạng gia, vậy chắc chắn khuyến khích dẫn dắt tất cả con cháu đi vào
hoạt động cách mạng. Sự thực Nhất Linh trước sau không hề khuyên các
con cháu lớn, dù lớp này đông trên hai mươi kẻ, đi vào cách mạng.
Ông thường chỉ khuyên: “Lo học đi đã!”. Đối với tôi, B. và sau này
thêm con trai Hoàng Đạo, vì thấy quá hăng hái, ông mới giới thiệu
với Việt Quốc. Giới thiệu một cách bình thản như giới thiệu một bác
sĩ quen chữa giỏi hay một nơi trọ tốt tại Đà Lạt. Khi tôi rời bỏ
Việt Quốc, ông cũng không nói gì. Có thể nói suốt thời gian từ 1954
tới khi chết, chưa bao giờ Nhất Linh nói chuyện nhiều với tôi. Đối
với B., Tường Hùng và Lam, ông không có thái độ tách biệt ấy. Hình
như ông coi tôi như một đứa cháu ngoại khổ, có những tư tưởng cư xử
hành động ông không thể chịu nổi, hiểu nổi. Có thể nói trong các
cháu lớn thân cận, tôi là đứa Nhất Linh không ưa nhất.
Cũng nhiều người ngộ nhận cho rằng Nhất Linh hoạt động cách mạng
liên tục cho tới khi chết. Đó là ngộ nhận lớn nhất về con người ông.
Khi đổ xong cử nhân khoa học ở Pháp về, Nhất Linh chỉ chủ trương làm
một cách mạng văn hoá trước đã. Tất cả nỗ lực trong thời kỳ
1930-1940 đều thu lại trong khuôn khổ này. Hoạt động cách mạng tới
sau, có thể nói ngoài ý định nguyên thuỷ. Lối nhập thế của ông làm
tôi liên tưởng đến một kẻ sĩ văn võ toàn tài, thấy thế nước nghiêng
một nửa, dân tình cực khổ, không đành lòng nên phải vác gươm lên
ngựa diệt tà khử bạo. Theo lời ba mẹ tôi, Nhất Linh không đi sâu vào
cách mạng, và nhất là chính trị nếu không có Hoàng Đạo. Ba tôi nói
rằng các anh em đồng chí trọng Nguyễn Tường Tam nhưng mến Nguyễn
Tường Long hơn. Chính Nguyễn Tường Long mới là người có tài quy tụ
người, khuyến khích, giữ vững tinh thần đồng chí những lúc hiểm
nghèo. Đặc biệt là Hoàng Đạo mãi về sau mới gia nhập đảng phái. Theo
lời ba tôi, Nhất Linh đứng với Hoàng Đạo ở gần cầu tiêu của toà báo,
và Nhất Linh nói: “Chú gia nhập chứ?”. Hoàng Đạo gật đầu. “Chú tuyên
thệ đi…”. Hoàng Đạo giơ tay tuyên thệ trước một vài người thân.
Không nghi lễ, không đảng kỳ, không bàn thờ toàn quốc. Cũng theo ba
tôi, Hoàng Đạo mới thực là linh hồn của đảng. Nhất Linh, với những
khả năng đặc biệt của một thủ lãnh, chỉ là người chỉ huy tổng quát
đôi khi quá cứng rắn. Bao nhiêu mưu lược, kế hoạch phần lớn phát
xuất từ Hoàng Đạo. Một thứ Khổng Minh đối với Lưu Bị. Vì thế khi
nhận được tin Hoàng Đạo chết, ba mẹ tôi nhất định tin rằng: “Anh Tam
sẽ từ bỏ chính trị… Lời giải thích của ba mẹ tôi có thể đúng, có thể
sai, nhưng thực tế đã chứng tỏ ông bà không lầm. Năm 1950, Nhất Linh
rời Hồng Kông về Hà Nội, tuyên bố từ bỏ chính trị. Và ông đã từ bỏ
thật tới gần 10 năm. Sau này suy nghĩ lại quá khứ, tôi cho rằng lối
giải thích của ba mẹ tôi chỉ đúng một phần. Thực ra bản chất Nhất
Linh là bản chất kẻ sĩ Nguyễn Công Trứ, với lối nhập thế của một
hiệp sĩ thời trung cổ Tây phương, chỉ cho phép ông làm cách mạng và
chỉ có thể là nhà cách mạng thôi. Khi gia nhập trực tiếp chính trị,
ông có Hoàng Đạo lo cho phần mưu lược, thủ đoạn chính trị, nhưng
thâm tâm vẫn ghê sợ chính trị. Cái chết của Hoàng Đạo, người em thân
nhất, cũng là bạn văn, đồng chí, người phụ tá mật thiết, chỉ là một
cái cớ để Nhất Linh rút ra khỏi mọi hoạt động cách mạng lúc đó đã
mang nhiều tính chất bẩn thỉu của chính trị. Mẹ tôi có thuật lại đã
có lần Hoàng Đạo, Nhất Linh đã họp cùng các lãnh tụ lưu vong khác,
trong đó có cả ông Nhu ông Diệm tại Hồng Kông. Mẹ tôi, nhất là ba
tôi, còn luôn luôn tin rằng nếu Hoàng Đạo không chết năm 1947, chưa
chắc Bảo Đại đã thành bù nhìn cho Pháp, và sau này chưa chắc hai anh
em ông Diệm đã nắm được chính quyền tại Việt Nam. Dĩ nhiên đó chỉ là
một giả thuyết cho quá khứ, nhưng một giả thuyết có tính cách khuyến
khích nâng đỡ lũ cháu chúng tôi trong thời kỳ khó khăn nhất dưới
thời Nhu - Diệm.
Suốt thời kỳ hoạt động với Việt Quốc, tôi chỉ nói chuyện chính trị
với Nhất Linh một lần, - lần đầu và cũng là lần chót. Các đảng phái
lúc đó phân tán, N.T.V. trao cho tôi nhiệm vụ lên Đà Lạt nói với
Nhất Linh “hạ sơn”, trước hết để củng cố và thống nhất Việt Quốc,
sau để tiến tới một liên hiệp các đảng phái quốc gia đối lập với chế
độ Diệm đang bắt đầu tiến sâu vào độc tài. Đà Lạt là một thành phố
đẹp, tôi nghe nói tới từ nhỏ nhưng chưa có dịp đến. Bởi vậy tôi
thích thú lên đường, náo nức nh ìn cảnh rừng núi, còn thâm tâm tôi
không hề tin tưởng là tôi có thể nói cho Nhất Linh nghe bất cứ điều
gì, chứ đừng nói tới việc triệu thỉnh ông “hạ sơn”. Năm đó Đà Lạt
còn nằm trong tình trạng của một thành phố mới ra khỏi chiến tranh,
người ít, cỏ mọc lan trên bờ hè, những cây tùng ven hồ còn tự do cho
gốc rễ lan xuống bờ nước. Không khí mát lạnh, chiếc xe ngựa cọc cạch
leo dốc đồi, quán cà-phê Tùng nhỏ, sương mù lên sớm, ánh đèn mờ ảo,
tất cả làm tâm hồn chìm đắm nên đêm khuya trở về cùng T., con trai
thứ Nhất Linh, leo cầu thang tối đen, tôi quyết định chỉ thi hành
“sứ mệnh” vào sáng hôm sau. Nhưng cửa phòng Nhất Linh còn đang mở,
T. bảo tôi: “Du cần phải nói gì, vào nói luôn đi. Sáng mai chắc cậu
tôi đi chơi sớm lắm”. Căn phòng tối, ánh điện nhiều đường hắt vào
yếu, tôi chỉ trông thấy đốm lửa đỏ đầu điếu thuốc Nhất Linh hút dở.
Tôi nói một mạch tất cả những điều N.T.V. dặn, rồi ngồi im. Nhất
Linh trả lời giản dị: “Cháu về nói với các anh là bác đã suy nghĩ kỹ
rồi… Cháu đã nói những điều các anh dặn rồi, bây giờ ở lại Đà Lạt
vài hôm chơi cho vui”. Tất cả buổi hội kiến của “thuyết khách” và
nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam chỉ có vậy. Chiều hôm sau, đứng ngoài
bao lơn nhìn ũo đường, T. chỉ một cây thông cổ thụ phía bên kia
đường: “Cậu tôi thích cây thông này nhất, có khi ngồi ngắm hàng giờ.
Bảo nó có một vẻ đẹp tuyệt hảo”. Tôi tò mò ngắm nghía. Vỏ cây nâu
sần sùi, cành gãy vươn lên cao trong vẻ cổ sơ giản dị của một bức
tranh thuỷ mạc. Bầu trời chiều không nắng, không gió, lá cành đứng
im như một khối chìm lắng từ dĩ vãng lại. Tôi nhìn cây thông rồi
nhìn Nhất Linh ngồi trên ghế xích-đu bao lơn bên cạnh, và tôi liên
tưởng đến một thời kỳ hoang đường có những đạo sĩ ngồi đánh cờ ven
núi và những dòng suối như phát nguồn từ đỉnh non cao.
Những năm về sau, vì môn học và nghề nghiệp, tôi phải tham khảo sách
vở tại thư viện. Qua tài liệu, nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, nhà
cách mạng Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long bắt đầu trở thành
những nhân vật có công nghệ rõ rệt. Toàn bộ báo
Phong hoá, Ngày
nay làm tôi hiểu dĩ vãng, một thứ dĩ vãng thời bình có khiêu vũ,
có hát quan họ, có hội làng Lim và cũng là dĩ vãng nhiều hoạt động
cách mạng. Vào thời kỳ này tôi mới đọc hết sách của Tự Lực Văn Đoàn.
Những cuốn
Gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên
từng làm tôi say mê buổi thiếu thời, bây giờ đọc lại thấy nhạt nhẽo,
vai đoạn kỳ dị vì quá cổ kính hoặc quá ngây thơ. Những cuốn nổi
tiếng thời trước như
Đoạn tuyệt bây giờ xa lạ như một mái tóc
đuôi gà. Những cuốn lúc mới ra đời bị thờ ơ như
Bướm trắng
lại có giá trị hơn. Điều quan trọng tôi nhận thấy là Thạch Lam viết
hay hơn cả trong Tự Lực Văn Đoàn. Tôi có nói nhận xét này với mẹ tôi
và tôi chưng hửng khi nghe bà trả lời: “Bác Tam cũng nói thế từ lâu.
Bác thường nói chính chú Sáu mới là nhà văn có tài nhất của Tự Lực
Văn Đoàn dù sách in ra bán ế nhất!”. Và Thạch Lam cũng là người lười
viết nhất trong tất cả, luôn luôn trễ hẹn đưa bài cho các toà báo.
Một lần Nhất Linh tức, xuống căn nhà có cây liễu ở hồ Tây, thấy
Thạch Lam ngồi trầm ngâm ngắm hồ. Hỏi: “Chú sao không viết?”. Đáp:
“Chưa thể viết được!”. Nhất Linh tức giận bỏ về và quyết định cúp
nguyệt cấp của Thạch Lam cho tới khi có bài. Thạch Lam tức, lại càng
không cầm đến bút. Xích mích giữa hai anh em ngày càng trầm trọng,
sau cùng mẹ tôi phải triệu thỉnh bà tôi ở trại lên mới dàn hoà nổi.
Tìm hiểu quá khứ văn nghệ của Nhất Linh, Hoàng Đạo tương đối dễ
dàng. Tôi vất vả hơn khi tìm hiểu sự nghiệp chính trị và phải tìm
mượn những cuốn sách ngoại ngữ không có bán ở Việt Nam. Càng hiểu rõ
quá khứ, tôi càng thấy lòng kính trọng dành cho Nhất Linh gia tăng.
Tôi bắt đầu thấy hãnh diện là cháu những người đó, và từ đấy đi tới
tìm ở Nhất Linh hình dáng con người lý tưởng thích hợp cho tôi. Cũng
trong thời kỳ này, tâm hồn thể xác tôi bị lôi cuốn vào nếp sống đô
thị như trăm ngàn thanh niên khác cùng lứa. Đôi khi mệt mỏi ngồi
trước chồng sách, tôi mơ màng nghĩ tới những điều sẽ làm sau này khi
đã thành tài. Còn trên thực tế, tôi không làm một cái gì hơn là tán
gái, yêu, học, dạy học, chơi gái và lang thang. Một buổi chiều, tôi
nhận được thư T. gửi từ Đà Lạt xuống: “Du có nhớ Đà Lạt, lên chơi
gấp. Cậu tôi đang chơi phong lan. Ông vào rừng kiếm lan suốt ngày.
Những cuộc phiêu lưu ngắn, hẳn thích thú cho Du”. Đọc thư, tôi ngạc
nhiên. Hình ảnh chót của tôi về Đà Lạt và Nhất Linh là bầu trời mưa
ướt sũng, sương mù bao kín thung lũng, những ánh đèn mờ, tiếng sáo
của T. buổi chiều trong biệt thự nằm khuất trên sườn đèo Prenn, và
Nhất Linh nét mặt mỏi mệt, đau ốm thường xuyên, hầu như không ăn
uống gì hơn một bát mì suông mỗi bữa và ngồi trầm ngâm như một bức
tượng trên ghế… Bởi thế tôi khó tưởng tượng một Nhất Linh vượt rừng
đi tìm lan. Và ngay cả việc chơi thứ hoa hiếm này cũng làm tôi khó
hiểu. Tôi không ngạc nhiên khi biết ông ngồi ngoài sân ăm cơm trộn
vừng trong cối, theo gánh hát vẽ phông kiếm tiền học, học mỹ thuật
trước khi học khoa học, ở Pháp về đi đến đâu cũng chê người Việt ở
bẩn, và khi ở Trung Hoa về, di đến đâu cũng khen người Việt sạch sẽ…
Nhưng tôi thực sự ngạc nhiên khi nghĩ tới hình ảnh người hùng Nguyễn
Tường Tam ngồi vun xới chậu lan như một ông đồ già hay một ẩn sĩ
thời xưa. Nhưng trên cư vượt đèo Blao, một cây thông trơ trọi làm
tôi nhớ lại cây thông cổ thụ Nhất Linh từng ngồi ngắm hàng giờ, và
từ lúc đó tôi bắt đầu chấp nhận được hình ảnh một Nhất Linh chơi lan
nhưng không thể ngờ tới thái độ của ông với loài hoa rừng này, - một
thái độ đam mê kỳ dị.
Tôi xách va-li tới đèo Prenn vào buổi chiều. Ngồi hút điếu thuốc đầu
tiên với T. tôi ngắm những cây phong lan cành lá khác nhau dính trên
các thân cây, vách tường. “Phong lan có hoa cậu tôi để trong vườn và
trong phòng khách…”. Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ biết phong lan qua vài
truyện ngắn lãng mạn của Khái Hưng và Nhất Linh. Khi bước chân vào
phòng khác, tôi không thất vọng vì trong thực tế, phong lan đẹp hơn
trong truyện đã tả. T. dẫn tôi đến từng loại: “Nhất điểm hồng, nhất
điểm hoàng, thứ này gọi là Phi điệp vì hoa đỏ như phượng lại chuyên
môn ở trên những cành cao nhất… Cành cây khô mềm như liễu có những
nụ xám xì này là Phi hạc. Khó tìm lắm vì lúc chư hoa, trông lẫn với
cành khô. Nhưng khi nở, rồi Du sẽ biết. Cậu tôi dự đoán mai sẽ nở…”.
Buổi chiều, ngồi trên thành cửa sổ trên lầu ngắm sương mù bốc từ
thung lũng lên, tôi nghe thấy tiếng hắc tiêu từ phòng khách phía
dưới âm điệu buồn điệp khúc bản “Je vais à ton mariage”. “Cậu tôi
thổi cho lan nghe đấy…”. Tôi ngồi ngớ ngẩn nghe âm thanh buồn như
bắt nguồn từ một quá khứ nhiều đau đớn chán nản. Đêm khuya đi uống
cà-phê về, từ phía ngoài đường lộ, tôi đã ngửi thấy một mùi hương
phảng phất. T. cắt nghĩa: “Hương mặc lan đấy. Thứ lan hoa đen như
mực cậu tôi tìm thấy ở các hốc đá ven thác. Hoa xấu xí nhưng mùi hoa
ban đêm toả xa vô cùng…”. Tôi đi vào giấc ngủ đêm đó như một đứa trẻ
lạc lõng vào một thế giới khác lạ, thế giới những vị tiên còn chung
sống với người trần.
Đêm thức khuya, nắn chói mắt tôi mới thức dậy. Đang lười biếng kéo
chăn lên tận cằm nằm ngắm những trái thông khô ướt sương dưới nắng,
T. lên gọi tôi: “Xuống xem Phi hạc… Cậu tôi đoán đúng. Nở hết sáng
nay”. Căn phòng khách chan hoà ánh nắn từ vách kính lớn vào. Nhất
Linh ngồi trên ghế giữa hoa nói với tôi như với một người vẫn sống
thường trực bên nhau: Cháu uống bia không?”. Nước bia làm tôi tỉnh
ngủ, trên cao mây quang làm nắng tươi hẳn lên, tôi nhìn thấy cạnh
ông, cành cây khô xám chiều hôm trước đã như có những con bướm cánh
tím trong bám vào. Một thứ tím trong vắt, dịu như một giấc mơ đẹp
không nhớ rõ. Tôi ngồi đó rất lâu, cạnh hoa, tâm hồn trống trải dần,
chỉ còn niềm bâng khuâng và rung động nhè nhẹ. Tôi bắt đầu biết yêu
hoa như người xưa.
Thời kỳ này tôi như tách biệt với không gian thường sinh hoạt “dưới
kia”. Tôi say mê những phút sau khi mở to mắt, hếch mũi tìm xuất xứ
một mùi hương lẩn khuất, ngẩng đầu nhìn ngọn cây đến sái cổ, tôi
đụng đầu thật bất ngờ với chùm hoa ngay ngang mặt, tưởng như hoa mới
hiện ra để đáp lại công tìm kiếm. Cái không khí huyền ảo này đã tạo
ra tình yêu của tôi với Vương, một thiếu nữ có loại nhan sắc bình
thường tôi không ưa. Nhưng tôi nhìn thấy nàng lần đầu ở ven suối
Đa-mê với nụ cười trẻ thơ trong màu áo vàng nở ra trong khoảng nắng
chiều, như một loài hoa hiếm. Tình yêu này bắt nguồn từ không gian
huyền ảo của hoa rừng, của tiếng sáo, sương mù, nắng chiều nên tôi
không ngạc nhiên khi thấy tan vỡ một năm sau trong bụi và nóng của
Sài Gòn.
Tôi cũng không tiếc hận gì cả. Điều tất nhiên là phải như thế. Bây
giờ, mỗi khi hồi tưởng thời kỳ này, tôi thường luyến tiếc vì đó là
khoảng thời gian độc nhất trên đời tôi sống với phần tâm hồn mơ mộng
và trong sáng nhất. Và tôi không khỏi muốn nói cám ơn Nhất Linh,
người bác không những đã mang cả cuộc đời phác hoạ cho tôi một mẫu
người lý tưởng mà còn làm tôi hiểu một phần nào nghệ thuật sống
thuần tuý nhất, cao sạch nhất của con người Á Đông.
*
Một buổi chiều đi học về, Lam ngập pipe ngồi ngoài cửa, vui vẻ báo
tin: “Bác sắp về Sài Gòn, ra báo”. Cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên
về quyết định này. Ông rời bỏ Đà Lạt, rời bỏ những lan rừng tinh
khiết xuống gia nhập cái thế giới đầy bụi của chúng tôi, hẳn phải do
một cớ nào quan trọng. Óc suy luận phân tích của lớp trẻ hoạt động
quá trớn nên cứ tìm những nguyên do rắc rối. Có lẽ Nhất Linh bỏ núi
bỏ lan chỉ vì một lý do thật giản dị: ông không thể ngồi yên, bất
động trước thời thế nữa. Tình hình lúc đó thật khó thở, do đó, dù có
nhiều nhân vật của Thông tin hết sức giúp đỡ, bác tôi không sao xin
được giấy phép một tạp chí. Sau cùng, ông đành chọn ra giai phẩm
không định kỳ, làm xong số nào, đưa kiểm duyệt như một tiểu thuyết
xin xuất bản. Làm văn nghệ báo chí kiểu này thực vất vả. Nhất Linh
đặt toà soạn luôn ở căn phòng nhỏ xíu nằm phía sau biệt thự của
người anh cả. Ăn, ngủ, làm việc, họp nhân viên biên tập đều tại đó.
Và lối làm việc lần này khác hẳn với thời Phong hoá, Ngày nay.
Trước kia ông là người đứng đầu, vạch đường lối, coi tổng quát,
còn bài vở cũng rõ rệt. Với giai phẩm Văn hoá ngày nay, ông
bao thầu tất cả mọi công việc, từ vẽ bìa, trình bày, trả lời thư độc
giả cho tới sửa bản in thử. Ông làm Văn hoá ngày nay y như
ông chơi lan vậy. Không muốn ai cáng đáng hộ việc gì dù lớp cháu
chúng tôi đã lớn.
Nếu Nhất Linh không bao giờ để ý tới việc khuyến khích con cháu làm
cách mạng, thì về văn nghệ, trái lại ông rất chú trọng. Năm 1953,
Lam bắt đầu viết nhiều, thắc mắc không biết có đủ văn tài để đi vào
văn nghệ hay không, nên gửi một truyện ngắn cho Nhất Linh (lúc đó ở
Sài Gòn) đọc và yêu cầu: “Nếu bác thấy cháu có tai hãy khuyến khích.
Còn nếu không, xin bác nói thẳng để cháu đi đường khác. Xin bác đừng
khuyến khích kiểu “có mầm, nên cố gắng!”. Một tuần sau khi truyện
gửi đi, Lam nhận được một bức điện tín của Nhất Linh, tôi còn nhớ
nguyên văn: “Viết được lắm. Bác nhắc lại: chắc chắn viết được”. Sau
Tết năm đó, Lam nhận được một bản viết tay trong đó Nhất Linh tuyên
bố Đỗ Đức Thu gia nhập Tự Lực Văn Đoàn và Lam, Tường Hùng, Nguyễn
Thị Vinh là nhân viên dự bị. Bản này Nhất Linh chép làm năm bản, một
giữ lại, bốn gửi cho đương sự. Hầu hết mọi người không biết tới bản
văn này nên đã ngạc nhiên khi thấy những sách của Đỗ Đức Thu thời
tiền chiến, khi Phượng Giang tái bản đều ghi: Đỗ Đức Thu trong Tự
lực Văn đoàn. Sự kiện này đã gây khó khăn và thắc mắc cho các nhà
biên khảo văn học những năm về sau vì thủ tục gia nhập Tự Lực Văn
Đoàn phức tạp và có nhiều điều kiện, và quyết định của mình Nhất
Linh – người đứng đầu Văn Đoàn, không đủ để chính thức hoá. Dĩ nhiên
Nhất Linh cũng đã nghĩ đến điều đó vì trong bản văn ông có ghi: vì
nhiều người đã chết, nhiều người còn ở ngoài kia, nên sự gia nhập
của Đỗ Đức Thu, cũng như trường hợp Duy Lam, Tường Hùng, Nguyễn Thị
Vinh sẽ được hợp thức hoá theo đúng thủ tục của Văn Đoàn khi nào
thuận tiện.
Khi họp ban biên tập trong căn phòng bé xíu đó trước khi phát hành
Văn hoá ngày nay số 1, Nhất Linh dự đoán sẽ bán được năm ngàn
số. Lam lạc quan hơn, đưa con số tám ngàn. Tất cả đều đoán sai. Tám
ngàn là con số bán hết trong mấy ngày đầu, sau đó phải in đi in lại
nhiều lần. Tôi lúc đó không biết viết văn là cái gì nên không có mặt
trong buổi họp ấy để đưa một con số lớn hơn của Lam, vì dù sao đã đi
dạy học rồi, tôi biết uy tín Nhất Linh tăng như thế nào trong quần
chúng học sinh sinh viên kể từ khi chương trình Việt được áp dụng
trong miền Nam từ đệ thất tới đệ nhất. Với mười lăm ngàn số báo bán
được trung bình cho mỗi tập, tài chính tờ báo dĩ nhiên không gây bận
tâm nào. Trái lại, có những phê bình chỉ trích kỳ cục làm Nhất Linh
bực mình không ít. Thí dụ một ký giả nào đó trên một nhật báo (hay
tuần báo in khổ như nhật báo, tôi không nhớ rõ), “phê bình văn nghệ”
đại khái như sau: “Nhất Linh bịa nhiều refoulement! Nhân vật cô Mùi
mới mười hai tuổi mà đã muốn được hôn!”. Sau đó ký giả mạt sát thậm
tệ. Riêng chúng tôi, căn cứ kinh nghiệm các em gái chị gái và nhất
là các bạn gái, biết chắc rằng con gái mười hai tuổi muốn được một
chàng trai mình bắt đầu yêu hôn không phải là sự kiện lạ lùng. Cũng
ký giả đó, căn cứ vào một đoạn văn khác tả nhân vật cậu Ấm mũi dính
dầu lau súng, lừa h ôn vợ để dầu dính sang mũi vợ, kết luận là: Nhất
Linh không biết hôn, chưa hôn môi ai bao giờ vì hôn môi mũi không
bao giờ chạm nhau! Đọc bài báo đó, lũ cháu chúng tôi vừa tức cười
vừa buồn cười vì thấy chính ký giả đó có lẽ mới là người chưa hôn
bao giờ, đi xem chiếu bóng thấy các tài tử hôn không chạm mũi nên
vội vã kết luận. Còn bọn chúng tôi mới lớn, bạn gái nhiều, đều biết
rằng chỉ tài tử ciné điêu luyện trong nghệ thuật biểu diễn yêu
đương, mới có thể “chính xác” trong khi hôn. Còn thông thường, vừa
vụng về vừa xúc động, chúng tôi hôn nhầm lên mũi người yêu là chuyện
rất thường, và hai mũi chạm nhau không phải là hiếm. Những phê bình
loại này chỉ làm Nhất Linh bực mình thôi. Nhưng có một thứ phê bình
làm ông suy nghĩ: “Nhất Linh không nên làm báo văn nghệ nữa. Nhất
Linh đã có một địa vị lớn trong văn học sử, bây giờ làm Văn hoá
ngày nay dở hơn Phong hoá, Ngày nay trước, chỉ thêm mất
uy tín!”. Luận cứ này được rất nhiều người tán đồng, kể cả con cháu
trong họ. Có thể nói chỉ còn Lam và tôi là tán đồng sự trở lại hoạt
động văn nghệ của ông. Hai đứa cho rằng thái độ đó của ông đáng kính
phục vì làm người không phải là tạo cho mình một danh vọng chức
phận, để rồi yên trí thụ hưởng, gối lên cái danh cái phận đó như một
cái gối êm ái cho quãng chót của đời sống. Có thể nói thứ can đảm
hào hùng ấy của Nhất Linh lam hai đứa cháu ngoại chúng tôi phục hơn
cả trong những đức tính của ông.
Tuy phục, nhưng chính trong thời kỳ này, hai đứa, về phương diện bài
vở, lại chê trách người bác hơn cả. Cả hai đứa đều không chịu nổi
những bài khảo luận linh tinh, những bức thư Nhất Linh viết trả lời
độc giả. Đọc loạt bài này đôi khi thấy cũ kỹ và lẩm cẩm. Về văn, tuy
vẫn phục nghệ thuật phân tích tâm lý, nghệ thuật trình bày nhân vật,
nhưng tôi đã cảm thấy Nhất Linh không còn là nhà văn của thế hệ trẻ.
Trường giang tiểu thuyết Xóm cầu Mới có những nhân vật đặt
trong một không gian thật xa cách. Đọc, như thấy đi vào một dĩ vãng,
trong khi những người trẻ đang mang một tâm trạng không khí lo âu
khác, với cuộc đời đang ở trước mặt đòi hỏi phải chọn một thái độ
thích ứng. Nhất Linh, với những tác phẩm sau không mang lại, không
đáp lại một chút nào những khát vọng của thế hệ chúng tôi – thế hệ
“nói sự thật bị coi như mạ lị, quân tử bị coi như gàn dở, anh hùng
bị coi như ngu đần”. Về sau, nhóm Sáng Tạo có làm ầm ĩ (làm ầm ĩ,
chứ không phải là phê bình) về Nhất Linh “tiền chiến”, Lam và tôi
không đồng ý với họ về cái thái độ bắt đầu xây dựng văn nghiệp bằng
cách phủ nhận tất cả quá khứ, nhưng hai đứa đồng ý với họ ở điểm:
nhà văn Nhất Linh không còn là nhà văn của thế hệ trẻ hiện đại. Và
điều đó cũng không quan trọng (ít nhất riêng cho Nhất Linh và văn
học sử) vì không phải lúc nào thời nào cũng phải đáp đúng tâm trạng
của thế hệ trẻ mới được là văn hào. Riêng hai đứa chúng tôi thán
phục Nhất Linh tiền chiến và chấp nhận Nhất Linh hậu chiến. Có Nhất
Linh, như một dĩ vãng đẹp, như một căn bản, chúng tôi vững tâm hơn
đi vào tương lai.
Sau khi Văn hoá ngày nay số 8 phát hành, Nhất Linh tuyên bố
với người thân: “Thôi, không làm nữa!”. Quyết định này đột ngột, y
như trước đó mấy tháng, ông bỏ lan, bỏ Đà Lạt xuống Sài Gòn làm báo.
Bạn bè xúm lại can. Nể người thân, ông chịu để Tường Hùng và Lam
tiếp tục. Ra tiếp hai số, ông cương quyết kết liễu Văn hoá ngày
nay. “Nó đã làm xong nhiệm vụ!”, ông giải thích vậy. Đình chỉ
hoạt động văn nghệ, ông vẫn tiếp tục ở Sài Gòn, không lên Đà Lạt “tu
tiên” như lũ cháu tưởng, và ông bắt đầu vào một thời kỳ đau ốm (đau
dạ dày) và suy nhược thần kinh. Thỉnh thoảng ông lên cơn loạn trí,
đứng trong nhà đường Lý Thái Tổ, móc giấy tờ trong ví đưa cho mọi
người, miệng nói lảm nhảm: “Lấy hết đi. Xin các ông lấy hết đi! Đừng
áp chế tôi tội nghiệp!”. Các người thân hết sức lo lắng. Chỉ riêng
mẹ tôi, sau một lần chứng kiến cơn loạn thần kinh, về nói riêng với
tôi và Lam: “Bác điên khôn ghê! Chỉ thấy bác đưa, vứt giấy tờ lẩm
cẩm. Chẳng thấy bác vứt tiền ra bao giờ cho mẹ con mình nhặt tiêu!”.
Nhận xét bí mật này của mẹ tôi làm hai anh em đâm nghi ngờ “sự loạn
trí của Nhất Linh”. Nhất là tôi, vì được mẹ tôi kể lại những thủ
đoạn chống Pháp của ông thời trước: hoá trang làm ăn mày, ông già,
người say rượu, mê thổi kèn để che giấu hoạt động cách mạng. Hoàng
Đạo còn bị bắt giam, chớ Nhất Linh, suốt đời tranh đấu, chưa bao giờ
để đối thủ bắt được. Pháp, sau đó Cộng sản, đều bó tay. Hơn nữa,
chúng tôi để ý thấy mỗi lần nhắc tới chính quyền, ông không còn dùng
câu: “Cái gì mục nát thì tự nó nó đổ!” (Câu ông thường hay dùng
trước kia mỗi khi bị mời xuống núi). Căn cứ và sự kiện mơ hồ như
vậy, chúng tôi bắt đầu chờ đợi… Trong thời kỳ này, Lam và tôi hay
suy xét tìm hiểu về con người của Nguyễn Tường Tam. Căn cứ vào hoạt
động cũ, tác phẩm và con người hằng tiếp xúc, chúng tôi đi đến kết
luận: “Bác chỉ làm cách mạng, không thể làm chính trị”. Chế độ Nhu –
Diệm đang vững vàng, nhưng không thể tồn tại lâu. Theo ý riêng của
lũ cháu, sau Ngô Đình Diệm, vai trò lãnh đạo quốc gia sẽ là của Nhất
Linh Nguyễn Tường Tam vì không ai đủ uy tín hơn. Lam nhiều lần đặt
giả thuyết: “Nếu bác làm Tổng thống, mọi sự sẽ ra sao?”. Các con
cháu có người đã hỏi thẳng, Nhất Linh không đáp. Điều độc nhất ông
nói ra về vấn đề này, có lẽ vỏn vẹn có một câu nói với gia đình:
“Nếu làm Tổng thống, tất cả gia đình sẽ ở ngoài dinh. Cấm không ai
được vào. Khi nào nhớ gia đình, sẽ về thăm”. Sau mỗi lần bàn tới giả
thuyết “Tổng thống Nguyễn Tường Tam”, chúng tôi thường đi đến kết
luận nhiều lo ngại vì cho rằng với cá tính Nhất Linh, những người
phụ tá giỏi đã chết, Nguyễn Tường Tam không thể làm một Tổng thống
giỏi. Trên thực tế và trong lịch sử, chỉ có nhà văn Nhất Linh và nhà
cách mạng Nguyễn Tường Tam chứ không có Thủ tướng hay Tổng thống
Nguyễn Tường Tam để lũ cháu chúng tôi có dịp biết rõ những lo ngại
đó đúng hay sai.
Đêm 11-11-1960, binh chủng nhảy dù đảo chính. Lam và tôi lên chợ An
Đông tìm gặp Nhất Linh. “Việc này chắc có bác quá!”, Lam đoán vậy.
Trên căn gác nhìn xuống chợ, Nhất Linh quần áo chỉnh tề, sắp sửa
cùng B. ra đi. B. nói: “Tiếp xúc lại các nhân sĩ để củng cố và hoạch
định đường lối chung của Mặt trận”. Tuần trước lên thăm, Nhất Linh
là một ông già đau ốm đầy vẻ suy tàn. Sáng hôm nay, ông mắt sáng
quắc, cử động linh hoạt và nụ cười luôn luôn có trên môi. Tôi ngạc
nhiên không thể ngờ khi lao đầu vào hoạt động quý tộc, ông bác cao
tuổi này lại có được vẻ mạnh mẽ và sáng suốt như vậy. B. nói: “Đã
chuẩn bị từ lâu vụ này, nhưng bên chính trị chỉ được biết trước có
24 giờ. Lý do bên quân sự đột nhiên làm gấp vì mụ Nhu sắp đi ngoại
quốc”. Khi B. bảo tôi: “Du sang gặp anh N.T.V. đi. Đang cần Du đó”,
Lam ngỏ ý cũng đi cùng, Nhất Linh im lặng có vẻ không bằng lòng. Sau
này ông nói với Lam: “Phải biết tiết kiệm người. Đừng bao giờ lao
đầu tất cả vào một vụ. Thua thì kẹt hết”. Tôi từ bỏ Việt Quốc đã lâu
nhưng lúc đó không thể từ chối lời mời của B. Tại một trường tư bên
Khánh Hội, ban chấp hành đặc biệt đang hoạt động dưới sự điều hành
của N.T.V. Sau khi dự một buổi họp, Lam và tôi đều thất vọng vì mọi
nhược điểm của các đảng quốc gia đều có đủ nơi đây. Tôi và Lam cố
gắng làm việc với tất cả mọi khả năng dù cả hai đứa cũng chẳng có
bao nhiêu kinh nghiệm về hoạt động cách mạng bạo động. Toàn chạy
theo tình hình, không sao tạo được thế chủ động. Ngày hôm sau, quân
ủng hộ ông Diệm Nhu tiến vào thành phố, buổi trưa, N.T.V., B., Lam
và tôi ra chợ ăn cơm, nghe đài phát thanh bắt đầu mạt sát phe đảo
chánh và dĩ nhiên suy tôn Ngô Tổng thống. Tôi đi bộ về, ngừng lại
trước thành Cộng hoà, chứng kiến tiểu đoàn dù rút ra, trao trả thành
cho Lữ đoàn Phòng vệ Tổng thống phủ. Toán quân được giải thoát, cởi
trần trùng trục, cầm súng chạy, la hét vang trời: “Hoan hô Ngô Tổng
thống, cứu tinh dân tộc”. Đoàn nhảy dù tập trung trên xe ngoài
đường, từ sĩ quan đến lính nét mặt rầu rĩ. Có lẽ đây là lần đầu tiên
binh chủng kiêu hùng này nếm mùi thảm bại.
Hai ngày sau ở Câu lạc bộ Văn hoá, tôi được người cho biết đảng viên
Cần Lao và phong trào Cách mạng Quốc gia đang định lợi dụng tình thế
lộn xộn, cho người tìm giết Nhất Linh. Tôi đến tìm ông đang ở nhà bà
ngoại. Trong căn phòng nhỏ giữa nhà, ánh sáng của ngọn đèn dầu chiếu
sáng bà tôi và Nhất Linh đang ngồi trên chiếu trải dưới đất. Tôi báo
tin, ông lầm lì rót thêm bia vào một ly, đưa tôi: “Cháu đến đây có
ai theo không?”. Tôi trả lời: “Không có ai. Cháu đi cẩn thận, ngay
quanh nhà cũng chưa có ai canh chừng cả”. Tôi châm thuốc hút, căn
phòng im lặng đến độ tưởng như nghe được tiếng khói bay. Bà tôi, mặc
cà-sa nâu, nét mặt gần như bình thản. Không biết đó là hiệu quả
những năm tu hành, hay là bà tôi quá quen với những đứa con trai
suốt đời làm cách mạng, tổ chức bí mật, thất bại và trốn tránh. “Bác
cho cháu theo bác. Cháu khá nhanh nhẹn, có thể giúp ích khi cần…”.
Nhất Linh im lặng hút thuốc. Tôi chờ đợi đợi. Ông đẩy ly bia về phía
tôi: “Cháu uống hết đi rồi về. Cháu lo cho các bạn cháu đi. Còn bác,
bác đã có cách”. Tôi uống hết bia, hút hết điếu thuốc, chào bà, chào
bác rồi tới tìm Thi và bắt đầu sống một thời kỳ lẩn trốn như một con
chuột thành phố. Có lẽ quá mệt mỏi vì lối sống này, tôi tới nhờ cha
Cras, một thầy dạy và cũng là người thứ hai sau Nhất Linh, tôi kính
mến trong đời, giúp cho vượt biên giới. Nhưng khi tới sát biên giới,
tôi lại trở về. Có lẽ tôi bị ám ảnh bởi sự kiện Nhất Linh sau khi
rời bỏ chính trị năm 1950, có qua Paris ở với con cả một thời gian,
nhưng chỉ một thời gian ngắn thôi. Ông không thể ở lại, vì ông là
một người dụ ngôn đích thực, sinh ra, sống và tranh đấu ở miền đất
này, để rồi sẽ chết cũng tại đó.
Sau một thế gian im lặng, Nhất Linh tung ra một bộ tiểu thuyết gồm
ba cuốn viết trong thời gian ẩn trốn. Dĩ nhiên là chúng tôi vội vã
tìm đọc, và cũng thất vọng nhanh chóng. Bộ Dòng sông Thanh Thuỷ
diễn tả cuộc đời làm cách mạng của một người mang vóc dáng Nhất
Linh, nhưng không diễn đạt được. Nhân vật Ngọc thật xa cách với nhân
vật chúng tôi kỳ vọng phải có. Lam cắt nghĩa: “Bác sẽ không thể viết
được nữa. Quá khứ dầy đặc đã đè bẹp tâm hồn bác rồi…”. Tuy không
hiểu rõ Lam định nói gì, nhưng nghe câu đó tự dưng tôi có cảm tưởng
Nhất Linh sắp đi đến quãng chót của đời mình. Khi ông về căn gác
trông xuống chợ An Đông, tôi hay đến thăm hơn xưa. Nhiều khi tôi
tới, cúi chào, ông gật đầu rồi im lặng, tôi lục một cuốn sách ngồi
đọc cho tới lúc muốn về. Vào thời kỳ này, tương đối ông có vẻ cảm
tình với tôi hơn. Có lần gần ngày thi, chưa có tiền nộp lệ phí, ông
bỏ tiền vào một cuốn sách, kín đáo đưa cho. Nhưng giữa hai bác cháu
bao giờ cũng có một ngăn cách khó xác định. Một buổi sáng, cửa đóng
kín che nắng, tiếng ồn ào của chợ họp phía dưới vang lên, tôi nhìn
người bác già, thấy như đã thuộc vào dĩ vãng hay một thế giới khác.
Cũng trong khoảng thời gian này, bà ngoại tôi mất. Lúc biết tin, bác
đang đau, nhờ người vực tới, ngồi bên xác mẹ rồi trở về. Cái chết
này, tôi tin đã làm ông chìm sâu hơn trong đau buồn. Từ lúc các con
lập gia đình riêng, bà tôi thân và yêu Nhất Linh hơn cả. Và dù người
già khó tính ghê gớm, trong các con, không kể mẹ tôi là gái, Nhất
Linh cũng là người chịu đựng những trái tính của mẹ già tài hơn cả.
Trên bàn thờ chính của họ Nguyễn Tường, còn để một bức minh hoạ bà
tôi do Nhất Linh vẽ bằng bút chì, nét thật nhỏ và mờ.
Tôi đi dạy học xa, rồi bị động viên nên lâu lâu mới tới chợ An Đông
một lần. Thường thường hai bác cháu cũng chẳng nhiều lời hơn. Có khi
buổi viếng thăm thu gọn lại trong hai cái chào: khi tới và khi về.
Một buổi sáng thứ sáu, tôi rời Sài Gòn đi đơn vị. Chiều thứ bảy đọc
báo có tin Nguyễn Tường Tam sẽ bị đưa ra toà vào sáng thứ hai 7-7,
ngày Song thất của Diệm, người tôi như căng ra vì chờ đợi một biến
cố: không một quốc gia nào đưa một con người như Nhất Linh ra toà mà
không xảy ra một biến cố nào. Tôi hình dung, tưởng tượng tới thái độ
Nhất Linh sẽ có: ông sẽ im lặng hoàn toàn trước tất cả mọi câu hỏi,
lời kết tội? Ông sẽ chỉ nói một câu nhận hết trách nhiệm cho các
đồng chí cùng bị xử? Ông sẽ rút vào bóng tối, sẽ vượt biên giới? Tôi
nghĩ tới đủ các giả thuyết, nhưng tôi không thể ngờ ông đã chọn cái
chết phản kháng như vậy. Một người bạn nghe đài B.B.C. báo tin cho
tôi biết. Ngồi bất động trong một quán tới trưa, tôi ra bưu điện gửi
điện tín cho Thi: “Mai đi P.K. Em đưa đám bác hộ anh”. Rồi lang
thang trong thị trấn tới khuya, chỉ trở về phòng trọ đủ thời giờ thu
xếp quân trang. Đi chuyến xe đầu lên cao nguyên.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chết, dĩ nhiên không thể đơn giản. Những
nhân vật quan trọng trong chính quyền ùa tới, theo chỉ thị của ông
Nhu, ép buộc đe doạ tang gia phải mai táng gấp. Lam ở Đà Lạt về và
cùng Thi, luôn luôn có mặt ở căn nhà chợ An Đông cùng các con lo đối
phó. Quyết định đầu tiên là đợi chủ nhật mới đưa đám, viện cớ con cả
còn ở Pháp chưa về kịp, sự thực chỉ cốt để thực hiện cho tới mức
chót ý muốn sau cùng của Nhất Linh: một phản kháng kiêu hùng và bi
thảm. Mật vụ bổ vây kín dòng họ và chính tang gia sau cùng cũng
không còn phân biệt được đâu là người đến viếng, đâu là mật vụ nữa.
Chính sách của ông Nhu dùng khủng bố để đàn áp nên những người đến
viếng gồm đàn bà nhiều hơn đàn ông, - đàn ông ở nhà tránh bắt bớ để
còn “làm một cái gì cho cái chết của Nhất Linh khỏi trở thành vô
ích”, một đồng chí lão thành một đảng kỳ cựu nói vậy. Chính quyền từ
chối không cho mang quan tài đến chùa làm lễ cầu siêu, bắt đám tang
phải đi theo một giờ nhất định và lộ trình nhất định. Tang gia dùng
tiếng khóc cổ truyền của đàn bà Việt Nam làm lợi khí. Lan và Thi,
ngoài việc dịch những câu phúng viếng, dịch cả ý nghĩa những tiếng
khóc kể lể của các bà trong dòng họ cho thông tín viên, gây những
xúc động cần thiết tại ngoại quốc. Sau cùng chính quyền chịu để đám
tang ghé chùa Xá Lợi làm lễ cầu siêu nhưng không được mang quan tài
vào. Ông Nhu đã nhượng bộ dù đã bực tức nói với các thuộc viên: “Hắn
sống có đi lễ chùa bao giờ, bây giờ đòi cầu siêu!”. Đáng tiếc các
thuộc viên này không đủ can đảm nói cho ông Nhu biết người thân sinh
ra Nhất Linh đã là một cụ sư sau những năm tu hành cả quãng chót của
cuộc đời, và dù chẳng mấy khi đến chùa, Nhất Linh chưa bao giờ tỏ vẻ
coi thường bàn thờ Phật có thường trực trong nhà. Rồi đám tang cũng
cử hành với sự hộ tống đầy đủ của Mật vụ và Cảnh sát chiến đấu. Chỉ
có một vòng hoa đi đầu. Ảnh Nguyễn Thái Học, một người cháu mang đi
trước, bức hình chụp lại chân dung Nhất Linh do Nguyễn Gia Trí vẽ,
một người cháu cầm đi kế tiếp. Một đảng viên Việt Quốc, có nhiệm vụ
mang đảng kỳ tới huyệt, sợ Mật vụ tịch thu, nên trao cho Thi mang
hộ. Lá cờ sao trắng, lá cờ tôi đã rời bỏ bốn năm về trước, tôi không
thể ngờ có ngày chính Thi lại là người mang tới huyệt, phủ lên quan
tài người đã khuất. Thi đã làm đúng lời dặn, nàng đã thay tôi kẹt ở
một ngọn đồi cỏ, đưa người bác kiêu hùng đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
Một tháng sau, tôi xin được phép về Sài Gòn. Tôi cùng Thi xuống
nghĩa trang Giác Minh thăm mộ bà tôi, ba tôi và người bác. Tàn hương
ra về, tôi gặp Lam. Hai đứa nhìn nhau, mặt Lam sắt lại, răn cắn chặt
lấy chiếc pipe. “Đã đến lúc phải làm mlọt cái gì!’. “Đã đến lúc phải
làm một cái gì!”… câu nói ám ảnh các con cháu, và tới cả những
người, khi Nhất Linh còn sống, không đồng ý hoàn toàn với cả đời
sống của ông. Chiều 26 tháng 10, Lam từ Đà Lạt về và tôi từ Pleiku
gặp nhau tại Sài Gòn. Ngồi trong khu vườn mía um tùm của mẹ tôi, Lam
bàn về cuộc đảo chính đang chuẩn bị. Mật vụ bổ vây khắp nơi xiết
chặt đến nỗi cả tôi lẫn Lam đều đồng ý: “Trong một tuần nữa không
đảo chính, họ cho mình vào tù hết”. Chiều 28, an ninh cá nhân mỏng
manh đến độ Lam quyết định: “Thôi, Du đi đi. Bác dặn phải tiết kiệm
nhân lực. Để mình anh ở lại. Có thua, đến lượt Du lần sau”. Sáng sớm
hôm sau, tôi lên đường trở về đơn vị, suốt ngày quanh quẩn quanh
chiếc máy phát thanh. Hai ngày sau đảo chính, tôi nằm ôm máy phát
than cho tới sáng. Bởi vì nếu lần này thất bại, hẳn trong nghĩa
trang Giác Minh sẽ thêm mộ Lam. Và không hẳn chỉ thêm một mộ mà
thôi. Đảo chính thành công và một cách mạng thành hình. Khi con thứ
Nhất Linh bước vào phòng họp ở Tổng Tham mưu, Trung tướng Dương Văn
Minh yêu cầu toàn thể Hội đồng Quân nhân Cách mạng đứng mặc niệm một
phút nhà văn Nhất Linh và cách mạng gia Nguyễn Tường Tam. Và cuộc
cách mạng chấm dứt sau phút ấy. Sau đó, chính trị bắt đầu, thứ chính
trị mà chính người được mặc niệm đã bao lần chối bỏ trong đời.
Tường Hùng
Người chú
Roma yên lành, yêu đời, có trời xanh ngắt, đường phố thái bình, mọi
người hình như chỉ vội vàng vui vẻ sống để hưởng hết cái đẹp của
tỉnh đẹp này.
Buổi sáng hôm đó một người bạn tôi gọi dây nói và báo tin Nhất Linh
mất. Tự tử. Tin đến dữ dội như sét đánh, rồi bỗng biến đi, yên lặng.
Tôi vội vã đi xuống đường, lẫn vào đám đông, và trong cái tiếng xa
lạ và quen thuộc này tôi dần dần thấy Nhất Linh.
Sau khi chính quyền Pháp bị lật đổ, Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam thì
đúng hơn – trở về Hà Nội. Ông tới nhà chúng tôi. Rất hiên ngang, to
lớn, mặc áo da phi công, chân đi giày ống, trên mép có hàm râu đen
nhánh. Con người cách mạng, cương quyết, sau bao năm tranh đấu, trở
về mang theo tất cả sự quyến rũ của cuộc đời hùng mạnh, như Dũng
trong truyện
Loan và Dũng.
Tôi còn nhớ đôi mắt nhìn thẳng dưới đôi lông mày rậm (điểm đặc biệt
của gia đình chúng tôi), nụ cười rộng lượng phô hàm răng trắng, đều.
Rồi bao nhiêu biến đổi, Việt Minh cướp chính quyền. Tản cư. Loạn
lạc. Khi tôi vào Sài Gòn tôi lại gặp Nhất Linh.
Đối với tôi, Nhất Linh bé nhỏ hẳn đi, tóc đã muối tiêu, đi đứng nhẹ
nhàng, như một nhà ẩn dật, và giống một văn sĩ. Nhưng vẫn nụ cười
ngày xưa rộng lượng và tha thứ tất cả mọi sự.
Có đôi mắt Nhất Linh làm tôi ngạc nhiên: đôi mắt trở thành màu xám
đục. Cũng như mắt của bà tôi khi trở về già, đôi mắt không đen.
Và việc hoạt động cho văn nghệ bắt đầu. Nhất Linh vẫn thường nói văn
hoá có sức mạnh thay đổi lâu bền hơn chính trị. Làm chính trị có ích
trong một thời, làm văn hoá – nếu thành công – sẽ còn lại mãi mãi.
Điểm này cũng giống như câu châm ngôn của báo
Văn hoá ngày nay:
“Văn chương vượt không gian và thời gian”.
Nhất Linh có sức làm việc phi thường. Làm việc cả ngày không mệt.
Những hôm bận việc Nhất Linh chỉ ngủ hai ba tiếng đồng hồ. Khi làm
báo có khi hàng tuần Nhất Linh làm việc như vậy. Vì đã tìm ra triết
lý tuyệt hảo, Nhất Linh đã áp dụng triết lý này vào tất cả mọi việc
trong đời Nhất Linh. Khi làm gì thì làm với tất cả tâm hồn, làm cho
tới mức tuyệt hảo. Và Nhất Linh nói tới chuyện rửa bát ở bên Tàu.
Nếu ta rửa bát một cách qua loa cho xong việc thì ta ngại rửa bát,
nhưng nếu ta coi việc đó như một nghệ thuật cần phải làm tới cùng
thì việc rửa bát tự nhiên trở nên hứng thú. Cuộc đời Nhất Linh hứng
thú vì Nhất Linh sống cuộc đời của mình đến tận cùng.
Khi còn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong căn nhà có vườn cỏ xanh bao bọc,
phòng tôi ở ngay cạnh phòng của Nhất Linh. Nhiều đêm tỉnh giấc vào
quãng ba bốn giờ sáng, tôi thấy bên phòng Nhất Linh còn đèn sáng.
Tôi sang thăm và cảnh làm việc làm tôi sợ hãi.
Trong căn phòng đầy sách vở, giấy tờ, Nhất Linh cặm cụi soạn bài,
sửa bài, vẽ, một mình làm gần hết tờ báo. Trong phòng khói thuốc trừ
muỗi bay mờ mịt. Trên trần cái quạt quay nhanh, không khí lành lạnh
làm tôi rùng mình nghĩ đến sức khoẻ của Nhất Linh.
“Chú không ngủ, nhỡ ốm thì ai làm
Văn hoá ngày nay?”
Tay run run châm điếu thuốc, Nhất Linh nhìn tôi, mỉm cười:
“Cháu đang còn sức trai, cần phải ngủ nhiều.”
Những điểm gì đã làm Nhất Linh trội hơn nhiều người trong những phạm
vi ông hoạt động? Tôi cho rằng đó là sự ham mê, hay nói một cách
khác đi, triết lý tuyệt hảo. Ông có tài lôi cuốn nhiều người vào
công việc làm của ông vì thế. Ngày xưa khi ông ở Hưng Yên, ông đã
làm cả tỉnh hăng hái tập thể thao. Khi ở trên Đà Lạt, tôi thấy nhiều
người chơi hoa lan theo Nhất Linh. Đó chỉ là một vài việc nhỏ, để
chứng tỏ sức lôi cuốn đám đông của ông. Còn những việc to lớn hơn mà
tôi không nói đến như chính trị văn hoá. Trong tất cả các hoạt động
này Nhất Linh không kém ai, vì ông đã làm với tất cả tâm hồn của
ông.
Và thêm vào đó – một điều rất quan trọng: Nhất Linh có một khối óc
phi thường, luôn luôn có những ý kiến mạnh mẽ. Ông nhìn rất xa, bao
trùm cả vấn đề, rồi giản dị hoá tất cả. Có thể nói Nhất Linh là một
tâm hồn phức tạp – một người ưa hoạt động và thực tế.
Ông thường nói ông bị giằng xé nhiều năm bởi hai khuynh hướng đó.
Ông đã hoạt động về xã hội làm nhà Ánh Sáng, về chính trị chống
Pháp, chống cộng sản. Ông đã trở về tu tiên ở Đà Lạt để chỉ sáng tác
văn nghệ. Việc mà đã điều hoà được cả hai khuynh hướng, đó làm báo
làm báo. Và Nhất Linh đã làm những tờ báo nổi tiếng:
Phong hoá,
Ngày nay.
Trong các tiểu thuyết của Nhất Linh, người ta cũng thấy sự hiện diện
của hai sức mạnh đó. Ngày trước, thời của các cuốn
Đôi bạn, Đoạn
tuyệt, tiểu thuyết của Nhất Linh là một phương tiện tranh đấu.
Nghệ thuật chỉ đứng sau, nhưng cũng rất rõ rệt, đủ để chứng tỏ ông
là một văn sĩ có tài. Và dần dần nghệ thuật trở nên quan trọng,
trong
Bướm trắng chẳng hạn.
Trong các tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh như
Xóm cầu Mới, Cô
Mùi, thì Nhất Linh trở nên hoàn toàn văn sĩ.
Nguyễn Du nói tạo hoá ghen ghét những người tài hoa. Nhưng làm gì có
tạo hoá theo nghĩa của Nguyễn Du! Những người tài hoa đã tự lựa chọn
cuộc đời của họ. Và vì nhân cách không giống tất cả mọi người, họ
thường phải đối chọi với xã hội và chết một cách khác thường, nhiều
khi vô lý. Tại sao Hemingway nhét khẩu súng vào mồm, bắn nổ tung óc,
để tự tử? Tôi không bao giờ nghĩ rằng Nhất Linh tự tử, tự tử một
cách giản dị như bước đi một bước, một bước sang thế giới bên kia.
Giản dị và tự nhiên như câu thơ của Nhất Linh nhẹ nhàng: “Hạt muối
tan trong bát nước lã”. Tôi chưa bao giờ được nghe Nhất Linh nói đến
sự chết. Đôi khi Nhất Linh nói đến triết lý, một thứ triết lý thấm
nhuần sự bình thản của đạo Phật, sự hoà hợp với thiên nhiên của đạo
Lão. Nhất Linh viết về sự chết, để tả cái gì xảy ra sau khi chết:
người ta sẽ “phiêu diêu” trong sự sung sướng, thân thể sẽ tan đi mất
như trong một giấc mơ. Nhưng Nhất Linh tự tử!
Có lẽ người ta rất sung sướng khi được biết sự bí mật cuối cùng cuộc
đời dành cho ta: SỰ CHẾT.
Ở Đà Lạt Nhất Linh thường ngâm câu thơ:
Người đi lâu chửa thấy về
Nhớ người lòng suối Đa-mê gợn buồn.
Tôi vẫn thường tự hỏi có phải Nhất Linh nhớ dòng suối Đa-mê thực hay
không. Trời Đà Lạt lạnh, lòng suối trong suốt, nước cũng lạnh buốt
nằm trơ giữa cỏ cây, cô đơn trong rừng núi, nếu thực suối có nhớ ai
thì suối có khung cảnh ảm đạm, nỗi buồn của suối sẽ thấm thía. Bây
giờ trở lại nơi cũ, cạnh dòng suối, người ta tìm hình bóng Nhất Linh
trong chiếc võng treo giữa hai cái cây. Lan rừng vẫn tung hương cho
gió, như những câu văn của Nhất Linh vẫn còn nằm trên giấy, vẫn nói
bằng giọng nói của Nhất Linh. Tôi không khỏi xao xuyến khi giở tập
truyện của Nhất Linh ra đọc. Hình như người vẫn còn lẩn quất đâu
đây, gầy gò, thanh đạm chơi lan, cặm cụi viết văn và đôi khi mỉm
cười rộng lượng tha thứ tất cả.
Nhất Linh đã mất nhưng tâm hồn của Nhất Linh còn mãi mãi. Và khi đọc
cuốn trường thiên tiểu thuyết Xóm cầu Mới”, người ta sẽ thấy,
qua cảnh khốn khổ nhưng khôi hài của một đám dân trong xóm nhỏ,
người ta sẽ thấy Nhất Linh mỉm cười. Phải giấu lòng yêu nhân loại
mới có nụ cười đó.
Một vài nét về chân dung Nhất Linh
Con người
Ít khi tôi gặp một người bình dân như Nhất Linh. Dù ông nói chuyện
với một văn sĩ trứ danh, một anh bán phở, một lãnh tụ chính trị hay
một cậu bé con, ông vẫn giữ thái độ giản dị, hoà nhã.
Hồi còn báo
Văn hoá ngày nay, Nhất Linh bàn cãi với Duy Lam
và tôi – chúng tôi rất trẻ tuổi – coi chúng tôi ngang hàng. Trong
những buổi họp ở Trung tâm Bút Việt, Nhất Linh bảo tôi gọi ông bằng
“anh”, bởi vì theo Nhất Linh cùng là văn sĩ thì không còn coi nhau
như chú cháu nữa. Khi đi đến nhà báo hay đến nhà in, Nhất Linh
thường ngồi đằng sau cái xe Lambretta của tôi. Ông không thích xe
hơi, không thích lái.
Nhưng Nhất Linh rất ghét xã giao, ghét lạc vào một phòng khách nói
những chuyện thù tiếp. Trong những bữa tiệc đông người, Nhất Linh
thường chỉ yên lặng cười và uống rượu.
Bề ngoài Nhất Linh tuy rất bình thản, hoà nhã, nhưng bên trong –
theo lời Nhất Linh – thì nhiều lúc chứa những bão táp ghê gớm, những
tư tưởng mà chính Nhất Linh cũng không ngờ tại sao ông lại có. Có lẽ
vì có một tâm hồn dễ xúc động quá mực thường nên đôi khi Nhất Linh
nổi giận một cách khác thường.
Dễ xúc động cũng tùy lúc. Có lần Nhất Linh tự dưng ôm mặt khóc, vô
cớ, như để thoả mãn một nỗi ấm ức không tên. Nhưng ở hội nghị Pháp -
Việt tại Đà Lạt, khi Pháp ra những điều kiện gắt gao để bắt chẹt
Việt Nam, khi hội nghị tan vỡ và viễn tượng chiến tranh hiện rõ,
Nhất Linh đã nhỏ những giọt nước mắt yêu nước.
Một buổi trưa sau bữa cơm, hồi Nguyễn Tường Tam còn uống rượu, Nhất
Linh đã trở vào buồng nằm, cửa đống. Lúc đó thì một bà mà chúng tôi
vẫn gọi là cô vì thân với gia đình, đến chơi. Bà tính ồn ào, vui vẻ,
lúc nào cũng cười nói. Sau khi tán chuyện với chúng tôi, bà hỏi:
“Anh Tam đâu rồi? Chắc lại vào buồng nằm.”
Nói rồi bà vào phòng Nhất Linh, không gõ cửa như lệ thường ở nước
mình, đẩy cửa vào.
Một lúc sau chúng tôi nghe thấy tiếng quát tháo của Nhất Linh rồi
tiếng chai bị ném vỡ trên sàn nhà.
Nhất Linh nổi giận vì cô chúng tôi vào không gõ cửa! Mọi khi vào
phòng Nhất Linh có bao giờ chúng tôi gõ cửa đâu!
Nhưng Nhất Linh quên giận rất nhanh chóng.
Hờn dỗi là một tính cố hữu của một vài người trong họ chúng tôi. Tôi
còn nhớ hồi nhỏ chơi đùa với Duy Lam, nếu lỡ làm Duy Lam giận thì
chúng tôi lại mất công dỗ Duy Lam cả ngày. Nhất Linh tuy không tỏ ra
hờn dỗi ai, nhưng trong truyện của Nhất Linh các nhân vật hay hờn
dỗi nhau. Họ thường hờn dỗi nhau vì họ yêu nhau. Có bao nhiêu xen
Trương dỗi Thu, Thu dỗi Trương trong truyện
Bướm trắng. Ngay
trong cuốn
Xóm Cầu Mới (chưa in) có nhiều đoạn Mùi dỗi ông
anh họ Siêu, rớm máu trên da và để lòng nhẹ đi. Ngay cả Triết, em
Mùi, cũng dỗi Mùi. Chắc Nhất Linh cũng cảm thấy tình cảm đó một cách
thấm thía nên mới hay nhắc lại trong truyện của ông.
Làm việc
William Faulkner đã nói về người viết văn: “Văn sĩ có tài cần phải
có 90% tài, 90% kỷ luật và 90% làm việc… Không bao giờ hoàn toàn hài
lòng về cái mình viết vì lúc nào mình cũng có thể viết hơn được. Bao
giờ cũng nhìn lên cao. Không để ý đến phải hơn các văn sĩ khác cùng
thời hay các văn sĩ ngày xưa, chỉ cần phải hơn mình là đủ. Một nghệ
sĩ là một nhân vật bị lôi cuốn bởi một con quỷ…” – tôi thấy câu này
thực hợp với Nhất Linh khi ông làm việc.
Một hôm trời đẹp Nhất Linh tươi cười đưa cho tôi một chồng bản thảo
cuốn truyện dài
Xóm Cầu Mới. Những trang giấy trắng không kẻ
hàng đóng thành từng tập dày, bìa đen, chứa đầy những dòng chữ nhỏ
li ti, viết bằng mực xanh lá cây, xanh da trời, những chữ bị cắt
thành từng gạch nhỏ, như ai đã cầm kéo cắt vụn và trải trên giấy,
như đã bị những tư tưởng dồn dập và xao động đã đập tan, kéo dài
thành những con đường chứa các hình ảnh, những băn khoăn muốn chạy
mau về một nơi nào. Và những dòng chữ dó nhiều nơi bị dập xoá, viết
chồng lên, nhiều đoạn được viết lại.
Cuốn truyện này Nhất Linh đã viết năm sáu lần, bản thảo đã có khi bị
mất nên Nhất Linh phải nhớ lại và viết lại. Theo tôi biết đó là tác
phẩm cuối cùng của Nhất Linh. (Những lúc xa Nhất Linh tôi không được
biết ông có sáng tác chuyện nào không).
Tôi yên chí đó là hình thức cuối cùng của cuốn truyện, tôi tưởng
viết như thế là đã tới sự thăng bằng của tư tưởng, của văn, của chữ.
Khi Nhất Linh trích những đoạn trong
Xóm Cầu Mới để đăng
thành truyện ngắn, tôi ngạc nhiên vì ông đã viết lại, thêm bớt, gọt
dũa không biết bao nhiêu lần nữa. Và khi đã xếp chữ tại nhà in, Nhất
Linh còn sửa đi sửa lại, cặp kính trắng hơi trễ trên mũi, tay run
run cầm cái bút Parker 61, viết ngoằn ngoèo và nhanh. Ông thường
khuyên tôi: “Chỉ cần thêm bớt một chút là truyện trở nên khác hẳn,
nhưng cái khó là tìm ra phải thêm gì, phải bớt gì”. Tôi nghĩ có lẽ
cũng như một bức tranh, một phong cảnh đẹp, nếu các phần tử hoà
thuận với nhau, sẽ gây cho chúng ta những rung động. Văn sĩ dàn xếp
các tiếng như một nhạc sĩ điều khiển âm thanh. Các tiếng, và cả các
nhân vật nữa, khi gặp nhau sẽ có phản ứng, phản ứng mà văn sĩ đoán
trước, nhưng không bao giờ biết trước được rõ ràng. Đó là một trong
những cái bất ngờ thú vị khi viết văn.
Nhất Linh thường làm việc rất khuya, có khi đến rạng đông. Nhất Linh
làm việc một cách say mê, gần như quên hết các việc khác, quên khung
cảnh chung quanh. Nhưng ông cũng hay dậy sớm ngồi hút thuốc lá trên
cái ghế vải, nhấm nháp chén trà tàu. Ông thích viết trên giấy trắng
không kẽ hàng, nhưng dòng chữ của Nhất Linh vẫn chạy thẳng chứ không
bay lên hay chúi xuống. Ít khi ông viết ở bàn viết, ông hay viết
ngồi trong cái ghế vải.
Ông thường suy nghĩ rất nhiều về một truyện muốn viết, suy nghĩ một
cách đại cương, về một vài xen, nhân vật. Rồi khi viết thì ông chỉ
việc thả các nhân vật, đã được định rõ ràng, muốn sống ra sao thì
sống, vì vậy có nhiều biến chuyển bất ngờ có khi đổi hẳn cốt truyện.
Những điều này Nhất Linh đã viết thành sách để dựng một lý thuyết về
cách viết văn.
Nhất Linh có những sáng kiến bất ngờ và những sáng kiến đó dồn dập
đến. Một hôm bị giục gấp quá, tôi đưa cho Nhất Linh một mẩu mà tôi
định làm thành truyện ngắn, mẩu đó không có đầu không có đuôi. Nhất
Linh đọc xong, cầm bút viết thêm một chút để cho có kết cục, sửa vài
đoạn để cho có mạch lạc, rồi đặt thành một mục mới cho
Văn hoá
ngày nay: mục “Chàng và Nàng”. Đó chỉ là một mục vui vui, nhưng
sau nhờ tài hài hước của Duy Lam mục đó đã được nhiều nữ độc giả
viết thư đến “chửi” lại bọn con trai chúng tôi.
Những sáng kiến của Nhất Linh giúp rất nhiều về các truyện mà Nhất
Linh sữa. Chỉ vài câu đặt lại, vài đoạn cho lên cho xuống, truyện tự
nhiên đổi khác hẳn đi, rõ ràng hẳn lên.
Thường Nhất Linh rất ghét các câu quá “Tây”, những câu bí hiểm đầy
chữ khó hiểu, những câu sáo rỗng. Ông chủ trương một lối văn hoàn
toàn Việt Nam và thực giản dị.
Vài tài nhỏ
Nhất Linh có tài leo núi, kiếm lan. Ông thấy leo lên thì dễ mà xuống
thì khó. Tuy đã lớn tuổi nhưng ông còn rất nhanh nhẹn, nhiều người
trẻ tuổi không theo kịp ông. Ông có con mắt tỉnh, tuy phải đeo kính,
tìm thấy những cụm lan đẹp một cách nhanh chóng.
Đem lan về ông còn bày hoa vào những chậu, cho hoa mọc trên những
mảnh gỗ mà ông đã chọn mãi để có một hình đẹp. Rồi ông treo tất cả ở
trong phòng. Chỗ thì có lan thấp nhỏ, chỗ thì lan mọc thành những
dây dài lòng thòng xuống, tất cả họp lại thành một khung cảnh cảnh
lan thực đẹp.
Nhất Linh vẽ cũng khá. Ông đã thi đỗ đầu vào Trường Mỹ thuật Hà Nội
mà ông theo học một năm để đổi sang học về khoa học ở Pháp. (Ông đổ
cử nhân khoa học sau một năm học nhờ trí thông minh và cũng nhờ một
sự cho phép đặc biệt nhảy qua năm học. Nhưng Nhất Linh không dùng
tài vẽ của ông để thành hoạ sĩ. Ông chỉ dùng trong báo chí. Tất cả
bìa
Văn hoá ngày nay đều do Nhất Linh vẽ. Cũng có lần nhờ tài
vẽ để kiếm ăn: khi Nhất Linh lưu lạc ở Cao Miên và Sài Gòn, ông đi
vẽ phông các rạp hát.
Nhất Linh có nói là Nhất Linh biết nấu mấy món ngon. Tôi chưa được
Nhất Linh cho thưởng thức tài làm bếp của ông. Nhưng tôi có được
biết tài rửa bát của Nhất Linh. Bát nào cũng sạch sẽ, khô ráo và
sáng tinh.
Trí nhớ và sự khiêm tốn không cho tôi nói nhiều về một người chú mà
tôi kính mến. Đáng lẽ tôi phải nói vài tật xấu để cho rõ chân dung
Nhất Linh hơn, nhưng tôi xin thú thực sau bao nhiêu năm ở gần Nhất
Linh tôi chưa được biết một tính xấu nào của Nhất Linh. Đã có một
dạo cứ mỗi buổi chiều Nhất Linh lại say rượu. Nhưng ông uống rượu
chỉ để cho dễ ngủ, và lúc say ông chỉ ngồi im nghĩ ngợi trong căn
phòng không có ánh sáng. Nhưng ông cũng bỏ được thói xấu đó và thay
rượu bằng một buổi tập thể dục trước cửa sổ.
Thời gian sẽ xoá dần kỷ niệm con người Nhất Linh. Nhưng qua các tác
phẩm của ông, qua các dòng chữ nói những câu quen thuộc, qua những
nhân vật sống, yêu, ghét nhau, qua những tư tưởng trong các trang
giấy, người ta sẽ biết một phần chính Nhất Linh, một phần mà tôi
mong sẽ bền Meursault.
Tuyết Hương
Gieo hạt
Người ta bảo tôi may mắn, mới ra đời đã được người giúp cho nổi
tiếng ngay. Cũng đúng, và cũng không đúng. Nếu ở đời này muốn thành
công cần phải kiên nhẫn, thì muốn được người giúp cũng cần có kiên
nhẫn vậy.
Thuở nhỏ, chả có gì tỏ ra tôi có khiếu về văn chương. Làm luận văn
tôi có biệt tài về dùng những chữ thì, là. Câu nào cũng tìm được
cách cho được một chữ vào. Bài luận văn dài chưa đầy một trang, cô
giáo đếm được hơn một tá “thì”. Tôi còn nhớ một hôm phải làm đơn
trình ông cò đêm qua nhà mất trộm. Cô giáo đã đọc câu: “Đang thiu
thiu ngủ bỗng nghe tiếng động tôi vội chồm dậy”. Cả lớp cười. Người
ta ngỡ tác giả là một chú khuyển. Người thì ngồi nhổm dậy, chứ ai
lại “chồm dậy”!
Không có khiếu về văn chương, tôi lại mộng làm thi sĩ. Ấy thế mới
tội! Trong khi các bạn nô đùa, chạy nhảy, tôi chỉ mãi dạo tha thẩn
dưới gốc cây, trông mây bay nghe chim hót mà tìm vần. Tới khi thơ
chép đã đầy cả mấy cuốn vở, đọc lên tự nghe đã… thấy hay, lại hàng
ngày xem báo thấy thơ thẩn đăng nườm nượp, tôi nảy ra ý gửi đăng và
chọn một bài gửi tới một tờ nhật báo. Từ hôm đó, ngày nào tôi cũng
mong giờ phát báo, mở vội ra xem có thấy thơ của mình. Đêm nào tôi
cũng mơ màng thấy tên mình in đậm nét trên trang văn chương.
Chờ mãi, đợi hoài. Hồi hộp hy vọng chán cái mộng tên in trên báo đã
thành sự thật. Nhưng người ta in tên tôi để nhắn rằng thơ dở lắm,
không đăng được. Và thành thực khuyên tôi nên chọn một nghề gì thích
hợp hơn. Đừng để mất thời giờ với thơ thẩn mà xao nhãng việc học.
Lần đầu tiên tôi hiểu thất vọng là thế nào. Trời như tối lại. Tôi
muốn chui vào lòng trái đất nằm im lặng mà gậm nhấm cái sầu này. Tôi
có cảm tưởng như lối tới tương lai của mình đã bị hai cánh cửa sắt
đen ngòm khép kín, không bao giờ mở ra nữa.
May sao tuổi trẻ là tuổi dễ quên, là tuổi dồi dào sức quật khởi. Cho
nên buồn chán rồi, một hôm tôi nghĩ:
“Không có khiếu về thơ, thì viết văn cần chi!”
Lần này có bao nhiêu tiền túi tôi đem hết ra mua báo. Tất cả các báo
hiện phát hành: nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san… Tôi muốn xem tờ
nào có cảm tình với hạng văn sĩ tập sự nhất để gửi gấm tác phẩm của
mình.
Đã cẩn thận thế mà bài của tôi cũng bị từ chối. Có lẽ trái tim đã
“dày dạn” vì lần thất vọng trước, lần này đã không buồn tôi lại
nghĩ:
“Đã thế không thèm làm văn sĩ nữa!”
Trên đời này đâu phải chỉ có nghề viết văn. Thiếu gì thứ sĩ khác
nhỉ!
Không may chưa được bao lâu tôi bị ốm nặng. Lần này tương lai coi bộ
đen tối thật. Trong những ngày đen tối nhất, không thể làm gì khác,
tôi lại tìm đến giấy bút. Tôi viết một truyện buồn, lấy nhan đề
“Sống với đối với”. Đúng dịp tờ
Văn hoá ngày nay ra đời. Và
tôi đã gửi truyện ngắn này tới tờ báo quy tụ nhiều cây bút lão luyện
nhất. Thật đúng là liều!
Gửi bài đi mà không mong được trả lời. Bị mấy lần thất vọng, tôi
cũng yên trí mình không có khiếu về văn chương. Cứ tin chắc bài của
mình lại vào sọt giấy, không chờ đợi nữa cho tâm trí yên ổn mà viết
bài khác. Nhờ kinh nghiệm từng trải tôi đã trở nên “khôn ngoan” như
vậy. Với lại làng báo hàng ngày còn phải nửa tháng mới biết bài
không được đăng.
Văn hoá ngày nay mỗi tháng ra có một kỳ, ít
ra phải chờ sáu tháng.
Đã chắc như vậy nên tôi vô cùng ngạc nhiên khi bài gửi đi chưa được
hai ngày đã được trả lời. Lại thư riêng. Chính ông Nhất Linh viết!
Thật quả tôi không ngờ hạng văn sĩ tập sự mà được cái vinh dự ấy.
Thú thật tôi không thể tưởng tượng văn của mình sẽ được khen, lại
được khen “hay vô cùng”. Ông lại khuyên tôi rất nên viết nữa, viết
thật nhiều. Chỉ có vài dòng thôi. Nhưng ông đã viết thêm rằng với
văn của tôi ông cần gặp để nói chuyện nhiều. Ông đã mời tôi tới toà
soạn.
Lẽ dĩ nhiên tôi không thể tới. Tuy tôi rất muốn gặp ông cho biết
người, biết mặt. Trong thư phúc đáp tôi đã nói rõ lý do. Và tôi đã
được ngay thư ông yêu cầu tôi nên yên trí tĩnh dưỡng, ông sẽ tới
thăm. Vài hôm sau ông đã thân hành tới gặp tôi thật. Cuộc gặp gỡ chả
có gì là đặc biệt. Hồi đó đã đang ốm, tôi lại hãy còn rất nhút nhát.
Sau khi hỏi thăm về bệnh tình, sức khoẻ của tôi, ông đã an ủi rằng ở
thế kỷ XX, khoa học tiến bộ thế này, bệnh phổi chỉ như những bệnh
tầm thường khác, chẳng có gì đáng bi quan. Chắc chắn tôi sẽ bình
phục một ngày gần đây. Tới chuyện văn chương, ông cho biết vì sao
bài của tôi được đọc trước những bài khác. Và ông mời tôi cộng tác,
sẽ được trả nhuận bút cao nhất.
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy giúp tôi lấy lại tin tưởng, trở nên vô cùng
phấn khởi. Vừa hôm nào đây tôi còn tưởng mình là kẻ vô tài, chả có
văn sĩ, thi sĩ nào thèm đếm xỉa tới. Làng văn đối với tôi như một
thế giới bất khả xâm phạm. Thế mà hôm nay, một nhà văn kỳ cựu, lão
thành, đã thân hành tới thăm, khen văn tôi, mời cộng tác. Tôi tưởng
đâu mình mơ ngủ. Song sự thật rành rành. Mấy tập báo với hàng chữ đề
tặng dưới ký tên, chính ông vừa đưa cho, còn để trên bàn kia.
Tiếc rằng tờ
Văn hoá ngày nay cũng như ông Nhất Linh không
được thọ. Song nếu tôi được biết tới, tên tôi được xuất hiện trên
những báo khác, và nếu rồi đây tôi sẽ có một sự nghiệp văn chương,
chính là nhờ ông vậy. Chứng cớ là những bài xưa kia bị từ chối nay
lại được khen hay!
Phương ngôn ta có câu: “Uống nước nhớ nguồn”. Biết ơn là một trong
những đặc tính thiên nhiên của con người. Song đối với người làm ơn
không mong được trả, tôi chỉ biết tự hứa sẽ cố gắng mãi. Khi giúp
tôi, chắc ông cũng như người gieo hạt. Người gieo hạt mong hạt mình
gieo sau này sẽ trở nên cây tốt đẹp. Tôi tin rằng ông cũng mong tôi
sẽ trau giồi cho văn tiến nữa, đẹp hơn.
Tài văn chương chắc không phải chỉ có một ông Nhất Linh. Song nếu
những văn tài khác cũng thực tâm nâng đỡ bọn trẻ, tôi dám chắc sẽ
còn tìm ra nhiều Tuyết Hương khác.
Nguồn: Chân dung Nhất Linh. Tập
hồi ký của Bùi Khánh Đản, Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn
Tường Thiết, Thế Uyên, Tường Hùng và Tuyết Hương. Mẫu bìa của Văn
Thanh. Do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In xong tại nhà
in riêng của nhà xuất bản ngày 25-6-1966. Bản điện tử do talawas
thực hiện.
Trần Văn Bang
Bệnh tật và cái chết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
Bài dưới đây là một chương trích trong cuốn sách nhan đề Bệnh
tật và cái chết của các văn gia thi gia
… Sách thuộc loại “lịch sử
y học”, một môn học mới được công nhận tại Y khoa Đại học Sài Gòn,
mà tác giả là giảng sư.
I. Thân thế và sự nghiệp văn chương
1. Thân thế: Sinh ngày 25 tháng 7 năm Bính
Ngọ (1906) tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Bắc Việt. Ông bà nội
gốc người Cẩm Phổ, Quảng Nam, ông bà ngoại người gốc Huế. Vì làm tri
huyện ở Cẩm Giàng, Hải Dương nên dời gia đình ra đấy. Chết ngày
7-7-1963, tại Sài Gòn.
2. Văn nghiệp: Chúng ta có thể chia các tác
phẩm của Nhất Linh ra các loại:
1. Tiểu thuyết lý tưởng: Nho phong
(1924), Quay tơ (1925).
2. Tiểu thuyết tranh đấu xã hội: Đoạn
tuyệt (1935), Lạnh lùng (1937), Đôi bạn (1938).
3. Tiểu thuyết tâm lý: Bướm trắng
(1941), Nắng thu (1942), Dòng sông Thanh Thuỷ, Ba
người lữ hành (1960), Chi bộ hai người (1960-1961),
Vọng quốc (1961), Sống dở dang, Hai buổi chiều vàng, Đi Tây
(du ký vui).
4. Viết chung với Khái Hưng: Anh phải
sống, Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1934); và một số
tác phẩm đang soạn chưa xuất bản.
II. Bệnh tật và cái chết của Nhất Linh
Để tìm hiểu bệnh trạng và cái chết của Nhất Linh, chúng tôi đã tiếp
xúc với gia đình Nhất Linh: Bà Nguyễn Tường Tam, con trai út của ông
là Nguyễn Tường Thiết, cùng Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm vừa là bạn thân
vừa là thầy thuốc của Nhất Linh lúc sinh thời, đặc biệt hơn nữa Bác
sĩ Nguyễn Hữu Phiếm đã theo dõi từng phút cái chết của Nhất Linh và
đã giúp chúng tôi những tài liệu y học xác thực.
Nguyễn Tường Tam cao 1th67, nặng 55kg, dáng người mảnh khảnh, mặt
sáng, trán rộng, tính tình điềm đạm ít nói, hay suy tư. Ông có tật
nghiện thuốc lá hiệu Bastos xanh, mỗi ngày thanh bình phải hai gói,
thích uống rượu Tây đủ loại từ Whisky đến Cognac, bia v.v…, nhiều
lần ông cố bỏ nhưng sau lại uống. Theo một vài người bạn, có hồi ông
hút thuốc phiện sau lại bỏ.
Tuy dáng người không vạm vỡ, nhưng ông không hay đau ốm. Ngày
6-7-1963 ông nhận được giấy đòi phải trình diện tại Tiểu đội Hiến
binh số 635 Nguyễn Trãi, Sài Gòn và được biết sáng thứ hai 8-7-1963
phải ra Toà vì tội tham gia cuộc đảo chính 11-11-1960.
Ông đã có ý định tự tử để có tiếng vang trong quần chúng hầu thúc
đẩy cuộc cách mạng chống Ngô Đình Diệm; ông đã chuẩn bị cái chết và
đã viết di ngôn từ sáng chủ nhật 7-7-1963, theo ý ông, tự tử ngày
“song thất” là đem cái nhục cho họ Ngô.
Ông đã có ý định tự tử ít nhất là một tuần lễ trước ngày 7-7-1963.
Vì chủ nhật trước ông có tới dự buổi họp của Văn Bút (hình như là để
vĩnh biệt các văn hữu) và có chụp ảnh để kỷ niệm, lúc 4 giờ chiều
chủ nhật 7-7-1963, Nhất Linh ngồi nói chuyện với các con và uống
rượu Whisky Jonnhie Walker, con trai ông là Nguyễn Tường Triệu tỏ vẻ
ngạc nhiên tưởng ông uống để quên sự thế, nào ngờ ông vừa uống rượu
vừa uống thêm độc dược để đi tìm cái chết để khỏi phải toà án loài
người xét xử mình.
Năm giờ chiều, Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được mời đến thì Nhất Linh đã
mê man, hơi thở đã yếu. Đem vào Bệnh viện Grall chạy chữa nhưng đến
1 giờ 15 sáng thì Nhất Linh đã trút hơi thở cuối cùng.
Từ lúc uống thuốc ngủ đến lúc chết thật sự chỉ vỏn vẹn chín giờ. Tất
nhiên ông đã uống rất nhiều thuốc ngủ và cách uống cũng thật khoa
học nên mới đem lại một cái chết mau chóng như thế.
Theo kết quả phân chất nước tiểu của Nhất Linh có rất nhiều thuốc
ngủ (Barbituriques) loại Vénoral.
Nhất Linh mất trong đêm 7-7-1963 rạng ngày 8-7-1963, đúng 1giờ 15
sáng.
Ngay sau khi Nhất Linh mất, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh làm
một cuộc phẫu nghiệm tử thi (autopsie) mặc dầu không có sự ưng thuận
của gia đình, để tìm hiểu nguyên nhân chết thực sự của Nhất Linh.
Sau đây là nguyên văn bản phúc trình kết quả thử nghiệm của Viện
Pasteur Sài Gòn dịch ra tiếng Việt:
Sài Gòn, ngày 15 tháng 7 năm 1963
Số 562/HA
Thử nghiệm độc dược
Chiếu theo giấy số 13.747, ngày 10-7-1963 của Toà án Sài Gòn, xin
khám nghiệm nước tiểu, máu và nước rửa bao tử của Nguyễn Tường Tam.
* Tìm chất độc loại hữu cơ trích ra nhờ hơi nước lôi cuốn:
- Tìm chất lân tinh: kết quả không.
- Tìm chất Cyanure: không không.
* Tìm chất cặn để lại bởi éther alcalin:
- Tìm chất alcaloides:
1. Phản ứng Valser và Mayer: kết quả không.
2. Phản ứng Draggendorf: kết quả không.
* Tìm trong chất cặn để lại bởi éther acide:
- Tìm chất digitaline: kết quả không.
- Tìm chất phénol acide salicylique và antipirine: kết quả không.
* Tìm chất barbiturique (thuốc ngủ): kết quả có.
1. Phản ứng kiểm nhận bằng Nitrat mercureux: cặn trắng, rồi sẩm màu
rất lẹ.
2. Phản ứng Dengiès (bằng nước trung cách Sulfate mercurique): kết
tủa trắng và keo tan trong acide chlorhydrique.
3. Phản ứng Pari: màu đỏ tím rất đẹp.
4. Kiểm nhận bằng phương pháp microcristallosscopie Dengiès: hiện
diện của những mảnh hình chữ nhật riêng rẽ hay chụm lại với nhau.
* Kết luận:
Có hiện diện của chất Barbituriques với một mức độ rất cao trong
nước tiểu của Nguyễn Tường Tam.
Sau khi kiểm nhận bằng microcristalloscopie ta có thể kết luận chất
barbiturique này là loại Véronal.
Trưởng Phòng Thí nghiệm
Phạm Văn Tất
Nguyên văn bản kết quả thử nghiệm viết bằng tiếng Pháp:
Sài Gòn, le 15 Juillet 1963
Số 562/HA
Examen Toxicologique
Ref: Demande d’examen No.13.747 du 10-7-1963 du Tribunal de
Sài Gòn, concernant l’analyse de l’urine, du sang et du liquide de
lavage gastrique de Nguyễn Tường Tam.
* Recherche des poisons organiques extraits par entrainement à la
vapeur d’eau:
- Recherche du phosphore: résultat négatif.
- Recherche des cyanures: résultat négatif.
* Examen du résidu laissé par l’éther alcalin:
- Recherche des alcaloides:
1. Réatif de Valser et Mayer: recherche négative.
2. Réatif de Draggendorf: recherche négative.
* Examen du résidu laissé par l’éther acide:
- Recherche de la digitaline: recherche négative.
- Recherche du phénol, de l’acide salicylique et de l’antipirine:
recherche négative.
* Recherche des barbiturique: Recherche positive.
1. Réaction d’identification avec le nitrate mercureux: précipité
blanc, fonçant très rapidement.
2. Réaction de Dengiès (avec la solution neutre de sulfate
mercurique): précipité blanc gélatineux, soluble dans l’acide
chlorhydrique.
3. Réaction de Pari: belle coloration rouge violacée.
4. Identification par microcristallosscopie (Denigès): lamelles
rectangulaires isolées ou groupées.
* Conclusion:
Présence des barbituriques à dose très élevée, dans l’urine de
Nguyễn Tường Tam.
Par l’identification par microcristalloscopie, on peut conclure que
ce barbiturique est du VERONAL.
Le Directeur du Laboratoire
Singé Phạm Văn Tất
Và sau đây là nguyên văn bản phúc trình pháp lý về cuộc phẩm nghiệm
tử thi Nguyễn Tường Tam.
Sài Gòn, ngày 9 tháng 7 năm 1963
Bản phúc trình Pháp y về việc phẫu nghiệm tử thi Nguyễn Tường Tam
Ngày 8-7-1963, hồi 16 giờ tại nhà xác Bệnh viện Grall có sự hiện
diện của những vị sau đây:
1. Ông Lưu Đình Việp, Biện lý Toà Sài Gòn.
2. Ông Lý Quốc Sỉnh, Phó Biện lý Toà Sài Gòn.
3. Ông Dương Tấn Hữu, Phó Ty Cảnh sát quận I.
4. Ông Nguyễn Tứ Quý, Sở Giảo nghiệm.
5. Ông Trương Tấn Bảo, Sở Giảo nghiệm.
6. Bs. Nguyễn Văn Bổn, Y sĩ Chẩn y viện quận I, Y sĩ Giám định.
7. Bs. Nguyễn Đăng Phong, Y sĩ Trưởng Đô thành.
8. Bs. Đào Huy Chân, Y sĩ Chẩn y viện quận III, Y sĩ Giám định.
9. Bs. Nguyễn Danh Đàn, Thanh tra Bộ Y tế.
10. Bs. Nguyễn Bỉnh Nghiêm, Đại diện Bộ Y tế.
11. Bs. Nguyễn Huy Can, Giảng viên Trường Đại học Y khoa.
12. Bs. Gourillon, Y sĩ giải phẫu Bệnh viện Grall.
Thời gian Nguyễn Tường Tam nằm Bệnh viện Grall
Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm viết giấy tối khẩn gởi Nguyễn Tường Tam vào
Bệnh viện Grall, ngày 7-7-1963, hồi 18 giờ. Có mấy chữ như sau: Toan
tự tử (không rõ với chất gì). Khi vào đến bệnh viện thì hơi thở,
mạch của bệnh nhân rất yếu cho đến nỗi bác sĩ tưởng đã chết rồi.
Sau khi được chữa trị thì hơi thở và mạch khá hơn chút ít.
Bác sĩ điều trị không thấy triệu chứng của một bệnh nên có nghĩ đến
sự tự tử bằng chất độc. Tuy nhiên có tìm chất thuốc ngủ trong nước
đái bệnh nhân mà không thấy rõ.
Bệnh nhân tắt thở ngày 8-7-1963 hồi 1 giờ 15 phút.
Giảo nghiệm
Muốn cho chắc rằng tử thi đang khám là của Nguyễn Tường Tam, hội
đồng nhờ Sở Giảo nghiệm (hai ông Nguyễn Tứ Quý và Trương Tấn Bảo)
chụp hình và lăn ngón tay.
Khám tử thi bề ngoài
Do Bác sĩ Nguyễn Văn Bổn và Đào Huy Chân là hai y sĩ giám định.
Tử thi là một người đàn ông gầy, độ 60 tuổi, râu môi trên và tóc bạc
một phần màu muối tiêu.
a. Đầu: Cái mặt không có vết thương nào. Trong miệng không có
răng giả, con ngươi mở (mydriase). Tìm kỹ nơi da đầu không thấy
thương tích.
b. Cổ: không có thương tích.
c. Tay chân: không có thương tích.
d. Mình mẩy: không có thương tích.
Nơi vùng xương khu (vertébres sacrées) có hai mụn lở (escarres) vì
gầy yếu và nằm cấn, ngay những đốt xương D3-D4 có bướu mỡ đo 5cm x
3cm.
Phẫu nghiệm
Bác sĩ Nguyễn Văn Bổn giải phẫu. Bác sĩ Đào Huy Chân phụ tá.
1. Phổi: Không có bệnh, chỉ đen vì bụi (authracose). Màng
phổi không có chi lạ.
2. Tim: Không có bệnh Infarctus. Màng tim không có chi lạ.
3. Bao tử: Không có bệnh. Đầy phân nửa thức ăn. Bao tử được
cột hai đầu và lấy nguyên ra với thức ăn để tìm chất độc tại Viện
Giảo nghiệm.
4. Gan: Phía dưới lá gan có một lằn chai to (bande
scléreuse). Ngoài ra không có bệnh chi cả. Gan và túi mật cân nặng
1kg120.
5. Tuỳ tạng (pancréas): không có chi lạ.
6. Lá lách (rate): có vẻ thường.
7. Thận: thận hữu nặng 130gr, thận tả 120gr, không có bệnh.
8. Tuyến thượng thận (glandes surrénales): có vẻ thường.
9. Đầu: da đầu không có thương tích, xương sọ tốt.
10. Óc: không có chảy máu, không có bướu, màng óc (tumeur
không có bệnh).
Tìm chất độc. – Có gửi đến Viện Giảo nghiệm:
a. Nguyên cái bao tử với thức ăn.
b. 25cc máu lấy trong tim.
c. 30cc nước tiểu lấy trong bọng đái. Nước tiểu có vẻ thường.
d. 4cc nước đầu và xương sống (liquide céphalorachidien).
Kết luận:
Với những phương pháp khám nghiệm thông thường tại chỗ, không thấy
thi hài có triệu chứng nào có thể giải thích cái chết mau chóng của
Nguyễn Tường Tam.
Cần chờ xem kết quả việc tìm kiếm do các phòng và Viện Giảo nghiệm.
Bs. Đào Huy Chân và Bs. Nguyễn Văn Bổn (ký tên)
Và cái kết quả tìm chất độc của Viện Pasteur Sài Gòn do Trưởng Phòng
Thí nghiệm Bs. Phạm Văn Tất xác nhận có chất thuốc ngủ
(barbiturique) rất nhiều trong nước tiểu đã giải thích được cái chết
của Nhất Linh. Bất cứ trong các vụ tự tử bằng chất thuốc ngủ nào,
nếu ta tìm thấy trong nước tiểu có chất barbiturique thì nhất định
nạn nhân đã uống thuốc ngủ. Đây là bằng chứng của các vụ tự tử vậy.
Kết luận
Về phương diện y học, Nhất Linh đã biết cách tìm một cái chết mau
chóng bằng thuốc ngủ pha rượu đến nỗi các y sĩ làm phẫu nghiệm cũng
không giải thích nỗi cái chết quá mau lẹ của Nhất Linh.
III. Suy luận về cái chết của Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam lúc thiếu thời là một người khoẻ mạnh. Tôi có dịp
gặp ông ở nhà riêng ông ở phố Hàng Cau Hà Nội hồi ông mới ở Pháp về
và tôi còn nhớ hình ảnh và dáng điệu của một người tráng kiện và
lanh lợi.
Sau này lúc mới 50 tuổi, sức khoẻ của ông đã bị sút kém. Thế Uyên
cũng viết: “Tuần trước tháng 11 năm 1960, Nhất Linh là một ông già
đau ốm đầy vẻ suy tư” (Chân dung Nhất Linh, Tập san Văn
xuất bản, SPT số 6/66).
Sao mà ông khỏi ốm được. Mười mấy năm làm văn nghệ không nghỉ, mười
mấy năm làm cách mạng, mấy năm lưu lạc, vật chất thì thiếu thốn,
tinh thần bị lung lạc. Tất cả những cực nhọc, những lo âu, những
thất vọng đã chồng chất lên thể xác ông, tâm thần ông. Tất nhiên sức
khoẻ ông phải suy yếu.
Hơn nữa, ông cũng như đa số các nhà văn, thích uống rượu, thích hút
thuốc, cả thuốc lá lẫn thuốc lào.
Người ta cho hút thuốc lá, uống rượu là thích thú, hút để giải
khuây. Văn sĩ thì lại coi những thứ này như kích thích tố và dùng nó
để tăng năng suất hay gây thêm cảm hứng. Nhưng đối với y học thì
rượu và thuốc lá, cà-phê không làm tăng năng suất, trái lại, làm
giảm trí nhớ, làm cho phản xạ chậm trễ, kém nhạy. Khoa sinh lý thực
nghiệm đã nghiên cứu những chất này và coi như là những chất độc có
hại cho cơ thể, và giảm thọ con người. Thuốc lá và thuốc lào cũng
vậy, làm hại tim và gây ra bệnh ung thư phổi. Còn rượu thì bất cứ
rượu nào, kể cả rượu bia, sau một thời gian có thể sinh ra chứng héo
gan, hay là chứng loạn óc, tuỳ theo phản ứng cơ thể của mỗi người.
Nhiều nhà văn Việt Nam thích uống rượu, nhưng chắc số người nghiện
rượu thì ít, hoạ may có Tản Đà, Nguyễn Tuân; Nguyễn Khuyến ca tụng
rượu, di ảnh ông để lại tay cầm chén rượu, nhưng vị tất đã là người
nghiện rượu. Còn thanh lý thì đa số người trong nghề viết văn đều
nghiện.
Nhất Linh nghiện thuốc lá rất nặng, mỗi ngày hai bao Bastos, ông hút
luôn miệng, lại hút cả thuốc lào. Còn rượu thì chắc ông không nghiện
bằng Tản Đà. Không biết ông bắt đầu uống từ năm nào, và uống mỗi
ngày bao nhiêu và loại rượu gì. Hình như mấy năm sau ông chỉ uống
bia thôi. Có lẽ ông cũng thích uống Whisky, chứng cớ là ngày ông tự
tử ông uống Whisky Johnnie Walker.
Tường Hùng, cháu gọi Nhất Linh bằng chú viết trong Chân dung Nhất
Linh (sđd): “Đã có một dạo cứ buổi chiều Nhất Linh lại say rượu.
Nhưng ông uống rượu chỉ để ngủ và lúc say ông chỉ ngồi im nghĩ ngợi
trong căn phòng không ánh sáng…”. Mấy năm sau theo Bác sĩ Phiếm thì
tinh thần ông kém nhiều và tay ông run (tremblement des extrémités).
Đây là một triệu chứng của bệnh nghiện rượu.
Thế Uyên, cháu của Nhất Linh, viết trong bài “Người bác” (sđd): “Ông
không lên Đà Lạt tu tiên… và bước vào một thời kỳ đau ốm (đau dạ
dày) và suy nhược tinh thần. Thỉnh thoảng ông lên cơn loạn trí, đứng
trước nhà đường Lý Thái Tổ, móc giấy tờ trong ví đưa cho mọi người,
miệng nói lảm nhảm: “Lấy hết đi, xin các ông lấy hết đi. Đừng áp chế
tôi!”. Tội nghiệp, các người thân hết sức lo lắng. Chỉ riêng mẹ tôi
(mẹ Thế Uyên là em gái Nhất Linh) sau một lần chứng kiến cơn loạn
thần kinh về nói riêng với tôi: “Bác điên khôn ghê, chỉ thấy bác đưa
vứt giấy tờ lẩm cẩm, chẳng thấy bác vứt tiền cho mẹ con mình nhặt
tiêu…”. Rất có thể Nhất Linh giả vờ loạn óc, vì chính quyền Ngô Đình
Diệm đang lùng bắt ông. Đây cũng là một lối cải dạng. Ông thích đọc
truyện trinh thám và rất quen thuộc với lối cải dạng.
Theo Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm thì Nhất Linh có bệnh thần kinh suy
nhược (neurasthénie). Ông đã bị ám ảnh tự sát (obsession par le
suicide). Mấy tháng trước, cũng theo Bác sĩ Phiếm, Nhất Linh cũng đã
uống thuốc ngủ tự tử khi ông trốn ở đường Lê Thánh Tôn. Chính Bác sĩ
Phiếm chữa chạy, rửa dạ dày, chích thuốc Strycnhine. Số lượng thuốc
ngủ uống hồi ấy vì ít, nên ông bình phục ngay và vài hôm sau ông lại
đi họp Hội Văn Bút.
Nói tóm lại, trước khi tự tử Nhất Linh đã bị tinh thần suy nhược,
chúng tôi không dám phê bình tính cách tranh đấu tiêu cực của ông
(theo Bác sĩ Phiếm thì ông bị ảnh hưởng sâu xa của cái chết của
Thích Quảng Đức). Nhưng đứng về phương diện y học, thì tự tử với
tính cách tiêu cực chứng tỏ là Nhất Linh đã bị khủng hoảng tinh
thần.
Nguyên do sự khủng hoảng ấy ở đâu mà ra? Vì thế cuộc chăng? Nếu muốn
tìm lý do y học thì chỉ có bệnh nghiện rượu mới cắt nghĩa được sự
khủng hoảng tinh thần ấy. Bệnh rượu của ông khác bệnh rượu của Tản
Đà và ông cũng ít uống, không bằng Tản Đà. Tản Đà sau nhiều năm uống
rượu, bị đau gan và chỉ ngông chứ không loạn trí. Còn Nhất Linh tuy
thời gian uống rượu ngắn hơn, rượu đã đưa ông đến tình trạng tinh
thần suy nhược. Ngoài ra trong tờ trình phẫu nghiệm tử thi, lá gan
có một lằn chai (bande de sclérose). Đấy có lẽ là do ảnh hưởng của
rượu.
Ta cũng có thể suy luận một cách khác. Nhất Linh đã tự tử không phải
tinh thần ông bị suy nhược. Cái chết của ông có thể có một nguyên
nhân sâu xa hơn. Bản chất ông là một nghệ sĩ, ông đã sống một cách
nghệ sĩ, làm cách mạng như một nghệ sĩ. Rất có thể ông đã mơ ước một
cái chết nghệ sĩ.
Người ta đã kể lại nhiều cái chết nghệ sĩ, như cái “chết đẹp”, cái
chết “làm dáng” của người đàn bà phấn son xiêm áo chỉnh tề, rồi chất
đầy hoa tươi trong phòng ngủ đóng kín cửa lại cho nghẹt hơi mà tự
tử. Cái “chết quý phái” của nhà văn Pétrone thời cổ La Mã, trước khi
tự tử đã cho đặt một bữa yến tiệc linh đình rồi cắt mạch máu tay mà
chết. Gần đây ai cũng bị xúc động vì cái chết cao siêu của Thích
Quảng Đức.
Vì Nhất Linh là một nghệ sĩ, nên rất có thể ông mường tượng, ông
vuốt về một cái chết đặc biệt, khác thường, một cái “chết đẹp”.
Trong Dòng sông Thanh Thuỷ, năm 1960 ông đã viết:
“Đời sống chỉ là mơ, niềm vui cũng chỉ là mơ. Thanh tự nghĩ nếu có
chết ngay lúc này, nàng sẽ không đau khổ. Hồn nàng sẽ hoá thành một
giấc mơ vui rồi khi giấc mơ ấy tan đi là chết, là hết. Nàng chắc cả
vũ trụ này đến ngày tận thế cũng vậy, cũng biến thành một nguồn vui
bao la rồi cứ thế hoà loãng, tan dần đi trong cái mênh mông của hư
vô; không có sự chết, không có sự sống, mà ngay cả đến cái hư vô
cũng không có nữa”.
Theo giả thuyết trên đây thì cái chết của Nhất Linh không phải là
cái chết “tiêu cực” của một tình trạng tinh thần suy nhược, mà cái
chết của ông đã được xếp đặt theo sở cầu của ông. Ông muốn cái chết
của ông sẽ đạt hai mục đích:
- Một là mục đích chính trị, ông định tự tử vào
ngày “song thất”
[1] để gây một tiếng vang trên thế giới và đánh
một đòn nặng vào chính thể Ngô Đình Diệm.
- Mục đích thứ hai là để thoả mãn cái sở cầu
thiên tính nghệ sĩ của ông. Ông vừa uống rượu Whisky vừa uống
thuốc ngủ. Phải chăng ông muốn một cái chết say sưa, êm đềm và
cũng vui như một giấc mơ của Thanh trong Dòng sông Thanh Thuỷ
vậy.
IV. Kết luận
Trên đây là những nét chính về bệnh tật của Nhất Linh mà chúng tôi
suy luận ra, căn cứ vào những tài liệu đã xuất bản, và lời chứng của
Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm. Những suy luận này rất có thể có điều thiếu
sót và sai lầm. Còn cái chết của Nhất Linh là một sự kiện với tất cả
những chi tiết chính xác. Tôi thành kính ghi những chi tiết này để
gởi vào lịch sử.
Chú thích:
[1]Mồng 7 tháng 7, ngày kỷ niệm nhậm chức của Ngô
Đình Diệm.
Nguồn: Văn. Tập san Văn chương –
Tư tưởng – Nghệ thuật. Năm thứ Bảy, số 156, ra ngày 15 tháng 6 năm
1970. Toà soạn và trị sự: 38, Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. ĐT: 23.595. Tập
san xuất bản do nghị định số 64/BTT/NĐ, ngày 4-12-1963. Bìa 1 số
này: Chân dung Nhất Linh, vẽ bởi Nguyễn Gia Trí. Chi phiếu đề tên
ông Nguyễn Đình Vượng (chủ nhiệm kiêm chủ bút). Thư từ, bản thảo đề
tên ông Trần Phong Giao (thư ký toà soạn). Giao thiệp trực tiếp ông
Gia Tuấn (phụ tá thư ký toà soạn). In tại nhà in riêng của báo Văn.
Quản lý: cô Nguyễn Thị Tuấn. Giá 280đ. [Chúng tôi nhập liệu nguyên
văn từ trang 1 đến trang 78, tập san này dày 125 trang, có bỏ một
vài bản tin rao vặt, quảng cáo sách].
Bản điện tử do talawas thực
hiện.